Xuất phát từ xu thế chung và những đòi hỏi thực tế của quá trình phát triển đất nước, đồng thời quán triệt tinh thần chỉ đạo của TW cũng như của tỉnh Quảng Ninh, Thị xã Uông Bí cũng xem
Trang 1
LUẬN VĂN:
Một số giải pháp thực hiện chuyển dịch
CCKT tại thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
giai đoạn 2005-2010
Trang 2
Lời mở đầu
Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ thực hiện CHN- HĐH đất nước Đảng và Nhà nước ta đã xác định, thực hiện CNH- HĐH là con đường hiệu quả nhất để đưa Việt Nam thoát khỏi nguy cơ tụt hậu về kinh tế xã hội cũng như phát triển đất nước lên một tầm cao mới Và một trong những nội dung quan trọng của quá trình CNH- HĐH đó là việc tiến hành xây dựng một CCKT hợp lý trên phạm vi cả nước và ở mỗi địa phương Cùng chung tinh thần với cả nước, tỉnh Quảng Ninh cũng xác định những nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến năm 2010 trong đó có nhấn mạnh đến việc xây dựng một CCKT hoàn thiện và có hiệu quả cao Đây được coi là một đòi hỏi tất yếu trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay
Xuất phát từ xu thế chung và những đòi hỏi thực tế của quá trình phát triển đất nước, đồng thời quán triệt tinh thần chỉ đạo của TW cũng như của tỉnh Quảng Ninh, Thị xã Uông Bí cũng xem việc thực hiện chuyển dịch CCKT là một nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế của thị xã Từ lâu, thị xã Uông Bí đã giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Đảng, thị xã Uông Bí đã phát huy thế mạnh, khắc phục những khó khăn, thách thức để thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển CCKT công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ chuyển dịch theo hướng: giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Đây
là sự chuyển biến phù hợp với xu hướng vận động có tính qui luật của quá trình chuyển dịch CCKT đã từng diễn ra ở các nước trên thế giới Tuy vậy, cho đến nay, tốc độ chuyển dịch CCKT của thị xã diễn ra còn chậm, chưa tương xứng với các nguồn lực hiện có, các tiềm năng trong vùng chưa được khai thác hợp lý, kinh tế xã hội giữa nông thôn và thành thị, giữa người giàu và người nghèo có khoảng cách ngày càng lớn, tỷ lệ lao động thiếu việc làm còn cao Điều này được thể hiện không chỉ ở GTSX, qui mô, tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, trình độ
Trang 3quản lý sản xuất Những yếu kém trên trong thực tế đã trở thành các lực cản làm chậm đáng kể quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của thị xã Chính vì vậy, khai thác nguồn lực, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH- HĐH để đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ nay đến năm 2010 đã trở thành vấn đề
kinh tế rất bức xúc đối với thị xã Uông Bí Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn nghiên cứu đề tài “
Một số giải pháp thực hiện chuyển dịch CCKT tại thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2005-2010”
Đề tài có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Sự cần thiết phải đẩy mạnh chuyển dịch CCKT trên địa bàn thị xã Uông Bí, tỉnh
Quảng Ninh
Chương 2: Thực trạng chuyển dịch CCKT ở thị xã Uông Bí
Chương 3: Phương hướng và giải pháp chuyển dịch CCKT tại thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng
Ninh
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là từ việc nêu lên những vấn đề lý luận về CCKT và chuyển dịch CCKT, tiến hành phân tích và đánh giá thực trạng quá trình chuyển dịch CCKT giai đoạn 2001- 2004 của thị xã Uông Bí, đưa ra được những phương hướng và giải pháp cho quá trình chuyển dịch CCKT của thị xã thời gian tới, nhằm mục đích cuối cùng là thúc đẩy kinh tế thị xã phát triển toàn diện và bền vững, đời sống nhân dân được nâng lên
Trang 41.1.1 Thế nào là cơ cấu?
Nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế của các học giả, các nhà nghiên cứu cũng như trong nhiều tài liệu đã được công bố về lĩnh vực kinh tế, nhất là khi đề cập đến vấn đề chuyển dịch CCKT, đã có không ít các cách tiếp cận khác nhau về khái niệm CCKT Hầu hết, các cách tiếp cận này đều bắt đầu từ khái niệm “cơ cấu” hay còn gọi là “kết cấu” Theo triết học khái niệm cơ cấu được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các bộ phận hợp thành của một hệ thống trong một thời gian nhất định Có thể hiểu, cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định Cơ cấu là thuộc tính của một hệ thống Do đó, khi nghiên cứu
cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống
1.1.2 Khái niệm về CCKT
Cơ cấu của một nền kinh tế quốc dân hay còn gọi là kết cấu kinh tế vĩ mô là tổng thể các
bộ phận hợp thành nền kinh tế và mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành đó
Khi đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống, CCKT có thể được hiểu một cách đầy đủ và khái quát nhất, đó là: CCKT là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu
tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có những mối liên hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định Theo quan điểm này, CCKT là một phạm trù kinh tế, là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã hội
Trang 5Dưới các góc độ khác nhau, CCKT được phân thành nhiều loại:
Cơ cấu ngành- xét dưới giác độ phân công lao động
Cơ cấu vùng- xét dưới giác độ hoạt động kinh tế xã hội theo lãnh thổ
Cơ cấu thành phần kinh tế- xét hoạt động kinh tế theo quan hệ sở hữu
Cơ cấu đối ngoại- xét trình độ mở cửa và hội nhập của nền kinh tế
Cơ cấu tích luỹ- xét tiềm năng để phát triển kinh tế
Nhưng trong giới hạn nghiên cứu, đề tài chỉ đi xem xét 3 loại cơ cấu kinh tế mang tính chất tổng hợp nhất của nền kinh tế bao gồm:
1.1.3.1 Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình
độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia, người ta thường phân tích theo 3 nhóm ngành (KV) chính: Nhóm ngành nông nghiệp: bao gồm các ngành nông, lâm, ngư nghiệp
Nhóm ngành công nghiệp: bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng
Nhóm ngành dịch vụ: bao gồm thương mại, bưu điện, du lịch
Trong quá trình hoạt động sản xuất, các ngành có mối quan hệ tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển Nông nghiệp yêu cầu cần có sự tác động của công nghiệp đối với tất
cả các yếu tố đầu vào cũng như tiêu thụ sản phẩm đầu ra Công nghiệp cung cấp cho nông nghiệp phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, các công cụ sản xuất, máy móc, thiết bị phục vụ cho việc cơ giới hoá sản xuất Sản phẩm nông nghiệp qua chế biến sẽ được nâng cao chất lượng và hiệu quả Ngược lại, nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, thức phẩm cho công nhân lao động, cho mở rộng hoạt động sản xuất công nghiệp và nó còn là thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm công nghiệp Để những sản phẩm của hai ngành này đi vào tiêu dùng cho sản xuất hoặc tiêu dùng cho đời sống phải qua phân phối và trao đổi Những chức năng này do hoạt động dịch vụ đảm nhận Các hoạt động dịch vụ như thương mại, vận tải, thông tin, ngân hàng, bảo hiểm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được liên tục Như vậy, sự tác động qua lại giữa các ngành tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế
Trang 6Xét một cách toàn diện, cơ cấu ngành là bộ phận rất quan trọng trong CCKT Sự biến động của nó có ý nghĩa quyết định đến sự biến động của nền kinh tế Do vậy, khi đi nghiên cứu
đề tài này, luận văn sẽ đi trọng tâm phân tích, đánh giá cơ cấu ngành kinh tế và sự chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
1.1.3.2 Cơ cấu lãnh thổ
a/ Khái niệm kinh tế lãnh thổ
Kinh tế lãnh thổ là một tổng thể kinh tế tồn tại và hoạt động trên phạm vi lãnh thổ không phân biệt thuộc hình thức sở hữu nào, ngành nào và cấp nào quản lý Kinh tế lãnh thổ là kinh tế toàn diện (bao gồm các ngành, các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và đời sống xã hội), là một phần tử của nền kinh tế quốc dân, một khâu trong phân công lao động xã hội
b/ Khái niệm cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu lãnh thổ hợp lý
Cơ cấu lãnh thổ là cơ cấu không gian của các yếu tố tài nguyên thiên nhiên, cơ sở sản xuất, phục vụ sản xuất và mối liên hệ về chất, tỷ lệ về lượng giữa các yếu tố, bảo đảm sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực trên lãnh thổ với tốc độ tăng trưởng cao, nhằm tăng khả năng cạnh tranh của các loại hàng hoá và dịch vụ trên một đơn vị lãnh thổ nhất định Như vậy, nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất thì cơ cấu kinh tế lãnh thổ lại được hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý
Cơ cấu lãnh thổ hợp lý là cơ cấu có sự phát triển hài hoà, phù hợp giữa yếu tố sản xuất
và tài nguyên thiên nhiên, sản xuất và phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, nhu cầu sản xuất và nhu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sản xuất, nhu cầu nâng cao mức sống của dân cư và phát triển kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ đời sống dân cư, cân bằng giữa nhu cầu sản xuất và nhu cầu thị trường
1.1.3.3 Cơ cấu thành phần kinh tế
Nếu như phân công lao động xã hội là cơ sở hình thành cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ thì chế độ sở hữu lại là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế Trên cơ sở chế độ sở hữu về
tư liệu sản xuất, các thành phần kinh tế cơ bản ở nước ta hiện nay bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư
Trang 7trương của Đảng và Nhà nước hiện nay là tập trung xây dựng một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý Một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý phải dựa trên cơ sở hệ thống tổ chức kinh tế với chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội Theo nghĩa đó, cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến
cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lãnh thổ Sự tác động đó là một biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế
Ba bộ phận cơ bản hợp thành CCKT là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế,
cơ cấu lãnh thổ có quan hệ chặt chẽ với nhau Trong đó cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả Cơ cấu ngành và thành phần kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ và trên phạm vi cả nước Mặt khác, việc phân bố không gian lãnh thổ một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế lãnh thổ
đề cho nhau phát triển Điều đáng nhấn mạnh ở đây là các bộ phận cấu thành đó luôn vận động
và phát triển trong cùng một hệ thống Mọi tác động của con người nhằm điều chỉnh xu hướng phát triển cũng như mối quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phận trong hệ thống đó cũng phải luôn tuân theo những qui tắc nhất định, đảm bảo cho sự phát triển cân đối và bền vững của hệ thống
1.2.2 Tính khách quan
Mọi sự vật, hiện tượng nói chung và nền kinh tế nói riêng đều tồn tại theo những cấu trúc nhất định, vận động phát triển theo những qui luật khách quan Vì thế, một CCKT hợp lý của nền kinh tế phải phản ánh được sự vận động của các qui luật khách quan Vai trò chủ quan
Trang 8của con người trong việc xây dựng, hình thành CCKT hợp lý chính là phản ánh đúng các qui luật khách quan, phân tích và đánh giá đúng các qui luật khách quan đó Mọi ý định nóng vội, chủ quan hay bảo thủ trong việc thay đổi CCKT đều mang lại tác động xấu đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
1.2.3 Tính kế thừa
CCKT bao giờ cũng mang tính lịch sử, kế thừa nhất định Điều kiện cụ thể về tự nhiên, kinh tế xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ kinh tế thị trường chi phối đến sự chuyển dịch CCKT Quá trình biến đổi của CCKT ở các nước khác nhau về qui mô lãnh thổ, nguồn tài nguyên thiên nhiên và trình độ hoạch định chính sách của chính phủ, sức mạnh kinh tế của các nước, tổ chức thực hiện của chính quyền các cấp ở mỗi địa phương có điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, phong tục tập quán, văn hoá, xã hội, trình độ phát triển của quan hệ kinh tế thị trường khác nhau sẽ tạo ra sự khác nhau về quá trình hình thành và biến đổi của CCKT
1.2.4 Tính hiệu quả
Tính hiệu quả của CCKT thể hiện ở chính sự phát triển theo cả bề rộng lẫn bề sâu của CCKT Trên các mặt của đời sống kinh tế xã hội, tính hiệu quả của CCKT được thể hiện ở sự tăng trưởng kinh tế cao, thu nhập bình quân đầu người và hệ thống phúc lợi xã hội được cải thiện, các ngành, các thành phần kinh tế phát triển theo đúng hướng, hợp qui luật, những tiềm năng, thế mạnh của mỗi vùng được khai thác hiệu quả, đảm bảo một sự phát triển cân đối và bền vững Có thể nói, tính hiệu quả là một đặc tính rất quan trọng của CCKT, nếu thiếu nó, CCKT không bao giờ đạt đến sự hợp lý
1.2.5 Tính định hướng
CCKT luôn mang trong mình tính khách quan, tự bản thân nó cũng là sự phản ánh các qui luật khách quan trong quá trình vận động và phát triển Những tác động chủ quan từ phía con người dựa trên những qui luật khách quan đó sẽ làm cho CCKT phát triển hợp lý hơn, theo đúng sự định hướng của các chính sách phát triển trong từng thời kỳ Một CCKT phát triển không theo đúng những chiến lược, định hướng đã được vạch ra sẽ phải cần đến những sự điều
Trang 9
xã hội được đề ra và mọi sự vận động, thay đổi của CCKT cũng phải hướng tới việc đạt được các mục tiêu đó Bản thân CCKT đã mang tính định hướng nhưng chính CCKT cũng luôn là sự theo đuổi định hướng Các nhà hoạch định chính sách luôn cần phải dựa vào CCKT hiện tại để
đề ra các sách lược phát triển cho tương lai và các chính sách này hoặc sẽ tạo ra một CCKT mới, hoặc sẽ chỉ là sự giữ vững CCKT hiện có
1.3 Mối quan hệ giữa CCKT với CNH- HĐH
CNH- HĐH là tất yếu khách quan đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển như ở Việt Nam Đó cũng là một trong những công việc cần thiết trong thời kỳ quá độ mà Đảng và Nhà nước đã quán triệt chỉ đạo Mục tiêu của CNH- HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, CCKT hợp lý Bản thân CNH- HĐH cũng được coi là một quá trình chuyển dịch CCKT Chính trong quá trình này, việc xác lập CCKT hợp lý diễn ra dần dần gắn với các giai đoạn của CNH- HĐH và mỗi bước phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật Đó là sự thay đổi CCKT từ tình trạng lạc hậu, mất cân đối, hiệu quả kém sang một CCKT hợp lý, đa dạng, cân đối, năng động và có hiệu quả cao, gắn với từng bước trưởng thành của cơ sở vật chất kỹ thuật do CNH- HĐH tạo ra
Sự chuyển dịch CCKT phản ánh sự thay đổi về chất của nền kinh tế theo hướng CNH- HĐH, tạo tiền đề vật chất cho sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế
2 Chuyển dịch CCKT
2.1 Khái niệm về chuyển dịch CCKT
2.1.1 Chuyển dịch CCKT là gì?
CCKT luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành CCKT không
cố định Đó có thể là sự thay đổi về số lượng của các ngành hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành CCKT là không đồng đều
Sự thay đổi của CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển được gọi là sự chuyển dịch CCKT
Đây không phải đơn thuần là sự thay đổi về lượng, mà cả về chất trong nội bộ cơ cấu Việc chuyển dịch CCKT phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển
Trang 10dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới, tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn Như vậy, chuyển dịch CCKT về thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của
nó, đó là: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần kinh tế, nhằm hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế xã hội đã xác định cho từng thời kỳ phát triển
2.1.2 Các tiêu thức đánh giá quá trình chuyển dịch CCKT
Si
t Si t Si
1 2 0
2 1
1 0
( 0 0
90 )
trong đó: Si(t) là tỷ trọng ngành i tại thời điểm t
là góc hợp bởi hai véctơ cơ cấu Si t0 và Si t1 Nếu góc càng lớn thì chuyển dịch cơ cấu càng nhiều và ngược lại Khi góc =0 (cos=1), hai cơ cấu đồng nhất, không có sự chuyển dịch Khi góc = 0
90 ( cos=0), các vectơ cơ cấu là trực giao với nhau Tỷ số n= 0
90
phản ánh tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
_ Tính hợp lý của CCKT: Một CCKT hợp lý là một CCKT phù hợp với quá trình phân công lao động và hợp tác ở các phạm vi hẹp lẫn phạm vi rộng Sự hợp lý thể hiện ở mối quan hệ chặt chẽ giữa quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với nâng cao hiệu quả kinh tế của các ngành, vùng, thành phần và nền kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi địa phương
_ Tính hiệu quả của CCKT: Một CCJT có tính hiệu quả là một CCKT kết hợp được hài hoà và
sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả nhất, làm cho nền kinh tế phát triển nhanh, nhịp độ tăng trưởng cao và ổn định, thu nhập và đời sống của dân cư được cải thiện
_ Tính ổn định của CCKT: Quá trình chuyển dịch CCKT sẽ làm biến đổi CCKT hiện có sang một CCKT mới phù hợp hơn Sự đánh giá quá trình chuyển dịch có thể được xem xét dưới khía cạnh tính ổn định của CCKT đó Một CCKT ổn định là một CCKT phát triển cân đối và bền vững, không có những đột biến lớn, đảm bảo được sự phù hợp giữa nguồn lực và các mục tiêu
Trang 11_ Tính mục tiêu của CCKT: Bất kỳ một CCKT nào cũng luôn mang tính mục tiêu trong từng giai đoạn phát triển nhất định Sự thành công của quá trình chuyển dịch CCKT cũng đồng nghĩa với việc xây dựng được một CCKT đạt được những mục tiêu đã định về tỷ trọng, về tốc
độ phát triển giữa các ngành, vùng và thành phần kinh tế
2.2 Tính qui luật của quá trình chuyển dịch CCKT -
Đặc trưng của CCKT là luôn luôn vận động và biến đổi Sự biến đổi ấy rất đa dạng giữa các nước, các địa phương có điều kiện kinh tế xã hội và trình độ khác nhau Có thể khái quát quá trình vận động của CCKT ở nước ta theo một số qui luật phổ biến sau:
Thứ nhất, đó là sự vận động từ một nền kinh tế tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hoá Thứ hai là sự vận động theo hướng tỷ trọng công nghiệp ngày càng tăng, tỷ trọng nông nghiệp giảm tương đối (nhưng tăng tuyệt đối), phần dịch vụ tăng nhanh hơn trong tỷ trọng tổng sản phẩm quốc dân
Thứ ba là cơ cấu sản xuất thay đổi theo hướng chuyển từ ngành sản xuất các sản phẩm
sử dụng nhiều lao động sang ngành sản xuất sản phẩm chứa hàm lượng cao về vốn và khoa học công nghệ
Thứ tư là cơ cấu sản phẩm thay đổi theo hướng sản phẩm chế biến tăng, sản phẩm thô giảm
Thứ năm, CCKT chuyển dịch theo hướng CNH- HĐH
Thứ sáu, xu hướng biến đổi từ CCKT khép kín trong phạm vi quốc gia, thậm chí trong từng từng địa phương sang CCKT mở trong phạm vi quốc tế và trong cả nước
2.3 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch CCKT
2.3.1 Nhóm nhân tố khách quan
2.3.1.1 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên
Các nhân tố về điều kiện tự nhiên có thể kể đến đó là: dự trữ tài nguyên, khoáng sản, nguồn nước, đất đai, nguồn năng lượng, khí hậu và địa hình Thiên nhiên vừa là điều kiện chung của sản xuất xã hội, vừa là tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng ảnh hưởng của điều kiện
tự nhiên đối với việc hình thành CCKT mang tính trực tiếp Tuy nhiên, trong điều kiện KHKT phát triển hiện nay, việc đánh giá vai trò các nhân tố điều kiện tự nhiên cần tránh cả hai khuynh hướng đối lập nhau: hoặc là qúa lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên hoặc xem nhẹ vai trò của nó
Trang 12
Cả hai khuynh hướng đó đều không đúng đắn Dưới sự thống trị của khoa học công nghệ hiện đại, tài nguyên thiên nhiên không phải là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển Ngược lại, nếu xem nhẹ yếu tố thiên nhiên sẽ không khai thác đầy đủ lợi thế so sánh để thúc đẩy phát triển kinh tế hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách lãng phí, phá hoại môi trường phát triển kinh tế lâu dài
2.3.1.2 Các nhân tố kinh tế xã hội
a/ Thị trường và trình độ phát triển của kinh tế thị trường
Sự ra đời và phát triển các mô hình kinh tế mà nhân loại đã trải qua cho đến nay đã khẳng định: kinh tế thị trường có tác động to lớn đối với sự phát triển khoa học công nghệ, đối với sự thay đổi cơ cấu ngành, vùng kinh tế, đối với việc tăng năng suất lao động xã hội, đối với việc phát triển lực lượng sản xuất xã hội
Trong nền kinh tế hàng hoá, thị trường là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, là điểm tập kết của quan hệ hàng hoá đảm bảo sự vận động không ngừng của quá trình tái sản xuất xã hội Do đó, thị trường luôn là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế và đặc biệt nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành và biến đổi CCKT Mặt khác, nói đến thị trường là nói đến nhu cầu của con người cần được thoả mãn thông qua thị trường Độ thoả mãn nhu cầu của con người lại phụ thuộc vào việc nền kinh tế xây dựng CCKT và chuyển dịch CCKT như thế nào, cho phép trả lời được và đúng những câu hỏi mà nhu cầu thị trường đặt ra: sản xuất cho ai? sản xuất cái gì? và sản xuất bằng công nghệ gì? Trình độ phát triển của kinh tế thị trường tỷ lệ thuận với trình độ phát triển và chuyển dịch CCKT theo hướng CNH- HĐH của nền kinh tế quốc dân
b/ Vốn và đầu tư
Nhiều nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng vốn là nhân tố quan trọng nhất đối với tăng trưởng Vốn là một yếu tố sản xuất trong quá trình sản xuất Vốn đóng góp vào tăng trưởng sản lượng không chỉ một cách trực tiếp như một yếu tố đầu vào mà còn gián tiếp thông qua sự cải tiến kỹ thuật Thông qua sự cải tiến kỹ thuật thì đầu tư sẽ giúp nâng cao kỹ năng của người lao động và điều này đến lượt nó sẽ làm tăng năng suất lao động, giúp cho quá trình sản xuất trở nên hiệu qủa hơn và cuối cùng là làm tăng trưởng kinh tế Như vậy, vốn là một yếu tố có vai
Trang 13theo hướng tăng sản lượng, chất lượng những sản phẩm có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao, tăng năng suất lao động của các ngành, làm cho sự chuyển dịch cơ cấu ngành diễn ra một cách tích cực, kéo theo sự chuyển dịch của cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần trong quá trình phát triển
c/ Lao động và vốn nhân lực
Sự tác động của dân số và lao động lên qúa trình hình thành và chuyển dịch CCKT được xem xét trên các mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất, kết cấu dân cư và trình độ dân trí, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật mới
là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các ngành đang hoạt động, là nhân tố thúc đẩy tiến bộ KHKT trong sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân
Thứ hai, qui mô dân số, kết cấu dân cư và thu nhập của họ có ảnh hưởng lớn đến qui mô
và cơ cấu của nhu cầu thị trường Đó là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp và các ngành phục vụ tiêu dùng
Thứ ba, sự phát triển các ngành nghề truyền thống trong công nghiệp cũng như trong các ngành kinh tế khác thường gắn liền với tập quán, truyền thống, phong tục của một địa phương, một cộng đồng người Sự phát triển và chuyển hoá các ngành nghề này gắn chặt với đội ngũ các nghệ nhân Sản phẩm của các ngành nghề này hầu hết là các sản phẩm độc đáo, có ưu thế
và được ưa chuộng trên thị trường quốc tế Trong lĩnh vực này, vai trò của các nghệ nhân, những lao động có chuyên môn sâu và nhiều kinh nghiệm, là rất lớn trong việc phát triển những ngành nghề thủ công truyền thống đòi hỏi kỹ thuật tinh tế và tay nghề cao
Việt Nam có một nguồn dân số và lao động trẻ, dồi dào song nền kinh tế có một điểm xuất phát thấp (sản xuất nhỏ là chủ yếu), phải chịu nhiều ảnh hưởng của chiến tranh, của cơ chế
cũ nên những yếu tố đó tác dụng cả hai mặt thuận lợi và trở ngại trong quá trình hình thành và chuyển dịch CCKT
d/ Tiến bộ khoa học- công nghệ
Tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ diễn ra trên thế giới và trong nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự biến đổi CCKT Trước hết nó làm thay đổi vị trí của các ngành trong nền kinh tế quốc dân, nó cũng làm thay đổi vị trí của nguyên liệu trong quá trình lao động Tiến
Trang 14
bộ khoa học công nghệ (KHCN) không những chỉ tạo ra những khả năng sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành làm tăng tỷ trọng của chúng trong tổng thể nền kinh tế (làm chuyển dịch CCKT) mà còn tạo ra những nhu cầu mới, đòi hỏi sự xuất hiện của một số ngành công nghệ non trẻ, công nghệ tiên tiến, do đó có triển vọng phát triển mạnh trong tương lai
Trong điều kiện mở cửa và hội nhập, tiến bộ KHCN cho phép tạo ra các sản phẩm mới chất lượng cao, chi phí kinh doanh hạ, do đó có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường trong nước
và quốc tế Kết quả là làm chuyển dịch CCKT nói chung theo hướng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu và hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới
2.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan
Đó có thể là các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cơ chế quản lý, chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Có thể kể đến một nhân tố chủ quan có tác động không nhỏ đến sự chuyển dịch CCKT là môi trường thể chế Môi trường thể chế là yếu tố
cơ sở cho quá trình xác định và chuyển dịch CCKT Môi trường thể chế gắn bó chặt chẽ với thể chế chính trị và đường lối xây dựng kinh tế Nói cách khác, quan điểm, đường lối chính trị nào
sẽ có môi trường thể chế đó, đến lượt nó, môi trường thể chế lại ước định các hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nói chung cũng như cơ cấu nội bộ từng ngành, từng vùng và thành phần kinh tế Môi trường thể chế là biểu hiện cụ thể của những quan điểm, ý tưởng và hành vi của Nhà nước can thiệp và định hướng sự phát triển tổng thể cũng như sự phát triển của các bộ phận cấu thành của nền kinh tế Như vậy sự đồng bộ và tính ổn định của môi trường thể chế có
ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hình thành và chuyển dịch CCKT Việt Nam có một môi trường thể chế chính trị và đường lối đối ngoại rõ ràng và rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ là một lợi thế quan trọng trong quá trình chuyển dịch CCKT của nước
ta
II Một số Lý thuyết về chuyển dịch CCKT
1 Mối quan hệ giữa chuyển dịch CCKT với quá trình phát triển kinh tế
Trang 15Nói đến quá trình phát triển kinh tế, người ta thường quan tâm đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có, sự gia tăng các nguồn lực sản xuất theo thời gian và cách thức phân phối sản phẩm và thu nhập cho các nhân tố sản xuất Còn khi nói đến cơ cấu của một nền kinh tế, ta thường quan tâm đến các thành phần có ý nghĩa cơ bản, tồn tại lâu dài, làm cơ sở cho những biến động có tính chất thường xuyên trong đời sống kinh tế
Cho tới nay, chưa có một lý thuyết hoàn hảo nào có thể mô tả những mối liên hệ giữa quá trình phát triển và quá trình thay đổi cơ cấu Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu đã đưa
ra bằng chứng chắc chắn là có những qui luật phản ánh phương thức thay đổi của CCKT khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên Như vậy, cơ sở giúp ta thấy được mối liên hệ giữa quá trình phát triển kinh tế và thay đổi cơ cấu là cách thức tính toán GDP theo các biến số kinh tế vĩ
mô
1.1 Xét về phía cung
Chúng ta phải phân tích cơ cấu sản xuất được tính theo các ngành sản xuất Một kết quả quan sát cho thấy, khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên thì tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp giảm cùng với số lao động sử dụng và tỷ trọng của ngành công nghiệp, trong đó chủ yếu là ngành khai khoáng và chế biến tăng lên cùng với số lao động sử dụng Ngành chế biến ban đầu có xu hướng tập trung vào sản xuất các mặt hàng tiêu dùng giản đơn như lương thực, thực phẩm, quần áo, sau này chuyển dần sang sản xuất các mặt hàng tư liệu sản xuất thuộc ngành công nghiệp nặng và sau cùng là sản xuất các sản phẩm vi điện tử và các sản phẩm
có công nghệ cao Vai trò của ngành dịch vụ có xu hướng tăng lên tương đối rõ rệt Hàm sản xuất:
Trang 16nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng của GDP và của cải, sau đó chững lại ở mức tương đương rồi giảm dần xuống chậm hơn khi đất nước đạt được một mức thu nhập bình quân đầu người nhất định Điều này có nghĩa là khu vực tài chính cũng trải qua một quá trình đa dạng hoá sản phẩm giống như các bộ phận khác của cơ cấu sản xuất
Ngoài các yếu tố trên, ta cũng cần xét thêm một vài khía cạnh khác làm thay đổi CCKT Chẳng hạn, khi một nền kinh tế phát triển đến một mức nào đó, nhu cầu về vốn cũng thay đổi
cả về kỹ thuật công nghệ cũng như công nhân lành nghề, tất yếu dẫn đến thay đổi cơ cấu
1.2 Xét về phía cầu
Xuất phát từ công thức: AD=C+ I+G+ (X- M) Khi mức thu nhập bình quân đầu người thấp, người dân chi dùng hầu như toàn bộ thu nhập, tiết kiệm hầu như không có, toàn bộ nguồn đầu tư hầu như dựa vào vốn nước ngoài, CCKT phụ thuộc nên việc chủ động ra các chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế bị hạn chế nhiều Một khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên, tỷ trọng thu nhập dùng cho ăn uống giảm dần và tỷ lệ tiết kiệm tăng lên, mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư giảm đi, việc chủ động vạch ra những chính sách thay đổi cơ cấu sản xuất của nền kinh tế nhằm mục tiêu tăng trưởng đã dần dần có hiệu lực Các qui luật trên đây cho thấy rằng khi các loại nhu cầu biến đổi, tương ứng ta cần có sự thay đổi về cơ cấu sản xuất Tuy nhiên, một ảnh hưởng mạnh mẽ đến thay đổi cơ cấu là ngoại thương Nhờ có ngoại thương, các cơ hội chuyên môn hoá sẽ được mở ra phần nào làm cho nền kinh tế phát triển thuận lợi hơn
Nhìn chung, quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia thường được xem xét như là một quá trình làm thay đổi thu nhập bình quân đầu người Mặc dù có nhiều thay đổi trong quan niệm về phát triển và tăng trưởng nhưng chỉ tiêu trên vẫn được coi trọng và làm thước đo cho
sự phát triển về kinh tế Một xu hướng mang tính qui luật là cùng với sự phát triển của kinh tế, cũng diễn ra một quá trình thay đổi về CCKT tức là một sự thay đổi tương đối về vai trò mức đóng góp, tốc độ phát triển của từng thành phần, từng yếu tố riêng cấu thành nên toàn bộ nền kinh tế Một trong những CCKT được quan tâm và nghiên cứu nhiều trong mối liên hệ với quá trình tăng trưởng và phát triển là cơ cấu ngành Cơ cấu đó về phần mình lại được thể hiện trong quá trình sản xuất, tiêu dùng và ngoại thương Mối quan hệ giữa vấn đề chuyển đổi cơ cấu xét
Trang 17
vì gắn với nó là cả một động thái về phân bổ các nguồn lực hạn hẹp của một quốc gia trong những thời điểm nhất định vào những lĩnh vực hoạt động sản xuất riêng Điều này có thể giúp chúng ta phân tích, nhận biết được tính hiệu quả của việc phân bổ nguồn lực, từ đó có thể rút ra những kết luận tương ứng về khả năng phát triển bền vững của nền kinh tế Tương tự, cơ cấu ngành trong quan hệ ngoại thương cũng thể hiện các lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh của một quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu Quá trình chuyển dịch cơ cấu là một quá trình tất yếu gắn liền với sự phát triển kinh tế Đồng thời nhịp độ phát triển, tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên ngoài và các lợi thế tương đối của một nền kinh tế
2 Các mô hình chuyển dịch CCKT
2.1 Mô hình Lewis hay mô hình thặng dư lao động
Mô hình Lewis được xem như là lý thuyết chung về quá trình phát triển của thặng dư lao động ở các nước đang phát triển trong suốt thập niên 1950 đến những năm đầu thập niên 70 Trong mô hình của mình, Lewis xem nền kinh tế chỉ có 2 khu vực: khu vực truyền thống đặc trưng bởi năng suất lao động biên bằng 0 và khu vực còn lại là khu vực công nghiệp hiện đại có năng suất lao động cao thu hút thặng dư lao động từ nông thôn chuyển đến Có 2 giả định về khu vực nông nghiệp: thứ nhất là sự tồn tại của thặng dư lao động, hàm ý rằng lao động biên là bằng 0, thứ hai, mọi lao động nông nghiệp đều có thể được thu hút chuyển sang làm việc ở khu vực công nghiệp Mô hình Lewis tập trung nghiên cứu cả 2 quá trình dịch chuyển lao động cũng như sự gia tăng sản lượng và nguồn nhân lực trong khu vực công nghiệp Sản lượng gia tăng do tỷ lệ đầu tư và tích luỹ vốn ngày càng tăng đã thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp chuyển đến ngày càng nhiều Do đó, đường cung của lao động nông thôn chuyển đến làm việc
ở khu vực công nghiệp được cho là hoàn toàn co giãn Mặt khác, với giả định thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì đường sản phẩm lao động biên của khu vực công nghiệp chính là đường cầu của lao động Bởi vì có sự khác nhau giữa tiền công của 2 khu vực nên những ông chủ nhà máy
có thể thuê mướn bao nhiêu lao động nông nghiệp tuỳ thích mà không cần phải tăng tiền công Với một nguồn vốn cố định thì các ông chủ sẽ tối đa hoá lợi nhuận bằng cách thuê mướn thêm nhân công cho đến khi sản phẩm biên bằng với tiền công thực tế Toàn bộ lợi nhuận được giả định là sẽ được tái đầu tư Như vậy, tổng dự trữ vốn ngày càng tăng và đến lượt nó làm cho
Trang 18đường tổng sản phẩm tăng lên và kéo theo sự gia tăng của đường sản phẩm biên Quá trình tăng trưởng của khu vực công nghiệp cũng như gia tăng lao động trên được giả định là tiếp tục cho đến khi toàn bộ thặng dư lao động nông nghiệp bị hút về khu vực công nghiệp và sản phẩm biên của lao động nông nghiệp không còn bằng 0 nữa
2.2 Mô hình hai khu vực Tân cổ điển
ý nghĩa của tăng trưởng dân số hay lực lượng lao động trong mô hình Tân cổ điển hoàn toàn khác với ý nghĩa của chúng trong mô hình thặng dư lao động Một sự gia tăng dân số và lao động nông nghiệp sẽ làm cho sản lượng nông nghiệp gia tăng và ngược lại Nghĩa là mô hình Tân cổ điển khác với mô hình thặng dư lao động ở chỗ sản phẩm lao động biên không bao giờ bằng 0 Và tiền công thay vì được định giá cao hơn thì sẽ bằng với sản phẩm lao động biên
Vì vậy, tăng trưởng dân số trong mô hình Tân cổ điển không phải hoàn toàn là một hiện tượng tiêu cực Nền công nghiệp phát triển thành công, phải có các nỗ lực đồng thời để bảo đảm rằng nông nghiệp phát triển nhanh đủ để nuôi sống lao động ở cả khu vực công nghiệp và nông nghiệp ở mức tiêu thụ cơ bản thậm chí phải cao hơn để ngăn ngừa chỉ số giá trở nên không có lợi cho công nghiệp Một khu vực nông nghiệp trì trệ, nghĩa là khu vực có ít tiến bộ về công nghệ và đầu tư, sẽ làm cho tiền công của công nghiệp thành thị tăng lên nhanh chóng và vì vậy làm giảm lợi nhuận và những nguồn dành cho phát triển công nghiệp Theo mô hình Tân cổ điển này cần thiết phải có một sự cân bằng giữa công nghiệp và nông nghiệp lúc khởi đầu
2.3 Mô hình thực tiễn
Cũng giống như mô hình Lewis, việc phân tích các cơ chế phát triển của chuyển dịch cơ cấu tập trung vào quá trình mà qua đó công nghiệp đã thay thế nông nghiệp để trở thành động lực cho sự tăng trưởng Tuy nhiên, bên cạnh việc xem gia tăng tiết kiệm và đầu tư như là những điều kiện cần thì những mô hình này cũng xem xét đến nhiều sự thay đổi có mối liên hệ qua lại với nhau trong CCKT liên quan đến mọi chức năng kinh tế bao gồm cả việc chuyển đổi quá trình sản xuất, những thay đổi trong cấu thành nhu cầu tiêu dùng, thương mại quốc tế, sử dụng nguồn lực cũng như những thay đổi trong các nhân tố kinh tế xã hội như sự đô thị hoá
Nói chung, các mô hình chuyển dịch cơ cấu thực tiễn nhấn mạnh đến cả hai loại trở ngại cho sự phát triển: đó là trở ngại nội sinh và ngoại sinh Trở ngại nội sinh liên quan đến các trở
Trang 19chính sách của Nhà nước Trong khi đó, trở ngại ngoại sinh liên quan đến các vấn đề về công nghệ, thương mại quốc tế hay là khả năng tiếp cận với các nguồn vốn bên ngoài
III Sự cần thiết phải thực hiện chuyển dịch CCKT trên địa bàn thị xã Uông Bí
Qua việc nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận ở các phần trước, ta có thể thấy rằng, vai trò to lớn của chuyển dịch CCKT trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, một địa phương là không thể phủ nhận Việc xây dựng và hình thành nên một CCKT hợp lý và hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng đối với công cuộc tăng trưởng, phát triển kinh tế cũng như giải quyết các vấn đề xã hội theo hướng tích cực tại bất cứ địa phương nào CCKT hợp lý thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đến lượt nó, tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cần thiết để hoàn thiện hơn nữa CCKT trong tương lai Như vậy, trên phương diện lý thuyết, vai trò cần thiết của chuyển dịch CCKT trong phát triển kinh tế xã hội đã hoàn toàn được khẳng định Có thể coi như đó là một lý do thứ nhất để thị xã Uông Bí nên và cần thiết phải tiến hành chuyển dịch CCKT trong điều kiện hiện tại cũng như tương lai
Và lý do thứ hai để thấy rằng, việc thực hiện chuyển dịch CCKT trên địa bàn thị xã Uông Bí là cần thiết phải kể đến các quan điểm về phát triển thể hiện trong đường lối chính sách của quốc gia, của tỉnh Quảng Ninh nói chung và chính quyền thị xã Uông Bí nói riêng Một cách cụ thể, đó chính là các định hướng phát triển đã được áp dụng trong thời gian qua và
sẽ được tiếp tục áp dụng trong thời gian tới Trong các định hướng phát triển đó, nhiệm vụ chuyển dịch CCKT luôn được các nhà hoạch định chính sách nhấn mạnh và coi là nhiệm vụ hàng đầu Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ VII của Đảng đã xác định: “thúc đẩy
sự chuyển dịch CCKT theo hướng CNH- HĐH, coi đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu thời gian tới” Quán triệt tinh thần chỉ đạo của TW, tỉnh Quảng Ninh cũng xây dựng hướng chiến lược phát triển của Tỉnh đến 2010 dựa trên quan điểm tiếp tục chỉ đạo thực hiện chuyển dịch CCKT trên địa bàn tỉnh một cách toàn diện và hiệu quả Chiến lược phát triển của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001-2010 chỉ ra rằng: “Tập trung xây dựng một CCKT hợp lý,
có hiệu quả cao, trọng tâm là phát triển các lĩnh vực kinh tế có thế mạnh như công nghiệp, du lịch, kinh tế biển, cảng biển, kinh tế cửa khẩu ” Thị xã Uông Bí là một thị xã của tỉnh Quảng Ninh, từ lâu đã giữ một vị trí không kém phần quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế của tỉnh Đảng bộ và nhân dân thị xã trong nhiều năm qua đã không ngừng thực hiện theo
Trang 20những đường lối, chính sách của Nhà nước và của tỉnh trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế thị xã Do đó vấn đề về chuyển dịch CCKT cũng luôn được thị xã coi là một nhiệm vụ quan trọng xuyên suốt tiến trình phát triển kinh tế những năm qua và trong cả nhiều năm tới Việc thực hiện chuyển dịch CCKT được xem như là cách thức để đạt đến sự phát triển một cách nhanh nhất Chính vì vậy, đối với từng địa phương cụ thể, việc quán triệt quan điểm chỉ đạo và linh hoạt tiến hành các bước chuyển dịch căn cứ vào điều kiện khách quan của địa phương mình là một yêu cầu cấp thiết, đó không chỉ đơn thuần là việc chấp hành đường lối mà quan trọng hơn, đó là con đường hữu hiệu để cải thiện bộ mặt nền kinh tế của địa phương mình Vì tất cả những điều đó, tiến hành chuyển dịch CCKT trên địa bàn thị xã Uông Bí là cần thiết
Cuối cùng, một lý do thứ ba, không kém phần quan trọng đó là xuất phát từ chính thực
tế phát triển những năm qua của thị xã Uông Bí Quá trình phối hợp chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chuyển dịch CCKT những năm qua trên địa bàn thị xã Uông Bí, mặc dù đã thu được những thành công nhất định song bên cạnh đó vẫn còn tồn tại không ít hạn chế và bất cập CCKT ngành của thị xã đã chuyển dịch theo hướng: tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, cơ cấu thành phần và cơ cấu lãnh thổ chuyển dịch hợp lý nhưng tốc độ chuyển dịch nhìn chung còn chậm, chưa tương xứng với các nguồn lực hiện có Các tiềm năng trong vùng chưa được khai thác hợp lý, cụ thể như tiềm năng về du lịch, về đất đai Đó là một hạn chế mà thị xã cần có hướng điều chỉnh Thêm nữa, khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn
và thành thị, giữa người giàu và người nghèo còn gây nhiều bức xúc, tỷ lệ thất nghiệp còn cao Những yếu kém trên nếu không kịp thời khắc phục thì sẽ trở thành những rào cản bất lợi cho thị xã trong quá trình hội nhập và phát triển Vì lẽ đó, thị xã Uông Bí cần phải có những chính sách thích hợp để cải thiện tình hình mà một trong những biện pháp được xem như hiệu quả nhất là cần phải tiến hành chuyển dịch CCKT một cách toàn diện và phù hợp hơn
Trên đây là ba lý do cơ bản khiến cho quá trình chuyển dịch CCKT trên địa bàn thị xã Uông Bí trở nên cần thiết hơn hết Trong thời gian tới, thị xã cần có nhiều biện pháp thật hữu hiệu để chuyển dịch CCKT thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển toàn diện kinh tế xã hội của thị xã Và dưới đây là một mô hình chuyển dịch CCKT thành công mà
Trang 21
IV Kinh nghiệm chuyển dịch CCKT của thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh là một thị xã công nghiệp khai thác than lớn nhất cả nước Trải qua trên 47 năm, thị xã đã không ngừng được cải tạo, phát triển thành đô thị lớn có tốc độ đô thị hoá nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, CCKT chuyển dịch đúng định hướng, diện mạo đô thị ngày càng được thay đổi và phát triển Ngày 6/1/2005, thị xã được Bộ Xây Dựng công nhận là đô thị loại 3, nâng cấp từ đô thị loại 4 Trên thực tế, thị xã Cẩm Phả có nhiều nét tương đồng với thị xã Uông Bí về các mặt tự nhiên cũng như kinh tế xã hội Đặc biệt, trong thời gian tới, thị xã Uông Bí cũng tiến hành xây dựng một đề án xin nâng cấp thị xã từ đô thị loại 4 lên loại 3 Vì tất cả lẽ đó, đề tài tiến hành nghiên cứu một cách cụ thể về quá trình chuyển dịch CCKT của thị xã Cẩm Phả, từ đó tìm ra được những mặt thành công cũng như những mặt còn hạn chế để áp dụng vào điều kiện khách quan của thị xã Uông Bí, phục vụ cho quá trình chuyển dịch CCKT của địa phương
1 Những thành công trong quá trình chuyển dịch CCKT tại thị xã Cẩm Phả
1.1 Về kinh tế
Thị xã Cẩm Phả là một thị xã công nghiệp được hình thành từ khá lâu, do đó CCKT của thị xã cũng được hình thành tập trung vào các ngành CN- TTCN, thương mại, dịch vụ, du lịch với tỷ lệ tăng trưởng nhanh Năm 2003, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã đạt trên 12%/năm, trong CCKT, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm 76,05%, thương mại- dịch vụ chiếm 21,15%, nông- lâm- ngư nghiệp chiếm 2,8%, thu nhập bình quân đầu người đạt 665 USD/ người/năm Đến năm 2004, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã đã tăng lên 13,79%/năm, tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng trong CCKT đạt 77,16%, thương mại- dịch vụ- du lịch là 20,26%, nông- lâm- ngư nghiệp là 2,58%, thu nhập bình quân đầu người đạt 757 USD/người/năm So với nhiều năm trước đó, CCKT hai năm gần đây đã chuyển biến rất nhiều,
tỷ trọng ngành thương mại- dịch vụ- du lịch đã có sự tăng lên rõ rệt, tỷ trọng nông nghiệp cũng giảm theo từng năm Sự chuyển biến CCKT ngành của thị xã Cẩm Phả là theo đúng qui luật phát triển, đúng định hướng chỉ đạo và hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế về tự nhiên, về nguồn lực của thị xã Chính nhờ CCKT các ngành của thị xã chuyển dịch một cách tích cực đã đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã và cải thiện một cách đáng kể đời sống của nhân dân, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 3,73% (2002) xuống còn 1,41% (2004)
Trang 22
Sự chuyển dịch CCKT theo hướng tích cực của thị xã Cẩm Phả còn được thể hiện ở quá trình chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế Năm 2004 so với năm 2001, khu vực kinh tế trong nước có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh được cải thiện, phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, ngành nghề kinh doanh được đa dạng, thu hút hàng ngàn lao động, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của thị xã Khu vực kinh tế đầu
tư nước ngoài có rất nhiều khởi sắc, nguồn vốn đầu tư nước ngoài được thu hút vào thị xã nhiều hơn, các hình thức hợp tác kinh doanh trên địa bàn được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển Theo số liệu thống kê của thị xã, năm 1991, thị xã có 79 doanh nghiệp Nhà nước, có 16 doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH, 92 HTX tiểu thủ công nghiệp Năm 2004 có 83 doanh nghiệp Nhà nước, có trên 200 doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH và công ty cổ phần và có trên 6800 hộ kinh doanh Cơ cấu thành phần kinh tế chuyển dịch theo hướng hợp lý đã làm cho hiệu quả sản xuất tăng cao, tạo điều kiện giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho người lao động, thúc đẩy kinh tế trên địa bàn thị xã phát triển
1.2 Về xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
Trong quá trình thực hiện chuyển dịch CCKT, thị xã Cẩm Phả không ngừng đầu tư vào việc xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị bởi đây vốn được coi là cơ sở nền tảng cho việc phát triển kinh tế hiện tại cũng như tương lai Đầu tư xây dựng cơ bản tăng bình quân 150%/năm Tập trung các nguồn vốn và huy động nguồn lực trong nhân dân để cải tạo và xây dựng hệ thống đường điện, đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, trạm xá, bệnh viện, trường học và các công trình công cộng đạt hiệu quả cao Năm 2004, thị xã có 67,9 km đường giao thông chính nội thị được trải nhựa và bê tông hoá chiếm 90%, 100% số hộ dân nội thị có điện sử dụng, khu vực nội thị có 59,2km hệ thống điện chiếu sáng công cộng, đạt 87,2% Hệ thống nước sinh hoạt được đầu tư xây dựng với công suất 56000m3/ngày đêm, đảm bảo cung cấp cho trên 85% hộ dân nội thị có nước sạch sinh hoạt và sử dụng Hệ thống thông tin bưu điện của thị xã khá hoàn thiện với Tổng đài điện tử trung tâm dung lượng cao và có 4 Tổng đài khu vực Đến nay toàn thị xã có trên 29000 máy điện thoại cố định, đạt tỷ lệ 17 máy/100 người dân
1.3 Về văn hoá- xã hội
Trang 23Thị xã Cẩm Phả có hệ thống giáo dục khá phát triển Hiện nay thị xã có 3 trường Công nghiệp kỹ thuật, 56 trường từ mầm non đến phổ thông trung học Đến nay thị xã đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục THCS
Mạng lưới y tế thị xã được củng cố với 3 bệnh viện, trên 500 giường bệnh, có 16 trạm y
tế xã, phường, 13 trạm y tế của các cơ quan doanh nghiệp với tổng số y, bác sĩ trên 600 người, đảm bảo việc chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ, công nhân và nhân dân trên địa bàn thị xã
Công tác thực hiện chính sách xã hội được tổ chức tốt, các gia đình chính sách, đối tượng xã hội được quan tâm giúp đỡ, tích cực trong công tác giải quyết việc làm, thực hiện xoá đói giảm nghèo, đến nay thị xã không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo còn 1,41%
2 Các biện pháp chuyển dịch CCKT đã được thực hiện tại thị xã Cẩm Phả
2.1 Về phát triển kinh tế
Thị xã đã tập trung tạo điều kiện môi trường thông thoáng để các thành phần kinh tế phát triển, có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân làm giàu chính đáng, hợp pháp, thực hiện tốt chính sách đầu tư, có cơ chế về đất đai, thuế, vốn, thị trường, sử dụng lao động, tích cực mở rộng ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông, lâm, ngư nghiệp, phát triển kinh tế rừng, kinh tế biển, kinh tế trang trại và du lịch sinh thái vừa góp phần phát triển kinh tế, vừa giữ vững cảnh quan môi trường
2.2 Về qui hoạch và phát triển đô thị
Thị xã đã thực hiện qui hoạch chi tiết các khu trung tâm đô thị, công khai hướng qui hoạch đô thị để cho các tổ chức và nhân dân tham gia cùng thực hiện, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và phát triển thị xã Đồng thời, thị xã Cẩm Phả cũng tiến hành khai thác có hiệu quả các cơ sở hạ tầng sẵn có, tập trung đầu tư và hoàn thiện không gian kiến trúc các khu vực trung tâm, thực hiện các dự án theo qui hoạch và chú trọng đầu tư nâng cấp cơ sở
hạ tầng cùng các công trình công cộng
Trong quá trình thực hiện chuyển dịch CCKT trên địa bàn thị xã Cẩm Phả, bên cạnh những thành công thì cũng còn tồn tại không ít những hạn chế Thứ nhất, qui hoạch tổng thể còn chưa phù hợp với địa hình của thị xã, chưa triệt để phát triển kinh tế biển để khai thác cảnh
Trang 24quan và phát huy lợi thế kinh tế biển Thứ hai, mặc dù kinh tế thị xã đã có mức tăng trưởng khá cao song cần phải phát huy lợi thế mở rộng kinh tế biển, dịch vụ du lịch và sản xuất vật liệu xây dựng Thứ ba, khi cơ sở hạ tầng đã được đầu tư xây dựng khá đồng bộ thì cần tiếp tục hoàn chỉnh thêm nhất là về cảnh quan môi trường Đó là những hạn chế chính được rút ra từ quá trình thực hiện chuyển dịch CCKT của thị xã Cẩm Phả mà thị xã Uông Bí có thể từ đó rút ra được những kinh nghiệm cho địa phương mình
3 Bài học kinh nghiệm từ thực tế của thị xã Cẩm Phả
Để có thể thực hiện chuyển dịch CCKT thành công trên địa bàn, thị xã Uông Bí cần phải
có sự đánh giá, học hỏi từ kinh nghiệm thực tế của thị xã Cẩm Phả để hoàn thiện các chính sách phát triển của mình Cụ thể, đối với điều kiện khách quan của địa phương, thị xã Uông Bí nên
có những chính sách thông thoáng và cởi mở hơn trong việc phát triển các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, thị xã Uông Bí cũng cần có sự quan tâm tốt hơn nữa đối với vấn đề bồi dưỡng nguồn nhân lực, ứng dụng KHKT vào sản xuất, cũng như giải quyết các vấn đề môi trường, tận dụng lợi thế trong phát triển thương mại- dịch vụ- du lịch Song song chú trọng đến các vấn đề kinh tế, thị xã cần phải có những cơ chế đặc thù để giải quyết các vấn đề xã hội như: xoá đói giảm nghèo, phát triển mạng lưới phúc lợi công cộng, giữ gìn an ninh trật tự Có như vậy, quá trình chuyển dịch CCKT của thị xã mới có kết quả như mong đợi
Trang 25
Chương 2: Thực trạng chuyển dịch CCKT ở thị xã Uông Bí
I Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
1 Đặc điểm tự nhiên
Thị xã Uông Bí có vị trí kinh tế đặc biệt, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc: Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh; có nguồn than dồi dào, chất lượng tốt là thế mạnh để phát triển ngành công nghiệp khai thác, có điều kiện tự nhiên, khí hậu thích hợp phát triển ngành nông- lâm- thuỷ sản theo hướng đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi; khu danh thắng Yên
Tử, khu du lịch Hồ Yên Trung, Lựng Xanh, Hang Son nằm trên địa bàn thị xã là những điểm
du lịch nổi tiếng được nhiều người biết đến
1.1 Vị trí địa lý
Thị xã Uông Bí nằm phía Tây tỉnh Quảng Ninh trên trục quốc lộ 18A, cách Hà Nội 120km, cách Hải Phòng 29km và cách trung tâm tỉnh lỵ hơn 40km về phía đông Phía đông giáp huyện Yên Hưng, phía tây giáp huyện Đông Triều, phía bắc giáp huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang, phía nam giáp thành phố Hải Phòng qua sông Đá Bạc chảy ra sông Bạch Đằng, phía đông giáp huyện Hoành Bồ Uông Bí nằm ở sườn phía đông nam vòng cung Đông Triều,
vị trí này tạo cho Uông Bí một điều kiện tự nhiên khác với các vùng lãnh thổ khác
1.2 Đặc điểm thời tiết, khí hậu, thuỷ văn
Theo số liệu của cục thống kê Quảng Ninh, điều kiện tự nhiên, khí hậu thị xã Uông Bí năm 2004 được thể hiện qua bảng 1
Nhiệt độ trung bình năm là 24,40C, nhiệt độ cao nhất tập trung vào tháng 6, 7, 8, nhiệt
độ thấp nhất tập trung vào tháng 12,1,2 năm sau Lượng mưa trung bình 1672 mm tập trung và phân bổ theo mùa, đặc biệt vào các tháng 7,8,9 Độ ẩm không khí trung bình năm là 83,2%, thay đổi theo mùa từ cao nhất là 88% đến thấp nhất là 72% Số giờ nắng bình quân trong năm
là 1730,4 giờ, tập trung vào các tháng 7,8,9, 10
Nhìn chung, thị xã Uông Bí chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu Đông Bắc Bắc bộ khá rõ nét với đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô kéo dài về mùa đông Với khí hậu
đa dạng như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi Số giờ nắng trung bình năm tương đối cao tạo điều kiện
Trang 26cho các loại cây trồng tăng trưởng nhanh Độ ẩm không khí thay đổi theo mùa là yếu tố cần tính đến trong việc bố trí sản xuất và bảo quản nông sản Tuy nhiên, với lượng mưa lớn tập trung, địa hình dốc là nguyên nhân chính gây nên xói mòn, úng lụt, huỷ hoại đất ảnh hưởng
không nhỏ tới việc phát triển kinh tế của thị xã nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng
Bảng 1: Đặc điểm khí hậu, thời tiết năm 2004 của thị xã Uông Bí
Tháng Nhiệt độ trung
bình ( o C)
Giờ nắng trung bình (Giờ)
Lượng mưa trung bình (mm)
trung bình (%)
Nguồn: Cục Thống kê Quảng Ninh
1.3 Đặc điểm địa hình, điều kiện đất đai
Thị xã có địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, phía Bắc cao nhất là núi Yên Tử, có đỉnh cao tới 1064m, núi Bảo Đài cao 875m (so với mặt biển), phía Nam là vùng thấp nhất với các bãi bồi, trũng ngập nước ven sông Đá Bạc Địa hình bị chia cắt bởi các sông suối nhỏ Theo đặc điểm địa hình, Uông Bí có 2/3 diện tích là đồi núi dốc nghiêng từ Bắc xuống Nam và được phân chia thành 3 vùng: Vùng núi cao, vùng thung lũng và vùng thấp Do địa hình phức tạp và
Trang 27
đa dạng nên kết cấu đất cũng phức tạp Theo điều tra nông hoá thổ nhưỡng toàn thị xã có 5 loại đất và được chia thành 2 nhóm
Nhóm đất đồi núi gồm: đất dốc tụ có khoảng 100ha (0,42% diện tích đất tự nhiên) phân
bố ở các chân đồi, núi có địa hình dốc thoải Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ, loại này có khoảng 700ha (2,92% diện tích tự nhiên) phân bố ở độ cao 15 – 40 m Đất Feralit đỏ vàng hoặc xám vàng trên sa thạch, đá cát, loại này có diện tích 14.500ha (chiếm 60,4% tổng diện tích đất tự nhiên), phân bố ở nơi có địa hình dốc thoải, có tầng mỏng khoảng 50- 70cm, đất không có kết cấu, dễ bị rửa trôi Nhóm đất đồng bằng ven biển gồm: đất phù sa cũ bạc màu, loại này tập trung ở ven đường 18A, đất chua mặn phân bố ở ngoài đê bao
Bảng 2: Tình hình đất đai, sử dụng đất đai năm 2004 của thị xã Uông Bí
Tổng diện tích tự nhiên 24.041,30 100
1.1 Trồng cây hàng năm 2.137,14
1.4 Mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 910,9
Trang 28Nguồn: Tổng hợp từ số liệu phòng thống kê thị xã
Hai loại đất trên chiếm khoảng 25% diện tích đất tự nhiên Với địa hình đa dạng, sự đan xen giữa các loại đất tạo nên sự phân bố những dải sinh thái hẹp, do đó cho phép bố trí được nhiều loại cây trồng, vật nuôi khác nhau Thị xã có tổng diện tích đất tự nhiên 24.041,30 ha, trong đó đất lâm nghiệp có diện tích lớn nhất 11.469,9 ha, chiếm 47,71%, còn lại là đất chưa sử dụng và sông suối 4.900,31 ha chiếm 20,38% Trong tổng diện tích 3.483,04 ha đất chuyên dùng, có 1.239,36 ha là đất sử dụng cho khai khoáng Đây là diện tích đáng kể trong việc khai thác tài nguyên khoáng sản và sẽ có ảnh hưởng lớn tới môi trường sinh thái, lâm nghiệp và nguồn nước Diện tích này sẽ thay thế chuyển sang mục tiêu trồng rừng sau khi kết thúc hoạt động khai thác than Tình hình sử dụng đất đai của thị xã được chỉ rõ ở bảng 2
2 Đặc điểm kinh tế xã hội
Lao động (người) Tổng số Nông
nghiệp
Tỷ lệ (%)
Phi nông nghiệp
Tỷ lệ (%)
Tổng số 22.051 97.032 59.468 23.193 39 36.275 61
I Thành thị 16.195 70.107 43.075 9.907 23 33.168 77
Trang 295 Phường Thanh Sơn 2.714 11.648 7.166 1.316 18,36 5.850 81,64
6 Phường Nam Khê 1.827 7.894 4.851 1.417 29,21 3.434 70,79
7 Phường Yên Thanh 15.486 6.402 3.945 1.945 49,30 2000 50,70
II Nông thôn 5.856 26.925 16.393 14.142 86,27 2.251 13,73
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu phòng Thống kê Thị xã
Tính đến tháng 12/2004, dân số của thị xã là 97.032 người, mật độ trung bình 404 người/ km2 Tổng số hộ 22.051 hộ, trong đó số hộ nông nghiệp là 5.856 hộ, chiếm 26,56% số
hộ toàn thị xã Nhân khẩu trong nông thôn là 26.925 người, chiếm 27,75% nhân khẩu toàn thị
xã Lao động nông nghiệp là 23.193 người, chiếm 39% lao động toàn thị xã, bình quân nhân khẩu trên hộ là 4,4 khẩu, tỷ lệ lao động/nhân khẩu là 61,3% được thể hiện qua bảng 3 Cộng đồng các dân tộc sinh sống tại thị xã gồm các dân tộc Dao, Sán Chỉ, Hoa, Kinh trong đó dân tộc Kinh chiếm 90%
Bảng 4: Lao động trong các ngành kinh tế năm 2004 của thị xã Uông Bí
Trang 30
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu phòng Thống kê thị xã
Nguồn lao động: Năm 2004 tổng nguồn lao động là 59.468 người Trong đó lao động trực tiếp làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 49.358 người, chiếm 83%, còn lại 17% lao động chưa có việc làm Lao động đang làm việc trong ngành nông- lâm- thuỷ sản là 19.546 người, chiếm 39,6%, công nghiệp 20.039 người, chiếm 40,6% và dịch vụ là 9.773 người, chiếm 19,8% Về cơ cấu lao động trong các năm qua đều có sự dịch chuyển đáng kể từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ
Lao động dư thừa là một vấn đề lớn Trong tương lai, hàng năm lực lượng lao động sẽ gia tăng đáng kể khi số người bước vào tuổi lao động lớn hơn số người ra khỏi tuổi lao động (do cơ cấu dân số trẻ) Hơn nữa, trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh hướng tới việc nâng cao hiệu quả lao động Do vậy, nếu không có đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất thì khả năng giải quyết việc làm cho người lao động rất khó khăn Một vấn đề nữa cần quan tâm là tỷ lệ bán thất nghiệp chủ yếu là trong khu vực nông, lâm, thuỷ sản Lao động trong khu vực này hiện thiếu việc làm từ 4-5 tháng trung bình năm Mặt khác diện tích đất nông nghiệp thị xã lại hạn hẹp, khả năng mở rộng sản xuất
Trang 31là đường thuỷ liên tỉnh, có giá trị lớn về giao thông vận tải, vận chuyển vật tư, hàng hoá từ Uông Bí đi Hải Dương, Hải Phòng và ngược lại
Đường bộ: có quốc lộ 18A đi qua (chiều dài qua thị xã 15 km), quốc lộ số 10 (chiều dài qua thị xã 6km từ Bí Chợ- Đá Bạc) Đây là những điều kiện thuận lợi cho thị xã có thể mở rộng giao lưu với các huyện, thị trong và ngoài tỉnh
2.2.2 Hệ thống thuỷ lợi
Đối với các công trình đã đầu tư, từ năm 1962 đến nay Nhà nước đầu tư được 25 hạng mục công trình lớn và đã có tác dụng tốt trong việc tăng diện tích canh tác, diện tích gieo trồng Trong 25 hạng mục có 2 hồ chứa nước (hồ Yên Trung 50 ha, hồ Tân Lập 20 ha) Do rừng đầu nguồn bị tàn phá, việc khai thác than thổ phỉ đã làm ảnh hưởng đến công trình, bụng chứa nước của các công trình này bị bồi lấp một phần Mặt khác, các kênh dẫn nước của khu vực này đều
Trang 32
là kênh đất chạy dài theo các sườn núi nên tổn thất nước nhiều, chỉ đảm bảo tưới được 2/3 diện tích theo thiết kế (diện tích thiết kế 533 ha) Đối với các công trình đang đầu tư xây dựng: xây dựng tuyến kênh dẫn nước N2 để dẫn nước từ hồ Yên Lập (thuộc địa bàn huyện Yên Hưng) về thị xã với chiều dài 15 km để cấp nước sinh hoạt cho nhân dân và tưới cho 1.758 ha (công suất thiết kế), dự kiến công trình hoàn thành được đưa vào sử dụng năm 2005 Nếu công trình này hoàn thành mới tưới chủ động, đảm bảo được trên 80% diện tích canh tác Ngoài ra còn một số trạm bơm điện khác
2.2.3 Hệ thống cấp điện
Thị xã Uông Bí được cung cấp điện từ hệ thống điện lực miền Bắc, nên có thể đảm bảo được nhu cầu phát triển hiện tại và trong tương lai Mặt khác, trên địa bàn thị xã có nhà máy điện Uông Bí với công suất 110MW, sẽ mở rộng thêm 300MW khởi công vào năm 2005 để cung cấp điện cho hệ thống điện Quốc gia Hiện tại thị xã có 68km lới điện 6KV và 45 trạm hạ thế 6/0,4KV, nhưng về chất lượng mạng lới phân phối cơ bản đã xuống cấp Để đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn cần phải lắp đặt thêm một số trạm biến áp mới
2.2.4 Hệ thống cấp nước sinh hoạt
Hiện nay thị xã đã có nhà máy nước Lán Tháp, được xây dựng từ thời Pháp thuộc Nhà máy dùng nước mặt của suối Vàng Danh, công suất thiết kế 5000m3/ ngày đêm, mới đảm bảo cung cấp đáp ứng nước sinh hoạt cho 60% dân số thị xã Thị xã đang đầu tư xây dựng nhà máy nước Pôlivôn, với công suất 3.000m3/ngày đêm, nhà máy có hồ chứa 24.000m3, trạm bơm cấp
1 và cấp 2, hệ thống bể lọc 500m3 và hiện đã lắp đặt 12km đường ống 200mm - 400mm
2.2.5 Hệ thống y tế, giáo dục
Y tế: Thị xã Uông Bí có một bệnh viện với quy mô 400 giường, cơ sở hạ tầng tốt (từ 2 4
tầng), trang thiết bị tương đối hiện đại Trạm y tế của thị xã có 10 mỗi xã, phường 01 trạm
Giáo dục:Hiện tại thị xã có 27 trường thuộc hệ giáo dục phổ thông, với tổng số học sinh
19.216, số lớp 562 bao gồm: 17 trường tiểu học, 8 trường trung học cơ sở, 2 trường phổ thông trung học
II Khái quát về tình hình phát triển kinh tế xã hội của thị xã Uông Bí giai đoạn 2001-
Trang 33
1 Ngành CN- TTCN
Sản xuất CN- TTCN qua 4 năm đã phát triển và có mức tăng trưởng khá, bình quân 10,47%/năm, GTSX CN- TTCN năm 2001 đạt 891.776 tr.đ, năm 2004 đạt 1.202.329 tr.đ Các mặt hàng có thị trường tiêu thụ lớn là gạch nung, vôi củ, đá các loại, cát Thị xã đã hoàn thành khảo sát, lập bản đồ qui hoạch khai thác cát, sét trên địa bàn; triển khai qui hoạch các khu công nghiệp Trạp Khê, các khu CN- TTCN khác của địa phương Tạo điều kiện hỗ trợ các công ty thực hiện các dự án lớn đã được phê duyệt Nhưng do có những khó khăn trong hoạt động sản xuất và đầu tư nên công nghiệp của thị xã thời gian qua chuyển dịch còn chậm, chưa có sự phát triển mạnh
2 Ngành nông- lâm- thuỷ sản
Tốc độ tăng trưởng bình quân nông, lâm, thuỷ sản trên địa bàn thị xã 4 năm qua đạt 5,05%/năm, GTSX tăng từ 73.129 tr.đ (2001) lên 84.771 tr.đ (2004) Trong giai đoạn 2001-
2004 thị xã đã tăng cường thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đưa 70% giống lúa lai, lúa thuần vào sản xuất đạt năng suất cao Đẩy mạnh công tác chuyển giao kỹ thuật cho nông dân các xã, triển khai các mô hình sản xuất với kỹ thuật canh tác mới như: mô hình cá Chim trắng, trồng tre Bát Độ lấy măng, gà thả vườn, Sind hoá bò vàng của địa phương bước đầu đạt kết quả tốt Tiến hành chuyển đổi diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 70% kế hoạch, tập trung nuôi tôm,
cá nước ngọt, trong đó chú trọng dự án nuôi cá rô phi Siêu Đực tại xã Phương Nam và phường Yên Thanh Quan tâm đến công tác lâm nghiệp, trồng rừng theo dự án, kết hợp trồng mới các cây phân tán lấy gỗ, làm bóng mát và cây ăn quả Tăng cường quản lý bảo vệ và khai thác rừng hợp lý Tuy vậy, tốc độ chuyển dịch nội bộ ngành nông nghiệp còn chậm do chưa có sự gắn kết với công nghiệp chế biến, phát triển còn dàn trải nên hiệu quả không cao
3 Ngành thương mại, dịch vụ, du lịch
Tổng doanh thu thương mại, dịch vụ, du lịch có mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành dịch vụ giai đoạn 2001- 2004 là 12,28%/năm Các hoạt động thương mại trên địa bàn được duy trì, giá cả hàng hoá ổn định, mặt hàng phong phú, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng và kinh doanh buôn bán Riêng năm 2004, tổng doanh thu ngành dịch vụ là 401.565 tr.đồng, trong đó dịch vụ sản xuất là 128.343 tr.đồng, dịch vụ đời sống là 272.728 tr.đồng Kết cấu hạ tầng phục vụ cho ngành du lịch từng bước được nâng cấp,
Trang 34hoàn thiện, nhờ đó đã thu hút đông đảo khách tham quan trên địa bàn Trong 9 tháng đầu năm
2003, doanh thu du lịch đã tăng 21,8% so với cùng kỳ năm 2002 Tổng lượt khách du lịch đạt 398.500 người năm 2003 Những năm tới để hoạt động dịch vụ- thương mại- du lịch của thị xã phát triển mạnh mẽ hơn, thị xã cần chú ý nâng cấp cơ sở hạ tầng, đầu tư khai thác có hiệu quả các tiềm năng của địa phương
4 Hoạt động xuất nhập khẩu
Trong thời gian qua, hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn thị xã Uông Bí diễn ra phù hợp với xu thế chung của quá trình phát triển kinh tế mở cửa và hội nhập của cả nước Những hoạt động xuất khẩu sản phẩm hàng hoá đã tạo ra một nguồn thu không nhỏ cho ngân sách thị
xã, đồng thời cũng góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, mở rộng thị trường, tăng cường giao lưu kỹ thuật, công nghệ đối với địa phương Từ năm 2001 đến năm 2004, thị xã Uông Bí đã xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản: thịt lợn, thịt gia cầm, tùng hương, hoa quả, rau xanh… ra các thị trường bên ngoài như: Thành phố Hạ Long, Hải Phòng, Hà Nội Năm 2004, sản lượng tùng hương chế biến đạt 1200 tấn, trong đó xuất khẩu 305 tấn, sản lượng thịt lợn, thịt gia cầm, trái cây, rau xanh không những đáp ứng được cho nhu cầu địa phương mà còn tăng về sản lượng xuất khẩu qua từng năm Các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu chủ yếu của địa phương
có thể kể đến đó là: than sạch, xi măng, đá các loại, giầy da, đồ gỗ… Năm 2004, sản phẩm giầy
da xuất khẩu của thiax đạt 1028 nghìn đôi, đồ gỗ xuất khẩu khoảng 20.000m3, xi măng, than sạch, đá đều tăng sản lượng xuất khẩu so với năm 2003 Các sản phẩm công nghiệp của thị xã không chỉ được xuất khẩu ra các địa bàn lân cận mà còn xuất khẩu ra cả các nước ngoài: Trung Quốc, Đài Loan, … Bên cạnh xuất khẩu, thị xã cũng nhập khẩu những mặt hàng cần thiết phục
vụ sản xuất kinh doanh mà chủ yếu là máy móc nông nghiệp, thiết bị kỹ thuật và các sản phẩm công nghệ cao
Cùng với những thành tựu đạt được trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, thị xã Uông Bí còn gặp không ít khó khăn khi thực hiện mở cửa kinh tế Khó khăn lớn nhất của thị xã đó là trình
độ trang bị kỹ thuật còn yếu nên sản phẩm làm ra sức cạnh tranh bị hạn chế Các sản phẩm chăn nuôi, trái cây do chế biến, bảo quản thủ công nên không vận chuyển được xa, chất lượng
ít nhiều bị ảnh hưởng nên giá cả không ổn định Các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu mới chỉ
Trang 35còn những sản phẩm tinh chế, hàm lượng kỹ thuật cao còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu Ngoài khó khăn chính đó, thị xã còn phải đối mặt với nhiều vấn đề về điều chỉnh chính sách
mở cửa cho phù hợp, thực hiện công tác qui hoạch thế nào để sản xuất được hiệu quả, thu hút đầu tư dành cho phát triển sản xuất phục vụ xuất khẩu… Đó là những vấn đề mà thị xã cần tập trung xem xét trong những năm tiếp theo
5 Về lĩnh vực xã hội
5.1 Giáo dục đào tạo
Trong 4 năm qua, giáo dục và đào tạo của thị xã có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng dạy và học trong các nhà trường được nâng cao, việc dạy thêm, học thêm được chấn chỉnh Đã tiến hành phổ cập đạt 100% bậc tiểu học và THCS Ngành mầm non phát triển theo hướng đa dạng hoá ( dân lập, tư thục), tỷ lệ học sinh các lớp đầu cấp tăng
5.2 Giải quyết việc làm và xoá đói, giảm nghèo
Năm 2004, có 49.358 người lao động trực tiếp trong các ngành kinh tế quốc dân so với năm 2003 là 48.502 người Cơ cấu lao động đã chuyển dịch theo hướng tích cực cùng với chuyển dịch CCKT, chuyển dần lao động trong ngành nông nghiệp sang ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ Thu nhập của người lao động đã được nâng lên đáng
kể
Công tác xoá đói giảm nghèo đã thực hiện đạt kết quả tốt, tỉ lệ hộ thoát nghèo đã giảm 1% bình quân năm, thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia của Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, tạo cơ hội và điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội, đến năm 2004 Hội Phụ nữ đã cho 17.497 lượt chị em được vay vốn với số tiền đã cho vay 33,55 tỉ đồng
5.3 Công tác y tế
Thực hiện có hiệu quả công tác quản lí nhà nước về y tế địa bàn, tổ chức tốt việc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, mạng lưới y tế cơ sở được kiện toàn củng cố, cán bộ y tế tiếp tục được đưa đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn
5.4 Các hoạt động xã hội khác
Trang 36Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộị được củng cố và giữ vững, đã tập trung chỉ đạo đợt cao điểm tấn công tội phạm phòng chống ma tuý, tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn giao thông
III Đánh giá thực trạng chuyển dịch CCKT tại thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu phòng Thống kê thị xã
Bảng 6: Cơ cấu các ngành kinh tế của thị xã Uông Bí ĐVT: %
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu phòng Thống kê thị xã
Sự chuyển dịch CCKT trong những năm qua của thị xã được thể hiện qua bảng 5 và bảng 6 Ngành nông nghiệp đang phát triển nhưng vẫn giữ tỷ lệ tương đối ổn định ở mức 5,86% (2001) và 5,02% (2004), ngành công nghiệp vẫn tiếp tục phát triển, ổn định chiếm
Trang 3792001) lên 23,78% (2004) Nhìn chung CCKT của thị xã Uông Bí giai đoạn 2001-2004 đã có
sự chuyển biến theo đúng hướng nhưng còn chậm Tỷ trọng ngành nông nghiệp đã có sự giảm dần qua các năm song mức độ giảm không lớn và tương đối ổn định theo mỗi năm Tuy nhiên, mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GTSX các ngành giảm nhưng giá trị tuyệt đối của ngành nông nghiệp vẫn tăng, năm sau cao hơn năm trước từ 73.129 tr.đ (2001) lên 84.771 tr.đ (2004), tốc độ phát triển bình quân chung giai đoạn 2001- 2004 là 5,05%/năm Giải thích cho
sự phát triển có phần giảm xuống của ngành nông nghiệp, một trong những nguyên nhân là do
sự giảm sút đáng kể phần đóng góp của ngành lâm nghiệp vào cơ cấu GTSX toàn ngành nông nghiệp
Tỷ trọng ngành công nghiệp cũng có xu hướng giảm dần qua các năm nhưng không nhiều Tuy vậy, tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành vẫn giữ ở mức 10,47% giai đoạn 2001- 2004 và giá trị tuyệt đối của ngành công nghiệp vẫn tăng từ 891.776 tr.đồng (2001) lên 1.202.329 tr.đồng (2004) Ngành công nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng GTSX của các ngành kinh tế
Tỷ trọng ngành dịch vụ, ngược lại với hai ngành trên, lại có xu hướng gia tăng rõ rệt qua từng năm Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành này giai đoạn 2001- 2004 ở mức 12,28%/năm GTSX của ngành dịch vụ đóng góp vào tổng GTSX chung tăng từ 283.696 tr.đ (2001) lên 401.565 tr.đ (2004) Sự phát triển của ngành dịch vụ cho thấy một xu hướng tất yếu trong quá trình chuyển dịch CCKT chung toàn thị xã Đó cũng là kết quả của một loạt các chính sách định hướng đúng đắn cũng như của sự đầu tư nhất định vào ngành dịch vụ thời gian qua Chính nhờ những chuyển biến không chỉ của riêng ngành dịch vụ mà còn của các ngành còn lại đã góp phần thúc đẩy thúc đẩy chuyển dịch CCKT có kết quả, phát triển kinh tế thêm một bước và giải quyết phần nào các vấn đề xã hội
1.2 Chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ
Mỗi vùng lãnh thổ trên địa bàn thị xã đều có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, nguồn lao động, kết cấu hạ tầng và các điều kiện xã hội khác tạo cho mỗi vùng có những đặc thù, những thế mạnh riêng trong việc phát triển kinh tế Thị xã đã nhận thấy vai trò cần thiết của cơ cấu lãnh thổ trong việc thúc đẩy tốc độ tăng trưởng chung toàn nền kinh tế nên đã có nhiều chính sách tạo ra sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu lãnh thổ Xét theo đặc điểm địa hình,
Trang 38lãnh thổ tự nhiên của thị xã Uông Bí được chia ra thành 3 vùng: vùng núi cao, vùng thung lũng, vùng thấp Nếu xét theo đặc điểm KTXH, thị xã Uông Bí gồm hai khu vực cơ bản: khu vực nông thôn gồm 3 đơn vị xã và khu vực thành thị gồm 7 đơn vị phường Từ 2001- 2004, ở khu vực nông thôn, do được sự quan tâm của các ngành, các cấp, lượng vốn đầu tư vào các ngành kinh tế tăng lên, bước đầu đã ứng dụng được những thành tựu KHKT vào sản xuất nông nghiệp nên sản lượng thu hoạch đã có sự tăng lên rõ rệt
Bảng 7: Sản lượng lương thực có hạt ở khu vực nông thôn thị xã Uông Bí
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu phòng Thống kê thị xã
Qua bảng 7 có thể thấy sản lượng lương thực ở khu vực nông thôn của thị xã mỗi năm đều có sự tăng lên, từ 9.132,1 tấn (2001) lên 10.085,2 tấn (2004) mặc dù diện tích trồng lúa mỗi năm đều có sự sụt giảm do đất nông nghiệp bị chuyển sang làm đất xây dựng và dịch vụ Đạt được kết quả như thế là do đã áp dụng những biện pháp nhằm tăng năng suất cây trồng trong sản xuất nông nghiệp như: đầu tư giống có năng suất cao, phân bón, thuỷ lợi và đặc biệt là bồi dưỡng kiến thức cho nông dân các xã suốt thời gian qua Chính sự phát triển theo chiều sâu của sản xuất đã góp phần cải thiện một cách đáng kể thu nhập của người dân, nâng cao mức sống cho những hộ nông dân còn khó khăn Vì thế, nhiều năm qua, khu vực nông thôn của thị xã Uông Bí đã có nhiều thay đổi tích cực, GTSX tạo ra từ khu vực này không ngừng tăng lên, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng nông thôn, vùng sâu đã có
sự giảm xuống Người dân được tiếp cận một cách thường xuyên hơn với các phương tiện của cuộc sống: tivi, radio, báo chí, xe máy, điện thoại , được hưởng các dịch vụ chăm sóc y tế và giáo dục nhiều hơn Theo số liệu thống kê của thị xã, từ một số lượng máy điện thoại cố định
Trang 39vùng xa, số lượng máy điện thoại cố định đã tăng lên là 685 máy Nhờ có sự đầu tư của thị xã cho việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn nên sự chênh lệch về phát triển giữa khu vực này với khu vực thành thị dần được thu hẹp Một điều đáng ghi nhận phản ánh sự thay đổi ở khu vực nông thôn là đã có sự dịch chuyển lao động từ lao động nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp Bảng 3 trang 31 cho ta thấy điều đó Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ở xã Thượng Yên Công tăng từ 16,19% (2003) lên 17,14% (2004), xã Phương Nam từ 6,9% (2003) lên 7,01% (2004) và xã Phương Đông từ 18,8% (2003) lên 19,01% (2004)
ở khu vực thành thị, CCKT tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp và dịch vụ Tỷ
lệ lao động phi nông nghiệp ở khu vực này rất cao, dao động từ 50,7% đến 89,26%, tập trung chủ yếu ở 4 phường chính: Vàng Danh, Trưng Vương, Quang Trung, Thanh Sơn Đây cũng là
4 địa bàn trọng điểm trong phát triển kinh tế của thị xã Các khu vực này thời gian qua đã được thị xã chú trọng đầu tư xây dựng mới và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, áp dụng khoa học công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển nên đã có nhiều bước tiến lớn trong phát triển công nghiệp, mà đặc biệt là ngành dịch vụ Thị xã chú trọng phát triển những địa bàn trọng điểm này để đưa lên thành những khu vực kinh tế năng động nhất thị xã, tạo lực đẩy và hỗ trợ các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa của thị xã phát triển Chính vì thế,
từ 2001- 2004 đã có rất nhiều các tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất kinh doanh trên các địa bàn này: dự án khu công nghiệp Trạp Khê (Nam Khê), khu công nghiệp Yên Thanh, Liên doanh da giầy Việt Nam- Đài Loan làm thay đổi từng ngày bộ mặt kinh tế của thị xã
Với tất cả những điều phân tích ở trên có thể thấy, chính sách chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ ở thị xã Uông Bí thời gian qua đã thu được những thành công nhất định, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế thị xã nói chung, các ngành và các thành phần kinh tế nói riêng Song cũng cần phải thừa nhận, mặc dù đã có nhiều cố gắng, song việc đầu tư của thị xã vào những khu vực này vẫn còn thiếu một sự qui hoạch đồng bộ và phù hợp Vấn đề xác định đâu là những lĩnh vực cần ưu tiên phát triển, phát triển cái gì trước, phân bổ và quản lý vốn ra sao, mong muốn của người dân ở chính những khu vực đó là gì vẫn chưa được giải quyết triệt để Thêm nữa khoảng cách giữa các vùng thời gian qua tuy đã được rút ngắn ít nhiều song vẫn còn khá chênh lệch Cơ sở hạ tầng phục vụ sinh hoạt và sản xuất ở một số xã vùng sâu còn thiếu và yếu, công tác đầu tư vào những khu vực này tiến hành còn chậm, vì thế những khu vực này
Trang 40không có sức cạnh tranh phát triển với nhiều vùng khác, người dân còn nghèo Có thể thấy số
hộ nghèo của thị xã phần lớn tập trung ở khu vực nông thôn và vùng cao Theo số liệu thống
kê, số máy điện thoại cố định ở khu vực nông thôn mặc dù đã tăng lên đến 685 máy nhưng so với con số hơn 2000 máy ở khu vực thành thị thì còn khiêm tốn Số lao động phi nông nghiệp ở khu vực thành thị cũng cao hơn ở nông thôn rất nhiều Vì thế, thời gian tới thị xã cần phải có sự điều chỉnh kịp thời để phát triển hơn nữa khu vực nông thôn và giảm dần khoảng cách chênh lệch
1.3 Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế
Để giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân, chính sách của Nhà nước và của tỉnh chủ trương khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và các hình thức tổ chức kinh doanh Quan điểm phát triển này đã được thị xã Uông Bí quán triệt và thực hiện trong suốt những năm qua Địa bàn thị xã Uông Bí bao gồm hai khu vực chính: khu vực kinh tế trong nước (KTTN) và khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài (KT ĐTNN) Khu vực kinh tế trong nước có khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, bao gồm kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, cá thể Các thành phần kinh
tế trên địa bàn thị xã thời gian qua đã được tạo điều kiện thuận lợi, quá trình phát triển luôn theo chiều hướng tốt, phù hợp với đường lối, chính sách chuyển dịch kinh tế của thị xã Do đó các thành phần kinh tế đều phát triển có kết quả, đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh
tế thị xã Đề tài sẽ đi phân tích về thực trạng phát triển và chuyển dịch của các thành phần kinh
tế trên địa bàn thị xã theo hai khu vực chính: khu vực kinh tế trong nước (KTTN) và khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài (KT ĐTNN)
Bảng 8: GTSX công nghiệp phân theo thành phần kinh tế
Cơ cấu (%)
Giá trị (tr.đ)
Cơ cấu (%)
Giá trị (tr.đ)
Cơ cấu (%)
Giá trị (tr.đ)
Cơ cấu (%) Tổng số 891.776 100 989.871 100 1.088.85 100 1.202.329 100