1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn các giải pháp tiếp tục thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn ở việt nam hiện nay

25 393 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 335,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống chính trị nước ta, chính quyền cấp cơ sở có một vị trí hết sức quan trọng, là cấp gần dân nhất, cấp cơ sở là cấp làm việc trực tiếp với dân, tiếp xúc hàng ngày với dân, là

Trang 2

I Đặt vấn đề

Dân chủ là bản chất của chế độ ta từ trước tới nay trong bất kỳ giai đoạn, hoàn cảnh lịch sử nào, Đảng và Nhà nước ta đều nhận thức được rằng thực hành dân chủ rộng rãi là sức mạnh to lớn, quyết định sự thành công của cách mạng Tuy việc phát huy dân chủ trong những năm gần đây trên các lĩnh vực của đời sống xã hội đã đạt được nhiều kết quả tích cực song còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết Trong đó quyền làm chủ của nhân dân chưa được thể hiện và thực hiện đầy đủ, chế độ trách nhiệm không

rõ ràng, bệnh quan liêu, tệ tham nhũng khá nặng nề, làm mất sức chiến đấu và giảm

uy tín của Đảng và Nhà nước

Trong hệ thống chính trị nước ta, chính quyền cấp cơ sở có một vị trí hết sức quan trọng, là cấp gần dân nhất, cấp cơ sở là cấp làm việc trực tiếp với dân, tiếp xúc hàng ngày với dân, là cấp hiểu dân nhất, tất cả mọi tâm tư nguyện vọng yêu cầu của dân ở cấp cơ sở nếu không quan liêu thì tất nhiên phải biết và đó cũng là cấp trực tiếp truyền đạt những đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với dân

và trực tiếp lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ Do đó, chính quyền cấp cơ sở có một vai trò, vị trí rất quan trọng Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, dân chủ hoá xã hội và các mục tiêu có tính cương lĩnh khác của Đảng có thực hiện được hay không có thể nói phần lớn phụ thuộc vào bộ phận dân cư ở cấp cơ sở này

Thế nhưng, xét về kết cấu chính trị, xã hội, văn hoá ở cấp xã, phường khá phức tạp ở cơ sở xen lẫn với pháp luật của nhà nước là hương ước của các làng xã, luật tục,

lệ làng cùng tồn tại Trình độ văn hoá của cán bộ và nhân dân còn thấp, nhiều nơi việc tiếp xúc với các phương tiện thông tin còn hạn chế Nhân dân ít quan tâm đến đời sống chính trị và văn hoá, thậm chí những quyền lợi của mình cũng không biết đến

Do đó, xét ở góc độ chính trị thì cấp cơ sở là cấp yếu nhất trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay Nhiều điểm nóng cũng xẩy ra ở cơ sở, dân chủ bị vi phạm nghiêm trọng, chính quyền nhiều nơi tham ô, ức hiếp nhân dân mà không được quan tâm giải quyết kịp thời Vì vậy, trong phạm vi bài tiểu luận này tác giả xin đề cập đến các giải pháp để tiếp tục xây dựng hoàn thiện và thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn ở nước ta hiện nay

Trang 3

II Nội dung

1 Dân chủ xã hội chủ nghĩa

1.1 Khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa

Dân chủ (theo tiếng Hy Lạp) là "quyền lực của nhân dân", "chính quyền của nhân dân" Các tác giả kinh điển Mác - Lênin đã kế thừa và phát triển tư tưởng dân chủ ấy trong khi đặt vấn đề xác lập chế độ xã hội mới, xã hội chủ nghĩa Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph Ăngghen đã đặt vấn đề xây dựng một xã hội mới, xác định bản chất của chế độ mới rằng: "Tự do của mỗi người là điều kiện phát triển

tự do của tất cả mọi người" và "giải phóng con người" là mục tiêu của một nhà nước kiểu mới; là nhà nước tổ chức được đời sống chung của nhân dân, trong đó bảo đảm được sự phát triển tự do tối đa và "phát triển toàn diện con người"

Về mặt nhà nước, Các Mác chủ trương xây dựng một chế độ dân chủ triệt để, dân chủ là "do nhân dân tự quy định", là bước chuyển từ xã hội thần dân sang xã hội công dân, là từ "nhân dân của nhà nước" sang "nhà nước của nhân dân" Về sau, tư tưởng dân chủ ấy được Lênin tiếp thu và phát triển trong quá trình xây dựng nhà nước kiểu mới, trước hết là xác định rõ "Mục đích của chính quyền Xô viết là thu hút những người lao động tham gia vào quản lý nhà nước", thực hiện một nền dân chủ rộng rãi nhằm giải phóng con người và phát triển toàn diện con người trong xã hội mới Bởi vì, như Lênin đã nói: "không có chế độ dân chủ thì chủ nghĩa xã hội sẽ không thể thực hiện được theo hai nghĩa sau đây: 1) giai cấp vô sản không thể hoàn thành được cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nếu họ không được chuẩn bị cho cuộc cách mạng đó thông qua cuộc đấu tranh cho chế độ dân chủ; 2) chủ nghĩa xã hội chiến thắng sẽ không giữ được thắng lợi của mình và sẽ không dẫn được nhân loại đi đến thủ tiêu nhà nước nếu không thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ"

Như vậy, dân chủ là một hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người là loài người Xuất hiện trong điều kiện xã hội có giai cấp nên cả nhà nước lẫn chế độ dân chủ đều mang bản chất giai cấp Nhà nước là công cụ để thực hiện lợi ích và duy trì quyền lực của giai cấp thống trị, nên chế độ dân chủ bao giờ cũng chỉ phục vụ cho giai cấp thống trị mà thôi Lênin gọi các chế độ dân chủ đó, kể cả dân chủ tư sản là dân chủ của một thiểu số Quần chúng nhân dân

Trang 4

lao động nếu có được hưởng một số quyền dân chủ nào đó thì điều đó do họ đấu tranh

mà dành được, giai cấp thống trị muốn tồn tại được buộc phải đáp ứng một số đòi hỏi dân chủ nhất định cho dân chúng dù hạn chế và thường bị cắt xén

Về mặt nhà nước, trên cơ sở xác định "việc thu hút được mọi người lao động tham gia vào quản lý là một trong những chủ thể quyết định của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã sớm đặt

ra những yêu cầu dân chủ trong bức thư 8 điểm gửi Hội nghị Véc xây Người đã đề cập đến những quyền dân chủ rất cơ bản như ân xá toàn thể chính trị phạm Việt Nam,

bỏ hẳn Toà án đặc biệt đòi quyền tự do báo chí, tự do tư tưởng, hội họp, lập hội, tự do

cư trú, xuất dương học tập và mở trường kỹ thuật chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh

Hồ Chí Minh cũng đã kế thừa tư tưởng dân chủ của phương Tây và phương Đông như "Đề cao nhân dân", chẳng hạn "dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" Nhưng ở đây, khái niệm "dân" trong quan niệm của Hồ Chí Minh là "những người lao khổ", là nhân dân lao động - những người sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho

xã hội Với quan niệm nhân dân ấy người đề cao nhân dân rằng "trong bầu trời không

có gì quý bằng nhân dân" Đối với người tất cả mọi việc trong đời, dù khó khăn đến mấy nhưng nếu biết dựa hẳn vào dân thì bao giờ cũng thành công

Từ vị thế của nhân dân, khi thành lập nước, xác định chính thể "Việt Nam dân chủ cộng hoà", người khẳng định nguồn gốc sâu xa của quyền lực nhà nước là ở nhân dân

"Nước ta là nước dân chủ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra

Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân"

Từ quan điểm của các tác gia kinh điển chúng ta thấy cái mới của nền dân chủ

xã hội chủ nghĩa là ở chỗ

Trang 5

Thứ nhất: Dân chủ cho số đông, là sự bảo đảm quyền lực lợi ích của nhân dân,

do giai cấp công nhân đại diện Giai cấp công nhân không có lợi ích riêng của mình

mà biểu hiện cho lợi ích chung của toàn xã hội

Thứ hai: tiền đề đầu tiên của dân chủ xã hội chủ nghĩa là quần chúng phải được

giải phóng và đạt được một bước ngoặt lịch sử là tự do về chính trị, là chủ thể lịch sử,

là quyền dân tộc tự quyết

Thứ ba: cơ sở chính trị trực tiếp là nhà nước kiểu mới, là Đảng Cộng sản cầm

quyền, lãnh đạo xã hội và nhà nước

Đối với nước ta, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa có một số đặc trưng sau:

Quyền dân chủ cao nhất thuộc về nhân dân, do nhân dân sử dụng để tổ chức bộ máy nhà nước; và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước (các cơ quan và cán

bộ công chức), để thực hiện các quyền dân chủ trực tiếp, nhất là ở cơ sở nơi nhân dân trực tiếp lao động và sinh hoạt

Chế độ dân chủ được xác lập là do thắng lợi của cuộc cách mạng do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo - không có Đảng Cộng sản Việt Nam thì không có nền dân chủ XHCN ở Việt Nam

Dân chủ ở nước ta là dân chủ toàn diện được phát triển trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội

Sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước và xã hội được thực hiện thông qua các hình thức: Dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp

Tóm lại, dân chủ là một quyền của người dân nhưng nó có hai mặt: Một là,

những quyền về tổ chức nhà nước và các quyền trong kinh tế, chính trị và dân sinh;

Hai là: các nghĩa vụ liên quan đến bảo vệ chế độ, đóng góp để tạo nguồn ngân sách,

chấp hành các quy định pháp luật về quyền lợi quốc gia dân tộc và của mỗi người Nếu nhân dân chỉ sử dụng quyền thì mới đạt được một mặt của dân chủ, nếu nhân dân chỉ làm nghĩa vụ thì nội dung dân chủ bị đảo lộn

1.2 Sơ lược về quá trình thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay

Nước ta là một nước chưa qua giai đoạn phát triển TBCN nên khác với các nước phương Tây, vấn đề dân chủ là vấn đề tương đối mới mẻ Tuy gọi là mới nhưng

từ khi chưa có sự ra đời của Đảng ở nước ta đã có những phong trào đấu tranh đòi dân chủ như phong trào Đông Du, Đông kinh nghĩa thục… với các vị thân sỹ nổi tiếng

Trang 6

như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… Sau khi Đảng ra đời phong trào đấu tranh đòi dân chủ ở nước ta là một bộ phận của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Đảng lãnh đạo nhân dân ta là làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đuổi thực dân, đánh đổ phong kiến, xây dựng một nước dân chủ cộng hoà tiến lên CNXH Dân chủ ở đây là phải giành được độc lập dân tộc, đưa nhân dân từ vị trí nô lệ, làm thuê lên địa

vị làm chủ Muốn vậy, Đảng Cộng sản phải lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, đưa lại cho nhân dân cuộc sống ấm no hạnh phúc Yêu cầu đầu tiên về dân chủ

"độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày" đã thực hiện được bằng thắng lợi của cuộc cách mạng tháng tám 1945 và công cuộc cải cách ruộng đất sau năm 1954 Khi đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị đối lập nhau, yêu cầu thiêng liêng về dân chủ của toàn thể dân tộc Việt Nam là được sống trong một đất nước hoà bình, tự do, thống nhất Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân dân ta đã lập nên chiến thắng vĩ đại với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa xuân 1975 và đã thống nhất đất nước

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội IV (1976) Đảng ta khẳng định xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động là vấn đề thuộc về bản chất của chế độ ta Quyền làm chủ đó phải được thể hiện trên mọi mặt: Làm chủ về chính trị, kinh tế, văn hoá, làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân; làm chủ trên phạm vi cả nước và làm chủ ở từng địa phương; làm chủ bằng nhiều phương thức khác nhau nhưng chủ yếu là bằng nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng

Đại hội lần thứ V giải thích rõ thêm: Nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ tập thể chủ yếu bằng nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng , trước hết thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp… thông qua Hội đồng Bộ trưởng và uỷ ban nhân dân các cấp

Rút kinh nghiệm từ những thành tựu cũng như thiếu sót trong lãnh đạo xây dựng đất nước, Đại hội VI (1986) đã nêu bài học lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân lao động, thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" Nghị quyết Đại hội đã viết: "Đối với những chủ trương quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân trên phạm vi cả nước cũng như ở các địa phương và đơn vị cơ sở, cấp uỷ đảng và cơ quan chính quyền phải trưng cầu ý kiến nhân dân trước khi quyết định Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đó là nề

Trang 7

nếp hàng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước của mình"

Trên tinh thần đó sau hơn 10 năm đổi mới, quá trình dân chủ hoá ở nước ta đã

có nhiều tiến bộ Dân chủ đã trở thành một nguyên tắc không thể thiếu trong sinh hoạt của các tổ chức Đảng, đoàn thể và trong nhân dân Sự công khai phê bình được mở rộng, thông tin báo chí được tự do hơn Nhiều hành vi phản dân chủ, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân được vạch trần và xử lý Khẩu hiệu "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" được thực hiện ở nhiều nơi đem lại hiệu quả tốt về kinh tế, xã hội, tạo nên bầu không khí lành mạnh và tin tưởng trong đời sống chính trị ở địa phương

Tuy vậy, chúng ta cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng tình trạng mất dân chủ

ở nước ta còn rất nặng nề Trong chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương đảng khoá VIII ngày 18/12/1998 đã thừa nhận rằng: "Nhìn chung quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực, tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hoá và thể chế hoá thành luật pháp" Điều đó được tiếp tục khẳng định tại Đại hội IX của Đảng: "Tình trạng mất dân chủ, tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu dân, lãng phí còn nặng đang là lực cản của sự phát triển và gây bất bình trong nhân dân"

Do đó vấn đề dân chủ hoá xã hội là vấn đề khó khăn, phức tạp Sự kiện Thái Bình và nhiều nơi khác đã thể hiện rõ điều đó Nhưng cũng vì thế mà chúng ta không nóng vội được bởi vì mở rộng dân chủ đến mức không giới hạn sẽ phá vỡ kỷ cương, rối loạn xã hội mất ổn định về chính trị, nhất là trong bối cảnh kẻ thù đang dùng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để chống phá chúng ta Giáo sư, tiến sỹ Lê Hữu Nghĩa đã nói: "Đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chưa trải qua trường học dân chủ tư sản nên xã hội Việt Nam không thể bỗng chốc có ngay một nền dân chủ đầy đủ và hoàn thiện Chúng ta phải từng bước xây dựng chế độ dân chủ và từng bước học dân chủ để làm dân chủ Do đó dân chủ là cả một quá trình"

2 Nội dung quy chế dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn

Trang 8

Những năm gần đây, trong hoạt động quản lý nhà nước có nhiều khuyết điểm, nhất là nạn tham ô, tham nhũng, quan liêu, xa dân… làm phương hại đến uy tín của nhà nước làm quyền lợi của nhân dân bị xâm hại, vai trò làm chủ của nhân dân bị xem nhẹ Do đó, sự cần thiết phải có quy chế dân chủ ở cơ sở là một đòi hỏi tất yếu của tiến trình phát triển dân chủ ở nước ta trong đổi mới

Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (phường, thị trấn) được ban hành theo Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11-5-1998 của Chính phủ Quy chế gồm lời nói đầu, 7 Chương và 25 Điều

Những nội dung của bản Quy chế

Thứ nhất: Những quy định chung về mục đích, mục tiêu và nguyên tắc áp dụng

Quy chế Đó là:

- Quy chế ban hành nhằm bảo đảm cho cán bộ, công chức, cán bộ xã (phường, thị trấn - sau đây gọi chung là cán bộ xã) chủ động phát huy quyền dân chủ của nhân dân địa phương trong xây dựng và phát triển các mặt ở địa phương;

- Bảo đảm sự ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, nâng cao dân trí;

- Xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh;

- Chống quan liêu, tham nhũng, suy thoái đạo đức trong công vụ;

- Phát huy vai trò chủ động, tích cực của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân;

- Dân chủ trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, ngăn chặn tình trạng mất dân chủ từ phía Nhà nước, đồng thời chống khuynh hướng dân chủ bừa bãi

Thứ hai: Những việc nhân dân bàn và trực tiếp quyết định

Những quy định này xuất phát từ quan điểm: Nhân dân có quyền và nghĩa vụ thực hiện và chấp hành pháp luật, vận dụng những quy định pháp luật nhằm gia tăng sản xuất, huy động nguồn lực để phát triển

Nhưng mỗi địa phương có điều kiện khác nhau về dân trí, dân số, tài nguyên, tập quán, do đó cũng khác nhau trong việc huy động và phát triển đời sống, xây dựng

cơ sở hạ tầng nông thôn theo Quy chế tự quản

Vì thế, nội dung này nằm ngoài những nội dung quy định trong pháp luật Tuy nhiên, khi quyết định các vấn đề phải vừa phát huy tiềm năng trên cơ sở tự giác, đồng thời không được áp đặt, ép buộc dân

Trang 9

Những công việc cụ thể trong Quy chế bao gồm 5 loại công việc, như vấn đề: mức đóng góp cho xây dựng công trình phúc lợi, lập các quỹ phục vụ nhu cầu địa phương không trái pháp luật… (Điều 6, Chương III) Đây là những quy định mở rộng quyền tự quản của nhân dân nhằm phát huy nội lực của nhân dân địa phương, phục vụ cho chính nhân dân địa phương

Thứ ba: những việc nhân dân góp ý kiến, chính quyền xã quyết định và chịu

trách nhiệm

Nội dung này được quy định tại Chương IV, Điều 9, 10 của Quy chế

- Đây là nhóm những công việc thuộc chức năng của chính quyền xã, nhất là các chức năng có tính chất xây dựng chủ trương, chính sách về kinh tế - xã hội trên địa bàn xã Những công việc này, về mặt chức năng và tổ chức thực hiện thuộc vai trò của chính quyền, nhưng có ảnh hưởng trực tiếp tới việc huy động sức dân, huy động

sự tham gia của nhân dân địa phương

Vì thế, trước khi ban hành chính sách, thường là các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, chính quyền cần tổ chức tham khảo ý kiến nhân dân

- Về phương thức lấy ý kiến, Quy chế quy định thực hiện các hình thức để có thể lấy ý kiến các thành viên chủ chốt như: chủ hộ, các đoàn thể…

Thứ tư: những việc nhân dân giám sát, kiểm tra

Những quy định này nằm trong Chương V, Điều 11, 12 của Quy chế

Quy định này liên quan trực tiếp đến loại nhiệm vụ thuộc chức năng của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, gắn liền với nhóm các công việc quy định ở phần trên Tuy nhiên, hai loại việc và hai loại quy định có liên quan như sau:

ở chương IV: Nhân dân góp ý kiến vào những công việc mà chính quyền mới xây dựng, sau đó thực thi

ở chương V: Nhân dân kiểm tra, giám sát những việc đó (những việc chủ yếu) xem chính quyền thực thi như thế nào, kết quả đến đâu

Qua đó cho thấy, cơ chế thực hiện quyền dân chủ gắn chặt vào quan hệ giữa tính chất chịu trách nhiệm của chính quyền trước nhân dân, người trao quyền và có quyền kiểm tra, giám sát họ

Để bảo đảm tính khả thi các quy định, Quy chế định ra những nội dung chủ yếu thuộc quyền và trách nhiệm giám sát đối với cán bộ và chính quyền xã Vì, nếu Nhà

Trang 10

nước định ra những quy định, nhưng những quy định đó diễn ra ở cơ sở, sát dân; nếu dân không là người giám sát trực tiếp mà chỉ dựa vào cơ chế giám sát trong nội bộ bộ máy chính quyền thì chưa đủ Trên thực tế, cơ chế đó sẽ không có hiệu quả khi chế độ quan liêu không được khắc phục thì việc giám sát bằng con đường hành chính chưa

đủ, mà phải bằng cơ chế dân chủ và tự quản

Thứ năm: Những việc chính quyền cần thông báo cho nhân dân biết

Đây là tập hợp những quy định liên quan đến các lĩnh vực thuộc chính sách của Nhà nước (pháp luật, những quy định liên quan đến địa phương: ngân sách hàng năm, chủ trương của địa phương về vay vốn… và nhóm các lĩnh vực về; giải quyết tiêu cực, tình hình an ninh, chống tệ nạn xã hội, các hoạt động văn hoá và tổng kết, sơ kết của chính quyền)

Đây là nhóm công việc quan hệ trực tiếp của chính quyền xã với chính quyền cấp trên, nhưng liên quan đến lợi ích vật chất và tinh thần lâu dài ở địa phương

Trong hoạt động này, nhân dân có vai trò như người bổ trợ, hỗ trợ đắc lực; cơ quan nhà nước cấp trên giám sát chính quyền cấp dưới (ví dụ: báo cáo lý do, mục đích

để vay vốn ngân hàng có đúng thực trạng ở địa phương và nguyện vọng của nhân dân hay không?)

Những quy định trong chương này còn là cơ sở để chính quyền xã tranh thủ sự ủng hộ, sự tham gia một cách tự giác của nhân dân, tăng thêm sức mạnh hỗ trợ đối với hoạt động của chính quyền

Về phương thức thực hiện, Quy chế quy định chính quyền có trách nhiệm phối hợp với đoàn thể và ban tự quản thôn, bản, cung cấp đầy đủ thông tin qua sáu phương thức khác nhau để nhân dân biết một cách thuận lợi nhất

Thứ sáu: Xây dựng cộng đồng thôn (làng, ấp, bản…)

Những quy định trong chương này nhằm xây dựng quy chế tự quản của cộng đồng dân cư thôn, bản bên cạnh sự quản lý của chính quyền cơ sở

Những quy định trong chương này nhằm phát huy mọi tiềm năng về nhân tài, vật lực của cộng đồng để phục vụ chính cộng đồng Việc tổ chức các tổ quản lý cộng đồng cũng do chính nhân dân tự quyết theo nguyện vọng của đa số

Trong Quy chế quy định, các cấp chính quyền địa phương, từ cấp tỉnh đến cấp

xã, nhất là Chủ tịch UBND xã (phường, thị trấn) có trách nhiệm trực tiếp trong việc

Trang 11

phổ biến, giúp đỡ các thôn, bản xây dựng quy chế tự quản phù hợp với Quy chế dân chủ và pháp luật của Nhà nước

Những quy định chủ yếu của chương này nhằm vào các nội dung:

Một là, xác định thôn, làng, ấp, bản không phải là cấp chính quyền; mọi hoạt

động phải theo quy chế tự quản, không áp dụng các quy định hành chính

Hai là, nguyện vọng của nhân dân thông qua ý kiến đa số được thực hiện bằng

hội nghị Đây là quy định bảo đảm sự bình đẳng, nhất là bình đẳng giữa các hộ dân

Ba là, tổ chức quản lý và tổ chức do dân bầu ra, không nắm quyền hành chính,

mà chỉ thể hiện ý chí tập thể cộng đồng Vì vậy, mọi hoạt động của tổ chức này (chủ yếu là ban quản lý thôn, có trưởng thôn) cần giữ đúng vị thế là đơn vị tự quản, không phải bộ máy chính quyền

Bốn là, hoạt động tự quản chủ yếu nhằm vào việc giữ gìn đoàn kết, tương thân,

tương ái, giúp đỡ thực hiện pháp luật Nhà nước, trợ giúp trong sản xuất, cùng nhau giữ gìn trật tự, an ninh, an toàn xã hội (trong thôn, bản)

3 Đánh giá việc thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn

Về những việc chính quyền cần thông báo công khai để nhân dân biết

Trong những năm qua bằng nhiều hình thức thông tin công khai, thông báo, các địa phương trong cả nước đã thực hiện tốt việc công khai hoá cho nhân dân biết những loại việc về chính sách pháp luật của Nhà nước, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, về tình hình xây dựng phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo…

Tuy nhiên, nhìn chung, nội dung này vẫn là một khâu yếu trong quá trình triển khai thực hiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở Một số chính quyền xã, phường, thị trấn vẫn chưa thực sự coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm phải thực hiện để Quy chế thực sự đi vào đời sống

Đối với những việc nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp

Những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp trong Quy chế thực hiện dân chủ đã được cấp uỷ, chính quyền cơ sở tạo điều kiện tổ chức thực hiện nhằm phát huy tốt trí tuệ của quần chúng nhân dân, phát huy quyền dân chủ của nhân dân Nhiều nơi

đã thực hiện nội dung này theo một quy trình chặt chẽ, khách quan và đảm bảo dân chủ Nhiều xã, phường, thị trấn đã làm tốt việc đưa ra nhân dân bàn và quyết định trực

Trang 12

tiếp những nội dung công việc như việc nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng; việc lập, thu, chi các loại quỹ theo pháp luật; xây dựng hương ước, quy ước; giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại khu dân cư; bầu, bãi miễn, miễn nhiệm trưởng thôn, tổ trưởng dân phố… Ví dụ trong 5 năm 1999 - 2004, nhân dân Nghệ An đóng góp 1.160 tỷ đồng, chiếm 55% kinh phí xây dựng kết cấu hạ tầng, trong đó: xây dựng cứng hoá 4.700 km đường và 3.425 km kênh mương, 3.500 km đường dây hạ thế và trên 30.000 m2 trường học Về xây dựng hương ước, quy ước một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt trên 95% như: Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Ninh bình, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Phú Yên, Đồng Nai, Bình Dương, Trà Vinh… Tỉnh Lâm Đồng tuy là một tỉnh miền núi, nhưng trong năm 2005, nhân dân đã đóng góp 4,3 tỷ đồng và gần 48.000 ngày công xây dựng hơn 167 km đường liên thôn, liên bản; 200 chiếc cầu mới, sửa chữa 64 phòng học…

Qua thực tiễn áp dụng Quy chế thực hiện dân chủ ở các địa phương, có thể thấy đây là các nội dung được nhân dân đánh giá là thực hiện tốt nhất và cũng có sự tham gia phối hợp tích cực của chính quyền cơ sở Bên cạnh sự hỗ trợ tích cực của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, thì các nội dung công việc này được nhân dân ở cộng đồng thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố quan tâm vì gắn bó thiết thực tới quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt của nhân dân cả cộng đồng

Đối với những việc nhân dân tham gia ý kiến, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định

Tại nhiều địa phương, trước khi thông qua dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội; kế hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế, kế hoạch sử dụng đất đai, dự án huy động các nguồn đóng góp của nhân dân, chính quyền cơ sở đã niêm yết các dự thảo này tại trụ sở Uỷ ban nhân dân hoặc đưa xuống thôn, ấp, bản, tổ dân phố để nhân dân tham gia ý kiến Qua việc tổ chức cho nhân dân tham gia ý kiến, các kế hoạch, dự án được xây dựng, hoàn chỉnh phù hợp với thực tiễn hơn, thu hút được trí tuệ đóng góp của nhân dân và qua đó làm cho nhân dân hiểu và quan tâm tới các vấn đề về kinh tế - xã hội, dân sinh đặt ra đối với địa phương

Ngày đăng: 19/12/2015, 19:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w