1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn tác động của tệ nạn xã hội tới sự phát triển kinh tế xã hội ở thanh hoá

106 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua vấn đề TNXH và đấu tranh phòng, chống TNXH đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và bước đầu đã thu được những kết quả đáng khả qua

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua vấn đề TNXH và đấu tranh phòng, chống TNXH đã được Đảng

và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và bước đầu đã thu được những kết quả đáng khả quan,

đã từng bước hoàn thiện được các văn bản pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội, tăng cường sự chỉ đạo triển khai thực hiện các chương trình hành động quốc gia về công tác này, giảm được các tụ điểm TNXH phức tạp Tuy nhiên số người mắc các loại TNXH vẫn

có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp trên diện rộng, đặc biệt là các tệ nạn ma tuý, mại dâm, cờ bạc, buôn bán phụ nữ và trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em , đang là vấn đề gây bức xúc và nhức nhối cho toàn xã hội Hàng năm Nhà nước từ Trung ương đến địa phương phải chi ra hàng ngàn tỉ đồng cùng với một lực lượng lớn về con người để tập trung đấu tranh triệt phá các ổ nhóm, đường dây buôn bán ma tuý, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em; tổ chức chữa bệnh, cai nghiện phục hồi và tái hoà nhập cộng đồng cho người nghiện

ma tuý và gái mại dâm song hiệu quả chưa cao, tỷ lệ tái phạm còn rất lớn Hàng ngày, hàng giờ bộ phận dân cư mắc các tệ nạn xã hội đã tiêu phí một lượng tiền rất lớn ném vào

ma tuý, ăn chơi sa đoạ không những không mang lại lợi ích kinh tế, mà ngược lại còn làm cho một bộ phận dân cư này ngày càng rơi vào tình trạng đói nghèo, ảnh hưởng tới sự phát triển của giống nòi và nguồn nhân lực của đất nước trong tương lai Tội phạm và TNXH gia tăng, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội làm xói mòn đạo đức, làm sai lệch những chuẩn mực và giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, phá hoại hạnh phúc của mỗi con người, mỗi gia đình, đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ của nhân dân Sự gia tăng của tệ nạn xã hội còn là nguyên nhân chủ yếu làm lây lan nhanh căn bệnh HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư Đặc biệt nghiêm trọng hơn tệ nạn xã hội đã và đang lan nhanh ở nhóm thanh thiếu niên và môi trường học đường

Ngày nay, quá trình toàn cầu hoá với các mặt trái của nó đang làm nẩy sinh và lan nhanh nhiều TNXH mới Nếu chúng ta không có những giải pháp ngăn chặn có hiệu quả thì TNXH trở thành mối đe doạ, kéo theo những hậu quả khôn lường cho xã hội, tác động tiêu cực đến công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Vấn đề nghiên cứu tác động của TNXH tới sự phát triển kinh tế – xã hội nhất là đối với một tỉnh như Thanh Hoá là một vấn đề quan trọng Trên cơ sở nghiên cứu có thể đưa

Trang 3

ra được các nhân tố tác động chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế những tác động xấu của TNXH tới sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Thanh Hoá Tuy nhiên từ trước đến nay chưa có nghiên cứu chuyên sâu thuộc lĩnh vực kinh tế chính trị về vấn đề này

Từ những lý do trên, vấn đề nghiên cứu “Tác động của tệ nạn xó hội tới sự phỏt triển

kinh tế - xó hội ở Thanh Hoỏ” được chọn làm luận văn tốt nghiệp Cao học kinh tế chuyên

ngành Kinh tế chính trị

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà chuyên môn về những hiểu biết cơ bản về TNXH, đưa ra những lý giải về nguyên nhân, cơ chế gia tăng, cũng như hậu quả của TNXH đối với con người và xã hội Đồng thời, đã tham mưu cho Đảng và Nhà nước, xây dựng chính sách, pháp luật và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy lùi TNXH Tuy nhiên những nghiên cứu đó ở nhiều góc độ và giới hạn khác nhau, nên chưa đồng bộ và trên thực tế tác dụng còn hết sức khiêm tốn, chẳng hạn như:

Cuốn sách “Mại dâm, ma tuý, cờ bạc, tội phạm thời hiện đại” của nhóm tác giả;

GS,TS Nguyễn Xuân Yêm, TS Phạm Đình Khánh, TS Nguyễn Thị Kim Liên, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2003, đã trình bầy những vấn đề cơ bản về TNXH trên phương diện Xã hội học và Tội phạm học hiện đại như: đưa ra những hiẻu biết cơ bản

về TNXH ở ba dạng cơ bản là ma tuý, mại dâm, cờ bạc; cập nhật được tình hình và những kinh nghiệm về phòng chống TNXH trên thế giới, khu vực và ở nước ta; đã đề xuất được một số giải pháp tăng cường đấu tranh phòng, chống TNXH trong điều kiện kinh tế thị trường

Dưới góc độ xã hội học, trên phương diện quản lý nhà nước về phòng, chống mại dâm và

cai nghiện phục hồi ở đề tài“Vấn đề Phòng chống TNXH trong thời kỳ đổi mới”, TS Đàm

Hữu Đắc cùng với các tác giả Nguyễn Văn Minh, Trần Việt Trung, TS Lê Thị Hà, đã hệ thống những lý luận cơ bản về tệ nạn mại dâm và ma tuý, phân tích, đánh giá thực trạng và tình hình phòng, chống tệ nạn mại dâm và nghiện ma tuý trong những năm đổi mới, dự báo tình hình cũng như đề xuất những giải pháp ngăn ngừa, phòng chống TNXH đến 2020

Đề tài nghiên cứu của Văn phòng Chính phủ (năm 2000) về “ Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống các TNXH (MT, MD) và phòng chống

Trang 4

HIV/AIDS” đã đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực phòng chống

mại dâm, ma tuý, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này

Đề tài cấp Nhà nước thuộc chương trình KX.04.14 của Tổng cụ Cảnh sát nhân dân

“Tệ nạn xã hội ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” Nxb Công an nhân dân

1994 Trong đề tài này các tác giả đã đưa ra khái niệm về TNXH, dấu hiệu đặc trưng của TNXH, đặc biệt nhấn mạnh vấn đề TNXH trong cơ chế thị trường, những căn nguyên phát sinh TNXH và các giải pháp giải quyết TNXH Nhóm các tác giải đều khẳng định TNXH

là hiện tượng xã hội có nguồn gốc sâu xa và liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội, phá vỡ hạnh phúc gia đình, làm sói mòn đạo đức xã hội, ảnh hưởng đến kinh tế, sức khoẻ, nhân cách của con người

TS Bùi Ngọc Thanh, TS Nguyễn Hữu Dũng, TS Phạm Đỗ Nhật Tân (chủ biên) Nxb

Chính trị quốc gia (1996), “Nghiên cứu cơ sở xã hội ở nông thôn Việt Nam” trong đó có

vấn đề TNXH và quan điểm cơ bản giải quyết vấn đề TNXH ở nông thôn, các tác giả đã đưa ra khái niệm về TNXH, nguyên nhân phát sinh TNXH và giải pháp phòng, chống TNXH ở nông thôn Việt Nam

Trong tài liệu “Phòng, chống sự xâm nhập của các TNXH vào gia đình”, HN, 2006

của nhóm tác giả PGS,TS Lê Ngọc Hùng, TS Ngô Thị Ngọc Anh và các cộng sự đã nêu một cách khái quát về khái niệm TNXH, các loại TNXH, ảnh hưởng của TNXH đối với gia đình và giải pháp phòng tránh các loại TNXH xâm nhập vào gia đình trong thời kỳ hiện nay

Về phòng, chống tệ nạn BBPNTE đã có một số công trình nghiên cứu như“ Quyền của Phụ nữ và trẻ em trong các văn bản pháp luật Quốc tế và pháp luật của Việt Nam” của TS Đỗ Ngọc Bình, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2003;

"Phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em” của TS Nguyễn Thị Quý, Nhà xuất bản

phụ nữ năm 2004; ngoài ra còn có một số tài liệu về phòng, chống buôn bán người của các Tổ chức Quốc tế ILO, Terre Des Hommes, IOM, UNISEP những nghiên cứu đó đều đi sâu phân tích các khái niệm về buôn bán người, nguyên nhân và thủ đoạn của tội phạm, những kinh nghiệm từ các nước trên thế giới về phòng chống buôn bán người, cũng như thực trạng tình hình của Việt Nam, từ đó đề ra những giải

Trang 5

Những tài liệu, công trình nghiên cứu trên đã trình bày khái quát được những vấn đề

cơ bản về phòng, chống TNXH, phòng chống tội phạm Đưa ra được những lý giải về nguyên nhân gia tăng TNXH, tội phạm, đề cập tới phương pháp tiếp cận của từng loại hình TNXH và tội phạm dưới góc độ chuyên ngành mà chưa có một công trình nghiên cứu nào, bài viết nào trên phương diện Kinh tế chính trị, nghiên cứu tác động của TNXH tới sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội trên phạm vi toàn quốc hay ở một địa phương cụ thể như ở

Dự báo xu hướng tác động của Tnxh đến phát triển kT-xh Thanh Hoá giai đoạn

2008-2012 và những giải pháp ngăn ngừa

4 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Trang 6

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối quan hệ tác động của TNXH tới sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội trong phạm vi một địa phương nhất định (tỉnh Thanh Hoá)

- Phương pháp nghiên cứu:

Quán triệt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu để nghiên cứu như: thống kê khái quát hoá, phân tích, tổng hợp, điều tra khảo sát điểm, phương pháp chuyên gia, phương pháp nghiên cứu tài liệu để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu

5 Giới hạn nội dung và phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu:

TNXH là một vấn đề rất rộng, có ảnh hưởng và liên quan đến tất cả mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Do đó trong luận văn chỉ tập trung nghiên cứu sự ảnh hưởng của một

số loại TNXH điển hình như; tệ nạn ma tuý, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em tới sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội để làm nội dung nghiên cứu chính

- Phạm vi nghiên cứu:

Thời gian nghiên cứu từ 2003 đến 2007

Lĩnh vực nghiên cứu tác động của TNXH là tình hình phát triển KT - XH Phạm vi địa bàn nghiên cứu là tỉnh Thanh Hoá

6 Đóng góp về mặt khoa học của luận văn

Trên phương diện Kinh tế chính trị, luận văn làm rõ những tác động của TNXH tới ổn định

và phát triển kinh tế - xã hội nói chung, và đặc biệt chú trọng những biểu hiện mới của nó trong thời kỳ mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế

Khái quát thành tựu và những vấn đề đặt ra trong lý luận và thực tiễn về những tác động của TNXH đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung và ở Thanh Hoá nói riêng trong thời gian qua, dự báo tình hình tác động này trong giai đoạn 2008 - 2015

Luận văn làm rõ quan điểm phòng, chống, định hướng và những giải pháp ngăn ngừa những tác động xấu của TNXH

7 Kết cấu của luận văn

Trang 7

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết

Trang 8

Chương 1

tệ nạn xã hội và tác động của tệ nạn xã hội

đến phát triển kinh tế - xã hội

1.1 Một số cơ sở lý luận chung về tệ nạn xã hội

1.1.1 Khái niệm về tệ nạn xã hội

Chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét xã hội trong trạng thái vận động và phát triển không ngừng, C.Mác viết “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” Tương ứng với từng nấc thang nhất định của nó là những hình thái kinh tế - xã hội, phát triển từ thấp đến cao, mặc dù có những tính đặc thù của nó, nhưng chúng có cái chung là đều gắn liền với sự phát sinh và phát triển của các quan hệ xã hội, các quan hệ sản xuất V.I Lênin viết:

…chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem những quan hệ sản xuất vào trình độ của lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế-

xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên Và dĩ nhiên là không có một quan điểm như thế thì không có một khoa học xã hội được [36, tr.64]

Quan hệ xã hội và quan hệ sản xuất luôn tác động biện chứng với nhau, thúc đẩy kinh

tế - xã hội phát triển Trong quá trình phát triển lịch sử tự nhiên đó có những nhân tố tác động tích cực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nhưng cũng có những nhân tố tác động tiêu cực có tính kìm hãm sự phát triển, một trong những nhân tố đó là TNXH

Thực chất những hành vi TNXH của con người được nhận biết chủ yếu thông qua các quan hệ

xã hội, những hành vi đó liên quan đến các giá trị chuẩn mực xã hội Vì vậy, TNXH phải được nghiên cứu xem xét một cách toàn diện theo quan điểm duy vật lịch sử và biện chứng trong trạng thái vận động và phát triển của xã hội

Khái niệm về TNXH cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất, nhưng tựu chung các tác giả đều cho rằng, TNXH được coi là những hành vi của con người gây ra vi phạm các giá trị đạo đức, làm sai lệch chuẩn mực xã hội và có tính phổ biến trong xã hội, những hành vi này gây hậu quả tiêu cực cho con người và cho xã hội

Trang 9

Dưới góc độ Xã hội học, PGS,TS Đặng Cảnh Khanh, Viện trưởng Viện nghiên cứu

Thanh niên Việt Nam quan niệm rằng các tệ nạn xã hội là hành vi sai lệch với những chuẩn mực xã hội, sai lệch với những quy tắc đạo đức truyền thống xã hội của những cá nhân hoặc những nhóm người do những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan nào đó tác động tới

Dưới phương diện khoa học pháp lý, tập thể tác giả GS,TS Nguyễn Xuân Yêm, TS Phan Đình Khánh, Nguyễn Thị Kim Liên trong cuốn “Mại dâm, ma tuý, cờ bạc thời hiện đại” đã đưa ra khái niệm “Tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã hội tiêu cực có tính lịch sử

cụ thể biểu hiện bằng những hành vi vi phạm pháp luật và sai lệch các chuẩn mực xã hội,

có tính lây lan, phổ biến gây nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong pháp luật hình

sự, pháp luật hành chính và các chuẩn mực đạo đức xã hội” PGS,TS Võ Khánh Vinh,

Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật trong báo cáo khoa học "Một số vấn đề về pháp luật đấu tranh với các tệ nạn xã hội", quan niệm “tệ nạn xã hội là những hiện tượng xã hội

nguy hiểm lớn cho xã hội, được thay đổi về mặt lịch sử và thể hiện ở sự thống nhất biện chứng các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến lợi ích của xã hội, của Nhà nước, đến tài sản, các quyền và lợi ích chính đáng của công dân”

Dưới góc độ khoa học quản lý Theo TS Đàm Hữu Đắc, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và nhóm tác giả trong chuyên đề “vấn đề tệ nạn xã hội trong thời

kỳ đổi mới” cho rằng “Tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã hội, thể hiện ra những hành vi

sai lệch chuẩn mực xã hội có tính phổ biến bao gồm các vi phạm có tính nguyên tắc về lối

sống, truyền thống văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục và những quy tắc được thể chế hoá bằng pháp luật, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho đời sống kinh tế, văn hoá, đạo đức xã

hội của nhân dân”

Dước góc độ đạo đức và giáo dục học, trong tài liệu hướng dẫn chương trình phòng chống

tệ nạn xã hội của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhóm tác giả Mai Huy Bổng, Nguyễn Văn Sơn, Lê

Trung Hiếu cho rằng “Tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã hội, nó liên quan tới các đặc điểm của xã hội, tâm lý, sinh lý, đạo đức, kinh tế, văn hoá của mỗi cá nhân và gia đình”

Ngoài ra còn có nhiều bài viết, bài báo, các hội thảo khoa học nghiên cứu về tệ nạn

xã hội ở nước ta và đưa ra nhiều quan niệm dưới nhiều góc độ khác nhau như; Viện Khoa học lao động và các Vấn đề xã hội - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trong báo cáo

khoa học "Tệ nạn xã hội và cách tiếp cận trong việc đề ra và thực hiện các chính sách xã

Trang 10

hội" cho rằng tệ nạn xã hội bao gồm tất cả những hành vi vi phạm pháp luật, kể cả pháp

luật hình sự, những hiện tượng xã hội tiêu cực, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc; gây ảnh hưởng xấu cho xã hội

Trong báo cáo khoa học "Đổi mới các chính sách xã hội nhằm khắc phục tệ nạn xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường" của TS Nguyễn Hữu Dũng, Bộ Lao động

- Thương binh và Xã hội cho rằng "Tệ nạn xã hội là những hiện tượng xã hội rất tiêu cực, đem lại những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội và gây ra tâm trạng xã hội rất nặng nề thậm chí gây mất ổn định về an ninh chính trị, an toàn xã hội” Trong báo cáo khoa học của đại tá Nguyễn Mạnh Tề, Cục cảnh sát hình sự - Bộ Công an cho rằng "Tệ nạn xã hội là những hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa phải là tội phạm, là những thói hư tật xấu trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức dân tộc do nhiều người mắc phải, gây tác hại đến đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ta Tệ nạn xã hội rất đa dạng, gồm cả văn hoá phẩm đồi truỵ, cao bồi càn quấy, đầm bóng, bói toán, mại dâm, nghiện hút, cờ bạc ”

Tóm lại, từ những quan niệm trên có thể khẳng định “Tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, được biểu hiện ra ở những hành vi làm sai lệch các giá trị chuẩn mực xã hội tiến bộ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội”

1.1.2 Những nét đặc trưng của tệ nạn xã hội

1.1.2.1 Tệ nạn xã hội mang tính lịch sử

TNXH không bất biến, nó bắt nguồn từ đời sống xã hội và có tính chất lịch sử phức tạp, trong đó có những loại hình TNXH đã tồn tại rất lâu nên không thể loại trừ nó bằng biện pháp đơn giản nào đó và trong một thời gian ngắn được TNXH có thể thay đổi cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội Lịch sử đã chứng minh rằng, các TNXH (bản chất và hình thức biểu hiện của nó) thay đổi tuỳ thuộc vào sự thay đổi của hình thái kinh tế - xã hội, tuỳ thuộc vào sự phát triển và thay đổi của cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định của một xã hội, tuỳ thuộc vào thể chế nhà nước v.v Tệ nạn xã hội không chỉ xuất hiện ở giai đoạn suy thoái của nền kinh tế - xã hội mà ngay cả trong giai đoạn phát triển

Cũng do TNXH có tính lịch sử và tính động mà trong những điều kiện lịch sử khác nhau,

ở những hoàn cảnh khác nhau, ở những thể chế xã hội khác nhau quan niệm về TNXH cũng khác nhau

Trang 11

* Từ thời cổ đại xa xưa, khi con người chưa nhận thức được đầy đủ như thế nào là TNXH, thì ngay trong cuộc sống của xã hội nguyên thuỷ đã bị quy định chặt chẽ bởi một hệ thống lễ nghi, nghi thức thờ cúng, biểu tượng, ký hiệu, biểu trưng, tác động ma thuật, thần chú, cầu khấn và các lời nguyền đều mang tính chất tín ngưỡng và thần thoại, trong đó đã chứa đựng những yếu tố của TNXH

* Trong thời kỳ thị tộc những quan niệm về tôn giáo, về những lực lượng thần thánh đã bắt đầu dần dần chi phối đời sống và hành động của con người Những cấm đoán về thần thoại đã chuyển hoá thành những cấm đoán về tôn giáo - luân lý, xuất hiện những bộ luật để trừng phạt những hành vi được coi là sai lệch, hay là những cái được coi là cái đúng, cái sai Trong xã hội này vai trò trừng phạt ngày càng tăng lên và cũng là thời kỳ chuyển hoá xã hội

từ chế độ nguyên thuỷ sang phân hoá xã hội, phân hoá giai cấp Những biến đổi cơ bản trong đời sống xã hội gắn liền với việc xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và những đối

kháng do sở hữu gây ra, đã làm thay đổi cơ bản quan niệm trước kia về cái coi là chuẩn mực xã hội, cái bình thường và không bình thường Những quan niệm mới về chuẩn mực xã hội và sự lệch chuẩn xã hội đã hình thành

* Trong chế độ phong kiến, nhà nước phong kiến đã ban hành những đạo luật hà khắc, thêm vào đó là những giáo lý tôn giáo, thần thánh, mê tín dị đoan làm thay đổi những quan niệm mới về chuẩn mực xã hội Những hủ tục lạc hậu man rợ được chế độ phong kiến coi là những hiện tượng xã hội mẫu mực như hiến tế người cho thần linh, hay cắt bỏ những bộ phận

cơ thể của con người để thể hiện ý chí, hay quy phục, hoặc dâng, hiến, cống vợ, con, người thân cho vua, chúa bề trên để làm nô lệ tình dục, chiến tranh xâm lược cướp bóc và buôn bán

nô lệ và cho rằng đây là ý nguyện tối cao của Thượng đế, của Chúa, của Vua mà bổn phận

con người phải thực hiện Một điều đáng chú ý là những quan niệm về chuẩn mực xã hội đều

được thể hiện qua hàng loạt các truyền thuyết thần thoại và giáo lý tôn giáo được cụ thể hoá bằng luật pháp và các học thuyết thời bấy giờ, và coi đó là những chuẩn mực phải thi hành

* Khi lực lượng sản xuất phát triển, đồng thời các quan hệ xã hội cũng được mở rộng và nền kinh tế thị trường ra đời đã làm xuất hiện và tiềm ẩn những yếu tố phá vỡ trật tự và quan niệm cũ về sự áp đặt, trừng phạt, sự giả dối, nghiêm cấm, bạo lực, tín ngưỡng, tôn giáo CNTB

ra đời gắn liền với chế độ tư hữu tư nhân TBCN đã sinh ra những bất công, nghèo khổ, thất

Trang 12

Chế độ sở hữu tư nhân TBCN đã đẩy đông đảo tầng lớp dân cư thành những người vô sản, những người thất nghiệp và bần cùng hoá, buộc họ phải tìm lối thoát nào đó và đẩy trật tự

xã hội rối loạn Ph.Ănghen nói:

… Ai kết tội họ, nếu như đàn ông thì đầu trộm đuôi cướp, đàn bà thì ăn cắp

và mại dâm, những cái đó thì như thế nào, nó đắng hay ngọt, điều đó đâu liên quan tới Nhà nước; Nhà nước ném những kẻ bị đói này vào các nhà tù hoặc đẩy họ đến những trại giam phạm nhân, còn khi Nhà nước thả họ ra khỏi nhà tù và trại giam, thì có thể hài lòng nhìn thấy thành quả đã đạt được; Nhà nước đã tiến hành biến những con người bị tước hết bánh mì thành những con người còn bị tước hết cả đạo đức nữa… [36, tr.55]

Quan niệm về tự do công bằng, luật pháp, chính trị, đạo đức tôn giáo và những thượng tầng kiến trúc và cả những hình thức tư tưởng ở CNTB được coi là ‘‘chân lý vĩnh cửu, trừu tượng và đứng trên giai cấp’’, quan điểm này rốt cuộc cũng chỉ là những biện minh để bảo vệ cho quyền lợi và lợi ích ích kỷ của CNTB

V.I Lênin nhấn mạnh:

Nguyên nhân xã hội sâu xa của những hành vi thái quá vi phạm quy tắc của cuộc sống chung trong xã hội, là sự bóc lột những quần chúng lâm vào cảnh thiếu thốn, cùng khổ Toàn bộ lịch sử của tư bản là một lịch sử đầy những sự tàn bạo và cướp đoạt, đầy máu và nạn mãi dâm và tội ác, đó là hiện tượng không

Trang 13

phải riêng biệt mà là hiện tượng chung tiêu biểu cho toàn bộ thế giới tư bản [36, tr.57]

Như vậy TNXH trong xã hội tư bản không còn là những hành vi có tính chất tự phát,

áp đặt và ràng buộc bởi các giáo lý, quy ước, hay thần thoại hoá như thời kỳ trước CNTB Mà nó hình thành, phát sinh, phát triển gắn liền với bản chất bóc lột của xã hội tư bản, của giai cấp tư bản, chính nó là nguồn gốc sâu xa của đói nghèo, bất công, bạo lực và

sự vô trách nhiệm v.v

* Trong suốt hơn nửa thế kỷ tồn tại, hệ thống các nước XHCN đã xây dựng nên một xã hội ổn định, trật tự và thuần khiết ở đó Nhà nước XHCN hướng tới mục đích đảm bảo công bằng cho mọi người trong cống hiến và hưởng thụ, đảm bảo an sinh xã hội v.v Hệ thống luật pháp được xây dựng để bảo vệ lợi ích chung cho toàn dân, không phân biệt tầng lớp xã hội nào Chính vì vậy các giá trị chuẩn mực xã hội được toàn xã hội hướng tới đã làm hạn chế phát sinh và gia tăng các TNXH

Điều này hoàn toàn đúng với phân tích và khẳng định của Ph.Ăngghen "nền dân chủ

tư sản không thể chữa lành những bệnh hoạn xã hội Việc này chỉ có thể làm trong những điều kiện nền dân chủ xã hội" [36, tr.65]

* Ngày nay khi khoa học kỹ thuật là lực lượng sản xuất trực tiếp, xu thế toàn cầu hoá ngày càng phổ biến trên phạm vi toàn thế giới và những khuyết tật của nền kinh tế thị trường lại đang là những nhân tố tác động làm gia tăng TNXH TNXH không chỉ còn đơn thuần là những hành vi sai lệch các giá trị chuẩn mực xã hội của một cá nhân, một nhóm người với những loại hình TNXH giản đơn như trước kia, mà nay nó phát sinh, phát triển với nhiều loại hình TNXH phong phú và đa dạng với các cấp độ ngày càng cao Không chỉ

là vấn đề riêng của từng cộng đồng dân tộc, hay từng quốc gia, hay từng nhóm người nào, trong một phạm vi nào, mà nó ngày càng lan rộng và có tính chất quốc tế Các đường dây tội phạm ma tuý, mại dâm, nạn buôn bán người không chỉ còn là vấn đề riêng ở một quốc gia nào mà đã vượt biên giới quốc gia với những mục đích, âm mưu, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt được bổ trợ những phương tiện hiện đại Đi liền với nó là những hệ luỵ gây nên những hậu quả tác động rất xấu đến kinh tế, chính trị và xã hội

Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, là một hướng đi đúng đắn trước sự đòi hỏi phát triển tất yếu của đất

Trang 14

nước trong thời kỳ quá độ, và nó đã đem lại những thành quả kinh tế quan trọng, đã và đang đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, chính kinh tế thị trường cũng tiềm ẩn rất nhiều khuyết tật xã hội như: bất công, đói nghèo, bạo lực, tội phạm

và TNXH

Các nhà Xã hội học và Luật học đã chứng minh, cơ chế thị trường dù trong trường hợp nào cũng kéo theo một người bạn đồng hành khá “thuỷ chung”, đó là những TNXH và tội phạm Theo số liệu thống kê về tình hình tội phạm và TNXH của một số nước trong những năm gần đây so với thời kỳ 1960 - 1990 thì đều có chiều hướng gia tăng Đặc biệt trong thời

kỳ đầu chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường thì tội phạm và TNXH tăng nhanh Thực tế ở Việt Nam chúng ta thấy cũng không nằm ngoài quy luật này

Tuy nhiên TNXH ở Việt Nam hiện nay chủ yếu lại có nguồn gốc từ nhận thức về lối sống của một bộ phận dân cư Chẳng hạn một phận thanh thiếu niên thích đua đòi, ăn chơi, không chịu học tập rèn luyện, lười lao động và sẵn sàng tiếp nhận những văn hoá phẩm đồi truỵ du nhập bên ngoài và cho đó là văn hoá

Như vậy muốn giảm tác động xấu của TNXH (tức là giảm TNXH) thì phải có quan điểm khách quan toàn diện và giải quyết nó cũng phải trên quan điểm lịch sử Vì TNXH thường thay đổi

và phụ thuộc vào tính chất xã hội - lịch sử, nên việc nhận thưc, đánh giá và giải quyết nó phải trên quan điểm giai cấp và lịch sử - cụ thể

1.1.2.2 Tệ nạn xã hội có tính đa dạng, phức tạp

* Từ những phân tích trên cho thấy TNXH là:

- Những hiện tượng xã hội, không bất biến mà là những hiện tượng có tính lịch sử, có nguồn gốc từ đời sống xã hội, sự phát sinh, tồn tại của chúng có thể thay đổi cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và gắn liền với những điều kiện lịch sử nhất định của xã hội

- Những thói hư, tật xấu, những hành vi sai lệch các giá trị chuẩn mực xã hội theo hướng tiêu cực, (trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức, văn hoá, lối sống, tập quán tiến bộ…) Hành

vi sai lệch đó có tính phổ biến, không phải là một vài hiện tượng đơn lẻ, cá biệt mà có xu hướng phát triển lây lan nhanh trong một nhóm xã hội nào đó hay trong nhiều nhóm xã hội khác nhau

Trang 15

- Những hành vi vi phạm pháp luật, gây ra những hiện tượng nguy hiểm cho xã hội, gây tâm trạng xã hội nặng nề TNXH phát triển trở thành sự nhức nhối, gay cấn, bệnh hoạn của xã hội, gây ra hậu quả nghiêm trọng tới mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội

- Có nhiều loại hình rất đa dạng: cờ bạc, số đề, rượu chè bê tha, tảo hôn, tham nhũng, những hành vi vi phạm quyền con người như; bạo lực trong gia đình, xâm phạm tình dục, buôn bán người và nổi cộm hơn cả là tệ nạn ma tuý, mại dâm

- Ngoài ra quan niệm và nhận thức về TNXH phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều

kiện kinh tế xã hội và tuỳ thuộc vào quan điểm tiếp cận

* Tính phức tạp và đa dạng của TNXH còn nhận thấy qua các hình thức biểu hiện hay

Có thể phân chia TNXH theo 2 nhóm sau:

+ Nhóm TNXH ngoài xã hội như ma tuý, mại dâm, bạo lực gia đình, xâm phạm tình dục trẻ em, buôn bán phụ nữ trẻ em

+ Nhóm TNXH trong thiết chế bộ máy Nhà nước, trong các tổ chức kinh tế - xã hội như: tham ô, tham nhũng, hối lộ, lạm dụng chức vụ nó biểu hiện ra các hành vi sai lệch của cá nhân hay một nhóm người trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, hay trong các thiết chế xã hội

Từ đó cho thấy, mặc dù xét về hình thức thì TNXH là một vấn đề xã hội, nó thuộc về quan hệ xã hội, nhưng nếu truy nguyên nguồn gốc phát sinh, quá trình hình thành thì TNXH lại là vấn đề mang bản chất kinh tế - xã hội Nó có nguồn gốc sâu xa từ trình độ phát triển của sản xuất, từ những quan hệ sản xuất bản chất, thống trị, từ những thể chế kinh tế và chính trị

- Về phương diện đặc trưng bản chất, TNXH có điểm nổi bật là lây lan nhanh, gây

hậu quả cho xã hội ngày càng trầm trọng TNXH ở Việt nam rất “phong phú và đa dạng”,

ngoài các loại tệ nạn có tính chất truyền thống như nghiện rượu, cờ bạc, đồng bóng, bói toán, tảo hôn…còn có các loại tệ nạn mới phát sinh nhưng phát triển nhanh và rất nguy

Trang 16

1.1.3 Xu hướng biến đổi của tệ nạn xã hội

TNXH phát sinh từ đời sống xã hội, tồn tại và phát triển có tính lịch sử và không bất biến, nó luôn biến đổi tăng, giảm cả về quy mô và tính chất phức tạp Sự biến đổi đó phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ cũng như chế độ chính trị xã hội của từng quốc gia khác nhau

1.1.3.1 Các nhân tố tác động làm gia tăng tệ nạn xã hội

- Phân hoá giàu nghèo

Khoảng cách giàu nghèo càng dãn rộng, tức là tình trạng phân hoá giầu - nghèo, phân tầng xã hội ngày càng sâu sắc, dẫn đến sự mất cân bằng thu nhập, và mức sống trong dân

cư Một bộ phận những người giầu có sẽ phát sinh những nhu cầu mới, đặc biệt là sự hưởng thụ trong đó không loại trừ những nhu cầu hưởng thụ giải trí không lành mạnh và không có giới hạn đã làm xuất hiện những lệch chuẩn trong vấn đề hưởng thụ Quan niệm sống gấp, sống để tận hưởng Mặt khác kết quả của sự phân tầng xã hội cũng tạo ra một lớp người gặp khó khăn trong cuộc sống; thất nghiệp, việc làm không phù hợp, thu nhập thấp Đứng trước sự biến động xã hội, họ hoang mang bi quan, mất phương hướng và bị lôi cuốn vào vòng xoáy các hoạt động buôn bán và tiêm chích ma tuý, mại dâm ở họ thường xuất hiện tư tưởng bất cần đời, dễ bị lợi dụng, dễ bị sa ngã, đã tạo môi trường thuận lợi cho các TNXH phát triển

- Xu thế toàn cầu hoá, mở cửa và hội nhập

Toàn cầu hoá tạo ra sự liên kết thúc đẩy phát triển các nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực cũng như toàn thế giới, đồng thời là môi trường cạnh tranh quyết liệt của các thành phần kinh tế và ở đó các nước có cơ hội tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật cũng như trình độ quản lý nhà nước, quản lý xã hội Song môi trường này cũng tạo ra

Trang 17

những điều kiện thuận lợi để TNXH xâm nhập, lan toả mang tính quốc tế đặc biệt là các nước kém phát triển và đang phát triển đang phải gánh chịu những áp lực về TNXH từ ngoài xâm nhập vào và phát sinh mới ở từng quốc gia

Điều này có thể nhìn thấy rất rõ ở nước ta trong thời gian vừa qua

Từ khi chúng ta thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập, nền kinh tế - xã hội có nhiều khởi sắc, tạo nhiều cơ hội trong phát triển Nhưng chúng ta cũng phải đối đầu với nhiều cản trở và thách thức trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là vấn đề mại dâm và ma tuý Các đường dây hoạt động buôn bán ma tuý, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em không còn

bó hẹp ở trong nước mà mở rộng sang các nước trong khu vực và trên thế giới Hoạt động

ma tuý, mại dâm, BBPNTE có tổ chức với các phương tiện kỹ thuật hiện đại và công nghệ ngày càng cao Bên cạnh đó, các sản phẩm phi văn hoá du nhập vào nước ta cũng đang làm tha hoá một bộ phận thanh thiếu niên Lối sống ngoại lai, tiêu cực đã thẩm thấu bằng nhiều con đường khác nhau, ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm của những thanh thiếu niên mới lớn, gây tâm lý tò mò, muốn bắt chước, học đòi và thử nghiệm những điều mới lạ một cách thiếu chọn lọc và phê phán Trong khi đó, khả năng lĩnh hội những thành tựu văn hoá còn hạn chế,

đã dễ dàng đẩy họ vào các hoạt động ma tuý, mại dâm một cách tự nguyện hoặc bị ép buộc

- Dân số và tỷ lệ gia tăng dân số cao

“Bùng nổ dân số” gây áp lực việc làm ngày càng gia tăng, tỷ lệ dân số hàng năm bước vào tuổi lao động cao sẽ dẫn đến tình trạng có một bộ phận dân cư trong độ tuổi lao động có nguy cơ thất nghiệp, thiếu việc làm Bên cạnh đó diện tích đất có khả năng canh tác bình quân trên đầu người được sử dụng vốn đã thấp thì lại càng thấp hơn khi có sự

"bùng nổ" về dân số (nhất là đối với người lao động trẻ ở khu vực nông thôn và những vùng do bị ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá) Một bộ phận lớn không có tay nghề, không

đủ trình độ hoặc không có khả năng đáp ứng được công việc trong thị trường lao động hiện nay, thiếu chỗ đứng ổn định trong xã hội, từ đó gây nên gánh nặng cho xã hội và gia đình Hoàn cảnh đó dẫn đến nguy cơ đẩy họ đến với tệ nạn xã hội

- Sự sa sút về văn hoá, giáo dục gia đình và nhân cách đạo đức

Mọi quốc gia, mọi dân tộc trên thế giới đều có truyền thống văn hoá mang đậm bản sắc riêng Điều đó được thể hiện đậm nét ở những nhân cách đạo đức của mỗi cá nhân và

Trang 18

truyền thống giáo dục gia đình Đây là yếu tố quan trọng để mỗi con người hướng tới

“chân, thiện, mỹ” và hướng tới những giá trị chuẩn xã hội tiến bộ Những yếu tố này không được phát huy thì nó sẽ tác động đến sự gia tăng của TNXH

Nền kinh tế thị trường đang tác động làm chuyển hoá các chuẩn mực giá trị truyền thống văn hoá trong đời sống gia đình, dòng họ, ngày nay cuộc sống hiện đại hơn, những mẫu hình gia đình truyền thống có xu hướng chuyển sang gia đình hạt nhân - mọi người đều có quyền độc lập cả về tinh thần và vật chất Mặt trái của sự chuyển hoá này đang tác động xấu đến tình cảm và mối quan hệ trong gia đình, sự quan tâm lẫn nhau trong gia đình

có xu hướng giảm dần, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình không còn chặt chẽ như trước đây; tình trạng ly hôn, ly thân giữa các cặp vợ chồng gia tăng, thiếu sự chăm sóc lẫn nhau Đặc biệt là trong những gia đình có người nghiện hút, có người chơi cờ bạc, có người liên qua đến mại dâm và có tiền án, tiền sự Đây là những nguyên nhân dẫn đến con cái họ và bản thân họ dễ vi phạm các TNXH

Các giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hoá cộng đồng (văn hoá làng xã) ngày một mai một, không được duy trì và phát huy cũng là cơ hội cho tệ nạn xã hội phát sinh và gia tăng nhanh chóng Thực tế cho thấy ở những địa phương nào mà người dân được sống trong bầu không khí đoàn kết, mọi người đều thương yêu giúp đỡ nhau, sẵn sàng chia sẻ cảm thông, người dân cảm thấy hạnh phúc và bình yên, họ có khả năng giải quyết được các vấn đề phát sinh ở cộng đồng thì

ở đó an ninh được đảm bảo, TNXH được đẩy lùi và môi trường sống trong sạch lành mạnh

Sự xuống cấp về đạo đức, định hướng giá trị cá nhân lệch lạc dẫn đến tình trạng một bộ phận dân cư tha hoá về nhân cách nên có những hành vi lệch chuẩn, không được cộng đồng và

xã hội chấp nhận Họ thích hưởng thụ "làm ít hưởng nhiều", lối sống xô bồ truỵ lạc và với quan niệm "có tiền là có tất cả" nên họ đã kiếm tiền bằng đủ mọi cách, thậm chí ngay cả trên thân xác của bản thân họ và của người khác hoặc vi phạm pháp luật

Ngoài ra, ở một quốc gia mà trình độ quản lý xã hội thiếu chặt chẽ, hệ thống pháp luật và hiệu lực thực thi pháp luật kém hiệu quả, xã hội mất ổn định v.v cũng là môi trường thuận lợi

để TNXH dễ xâm nhập và gia tăng, nhất là tệ nạn tham nhũng, ma tuý, mại dâm

1.1.3.2 Các nhân tố tác động làm giảm tệ nạn xã hội

- Tăng trưởng và phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội

Trang 19

Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội có nghĩa là, kinh tế phát triển, xã hội ổn định, đời sống của người dân nhờ đó được cải thiện, mọi người đều có cơ hội phát triển và tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội, đói nghèo giảm, rút ngắn khoảng cách phân tầng xã hội, mọi người đều được nâng cao trình độ, nâng cao nhận thức và có cuộc sống tương đối đầy đủ cả về vật chất và tinh thần Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, cũng có nghĩa là giải quyết tốt vấn đề việc làm, giảm thất nghiệp, đồng thời đồng nghĩa với việc tăng thu nhập, tăng nhanh phát triển kinh tế hộ gia đình Đây là những yếu tố quan trọng làm giảm tệ nạn xã hội bởi vì một trong những nguyên nhân sâu xa làm gia tăng TNXH

là vì lý do kinh tế

- Trình độ dân trí và giá trị văn hoá

Trình độ dân trí được nâng cao không những đáp ứng ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà còn tạo ra một xã hội mà ở đó mọi người đều nhận thức, hiểu và tự giác chấp hành pháp luật, hạn chế được tình trạng do không hiểu biết mà vi phạm TNXH, hoặc có ý thức tự bảo vệ và tránh xa TNXH

Giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp trong gia đình, dòng họ, trong cộng đồng từ đó mọi người thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, hạn chế được sự sa ngã, tránh được các tác động của lối sống xô bồ, truỵ lạc phi văn hoá, xây dựng được một xã hội mang đậm bản sắc của dân tộc, mọi người sống, làm việc theo Pháp luật và hướng theo chuẩn mực xã hội tiến bộ, cơ cấu xã hội và gia đình chặt chẽ thì tệ nạn xã hội sẽ có chiều hướng giảm

- Các căn bệnh xã hội nguy hiểm và đại dịch HIV/AIDS

Do tính chất nguy hại của các căn bệnh xã hội nguy hiểm và đại dịch HIV/AIDS ở Việt Nam, trong những năm qua, phần lớn những người bị HIV/AIDS đều tập trung ở các đối tượng nghiện ma tuý và gái mại dâm Thông qua hệ thống thông tin tuyên truyền và được chứng kiến trong thực tế cuộc sống, mọi người đã hiểu và nhận biết được các tác hại và hậu quả của đại dịch này Chính điều đó đã và đang có tác động lớn đến tâm lý và nhận thức của người dân Và như vậy người dân sẽ dần dần tránh xa ma tuý, mại dâm

- Chế độ chính trị xã hội ổn định

Sự biến đổi của TNXH còn phụ thuộc vào quan niệm cũng như chế độ xã hội Một chế độ

xã hội có trật tự xã hội càng cao, có một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và bền vững, có một chế

Trang 20

độ chính trị xã hội ổn định, có hệ thống luật pháp đầy đủ và thực thi nghiêm minh, trình độ dân trí văn minh và ý thức tự giác người dân được nâng cao, thì những hành vi vi phạm TNXH sẽ giảm

1.1.4 Một số tác động tiêu cực của tệ nạn xã hội đến phát triển kinh tế - xã hội

1.1.4.1 Khái quát về phát triển kinh tế - xã hội

- Phát triển kinh tế:

Phát triển kinh tế hiểu theo nghĩa khái quát nhất đó là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế Là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống

Như vậy, để phát triển kinh tế thì vấn đề trước hết là phải có sự tăng trưởng kinh tế Vậy tăng trưởng kinh tế là gì? Nó có vai trò như thế nào? Và nó bị chi phối bởi những nhân tố nào? Và sau tăng trưởng kinh tế là vấn đề hoàn thiện cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế

+ Thứ nhất, tăng tưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế thường được hiểu là sự tăng lên về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc Quy mô và tốc độ tăng trưởng là “cặp đôi” trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế Hiện nay, trên thế giới người ta thường tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải xã hội bằng các đại lượng tổng sản phẩm quốc dân hoặc tổng sản phẩm quốc nội

Tăng trưởng kinh tế là mức gia tăng GDP hay GNP năm sau so với năm trước Nếu gọi GDP0 là tổng sản phẩm quốc nội năm trước, GDP1 tổng sản phẩm quốc nội năm sau thì mức tăng trưởng kinh tế năm sau so với năm trước là:

Trang 21

sở để thực hiện hàng loạt các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội

Trước hết tăng trưởng kinh tế nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lên khắc phục sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng

Tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện như: kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hoá phát triển

Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động Vì vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm Mối quan hệ giữa tăng trưởng thực tế và tỷ lệ thất nghiệp ở nước phát triển đã được lượng hoá dưới tên gọi quy luật Okun (hay quy luật 2,5% - 1) Quy luật này xác định, nếu GNP thực tế tăng 2,5% trong vòng một năm so với GNP tiềm năng của năm đó thì tỷ lệ thất nghiệp giảm đi 1%

Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề vật chất để củng cố an ninh quốc phòng, củng cố chế độ chính trị, tăng uy tín và vai trò quản lý của nhà nước đối với xã hội

Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế có nhiều quan điểm và cách phân loại khác nhau Các nhà kinh tế cổ điển cho rằng các yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh

tế là đất đai, lao động, tư bản và cách thức kết hợp các yếu tố với nhau Theo quan điểm hiện đại, muốn có tăng trưởng kinh tế cao phải sử dụng có hiệu quả các yếu tố cơ bản như vốn, con người, khoa học công nghệ

Vốn, là toàn bộ tài sản được sử dụng để sản xuất kinh doanh Vốn tồn tại dưới hai hình thức: vốn tài chính và vốn hiện vật Vốn tài chính là vốn tồn tại dưới hình thức tiền tệ hay các loại chứng khoán, còn vốn hiện vật tồn tại dưới hình thức vật chất của quá trình sản xuất như nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu Một nền kinh tế tăng trưởng cao không chỉ dừng lại ở việc tăng khối lượng vốn đầu tư, mà còn phải đặc biệt chú ý đến hiệu quả sử dụng, quản lý, đầu tư vốn hợp lý vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế

Trang 22

Về con người, có thể nói đó là nguồn lực của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên Vì vậy, con người có sức khoẻ, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình, được

tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững

Đầu tư cho con người về thực chất là đầu tư cho sự phát triển Nhà nước cần phải có chiến lược phát triển con người, mà trước hết phải nâng cao về số lượng và chất lượng hệ thống giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, bồi dưỡng nhân tài cùng với việc quản lý và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực

Nhân tố con người là sự biểu hiện và khẳng định vai trò của con người trên cả hai phương diện: tính cá thể và tính xã hội (cộng đồng) Vì vậy, Nhà nước cần phải có cơ chế, chính sách thích hợp nhằm kết hợp sự nỗ lực của mỗi người với sự hỗ trợ của cộng đồng xã hội để tạo ra động lực, lợi thế cho sự tăng trưởng kinh tế

Khoa học và công nghệ, là nguồn lực quan trọng để tăng trưởng và phát triển kinh tế Khoa học và công nghệ được coi là “ chiếc đũa thần mầu nhiệm” để tăng năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất Nhờ ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ đã làm cho chi phí về lao động, vốn tài nguyên trên một đơn vị sản phẩm giảm xuống, hay nói cách khác, hiệu quả sử dụng của các yếu tố này tăng lên

Sự phát triển khoa học và công nghệ cho phép tăng trưởng và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu, làm xuất hiện những ngành kinh tế có hàm lượng khoa học cao như: công nghệ điện

tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học đang là cơ hội và thách thức đối với các quốc gia hướng tới nền kinh tế tri thức Như vậy, khoa học và công nghệ cũng là một yếu tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tăng trưởng nhanh và bền vững

Mọi nền kinh tế đều tồn tại và vận động trong một cơ cấu nhất định Cơ cấu kinh tế là mối quan hệ hữu cơ, phụ thuộc và quy định lẫn nhau cả về quy mô và trình độ giữa các ngành, các thành phần, các vùng, các lĩnh vực của nền kinh tế Vì vậy, việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại để phát huy mọi tiềm năng, nội lực, lợi thế so sánh của toàn bộ nền kinh tế, phù hợp với sự phát triển của khoa học và công nghệ tiên tiến gắn với phân công lao động và hợp tác quốc tế là yếu tố tạo tiền đề, cơ sở cho sự tăng trưởng và sự phát triển kinh tế

Thể chế chính trị, vai trò của Nhà nước trong việc ổn định về chính trị - xã hội là điều kiện cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh và bền vững

Trang 23

Thể chế chính trị tiến bộ có khả năng định hướng sự tăng trưởng kinh tế vào những mục tiêu mong muốn, khắc phục được những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường, phân hoá giàu nghèo sâu sắc Bởi vì, trên thực tế đã từng có sự tăng trưởng kinh tế không phát triển cùng chiều với tiến bộ xã hội

Hệ thống chính trị mà đại diện là Nhà nước có vai trò hoạch định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cùng hệ thống chính sách đúng đắn sẽ hạn chế được tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, khuyến khích tích luỹ, tiết kiệm, kích cầu làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh đúng hướng

+ Thứ hai, vấn đề hoàn thiện cơ cấu kinh tế và thể chế kinh tế

Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ thể hiện ở tỷ trọng các vùng, miền, ngành, thành phần kinh tế thay đổi Trong đó tỷ trọng của vùng nông thôn giảm tương đối so với tỷ trọng vùng thành thị, tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp tăng, đặc biệt là ngành dịch vụ Nội dung này phản ánh chất lượng tăng trưởng, trình độ kỹ thuật của nền sản xuất để có thể đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững

Cuộc sống của đại bộ phận dân số trong xã hội sẽ có cuộc sống tươi đẹp hơn: giáo dục, y tế, tinh thần của người dân được chăm lo nhiều hơn, môi trường được đảm bảo Nội dung này phản ánh mặt công bằng xã hội của sự tăng trưởng kinh tế

Phát triển kinh tế là một quá trình tiến hoá theo thời gian và do những nhân tố nội tại (bên trong) quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó

Với những nội dung trên, phát triển kinh tế bao hàm các yêu cầu cụ thể là:

Mức tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số

Sự tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến bộ để đảm bảo tăng trưởng bền vững

Chất lượng sản phẩm ngày càng cao, phù hợp với sự biến đổi nhu cầu của con người

và xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái

Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội, tạo điều kiện cho mọi người có

cơ hội ngang nhau trong đóng góp và hưởng thụ kết quả của tăng trưởng kinh tế Phát triển kinh tế bao hàm trong nó mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng

xã hội Tăng trưởng và phát triển kinh tế là điều kiện tiên quyết và cơ bản để giải quyết công bằng xã hội, công bằng xã hội là mục tiêu phấn đấu của nhân loại, vừa là động lực

Trang 24

quan trọng của sự phát triển Mức độ công bằng xã hội càng cao thì trình độ phát triển, trình độ văn minh của xã hội càng có cơ sở bền vững

+ Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế

Những yếu tố thuộc về lực lượng sản xuất (bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động) Trong đó, cùng với việc bảo tồn và sử dụng hợp lý điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, cần phải nhấn mạnh vai trò của con người, khoa học và công nghệ

Vai trò của quan hệ sản xuất đối với phát triển kinh tế thể hiện khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại, khi nó không phù hợp sẽ là nhân tố cản trở, kìm hãm

sự phát triển đó

Những yếu tố thuộc về kiến trúc thượng tầng bao gồm những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cùng với những thiết chế xã hội tương ứng của chúng như nhà nước, đảng phái, các đoàn thể xã hội có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế Những bộ phận đó tác động đến các quan hệ kinh tế và sự phát triển xã hội bằng nhiều hình thức khác nhau và theo những cơ chế khác nhau Tác dụng của kiến trúc thượng tầng sẽ là tích cực khi nó tác động cùng chiều với sự vận động của quy luật kinh tế khách quan Trái lại, nếu tác động ngược chiều với những quy luật đó thì

nó sẽ là trở lực, gây tác hại cho sự phát triển sản xuất, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội Trong sự tác động đó, chính trị có ảnh hưởng sâu sắc nhất và ngày càng tăng đối với sự phát triển kinh tế Bởi vì, chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế

- Phát triển kinh tế - xã hội

Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá, y tế, giáo dục…

Những nguồn lực chính để phát triển kinh tế - xã hội

+ Vị trí địa lý

+ Nguồn tài nguyên thiên nhiên

+ Dân cư và nguồn lao động

+ Cơ sở vật chất kỹ thuật

+ Đường lối phát triển kinh tế xã hội

Trang 25

+ Vấn đề phát triển cây công nghiệp

+ Giao thông vận tải và thông tin liên lạc

+ Vấn đề phát triển kinh tế đối ngoại

+ Thực trạng nền kinh tế…

Những điều kiện để đảm bảo tăng trưởng kinh tế

+ Sự ổn đinh chính trị - xã hội

+ Tăng trưởng kinh tế phải trở thành mục tiêu phấn đấu của mọi người

+ Trình độ văn hoá của nhân dân và chất lượng đội ngũ lao động

+ Đầu tư phát triển khoa học – công nghệ và có khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến trên thế giới

Từ những khái quát về tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội, cho ta thấy các yếu tố chịu sự tác động nhiều nhất của TNXH đó là con người, nguồn lực con người, vốn, văn hoá giáo dục, y tế và thể chế chính trị xã hội

1.1.4.2 Một số tác động chủ yếu của tệ nạn xã hội đến phát triển kinh tế - xã hội

TNXH đang tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội, TNXH là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn

xã hội và an ninh quốc gia Từ những hậu quả đó kéo theo hệ luỵ là làm gia tăng đói nghèo, phân tầng xã hội, mất cân đối các nguồn lực, làm biến động ổn định trật tự xã hội, chi phí xã hội tăng do phải giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp do TNXH gây ra, đặc biệt chi phí

để giải quyết chính các vấn đề của TNXH trong đó có cả cho con người và cho xã hội Mọi tác động đó đều hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp tác động cản trở và thách thức đến phát triển kinh tế

- xã hội không chỉ của một địa phương mà còn của cả nền kinh tế - xã hội

- Tác động của TNXH đến kinh tế

+ Tác động xấu đến nguồn lực lao động và con người

Trang 26

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO); "Nguồn lực lao động là bộ phận dân số trong

độ tuổi lao động có khả năng lao động được pháp luật quy định, thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp"

Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lực lao động đó là số lượng và chất lượng nguồn lực lao động

Số lượng nguồn lực lao động ảnh hưởng bởi các nhân tố; tốc độ tăng dân số và tháp tuổi, quy định về độ tuổi lao động; các điều kiện và thu nhập, điều kiện sống, tập quán

Chất lượng nguồn lực lao động là khả năng lao động của người lao động Chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng bởi các nhóm nhân tố; di truyền, chất lượng cuộc sống của phụ nữ, chăm sóc y tế, mức sống vật chất và cơ cấu dinh dưỡng, các điều kiện về môi trường sống, nhà ở, môi trường lao động, thể dục thể thao ; Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến trình độ học vấn phổ thông trình độ nghề nghiệp của người lao động như, giáo dục đào tạo,

cơ chế chính sách, cơ chế quản lý kinh tế - xã hội ; nhóm nhân tố về tập quán, truyền thống, văn hoá và nhóm nhu cầu đầu ra việc làm của xã hội

Như vậy cho thấy TNXH tác động tiêu cực trực tiếp đến số lượng và chất lượng nguồn lực lao động của nền kinh tế Tác động này rất rõ thông qua các chỉ số phát triển của con người (HDI, Human Development Index)

Tệ nạn nghiện ma tuý, mại dâm và một số các loại tệ nạn xã hội khác gây ra cho con người mắc các căn bệnh hiểm nghèo rất khó khăn trong việc chữa trị như bệnh tâm thần kinh, các bệnh nội ngoại khoa, đặc biệt là HIV/AIDS, đồng thời là nguồn bệnh làm nguy

cơ lây lan nhanh trong cộng đồng, làm suy giảm sức khoẻ Thực tế cho thấy đại đa số những người sử dụng ma tuý, đặc biệt là phụ nữ là những người bán dâm để lấy tiền mua

ma tuý có tỷ lệ lây nhiễm HIV rất cao

Do tính chất đặc trưng của những người mắc các tệ nạn xã hội đặc biệt là nghiện ma tuý, mại dâm là những người suy giảm sức khoẻ, tuổi thọ bình quân thấp, trình độ học vấn thấp, đại đa số không còn khả năng lao động, đặc biệt là không đáp ứng được yêu cầu chuyên môn kỹ thuật để làm việc trong điều kiện hiện nay, do đó làm tăng đói nghèo và phân tầng xã hội, và như vậy sẽ không đảm bảo được các yếu tố cho phát triển bình thường của con người Nếu TNXH tăng có nghĩa là số người (tham gia vào đội quân) tệ nạn xã hội ngày

Trang 27

càng nhiều đến một mức độ nào đó thì nó sẽ làm giảm chất lượng và số lượng nguồn nhân lực, không đáp ứng được yêu cầu nguồn lực lao động cho hiện tại và tương lai

+ Tác động đến vốn đầu tư

Nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm: nguồn vốn tiết kiệm từ ngân sách Nhà nước

và nguồn vốn tiết kiệm của dân cư (hộ gia đình) và tiết kiệm của doanh nghiệp

Những người mắc các tệ nạn xã hội như nghiện ma tuý, mại dâm ăn chơi sa đoạ, tiêu sài phung phí tiền của, hoặc những cuộc ăn chơi thác loạn do tham nhũng, lãng phí mà có đang tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội Thêm vào đó hàng năm Nhà nước phải chi từ ngân sách hàng ngàn tỷ đồng để chi cho công tác phòng, chống các TNXH hội trong đó đặc biệt là phòng chống ma tuý và cai nghiện phục hồi Những chi phí

"đầu tư" này chiếm một tỷ trọng tương đối lớn mà hoàn toàn không mang lại hiệu quả gì cho việc đầu tư phát triển kinh tế cả

Những người mắc các tệ nạn xã hội như nghiện ma tuý, mại dâm đều ở trong tuổi lao động không những không tham gia lao động sản xuất ra của cải vật chất cho bản thân

và cho xã hội, không có thu nhập nhưng lại phả chi tiêu cho việc mua ma tuý cũng như chăm sóc sức khoẻ quá lớn nên đã kéo theo kinh tế gia đình suy sụp, thiếu đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình

Như vậy, vốn đầu tư của Nhà nước cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội giảm, vốn đầu tư phát triển kinh tế khu vực tư nhân cũng giảm

- Tác động xấu đến chính trị và ổn định trật tự xã hội

TNXH là nguồn gốc phát sinh ra tội phạm, tội phạm gắn liền với TNXH Tệ nạn nghiện

ma tuý, mại dâm thường kéo theo lừa đảo, trộm cắp, cướp giật, thậm chí giết người Tệ nạn

ma tuý, mại dâm cũng như các TNXH khác thường tạo ra những đường dây, những tổ chức xã hội đen cấu kết để thực hiện những hành vi phạm tội Vì vậy TNXH gây mất an ninh trật tự,

an toàn xã hội, gây nên những tâm lý bất bình ổn và bức xúc trong nhân dân

TNXH, tội phạm sẽ làm lũng đoạn tài chính và chi phối mua chuộc một bộ phận

cá nhân thoái hoá biến chất trong hệ thống chính trị, gây rối loạn hoạt động của cơ quan Nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động kém hiệu lực gây mất uy tín, mất lòng tin trong nhân dân

Trang 28

Hơn nữa khi mà tham nhũng, lãng phí, hay tội phạm ma tuý kết hợp tham nhũng tạo thành những băng nhóm, đảng phái, không những trong nước mà còn xuyên quốc gia nếu không kiểm soát được sẽ gây rối loạn trật tự xã hội, đến mức độ nào đó sẽ trở thành nguy cơ thách thức đến chế độ chính trị Điều này xuất phát từ thực tế tội phạm

và tệ nạn xã hội không chỉ riêng có ở một quốc gia dân tộc nào, mà có tính chất liên quốc gia, tính toàn cầu, đặc biệt là trong bối cảnh áp lực của toàn cầu hoá hiện nay

- Tác động của TNXH đến văn hoá

TNXH phát triển sẽ làm băng hoại đến thuần phong mỹ tục, sói mòn đạo đức và truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, phá vỡ hạnh phúc gia đình Khi con người sa vào tệ nạn xã hội thì các giá trị chuẩn mực đạo đức bị sai lệch thậm chí không còn, các thiết chế văn hoá tốt đẹp của con người, của gia đình, dòng họ, của cộng đồng dần bị phai mờ thay vào đó là những lối sống ích kỷ, thực dụng, hưởng thụ, những hành vi mất nhân tính, chà đạp lên danh dự nhân phẩm của con người, làm hoen ố đến bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc Những người mắc các TNXH thường đại đa số là học vấn thấp và không có khả năng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ và lười lao động, đời sống văn hoá tinh thần không được nâng cao

1.2 Tác động của các loại hình tệ nạn xã hội chủ yếu

1.2.1 Phân loại tệ nạn xã hội

Việc phân loại TNXH phụ thuộc vào quan điểm về tôn giáo, đạo đức, phong tục tập quán của mỗi dân tộc, phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế xã hội, thể chế chính trị cụ thể của mối quốc gia trong từng giai đoạn nhất định Hay phụ thuộc vào quan điểm nhìn nhận, đánh giá ở các góc độ về Luật học, Xã hội học, Đạo đức học

Trên phương diện kinh tế chính trị nghiên cứu tác động của TNXH đến phát triển KT-XH thì có thể chia thành 2 nhóm sau:

TNXH điển hình: Bao gồm các loại hình tệ nạn mang tính phổ biến, lan nhanh trong xã

hội và có tác động xấu đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội như; ma tuý, mại dâm, tham nhũng, bôn bán người và xâm phạm tình dục trẻ em các loại hình tệ nạn này thường gắn với tội phạm

TNXH khác: Bao gồm các loại hình tệ nạn chỉ xảy ra trong phạm vi hẹp thường là

những hủ tục, phong tục, tập tục lạc hậu, mê tín, thần thánh, những thói hư tật xấu ở từng

Trang 29

Nhóm TNXH trong thiết chế bộ máy nhà nước, trong các tổ chức kinh tế xã hội, gồm:

tham ô, hối lộ, tham những, lạm dụng chức vụ quyền hạn gây thiệt hại đến kinh tế, rối loại chính trị, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước

Nhóm TNXH ngoài xã hội, gồm: ma tuý, mại dâm, cờ bạc, bạo lực, buôn bán người, xâm

phạm tình dục trẻ em, các hủ tục, tập tục lạc hậu, thói hư tật xấu, mê tín dị đoan các tệ nạn này thường gắn liền với tội phạm và tác động xấu nhiều chiều đến mọi mặt của đời sống xã hội

1.2.2 Tác động của một số loại tệ nạn xã hội điển hình

1.2.2.1 Tác động của tệ nạn ma tuý

Quan niệm về ma tuý rất phong phú do cách nhìn nhận khác nhau Theo gốc Hán - Việt thì ma tuý là "làm mê mẩn" Chất ma tuý ban đầu dùng để chỉ các chất có tác dụng gây ngủ, ngày nay dùng để chỉ các chất tự nhiên và tổng hợp có khả năng gây nên bệnh nghiện

Theo các chuyên gia và các tổ chức quốc tế, ma tuý là chất có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo, khi xâm nhập vào cơ thể con người sẽ có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức

và trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng, gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng, do vậy việc vận chuyển, mua bán, sử dụng chúng phải được quy định chặt chẽ trong các văn bản pháp luật và chịu sự kiểm soát của các cơ quan bảo vệ pháp luật

Nghiện ma tuý có thể hiểu là quá trình sử dụng thường xuyên một hay nhiều chất ma tuý gây ra tình trạng nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính ở người nghiện, làm cho họ bị lệ thuộc về thể chất và tinh thần vào các chất đó

Cơ chế tác động của ma tuý bao gồm cả "lực đẩy" và "lực kéo" "Lực đẩy" là những yếu tố bên ngoài như môi trường sống có nhiều ma tuý, hoàn cảnh điều kiện sống ; "Lực kéo" là do

ma tuý có tác dụng kích thích làm cho người lạm dụng ma tuý có tâm lý hưng phấn, cảm giác khoái lạc, giảm đau tạo ra như một sức hút, ma lực làm cho con người khi lạm dụng nó sẽ

Trang 30

vi

Ma tuý là chất kích thích dễ gây nghiện, khi dùng ma tuý tạo cảm giác cho con người có trạng thái lâng lâng khoái lạc, khi dùng nhiều lần làm cho con người chịu sự

lệ thuộc vào nó nghĩa là liên tục tăng số lượng chất ma tuý dùng mới thoả mãn yêu cầu

cơ thể Vì vậy, nếu ngừng lại hay chậm sử dụng hoặc sử dụng với lượng ít đi sẽ gây ra hội chứng lâm sàng rất khó chịu gọi là hội chứng thiếu thuốc (hay gọi là hội chứng cai) như: Ngáp thèm chất ma tuý, toát mồ hôi, nổi da gà, mất ngủ, co cứng cơ bụng, chảy nước mắt, dị cảm (cảm giác như dòi bò trong xương, đau cơ khớp) giãn lồng tử, , sức khoẻ và tinh thần bị ảnh hưởng, vì vậy luôn luôn thúc ép người nghiện phải có ma tuý

để dùng ngay, liều lượng ngày càng tăng, nếu không có sẽ có những rối loạn ở thần kinh trung ương gọi là bị thuốc hành có thể dẫn đến những hành vi bạo lực Hoặc vì lạm dụng hay do nhu cầu tăng số lượng chất ma tuý đã dẫn đến ngộ độc cấp và kèm theo nhiều biến chứng nặng và dẫn đến tử vong ở người nghiện ma tuý

Nghiện ma tuý lan toả nhanh và rộng trong cộng đồng và xã hội Do ma tuý đem lại cảm giác hưng phấn, khoái cảm, giảm đau, đặc biệt khi con người gặp phải những hoàn cảnh éo le, buồn chán, uẩn khúc nội tâm, hoặc kể cả những sự tò mò, hiếu kỳ, tìm cảm giác lạ thì thường người ta tìm đến ma tuý để giải quyết Hay nói cách khác là ma tuý có ma lực đã lan toả nhanh và rộng tập trung ở lứa tuổi thanh thiếu niên

Tác động của ma tuý làm cho người nghiện không có điều kiện phát triển nhân cách bình thường (nhận thức kém, thiếu niềm tin, ý chí, nghị lực, năng lực hạn chế, hành vi lệch chuẩn…), sức khoẻ suy sụp nhanh dẫn đến không còn khả năng lao động, không có việc làm, hoặc việc làm có thu nhập thấp, thu nhập không ổn định Ma tuý tác động đến tâm thế của người nghiện ma tuý làm cho tâm tư, tình cảm của họ không bình thường, không ổn định, có lúc mang đậm nét buồn nản, bi quan, có khi hung hãn, bất cần, coi thường mọi

Trang 31

chuyện, bất mãn, tiêu cực, vi phạm pháp luật Làm phát sinh các loại tệ nạn khác Bởi vì tâm thế là một thuộc tính tâm lý xuất hiện trên cơ sở những trải nghiệm vui buồn, thành bại trong đời, có sức mạnh chi phối chiều hướng và kết quả hành động hiện tại của mỗi người, khi bị phụ thuộc vào người khác, dễ bị lợi dụng hay bị bóc lột, khi gặp môi trường bất lợi, thiếu ý thức sáng suốt họ sẽ có những hành vi tiêu cực và như vậy càng tạo ra các

hố ngăn cách, khó có khả năng vượt lên cảnh ngộ của mình trong các cơ hội hoà nhập xã hội Như vậy, tệ nạn ma tuý đã làm cho đối tượng nghiện ma tuý hạn chế về nhiều mặt, dễ

bị tổn thương, đặc biệt khi có những biến động xã hội, họ là những người dễ bị tụt hậu và thiếu cơ hội phát triển

Đối tượng tham gia vào tệ nạn ma tuý không những chỉ có người sử dụng ma tuý, mà còn người sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển ma tuý trái phép, tổ chức tiêm chích, những người dắt mối khách trong việc tiêu thụ ma tuý

1.2.2.2 Tác động của tệ nạn mại dâm

Mại dâm luôn tồn tại trong quá trình phát triển của xã hội loài người Có lúc có nơi, người ta đã phải bó tay trước nó, chấp nhận nó cùng tồn tại, nhưng ở nhiều nơi cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại tệ nạn này đã và đang diễn ra Cho đến nay chưa ai đưa ra câu trả lời thoả đáng là mại dâm xuất hiện từ bao giờ và xuất hiện như thế nào, có thể nó xuất hiện

từ nguồn gốc hành dâm với mục đích hiến tế hoặc tôn giáo trong thời kỳ cổ đại ở nhiều nước Trung cận Đông bao gồm: Ai Cập, Babilon, ấn độ, Tây Phi, khoảng gần 700 năm tr-ước công nguyên

Thuật ngữ Mại dâm có nguồn gốc Latinh là Prostituere Theo tiếng Anh

"Prostitution" có nghĩa ban đầu là bày ra để bán, dùng để chỉ việc bán thân một cách tuỳ tiện

Mãi dâm, theo gốc từ Hán-Việt, có nghĩa là mua dâm; còn mại dâm có nghĩa là bán dâm Trước đây người ta hay dùng thuật ngữ mãi dâm nhưng sau này lại sử dụng thuật ngữ mại dâm

Mại dâm là hiện tượng xã hội được coi là lâu đời nhất khi loài người coi quan hệ tình dục giữa hai giới nam và nữ như một thứ hàng hoá trao đổi Có nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt nam đã nghiên cứu về vấn đề mại dâm Các tác giả đã đưa ra nhiều luận cứ khoa học có giá trị trong thực tiễn, góp phần thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả của công tác

Trang 32

phòng chống tệ nạn mại dâm Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận và chưa đưa ra khái niệm thống nhất về mại dâm Dựa trên các nghiên cứu khác nhau, thấy có những điểm thống nhất về bản chất của hiện tượng này là:

Thời nguyên thuỷ sơ khai quan hệ tình dục là vô thức và tự nhiên, khi xã hội phát triển

nó trở thành nhu cầu tâm sinh lý theo hướng tiêu cực Khi những quan hệ này có tính mục đích cao thì nó là những quan hệ lợi ích Xét về mặt xã hội bản chất của nó là quan hệ trao đổi, xét về kinh tế bản chất của nó là mua-bán, tuy nhiên trong thực tế mại dâm không chỉ vì mục đích lợi ích vật chất mà còn có cả những lợi ích phi vật chất như quan hệ mại dâm vì mục đích

chính trị như "mỹ nhân kế" Ngày nay mại dâm nó mang đầy đủ những bản chất đó

Những hành vi được coi là mại dâm khi có sự thoả thuận mua bán giữa hai bên nam

và nữ về việc đáp ứng và thoả mãn nhu cầu tình dục thông qua việc giao hợp hoặc các hình thức làm tình khác Nghĩa là người được thoả mãn tình dục phải trả cho người cung cấp dịch vụ cho mình một giá trị vật chất nhất định bằng tiền hay hiện vật, hay bằng một lợi ích phi vật chất khác và ngoài phạm vi hôn nhân Đối tượng tham gia tệ nạn mại dâm, bao gồm người mua, người bán, trao đổi, người tổ chức mại dâm, môi giới, bảo kê và không phân biệt về giới

Cơ chế tác động của tệ nạn mại dâm, lây lan nhanh, có tính chủ động giữa các chủ thể tham gia mại dâm và xuất phát từ nhu cầu có mục đích Đối tượng của cơ chế tác động là con người với con người Lực tác động đến cơ chế này có thể coi một bên là do nhu cầu tình dục

"lực đẩy", một bên do nhu cầu lợi ích (cả lợi ích vật chất và lợi ích phi vật chất) "lực kéo" Hai lực này cùng chiều đã đẩy con người vào hoạt động tình dục theo hướng tiêu cực (mại dâm)

Cơ chế xâm nhập của tệ nạn này là nó xâm nhập vào con người bằng con đường thông qua các quan hệ tình dục Không có cơ chế gây nghiện như người nghiện ma tuý Tác động của tệ nạn mại dâm chủ yếu là làm lây lan các căn bệnh hiểm nghèo cho cộng đồng và cho xã hội, làm băng hoại đến các giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp, băng hoại đạo đức, phá vỡ hạnh phúc gia đình, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác, đặc biệt là tệ nạn BBPNTE vì mục đích mại dâm, gây mất ổn định trật tự xã hội

1.2.2.3 Tác động của tệ nạn tham nhũng

Tệ nạn tham nhũng là một trong những loại hình TNXH trong thiết chế bộ máy Nhà nước Theo Luật phòng, chống tham nhũng của Việt Nam; "Tham nhũng là hành vi của

Trang 33

người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi" [18, tr.91] Như vậy có thể nói một cách vắn tắt, tham nhũng là việc sử dụng các quyền lực, uy tín và địa vị công cộng để chiếm đoạt các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội hoặc của người khác Đối tượng tham nhũng không chỉ là những giá trị vật chất mà còn có cả những giá trị tinh thần

Chủ thể tham gia là những người có địa vị trong xã hội, có vị trí nhất định trong bộ máy Nhà nước, trong các cơ sở kinh tế, trong các doanh nghiệp , do các yếu tố chủ quan của các chủ thể tham gia cấu thành

Các hành vi tham nhũng bao gồm:

- Tham ô tài sản

- Nhận hối lộ

- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

- Lạm dụng quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi

- Giả mạo trong công tác vì vụ lợi

- Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi

- Nhũng nhiễu vì vụ lợi

- Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi [16, tr.192]

Có thể phân ra bốn nhóm hành vi tham nhũng bao gồm;

- Nhóm thứ nhất, là nhóm trực tiếp nhận hối lộ và sử dụng phương tiện của cơ quan phục

vụ nhu cầu cá nhân Đây được coi là hành vi tham nhũng phổ biến nhất hiện nay

- Nhóm hành vi thứ hai, là mang lợi ích cho người thứ hai, tất nhiên là không chính đáng

để được nhận lợi ích trong tương lai

Trang 34

- Nhóm hành vi thứ ba, nhóm này được nguỵ trang bằng các hoạt động rất hợp pháp như hợp đồng mua bán sòng phẳng, nhưng đã được thoả thuận để nâng hoặc hạ giá để trích phần trăm hưởng lợi bất hợp pháp

- Nhóm cuối cùng là giả mạo giấy tờ, ra chính sách một cách có chủ định tư lợi

Tham nhũng là vấn đề đau đầu của tất cả các chính thể trên thế giới, nó là căn bệnh của nhân loại, nó tồn tại trong mọi xã hội, và mọi quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt với tham nhũng với nhiều biến thái tinh vi của nó

Những tác động chủ yếu của tệ tham nhũng là làm giảm hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước, nhân dân mất lòng tin, sử dụng ngân sách nhà nước kém hiệu quả, lãng phí, kinh

tế - xã hội suy thoái, trật tự xã hội bị đảo lộn, và đe doạ đến chế độ chính trị Tham nhũng chính là trở ngại lớn cho phát triển kinh tế, phát triển xã hội Nó làm suy yếu nền tảng luật pháp, làm băng hoại các giá trị truyền thống, bào mòn tài nguyên quốc gia Một bộ phận thiểu số làm giầu bất chính Vì thế tham nhũng làm gia tăng phân tầng xã hội, tăng đói nghèo và tăng bất công xã hội

Tham nhũng trong các dự án lớn của Chính phủ tại nhiều quốc gia phát triển cũng như đang phát triển là trở ngại chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đã cướp đi từ ngân sách số tiền khổng lồ mà lẽ ra được dành cho y tế, giáo dục và chống đói nghèo Nếu muốn đạt được các mục tiêu công bằng xã hội, chống đói nghèo thì cần phải kiên quyết trong cuộc chiến chống tham nhũng Theo Tổ chức minh bạch thế giới (Transparency international - TI) thì tham nhũng tỷ lệ nghịch với mức độ phát triển kinh tế, những nước càng kém phát triển thì nạn tham nhũng càng mạnh

1.2.2.4 Tác động điển hình của tệ nạn ma tuý, mại dâm ở một số địa bàn trọng điểm

Theo số liệu thống kê của Cục phòng, chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và của Cục phòng chống AIDS của Bộ Y Tế, Thành phố Hà Nội, thành phố

Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Quảng Ninh hiện là những tỉnh thành phố trong nhóm địa bàn trọng điểm về tệ nạn ma tuý, mại dâm và lây nhiễm HIV/AIDS trong cả nước Thực tế cho thấy các địa phương này đang đứng trước những thách thức cam go, phải chịu nhiều sức ép nảy sinh từ những vấn đề xã hội bức xúc, trong đó có vấn đề về tệ nạn xã hội ngày càng có

xu hướng gia tăng

Trang 35

Tác động xấu của TNXH ở những địa phương này được thể hiện chủ yếu ở một số phương diện sau:

Thứ nhất, phải giảm chi ngân sách hàng năm để giải quyết các vấn đề đấu tranh xử lý

tội phạm và chữa bệnh cai nghiện cho người nghiện ma tuý và mại dâm Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư gần 1000 tỷ đồng để xây dựng 20 Trường và Trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội; Tỉnh Quảng Ninh đầu tư xây dựng các Trung tâm cai nghiện trên

300 tỷ đồng; Hải phòng trên 200 tỷ đồng Hà Nội trên 500 tỷ đồng Ngoài ra hàng năm các địa phương này còn chi thường xuyên hàng trăm tỷ đồng cho đội ngũ cán bộ, giáo viên và trợ cấp tiền ăn, học văn hoá, học nghề cho đối tượng tại các Trung tâm Chưa kể đến các tổ chức quốc tế cũng trợ giúp và đầu tư trên 5,6 triệu USD để hỗ trợ kỹ thuật và thuốc điều trị cho người bị nhiễm HIV/AIDS ở các Trung tâm cai nghiện ở các tỉnh thành phố này Nguồn chi này đã làm suy giảm nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội

Thứ hai, tình hình nguy cơ lây lan các căn bệnh xã hội nguy hiểm ngày càng gia

tăng, đặc biệt là trong nhóm nghiện chích ma tuý và gái mại dâm Đây là môi trường để các dịch bệnh đặc biệt là HIV/AIDS lây lan ra cộng đồng Hà Nội hiện có gần 18.000 người nghiện có hồ sơ quản lý, số người bị nhiễm HIV/AIS là gần 7000 người, có khoảng trên 5000 gái mại dâm đang hoạt động trên địa bàn Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh hiện có trên 30.000 người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý, số người bị nhiễm HIV/AIDS là trên 10.000 người, toàn thành phố ước tính có khoảng trên 10.000 gái mại dâm đang hoạt động; Hải phòng hiện có trên 5400 người nghiện ma tuý, toàn thành phố ước tính có khoảng trên 1000 gái mại dâm đang hoạt động; Tỉnh Quảng Ninh hiện có gần 2000 người nghiện ma tuý, song đặc biệt nguy hiểm hơn toàn tỉnh hiện có trên

5000 người bị nhiễm HIV/AIDS, tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS cao nhất so với cả nước (512 người/100.000 người dân) Tác động này đang là nguy cơ giảm số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai

Thứ ba, tội phạm gia tăng, gây mất ổn định an ninh trật tự an toàn xã hội

Thứ tư, các giá trị truyền thống văn hoá bị mai một, đặc biệt đang tác động xấu đến

công cuộc xây dựng đô thị văn hoá, văn minh, hiện đại

1.3 Vấn đề phòng chống Tệ nạn xã hội ở việt nam

1.3.1 Khái quát thực trạng tệ nạn xã hội ở Việt Nam qua các thời kỳ

Trang 36

đỏ đen, trộm cướp, lừa đảo Các tệ nạn xã hội ma tuý, mại dâm thì gần như Nhà nước phong kiến không cấm đoán, thậm chí Nhà nước còn cấp môn bài cho các nhà chứa để thu thuế, các sòng, chiếu bạc, các bàn đèn mọc lên và tồn tại ở khắp nơi, cho trồng cây thuốc phiện, cây cần

sa

Cách mạng tháng 8/1945 đã đánh dấu một nấc thang phát triển của lịch sử xã hội Việt Nam, xoá bỏ hoàn toàn thời kỳ đen tối của xã hội phong kiến hàng ngàn năm, xây dựng một xã hội mới văn minh cường thịnh, độc lập tự chủ, mọi người dân đều có quyền bình đẳng, quyền được tự do phát triển, được pháp luật bảo vệ và mọi lợi ích đều thuộc về nhân

dân Trong xã hội văn minh này đã hình thành nên những quan điểm về “chuẩn mực đạo đức xã hội, sai lệch chuẩn mực xã hội” mới và sáng rõ hơn Các hủ tục lạc hậu, mê tín,

thần thánh, lễ nghi tập tục gây hậu quả nghiêm trọng cho con người và cho xã hội đều bị lên án và loại bỏ Đảng, Nhà nước ta đã ban hành các Sắc lệnh nghiêm cấm các tệ nạn xã hội nhằm xây dựng một xã hội văn minh lành mạnh, trong đó đặc biệt chú ý đến sự phát triển toàn diện của con người Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải

có con người xã hội chủ nghĩa” Con người xã hội chủ nghĩa là con người mới có sức khoẻ tốt,

có tri thức, có văn hoá, có cuộc sống trong sáng lành mạnh, thuỷ chung biết hy sinh cho Tổ quốc và nhân dân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng CNXH Và đương nhiên, các tệ nạn xã hội sẽ bị loại trừ, các giá trị truyền thống văn hoá, đạo đức tốt đẹp, các chuẩn mực xã hội tiến bộ được duy trì và phát huy

Sau năm 1954, ở miền Bắc có 2 nhân tố tác động quan trọng làm cho tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội được tương đối ổn định và tệ nạn xã hội gần như bị triệt tiêu - đó là; thứ nhất, do mô hình CNXH được quan niệm là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,

Trang 37

phân phối trực tiếp bằng hiện vật và theo quan điểm bình quân; thứ hai, do đất nước có chiến tranh, nên mục tiêu ưu tiên hàng đầu là thống nhất đất nước v.v Vì vậy xã hội Việt Nam trong thời kỳ đó có thể nói là một loại hình xã hội tương đối đơn giản và thuần khiết với sự kiểm soát xã hội rất cao, các hành vi lệch chuẩn bị phê phán thậm chí bị trừng phạt nặng nề

ở miền Nam trước ngày giải phóng, tệ nạn xã hội còn phức tạp hơn nhiều, mặc dù chính quyền Ngô Đình Diệm đã ban hành luật chống tệ nạn mại dâm, phòng chống tội phạm ma tuý và sử dụng ma tuý (10/1955) nhưng trên thực tế mại dâm, tội phạm ma tuý

và các tệ nạn xã hội khác ngày càng lây lan phát triển Tính đến khi được giải phóng thì cả miền Nam có khoảng 200.000 gái mại dâm chuyên nghiệp (riêng Sài Gòn có 100.000 ng-ười) Tệ nạn ma tuý, mại dâm, tham nhũng đã làm lũng đoạn chế độ Nguỵ quyền thời bấy giờ

Kể từ khi cả nước buớc vào thời kỳ đổi mới - chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, nhờ đó mà đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện Người dân được tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận những thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại và hưởng thụ những thành quả của nền kinh tế Tuy nhiên những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường đang làm nẩy sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc TNXH có chiều hướng gia tăng khá nhanh Bảng 1.1 cho thấy sự gia tăng của tệ nạn nghiện ma tuý, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em trên toàn quốc trong hơn 15 năm qua

Bảng 1.1: Số lượng người nghiện ma tuý, mại dâm và nạn nhân bị buôn bán của toàn

Trang 38

đáng kể

Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Công an

Số liệu trên cho thấy:

Tỷ lệ gia tăng người nghiện ma tuý năm 1995 so với năm 1990 là 23 %, năm 2000 so với năm 1995 là 63%, năm 2005 so với năm 2000 là 28,3%, năm 2007 so với năm 2005 là 6,4% Tỷ lệ số tăng bình quân hàng năm từ 1990 đến 2007 là 7,1%

Tỷ lệ gia tăng người hoạt động mại dâm năm 1995 so với năm 1990 là 150%, năm

2000 so với năm 1995 là 80%, năm 2005 so với năm 2000 là 23,8%, năm 2007 so với năm

2005 là 17,4% Tỷ lệ tăng bình quân hàng năm từ 1990 đến 2007 là 16%

Tỷ lệ gia tăng phụ nữ và trẻ em bị buôn bán năm 2005 so với năm 1990 có thể nói là rất cao vì tệ nạn này mới phát sinh chủ yếu từ năm 1995 trở lại đây và cũng chưa có một số liệu điều tra chính thức, nhưng chỉ tính từ năm 2000 đến nay mỗi năm có khoảng trên 500 phụ nữ và trẻ em bị buôn bán

Những tệ nạn này đang có nguy cơ thách thức đến ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội, làm xói mòn đạo đức, huỷ hoại truyền thống văn hoá tốt đẹp, gây hậu quả khôn lường đến sức khoẻ và tính mạng của nhân dân, làm mất trật tự an toàn xã hội, thiệt hại lớn về mặt kinh tế

Nguyên nhân của tình hình trên chủ yếu là do:

1) Sự biến động sâu sắc trong đời sống kinh tế xã hội khi nước ta chuyển từ nền kinh

tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tạo ra sự phân hoá giầu, nghèo, phân tầng xã hội Cơ chế kinh tế thị trường đã tạo ra những mức thu nhập khác nhau trong dân cư, xuất hiện những nhu cầu mới trong tất cả đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Những nhóm người có thu nhập cao xuất hiện những nhu cầu mới cao hơn về hưởng thụ và giải trí, mà nhu cầu hưởng thụ thường không có giới hạn Chính sự bất cập này đã làm xuất hiện những lệch chuẩn trong vấn đề hưởng thụ, xuất hiện những quan niệm sống gấp, sống để tận hưởng Mặt khác, kết quả của sự phân tầng xã hội cũng tạo ra một lớp người (do kém năng lực hoặc kém may mắn) gặp khó khăn trong cuộc sống; thất nghiệp, việc làm không phù hợp; thu nhập thấp Đứng trước sự biến động xã

Trang 39

hội, họ hoang mang bi quan, mất phương hướng nên xuất hiện tư tưởng bất cần đời, họ dễ

bị lợi dụng, dễ bị sa ngã vào con đường ma tuý, mại dâm

Mặt trái cơ chế thị trường, đang làm chuyển hoá các giá truyền thống văn hoá, đạo đức trong xã hội bị xuống cấp đã tạo môi trường thuận lợi cho các TNXH phát triển

2) Trong quá trình mở cửa, hội nhập, cùng với sự tiếp thu những điều mới mẻ, tiến bộ thì những vấn đề tiêu cực cũng thâm nhập vào nước ta, từ đó làm lệch lạc cách nghĩ, lối sống của không ít người dân, đặc biệt là lứa tuổi thanh, thiếu niên Một bộ phận thanh thiếu niên lười học tập, rèn luyện và lao động, không muốn cống hiến nhưng thích hưởng thụ, sống thực dụng

3) Sự thông thoáng trong giao lưu giữa các nước cũng là môi trường thuận lợi cho các dòng văn hoá phẩm đồi truỵ, văn hoá lai căng, tội phạm, buôn bán ma tuý xâm nhập vào nước ta trong khi đó chúng ta lại thiếu sự kiểm soát chặt chẽ cần thiết

4) Sự di dân tự do, di chuyển lao động, tìm kiếm công ăn việc làm trên khắp địa bàn trong cả nước cũng tác động không nhỏ đến sự lan nhanh của tệ nạn xã hội

5) Do các hoạt động mại dâm, buôn bán ma tuý, hay buôn bán phụ nữ và trẻ em mang lại siêu lợi nhuận cho bọn tội phạm mà không cần phải đầu tư tốn kém

6) Do nền kinh tế phát triển nhanh chóng trong khi đó khả năng trình độ quản lý xã hội của hệ thống các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền chưa đáp ứng kịp, hệ thống pháp luật liên quan đến phòng chống TNXH chưa hoàn chỉnh, thực thi pháp luật chưa

nghiêm

1.3.2 Khái quát một số loại hình tệ nạn xã hội điển hình ở Việt Nam hiện nay

Trước hết chúng ta thấy; tệ nạn ma tuý, nghiện ma tuý gây nên những hậu quả khôn lường cho cá nhân, gia đình và toàn xã hội Nó không còn đơn thuần chỉ là những thói quen của một bộ phận nhỏ dân cư sử dụng thuốc phiện mà nó đã lan rộng trong cộng đồng dân cư với mức độ gia tăng ngày càng nhanh, sử dụng nhiều loại ma tuý tổng hợp có tác dụng kích thích mạnh hàng trăm lần so với thuốc phiện và mức độ nghiện nặng rất khó chữa trị Nghiện ma tuý là nguồn gốc gây ra nhiều loại tội phạm, đặc biệt là tội phạm về

ma tuý và tội phạm hình sự, gây mất trật tự an toàn xã hội, đe doạ đến tính mạng sức khoẻ của nhân dân

Trang 40

Về tệ nạn mại dâm do nhiều quan niệm khác nhau, cũng như sự tác động ngày càng mạnh bởi các quan niệm và các dòng văn hoá khác nhau trên thế giới vào Việt Nam, đã tạo cho xã hội Việt Nam có nhiều cách nhìn, dưới nhiều góc độ và quan niệm khác nhau về tệ nạn này Thực tế cho thấy mại dâm không còn chỉ riêng có ở khu vực thành thị, mà lan rộng ra cả các vùng nông thôn, ở các khu vui chơi giải trí, khu du lịch, các dịch vụ cơ cấu phụ nữ tham gia ngày càng nhiều và trẻ hoá, không những chỉ có mại dâm nữ mà có cả mại dâm nam, không chỉ là những người nghèo, không có việc làm, những người ít học mà

có cả người giầu có, có học vấn cao cũng tham gia vào hoạt động mại dâm Hoạt động mại dâm đã ngày càng được hiện đại hoá với các phương tiện kỹ thuật cao như Internet, mạng

di động, xe hơi, các khách sạn nhà hàng cho thuê trang bị đầy đủ các tiện nghi hiện đại

Những người kinh doanh tình dục cũng khai thác tối đa các phương tiện phục vụ cho việc hành lạc, từ thuốc kích thích tự chế cho đến các phát minh y học mới nhất như Viagra, các chất gây nghiện, thuốc lắc, các đồ chơi tình dục, kể cả phim ảnh khiêu dâm, kích dục

Sức cuốn hút của các mô hình văn hoá phương Tây đối với xã hội Việt Nam thời gian qua là rất lớn, nhất là khi nó bao hàm trong mình những thành tựu vượt bậc của khoa học kỹ thuật cũng như được yểm trợ bằng một mức sống cao, vượt xa những gì mà chúng ta có được Những nền tảng sâu xa của văn minh phương Tây ít được nhận thức tới trong khi xã hội Việt Nam chấp nhận nhiều hơn những hiện tượng giật gân, một phần vì chúng dễ thấy, phần khác

vì sự tiếp xúc của người Việt với phương Tây vẫn chưa đi vào chiều sâu và chưa lâu dài

Nhầm tưởng những nét văn hoá bên ngoài của phương Tây là văn hoá phương Tây, hành vi

tình dục trong xã hội Việt Nam có được những mẫu hình không xác đáng

Mại dâm không chỉ còn là vấn đề đạo đức, văn hoá, hạnh phúc gia đình…Mà ngày nay

nó phản ánh quan hệ kinh tế, vấn đề cung - cầu, mua - bán, “sở thích, thị hiếu của một bộ phận dân cư” đã tạo thành “một thị trường đen” khó kiểm soát và đang thách thức chúng ta trước

những nguy cơ lan tràn các dịch bệnh nguy hiểm cho cộng đồng và xã hội

Tệ nạn buôn bán người, bóc lột sức lao động và xâm hại tình dục trẻ em gắn liền với

tệ nạn mại dâm Đây là một hiện tượng xã hội tiêu cực mới tái diễn khi chúng ta phát triển nền kinh tế thị trường Bên cạnh đó sự di cư tự do của dân cư nông thôn ra thành thị của

cả người lớn và trẻ em mà đại bộ phận trong đó là trình độ văn hoá thấp, thiếu hiểu biết, không nghề nghiệp… là nguồn "cung" đáng kể cho loại hình tệ nạn này Mặt khác một bộ

Ngày đăng: 19/12/2015, 19:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Nguyễn Văn Cảnh (chủ biên) (2007), Hoạt động điều tra các vụ án buôn bán phụ nữ trẻ em, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động điều tra các vụ án buôn bán phụ nữ trẻ em
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Cảnh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2007
4. Đảng bộ Thanh Hoá (2000), Nghị quyết Đại hội XV 5. Đảng bộ Thanh Hoá (2005), Nghị quyết Đại hội XVI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội XV" 5. Đảng bộ Thanh Hoá (2005)
Tác giả: Đảng bộ Thanh Hoá (2000), Nghị quyết Đại hội XV 5. Đảng bộ Thanh Hoá
Năm: 2005
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1986
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1990
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. PGS,TS Lê Ngọc Hùng, TS Ngô Thị Ngọc Anh (2006), Phòng chống xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào gia đình
Tác giả: PGS,TS Lê Ngọc Hùng, TS Ngô Thị Ngọc Anh
Năm: 2006
17. Liên Hợp quốc (2004), Từ điển thuật ngữ về ma tuý (Anh - Việt), Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ về ma tuý (Anh - Việt)
Tác giả: Liên Hợp quốc
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
18. Những quy định mới nhất về phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm chống lãng phí (2006), Nxb Lao động - xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định mới nhất về phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm chống lãng phí
Tác giả: Những quy định mới nhất về phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm chống lãng phí
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2006
25. PGS Lê Thị Quý (2005), Phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em
Tác giả: PGS Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005
26. TS Bùi Ngọc Thanh, TS Nguyễn Hữu Dũng, TS Phạm Đỗ Nhật Tân (chủ biên) (1996), Nghiên cứu chính sách xã hội ở nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chính sách xã hội ở nông thôn Việt Nam
Tác giả: TS Bùi Ngọc Thanh, TS Nguyễn Hữu Dũng, TS Phạm Đỗ Nhật Tân (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
29. Tổng cục Cảnh sát nhân dân (1994), Tệ nạn xã hội ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tệ nạn xã hội ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: Tổng cục Cảnh sát nhân dân
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1994
36. GS,TS Nguyễn Xuân Yêm, TS Phạm Đình Khánh, TS Nguyễn Thị Kim Liên (2003), Mại dâm, ma tuý, cờ bạc, tội phạm thời hiện đại, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mại dâm, ma tuý, cờ bạc, tội phạm thời hiện đại
Tác giả: GS,TS Nguyễn Xuân Yêm, TS Phạm Đình Khánh, TS Nguyễn Thị Kim Liên
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2003
2. Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội tỉnh Thanh Hoá (2006), Khảo sát điều tra về tình hình tệ nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn tỉnh Thanh hoá năm 2006 Khác
11. Học viện Cảnh sát nhân dân (2002), Giáo trình Ma tuý và pháp luật về phòng, chống - kiểm soát ma tuý Khác
13. Liên Hợp quốc (1948), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (Univerasl Declaarationof Human Rights) Khác
14. Liên Hợp quốc (1996), Công ước quốc tế về quyền trẻ em Khác
15. Liên Hợp quốc (2000) Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ước về quyền Khác
19. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( 1994 ), Bộ luật lao động Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Số lượng người nghiện ma tuý, mại dâm và nạn nhân bị buôn bán của toàn - LUẬN văn   tác động của tệ nạn xã hội tới sự phát triển kinh tế   xã hội ở thanh hoá
Bảng 1.1 Số lượng người nghiện ma tuý, mại dâm và nạn nhân bị buôn bán của toàn (Trang 37)
Bảng 2.1:  Kết quả đấu tranh xử lý tội phạm về ma tuý, mại dâm, buôn bán phụ nữ trẻ em, - LUẬN văn   tác động của tệ nạn xã hội tới sự phát triển kinh tế   xã hội ở thanh hoá
Bảng 2.1 Kết quả đấu tranh xử lý tội phạm về ma tuý, mại dâm, buôn bán phụ nữ trẻ em, (Trang 52)
Bảng 2.3: Tỷ lệ mắc các bệnh xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS, - LUẬN văn   tác động của tệ nạn xã hội tới sự phát triển kinh tế   xã hội ở thanh hoá
Bảng 2.3 Tỷ lệ mắc các bệnh xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS, (Trang 56)
Bảng 2.5:  Trình độ nghề nghiệp và việc làm trong nhóm nghiện ma tuý, gái mại dâm - LUẬN văn   tác động của tệ nạn xã hội tới sự phát triển kinh tế   xã hội ở thanh hoá
Bảng 2.5 Trình độ nghề nghiệp và việc làm trong nhóm nghiện ma tuý, gái mại dâm (Trang 58)
Bảng 2.7: Tình hình kinh tế của người nghiện ma tuý, mại dâm - LUẬN văn   tác động của tệ nạn xã hội tới sự phát triển kinh tế   xã hội ở thanh hoá
Bảng 2.7 Tình hình kinh tế của người nghiện ma tuý, mại dâm (Trang 61)
Bảng 2.8: Tỷ lệ các vụ gây mất trật tự an toàn xã hội liên quan - LUẬN văn   tác động của tệ nạn xã hội tới sự phát triển kinh tế   xã hội ở thanh hoá
Bảng 2.8 Tỷ lệ các vụ gây mất trật tự an toàn xã hội liên quan (Trang 62)
Bảng 2.9: Tỷ lệ gia đình ly thân, ly hôn, và con cái thất học - LUẬN văn   tác động của tệ nạn xã hội tới sự phát triển kinh tế   xã hội ở thanh hoá
Bảng 2.9 Tỷ lệ gia đình ly thân, ly hôn, và con cái thất học (Trang 64)
Bảng 2.10: Ngân sách tỉnh đầu tư cho công tác phòng chống ma tuý, - LUẬN văn   tác động của tệ nạn xã hội tới sự phát triển kinh tế   xã hội ở thanh hoá
Bảng 2.10 Ngân sách tỉnh đầu tư cho công tác phòng chống ma tuý, (Trang 66)
Bảng 2.11: Tỷ lệ ma tuý, mại dâm trong dân số ở thành phố Thanh Hoá qua 5 năm - LUẬN văn   tác động của tệ nạn xã hội tới sự phát triển kinh tế   xã hội ở thanh hoá
Bảng 2.11 Tỷ lệ ma tuý, mại dâm trong dân số ở thành phố Thanh Hoá qua 5 năm (Trang 68)
Bảng 3.2: Số liệu kết quả dự báo TNXH (2008 - 2012) .    S = a* D. - LUẬN văn   tác động của tệ nạn xã hội tới sự phát triển kinh tế   xã hội ở thanh hoá
Bảng 3.2 Số liệu kết quả dự báo TNXH (2008 - 2012) . S = a* D (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w