1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tình hình bệnh sản khoa trên đàn lợn nái tại trại công ty CP mỹ đức hà nội và thử nghiêm phác đồ điều trị

70 589 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 443,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thịt lợn có thể chế biến thành nhiều món ăn phù hợp với khẩu vị của đại gia số người dân, khi chế biến, thịt lợn ít giảm phẩm chất nên nó là nguồn nguyên liệu không thể thay thế được để

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Lớp: K43 CNTY - N01

Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Mạnh Cường Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu Nhà trường, toàn thể các thầy

cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc

biệt là thầy giáo Th.S Nguyễn Mạnh Cường đã luôn động viên, giúp đỡ và

hướng dẫn chỉ bảo tôi tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành

khoá luận

Tôi xin chân thành cảm ơn: Cán bộ công nhân viên Trại giống lợn Công ty CP Mỹ Đức Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Để góp phần cho việc hoàn thành khoá luận đạt kết quả tốt, tôi luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 43

Bảng 4.2 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái của Trại 44

Bảng 4.3 Tỷ lệ mắc một số bệnh sản khoa của lợn nái theo giống lợn 46

Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc một số bệnh sản khoa ở lợn nái theo lứa đẻ 48

Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn mắc một số bệnh sản khoa theo tháng/năm 2014 50

Bảng 4.6 Kết quả điều trị viêm đường sinh dục và viêm vú của lợn nái 51

Bảng 4.7 Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị 53

Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị 55

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cs : Cộng sự ĐVT : Đơn vị tính

LY : Lợn lai giữa Landrace và Yorkshire Nxb : Nhà xuất bản

STT : Số thứ tự TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

TT : Thể trọng VTM : Vitamin

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1

2.1 Cơ sở khoa học 1

2.1.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục và sinh sản của lợn nái 1

2.1.2 Một số hiểu biết về bệnh sinh sản 9

2.1.3 Một số hiểu biết về thuốc sử dụng trong đề tài 21

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 23

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 23

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 25

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

3.4 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.1 Phương pháp đánh giá tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái sinh sản 28

3.4.2 Phương pháp chẩn đoán một số bệnh sinh sản 28

Trang 6

3.4.3 Phương pháp đánh giá kết quả điều trị bệnh sinh sản ở đàn lợn nái 29

3.4.4 Công thức tính toán từng chỉ tiêu 30

3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 32

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 33

4.1.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất 33

4.1.2 Biện pháp thực hiện 33

4.1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 34

4.1.3.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 34

4.1.3.2 Công tác thú y 36

4.2 Kết quả tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái của Trại 44

4.2.1 Tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái của Trại 44

4.2.2 Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản theo giống lợn 45

4.2.3 Tỷ lệ mắc một số bệnh sản khoa ở lợn nái theo lứa đẻ 48

4.2.4 Tỷ lệ lợn nái mắc một số bệnh sản khoa theo tháng/năm 49

4.2.5 Kết quả điều trị 51

4.2.6 Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị 52

4.2.7 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị 54

Phần 5: KẾT LUẬN ĐỂ NGHỊ 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Tồn tại 57

5.3 Đề nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 7

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta phát triển nhanh cả

về số lượng và chất lượng Nhiều giống gia súc, gia cầm được lai tạo du nhập

và sản xuất đã đem lại nhiều lợi nhuận cho người chăn nuôi Chăn nuôi thực sự

đã trở thành nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ gia đình đồng thời đã thúc đẩy

sự phát triển của một số ngành công nghiệp liên quan như chế biến thực phẩm, sản xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, công nghiệp thuộc da, lông vũ…

Chăn nuôi lợn là một trong những mũi nhọn của ngành chăn nuôi nước

ta, đóng một vị trí quan trọng và đem lại hiệu quả kinh tế cao Là nguồn Protein động vật có giá trị phục vụ cho nhu cầu của con người Thịt lợn có thể chế biến thành nhiều món ăn phù hợp với khẩu vị của đại gia số người dân, khi chế biến, thịt lợn ít giảm phẩm chất nên nó là nguồn nguyên liệu không thể thay thế được để sản xuất thành các loại thức ăn như: giò, chả, xúc xích, dăm bông… Nó không chỉ cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho xã hội mà còn là nguồn thu nhập đáng kể cho người chăn nuôi Ngoài ra chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho trồng trọt và thủy sản Có thể nói ngành chăn nuôi lợn đã đóng góp một phần đáng kể vào công tác xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội

và thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của đất nước

Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng cao không những về số lượng mà còn cả chất lượng của sản phẩm phải đảm bảo về dinh dưỡng, đặc biệt là phải an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng Để đáp ứng nhu cầu đó ngoài những yếu tố về con giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý công tác thú y cần đươc chú trọng nhằm hạn chế bệnh tật, nâng cao chất lượng chăn nuôi

Trang 8

Trong chăn nuôi lợn thì lợn nái có vai trò quan trọng làm tăng số lượng cũng như chất lượng của đàn lợn Tuy nhiên lợn nái thường mắc một số biến chứng sau đẻ làm giảm năng xuất, phẩm chất đàn lợn Đây là loại biến chứng rất hay sảy ra và thường để lại hậu quả lâu dài, giảm năng xuất sinh sản, trường hợp nặng lợn nái có thể mất khả năng sinh sản tiêu thai, sảy thai, chết thai và tỷ lệ thụ thai thấp

Mặt khác, trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại thuốc do nhiều cơ

sở sản xuất khác nhau để điều trị biến chứng đó Nên người chăn nuôi còn lúng túng trong việc lựa chọn thuốc và sử dụng phác đồ nào để điều trị các biến chứng đó cho có hiệu quả cao

Vì vậy nghiên cứu một số bệnh sinh sản ở lợn nái sau đẻ và các biện pháp phòng bệnh cũng như một số phác đồ điều trị góp phần nâng cao năng suất sinh sản, hạn chế tối đa thiệt hại kinh tế là một việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài

"Tình hình bệnh sản khoa trên đàn lợn nái tại trại Công ty CP Mỹ Đức Hà Nội và thử nghiêm phác đồ điều trị"

1.2 Mục tiêu và yêu cầu đề tài

- Đánh giá tình hình mắc một số bệnh sinh sản thường gặp trên đàn nái sinh sản nuôi tại trại lơn Công ty CP Mỹ Đức Hà Nội

- Tiến hành điều trị lợn mắc bệnh sinh sản bằng một số phác đồ điều trị,

từ đó đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả nhất

- Khuyến cáo một số biện pháp phòng bệnh tích cực để phòng bệnh sinh sản cho lợn nái sau đẻ

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Các kết quả nghiên cứu một số bệnh sinh sản là những tư liệu khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo ở trại lợn Công ty CP Mỹ Đức Há Nội

Trang 9

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh của một số phác đồ từ đó đưa ra những liệu trình điều trị hiệu quả, kinh tế để áp dụng rộng rãi trên thực tiễn chăn nuôi

- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học

- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp súc với thực tế chăn nuôi, điều trị bệnh cho lợn từ đó nâng cao và củng cố kiến thức của bản thân

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục và sinh sản của lợn nái

* Đặc điểm cấu tạo của cơ quan sinh dục của lợn cái

Bộ phận sinh dục bên trong

Buồng trứng (Ovanrium): Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2003) [6], buồng trứng còn gọi là noãn sào, gồm một đôi nằm dưới hông, trước cửa vào xoang chậu và được giữ bởi dây chằng rộng, trên bề mặt buồng trứng sần sùi

Khác với dịch hoàn, buồng trứng của động vật có vú lưu lại trong xoang bụng, phát triển thành một cặp Nó thực hiện cả hai chức năng: Ngoại tiết là sản sinh ra tế bào trứng (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormon sinh dục cái) có ảnh hưởng tới giới tính, tới chức năng tử cung (đặc tính thứ cấp của con cái)

- Cấu tạo: Buồng trứng được bao bọc ở ngoài một lớp màng liên kết sợ chắc tựa như màng bọc của dịch hoàn Bên trong được chia thành hai phần, cả hai phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loại chất đệm

+ Miền vỏ: Đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng Miền vỏ bao gồm ba phần: Tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào bào hình hạt

+ Miền tủy chứa nhiều mạnh máu và bạch huyết

Ở lợn buồng trứng nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3 - 4 Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên Buồng trứng dài 1,5 – 2

cm, khối lượng 3 - 5 gam

- Ống dẫn trứng (Oviductus): ống dẫn trứng ở lợn dài 15- 20 cm uốn khúc

nằm cạnh dây chằng rộng Ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung được chia làm 2 phần

Trang 11

+ Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bao trứng chín rụng, đầu này mởi ra trong xoang phúc mạc + Phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2 - 0,3 cm nối với sừng tử cung

- Tử cung(dạ con) (uterus)

+ Cấu tạo giải phẫu tử cung

Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái, là nơi làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của bao thai đồng thời là

cơ quan đẩy bào thai lọt ra ngoài khi sinh đẻ

Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và một cổ tử cung Ở lợn tử cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và có độ dài hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn Độ dài này phù hợp cho việc mang nhiều thai

Thai của lợn được làm tổ ở sừng tử cung

- Âm đạo (vagina)

Âm đạo là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm hộ Đây là nơi tiếp nhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới là bóng đái,

nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh

Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi ra của thai Chiều dài của âm đạo của lợn: 10 - 12cm

Trang 12

Ở lợn, biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và giảm xuống điểm thấp nhất ở các ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô

âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14

Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm lý tính dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá trình kích thích trước lúc giao phối (Đặng Quang Nam và cs, 2002) [16]

Bộ phận sinh dục bên ngoài

Bộ phận sinh dục bên ngoài: là phần người ta có thể nhìn thấy, sờ thấy

và quan sát được, bao gồm: âm hộ, âm vật, tiền đình

+ Âm hộ (vulvae): Đây là đoạn sau cùng của bộ máy dục cái, sau âm

đạo và ngăn cách âm đạo bởi màng trinh Âm hộ nằm dưới hậu môn và được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là âm môn Trong âm hộ còn có lỗ

thông với bóng đái, tuyến tiền đình (bartholin) và khí quan cương cứng gọi là

âm vật (clitoris)

+ Âm vật (clitoris):

Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn Là tổ chức cương cứng,

có nhiều dây thần kinh nên tính cảm giác tập trung ở đây cao, tương tự như quy đầu dương vật

Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, các dẫn tinh viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để tử cung trở lại co thắt vào vận động bình thường (Đặng Quang Nam và cs, 2002) [16]

+ Tiền đình (vestibulum):

Nguyễn Mạnh Hà và cs (2003) [6] cho biết tiền đình là giới hạn giữa

âm môn và âm đạo, nghĩa là qua tiền đình mới vào âm đạo Trong tiền đình có

Trang 13

dấu vết màng trinh, phía trong màng trinh là âm đạo, phía sau màng trinh có

lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy

- Cấu tạo giải phẫu tuyến vú

Theo Đặng Quang Nam và cs (2002) [16] cho biết: tuyến vú chỉ có ở động vật có vú Tuyến này chỉ phát triển ở con cái khi đến tuổi thành thục về tính (dậy thì) và nó phát triển to nhất ở thời kỳ chửa, đẻ Thời kỳ con vật đẻ, tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lúc con còn non

+ Cấu tạo: Tuyến vú là dạng đặc biệt của tuyến mồ hôi tạo thành, tất cả động vật có vú không kể đực, cái đều có tuyến vú Song chỉ ở con cái cùng với sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể, dưới ảnh hưởng điều hoà của các hoocmone sinh sản mới được phát dục và hoàn thiện trước khi đẻ lần đầu tiên

Ở lợn có 6 - 10 đôi vú, thường là 6 đôi phân bố thành hai hàng từ vùng ngực tới vùng bẹn và đối xứng nhau qua đường trắng bụng Vú gồm có bầu vú và núm vú

+ Bầu vú: Là nơi sản sinh và chứa sữa, ngoài cùng là lớp da mỏng mịn tùy theo vị trí mà lớp da này do da ngực, nách hay da bụng, bẹn kéo đến, tiếp đến là lớp cơ Trong cùng có hai phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn, xen kẽ giữa phần cơ bản ở trong là tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản thần kinh bao vây và chia vú thành nhiều thuỳ nhỏ, trong đó có nhiều sợi đàn hồi Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa, giống như một cái túi, từ túi đó sữa theo

3 loại ống dẫn: nhỏ, trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và thông ra đỉnh ở đầu vú Để hình thành 1 lít sữa cần 540 lần lít máu đi qua tuyến vú, vì vậy sự cung cấp máu cho tuyến vú rất phong phú, mao mạch bao quanh bao tuyến dày đặc

Trang 14

+ Núm vú: một bầu có một núm vú, cấu tạo từ ngoài vào trong: da, tổ chức liên kết, cơ, ống dẫn sữa Lợn có từ 2-3 ống dẫn sữa Ở đầu núm vú sợi

cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú, giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa

- Sinh trưởng và phát dục của tuyến vú:

Động vật còn non, tuyến vú chưa phát dục Đến tuổi thành thục, hệ thống ống dẫn bắt đầu sinh trưởng và hình thành hệ thống ống dẫn nhỏ phân nhánh phức tạp, thể tích tuyến vú tăng lên, đoạn cuối ống dẫn hình thành bao tuyến chưa có xoang tiết

Đến thời kỳ chửa, nuôi con, bao tuyến có xoang tiết,ống dẫn tăng lên không ngừng, thể tích bầu vú lớn Qua một thời gian tiết sữa thể tích bao tuyến nhỏ dần, ống dẫn teo đi, lượng sữa giảm đến ngừng, bầu vú nhỏ lại

* Sinh lý sinh sản của lợn

- Khả năng sinh sản của lợn: Theo Nguyễn Thiện (2008) [27] cho biết: đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật như: số con sơ sinh sống đến 24h trên lứa đẻ, số con cai sữa trên lứa, số con bán, tỷ lệ lợn con chết trong thời gian bú sữa mẹ, thời gian động dục trở lại sau cai sữa, thời gian lợn con theo mẹ, số lợn con cai sữa/nái

- Sinh lý sinh dục của lợn nái:

+ Tuổi động dục lần đầu: tính từ lúc sơ sinh cho đến lợn nái hậu bị lần đầu tiên động dục, mỗi giống có tuổi động dục đầu tiên khác với giống lợn khác Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5] cho rằng: tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 - 25kg Theo Đào Lệ Hằng (2008) [7], ở lợn nái ngoại (Yorkshire, Landrace) tuổi động dục đầu tiên vào 6-7 tháng tuổi với khối lượng 65-70kg, còn lợn nái lai F1 tuổi động dục đầu tiên lúc 6 tháng tuổi với khối lượng cơ thể 50-55kg Trần Văn Phùng và cs (2004) [20]; Lê Hồng Mận (2006) [15] cho biết: tuỳ

Trang 15

theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), lợn nái lai lúc 6 tháng tuổi, các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

Ở lợn Ỉ, lợn Móng Cái lúc 3 tháng tuổi đã có con có biểu hiện động dục, lúc bấy giờ thể trọng của chúng chỉ bằng 1/4 so với lợn trưởng thành Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ Lợn cái hậu bị được sinh vào mùa thu sẽ động dục sớm hơn so với lợn hậu bị được sinh vào mùa xuân (Nguyễn Trúc Anh, (2010) [1]

+ Tuổi phối giống lần đầu:

Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5]; Lê Hồng Mận (2006) [15] và Đào Lệ Hằng (2008) [7] cho rằng: không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì lợn nái động dục lần đầu cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh

Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống Thường cho phối giống vào lần động dục thứ 2 - 3

Đối với lợn nội (Ỉ, Móng Cái) thường phối giống lần đầu lúc 7 tháng tuổi, khi lợn đạt khối lượng 45 - 50kg Lợn lai phối giống vào lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg, nái ngoại cho phối vào lúc 9 tháng tuổi, khối lượng cơ thể đạt 80 - 90 kg

Tuổi phối giống lần đầu của lợn cái hậu bị là một vấn đề cần được quan tâm Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khoẻ của lợn

mẹ Nhưng thực tế đã chứng minh rằng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí

về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản phát dục của lợn cũng như hoạt động về tính của nó

Trang 16

+ Tuổi đẻ lứa đầu: Theo Lê Hồng Mận và cs (2004) [14], lợn Ỉ, Móng Cái cho đẻ lứa đầu vào 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai, ngoại cho đẻ vào lúc 12 tháng tuổi không nên để quá 14 tháng tuổi

+ Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ:

Chu kỳ tính dục của lợn nái thường diễn biến trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài quãng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 -

5 ngày (lợn lai, lợn ngoại)

Theo Lê Hồng Mận và cs (2004) [14] cho biết: Lợn nái sau khi đẻ có hiện tượng động dục trở lại sau 3 - 4 ngày thấy nhiều ở giống lợn nội Những lúc này bộ máy sinh dục của lợn mẹ chưa phục hồi, trứng chín chưa đều, vì thế không nên cho lấy đực Thường sau khi cai sữa lợn con sớm từ 28 - 35 ngày tuổi hoặc muộn hơn (50 - 55 ngày) khoảng 3 - 5 ngày thì lợn mẹ động dục trở lại, cho lấy đực dễ đậu thai và trứng chín nhiều sẽ có nhiều con

Lê Hồng Mận (2006) [15] cho rằng động dục chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn trước khi chịu đực: không nên cho phối giống ở giai đoạn này

- Giai đoạn chịu đực: cho phối giống sẽ thụ thai cao

- Giai đoạn sau chịu đực: lợn nái trở lại bình thường

+ Thời điểm phối giống thích hợp: Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [8] cho biết: trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 - 3 giờ, còn có giá trị thụ thai Tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48 giờ Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Nguyễn Hữu Ninh và cs (2002) [19] cho biết: thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu

Trang 17

+ Quá trình mang thai và đẻ: Thụ thai là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói cụ thể hơn là quá trình đồng hoá giữa trứng và tinh trùng Đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen từ hai nguồn gen khác nhau Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày (113 - 115 ngày),

khi mang thai thì thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố progesterol ức chế sự phát

triển của bao noãn Do đó con vật có chửa sẽ không động dục và không thải trứng Nguyễn Văn Trí (2008) [31] cho rằng: thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:

Chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 84 Chửa kỳ II: là thời gian lợn chửa từ ngày thứ 85 đến khi đẻ

+ Giai đoạn tiết sữa và nuôi con

Theo Trương Lăng (2003) [12], khả năng tiết sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng thức ăn, giống lợn và số lượng lợn con Lượng sữa

mẹ tiết ra nhiều nhất vào tuần thứ 2 - 3 Giống khác nhau thì khả năng tiết sữa của lợn mẹ khác nhau

Qua theo dõi, sản lượng và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau cũng không giống nhau.Các vú phía trước ngực sản lượng sữa cao phẩm chất tốt, các vú phía sau nhìn chung kém hơn Vì vậy, để đảm bảo tính đồng đều của ổ lợn ta nên cố định những con nhỏ hơn bú vú trước, cần tách riêng lợn con đẻ trước chờ đến khi đẻ xong mới cho cả đàn vào bú, nhưng nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu, chậm nhất là 2 giờ sau đẻ, để lợn con có đủ kháng thể trong năm tuần đầu sau khi sinh vì trong sữa đầu của lợn mẹ có

chứa γ globulin giúp cho cơ thể lợn con có sức đề kháng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20] cho biết: quá trình sinh trưởng của lợn con từ khi mới đẻ đến khi cai sữa gặp phải thời kỳ khủng hoảng lúc 3 tuần tuổi Thể trọng hầu như tăng theo tuần tuổi, nhưng tỷ lệ tăng có sự biến đổi khá rõ rệt Vào 4 tuần tuổi, tăng trọng giảm xuống vì giai đoạn đó nhu cầu

Trang 18

dinh dưỡng của lợn con không đủ do sữa mẹ thiếu, thức ăn bổ sung chưa có hoặc kém Vì vậy, muốn đảm bảo cho lợn con sinh trưởng tốt cần bổ sung thức ăn sớm

Ở lợn không có bể sữa do đó không thể đo lượng sữa bằng cách vắt sữa

mà chỉ có thể đo lượng sữa của lợn mẹ qua khối lượng đàn con Người ta tính khả năng tiết sữa của lợn mẹ bằng công thức:

M = M1 + M2

Trong đó:

M: là sản lượng sữa

M1: là sản lượng sữa tiết ra ở tháng thứ nhất

M2: là sản lượng sữa tiết ra ở tháng thứ…

M1 = (W21 - Wss) x 3

Trong đó:

W21: là khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi

Wss: là khối lượng toàn ổ lúc sơ sinh

M2 = 4/5 M1

Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5], khối lượng toàn ổ lúc 30 ngày tuổi là chỉ tiêu quan trọng cần được chú ý trong công tác chọn lọc

Đường cong tiết sữa của lợn thông thường cao nhất là lúc 21 ngày sau

đẻ, sau đó thì giảm dần Trong giai đoạn nái đang nuôi con thì phải cho lợn

mẹ ăn tự do, ăn đủ chất, tập ăn sớm cho lợn con, cai sữa sớm (21 đến 28 ngày tuổi) nhằm giảm sự hao mòn và tăng khả năng sinh sản của lợn mẹ (Trương Lăng, 2003) [12]

2.1.2 Một số hiểu biết về bệnh sinh sản

Bệnh sản khoa được thể hiện trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Khi con cái sinh sản là lúc lối vào các bộ phận nằm sâu trong đường sinh dục

mở, máu, sản dịch ra nhiều điều đó tạo nhiều khả năng cho vi khuẩn xâm nhập

Trang 19

Theo Nguyễn Quang Tính (2004) [30] thì sức đề kháng của cơ thể phụ thuộc trước hết vào chế độ dinh dưỡng Dinh dưỡng không những về mặt vật chất mà về cả mặt lượng cũng rất quan trọng, việc sử dụng thức ăn thích hợp theo nhu cầu của lứa tuổi có ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển bình thường của chúng Cho ăn thiếu làm giảm sức đề kháng của cơ thể

- Nguyên nhân

Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát và tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo tử cung Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không được vô trùng đã đưa các vi khuẩn gây viêm nhiễm vào đường sinh dục của lợn nái Do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật, khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [9]

Theo Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [22] cho biết: nguyên nhân gây

ra bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng roi (Trichomonas fortus) và do nấm Candda albicans

Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Bilken và cs (1994) [33] cho biết: Viêm tử cung thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn

E.coli, Staplylococus pp và Staphylococus auraus đây là nguyên nhân chính

gây bệnh

Trang 20

Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [13] thì do trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu chất dinh dưỡng heo nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại được vi trùng gây bệnh cũng gây lên viêm Cũng có khi nái

bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: Bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), Sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis), Parvovines và một số bệnh truyền nhiễm

khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến việc xảy thai, đẻ non, thai chết lưu gây viêm tử cung

Can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sai kỹ thuật làm cho chất nhầy Muxin của cơ quan sinh dục bị phá huỷ hoặc kết tủa làm ảnh hưởng đến quá trình thu teo sinh lý của cơ tử cung nên vi khuẩn dễ xâm nhập và gây bệnh

Nguyễn Thanh Sơn và cs (2005) [21] cho biết: lợn mẹ đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ trợ sản, thao tác của người trợ sản không đảm bảo kỹ thuật làm xây sát tổn thương cổ tử cung, tạo điều kiện cho vi khuẩn bên ngoài xâm nhập vào gây viêm

Lợn nái không được vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi đẻ Để nền, sàn chuồng bẩn, dây rốn lợn con và nhau thai nhiễm trùng rồi co thụt vào gây viêm tử cung, sót nhau gây kế phát viêm tử cung

- Triệu chứng:

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [24], khi lợn nái bị viêm các chỉ tiêu lâm sàng như thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng so với lợn nái bình thường Lợn bị sốt theo quy luật lên xuống Sáng sốt nhẹ 39 - 39,50C, chiều 40 - 410C Con vật

ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái, từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn Trong trường hợp thai chết lưu âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn

Trang 21

Viêm tử cung ở lợn gồm các thể sau:

+ Viêm tử cung thể nhẹ (+) gọi là viêm tử cung nhờn, thể hiện thân nhiệt bình thường, có khi hơi cao 39 - 39,50C, kém ăn có dịch tiết ra từ âm hộ,

12 - 72 giờ sau đẻ dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi mùi hôi tanh Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ

+ Viêm tử cung thể vừa (++) thuộc dạng viêm tử cung mủ, thân nhiệt lợn nái cao 39,5 - 40oC, lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lỳ Khi nằm có dịch từ

âm hộ chảy ra màu vàng xanh lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối

Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối

+ Viêm tử cung thể nặng (+++) thuộc dạng viêm tử cung mủ, thân nhiệt tăng cao 39,5 - 40oC, lợn nái ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn, dịch tiết từ âm hộ ra dạng

mủ xanh vàng sệt, có khi lẫn máu, mùi tanh thối

Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,

có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm Trạng thái này xuất hiện chậm 7- 8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh ảnh hưởng đến sản lượng sữa

- Chẩn đoán

Dựa vào triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh, khẳng định bệnh xảy ra ở thể nào để có kế hoạch điều trị Trong trường hợp lợn nái mắc bệnh ở thể ẩn khó phát hiện có thể chẩn đoán lúc động hớn qua số lượng niêm dịch chảy ra nhiều đôi khi có những đám mủ từ khe sinh dục ngoài chảy ra Ngoài ra lợn nái thường thụ tinh nhiều lần mà không có kết quả

Tìm Muxin trong dịch nhầy từ âm hộ chảy ra rồi cho vào 1ml dung dịch Axit axetic 1% (hay dấm) Nếu cho phản ứng dương tính (+), Muxin kết tủa, khi đó lợn mắc bệnh, nếu ngược lại Muxin không kết tủa (-) thì lợn không mắc bệnh (A.V Trekaxova và cs, 1983) [32]

Trang 22

- Hậu quả của bệnh viêm tử cung

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục của heo nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, lợn con chậm phát triển Lê Thị Tài và cs (2002) [22] cho rằng: đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và sinh sản của gia súc cái

Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng của cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: spermiolysin (độc

tố làm tiêu tinh trùng) Các loại độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các dạng đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dạ con bất lợi như thế cũng dễ bị chết non

Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường

- Phòng bệnh

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20], công tác phòng bệnh cần phải tiến hành: Vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ 1 tuần trước khi đẻ Tắm cho lợn nái trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú

Trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kỹ bằng cồn, hoặc rượu và được bôi trơn bằng Vazơlin hoặc dầu lạc Trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng dụng cụ trợ sản thì dụng cụ phải sạch sẽ và phải được vô trùng

Can thiệp đẻ khó, thao tác phải nhẹ nhàng và đúng kỹ thuật

Khi lợn đẻ xong nên dùng dung dịch nước muối sinh lý 0.5% để rửa sạch bộ phận sinh dục của lợn Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh như: Penicillin 2 - 3 triệu UI, Tetramycine hay Sulfanilamid 2 - 5g vào tử cung để chống viêm

Trang 23

Nên tiêm một mũi Oxytocin liều 3ml/ con sau khi đẻ xong để kích thích

tử cung co bóp đẩy hết nhau thai và sản dịch ra ngoài tử cung, âm đạo Đồng thời tiêm cho lợn nái một liều kháng sinh loại không ảnh hưởng đến sữa như: Tetramycin Trong thời gian dùng kháng sinh nên tiêm kèm theo thuốc bổ trợ như: VTM B1, Bcomplex, VTM B12, Gluconatcanxi để trợ sức, kích thích lợn nái ăn khoẻ để có sữa cho con bú

Dụng cụ thụ tinh nhân tạo phải đúng quy định, được tiệt trùng trước và sau khi sử dụng Không sử dụng lợn đực bị bệnh ở đường sinh dục để thụ tinh trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo

- Điều trị

Để điều trị bệnh viêm tử cung có hiệu quả cần phải theo dõi sát đàn lợn

để chẩn đoán và có biện pháp điều trị sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị, lợn nhanh hồi phục, ít tốn kém kinh phí

Việc điều trị bệnh cần đạt được hai mục đích: Phục hồi nguyên vẹn niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp của cơ tử cung

Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có các

bộ máy nội tiết và thần kinh, bởi vậy điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm gây tác động cục bộ và tác động lên toàn thân, thường dùng phương pháp thụt rửa sau đó can thiệp bằng các loại kháng sinh và thuốc bổ bằng cách tiêm cho uống hay bơm vào tử cung

+ Điều trị cục bộ: + Han Iodin 10% thụt rửa tử cung, ngày 2 lần, mỗi lần 3 lít Sau đó thụt vào tử cung 1 trong các loại kháng sinh sau: penicillin, streptomycin, tetramyxin…

+ Điều trị toàn thân: + Tiêm Oxytocin: 2-3ml/con/ngày Ngày 2 lần trong 2 ngày

Vetrimoxin LA: 1ml/ 10kg /TT hoặc Hanoxylin LA: 1ml/ 10kg /TT Dùng 1 ngày, nghỉ 1 ngày Điều trị trong 3 - 5 ngày, kết hợp với thuốc trợ lực: vitamin C, B.complex, Anagin-C (Công ty cổ phần CP Việt Nam) [3]

Trang 24

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2003) [9] thì sử dụng kháng sinh tổng hợp

có tác dụng cao Oxytetracylin có tác dụng rộng với cả vi khuẩn Gram (-) và

vi khuẩn Gram (+), đặc biệt là có tác dụng mạnh với nhóm vi khuẩn: E.coli, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn yếm khí, xoắn khuẩn, phẩy khuẩn…

Ngoài Oxytetracylin thì Penicillin bán tổng hợp cũng có tác dụng với hầu hết với các vi khuẩn Gram (-) và Gram (+)

nhập gây viêm như: E coli, streptococcus, staphylococcus, klebsiella spp

Nghiên cứu, xác định vi khuẩn gây viêm vú ở lợn nái sinh sản gồm:

Trang 25

Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm trên bầu vú Lợn nái ăn thức ăn nhiều đạm quá sinh nhiều sữa, lợn con bú không hết sữa ứ đọng tạo thành môi trường cho vi trùng sinh sản nhiều (Trương Lăng, 2000) [11]

Lê Hồng Mận (2006) [15] thì lợn chỉ cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm.Sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch sẽ, hàng ngày không vệ sinh bầu vú.Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng

Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang, viêm thận… Khi nái bị những bệnh này vi khuẩn sẽ theo máu về tuyến vú, cư trú tại đây và gây bệnh

- Triệu chứng:

Bình thường bệnh viêm vú thường xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày có con đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [25], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các

vú, vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phản ứng đau

Lợn sốt, bỏ ăn, nếu viêm nặng, lợn nái sốt đến 40 - 420C, vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phản ứng đau, núm vú sưng Sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, lợn nái thường nằm úp đầu

vú xuống sàn, không cho con bú (Lê Hồng Mận, 2006) [15]

Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy,

xù lông, gầy nhanh, tỷ lệ chết cao từ 30 đến 100% (Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, 2004) [14]

Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện các cục cazein màu vàng, xanh lợn cợn có mủ đôi khi có máu

Viêm vú được chia thành các thể như sau:

Trang 26

úp và cho con bú ít, lợn con bú ít, kêu la, gầy yếu, ỉa chảy

Kiểm tra qua kính hiển vi để tìm vi khuẩn: nếu trong sữa có nhiều liên cầu, tụ cầu trùng và các vi trùng khác có thể xác định là bệnh viêm vú cata có mủ.Chuỗi vi trùng dài hay ngắn phụ thuộc vào thời kì bệnh: bệnh cấp tính thì chuỗi vi trùng ngắn, bệnh mãn tính chuỗi vi trùng dài (Nguyễn Hữu Ninh và

cs, 2002) [19]

- Hậu quả của bệnh viêm vú

Hậu quả của bệnh viêm vú cũng rất nặng nề Nếu viêm vú ở thể nhẹ điều trị kịp thời thì nái nuôi con vẫn bị giảm lượng sữa, còn nếu nặng ở dạng vú hoại tử thì phần lớn các tổ chức ở tuyến vú bị hoại tử do các loại vi khuẩn gây hoại tử xâm nhập qua vết thương Trên mặt da vú có màu hồng tím, sờ thấy cứng con vật đau, tế bào bị hoại tử, mủ và mảnh tổ chức thải ra ngoài hạch lâm ba sưng to, sữa màu hồng nhạt và có mùi hôi thối, có triệu

Trang 27

chứng toàn thân nếu bị huyết nhiễm trùng hay nhiễm mủ thì bệnh khó chữa, con vật có thể chết

Nguyễn Xuân Bình (2000) [2] cũng khẳng định lợn nái mất sữa sau khi

đẻ con kế phát từ viêm vú, viêm tử cung do khi viêm cơ thể mẹ thường hay sốt liên tục 2-3 ngày, mất nước, nước trong tế bào và mô bào bị giảm, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa Khả năng phục hồi chức năng tiết sữa bị hạn chế thường xảy ra ở các lứa đẻ tiếp theo

- Phòng bệnh:

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20] thì công tác phòng bệnh cần phải tiến hành: Vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ 1 tuần trước khi đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20 % sau rửa sạch bằng nước thường Tắm cho lợn nái trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú

Cho nái chửa ăn đúng khẩu phần, đủ dinh dưỡng và dễ tiêu hoá Một tuần trước khi đẻ phải giảm dần khối lượng thức ăn, để tránh hiện tượng sữa quá nhiều, lợn con bú không hết dẫn đến chua tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, phát triển và gây bệnh Lợn nái ăn nhiều thức ăn còn làm cho thai quá

to chèn ép gây đẻ khó Trước khi đẻ 1 ngày phải cho lợn nái nhịn ăn nhưng cho uống nước đầy đủ

Sau khi đẻ lợn con phải được bấm nanh để tránh gây sây sát bầu vú và cho lợn con bú ngay, để giảm sức căng của bầu vú Đồng thời cố định bầu vú cho lợn con để tránh hiện tượng có bầu vú không được bú sẽ gây viêm vú

- Điều trị:

+ Điều trị cục bộ: phong bế giảm đau bầu vú bằng cách chườm nước đá lạnh để giảm sưng, giảm đau, hoặc phong bế bầu vú bằng Novocain 0,25 - 0,5%, mỗi ngày vắt cạn vú viêm 4 - 5 lần tránh lây sang vú khác

+ Điều trị toàn thân: sử dụng một số loại kháng sinh như penicillin, ampicillin, lincomycin, tetramycin… đều đạt kết quả tốt có thể dùng phác đồ tiêm Vetrimoxin LA: 1ml/ 10kg/TT Hoặc Hanoxylin LA tiêm bắp liều

Trang 28

1ml/10kgTT Dùng 1 ngày, nghỉ 1 ngày Điều trị trong 3 - 5 ngày Kết hợp với trợ sức, trợ lực (Công ty cổ phần CP Việt Nam) [3]

+ Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ:

Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu dinh dưỡng của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ

bị suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn đẻ của lợn yếu, thậm chí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy thai ra ngoài

Nguyễn Văn Thanh (2000) [23] cho rằng: lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó

Do cấu tạo các tổ chức phần mền như: cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có những chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn

Hệ thống khung xương chậu hẹp hay bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường hay bị cốt hoá Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn ép tử cung làm tử cung bị xoắn hay vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũng gây khó đẻ

Do rối loạn hoocmone sinh dục cái: kích tố nhau thai Relaxin lúc đẻ tiết

ra ít nên không làm mất lớp canxi ở bất động háng, không giãn dây chằng xương chậu (không sụt mông) hoặc prostagladin tiết ít không đủ gây co bóp

tử cung nên không tống thai ra ngoài được

+ Đẻ khó do nguyên nhân bào thai:

Trang 29

Chiều, hướng, tư thế thai lúc đẻ không bình thường thì các trường hợp lợn con nằm không đúng tư thế:

Bốn chân lợn con hướng về xương sống của mẹ

Lợn con nằm đưa vai ra trước

Lợn con đầu ngước ra sau lưng

Lợn con đầu quẹo sang một bên

Lợn con đưa đầu và bốn chân ra một lượt

Lợn con đầu cúp xuống ngực

Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ

Thai bị dị hình hay quái thai

Hiện tượng đẻ khó do bào thai thường chiếm 3/4 Những nguyên nhân

và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hay kết hợp lại với nhau như bào thai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế của thai không bình thường khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra ngoài được Mặt khác do trong quá trình thủ thuật do không nắm vững thao tác kỹ thuật nên làm cho gia súc

đẻ càng khó khăn thêm như khi tư thế thai không bình thường, mà vẫn kéo thai ra ngoài thì càng làm cho thai bị kẹt chặt

- Hậu quả của hiện tượng đẻ khó

Trang 30

+ Tử cung co bóp mạnh mà thai không ra, thai bị chèn dẫn đến lợn con

bị chết

+ Nếu mổ để lấy bào thai ra ngoài lợn mẹ hay bị chết

+ Gây ra hiện tượng sót con, sót nhau dẫn đến viêm đường sinh dục + Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây sát niêm mạc tử cung hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm Khi niêm mạc

có những vết sẹo sẽ gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ dẫn đến sảy thai, đẻ non thậm chí là vô sinh

- Biện pháp can thiệp

Cần phải chẩn đoán chính xác, can thiệp sớm và can thiệp kịp thời Đối với lợn, nếu được can thiệp kịp thời, sau khi kéo thai bị đẻ khó ra, các thai khác có thể được đẻ bình thường Nếu không để chậm, không những thai bị đẻ khó sẽ chết mà các thai khác cũng có thể bị chết

Thao tác kỹ thuật phải thành thạo, khéo léo, cẩn thận, bình tĩnh và kiên nhẫn để tránh những trường hợp làm tổn thương cơ quan sinh dục

Trước khi tiến hành thủ thuật, nếu dịch thai được đẩy ra ngoài quá sớm, đường sinh dục bị khô, thì phải thụt vào tử cung, âm đạo các loại dịch nhờn như dầu Paraphin, dầu thực vật

2.1.3 Một số hiểu biết về thuốc sử dụng trong đề tài

Theo Bùi Thị Tho (2003) [29], thuốc kháng sinh là những chất hữu cơ

có cấu tạo hoá học phức tạp, phần lớn trong số đó lúc đầu do xạ khuẩn, vi khuẩn

và nấm sản sinh ra Với nồng độ thấp đã có tác dụng (cả in vitro và in vivo) ức chế hay tiêu diệt sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật gây bệnh, nhưng không hay rất ít gây độc cho người, gia súc, gia cầm

Đề giảm bớt thiệt hại do bệnh viêm tử cung và viêm vú gây ra cho người chăn nuôi ở lợn nái, nhiều tác giả đã sử dụng các loại kháng sinh trong nước và ngoại nhập khác nhau và đã cho những kết quả nhất định Trong giới

Trang 31

hạn đề tài này chúng tôi tiến hành với hai loại thuốc Vetrimoxin LA và Hanoxylin LA để điều trị hai bệnh viêm tử cung và viêm vú

* Vetrimoxin LA:

Thuốc của công ty Pháp

Thành phần: Trong 1ml dung dịch Vetrimoxin LA có 150 mg Amoxycillin (dạng muối trihydrate)

Cơ chế tác dụng của Amoxycillin:

Amoxycillin là kháng sinh thuộc nhóm β - lactamin nên có cơ chế tác dụng giống với các kháng sinh trong nhóm

- Amoxycillin ức chế sự tổng hợp Mucopeptide - cấu tạo thành tế bào

vi khuẩn, làm chết vi khuẩn

- Amoxycillin tác động trên cả vi khuẩn Gram (-) và Gram (+) như:

E.coli, Salmonella, Staphylococci, Streptococci, Clostridium, Erysipelathinix

Khi vào cơ thể thú, Amoxycillin phân bố rộng và nhanh chóng vào các

mô (Tissue ), kể cả những vùng máu ít đến như khớp

- Amoxycillin ít bị biến hoá, nên khi bài thải qua thận vẫn còn ở dạng hoạt chất Do đó cũng được khuyến cáo trị các bệnh về niệu dục

Vetrimoxin LA có tác dụng kéo dài đến 48 giờ

* Hanoxylin LA:

Thuốc của công ty dược và vật tư thú y Hanvet

Thành phần: Trong 100 ml dung dịch có 20 gr Oxytetracycllin

Oxytetracycllin là kháng sinh nhóm tetracycllin là các kháng sinh kìm khuẩn (ức chế sự tổng hợp protein cho các vi khuẩn) có hoạt phổ rộng (nhưng hiện nay còn ít tác dụng với các vi khuẩn đường ruột như trực khuẩn E coli

và salmonella), ít độc

Cơ chế tác dụng của Oxytetracycllin:

Trang 32

Oxytetracycllin có tác dụng kháng khuẩn bằng cách gắn vào tiểu phần 30s của ribosom ở những sinh vật mẫn cảm, sau khi gắn vào ribosom Oxytetracycllin ngăn cản Aminoacyl tARN gắn vào phức hợp mARN/ riboxom bằng cách đó nó ngăn cản sự tổng hợp protein của vi khuẩn, làm cho

vi khuẩn không phát triển và nhân lên được Oxytetracycllin có phổ kháng khuẩn rộng với cả vi khuẩn Gr (-) và Gr (+)

Công thức hóa học:

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

- Theo Trương Lăng (2003) [12] cho rằng: Bơm thụt rửa tử cung sau khi đẻ xong bằng thuốc tím 0,1%, hay Rivanol 0,1% Bơm vào tử cung Furazolidol hoặc đặt vào tử cung 4 viên Chloranol / ngày

Tiêm Streptomycin hoặc Penicillin 1 - 2 vạn đơn vị UI/kg TT

- Theo Lê Văn Năm (1997) [17] thì thụt rửa tử cung bằng dung dịch nước muối 1 - 2 % hay Streptocid 1 %, thuốc tím KMnO4 0,05% (các loại thuốc hoà tan trong nước ấm 45 - 50oC) sau đó có thể dùng một số cách sau:

+ Tiêm bắp Canxifort liều 10ml/ngày/2lần/ngày

+ Bơm vào tử cung 1 triệu UI Penicillin hoà tan với 50 ml nước cất, ngày 1 lần cho kết quả tốt

- Phạm Sỹ Lăng và cs (2003) [9] cho rằng: dùng phác đồ điều trị tiêm bắp thịt để điều trị bệnh viêm tử cung: streptomycin 15 - 20 mg/kg dùng liên tục 3 - 4 ngày (cấp tính), 6 - 8 ngày (mãn tính)

Trang 33

- Dùng benzyl Penicillin (procaine ) 1.000.000 UI

Dùng Gentamycin (sulfate) 200.000 UI

Tá dược vừa đủ trong 1 ống 2 gram

Điều trị viêm tử cung ở lợn, bò cho kết quả cao

Dùng viên nén chloteracilin (chcorlidrata) 1gram điều trị nhiễm trùng đường sinh dục sau đẻ như viêm tử cung, lộn tử cung, sát nhau, viêm âm đạo (Nguyễn Hữu Ninh và cs, 2002) [19]

- Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5] cho biết: trước khi đẻ lau, xoa vú

và tắm cho nái Cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau 1h đẻ, bấm nanh lợn con

Chườm nước đá vào bầu vú để giảm sưng, giảm sốt

Tiêm kháng sinh: Penicillin 1,5 - 2 triệu đơn vị với 10ml nước cất tiêm quanh vú Nếu nhiều vú bị viêm thì pha loãng liều thuốc trên với 20 ml nước cất, tiêm xung quanh các vú viêm Tiêm trong 3 ngày liên tục

- Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [22] cho biết: thụt rửa tử cung, âm đạo bằng Rivanol 0,1% hay Chloramphenicol 4% mỗi ngày rửa một lần, mỗi lần 50 – 100 ml (các loại hoà tan trong nước ấm 40 - 450C) sau đó dùng một

số loại thuốc sau:

Tiêm bắp thịt Kanamycin liều 10mg/kg/ngày, chia làm hai lần /ngày, tiêm bắp thịt Gentamycin 4 UI /kg/ngày

Ketomycin bôi ngày 1 - 2 lần kết hợp uống 1 - 2 gram cho 30 - 50 kg

TT liên tục trong 3 - 5 ngày, dùng một trong những thuốc trên đồng thời kết hợp với thuốc bổ trợ VTM C, B, Cafein cho kết quả tốt

- Nguyễn Hùng Nguyệt (2007) [18] cho biết: Điều trị viêm vú bằng phương pháp châm cứu cho kết quả tốt

Bằng châm cứu:

Đơn huyệt: Bách Hội, Dương Minh, Vĩ Căn, Hội Âm, Túc Tam Lý, Hải Môn, Khai Phong

Trang 34

Châm theo phương pháp tả

Thời gian điều trị 7 - 10 ngày liên tục, nghỉ 2 - 3 ngày sau đó tiếp tục điều trị

- Theo Lê Hồng Mận và cs (2004) [14] cho biết:

Chườm đá lạnh vào bầu vú viêm

Tiêm thuốc chống viêm như prednizolon, hydro-cortizone

Dùng novocain tiêm ven tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú và phần sườn của lợn có tiêm nhắc lại sau 1 ngày

Dùng kháng sinh Streptomycin, Penicillin, Ampicillin, Lincomycin, liều đạt trên 200.000 - 500.000 UI mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 - 2 lần/ngày trong 3 - 5 ngày

- Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [8] cho rằng:

Trước khi đẻ, lau vú, xoa vú, tắm cho nái

Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, bấm nanh lợn con Tiêm kháng sinh 1,5 -

2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm trong 3 ngày liền

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Ở Pháp các tác giả Pierre Brouillt và Bernarrd Faroult (2003) [41] đã nghiên cứu và kết luận: điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ cho sữa là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú Nó phải được tiến hành sớm và đạt kết quả, xác định nguyên nhân không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng

Trang 35

mà phải tính đến các chỉ tiêu chăn nuôi và có thể dựa vào các kết quả của phòng thí nghiệm Sự hiểu biết đầy đủ các phương pháp điều trị, nhất là về dược lực học và dược động học cho phép đáp ứng tốt hơn cách điều trị

Popkov (Liên Xô) (1999) [38] đã sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái để điều trị bệnh viêm tử cung đạt kết quả cao

30 - 40ml cho mỗi túi vú Thuốc tiêm vào mỗi thuỳ vú bệnh, sâu 88 - 10cm Dung dịch Novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị Penicillin hay kháng sinh khác Đồng thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong Novocain này, từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần 2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Trúc Anh (2010), Giáo trình Dược lý thú y, Trường Trung cấp Nông Lâm Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dược lý thú y
Tác giả: Nguyễn Trúc Anh
Năm: 2010
2. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng và trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
4. Phạm Tiến Dân (1998), Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm vú đàn lợn nái nuôi tại Hưng Yên, Luận văn Thạc sĩ chăn nuôi, Đại học Nông Nghiệp I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm vú đàn lợn nái nuôi tại Hưng Yên
Tác giả: Phạm Tiến Dân
Năm: 1998
5. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
6.Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm (2003), Giáo trình Truyền giống nhân tạo, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Truyền giống nhân tạo
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
7. Đào Lệ Hằng, Trần Văn Bình, Nguyễn Văn Trí (2008), Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mắn đẻ và phòng trị bệnh thường gặp, Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mắn đẻ và phòng trị bệnh thường gặp
Tác giả: Đào Lệ Hằng, Trần Văn Bình, Nguyễn Văn Trí
Nhà XB: Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2008
8. Hội chăn nuôi Việt Nam (2002), Cẩm nang chăn nuôi gia súc gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi gia súc gia cầm
Tác giả: Hội chăn nuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
9. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2003), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
10. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Thọ (2006), Các bệnh ký sinh trùng và bệnh nội sản khoa thường gặp ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bệnh ký sinh trùng và bệnh nội sản khoa thường gặp ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Thọ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
11. Trương Lăng (2000), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
12. Trương Lăng (2003), Nuôi lợn gia đình, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi lợn gia đình
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
13. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
14. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng (2004), Kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
15. Lê Hồng Mận (2006), Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại và phòng chữa bệnh thường gặp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại và phòng chữa bệnh thường gặp
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
16. Đặng Quang Nam, Phạm Đức Chương (2002), Giáo trình giải phẫu vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giải phẫu vật nuôi
Tác giả: Đặng Quang Nam, Phạm Đức Chương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
17. Lê Văn Năm và cs (1999), Cẩm nang bác sỹ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bác sỹ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm và cs
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
18. Nguyễn Hùng Nguyệt (2007), Châm cứu chữa bệnh vật nuôi, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu chữa bệnh vật nuô
Tác giả: Nguyễn Hùng Nguyệt
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
19. Nguyễn Hữu Ninh và cs (2002), “Bệnh sinh sản gia súc, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh và cs
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
20. Trần Văn Phùng và cs (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng và cs
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
22. Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Phương Song Liên (2002), Phòng và trị một số bệnh thường gặp trong thú y bằng thuốc nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị một số bệnh thường gặp trong thú y bằng thuốc nam
Tác giả: Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Phương Song Liên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Tình hình bệnh sản khoa trên đàn lợn nái tại trại công ty CP mỹ đức hà nội và thử nghiêm phác đồ điều trị
Bảng 4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 52)
Bảng 4.2. Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái của Trại - Tình hình bệnh sản khoa trên đàn lợn nái tại trại công ty CP mỹ đức hà nội và thử nghiêm phác đồ điều trị
Bảng 4.2. Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái của Trại (Trang 53)
Bảng 4.3. Tỷ lệ mắc một số bệnh sản khoa của lợn nái theo giống lợn - Tình hình bệnh sản khoa trên đàn lợn nái tại trại công ty CP mỹ đức hà nội và thử nghiêm phác đồ điều trị
Bảng 4.3. Tỷ lệ mắc một số bệnh sản khoa của lợn nái theo giống lợn (Trang 55)
Bảng 4.4. Tỷ lệ mắc một số bệnh sản khoa ở lợn nái theo lứa đẻ - Tình hình bệnh sản khoa trên đàn lợn nái tại trại công ty CP mỹ đức hà nội và thử nghiêm phác đồ điều trị
Bảng 4.4. Tỷ lệ mắc một số bệnh sản khoa ở lợn nái theo lứa đẻ (Trang 57)
Bảng 4.5. Tỷ lệ lợn mắc một số bệnh sản khoa theo tháng/năm 2014 - Tình hình bệnh sản khoa trên đàn lợn nái tại trại công ty CP mỹ đức hà nội và thử nghiêm phác đồ điều trị
Bảng 4.5. Tỷ lệ lợn mắc một số bệnh sản khoa theo tháng/năm 2014 (Trang 59)
Bảng 4.7. Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị - Tình hình bệnh sản khoa trên đàn lợn nái tại trại công ty CP mỹ đức hà nội và thử nghiêm phác đồ điều trị
Bảng 4.7. Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị (Trang 62)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm