1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn kiểm toán trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngoại thương

97 308 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 11,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiểm toán thực hiện kiểm tra và xác nhận tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính, kiểm tra tuân thủ các thủ tục, nguyên tắc, quy chế Nhà nước trong hoạt động ngoại thương, đánh giá

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G

*************

-ị - '

HOÀNG VĂN TUÊ

' I Ì o

KIỂM T O Á N TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHỨC N Ă N G

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NGOẠI THƯƠNG

Chuyên ngành : Kinh tê thê giới và quan hệ kinh tế Quốc tế

Trang 4

Tới xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sô liệu, kết quả nêu trong Luận văn lờ trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả Luận văn

7ốoàtig (ĩ)ăit Ĩ7uê

Trang 5

Luận văn "KIỂM TOÁN TRONG VIỆC THỤC HIỆN CHỨC N Ă N G QUẢN LÝ N H À

N Ư Ớ C VỀ NGOẠI THƯƠNG" là tác phẩm đẩu tay của tác giả, là kết quở của quá

trình phấn đấu và học tập không ngừng của tác giả, đổng thời cũng là kết quả giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trường Đợi học Ngoại thương Hà Nội, khoa sau Đại học trường Đợi học Ngoại thương, sự động viên và giúp đỡ của bạn bè lẫp cao học 4 trường Đợi học Ngoại thương Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đợi học Ngoại thương, khoa sơn đợi học trường Đại học Ngoại thương, các bạn cùng lẫp cao học 4 trường Đợi học Ngoại thương trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài

Tác giả xin chân thành biết ơn PGS Vũ Hữu Tửu đã tận tình hưẫng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình viết và hoàn chỉnh luận văn Để tỏ lòng biết ơn đối vẫi PGS Vũ Hữu Tửu, tác giả xin chúc thầy giáo luôn mạnh khoe

để tiếp tục hưẫng dẫn, dìu dắt các thế hệ học trò tiếp theo

Tác giả xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Công ty Dược phẩm Hà Tây đã

tạo điều kiện về thời gian và vật chất để tác giả học tập nghiên CÍŨI đề tài

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các anh chị lãnh đạo Cơ quan kiểm toán Nhà nưẫc, Vụ kiểm toán ngân sách Nhà nưẫc đã giúp đỡ tài liệu và động viên tác giả hoàn thành bản luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình nội ngoại và cá bạn bè đã động viên giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn Xin chân thành cảm ơn vợ và các con đã động viên và giành thời gian để tác giả học tập nghiên cưu đê tài

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Văn Tuế

Trang 6

Mục lục Trang

3 Đ ố i tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Nội dung nghiên cứu 3

Chương 1: Khái quát chung về quản lý Nhà nước đối với ngoại thương và 4

vai trò của kiểm toán trong việc thực hiện chức năng quản

lý Nhà nưóc về ngoại thương

1.1 Ngoại thương và quản lý Nhà nước về ngoại thương 4

1.1.1 Ngoại thương và đặc điểm của ngoại thương 5

1 1.2 Tính tất yếu của quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương 5

1.1.3 Các nguyên tởc quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương 7

Ì Ì 4 Nội dung công tác quản lý Nhà nước đối với ngoại thương 8

1.1.5 Các biện pháp chủ yếu trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động 11

ngoại thương

1.2 Vai trò của kiểm toán trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà 13

nước về ngoại thương

Ì 2 Ì Khái niệm và phân loại kiểm toán 13

1.2.2 Vai trò kiểm toán trong quản lý Nhà nước về ngoại thương 15

1.2.3 Kinh nghiệm một số nước trong quản lý Nhà nước về Ngoại thương Í8

bằng biện pháp kiểm toán

Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về ngoại thương bằng biện pháp 21

kiểm toán những năm qua

2 Ì Sự phát triển các hình thức kiểm toán ở VN thời gian gần đây 21

2.1.1 Kiểm toán nội bộ (rong các doanh nghiệp kinh doanh ngoại thương 21

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của loại hình kiểm toán độc lập 24

2.1.3 Địa vị pháp lý của cơ quan kiểm toán Nhà nước trong cơ cấu bộ 32

máy quản lý Nhà nước về hoạt động ngoại thương

2.2 Những thành tựu kiểm toán đối với quản lý ngoại thương 38

2.2.1 Đ ố i với việc phát triển sản xuất kinh doanh ngoại thương 38

2.2.2 Kiểm toán đối với việc thực hiện các quy chế ngoại thương 42

Trang 7

2.3 Những khó khăn trong hoạt động của kiểm toán ở Việt Nam 54

2.3.1 Địa vị pháp lý của kiểm toán Nhà nước và nền tảng pháp luật kinh 54

doanh chưa đầy đủ

2.3.2 Đ ộ i ngũ cán bộ còn yếu về trình độ và thiếu về số lượng 55

2.3.3 Bộ máy kiểm toán Nhà nước chưa hoàn thiện, chưa có bộ phận 56

chuyên ngành kiểm toán đối vói hoạt động ngoại thương như

"Kiểm toán Hải quan" ở một số nước trên thế giới

Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò kiểm toán trong việc thực hiện 57

chức năng quản lý Nhà nước về ngoại thương ở nước ta

3.1.3.Nâng cao địa vị pháp lý của m ỗ i loại hình kiểm toán trong hệ thống 64

quản lý Nhà nước - Đặc biệt là kiểm toán Nhà nước

3.2.1 Sớm hình thành bộ phận kiểm toán Hải quan 66

3.2.2 Hoàn thiện hệ thống kiểm toán theo hướng kiểm toán Nhà nước 71

thực hiện quản lý Nhà nước về hoạt động kiểm toán

3.2.3 Ban hành và hoàn thiện hệ thống chuỗn mực k i ể m toán Việt Nam 73

3.3.3 Thành lập chuyên ngành đào tạo kiểm toán ở các trường đại học 80

kết hợp v ớ i việc đào tạo lại, với chế độ thi tuyển thường xuyên để

lựa chọn và đánh giá tiêu chuỗn kiểm toán viên

Phần k ế t luận g£j Danh m ụ c tài liệu t h a m k h ả o

Trang 8

LỜI NÓI Đ Ầ U

Ị Tính cáp thiết của đề tài:

Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý Nhà

nước đối với ngoại thương là một tất yếu Đ ể thực hiện chức năng quản lý N h à nước

về ngoại thương, cần thiết phải sử dồng cấc công cồ tác động đến hoạt động ngoại thương, đó là các công cồ thuế quan và phi thuế quan Qua đó nhằm làm cho hoạt động ngoại thương đi đúng đường l ố i của Đảng, chính sách và pháp luật của N h à nước, phồc vồ tốt cho việc khai thác có hiệu quả nhất các nguồn lực của đất nước và góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế

Để các chính sách thuế quan và phi thuế quan phát huy đựoc tác dồng cần thiết phải có và thông qua hệ thống các biện pháp như H ả i quan và K i ể m toán Thông qua biện pháp H ả i quan nhằm thực hiện việc giám sát - quản lý đối v ớ i việc chấp hành luật lệ quy định về xuất nhập khẩu và tổ chức thực hiện việc thu các loại thuế -phí có liên quan đến hàng hoa dịch vồ trong hoạt động ngoại thương Sử dồng biện pháp kiểm toán nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động ngoại thương, trong đó có cơ quan H ả i quan các cấp, thực hiện đúng đắn các quy định của Nhà nước Tuy nhiên việc sử dồng biện pháp kiểm toán vào quản lý hoạt động ngoại thương vẫ=i chưa được nhận thức đúng đắn

Ngày nay trong xu thế hội nhập khu vực theo chương trình cắt giảm thuế quan

và tạo điều kiện thuận l ợ i cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, tự do hoa thương mại, hoạt động quản lý Nhà nước đối với ngoại thương bằng công cồ k i ể m toán càng trở nên cần thiết và cấp bách Quản lý Nhà nước bằng kiểm toán nhằm kiểm tra sau đối vói hoạt động ngoại thương của các doanh nghiệp và cơ quan quản

lý hoạt động ngoại thương như cơ quan H ả i quan trong việc chấp hành chính sách ngoại thương, chính sách thuế Do vậy đề tài kiểm toán trong việc thực hiện chức

Hăng quản lý Nhà nước về ngoại thương là cần thiết và cấp bách

Đây là lần đầu tiên ở cấp cao học, đề tài về vai trò quản lý Nhà nước đối với

hoạt động ngoại thương bằng biện pháp kiểm toán được đề cập, qua đó nâng cao nhận thức vai trò của biện pháp kiểm toán và sử dồng có hiệu quả biện pháp này trong quản lý Nhà nước về ngoại thương

Trang 9

2 Múc đích nghiên cáu;

Qua quá trình nghiên cứu đề tài nhằm nêu lên vai trò của biện pháp kiểm toán ương việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ngoại thương Kiểm toán thực

hiện kiểm tra và xác nhận tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính, kiểm tra

tuân thủ các thủ tục, nguyên tắc, quy chế Nhà nước trong hoạt động ngoại thương,

đánh giá tính hữu hiệu và hiệu quả trong hoạt động ngoại thương của các doanh

nghiệp và cơ quan quản lý hoạt động ngoại thương như là cơ quan Hải quan các cấp,

cơ quan thuế và tài chính

Thông qua nghiên cứu đề tài nhằm nêu lên hiện trạng công tác kiểm toán địi với hoạt động ngoại thương trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tính

pháp lý chưa cao của kiểm toán, về đội ngũ cán bộ kiểm toán hạn chế cả về sị lượng

và chất lượng, về xây dựng bộ phận kiểm toán Hải quan

Đồng thời đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý Nhà nước về ngoại thương bằng biện pháp kiểm toán

3 Đỏi tương và phàm vỉ nghiên cứu:

- Địi tượng nghiên cứu: Quản lý Nhà nước về ngoại thương trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN thông qua hiệp pháp kiểm toán

- Phạm vi nghiên cứu: Quản lý Nhà nước về ngoại thương và biện pháp kiểm toán địi với hoạt động ngoại thương ở Việt Nam trong xu thế mở cửa và hội nhập

khu vực

4 Phương pháp nghiên cứu;

Đ ề tài sử đụng các phương pháp sau đây:

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Phương pháp trừu tượng hoa khoa học

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp hệ thịng cấu trúc và phương pháp khác

Trong đó phương pháp luận duy vật biện chứng được coi là phương pháp quan

trọng nhất

Trang 10

5 Nôi dung nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu những vấn đề chung về chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương trong mối liên hệ mật thiết với biện pháp kiểm toán Kết cấu và nội dung bao gồm 3 phần chính: Lời nói đầu, nôi dung, kết luận

Phần nội dung bao gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về quản lý Nhà nước đối với ngoại thương và vai

trò của biện pháp kiểm toán trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về

ngoại thương

Chuông 2: Thực trạng quản lý Nhà nưóc đối với ngoại thương bỉng biện pháp

kiểm toán

Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò kiểm toán trong việc thực hiện chức

năng quản lý Nhà nước về ngoại thương ở nước ta

Đề tài nghiên cứu về vai trò kiểm toán trong hệ thống cơ chế quản lý nền kinh

tế của Nhà nước ta đối vói hoạt động ngoại thương là một vấn đề mới mẻ, phạm trù

kiểm toán mời chỉ xuất hiện và vận dụng ở nước ta cùng với quá trình đổi mới nền

kinh tế Bản thân hoạt động nghiên cứu và áp dụng thực tiễn ngành kiểm toán là quá

trình hoàn thiện dần Do vậy đề tài không thể tránh khỏi thiếu sót và và tác giả

mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp để hoàn thiện hơn nữa

Qua đây tácgiả cũng xin chân thành biết ơn Phó Giáo sư Vũ Hữu Tửu và các thầy cô giáo Truông Đại học ngoại thương đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả

trong quá trình nghiên cứu đề tài Đồng thòi xin chân thành biết ơn các anh chị lãnh

đạo cơ quan Kiểm toán Nhà nước, Vụ kiểm toán ngân sách Nhà nước đã tạo điều

kiện giúp đỡ tác giả nghiên cứu đề tài

Trang 11

Khái quát chung về quản lý Nhà nước đôi với ngoại thương

và vai trò của kiểm toán trong việc thục hiện chức năng

quản lý Nhà nước về ngoại thương

1.1 Ngoai thương và quản lý Nhà nuởc về ngoai thương:

Ị.Ị.Ị Ngoai thưone và dặc điểm của neoaỉ thương

Ngoại thương là sự trao đổi hàng hoa giữa các nước Sự trao đổi đó là một hình thức của m ố i quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuỉt hàng hoa riêng biệt của các quốc gia Ngoại thương là lĩnh vực cực kỳ quan trọng, qua đó một nước tham gia vào phân công lao động quốc tế cùng với các quan

hệ kinh tế đối ngoại khác Ngoại thương không chỉ là một nhân tố bổ xung cho kinh

tế trong nước, m à còn là nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước, thích nghi vói lựa chọn nhân công lao động tối ưu, dựa trên cơ sở những lợi thế so sánh, vừa phải khai thác được m ọ i l ợ i thế của hoàn cảnh chủ quan trong nước phù hợp với x u t h ế phát triển kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế, đồng thời phải tính toán l ợ i t h ế tuông đối có thể giành được và so sánh điều đó với cái giá phải trả Những thuận l ợ i

có thể tạo ra được nhờ tham gia buôn bán và phân công lao động quốc tế bao giờ cũng tăng thêm khả năng phụ thuộc bên ngoài Vì vậy, nói đến phát triển ngoại thương và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác là nói đến khả năng liên kết kinh tế, hoa nhập với kinh tế bên ngoài, đòi hỏi khả năng xử lý thành công m ố i quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Quan hệ thương mại của một nước với nước ngoài là sự tiếp tục trực tiếp các quan hệ sản xuỉt bên trong nước đó Song nó được phát triển trong môi trường khác,

ờ đó thể hiện các quan hệ kinh tế không hoàn toàn giống các quan hệ kinh tế trong nước Sự phát triển các m ố i quan hệ thương mại phù hợp với các m ố i quan hệ trong nước, nhưng lại mang những đặc điểm khác Thị trường thế giới và thị trường dân tộc

là những phạm trù kinh tế khác nhau Vì vậy, các quan hệ kinh tế diễn ra giữa các chủ thể trên thị trường này thực hiện theo những hình thức và phương pháp hoàn toàn không giống nhau

Hoạt động ngoại thương mang một số đặc điểm sau:

Đặc điểm 1: Đ ó là quan hệ trao đổi giữa người sản xuỉt kinh doanh khác nhau của các quốc gia hay vùng lãnh thổ khác nhau Quan hệ đó chỉ có thể duy trì và phát triển trên cơ sở đảm bảo lợi ích chính đáng của nhau

Trang 12

Đặc điểm 2: Giữa các nước có sự khác nhau về nguồn lực và điều kiện sản

xuất, nên hao phí lao động và giá thành sản phẩm khác nhau Việc trao đổi hàng hoa

-dịch vụ giữa các nước phải dựa trên cơ sở giá cả quốc tế [9]

Đặc điểm 3: T u y hướng ra thị trưủng nước ngoài để hoạt động nhưng ngoại

thương là một bộ phận của quá trình tái sản xuất trong nước, nên m ọ i hoạt đông của

nó phải xuất phát từ mục tiêu của nền kinh tế

Ngoại thương thực hiện chức năng lưu thông hàng hoa giữa trong nước v ớ i

nước ngoài V ớ i tư cách là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, ngoại thương

tham gia quá trình tạo vốn cho mở rộng vốn đáu tư trong nước, chuyển hoa giá trị sử

đụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân

được sản xuất trong nước thích ứng với nhu cầu của tiêu dùng và tích Iuỹ, góp phần

nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trưủng thuận lợi cho sản xuất

-kinh doanh phát triển V ớ i tư cách là một ngành -kinh tế đảm nhận khâu lưu thông

hàng hoa giữa trong nước và nước ngoài, thông qua mua bán để nối liền hữu cơ giữa

thị trưủng trong nước với thị trưủng nước ngoài K h i thực hiện chức năng của mình,

ngoại thương luôn coi giá trị sử dụng là mục đích và giá trị chỉ là phương tiện để đạt

mục đích

Trong nền kinh tế thị trưủng theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, với

sự Tham gia của các thành phần kinh tế vào hoạt động ngoại thương phải đảm bảo

dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước, vì quyền lợi của quốc gia và quyền lợi của

chính các doanh nghiệp kinh doanh ngoại thương Sự quản lý thống nhất đó thể hiện

trên các mặt sau:

- Nhà nước là ngưủi duy nhất ban hành các chính sách và giải thích các chính

sách ngoại thương Các chính sách này bắt nguồn từ các bộ luật đã được Quốc hội

thông qua hoặc bắt nguồn từ các hiệp định m à Chính phủ Việt Nam đã ký kết vói các

nước hay tổ chức quốc tế

- Chính phủ thông qua các cơ quan chức năng của mình k i ể m soát hoạt động

ngoại thương của các doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho các hoạt động của họ phù hợp

với mục tiêu đề ra

1.1.2 Tính tất yêu của quản lý Nhà nước đôi vói hoạt đông ngoai thưoiig:

Trong nền kinh tế hàng hoa nhiều thành phần vận động theo cơ c h ế thị trưủng,

mỗi chủ thể kinh doanh, m ỗ i ngành, m ỗ i địa phương đều có l ợ i ích cục bộ của mình

Trang 13

thể nhìn thấy hoặc không nhìn thấy sự v i phạm đến lợi ích của người khác, của cơ sở, ngành, địa phương khác hay của cộng đổng Do đó, tất yếu nảy sinh hiện tượng trong

đó lợi ích của cá nhân hay của bộ phận này tăng lên làm thiệt hại đến lợi ích cá nhân,

bộ phận khác hay của cả cộng đổng, xét trên phạm v i tổng thể nền kinh tế quốc dân Biểu hiện của xu hướng này là các hoạt động kinh tế chổng chéo, cản trở hoặc triệt tiêu lẫn nhau, các quan hệ tỷ lệ kinh tế quốc dân bị phá vỡ, sự phân bố các nguổn lực trở nên bất hợp lý, cơ cấu kinh tế bị đảo lộn [6]

Mặt khác, trước xu thế hội nhập nền kinh tế vào thị trường thế giới ngày càng gia tăng, những diễn biến kinh tế trong từng nước và giữa các nước gây ảnh hưởng rõ rệt đến lợi ích của nhau, đặt m ỗ i doanh nghiệp - m ỗ i ngành - m ỗ i địa phương và cả nền k i n h tế trước những cơ hội mới và những thách thức mới - đó là những thuận l ợ i

và những khó khăn Đ ể ngăn ngừa hay hạn chế, khắc phục những bất lợi, cũng như việc sử dụng, khai thác những tác động có lợi cho nền kinh tế, đòi Hỏi phải có vai trò quản

lý của Nhà nước, m à bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp nào cũng không thể thay thế được Hoạt động ngoại thương là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, là một ngành kinh tế đặc thù, là khâu giao lưu giữa kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, gắn thị trường trong nước với thị trường nước ngoài, tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế và khai thác sao cho có hiệu quả nhất các nguổn lực của đất nước phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoa, hiện đại hoa đất nước Do đó cần thiết phải

có sự quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương

Quản lý Nhà nước về kinh tế nói chung, đối với ngoại thương nói riêng bao gổm nhiều hình thức khác nhau như là điều tiết, khống chế, định hướng bằng pháp luật, bằng các đòn bẩy kinh tế với tư cách là chủ thể của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, là đòi hỏi khách quan, là nhu cầu nội tại của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và mở rộng quan hệ quốc tế - đi vào thị trường thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và kinh tế, thì càng đòi hỏi sự quản lý của N h à nước Ngoại thương là một ngành k i n h tế tổng hợp C ó quản lý được nó m ớ i có thể tác động đến các ngành k i n h tế khác về phát triển nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải T h ậ m chí ngoại thương lại là chan tay, anh em v ớ i ngành ngoại giao C ó quản lý ngoại thương m ớ i có thể có tác động đến chính sách đối ngoại,

đến bộ mặt quốc gia Vì vậy quản lý ngoại thương là quan trọng đ ố i v ớ i toàn bộ

liền k i n h t ế quốc dân, đến k i n h tế trong nước và k i n h tế ngoài nước

Trang 14

1.1.3 Các nguyên tắc quản lý Nhà nước đôi vói hoạt đông ngoai thương:

Nguyên tắc quản lý Nhà nước là tư tưởng chỉ đạo hành động của tổ chức và hoạt động quản lý Nhà nước xã hội chủ nghĩa, đó là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành v i m à các cơ quan quản lý Nhà nước phải tuân thủ trong quá trình quản lý kinh tế nói chung và quản lý ngoại thương nói riêng Các nguyên tắc đó do con người đặt ra trên cơ sở những yêu cầu khách quan về tính phù hợp với mốc tiêu quản lý, phản ánh đúng tính chất và quan hệ quản lý, đảm bảo tính hệ thống - nhất quán và bằng pháp luật

Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước quản

lý nền kinh tế nói chung và ngoại thương nói riêng bằng pháp luật, bằng chính sách và các công cố khác - nhằm làm cho ngoại thương đi đúng hướng, phát huy vai trò tích cực, hạn chế và ngăn ngừa những tiêu cực của thị trường trong và ngoài nước Nguyên tấc quản lý Nhà nước là nguyên tắc tập trung dân chủ, hình thức quản lý là phát huy vai trò của hạch toán kinh tế, phương thức quản lý bằng hệ thống các công cố vĩ m ô Theo quan điểm hiện nay của Đảng ta có các nguyên tắc quản lý Nhà nước về

k i n h tế bao gồm :

- Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế

- Tập trung dân chủ

- Kết hợp hài hoa các loại lợi ích

- Hiệu quả và tiết kiệm

Nội dung nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế là :

+ Phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ngoại thương và quản

lý hoạt động kinh tế

+ Phải phát huy vai trò điều hành, quản lý của N h à nước, N h à nước phải biến đường lối, chủ trương của Đảng thành k ế hoạch chống nguy cơ tốt hậu và tạo đà phát triển về kinh tế so với các nước trong k h u vực và trên thế giới Đ ồ n g thời dùng quyền lực của mình để hoàn chỉnh hệ thống pháp luật làm cho pháp luật được nghiêm minh

Nội dung nguyền tắc tập trung dân chủ là Nhà nước thống nhất quản lý hoạt

động kinh tế thông qua hệ thống pháp luật và chính sách k i n h tế Đ ồ n g thời m ở rông phạm v i , trách nhiệm quyền hạn của các cấp các ngành trên cơ sở phân cấp quản lý một cách hợp lý

Trang 15

Nội dung nguyên tắc kết họp hài hoa các loại lợi ích là phải đảm bảo kết hợp

lợi ích cộng đồng với lợi ích của bên nước ngoài, kết hợp với lợi ích tập thể, lợi ích cá nhan và lợi ích Nhà nước, kết hợp giữa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài trên cơ sờ thực hiện chế độ hạch toán kinh tế và vận dụng các chính sách đòn bẩy kinh tế

Nội dung nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả chính là đạt được kết quả cao nhặt

trong phạm v i có thể được, trên cơ sở khai thác đúng đắn hợp lý các nguồn lực của đặt nước, động viên các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh, thực hiện đáy đủ chế độ hạch toán kinh tế và kiểm tra - kiểm soát chặt chẽ nguồn tài chính của các cơ quan và

cơ sở kinh doanh, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý hoạt động ngoại thương

Các nguyên tắc quản lý Nhà HƯỚC đối với hoạt động ngoại thương cũng đã

được ban hành cụ thể trên cơ sở những nguyên tắc quản lý Nhà nước về kinh tế nói chung và đã được pháp luật hoa Trong điều 3 - chương Ì của Nghị định 33/CP ngày 19/4/1994 của Chính phủ về quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuặt khẩu, nhập khẩu đã qui định rõ :

"Điều 3 : Việc quản lý Nhà nước đối với các hoạt động xuặt khẩu, nhập khẩu được thực hiện theo các nguyên tắc :

Ì- Tuân thủ luật pháp và các chính sách có liên quan của Nhà nước về sản xuặt, lưu thông và quản lý thị trường

2- Tôn trọng các cam kết với nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế

3- Đ ả m bào quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp và đảm bảo sự quản lý của Nhà nước." [14]

1.1.4 Nôi dung công tác quản lý Nhà nước đôi vói ngoai thương

N ộ i dung quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương chính là việc Nhà nước và các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý của mình Với các chức năng chủ yếu sau đây :

- Tạo môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, điều kiện trong và ngoài nước một cách thuận lợi cho hoạt động kinh doanh ngoại thương thông suốt giữa trong và ngoài nước, khai thông các quan hệ bang giao, làm chỗ dựa cho các tổ chức và cá nhan kinh doanh ngoại thướng, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết cho kinh tế ngoại thương phát triển

Trang 16

- Xác định hành lang pháp lý cho các hoạt động ngoại thương, trong phạm v i

đó các tổ chức kinh doanh ngoại thương được quyền tự do hoạt động trên nguyên tắc được làm những gì pháp luật không cấm và những gì không trái với pháp luật

- Nhà nước thực hiện quản lý ngoại thương bằng quyền lực của mình, bằng hệ

thọng pháp luật, thiết lập cơ chế kiểm tra, kiểm soát hoạt động ngoại thương, định ra

những chế tài hữu hiệu đảm bảo trật tự - kỷ cương trong kinh doanh ngoại thương theo cơ chế mới, Nhà nước thực hiện việc kiểm tra m ọ i tổ chức kinh doanh ngoại thương Các tổ chức kinh doanh ngoại thương thuộc các thành phần kinh tế có tư cách pháp nhân và bình đẳng với nhau trong kinh doanh ngoại thương theo pháp luật của Nhà nước, chịu sự kiểm tra của cơ quan Nhà nước trong việc chấp hành pháp luật Xét theo giai đoạn tác động, quản lý Nhà nước về ngoại thương bao gồm các chức năng sau :

- Nhà nước định hướng phát triển kinh tế ngoại thương, xây dựng k ế hoạch phát triển ngoại thương

- Thiết lập khuôn k h ổ pháp luật về kinh tế nói chung và ngoại thương nói riêng Tạo ra và thực hiện hệ thọng pháp luật đồng bộ - trong đó có pháp luật về kinh

tế - ngoại thương, làm cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại thương và thực hiện quản lý của Nhà nước đọi với ngoại thương

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thọng các chính sách ngoại thương, các công cụ

và đòn bẩy kinh tế đọi với hoạt động ngoại thương

- Tổ chức và điều hành hệ thọng kinh doanh ngoại thương trong toàn bộ hệ thọng nền kinh tế quọc dân

- Thực hiện kiểm tra, kiểm soát hoạt động ngoại thương, nhằm làm cho hoạt

động ngoại thương đi đúng định hướng và k ế hoạch đã định ra Qua việc kiểm tra, kiểm soát để kịp thời phát hiện những sai sót, ách tắc và khó khăn trong kinh doanh ngoại thương, phát hiện các cơ hội cho sự phát triển ngoại thương

Nội dung cụ thể bao gồm :

+ K i ể m tra, kiểm soát tình hình thực hiện k ế hoạch của các cấp, các ngành + K i ể m tra, kiểm soái việc sử dụng các nguồn lực của đất nước

+ K i ể m tra, kiểm soát việc thực hiện các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực quản lý hoạt động ngoại thương

Trang 17

- Điều chỉnh hoạt động ngoại thương Đ ó là những tác động bổ xung của Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương để sửa chữa những sai sót đã phát hiên qua kiểm tra, giám sát, tận dụng các thời cơ có lợi để phát triển ngoại thương và kinh tế đất nước Việc điều chỉnh này thông qua các công cụ và chính sách quồn lý của Nhà nước

Chức năng quồn lý Nhà nước về ngoại thương đã được cụ (hể hoa trong Luật Thương mại đã được Quốc hội thông qua ngày 10/5/97 như sau: [10]

"Theo Điều 244 - Quồn lý Nhà nước về thương mại :

Nhà nước thống nhất quồn lý về thương mại bằng pháp luật, chính sách, chiến lược, qui hoạch và k ế hoạch phát triển thương mại

Nhà nước điều tiết hoạt động thương mại chủ yếu bằng biện pháp kinh tế và các công cụ giá cồ, tài chính, tín dụng

Theo Điều 245 - N ộ i dung quồn lý Nhà nước về thương mại :

Nội dung quồn lý Nhà nước về thương mại gồm :

Ì- Ban hành các văn bồn pháp luật về thương mại, xồy đựng chính sách, chiến lược, quy hoạch, k ế hoạch phát triển thương mại

2- Tổ chức đăng ký kinh doanh thương mại

3- Tổ chức thu nhập, xử lý, cung cấp thông tin, dự báo và định hướng về thị trường trong nước và ngoài nước

4- Hướng dẫn tiêu đùng hợp lý, tiết kiệm

5- Điều tiết lưu thông hàng hoa theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và theo qui định của pháp luật

6- Quồn lý chất lượng hàng hoa lưu thông trong nước và hàng hoa xuất nhập khẩu 7- Tổ chức, hướng dẫn các hoạt động xúc tiến thương mại

8- Tổ chức và quồn lý công tác nghiên cứu khoa học thương mại

9- Đào tạo và xây đựng đội ngũ cán bộ hoạt động thương mại

10- K ý kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế về thương mại

11 - Đ ạ i diện và quồn lý hoạt động thương mại của Việt Nam ở nước ngoài 12- Hưóng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, qui hoạch, k ế hoạch phát triển thương mại và việc chấp hành pháp luật vế thương mại; xử lý v i phạm pháp luật về thương mại, tổ chức việc đấu tranh chống buôn lậu, buôn bán hàng cấm

Trang 18

buôn bán hàng giả, đầu cơ lũng đoạn thị trường, kinh doanh trái phép và các hành vi khác vi phạm pháp luật về thương mại

Theo Điều 246 - C ơ quan quản lý Nhà nước về thương mại :

Ì- Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về thương mại

2- Bộ Thương mại chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý Nhà nước về thương mại

3- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm v i nhiệm

vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý Nhà nước về thương mại đối với lĩnh vực được phân công phụ trách."

1.1.5 Các biên pháp chủ yêu trong quản lý Nhà nước dối vói hoạt đóm ngoai thương

Để thực hiện chồc năng quản lý của mình, Nhà nước sử dụng nhiều phương

pháp và các biện pháp này mang tính hệ thống và có m ố i quan hệ chặt chẽ với nhau, bao gồm các nhóm phương pháp chủ yếu sau :

- Các phương pháp hoạch định : thông qua việc xác định phương thồc, mục tiêu, chiến lược, kế hoạch phát triển ngoại thương trong từng giai đoạn phát triển đất nước

- Các phương pháp hành chính : là các nhóm phương pháp tác động trực tiếp bằng các quyết định mang tính bắt buộc của Nhà nước lên đối tượng và khách thể Theo hướng tác động về mặt tổ chồc, Nhà nước không ngừng hoàn thiện khung pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý cho các chủ thể kinh doanh hoạt động trong môi trường

an toàn và trật tự Các chủ trương chính sách có tầm vóc lớn và dài hạn của Nhà nước đều được thể chế hoa bằng các đạo luật do Quốc hội thông qua nhằm đảm bảo chúng được chấp hành nhất quán Ban hành những văn bản quy định về qui m ô , cơ cấu, điều

lệ hoạt động, tiêu chuẩn thiết lập tổ chồc và xác định m ố i quan hệ hoạt động của đối tượng quản lý, qui định những thủ tục hành chính buộc tất cả các chủ thể từ cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp đều phải tuân thủ Những công cụ này giúp Nhà nước cu thể hoa khung pháp luật và các k ế hoạch hướng dẫn thị trường, tác động trực tiếp vào các chủ thể như thủ tục xét duyệt cấp giấy phép kinh doanh thành lập doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, đăng ký chất lượng và nhãn hiệu hàng hoa, thủ tục cấp phép xuất nhập khẩu

- Các phương pháp kinh tế : là các biện pháp tác động vào đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế, để cho đối tượng bị quản lý lụa chọn phương án hoạt động

có hiệu quả

Trang 19

Đương nhiên các phương pháp có hiệu quả cao k h i đồng thời được vận dụng trong quá trình quản lý Nhà nước đối với ngoại thương một cách tổng hợp và bằng nhiều loại công cụ tác động lên đối tượng quản lý là hoạt động ngoại thương Trong

đó các công cụ chủ yếu là thuế quan và phi thuế quan Bao gồm :

- Công cụ thuế quan : bao gồm thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu

T h u ế quan nhập khẩu là loại thuế đánh vào số lượng hoởc trị giá hàng hoa nhập khẩu, theo đó người mua phải nộp cho ngan sách Nhà nước m ộ t khoản tiền tính theo

số lượng hoởc trị giá hàng hoa nhập khẩu T h u ế quan là công cụ lâu đời nhất và là phương tiện truyền thống để tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước T h u ế quan nhập khẩu tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước m ở rộng sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh và tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Vì vậy thuế nhập khẩu được áp dụng phổ biến ở các nước với mức thuế khác nhau T u y nhiên cần lưu ý là thuế nhập khẩu làm cho giá hàng hoa trong nước vượt cao hơn mức giá quốc tế và người tiêu dùng phải gánh chịu, dẫn đến giảm cầu tiêu dùng và góp phần hạn chế nhập khẩu Ngày nay, trong x u thế hội nhập khu vực và v i ệ t Nam đã tham gia vào khối ASEAN, (ham gia xây dựng Hiệp ước khu vực mậu dịch tự do A F T A và thực hiện Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung CEPT, cũng như các Hiệp định thương mại song phương với các nước khác, việc cắt giảm thuế quan là một xu thế tất yếu Do vậy, đối với hàng hoa nhập khẩu ngoài biểu thuế nhập khẩu còn có thuế tiêu thụ đởc biệt và thuế giá trị gia tăng [8]

T h u ế tiêu thụ đởc biệt là loại thuế gián thu đánh vào một số loại hàng hoa, địch

vụ thuộc đối tượng chịu thuế m à Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng Đ ố i với hàng nhập khẩu thì đối tượng nộp thuế là nhà nhập khẩu, đối tượng chịu thuế là hàng nhập khẩu và giá tính thuế : "2 Đ ố i với hàng hoa nhập khẩu là giá tính thuế nhập khẩu cộng thuế nhập khẩu" (Điều 6 chương l i Luật T h u ế tiêu thụ đởc biệt, ngày 20/5/1998) [12]

"Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoa, dịch vụ phát sinh trong quá trình tái sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng" (Luật T h u ế giá trị gia tăng, điều Ì chương ì) Đ ố i tượng chịu thuế là toàn bộ hàng hoa dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam V à giá tính thuế "2 Đ ố i với hàng hoa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu" (Điều 7 chương l i Luật

T h u ế giá trị gia tăng) Hàng hoa diên chịu thuế tiêu thụ đởc biệt không phải nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu đã chịu thuế tiêu thụ đởc biệt [ l i ]

- Công cụ phi thuế quan: bao gồm các công cụ như là hạn ngạch, những qui

định về tiêu chuẩn kỹ thuật, trợ cấp xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyên

Trang 20

Hạn ngạch là công cụ phổ biến trong hàng rào phi thuế quan Hạn ngạch là q u i định của Nhà nước về số lượng hoặc trị giá của mặt hàng hay một nhóm hàng được phép xuất hay nhập khẩu từ một thị trường trong một thời gian nhất định, thông qua hình thức cấp giấy phép

Đ ả thực hiện các công cụ của chính sách quản lý ngoại thương và các phương pháp quản lý Nhà nước về ngoại thương, cần thiết phải sử dụng các biện pháp tương ứng, trong đó biện pháp hải quan là chủ yếu đả trực tiếp giám sát, quản lý hàng hoa d i chuyản qua biên giới và biện pháp kiảm toán nhằm xác nhận tính hợp lý, chân thực cùa tài liệu có liên quan đến hoạt động ngoại thương, góp phần lập lại trật tự, kỷ cương trong kinh doanh xuất nhập khẩu

Hải quan là tổ chức Nhà nước được giao nhiệm vụ giám sát quản lý hàng hoa,

phương tiện vận tải, hành lý trong quá trình di chuyản ngang qua biên giới quốc gia Hải quan thực hiện các chức năng chủ yếu sau đây :

+ Giám sát, quản lý hàng hoa, công cụ vận tải, hành lý, ngoại hối đi ngang qua biên giới quốc gia

+ Thu thuế xuất nhập khẩu cho ngan sách Nhà nước Bao gồm thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng của hàng hoa xuất nhập khẩu

+ Thống kê hải quan

+ Chống buôn lậu và gian lận trong thương mại

Đ ả thực hiện các công trình trên, Nhà nước đã cho phép tiến hành k i ả m toán m à chúng ta sẽ nghiên cứu dưới đây

T ó m lại quản lý N h à nước đối v ớ i ngoại thương là một tất yếu, v ớ i các chức năng tạo môi trường pháp lý và định hướng phát triản ngoại thương đồng thời thực hiện kiảm tra giám sát đối v ớ i hoạt động ngoại thương Đ ả thực hiện chức năng quản lý giám sát, Nhà nước sử dụng tổng hợp nhiều loại công cụ như H ả i quan,

K i ả m toán

1.2 Vai trò của kiảm toán trong việc thúc hiên chức năng quản lý Nhà nưức

về ngoai thương

1.2.1 Khái niêm và phân loai kiểm toán

Kiảm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thả định lượng được của một đơn vị cụ

Trang 21

thể, nhằm mục đích xác nhân và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập."[7]

Khái niệm trên bao gồm một số nội dung cụ thể :

- Các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền : các chuyên gia này có thể là k i ể m toán viên độc lập, kiểm toán viên nội bộ hay kiểm toán viên N h à nước T u y có những đặc điểm khác nhau, song các kiểm toán viên phải là những nguôi độc lập và có thẩm quyền đối với đối tượng được kiểm toán K i ể m toán viên cởn phải độc lập về kinh tế

và độc lập về tình cảm với lãnh đạo đơn vị được kiểm toán T u y nhiên, tính độc lạp không phải là khái niệm tuyệt đối, nhưng nó phải là mục tiêu hướng tới và phải đạt được ở mức độ nhất định nào đó

- Thu thập và đánh giá các bằng chứng : bằng chứng được định nghĩa một cách chung nhất là m ọ i thông tin m à kiểm toán viên đã thu thập để xác định các thông tin

có thể định lượng được của một đơn vị có được trình bày và báo cáo phù hợp với các chuẩn mực được xây dựng hay không Quá trình kiểm toán thực chất là quá trình kiểm toán viên sử dụng các phương pháp, kỹ thuật kiểm toán để thu thập và đánh giá các bằng chứng cho mục đích trên

- Các thông tin có thể định lượng : các thông tin có thể định lượng của một đơn

vị bao gồm nhiều dạng khác nhau Đ ó có thể là các thông tin trong báo cáo tài chính doanh nghiệp hay đơn vị sự nghiệp, quyết toán một hợp đồng xây dựng của Nhà nước hay bản kê khai thuế của một tổ chức kinh doanh có thể phải k i ể m tra

- Các chuẩn mực đã được xay dựng và thiết lập : các chuẩn mực này là cơ sở để đánh giá các thông tin Các chuẩn mực này rất phong phú, đa dạng tuy thuộc chức năng từng cuộc, từng loại kiểm toán Thông thường các chuẩn mực này là các qui định trong các vãn bản pháp luật về các lĩnh vực khác nhau, các tiêu chuẩn, định mức, các chuẩn mực k ế toán của m ỗ i quốc gia Các chuẩn mực được lựa chọn và sử dụng tuy thuộc mục tiêu của cuộc kiểm toán

- Đơn vị được kiểm loàn : trong bất cứ một cuộc kiểm toán nào, phạm v i trách nhiệm của kiểm toán viên cũng được xác định một cách rõ ràng, trước hết là đ ố i tượng kiểm toán, nghĩa là đơn vị được kiểm toán Đ ơ n vị được k i ể m toán có thể là mội doanh nghiệp, một bộ phận doanh nghiệp, thậm chí một cá nhân, có thể là một ngành hay một bộ phận trong ngành

- Báo cáo kết quả : khâu cuối cùng của quá trình k i ể m toán là báo cáo kết quả kiểm toán T u y thuộc vào loại kiểm toán m à báo cáo k i ể m toán có thể khác nhau, nhưng trong m ọ i trường hợp chúng đòi phải thông tin cho người đọc về mức độ tương

Trang 22

quan và phù hợp giữa các thông tin có thể định lượng của một đơn vị và các chuẩn mực đã được xây dựng

Theo chức năng, kiểm toán bao gồm 3 loại : kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân (hủ và kiểm toán báo cáo tài chính

- K i ể m toán hoạt động (Operational Audit) : là việc kiểm toán để đánh giá tính hữu hiệu và tính hiệu quả trong hoạt động của bộ phận hay (oàn bộ một tổ chức, một đơn vị

- K i ể m toán tuân thủ (Compliance A u d i t ) : Mục đích là xem xét bên được k i ể m toán có tuân thủ các thủ tục, nguyên tớc, quy chế m à cơ quan có thẩm quyền cấp trên hoặc cơ quan chức năng của Nhà nước đã đề ra Loại kiểm toán này còn gọi là kiểm toán tính quy tớc (Regularity Audit) : như là kiểm toán thuế về việc tuân thủ các luật thuế ở các đơn vị, kiểm toán của cơ quan chức năng của Nhà nước đối với các doanh nghiệp Nhà nước về việc chấp hành chính sách, chế độ, quy định về mặt pháp lý

- K i ể m toán báo cáo tài chính (Audit o f íinanciãl statements) : là việc k i ể m tra

và xác nhận tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính cũng như báo cáo tài chính

có phù hợp với các nguyên tớc, chuẩn mực k ế toán được thừa nhộn

Theo chủ thể kiểm toán có kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập và K i ể m toán Nhà nước

- K i ể m toán nội bộ (Internal Audit) : là loại kiểm toán do các k i ể m toán viên nội bộ của đơn vị tiến hành, nhằm kiểm tra - đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống k ế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, cũng như chất lượng thực thi những trách nhiệm được giao

- K i ể m toán độc lập (Independent A u d i t ) : là loại hoạt động dịch vụ tư vấn do các kiểm toán viên thuộc các Công ty, văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp thực hiện, lĩnh vực chù yếu là kiểm toán báo cáo tài chính

- K i ể m loàn Nhà nước (Govemment A u d i t ) là loại kiểm toán do cơ quan K i ể m toán Nhà nước tiến hành theo luật định K i ể m toán Nhà nước tiến hành k i ể m toán tuân thủ, việc chấp hành chính sách luật lệ và chế độ của Nhà nước tại các đơn vị có liên quan đến quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung của Nhà nước

1.2.2 Vai trò kiểm toán trong quản lý Nhà nước vế ngoai thương:

Vai trò kiểm toán trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối v ớ i ngoại thương xuất phát từ chức năng vốn có của k i ể m toán, đó là chức năng xác minh

và bày tỏ ý kiến

Trang 23

Chức năng xác minh của kiểm toán là khẳng định mức độ hợp lý - hợp pháp của các tài liệu, cũng như quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế hay quá trình lập các báo cáo tài chính Đây là chức năng cơ bản gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của hoạt động kiểm toán

Chức năng bày tỏ ý kiến dựa trên cơ sấ chức năng xác minh để đánh giá - nhận xét và đưa ra ý kiến của mình Những đánh giá - nhận xét và ý kiến của kiểm toán là

cơ sờ để các cấp quản lý lấy làm căn cứ xác định hướng dẫn điều chỉnh đối với đối tượng kiểm toán Tùy theo loại hình kiểm toán, theo địa vị kiểm toán đã được pháp luật thừa nhận m à kiểm toán thực hiện vai trò của mình

- K i ể m toán Nhà nước "giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu k ế toán, báo cáo quyết toán của cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế Nhà nước và các đoàn thể quan chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước cấp" (Điều 1) [15]

" K i ể m toán Nhà nước thực hiện việc kiểm toán tài liệu, số liệu k ế toán, báo cáo quyết toán ngân sách của các Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trước k h i (rình ra H ộ i đồng nhân dân và tổng quyết toán ngân sách nhà nước của Chính phủ trước khi (rình Quốc hội báo cáo quyết toán của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan thuộc Quốc hội, Tòa án Nhân dân, V i ệ n k i ể m sát Nhân dân, các đơn vị sự nghiệp công, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí Nhà nước, báo cáo quyết toán của các chương trình dự án, các công

trình đẩu tư của Nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước " (Điều 2 Chương ì

-Điều lộ tổ chức và hoạt động của K i ể m toán Nhà nước) [18]

K i ể m toán Nhà nước "Báo cáo kết quả kiểm toán cho Thủ tướng Chính phủ và cung cấp kết quả kiểm toán cho các cơ quan Nhà nước khác

"Nhận xét , đánh giá vờ xác nhận việc chấp hành các chính sách, c h ế độ tài

chính, kế toán về sự chính xác, trung thực, hợp pháp của các tài liệu, số liệu k ế toán, báo cáo quyết toán đã được kiểm toán và chịu sự trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung đã nhận xét, đánh giá và xác nhận"

"Thông qua việc kiểm toán, góp ý kiến với các đơn vị được k i ể m toán sửa chữa những sai sót, v i phạm để chấn chỉnh công tác quản lý tài chính, k ế toán của đơn v i

K i ế n nghị với cấp có thẩm quyền xử lý những v i phạm chế độ tài chính, k ế toán Nhà nước; đề xuất với T h ủ tướng Chính phủ việc sửa đổi cải tiến cơ chế quản lý tài chính

k ế toán cấn thiết" (Điều 4 - Điều lệ tổ chức và hoạt động của K i ể m toán N h à nước)

Trang 24

- "Kiểm toán độc lập là kiểm tra và xác nhận của k i ể m toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn, hợp lý của các tài liệu,

số liệu k ế toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội (gọi tắt là các đơn vị kế toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này

"Sau khi có xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp, thì các tài liệu, số liệu

k ế toán và báo cáo quyết toán của các đơn vị k ế toán là căn cứ cho việc điều hành, quản lý hoạt động ở đơn vị, cho các cơ quan quản lý cụp trên và các cơ quan tài chính Nhà nước xét duyệt quyết toán hàng năm của các đơn vị k ế toán , cho các cơ quan thuế tính toán số thuế và các khoản nộp khác của đơn vị đối với ngân sách Nhà nước, cho các cổ đông, các nhà đầu tư, các bên tham gia liên doanh, các khách hàng và các

tổ chức, cá nhân xử lý các m ố i quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan trong quá trình hoạt động của đơn vị"

"Hoạt động K i ể m toán độc lập còn giúp các đơn vị k ế toán phát hiện và chụn chỉnh kịp thời các sai sót do vô tình hay cố ý, phòng ngừa các v i phạm và thiệt hại có thể xảy ra trong kinh doanh và sử đụng kinh phí " (Điều Ì - Quy c h ế k i ể m toán độc lập (rong nền kinh tế quốc dân) [16]

- K i ể m toán nội bộ là tổ chúc kiểm toán được thành lập trong từng ngành, từng

Bộ, từng đơn vị Đ ó là công việc do những nhân viên chuyên trách và có trình độ nhụt định về kế toán, kiểm toán tiến hành trong các doanh nghiệp hoặc các đơn vị nhằm kiểm tra tình hình thực hiện các quy chế nội bộ, tiến hành thực thi công tác k ế toán tài chính, cung cụp các thông tin cần thiết cho lãnh đạo đơn vị K i ể m toán n ộ i bộ góp

phần làm lành mạnh hóa tình hình tài chính đơn vị và là cơ s ở đáng tin cậy của K i ể m toán Nhà nước k h i tiến hành kiểm toán đơn vị

Như vậy kiểm toán là công cụ không thể thiếu trong quản lý Nhà nước đối v ớ i nền kinh tế quốc dân phát triển theo cơ chế thị trường có định hướng của nhà nước Hoạt động ngoại thương là một lĩnh vục quan trọng, tiếp tục quá trình lưu thông hàng hóa giữa trong nước với thị trường nước ngoài là quá trình tiếp tục và là một khâu quan trọng của tái sản xuụt xã hội, cũng chịu sự quản lý của Nhà nước và trong đó có

sự tham gia của ngành kiểm toán Vơi trò kiểm toán trong quàn lý Nhà nước đối với

hoạt dộng ngoại thương thể hiện cụ thể qua quá trình kiểm toán tuân thít luật phái? và chính sách chế độ về ngoại thương, kiểm toán tính hiệu quả hoạt động của các tổ chức

T H Ư Viên

NGOAI THUCí.U

XÚC tiến - h ỗ trợ hoạt động ngoại thương cả ở trong và ngoài i j ^KỊ^ẽHáíf - f e á © - e é »

tài chính của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ìl gòĩiĩ thương

ngành, các tố chức tham gia quản lý hoạt động ngoại thương

Trang 25

Các cơ quan quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương như là Bộ thương mại và các tổ chức xúc tiến thương mại ở trong và ngoài nước, Bộ k ế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan thường có bộ phận kiểm toán nội bộ và được kiểm toán bởi K i ể m toán Nhà nước Trong đó chủ yếu là ngành H ả i quan và có liên quan đến việc chặp hành pháp luật về thuế xuặt nhập khẩu, luật thuế giá trị gia tăng và luật thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa xuặt nhập khẩu Các doanh nghiệp tham gia hoạt động ngoại thương thường có bộ phận kiểm toán n ộ i bộ và thực hiện kiểm toán bởi cơ quan K i ể m toán Nhà nước và hoặc tổ chức kiểm toán độc lập liên quan đến báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp hoạt động ngoại thương, đến việc tuân thủ chính sách ngoại thương và các luật thuế có liên quan hoạt động ngoại thương, đến tính hiệu quả trong kinh doanh ngoại thương

T ó m lại K i ể m toán là một công cụ thực hiện chức năng kiểm tra giám sát của Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương nhằm đánh giá những hiệu quả trong hoạt động ngoại thương, kiểm tra việc chặp hành các nguyên tắc, quy chế và pháp luật trong kinh doanh Ngoại thương, kiểm tra và xác nhận tính trung thực hợp lý của các tài liệu chứng từ và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp kinh doanh Ngoại thương, của cơ quan Hải quan và cơ quan thuế các cặp Thực hiện chức năng kiểm tra giám sát của mình kiểm toán thực hiện kiểm tra và xác minh tính chặt hợp lý, hợp lệ của các chứng từ trong kinh doanh Ngoại thương và của các báo cáo tài chính Các công việc kiểm tra và giám sát của kiểm toán đối với ngoại thương chủ yếu được thực hiện bởi cơ quan kiểm toán Nhà nước

1.2.3 Kinh nghiêm mót sô nước trong quản lý Nhà nước vé Ngoai thương bằng biên pháp kiểm toán

K i ể m toán Nhà nước của Cộng hoa Liên bang Đ ứ c ra đời cách đây 280 năm với tư cách là một thể chế độc lập về kiểm tra tài chính, là cơ quan kiểm toán tối cao độc lập với cả Quốc hội và Chính phủ K i ể m toán Nhà nước Liên Bang và k i ể m toán Nhà nước các Bang đều có vị trí pháp lý rặt cao, được hiến pháp, Luật Ngân sách Nhà nước, luật cơ quan K i ể m toán Nhà nước Liên bang quy định ở các doanh nghiệp ngoại thương, trong nội bộ có kiểm toán nội bộ, đồi khi có kiểm toán độc láp hoặc kiểm toán Nhà nước tiến hành kiểm ưa việc chặp hành chính sách và pháp luật ngoại thương

C ơ quan k i ể m toán Nhà nước Trung Quốc ra đời năm 1983 nhưng đã có vị trí pháp lý cao và vững chắc, được Hiến pháp và Luật Ngân sách Nhà nước quy định đồng thời có Luật k i ể m toán nước Cộng hoa nhân dân Trung Hoa xác định Đ ặ c điểm

cơ quan kiểm toán Nhà nước Trung Quốc là thành viên của Chính phủ và là cơ quan cùa Quốc vụ viện Thực hiện chức năng: hướng dãn kiểm tra công tác, thực hiện công

Trang 26

tác kiểm toán Ngân sách các cấp, kiểm toán các Ngân hàng, các doanh nghiệp Nhà nước, kiểm toán cơ quan H ả i quan các cấp, kiểm toán hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh Ngoại thương C ơ cấu tổ chức bộ máy: đứng đấu là Tổng kiểm toán do Chính phủ đề cử, Quốc hội chấp thuận và Chủ tịch nước bổ nhiệm, không có nhiệm kỳ, không có Phó tổng kiểm toán, vói 14 Vụ và Văn phòng tổng hỉp bao quát (oàn bộ các nhiệm vụ thuộc phạm vi kiểm toán Nhà nước, với 41 Văn phòng k i ể m toán Nhà nước đặt tại các Bộ và 16 Văn phòng kiểm toán Nhà nước thường trú tại các tỉnh

và thành phố quan trọng, thực hiện chỉ đạo và quản lý 7.800 tổ chức kiểm toán nội bộ

ở nhiều nước trên thế giới đều duy trì và phát triển hệ thống kiểm toán Hải quan ở Anh và M ỹ có Cục K i ể m toán Hải quan Quốc gia trực thuộc cơ quan K i ể m toán tối cao ở Nhật Bản và Nam Triều Tiên có Văn phòng kiểm toán trực thuộc cơ quan kiểm toán Nhà nước ở úc, Ireland cũng có bộ phận kiểm toán chuyên ngành Hải quan Tuy có thể có sự khác nhau về tên gọi về cơ cấu tổ chức nhưng kiểm toán Hải quan của các quốc gia này đều có một điểm giống nhau cơ bản là thực hiện các nhiệm vụ: Ngăn chặn và phát hiện gian lận thương mại, đặc biệt là gian lận qua giá, chống gian lận có hiệu quả và toàn diện Đ ả m bảo việc chấp hành Luật Hải quan, các quy định về xuất nhập khẩu và các hiệp định thương mại Quốc tế một cách nghiêm túc Giúp cho khâu lưu thông hàng hoa phát triển thuận lỉi Ngăn chặn tình trạng thất (hu ngân sách Triển khai các quy chế kiểm tra, kiểm soát hải quan tốt hơn Quản lý tốt hơn các lĩnh vực giấy phép, hạn ngạch xuất nhập khẩu, chống bán phá giá

Việc K i ể m toán Hải quan thực hiện kiểm tra hoặc chứng từ sổ sách có liên quan đến lô hàng xuất nhập khẩu đều đưỉc luật pháp các nưóc thừa nhận Sau ngày 12/4/1979 khi các nước cùng nhau ký kết "Hiệp định trị giá ( G A T T ) " và phê chuẩn Nghị định thư về hiệp định này thì nghiệp vụ kiểm toán Hải quan đã có điểm tựa pháp

lý mang tính Quốc tế, đó là Điều 17 Hiệp định trị giá ( G A T T ) và mục 7 Nghị định thu về thực hiện Hiệp định này

K i ể m toán H ả i quan thực hiện kiểm tra từ các hỉp đồng Thương mại, các chứng từ xuất nhập khẩu như hoa đơn Thương mại, giấy chứng nhận xuất xứ, tờ kê đóng gói đến các chứng từ có giá trị về độ tin cậy và tính pháp lý m à phát sinh sau hoặc trước khi hàng hoa rời khỏi cửa khẩu Hải quan, như là Phiếu xuất nhập kho, hoa đơn bán hàng của hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa, các chứng từ thanh toán chậm đến người bán Điều này cũng khẳng định thời gian lưu g i ữ hàng hoa tại cửa khẩu Hải quan không đủ dữ kiện để kết luận một tòi khai H ả i quan là đúng hay sai Theo công nghệ H ả i quai) Quốc tế, sau k h i hàng hoàn tất thủ tục nhập khẩu phải lưu

Trang 27

trữ toàn bộ hứng từ sổ sách có liên quan đến lô hàng nhập khẩu trong khoảng thời gian từ 3 đến 5năm, thời gian này gọi là thòi gian có hiệu lực hồi tố Trong thời gian này kiểm toán H ả i quan có quyền yêu cầu chợ hàng xuất (rình sổ sách chứng từ có liên quan để phục vụ cho các bộ phận kiểm toán Hải quan M ọ i khoản thuế còn thiếu

vì bất cứ lý do gì đã được kiểm toán Hải quan phát hiện đều phải truy nộp cho Ngân sách Nhà nước Trên thực tế Hải quan các nước chỉ kiểm tra tại cửa khẩu không quá

2 0 % lượng hàng hoa và tập trung chợ yếu kiểm tra phát hiện đối với những hàng hoa cấm nhập hoặc hạn chế nhập khẩu Việc kiểm tra mặt hàng, thuế, giá Hầu hết đều thực hiện tại doanh nghiệp sau k h i hàng nhập khẩu đã rời khỏi cửa khẩu H ả i quan, thậm trí đã bán cho người thứ ba

Tóm lại Kiểm toán thực hiện vai trò cợa mình trong quản lý Nhà nước về ngoại thương, nhằm thực hiện chức năng kiểm tra giám sát cợa Nhà nước đối với hoạt động Ngoại thương Thực hiện chức năng này kiểm toán thực hiện kiểm tra loàn bộ các chứng từ, sổ sách có liên quan đến hoạt động Ngoại thương, nhằm đánh giá tính kinh

tế trong hoạt động cợa doanh nghiệp, đánh giá việc chấp hành quy c h ế và pháp luật trong kinh doanh ngoại thương cợa doanh nghiệp và cợa cơ quan Hải quan, kiểm tra

và đánh giá tính trung thực và hợp lý cợa các báo cáo tài chính m à do các doanh nghiệp kinh doanh ngoại thương và cơ quan Hải quan các cấp đã lập

Trang 28

C H Ư Ơ N G 2

Thục trạng quản lý Nhà nước về ngoại thương

bằng biện pháp kiểm toán những năm qua

2.1 Su phát triển các hình thức kiểm toán ở VN thời gian gán đây

2.1.1 Kiểm toán nôi bô trong các doanh nghiệp kinh doanh ngoai thưong:

Doanh nghiệp có hoạt động ngoại thương là những doanh nghiệp kinh doanh trong nhiều ngành nghề khác nhau và trong hoạt động ngành nghề ấy, họ cần một phần hoặc toàn bộ nghiệp vụ ngoại thương

Các doanh nghiệp thỏc hiện công tác kiểm tra nội bộ chủ yếu dỏa vào các Ban kiểm soát Không riêng doanh nghiệp Nhà nước - trước đây cũng dỏa vào các phòng ban riêng biệt - phân tán, thậm chí công tác kiểm tra nội bộ thường bỏ trống Ngày nay trong các doanh nghiệp Nhà nước đều có bộ máy kiểm toán nội bộ theo tinh thần Nghị định 59/CP ngày 3/10/1996 của Chính phủ và Thông tư số 52/1998 - T T - BTC ngày 16/04/1998

Theo đó, "Tất cả các doanh nghiệp Nhà nước bao gồm : doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp hoạt động công ích, các Tổng công ty, Liên hiệp xí nghiệp, doanh nghiệp hạch toán độc lập khác đều phải tổ chức bộ m á y k i ể m toán nội bộ đủ năng lỏc để thỏc hiện công tác kiểm toán nội bộ" (Thông tư số 52/1998 - T T - BTC ngày 16/04/1998 của Bộ tài chính) [24]

Bộ máy kiểm toán nội bộ của Tổng công ty thường được tổ chức là phòng kiểm toán nội bộ tại Tổng công ty, còn tại các đơn vị thành viên thì tùy thuộc vào quy

m ô sản xuất kinh doanh và địa bàn hoạt động tập trung hay phân tán, tùy thuộc trình

độ năng lỏc của kiểm toán viên m à có thể tổ chức thành tổ hay nhóm k i ể m toán nội

bộ Phòng k i ể m toán nội bộ Tổng công ty được tổ chức độc lập với các phòng ban chức năng khác của Tổng công ty và chịu sỏ chỉ đạo, lãnh đạo trỏc tiếp của chủ tịch

H Đ Q T Biên chế của phòng k i ể m toán nội bộ từ 3 đến 5 người Đ ứ n g đầu phòng k i ể m toán nội bộ là Trưởng phòng kiểm toán nội bộ do chủ tịch H Đ Q T bổ nhiệm Trưởng phòng kiểm toán nội bộ và các kiểm toán viên không được kiêm nhiệm các công việc quản lý và điều hành trong Tổng công ty Phòng kiểm toán nội bộ của Tổng công ty thỏc hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây :

- Giúp lãnh đạo Tổng công ty đánh giá việc thỏc hiện các quy c h ế nội bộ kiểm tra tính hữu hiệu cùa hệ thống kiểm soát nội bộ, thỏc thi công tác Tài chính K ế

Trang 29

toán, chấp hành pháp luật, chính sách chế độ của Nhà nước, các Nghị quyết, Quyết định của H ộ i đồng quản trị và Ban giám đốc

- Thông qua công tác kiểm toán nội bộ đề xuất với lãnh đạo Tổng công ty về các biên pháp nhằm chấn chỉnh công tác quản lý Tài chính K ế toán của đơn vị, kiến nghị với cấp có thẩm quyền xử lý nhệng vi phạm chế độ Tài chính K ế toán của Nhà nước

- Bồi dưỡng, hướng dẫn, chỉ đạo về mặt nghiệp vụ cho đội ngũ kiểm toán viên

trong Tổng công ty

- Tổ chức kiểm toán tại cơ quan Tổng công ty và các đơn vị thành viên theo kế hoạch kiểm toán do chủ tịch Hội đồng quản trị phê duyệt K i ể m tra, xử lý, tổng hợp kết quả kiểm toán nội bộ của Tổng công ty và các đơn vị thành viên

Tại các doanh nghiệp thành viên Tổng công (y, tùy theo quy m ô sản xuất kinh doanh và khối lượng công việc cần kiểm toán, m à có (hể tổ chức thành tổ kiểm toán nội bộ hoặc nhóm kiểm (oán nội bộ với biên chế tới 2 đến 3 người

Đ ố i với doanh ngliiệp.thành viên Tổng công ty^hạch toán độc lập có lư cách pháp nhan phải tổ chức kiểm toán nội bộ độc lập do giám đốc doanh nghiệp trực tiếp chỉ đạo

Đ ố i với đơn vị (hành viên hạch toán phụ thuộc Tổng công ty thì phòng kiểm toán nội bộ của Tổng công ty có thể trực tiếp thực hiện công tác kiểm toán hoặc có thể bố trí kiểm toán viên hoạt động trực tiếp tại đơn vị phụ thuộc

Tổ kiểm toán nội bộ tại các đơn vị thành viên có nhiệm vụ thường xuyên trực tiếp kiểm toán nội bộ tại doanh nghiệp mình và tham gia các cuộc kiểm toán do phòng kiểm toán nội bộ Tổng công ly lổ chức

Đ ố i với các doanh nghiệp hoạt động độc lập m à không phải là thành viên của Tổng công ty cũng phải tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ theo hình thức tổ hay nhóm kiểm toán nội bộ trực thuộc giám đốc doanh nghiệp với biên c h ế từ 2 đến 3 người, thực hiện nhiệm vụ : kiểm toán nội bộ giúp giám đốc doanh nghiệp kiểm tra - đánh giá việc thực hiện các quy chế nội bộ doanh nghiệp, kiểm tra - đánh giá tính hệu hiệu cùa bộ máy kiểm soát nội bộ doanh nghiệp, việc thực thi công tác Tài chính - K ế toán, việc chấp hành chính sách chế độ - pháp luật của Nhà nước, trong đó có pháp luật về xuất nhập khẩu Việc thực hiện các Nghị quyết Đ ạ i hội công nhan viên chức

và quyết định của Ban giám đốc doanh nghiệp Qua đó tổng hợp kết quả k i ể m toán và

đề xuất với lãnh đạo doanh nghiệp các biện pháp chấn chỉnh công tác quản lý Tài

Trang 30

chính K ế toán của doanh nghiệp, kiến nghị với các cấp có thẩm quyển xử lý những vi phạm chế độ Tài K ế toán của Nhà nước

Bộ máy kiểm toán nội bộ của doanh nghiệp được hình thành và nằm trong bộ máy tổ chức của bản thân doanh nghiệp, do đó có điều kiện chuyên m ô n hóa và đi sâu nậm bật được đặc điểm, m ô hình, bộ máy quản lý của doanh nghiệp, nậm bật được đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành m à doanh nghiệp hoạt động, có điều kiện

đi sâu - đi sát nghiên cứu vận dụng các quy chế - quy định của doanh nghiệp.Viêc thu thập thông tin tác nghiệp và các thông tin Tài chính có thể tiến hành nhanh chóng và với một nguồn thông tin đầy đủ hơn

Tuy nhiên hoạt động của kiểm toán nội bộ trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ của mình cũng còn có rất nhiều khó khăn, đó là :

- Kiêm toán nội bộ là một bộ phận trong bộ máy tổ chức của doanh nghiệp, những điều kiện trang bị và kinh phí còn tùy thuộc vào khả năng của đơn vị, nếu bản thân doanh nghiệp có khó khăn thì hoạt động kiểm toán nội bộ cũng sẽ khó khăn

- Con người thực hiện kiểm toán nội bộ nằm trong doanh nghiệp, không trực tiếp tham g i a quản lý - điều hành doanh nghiệp, do đó việc nậm bật thông tin về quản

lý điều hành sản xuất và kinh doanh có những khó khăn nhất định, đặc biệt là những biến động về giá cả thị trường - trong đó chủ yếu là thị trường thế giới, cho nên nguồn thông tin này ít k h i đầy đủ để phục vụ cho công tác kiểm toán nội bộ

- Nghiệp vụ kiểm toán nói chung, kiểm toán nội bộ nói riêng là nghiệp vụ còn mói mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam Do đó công việc kiểm toán nội bộ gần như xuất phát từ điểm khởi đầu, từ lĩnh vực chuyên m ô n nghiệp vụ đến nền nếp làm việc và sự đón nhận - hợp tác của các bộ phận trong hộ thống quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp

Qua thực tế 2 năm 1998 - 1999 thực hiện công tác kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp tham gia hoạt động ngoai thương nói riêng

đã thể hiện được những tác dụng nhất định trong quá trình thực thi nhiêm vụ được giao, như rà soát lại hệ thống k ế toán của doanh nghiệp và các quy chế k i ể m soát n ộ i

bộ có liên quan, giám sát được sự hoạt động của hệ thống này cũng như tham gia hoàn thiện chúng K i ể m tra lại được các thông tin tác nghiệp và thông tin Tài chính, bao gồm việc soát xét lại cấc phương tiện đã sử dụng để xác định, tính toán, phân loại

và báo cáo những thông tin này, thẩm định cụ thể các khoản mục cá biệt, như k i ể m tra chi tiết các nghiệp vụ, các số dư và các bước công việc K i ể m tra tính kinh tế tính hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động, kể cả các quy định không mang tính chất Tài

Trang 31

chính của đơn vị thông qua đó giúp lãnh đạo doanh nghiệp có đầy đủ thông tin

chính xác hơn để điều hành và quản lý có hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

-đồng thời góp phần chấn chỉnh công tác quản lý Tài chính - K ế toán và việc chấp

hành các chính sách - chế độ - pháp luật của Nhà nước tại doanh nghiệp như chính

sách ngoại thương, pháp luật về đối ngoại, đặc biệt là các pháp luật về thuế và các chế

độ quản lý Tài chính doanh nghiệp của Nhà nước

Tuy nhiên k i ể m toán n ộ i bộ còn bộc l ộ nhổng hạn c h ế nhất định, bởi vì tuy

được tổ chức độc lập với bộ phận được k i ể m toán và không trực tiếp tham gia

quản lý điều hành doanh nghiệp, nhưng k i ể m toán n ộ i bộ là một bộ phận trực

thuộc doanh nghiệp, chịu sự chỉ đạo và quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp, cho

nên không thể hoàn toàn độc lập với đơn vị được Do đó các báo cáo k i ể m toán

của k i ể m toán n ộ i bộ thường được lãnh đạo doanh nghiệp t i n tưởng và sử đụng

vào quá trình quản lý điều hành doanh nghiệp, nhưng thường ít có giá trị pháp lý

đối với các cơ quan quản lý Nhà nước và các cơ quan k i ể m toán N h à nước, k i ể m

toán độc lập thường không sử dụng kết quả của k i ể m toán nội bộ doanh nghiệp

T ó m lại k i ể m toán nội bộ mới ở giai đoạn hình thành, công việc mang tính

nghiệp vụ còn m ớ i mẻ, các doanh nghiệp chưa quen với nếp quản lý bằng k i ể m

toán, dó đó hoạt động k i ể m toán n ộ i bộ còn cần tới sự quan tâm giúp đỡ của các

cấp các ngành, đặc biệt là sự giúp đỡ của bản thân lãnh đạo các doanh nghiệp, sự

giúp đỡ về nghiệp vụ của k i ể m toán Nhà nước, để hoạt động k i ể m toán nội bô

phát triển và đi vào cuộc sống

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triện của loai hình kiểm toán đác láp:

Các loại hình kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng, ra đời xuất

phát từ nhu cầu khách quan kiểm tra và xác nhận độ t i n cậy của báo cáo Tài chính

theo các chuẩn mực và nguyên tắc đã được xây dựng K i ể m toán độc lập ra đời và

phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Dịch vụ k i ể m toán độc lập

đã có trên thế giới từ hơn 100 năm nay và đã phát triển mạnh mẽ, thâm nhập vào tất

cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế Hiện nay trên thế giới có hàng trăm ngàn

tổ chức Tư vấn và kiểm toán độc lập, trong đó có nhiều Công ty - nhiều hãng xuyên

quốc gia và đa quốc gia

ở nước ta, trước năm 1975, đã có văn phòng kiểm toán của các Công ty Quốc

tế hoạt động tại thành phố Sài Gòn cũ, như Công ty Price Waterhouse Từ k h i

chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhu cầu k i ể m toán

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp hoạt động theo luật

doanh nghiệp, các chương trình viện trợ quốc tế là khách quan và ngày càng tăng

Trang 32

Đồng thời sự phát triển nhanh chóng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp tư nhân, Công ty T N H H , Công ty c ổ phần, quá trình đổi m ớ i và cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, xu thế mở cửa và hội nhập nền kinh tế cũng đòi hỏi phải có dịch vẹ kiểm toán độc lập Đ ể đáp ứng nhu cầu dịch vẹ kiểm toán độc lập của nền kinh tế trong xu thế hội nhập và m ở cửa nền kinh tế, tháng 5/1991, Công

ty kiểm toán Việt Nam (Viẹt Nam Auditing Company - V A C O ) đã được thành lập theo giấy phép số 957 - GPTL của H ộ i đồng Bộ trưởng - nay là Chính phủ và Quyết định 165/TC - Q Đ - TCCB của Bộ trưởng Bộ Tài chính Sự ra đời và hoạt động có hiệu quả cùa Công ty kiểm toán Việt Nam ( V A C O ) đánh dấu sự m ở đáu tốt đẹp của dịch vẹ kiểm toán độc lập tại Việt Nam Cho đến nay,ở Việt Nam đã có nhiều Công

ly kiểm toán thuộc nhiều thành phần kinh tế tham gia "Sau hơn 8 năm hoạt động, tới nay đã có 18 Công ty kiểm toán, trong đó có 7 Công ty Nhà nước, 6 Công ty tư nhân,

4 Công ty 1 0 0 % vốn nước ngoài và Ì Công ty liên doanh Nhìn chung các Công ty đều đáp ứng được nhu cầu khách hàng v ề dịch vẹ cung cấp, hầu hết các Công ty đều

có những loại dịch vẹ chủ yếu như : K i ể m toán, T ư vấn Tài chính, K ế toán và Thuế Ngoài ra còn có các dịch vẹ T ư vấn khác như : T ư vấn đầu tư, T ư vấn kinh doanh, phán mềm k ế toán trên máy tính v ề đối tượng khách hàng là các xí nghiệp có vốn đầu tu nước ngoài và D ự án quốc tế Các Công ty kiểm toán Nhà nước, khách hàng đa dạng hơn Tới nay đã có khoảng 8 0 % xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện chế độ k ế toán Việt Nam, nên không ít các xí nghiệp này tìm tới các Công ty kiểm toán Nhà nước Hơn nữa, do giá,phí vừa phải nên có nhiều khách hàng là các doanh nghiệp Nhà nước, Công ty T N H H , Công ty c ổ phần v ề chất lượng yếu tố quyết định tính cnnh tranh giữa các Công ty kiểm toán nước ngoài và các Công ty kiểm toán Nhà nước có cơ cấu tổ chức phân chia theo lĩnh vực dịch vẹ cung cấp, chương trình đào tạo có chất lượng, quy chế thi tuyển chặt chẽ nên cung cấp các dịch vẹ có chất lượng cao hơn Các Công ty T N H H kiểm toán trong nước còn hạn c h ế về loại dịch vẹ cung cấp, lượng khách hàng còn ít, chưa ổn định và chất lượng dịch vẹ chưa cao" [22]

* 7 Công ty kiểm toán Việt Nam là công ty thuộc doanh nghiệp Nhà nước [à :

- Công ty K i ể m toán Việt Nam ( V A C O )

- Công ty T ư vấn Tài chính - K ế toán và K i ể m toán ( A A S C )

- Công ty T ư vấn và K i ể m toán (ÁC)

- Công ty T ư vấn và K i ể m toán Sài G ò n ( A F C )

- Công ty K i ể m toán Đ à Nang ( D Á C )

Trang 33

- Công ty K i ể m toán và địch vụ tin học (AISC)

- Công ty K i ể m toán H ạ Long ( H A A C O )

* 4 Công ty kiểm toán 1 0 0 % vốn nước ngoài là :

+ E & Y : Công ty Ernst & Young Việt Nam

+ K P M G - K P M G Peat Manvek Việt Nam

+ p w - Price Waterhouse Việt nam

+ A.A - Arthur Audusen Việt nam

Ngoài ra, ở nước ta còn có một số văn phòng đại điện của các tổ chức K i ể m toán Quốc tế

T r o n g liền k i n h t ế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước (rong xu thế hội nhồp quốc tế và khu vực, các báo cáo Tài chính hàng năm do các doanh nghiệp lồp ra là đối tượng quan tâm của rất nhiều người : Chủ doanh nghiệp, các cổ đông, các thành viên H ộ i đồng quản trị, Ngân hàng và các Chủ đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng, các đối tác liên doanh Các luồt thuế, luồt lao động, luồt bảo vệ môi trường, luồt thương mại cùng cho thấy sự quan tâm của N h à nước, người tiêu dùng, người lao động và xã hội nói chung đối với báo cáo Tài chính của doanh nghiệp ở những góc độ khác nhau, nhưng đều có mong muốn, nguyện vọng chung là được sử dụng các thông tin có độ tin cồy cao, chính xác và trung thực

Do vồy, cần phải có một bên thứ ba, độc lồp, khách quan có kỹ năng nghề nghiệp, có địa vị và trách nhiệm pháp lý, kiểm tra và đưa ra những kết luồn về các báo cáo Tài chính của doanh nghiệp lồp ra có hợp thức không, có trung thực và hợp lý không Đ ó chính là công việc của các kiểm toán viên độc lồp thuộc các tổ chức k i ể m toán chuyên nghiệp Luồt pháp nhiều nước đã khẳng định rằng, chỉ những báo cáo Tài chính đã được xem xét và có chữ ký xác nhồn của kiểm toán viên độc lồp mới được coi là hợp pháp, làm cơ sở cho Nhà nước tính thuế, cũng như các bên quan tâm khác đưa ra những quyết định kinh tế trong m ố i quan hệ với doanh nghiệp được k i ể m toán

ở nước ta, hoạt động kiểm toán độc lồp cũng đã có địa vị pháp lý vững chắc Luồt pháp Nhà nước ta công nhồn và bảo hộ hoạt động của các k i ể m toán viên thuộc các Công ty kiểm toán độc lồp Quy chế về kiểm toán độc lồp trong nền kinh tế quốc

dầu ban hành k è m theo Nghị định 07/CP ngày 29/1/1994 của Chính phủ đã khẳng

định : "Sau khi có xác nhồn của kiểm toán viên chuyên nghiệp thì các tài liệu, số liệu

k ế toán và báo cáo quyết toán của các đơn vị kế toán là căn cứ cho việc điều hành quản lý hoạt động ở đơn vị, cho các cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan Tài chính

Trang 34

Nhà nước xét duyệt quyết toán hàng năm của các đơn vị kế toán, cho cơ quan T h u ế tính toán số thuế và các khoản phải nộp của đơn vị đối với ngan sách Nhà nước, cho các cổ đông, các nhà đầu tư, các bên tham gia liên doanh, các khách hàng và các tổ chức, cá nhan xử lý các mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ cùa các bên có liên quan trong quá trình hoạt động của đơn vị"

Hoạt động kiểm toán độc lập còn giúp các đơn vị, các doanh nghiệp phát triển

và chừn chỉnh kịp thời các gian lận và sai sót, phòng ngừa các sai phạm và các thiệt hại có thể xảy ra trong kinh doanh và trong sử dụng kinh phí

K i ể m toán độc lập ở nước ta được thực hiện theo yêu cầu của các đối tượng chủ yếu sau :

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

- Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động (heo luật doanh nghiệp Nhà nước

- Các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp năm 1999 : Công ty cổ phần, Công ty T N H H , các doanh nghiệp tư nhân

- Các hợp tác xã

Ngoài ra, kiểm toán độc lập CÒI) các đối tượng khác là các đơn vị hành chính

-sự nghiệp, các đoàn thể quán chúng và các tổ chức xã hội, tổ chức quốc tế, k h i các tổ chức này có nhu cầu hoặc k h i cơ quan quản lý cừp trên, cơ quan T h u ế hoặc cơ quan Tài chính Nhà nước khác yêu cầu

Đ ố i với các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo luật đầu tư trực tiếp nưóc ngoài tại Việt nam, các Công ty - doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp, công tác kiểm toán được thực hiện hàng Hãm và báo cáo quyết toán năm gửi cho các cơ quan quản lý Nhà nước phải kèm theo báo cáo kiểm toán của tổ chức k i ể m toán độc lập hoạt động hợp pháp ở Việt Nam hoặc một tổ chức kiểm toán độc lập khác được Bộ Tài chính chừp nhận Trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài muốn chỉ định một Công ty kiểm toán độc lập nước ngoài chưa được phép hoạt động ở Việt Nam thì phải tuân thủ các điều kiện :

- Đ ố i với các doanh nghiệp 1 0 0 % vốn nước ngoài và các bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải thông báo cho Bộ Tài chính biết Công ty k i ể m toán được chỉ định để Bộ tài chính xem xét, chừp nhận và phải chịu trách nhiệm nộp thay số thuế m à Công ty kiểm toán nước ngoài phải nộp cho Nhà nước Việt Nam theo luật định về hoạt động kiểm toán tại Việt nam

Trang 35

- Đ ố i với các doanh nghiệp liên doanh : Công ty kiểm toán được chỉ định phải phối hợp với một Công ty kiểm toán Việt Nam cùng thực hiện kiểm toán Kết quả kiểm toán chỉ có giá trị pháp lý khi hai bên cùng nhất trí Trường hợp Công ty kiểm toán Việt nam từ chối thì Công ty kiểm toán nước ngoài được chỉ định sẽ kiểm toán cho doanh nghiệp, sau k h i được Bộ Tài chính chấp thuận

Đ ố i với các đối tượng kiểm toán khác, hiện nay, công việc kiểm toán được tiến hành k h i đơn vị k ế toán có nhu câu hoặc khi cơ quan quản lý chức năng cổa Nhà nước như cơ quan chổ quản, cơ quan Tài chính, cơ quan T h u ế yêu cầu và chỉ tiến hành trong phạm vi nội dung được yêu cầu như quyết toán năm, quyết toán công trình xây dựng cơ bản hoàn thành, xác định giá trị vốn góp liên doanh, giá trị doanh nghiệp

cổ phần hóa, xác định kết quả kinh doanh

Nghị định 12/CP ngày 18/2/1997, quy định chi tiết thi hành luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam có ghi :

1 Công tác K ế toán, K i ể m toán, Thống kê trong các doanh nghiệp có vốn đáu

tư nước ngoài và các bên nước ngoài tham gia hợp đổng hợp tác kinh doanh theo quy định pháp luật về K ế toán, K i ể m toán, Thống kê cổa Việt nam" (Điều 65)

"Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải gửi báo cáo Tài chính hàng năm đến cơ quan cấp Giấy phép đầu tư Bộ k ế hoạch và Đáu tư, Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê trong vòng 3 tháng kể từ ngày kết thúc năm Tài chính cổa doanh nghiệp

Báo cáo Tài chính hàng năm cổa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và

bên HƯỚC npoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh được kiểm toán bởi một Công

ty kiểm toán độc lập cổa Việt Nam hoặc Công ty kiểm toán độc lập khác được phép hoạt động tại Việt Nam theo quy định cổa pháp luật về kiểm toán trước khi gửi tới các cơ quan trên

Báo cáo Tài chính cổa doanh nghiệp có vốn đáu tư nước ngoài và bên nước ngoài hợp doanh đã được kiểm toán có thể được sử dụng làm cơ sở để xác định và quyết toán các nghĩa vụ Thuế và các nghĩa vụ Tài chính khác đối vói Nhà nước Việt Nam Công ty kiểm toán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính độc lập, khách quan, trung thực cổa kết quả kiểm toán" (Điều 6 8 )

"Báo cáo kết quả kiểm toán cổa Công ty kiểm toán gồm những nội dung chổ yếu sau :

Trang 36

1 Xác nhận sự khách quan, trung thực, hợp lý của báo cáo Tài chính và các số liệu kế toán

2 Nhận xét, đánh giá tình hình thực hiện công tác k ế toán, chấp hành pháp luật, chế độ, thể lệ kế toán

3 Những kiến nghị

Báo cáo kiểm toán phải có chữ ký và ghi rõ họ và tên, số đăng ký Giấy phép hành nghề của kiểm toán viên, chữ ký và dấu của Công ty kiểm toán" (Điều 69).[ 13] Công dân Việt Nam được công nhận là kiểm toán viên hành nghề kiểm toán phải có các tiêu chuẩn nhất định :

- Có lý lịch rõ ràng, được cơ quan nơi công tác hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận, có phẩm chất trung thực, liêm khiết, nắm vững luật pháp và chính sách, chế độ kinh tế, tài chính, kế toán, thống kê của Nhà nưừc, không có tiền án, tiền sự

- Có bằng tốt nghiệp đại học hoặc trung học chuyên ngành Tài chính, K ế toán,

đã làm công tác Tài chính, K ế toán từ 5 năm trở lên (nếu tốt nghiệp đại học) hoặc l o năm trở lên (nếu tốt nghiệp trung học)

- Đ ã qua kì thi tuyển kiểm toán viên đo H ộ i đồng thi cấp Nhà nưừc tổ chức và được Bộ trưởng Bộ Tài chính cấp chứng chỉ

- Được chấp nhận vào làm việc tại một tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động

hợp pháp ở Việt Nam và đã đăng ký danh sách kiểm toán viên tại Bộ Tài chính

Công chức Nhà nưừc đương chúc không được đăng ký hành nghề kiểm toán trong tổ chức kiểm toán độc lập

K i ể m toán viên được thực hiện các dịch vụ K i ể m toán và T ư vấn Tài chính, K ế toán sau đây :

- K i ể m tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ, tài liệu, số liệu k ế toán việc chấp hành chế độ, thể lệ k ế toán Tài chính của Nhà nưừc

- K i ể m tra và xác nhận mức độ trung thực, hợp lý của báo cáo quyết toán do các đơn vị k ế toán lập ra

- K i ể m tra, xác nhân giá trị vốn góp của các bên tham gia liên doanh, cùa các

cổ đông, kiểm tra, xác nhận tính trung thực, hợp lý, đày đủ của số liệu k ế toán và báo cáo quyết toán của các đơn vị liên doanh , giải thể, sát nhập, chia tách, cổ phần hóa phá sản và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật

Trang 37

- Giám định Tài chính, K ế toán và các dịch vụ Tư vấn về quản lý Tài chính,

K ế toán, Thuế theo yêu cầu của khách hàng

Các nguyên tắc của kiểm toán viên khi thực hiện nghiệp vụ k i ể m toán là :

- Tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam

- Đ ả m bảo trung thực, độc lập, khách quan, công bằng, bí mật số liệu kiểm toán

- Tuân thủ các chuẩn mực k ế toán và kiểm toán hiện hành của Việt Nam và các chuẩn mực kế toán và kiểm toán quốc tế phỉ biên được Nhà nước Việt Nam thừa nhận Trách nhiệm của kiểm toán viên :

- Chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc kiểm toán quy định thực hiện đúng các điều khoản của Hợp đồng kiểm toán , lập báo cáo kiểm toán, ký tên vào báo cáo kiểm toán và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước tỉ chức kiểm toán độc lập và trước khách hàng về sự trung thực, khách quan của kết quả kiểm toán và ý kiến nhận xét trong báo cáo kiểm toán

- Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, kiểm toán viên không được gây trở ngại hoặc can thiệp vào công việc điều hành của đơn vị đang kiểm toán và không được nhận bất cứ một khoản tiền nào ngoài phí kiểm toán đã thỏa thuận trong hợp đồng kiểm toán

- K i ể m toán viên vi phạm quy chế kiểm toán, v i phạm pháp luật, như cố ý làm sai quy định, thông đồng bao che cho người phạm lỗi, đùng thủ thuật nghiệp vụ để che dấu sai sót, nhận hối lộ, báo cáo kiểm toán thiếu khách quan, trung thực thì tùy thuộc mức độ nặng nhẹ, có thể bị thu hồi chứng chỉ k i ể m toán viên và bị xử lý theo luật pháp hiện hành Nếu vì những v i phạm và thiếu sót m à gây thiệt hại vật chất cho khách hàng thì kiểm toán viên phải b ồ i thường thiệt hại

Q u y ề n hạn của kiểm toán viên độc lập trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình là :

- Được độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ Chỉ tuân thủ theo pháp luật, các chuẩn mực và phương pháp nghiệp vụ

- Yêu cầu khách hàng cung cấp đẩy đủ, kịp thời các tài liệu về k ế toán, Tài chính và các tài liệu khác có liên quan đến nội dung k i ể m toán

- Đ ố i chiếu, xác minh các thông tin có liên quan tói đơn vị được kiểm toán ở trong và ngoài đơn vị (nếu cần)

Trang 38

- Trong quá trình kiểm toán, k h i phát hiện đơn vị được k i ể m toán có hiện tượng vi phạm pháp luật, thì kiểm toán viên được quyền thông báo và kiến nghị đơn vị có biện pháp sửa chữa sai phạm và có quyền ghi ý kiến của mình vào báo cáo kiểm toán

- K i ể m toán viên có quyền khước từ làm kiểm toán cho khách hàng, nếu xét thấy không đủ điều kiện hoặc không đủ khả năng để kiểm toán

Được hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kiểm toán độc lập đã khựng định được vị trí vai trò của mình trong nền kinh tế T u y nhiên, để các Công ty k i ể m toán đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong xu hướng h ộ i nhập khu vực và quốc tế vẫn còn nhiều khó khăn đặt ra cần nhanh chóng tháo gỡ giải quyết, trong đó có những nguyên nhân khách quan và cả nguyên nhân chủ quan

- Khó khăn thứ nhất là hiện nay các Công ty kiểm toán chưa có một "Sân chơi"

đủ điều kiện Đây là yếu tố không nhỏ dẫn tói chất lượng hoạt động k i ể m toán độc lập Đ ó là chưa ban hành hệ thống các chuẩn mực k ế toán và chuẩn mực kiểm toán

Dự kiến theo k ế hoạch thì đến năm 2005, Bộ Tài chính mới hoàn thành việc ban hành hai hệ thống chuẩn mực này :

"Các số liệu, tài liệu k ế toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan đã có xác nhận của tổ chức kiểm toán độc lập, được các cơ quan Nhà nước tin cậy và sử dụng phục vụ yêu cầu quản lý của mình Trường hợp số liệu, tài liệu kế toán và báo cáo quyết toán đã có xác nhận của kiểm toán nhưng không đủ độ tin cậy cần thiết hoặc có nghi vấn thì cơ quan quản lý Nhà nước trong phạm v i quyền hạn và trách nhiệm được giao, trực tiếp kiểm tra lại và đưa ra quyết định quản lý trên

cơ sở kết quả kiểm tra của mình Doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan cần chấp hành quyết định của cơ quan quản lý Nhà nước, đồng thời yêu cầu tổ chức k i ể m toán xem xét lại báo cáo kết quả kiểm toán, nếu có bất đồng và tranh chấp thì kiến nghị cơ quan tài chính địa phương hoặc Bộ Tài chính xem xét xử lý" (Thông tư số

2 2 T C / C Đ K T ngày 19/3/1994 của Bộ Tài chính).[23]

- Khó khăn thứ hai là : chưa có quy chế về kiểm soát lực lượng, k i ể m soát chất lượng kiểm toán của các Công ty kiểm toán nói chung Hiện tại Bộ Tài chính chỉ kiểm tra về mặt quản lý Nhà nước, m à chưa kiểm tra được chất lượng dịch vụ Chính

vì lẽ đó m à trong thòi gian qua đã xảy ra ít nhiều nguy cơ r ủ i ro k i ể m toán M ộ t số Công ty đã xảy ra các r ủ i ro về dịch vụ như : dịch vụ định giá tài sản thế chấp vay ngân hàng, k i ể m toán báo cáo quyết toán công trình xây dựng cơ bản, k i ể m toán báo cáo Tài chính (của Ngân hàng Công thương, Tamexco, M i n h Phụng), k i ể m toán các

Trang 39

doanh nghiệp l ỗ liên tục 3 năm, kiểm toán báo cáo Tài chính không được cơ quan thuế chấp nhận

- K h ó khăn thứ ba là công tác đào tạo kiểm toán viên K i ể m toán là một lĩnh vực mới mẻ ở nước ta Gần đây một số trưịng đại học có đào tạo chuyên ngành này, song chương trình học còn sơ sài, chưa thống nhất, chủ yếu dựa vào các tài liệu dịch

từ nước ngoài, Nghị định và Thông tư hướng dẫn Các Công ty thưịng gặp khó khăn như không đủ kinh phí đào tạo, chi phí đào tạo theo chương trình của Hiệp hội k ế toán chuyên nghiệp ( A C C A ) tại Việt Nam bình quân từ 120 đến 150 triệu đồng/ngưịi/khóa, đồng thịi chưa có chương trình đào tạo và nâng cao, đặc biệt là đào tạo kiểm toán viên chính và đào tạo các nội đung có liên quan khác Điều kiện để trở thành kiểm toán viên là phải có ít nhất 5 năm làm công tác Tài chính k ế toán nếu tốt

nghiệp đại học (hoặc l o năm làm công tác tài chính k ế toán nếu tốt nghiệp trung học)

và phải qua kỳ thi tuyển kiểm toán viên, được Bộ Tài chính cấp chứng chỉ Tới nay, mới có 344 ngưịi được cấp chứng chỉ kiểm toán viên Việt Nam Nếu tính bình quân thì m ỗ i Công ty có khoảng 19 kiểm toán viên được cấp chứng chỉ Nhưng trên thực tế hầu hết các kiểm toán viên đều tập trung ở các Công ty kiểm toán Nhà nước Đ ố i với các Công ty T N H H , chưa có định hướng hoạt động kinh doanh, mức lương hạn chế, nên kiểm toán viên là những ngưịi có kinh nghiệm trong công tác Tài chính K ế toán không muốn làm việc cho các Công ty này [22]

T ó m lại K i ể m toán độc lập tuy mới ra địi ở nước ta nhưng đã có sự phát triển

nhất định, hoạt động kiểm toán độc lập cũng đã được Nhà nước công nhận và bảo hộ Tuy nhiên đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về số lượng và chất lượng của k i ể m toán viên trong xu thế hội nháp còn có những khó khăn nhất định: Cần một hệ thống chuẩn mực k ế toán và kiểm toán để thực hiện các nghiệp vụ kiểm toán vói chất lượng cao, cẩn một cơ chế kiểm tra, kiểm soát lực lượng kiểm toán, chất lượng dịch vụ k i ể m toán Cần mở rộng quy m ô đào tạo và thi tuyển kiểm toán viên nhằm đáp ứng nhu cầu địch vụ kiểm toán của nền kinh tế Quốc dãn

2.1.3 Đìa vi pháp lý của cơ Quan kiểm toán Nhà nước trong co cấu bô máy quản lý Nhà nước về hoạt đông ngoai thương:

K i ể m toán Nhà nước được thành lập ngày 11/7/1994 theo Nghị định 70/CP của Chính phủ : "Để giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng k i ể m tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu k ế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan Nhà nước các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế Nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách N h à nước cấp" (Điều Ì -Nghị định 70/CP ngày 11/7/1994)

Trang 40

Theo Nghị định 70/CP của Chính phủ, kiểm toán Nhà nước có các nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu sau :

" 1 Xây dựng chương trình, k ế hoạch kiểm toán hàng năm trình T h ủ tướng Chính phủ phê quyệt và tổ chức thực hiện chương trình, k ế hoạch đó Định kỳ báo cáo thực hiện chương trình, k ế hoạch kiểm toán lên Thủ tướng Chính phủ"

"2 Cung cấp kết quả kiểm toán cho Chính phủ và các cơ quan N h à nước khác theo quy định của Chính phủ"

"3 Xác nhận, đánh giá và nhận xét các tài liệu, số liệu k ế toán, báo cáo quyết toán đã được kiểm toán và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nhỉng nội dung đã đánh giá, nhận xét, xác nhận"

"4 Thông qua hoạt động kiểm toán, góp ý kiến với các đơn vị được kiểm toán sửa chỉa nhỉng sai sót, v i phạm để chấn chỉnh công tác quản lý Tài chính, K ế toán của đơn vị : kiến nghị với cấp có thẩm quyền xử lý nhỉng v i phạm chế độ K ế toán, Tài chính của N h à nước, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ việc sửa đổi, cải tiến cơ chế quản lý Tài chính K ế toán cần thiết"

"5 K h i thực hiện nhiệm vụ, kiểm toán Nhà nước chỉ tuân theo pháp luật và phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ đã được N h à nước quy định, được yêu cầu đơn

vị được kiểm toán và các đơn vị có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán

Trong trường hợp đoàn kiểm toán hoặc kiểm toán viên có ý kiến khác, thì kiểm toán Nhà nước xem xét và có ý kiến kết luận cuối cùng"

"6 Quản lý các hồ sơ, tài liệu đã được kiểm toán theo quy định của N h à nước, giỉ bí mật tài liệu, số liệu k ế toán và sự hoạt động của đơn vị được kiểm toán"

"7 Quản lý tổ chức bộ máy, cán bộ, cơ sở vật chất của hệ thống tổ chức k i ể m toán Nhà nước theo quy định của Chính phủ"

(Điều 2 - nghị định 70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ)

Nhiệm vụ và quyền hạn của kiểm toán N h à nước còn được cụ thể hóa trong " ĐIÊU LỆ T Ổ CHỨC V À HOẠT ĐỘNG CỦA KIÊM TOÁN N H À NUỞC" được ban hành k è m theo Quyết định 61/TTG ngày 21/1/1995 của Thủ tướng Chính phủ Theo đó :

"Kiểm toán N h à nước có nhiệm vụ :

1 Xây dựng chương trình kế hoạch kiểm toán hàng năm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt - K ế hoạch phải nói rõ đối tượng, mục tiêu và nội dung kiểm toán

Ngày đăng: 19/12/2015, 19:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[17] NìiữiiiỊ chuẩn mực và nguyên lắc kiểm loàn quái tế. Tài liệu dịch của Công ly kiểm loàn Việt Nam. Tháng 9/1992 Ti 398 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NìiữiiiỊ chuẩn mực và nguyên lắc kiểm loàn quái tế
[25] PGS Vũ Hữu Tửu Kỹ thuật Hgliiệp vụ ntịoại thương. Nhà xuất bản Giáo dục 1998 Tr 209,282 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật Hgliiệp vụ ntịoại thương
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục 1998 Tr 209
[18] Quyết định 61 Ang ngày 29/1/1995 của Thủ lương Chính phủ ban hành điều lệ lổ chức hoai dộng của cư quan Kiểm loàn Nhà nước Khác
[19] Tạp chí kiểm toán. Số 2 (háng 6/1996 Ti 13 Khác
[20] Tạp chí kiểm toán. Số 17 tháng 2/1999 Ti 36 Khác
[21] Thời báo Tài chính việl Nam. Số 422. 17/12/1999 Tri Khác
[22] Thời báo Tài chính Việt Nam. Số 373. 26/8/1999 Ti 2,15 Khác
[24] Thông tư số 52/1998 - TT - DTC ngày 16/04/1998 của Rộ Tài chính Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  t h a n h toán với ngân sách - Luận văn  kiểm toán trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngoại thương
ng t h a n h toán với ngân sách (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w