Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn và tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó .... Đồ thị về tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở
Trang 1TRẦN ĐÔNG DƯƠNG
Tên đề tài :
"NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH
DO ẤU TRÙNG CYSTICERCUS TENUICOLLIS GÂY RA Ở LỢN
TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG"
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y
Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y Qua đây, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn đề tài,
ThS Nguyễn Thu Trang đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận này
Đồng thời, cho em gửi lời cảm ơn tới các cán bộ, công viên chức làm việc tại
Phòng Nông Nghiệp huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong suốt quá trình thực tập
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, cổ vũ
em trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Em xin chúc các thầy giáo, cô giáo luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành
đạt trong cuộc sống, có nhiều thành công trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Trần Đông Dương
Trang 3KCTG: Ký chủ trung gian
Nxb: Nhà xuất bản
STT: Số thứ tự
Trang 4Huyện Phú Lương – Tỉnh Thái Nguyên 38
Bảng 4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại các địa
phương 39
Bảng 4.7 Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn và
tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó 40
Bảng 4.8 Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn bị bệnh do ấu trùng
Cysticercus tenuicollis gây ra 42
Bảng 4.9 Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng ký sinh, hình thái và khối lượng của ấu
trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn 43 Bảng 4.10 Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng Cysticercus
tenuicollis ký sinh ở lợn 44
Trang 5tại các địa phương 31
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis 33
ở lợn theo tuổi 33
Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis theo tính biệt 35
Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo tháng điều tra 36
Hình 4.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena 39
ở chó tại các địa phương 39
Hình 4.6 Đồ thị về tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn 41
Trang 61.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Mục tiêu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis 4
2.1.2 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 5
2.1.2.1 Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học 5
2.1.2.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó 7
2.1.2.3 Chu kỳ sinh học của sán dây chó 13
2.1.3 Đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis và sán dây Taenia hydatigena ở chó gây ra 16
2.1.3.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh Cysticercus tenuicollis 16
2.1.3.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây Taenia hydatigena 16
2.1.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng do ấu trùng Cysticercus tenuicollis 18
2.1.4.1 Đặc điểm gây bệnh của ấu trùng Cysticercus tenuicollis 18
2.1.4.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra 18
2.1.5 Chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra và bệnh sán dây chó 19
2.1.5.1 Chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra 19
2.1.5.2 Chẩn đoán bệnh do sán dây chó gây ra 19
2.1.6 Phòng và trị bệnh bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra 20
2.1.6.1 Điều trị 20
2.1.6.2 Phòng bệnh 21
Trang 7Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.3 Vật liệu trong nghiên cứu 24
3.4 Nội dung nghiên cứu 25
3.4.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 25
3.4.1.1 Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn nuôi tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 25
3.4.1.2 Nghiên cứu tương quan giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn với tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại một số xã thuộc huyện Phú Lương,tỉnh Thái Nguyên 25
3.4.2 Nghiên cứu triệu chứng, bệnh tích của bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis 25
3.4.3 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn 25
3.5 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 25
3.5.1 Bố trí thu thập mẫu và phương pháp xác định tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn 25
3.5.1.1 Bố trí thu thập mẫu 25
3.5.1.2 Phương pháp xác định tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn 26
3.5.1.3 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn 26
3.5.2 Bố trí điều tra và phương pháp xác định tình hình nhiễm sán dây ở chó 26
3.5.2.1 Thu thập mẫu ở một số xã để xác định tình hình nhiễm sán dây ở chó 26
3.5.2.2 Phương pháp xác định tình hình nhiễm sán dây ở chó 26
Trang 83.5.4 Phương pháp đề xuất biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn tại các xã thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 29
3.5.5 Phương pháp xử lý số liệu 29
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 30 4.1.1 Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại huyện Phú Lương,
4.1.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại các xã thuộc
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 39
4.1.2.3 Xác định tương quan giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn và tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó 40 4.2 Nghiên cứu triệu chứng, bệnh tích bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây
ra ở lợn 42
4.2.1.Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn bị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra 42
Trang 9lợn 44
4.3 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra trên lợn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 45
PHẦN 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Tồn tại 47
5.3 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 10ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Tuy nhiên, do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm với đầy đủ các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật, trong đó sự có mặt của hệ kí sinh trùng gây bệnh gia súc, gia cầm Đặc biệt với tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ, chủ yếu theo hình thức chăn thả thì vấn đề nhiễm kí sinh trùng là không thể tránh khỏi
Bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis của sán dây trưởng thành Taenia hydatigena gây ra là bệnh rất phổ biến ở nhiều loài gia súc (trâu, bò, lợn, ngựa ) và
cả ở người Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở mặt gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, lách của ký chủ Sán dây trưởng thành Taenia hydatigena ký sinh ở ruột
non của chó, chó sói, cáo và các thú ăn thịt khác Các đốt sán già theo phân ra ngoài,
vỡ ra, giải phóng nhiều trứng sán Trứng sán lẫn vào thức ăn, nước uống Nếu ký chủ trung gian là lợn, trâu, bò, dê, cừu nuốt vào, đến dạ dày, ấu trùng 6 móc nở ra, chui vào mạch máu niêm mạc ruột, rồi theo tuần hoàn máu về bề mặt gan, các khí quan trong
xoang bụng và phát triển thành ấu sán Cysticercus tenuicollis sau 3 tháng
Bệnh Cysticercus tenuicollis phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là
những nơi nuôi nhiều chó và chế độ kiểm soát giết mổ không nghiêm ngặt Khi nhiễm nhẹ, chức năng của các khí quan rối loạn không rõ Số lượng ấu sán nhiều gây rối loạn chức năng các khí quan trong xoang bụng, gây hiện tượng hoàng đản, con vật mất tính thèm ăn, sốt cao Số lượng ấu sán nhiều còn gây chèn ép các khí quan trong xoang bụng, xoang ngực, có thể có triệu chứng của viêm màng bụng cấp tính Ngoài ra, việc chẩn đoán bệnh đối với con vật còn sống rất khó khăn do triệu chứng bệnh không
Trang 11điển hình Đặc biệt, không thể tìm ấu trùng bằng cách xét nghiệm phân do ấu trùng
ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng
Những năm gần đây, chó vẫn được nuôi phổ biến ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước, trong đó có tỉnh Thái Nguyên Tuy nhiên, chó thường được nuôi theo phương thức thả rông, nếu chó bị nhiễm sán dây thì rất dễ phát tán mầm bệnh, làm cho người và các
vật nuôi khác dễ nhiễm và mắc bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis Đặc biệt, việc đảm
bảo yêu cầu vệ sinh thú y trong giết mổ chó cũng như các loài gia súc khác tại tỉnh Thái Nguyên vẫn chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng chó thải phân bừa bãi còn phổ biến khiến nguy cơ lây nhiễm bệnh ấu sán trên vật nuôi là khá cao, đồng thời thực trạng giết mổ trâu, bò, lợn, dê như hiện nay khiến nguy cơ chó nhiễm sán dây cũng tăng lên
Những vấn đề trên cho thấy, việc tìm hiểu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng
Cysticercus tenuicollis gây ra ở một số loài vật nuôi, để từ đó xây dựng các quy
trình phòng chống thích hợp là hết sức cần thiết Nghiên cứu này không những góp phần hạn chế tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó, mà còn góp phần phòng chống bệnh
ấu trùng sán dây cho người và một số loài vật nuôi khác
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu một số
đặc điểm của bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống"
1.2 Mục đích của đề tài
Xác định được biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus
tenuicollis gây ra ở lợn hiệu quả và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên, từ đó xây dựng được quy trình phòng chống bệnh đạt
hiệu quả cao
1.3 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và triệu chứng, bệnh tích của bệnh do ấu trùng
Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Trang 121.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện về đặc
điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn tại huyện Phú
Lương tỉnh Thái Nguyên, về quy trình phòng chống bệnh hiệu quả, có một số đóng góp mới cho khoa học
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng
các biện pháp phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra, nhằm hạn
chế tỷ lệ và cường độ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra trên một số loại vật nuôi và kể cả trên người
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] cho biết, ấu trùng Cysticercus tenuicollis là một bọc có kích thước to nhỏ khác nhau, có thể bằng hạt đậu, quả cam
hoặc quả bưởi, trong bọc có nhiều nước Có một đầu sán bám vào màng trong của bọc, đầu sán có 4 giác bám, có 29 – 44 móc
Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt gan, lách, màng treo ruột,
màng mỡ chài… của gia súc (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [7])
Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [13], ấu trùng Cysticercus tenuicollis là những
dạng hình túi có cổ mỏng, kích thước 8 – 80 x 8 – 100 mm, chứa dịch bên trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây có cổ
Theo Johannes Kaufmann (1996) [27], ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký
sinh ở bề mặt gan, mỡ màng chài ở khoang bụng của cừu và gia súc Gia súc nhiễm
ấu sán thường không có biểu hiện triệu chứng bệnh, trừ khi nhiễm một số lượng lớn
ấu trùng ở nhu mô gan, tình trạng thiếu máu và chết có thể xảy ra
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3] cho biết: căn bệnh là ấu trùng
Cysticercus tenuicollis ký sinh ở gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, lách của lợn,
dê, cừu, bò, hươu, đôi khi thấy ở ngựa, người Kích thước ấu trùng khác nhau, có khi bằng hạt đậu, quả cam, hoặc to hơn, có hình bọc, bên ngoài là mô liên kết, bên trong chứa thể dịch trong và một đầu sán trưởng thành, lộn ra phía ngoài Ở những
vùng nuôi nhiều chó tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, dê, lợn
càng nhiều Tỷ lệ nhiễm ấu trùng tăng dần theo tuổi, điều này được các tác giả lý giải
do thời gian tiếp xúc với căn bệnh tăng
Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của lợn và các động vật khác
phụ thuộc vào số chó nhiễm sán trưởng thành Lợn nuôi gần với chó dễ nhiễm ấu trùng hơn, còn trâu, bò thả trên bãi chăn nhiễm ít hơn
Trang 142.1.2 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó
2.1.2.1 Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học
Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước Năm
1870, Cande J lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở
người Nam Bộ (Việt Nam) Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình nghiên cứu lẻ
tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [17], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], (2003) [5], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau:
Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937
Trang 15Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782
Loài Multiceps multiceps Leske, 1780 Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940
Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782
Phan Thế Việt và cs (1977) [17], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống
nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm thấy ở Việt Nam gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans, Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6]: tính đến thời điểm hiện tại đã phát hiện hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo Chúng
đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea
Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [12] cho biết, đến nay đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam
Việc mô tả hình thái các loài sán dây còn có nhiều thiếu sót, một số loài chưa
có mô tả trên mẫu vật Việt Nam Cande J (1870) là người đầu tiên mô tả loài sán dây
Diphyllobothrium latum tìm thấy ở Nam Bộ trên người Sau này một số nhà ký sinh
trùng học Việt Nam (Đỗ Dương Thái, Đặng Văn Ngữ, 1970; Đỗ Dương Thái, Trịnh
Văn Thịnh, 1976) cho rằng, loài thuộc giống Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là Diphyllobothrium latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni
Sự phán đoán này không dựa trên mẫu nên không có sự mô tả loài Theo Yamaguti
Trang 16(1959), loài Diphyllobothrium mansoni là tên đồng vật của loài Spirometra europaei thuộc giống Spirometra (họ Diphyllobothriidae)
erinacei-Joyeux và Houdemer (1928), Nguyễn Thị Kỳ (1977) đã thống kê ở mèo nhà,
cầy, chó Hà Nội có loài Diphyllobothrium reptans Theo Yamaguti (1959), loài này thuộc giống Spirometra
Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả Delaimure S L., Skrjabin A S., Serdukov A M (1985) Diphyllobothrium mansoni không là tên
đồng vật của một loài nào trong họ này Khi nói về lịch sử nghiên cứu loài
Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài Spirometra europaei của vùng nam bán cầu là một định dạng sai lầm và cho rằng chính loài này
erinacei-là Diphyllobothrium latum Tuy nhiên, các tác giả có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và muốn coi giống này là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (dẫn theo Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [5])
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân loại và không có mẫu
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân loại và tình trạng mẫu,
tình hình nghiên cứu về từng loài, đã tu chỉnh 1 loài Spirometra erinacei- europaei
(Rudolphi, 1819) Mueller, 1937
Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú
ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1])
2.1.2.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó
* Đặc điểm chung:
Phan Thế Việt và cs (1977) [17], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], Nguyễn Thị Lê
và cs (1996) [13], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] cho biết:
Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng
màu trắng hoặc trắng ngà Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau)
Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích
thước và các cơ quan bám đặc trưng Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm,
Trang 17nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây bậc cao Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài móc đến vài trăm móc Ít khi vòi thiếu móc Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài
Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng,
từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ
Thân sán dây lại gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục đực Những đốt thành thục về sinh dục (ở giữa thân), cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực và cái, có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, nhưng khác sán lá là không có hệ tiêu hoá Những đốt già (ở cuối thân sán), bên trong đốt sán chứa đầy tử cung với vô
số trứng sán dây Ở những đốt già, bộ phận sinh dục đực bị thoái hoá Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo phân ra ngoài (đặc điểm này thấy
ở những loài sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea)
Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét Cơ thể sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng, cơ dọc Phần bên trong chứa đầy nhu mô Bên trong lớp cơ là các khí quan của sán Sán dây chó cũng giống các sán dây khác ở đặc điểm không có hệ tiêu hóa, sán lấy thức ăn bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể
Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang
Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm Hô hấp theo kiểu yếm khí
Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính
từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết Ngoài ra, ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính
Trang 18Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: Trong mỗi đốt thường có một hệ sinh dục (gồm một cơ quan sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái) phát triển ở các giai đoạn khác nhau, ít khi có hai hệ sinh dục hoặc hơn Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: Ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau
đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái Sau khi thụ tinh,
cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan sinh dục cái Ở các đốt già, trứng chứa
đầy trong tử cung
Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân loại mỗi loài Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai Lông gai nằm trong nang lông gai Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai thì gọi là túi tinh trong Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi giao phối Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau
Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Melis) và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng) Từ buồng trứng có
ống gắn nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục Ống này phình rộng ra gọi là túi
nhận tinh Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ooptyp giúp cho việc hình thành trứng Tuyến vỏ tiết ra các sản phẩm cần thiết để hình thành trứng Trong ootyp, trứng thụ tinh được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung Cấu tạo tử cung
của sán dây rất khác nhau Ở sán dây bậc thấp (Pseudophyllidea), tử cung là những
ống cong, dẫn từ ooptyp đến lỗ ngoài nằm ở mặt bụng của mỗi đốt Ở những đốt sán
dây này trứng được thải ra ngoài tùy theo mức độ hình thành của trứng Ở sán dây
bậc cao (Cyclophyllidea), tử cung kín, không có lỗ ngoài Ở những sán dây này tử
Trang 19cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng Trứng được rơi ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ
Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp vỏ, trong có phôi 6 móc Còn trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng sán lá, một
đầu có nắp (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [6]
* Đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài sán dây ký sinh ở chó:
- Giống Taenia Linnaeus, 1758
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] cho biết:
+ Loài Taenia hydatigena: Dài 5000 mm gồm 550 – 700 đốt rất rộng Đầu
hình quả lê hay hình thận, đường kính 1 mm, vòi có 26 – 44 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,170 – 0,022 mm, có mỏm rất cong, móc hàng dưới dài 0,110 – 0,160 mm, có lưỡi rất cong, các giác bám gần nhau và có đường kính 0,110 mm, cổ dài 0,500 mm Có 600 – 700 tinh hoàn ở giữa các ống bài tiết Xung quanh noãn hoàng, buồng trứng, ống dẫn tinh và âm đạo không có tinh hoàn, ống dẫn tinh có dạng túi hẹp uốn khúc nhiều, không có túi tinh Nang lông gai hình trụ dài 0,450 mm, rộng 0,130 mm, buồng trứng hai thùy ở nửa dưới của đốt, cạnh phía không lỗ lớn hơn phía có lỗ, noãn hoàng là ống hẹp kéo dài theo chiều ngang, thể Melis tròn ở giữa buồng trứng và noãn hoàng, phần đầu âm đạo phình rộng, sau hẹp dần, tới thùy buồng trứng tạo thành túi nhận tinh Ở các đốt già thân tử cung có 5 – 10 nhánh ngang, mỗi đầu tự do lại tạo thành các nhánh phụ, trứng bầu dục, dài 0,038 – 0,031 mm, rộng 0,034 – 0,035 mm, vỏ dày 0,004 mm
Dạng ấu trùng Cysticercus tenuicollis gặp nhiều ở gan và xoang bụng của lợn,
trâu, bò, nhiều loài thú khác, kể cả người Ấu trùng này có dạng túi chứa đầy dịch trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây, có cổ Đầu có móc và giác bám,
đường kính của giác bám 0,099 – 0,310 mm, có 28 – 40 móc, xếp hai hàng, móc
Trang 20hàng trên dài 0,185 – 0,210 mm, móc hàng dưới dài 0,126 – 0,160 mm, vỏ trong của nang được bọc bằng vỏ ngoài, vỏ này bám vào thành mô cơ của vật chủ, kích thước của nang phụ thuộc vào nơi ký sinh của ấu trùng
+ Loài Taenia pisiformis: Sán dài 600 – 2000 mm và rộng 4,8 mm gồm 400
đốt, đường kính đầu 1,3 mm, vòi 0,515 – 0,640, có 34 – 48 móc xếp thành hai hàng,
móc hàng trên dài 0,225 – 0,294 mm, có lưỡi rất cong Móc hàng dưới dài 0,132 – 0,177 mm, giác bám tròn hay bầu dục, đường kính 0,310 – 0,330 mm, cổ ở ngay sau
đầu dài 1,7 mm Lỗ sinh dục xen kẽ không đều, các núm sinh dục hơi nhô ra Có
400 – 500 tinh hoàn, tròn hay bầu dục, đường kính 0,096 – 0,132 mm, ở toàn bộ khoảng trống giữa đốt trừ vùng noãn hoàng và buồng trứng Ống dẫn tinh bắt đầu từ túi tinh tròn có đường kính 0,210 – 0,350 mm, nang lông gai hình trụ hay bầu dục ngang, dài 0,460 – 0,800, rộng 0,130 – 0,140 mm, buồng trứng hai thùy, ở nửa dưới của đốt, những thùy bên hình thận và có kích thước như nhau, noãn hoàng hình ba góc, ở bờ dưới của đốt Thể Melis ở giữa noãn hoàng và buồng trứng, âm đạo đi từ
lỗ sinh dục, tạo thành túi nhận tinh ở sát thùy của buồng trứng Ở những đốt già, mỗi phần của thân tử cung có 8 - 14 nhánh bên, từ đó tạo thành các nhánh phụ, trứng tròn hay hơi bầu dục, đường kính 0,032 - 0,037 mm
- Giống Multiceps Goeze, 1782
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5]:
+ Loài Multiceps multiceps: Sán dài 400 - 1000 mm, gồm 200 - 250 đốt, rộng
gần 5 mm Đầu hình quả lê và có đường kính 0,800 mm Vòi có đường kính 0,300
mm, có 22 - 32 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng một dài 0,150 mm, hàng hai dài 0,090 – 0,130 mm Giác bám có đường kính 0,290 - 0,300 mm Cổ dài 2 - 3 mm Ống dẫn tinh bắt đầu ở phía có lỗ, gần thân giữa của tử cung, uốn khúc và đi vào nang lông gai Nang có dạng quả lê dài 0,315 – 0,350 mm, rộng 0,110 – 0,145 mm Buồng trứng có hình cánh bướm, ở gần bờ dưới đốt, hai thùy gần như bằng nhau và có hình bầu dục, noãn hoàng hình ba góc, ở sát bờ dưới đốt Thể Melis nhỏ ở giữa buồng trứng và noãn hoàng Âm đạo có dạng ống cong xuống một thùy của buồng trứng và
Trang 21phình rộng thành túi chứa tinh, tử cung có thân giữa và mỗi bên có 9 - 12 nhánh, trứng có đường kính 0,029 - 0,037 mm, có vỏ dày 0,004 mm
Ấu trùng Coenurus cerebralis là một nang lớn, hình tròn hay bầu dục, vỏ mờ đục,
mềm ở trong có rất nhiều đầu sán dính vào, trong nang là chất dịch không màu, số lượng dịch thay đổi phụ thuộc vào kích thước nang Kích thước nang khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phát triển, vị trí não ký sinh và loại động vật
- Giống Echinococcus Rudolphi, 1810
Phan Thế Việt và cs (1977) [17], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] cho biết:
+ Loài Echinococcus granulosus: Sán dài 2,7 - 3,4 mm, gồm 3 - 4 đốt Đầu
không lớn, có đường kính 0,258 - 0,369 mm, đường kính giác bám 0,098 - 0,133
mm, vòi 0,100 – 0,140 mm Có 36 - 40 móc vòi, thường thay đổi về kích thước và
số lượng móc, móc hàng trên dài 0,032 – 0,043 mm, móc hàng dưới dài 0,020 – 0,036 mm, cán không thẳng và dài hơn lưỡi móc, đôi khi cán phình rộng hoặc có mỏm lớn Cơ quan sinh dục cái ở nửa dưới của đốt, buồng trứng gồm hai khối đặc hình bầu dục, nối với nhau bằng ống ngang hẹp, noãn hoàng dưới buồng trứng, thể Melis dưới buồng trứng và noãn hoàng, có 32 - 40 tinh hoàn Nang lông gai dài 0,025 – 0,026 mm, dài tới giữa đốt, lỗ sinh dục mở ra ở hai bên đốt, tử cung dài bằng chiều dài đốt già, có các nhánh bên với số lượng và hình dạng không giống nhau Trứng tròn hay bầu dục, đường kính từ 0,028 - 0,036 mm
Ấu trùng Echinococcus enilocularis ký sinh ở trâu, bò, dê Nó có dạng túi,
trong chứa đầy dịch, nang có hai vỏ, vỏ ngoài màu trắng sữa đôi khi hơi vàng, vỏ ngoài sinh ra vỏ trong, vỏ trong gọi là vỏ mầm, sinh ra từ phía trong xoang nang, mỏng, không màu, là thành mô sinh ra nang, có thể sinh ra một nang cùng lúc tạo thành đầu phôi và nang thứ hai (nang con)
- Giống Dipylidium Leuckart, 1863
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] cho biết:
Trang 22+ Loài Dipylidium caninum: Cơ thể dài 15 – 17 cm, gồm 80 – 250 đốt Đầu
rộng 0,24 – 0,50 mm Đầu có vòi hình chóp, có 4 – 10 hàng móc, mỗi hàng có từ 16 – 20 móc, móc hàng trên cùng dài 0,013 – 0,016 mm, móc hàng cuối cùng dài 0,003 – 0,008 mm Lỗ sinh dục kép, mở ra ở hai bên đốt Túi sinh dục dài 0,1 – 0,3 mm,
đáy hướng lên phía trên đốt Buồng trứng phân thùy hình quạt Tuyến noãn hoàng
hình khối Đốt già chứa nang trứng, mỗi nang chứa 3 – 30 trứng, có kích thước 0,026 – 0,060 mm Phôi 6 móc có kích thước 0,020 – 0,036 mm
- Giống Mesocestoides Vaillant, 1863
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13], Nguyễn Thị
Kỳ (2003) [5] cho biết:
+ Loài Mesocestoides lineatus: Sán trưởng thành dài đến 2m Đầu không có vòi,
có móc bám và 4 giác bám Tử cung có dạng túi dọc nằm ở giữa đốt Kích thước trứng 0,040 – 0,060 x 0,035 – 0,043 mm Phôi 6 móc, đôi móc giữa dài hơn móc bên
2.1.2.3 Chu kỳ sinh học của sán dây chó
Theo Trịnh Văn Thịnh (1978) [15], chu kỳ sinh học của sán dây khá phức tạp,
tiến triển ở nhiều ký chủ liên tiếp Ở bộ Cyclophyllidae trứng chứa thai trùng sáu móc
đã hình thành Vào dạ dày ký chủ, thai trùng sáu móc thành ấu trùng (đã mất móc) có
cấu tạo và tên gọi khác nhau: Cysticercus, Coenurus, Echinococcus, Cysticercoid Ở
bộ Pseudophyllidae có hai thể ấu trùng liên tiếp: Procercoid và Plerocercoid Những
dạng ấu trùng này sống lâu hay chóng ở KCTG và phải được một ký chủ cuối cùng thích hợp nuốt vào mới phát triển thành sán trưởng thành
Để hoàn thành vòng đời, sán dây ký sinh ở chó cần vật chủ trung gian là
nhiều loài động vật khác nhau, có thể là động vật có xương sống, hoặc có thể là
động vật không xương sống Có loài cần 1 KCTG để hoàn thành vòng đời, nhưng
cũng có loài cần 2 KCTG mới hoàn thành vòng đời
Các họ sán dây khác nhau có chu kỳ sinh học khác nhau Các loài sán dây:
Spirometra erinacei-europae, Spirometra mansonoides, Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps ký sinh ở ruột của chó Chó là
vật chủ cuối cùng của sán, giúp sán hoàn thành vòng đời và ký sinh ở giai đoạn
Trang 23thành thục Cụ thể vòng đời của các loài sán dây thường gặp ký sinh ở chó diễn ra như sau:
+ Loài Spirometra erinacei-europae
Vòng đời phát triển của Spirometra erinacei-europae có sự tham gia của vật
chủ trung gian thứ nhất là các các loài giáp xác, KCTG bổ sung là cá Trứng được thải ra ngoài theo phân chó không có phôi, ở trong nước, trứng nở ra ấu trùng có
những lông nhỏ xung quanh thân gọi là Coracidium, được vật chủ trung gian thứ nhất
là các loài giáp xác thuộc giống Mesocyclops, Eucyclops nuốt Trong cơ thể bọ nước, Coracidium phát triển thành dạng ấu trùng đặc biệt – Procercoid Trong trường hợp
cá nuốt phải bọ nước bị nhiễm Procercoid thì ấu trùng Procercoid sẽ phát triển thành dạng ấu trùng mới - Plerocercoid Chó ăn cá có ấu trùng Plerocercoid sẽ nhiễm sán,
sau 15 – 18 ngày sẽ xuất hiện trứng trong phân chó thải ra
+ Loài Spirometra mansonoides
Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian thứ nhất là các
loài giáp xác nước ngọt (Copepods), vật chủ trung gian thứ hai là những loài chim,
rắn, bò sát, lưỡng cư, động vật gặm nhấm Trứng theo phân chó ra ngoài, trải qua lần lượt các giai đoạn ở vật chủ trung gian thứ nhất và thứ hai, trở thành ấu trùng
gây bệnh Plerocercoid Chó ăn phải vật chủ trung gian chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm
sán Sau 10 – 30 ngày ấu trùng phát triển thành sán trưởng thành
+ Loài Dipylidium caninum
Vòng đời của loài này có sự tham gia của vật chủ trung gian là các loài bọ
chét giống Ctenocephalides Đốt sán già thải ra ngoài có mang theo nang trứng Đốt
sán vỡ ra, trứng ở ngoài tự nhiên được các vật chủ trung gian nuốt vào, phát triển thành ấu trùng Chó ăn phải bọ chét có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán dây Sau 3 – 4 tuần
ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành
+ Loài Taenia hydatigena
KCTG là lợn, trâu, bò, dê, cừu Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán già rụng theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng trứng sán KCTG nuốt phải trứng sán, vào
đến ruột, ấu trùng 6 móc nở ra và phát triển thành ấu trùng gây bệnh
Trang 24Cysticercoid sau 3 tháng Chó ăn phải nội tạng của vật chủ trung gian có ấu trùng sẽ
bị nhiễm sán Sau 2 tháng ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành
+ Loài Taenia pisiformis
Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là động vật gặm nhấm, chủ yếu là thỏ và thỏ rừng Các giai đoạn phát triển của ấu trùng thực hiện trong các vật chủ trung gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm sau 15 – 30 ngày Chó ăn phải nội tạng của thỏ có ấu trùng sẽ nhiễm sán
+ Loài Multiceps multiceps
Vòng đời của loài này cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là dê, cừu Đốt sán già ra ngoài theo phân chó Đốt vỡ ra giải phóng trứng sán; dê, cừu - vật chủ trung gian ăn trứng sán vào cơ thể, trứng nở và phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm ở óc dê, cừu sau 6 – 8 tháng Chó ăn phải óc vật chủ trung gian có ấu trùng sẽ nhiễm sán
Phan Thế Việt (1977) [17] đã mô tả: “Tất cả bề mặt của sán dây là một cái
“mồm” khổng lồ Thức ăn ngấm qua “da” của sán dây Các loài sán dây thường tắm trong nguồn thức ăn giàu có của cơ thể vật chủ Cái mồm đã không cần, thì hệ tiêu hoá của chúng cũng không có Ăn và tiêu hoá đều qua bề mặt cơ thể của sán dây” Hiện tượng rụng đốt của sán dây làm cho người ta có thể nghĩ rằng: Cơ thể sán dây
sẽ dần dần ngắn lại Song, không phải như vậy, bởi các đốt mới được sinh ra thay thế các đốt già đã rụng làm cho sán dây trở nên “trẻ lại” Sau đốt đầu là đốt cổ, người ta gọi đốt cổ là đốt sinh trưởng, từ đó sẽ mọc ra các đốt khác Các đốt mới sinh ra đẩy các đốt cũ lùi dần ra phía sau
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [7] cho biết: Những đốt sán dây hầu như
là những cơ thể độc lập với nhiều cơ quan riêng biệt và hoàn toàn độc lập Nhờ có
sự hóa đốt mà khả năng sinh đẻ của sán dây tăng lên gấp bội Trong cùng một lúc, ở những đốt thành thục của sán dây có thể sinh ra hàng chục triệu trứng Ngoài ra, sự hóa đốt còn có lợi cho sán dây về những mặt khác Đó là, do có đốt sán già lần lượt
đứt và thải ra môi trường bên ngoài mà sự reo rắc trứng ở đó được thuận lợi hơn,
bản thân sán dây thải bỏ đi những đốt già cỗi, đời nó hầu như từng thời được trẻ lại,
có sức lực và năng lượng mới để phát triển những loạt đốt thành thục mới
Trang 252.1.3 Đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis và sán dây Taenia hydatigena ở chó gây ra
2.1.3.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh Cysticercus tenuicollis
Bệnh Cysticercus tenuicollis xảy ra trên toàn thế giới, chủ yếu ở khu vực
nông thôn Tỷ lệ nhiễm ở các khu vực thay đổi rất nhiều Dịch bất ngờ có thể xảy ra
do điều kiện khí hậu có lợi cho sự tồn tại của trứng trong đồng cỏ hoặc các hoạt
động của động vật hoang dã mang bệnh (P Junquera, 2013) [31]
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3]:
- Phân bố của bệnh: phổ biến khắp các vùng, lợn nước ta nhiễm khoảng 44% Ở những nơi nuôi nhiều chó, bệnh càng phổ biến và gây nhiều thiệt hại
- Biến động nhiễm ấu sán theo tuổi: nhìn chung tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi lợn, vì số lần tiếp xúc với căn bệnh tăng theo tuổi
bãi chăn ít bị hơn
2.1.3.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây Taenia hydatigena
Đặc điểm dịch tễ bệnh do sán dây gây ra đã được nhiều tác giả đề cập đến Tuy nhiên, các nghiên cứu còn ít và chưa hệ thống nên chưa phản ánh đầy đủ những vấn đề liên quan đến sự phát sinh và phát triển của bệnh
Skarabin và Petrov (1963) [18] cho biết, nếu như đường xâm nhập của các giun sán địa lý thường là qua nước hoặc thức ăn bị nhiễm bẩn, thì nhiều loại giun sán sinh vật xâm nhập vào cơ thể ký chủ cuối cùng khi ký chủ đó ăn phải các mô và các cơ quan của KCTG chứa ấu trùng giun sán ở giai đoạn cảm
nhiễm Với cách xâm nhập này, chó sói cảm nhiễm sán dây Taenia hydatigena
do ăn phải cừu có ấu trùng sán
Trang 26Theo Trịnh Văn Thịnh (1978) [15], chó nhiễm sán dây loài Dipylidium canium do ăn phải các KCTG sống trên mình chó như bọ, rận Chó nhiễm sán dây loài Taenia hydatigena do ăn phủ tạng loài nhai lại hay lợn chứa ấu trùng Cysticercus tenuicollis
Theo kết quả nghiên cứu của Dalimi A và cs (2006) [22], kiểm tra 83 chó ở các
tỉnh phía Tây của Iran cho thấy: có 38,55% chó nhiễm Dipylidium caninum; 53,01% chó nhiễm Taenia hydatigena; 7,23% chó nhiễm Taenia ovis; 4,82% chó nhiễm Multiceps multiceps; 13,25% chó nhiễm Echinococcus granulosus
Theo kết quả nghiên cứu của Yotko K và cs (2009) [28], tỷ lệ nhiễm loài
Taenia hydatigena của chó ở vùng Tây Bắc Bulgaria là 47,85%
Ở nước ta, các loài Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis,
Multiceps multiceps được phân bố rộng ở cả 3 vùng: đồng bằng, trung du, miền núi với
những kiểu khí hậu khác nhau (Nguyễn Thị Kỳ, 1994) [4]
Kết quả kiểm tra 130 mẫu phân chó của Lê Hữu Nghị, Nguyễn Văn Duệ (2000) [14] ở Thành phố Huế cho thấy: chó nhiễm sán dây từ rất sớm, giai đoạn sơ sinh đến 1 năm tuổi đã nhiễm với tỷ lệ cao
Dịch tễ học của bệnh sán dây ở chó liên quan chặt chẽ đến số lượng chó nuôi
và chế độ kiểm soát giết mổ Ở những nơi mà chế độ kiểm soát sát sinh không chặt chẽ thì chó dễ mắc bệnh sán dây do ăn phải những khí quan của gia súc có ấu trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [6])
Tuổi thọ của sán trưởng thành dài, có thể tới hàng chục năm nên loài ăn thịt mang sán là nguồn gieo rắc căn bệnh nguy hiểm Mỗi đốt sán chửa chứa hàng nghìn trứng sán Chó mang trứng sán phát tán khắp nơi
Sức đề kháng của mầm bệnh ở ngoài tự nhiên cũng góp phần vào sự phát triển của bệnh Trứng sán dây có sức đề kháng mạnh ở ngoại cảnh, có thể sống lâu ở những nơi ẩm ướt
Sán dây là động vật sống ký sinh trong ruột động vật có xương sống, trong chu trình phát triển chúng cần sự tham gia của một hoặc hai vật chủ trung gian, vật chủ chứa Vì vậy sự phân bố của sán dây phụ thuộc rất nhiều vào vật chủ Ngoài
Trang 27quy luật phân bố của vật chủ, quy luật sinh thái học của cả vật chủ và sán dây là yếu
tố quan trọng nhất chi phối sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm sán dây ở vật chủ (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [5])
2.1.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng do ấu trùng Cysticercus tenuicollis
2.1.4.1 Đặc điểm gây bệnh của ấu trùng Cysticercus tenuicollis
Các vật chủ trung gian bị nhiễm bệnh khi ăn phải thức ăn hoặc nước bị nhiễm
trứng hoặc phân mang trứng của Taenia hydatigena qua cây dạng cỏ hoặc thức ăn lưu
trữ Một đoạn mang trứng duy nhất chứa hàng ngàn trứng Ô nhiễm thức ăn có thể xảy ra thông qua phân chó Trứng có thể tồn tại ngoài môi trường trong vài tháng
Khi nhiễm nhẹ, các chức năng rối loạn không rõ Thai 6 móc của ấu sán chui qua thành ruột, sau 24h vào gan, dừng lại ở các nhánh tĩnh mạch cửa, rồi vào gan
đào thành rãnh, gây viêm gan cấp tính, có khi viêm màng bụng
Ấu trùng di hành chui qua mặt gan vào xoang bụng, ký sinh ở màng treo
ruột, màng mỡ chài, phổi
Trong gan, ấu trùng di chuyển thông qua các mô gan tới các bề mặt cơ quan (thanh mạc) trong thời gian khoảng 30 ngày Trên bề mặt các cơ quan bụng khác nó hình thành các nang nước Phát triển thành u nang cần 35 đến 55 ngày sau khi nhiễm bệnh Các nang có thể lây nhiễm cho chó trong vài tháng (P Junquera, 2013) [31]
2.1.4.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra
Cysticercus tenuicollis không có tác dụng gây bệnh trong khi nằm trong ổ
bụng Khi nhiều ấu trùng di chuyển đồng thời qua gan ta có thể nhìn thấy dấu hiệu lâm sàng Sự di cư có thể gây hủy hoại trầm trọng mô gan và các bệnh lý nhìn thấy trong gan tương tự như quan sát thấy trong nhiễm sán lá gan (P Junquera, 2013) [31]
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3] bệnh thường ở thể mãn tính, triệu chứng không rõ ràng Khi bị nặng, giai đoạn đầu con vật gầy yếu, hoàng đản, tiếp đó là viêm màng bụng cấp tính, thường sốt cao, khi ấn mạnh vào bụng con vật thấy đau, bụng to và căng, một số trường hợp thấy xoang bụng xuất huyết Khi cấp tính gan sưng to, mặt gan gồ ghề, màng fibrin phủ kín, có nhiều điểm tụ huyết, có nhiều rãnh do ấu trùng di hành trong gan Thời kỳ đầu nhiều nước, thời kỳ cuối
Trang 28nước màu vàng Một vài trường hợp viêm màng bụng cấp tính có nhiều dịch thẩm xuất lẫn máu, đầu sán có trong dịch đó
Các bệnh lý của bệnh Cysticercus tenuicollis ở dê đã được nghiên cứu vào
ngày 7, 15, 30 và 60 sau khi gây nhiễm Các tổn thương đặc trưng thể hiện vào ngày thứ 15 sau khi nhiễm bệnh bao gồm tích tụ của một số lượng lớn chất lỏng fibrin trong xoang phúc mạc và ngực Xuất huyết cũng xuất hiện trên bề mặt gan và trong
nhu mô do di cư C tenuicollis Các tổn thương nhỏ trong gan bao gồm các u nang
với một khối lượng của fibrin và hồng cầu Các tế bào gan bị thoái hóa chủ yếu là
do sự phá hủy nhu mô Xoang được giãn ra và ống mật bắt đầu có những thay đổi thoái hóa Lá phổi của động vật bị giết chết vào ngày 15, thể hiện những đặc trưng
của bệnh khí thũng và xuất huyết với tác hại của C tenuicollis Màng phổi xuất hiện
phù nề Phế nang cho thấy sự hiện diện của dịch rỉ huyết thanh
Các ấu trùng của Taenia hydatigena gây thiệt hại lớn trong chăn nuôi do tác hại bệnh lý và tỷ lệ tử vong cao (Abidi và cs, 1989) [19] Di cư của Cysticercus
trong gan có thể gây ra xuất huyết và viêm phúc mạc (Blazek và cs, 1985 [20])
2.1.5 Chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra và bệnh sán dây chó
2.1.5.1 Chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra
Ba loại kháng nguyên được tìm thấy từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis có
trọng lượng phân tử là: 36.2KDa, 23.9KDa và 9.6KDa Các kháng nguyên này có
thể được dùng để chẩn đoán huyết thanh học bệnh do Cysticercus tenuicollis gây ra trên động vật (Goswamia A., Das M., Laha R., 2013) [26]
2.1.5.2 Chẩn đoán bệnh do sán dây chó gây ra
Để chẩn đoán bệnh do sán dây gây ra, có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng,
tuy nhiên phần lớn chó mắc bệnh thường không có biểu hiện đặc trưng và khó phân biệt, vì vậy phải kết hợp với việc kiểm tra phân tìm đốt sán
Trịnh Văn Thịnh (1978) [15] cho biết: việc chẩn đoán dễ khi chó ỉa ra những
đốt sán và thường lòng thòng ở hậu môn, gây ngứa
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6], (2008) [7]:
Trang 29- Đối với chó còn sống: Kiểm tra phân tìm trứng sán và đốt sán dây
Nếu số lượng đốt sán trong phân nhiều thì có thể trực tiếp tìm đốt sán trong phân Trường hợp chó nhiễm nhẹ, chỉ có ít đốt sán thì xét nghiệm phân tìm đốt sán và mảnh đốt bằng phương pháp lắng cặn Benedek (1943), cho cặn lên đĩa Petri màu đen tìm đốt sán bằng kính lúp Có thể dùng phương pháp Fulleborn tìm trứng sán dây Đối với sán dây bộ Pseudophyllidea tử cung có lỗ thông ra bên ngoài nên trứng được đẻ ra bên ngoài, do vậy kể cả khi trong ruột chó có sán dây ký sinh nhưng không tìm thấy được đốt sán trong phân vẫn có thể kết luận chó nhiễm sán qua việc xét nghiệm phân tìm trứng Cũng có thể tìm được trứng sán khi đốt
sán già vỡ ra đối với sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea
Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp trong
có phôi 6 móc Trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng sán lá: hình bầu dục, một đầu có nắp, bên trong chứa phôi bào
- Đối với chó đã chết hoặc những con nghi mắc bệnh còn sống: có thể
mổ khám để kiểm tra bệnh tích và tìm sán trưởng thành
Theo Valerie Foss (2003) [34], chó nhiễm sán loài Dipylidium caninum là
chủ yếu và có thể dễ dàng chẩn đoán được khi đốt già rụng ra ngoài giống như những hạt gạo dính trên lông đuôi
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [12] cho biết, dựa vào việc kiểm tra đốt sán trong phân vật bệnh để khẳng định là chó bị mắc bệnh sán dây
Chu Thị Thơm và cs (2006) [16] cho rằng: để xác định tên của sán dây trưởng thành một cách chính xác, thân sán dây để chết tự nhiên trong nước sạch phải được ép mỏng trong cồn etylic 700 Sau đó nhuộm Carmine, rút hết nước trong mẫu vật, làm trong và gắn thành tiêu bản trên phiến kính để chẩn đoán, xác định tên khoa học của các loài sán dây
2.1.6 Phòng và trị bệnh bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra
2.1.6.1 Điều trị
Ấu trùng sán dây Taenia hydatigena gây bệnh ấu sán cổ nhỏ ở người, lợn, trâu,
bò, dê, cừu , hiện vẫn chưa có thuốc điều trị (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [6])
Trang 302.1.6.2 Phòng bệnh
Phá vỡ chu kỳ lây nhiễm liên quan đến việc kiểm soát chu kỳ giữa chó và các vật chủ trung gian Điều trị cho chó thường xuyên với thuốc trị giun sán tiêu diệt sán dây và ngăn ngừa chó ăn thịt cừu, dê sống hoặc bộ phận nội tạng là cần thiết để kiểm soát chu kỳ của nhiễm trùng Hạn chế ô nhiễm đến mức tối thiểu bằng cách dọn dẹp phân chó cũng sẽ giúp hạn chế bệnh Điều này có thể thực hiện được trong không gian nhỏ nhưng kiểm soát của phân chó rõ ràng là ít hơn thực tế trên
đồng cỏ lớn Ký sinh trùng cũng có thể lây truyền giữa nai hoang dã và chó sói Bắc
Mỹ Khu vực đồng cỏ và cỏ khô hay thức ăn lưu trữ nên được rào chắn để giữ cho chó sói Bắc Mỹ và chó hoang dã khác đi vào Cách phòng ngừa tốt nhất là hạn chế
sự nhiễm trứng sán Taenia hydatigena vào nguồn thức ăn, nước uống của vật nuôi
(P Junquera, 2013) [31]
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4] cho biết: so với các nhóm giun sán khác thì sán dây ít được nghiên cứu hơn, nên những hiểu biết về thành phần loài sán dây còn chưa được đầy đủ
Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước Năm
1870, Cande J lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở
người Nam Bộ (Việt Nam) Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình nghiên cứu lẻ
tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã
Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán Cysticercus tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó
Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và thú
hoang Bắc Bộ cũng phát hiện thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis và loài sán Dipylidium caninum, đồng thời tác giả đã bổ sung thêm các loài trong đó có loài Taenia hydatigena và Taenia pisiformis