Trang 1 NGUYỄN MINH TUẤN Tên đề tài: KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CÁC BÊ SINH RA TỪ ĐÀN BÒ H’MÔNG HẠT NHÂN NUÔI TẠI HUYỆN PẮC NẶM, TỈNH BẮC KẠNKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào t
Trang 1NGUYỄN MINH TUẤN
Tên đề tài:
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CÁC BÊ SINH RA TỪ ĐÀN BÒ H’MÔNG HẠT NHÂN NUÔI TẠI
HUYỆN PẮC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học: 2011 - 2015
Thái nguyên, năm 2015
Trang 2NGUYỄN MINH TUẤN
Tên đề tài:
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CÁC BÊ SINH RA TỪ ĐÀN BÒ H’MÔNG HẠT NHÂN NUÔI TẠI
HUYỆN PẮC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Lớp: K43 - CNTY
Khoa: Chăn nuôi - Thú y Khóa học: 2011 - 2015 Giáo viên HD: T.S Nguyễn Hưng Quang
Thái nguyên, năm 2015
Trang 3Đặc biệt em xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của thầy giáo T.S
Nguyễn Hưng Quang - người đã tận tình dìu dắt em trong suốt quá trình thực
tập và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Cũng qua đây, cho phép em được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể
ban lãnh đạo cùng toàn bộ cán bộ công tác tại phòng Nông Nghiệp – huyện
Pắc Nặm – tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh Viên
Nguyễn Minh Tuấn
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là nội dung cuối cùng trong chương trình đào tạo của các trường đại học nói chung và Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là khoảng thời gian quan trọng với mỗi sinh viên, là cơ hội để áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời đây cũng là khoảng thời gian quý báu để mỗi sinh viên học hỏi, thu thập mọi kiến thức, là hành trang bước vào cuộc sống mới với công việc của mình
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, yêu cầu của cơ sở, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, được sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn T.S Nguyễn Hưng Quang
em tiến hành nghiên cứu đề tài "Khảo sát khả năng sinh trưởng của các bê sinh ra từ đàn bò H'Mông hạt nhân nuôi tại huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn "
Do thời gian và trình độ còn hạn chế, bước đầu còn bỡ ngỡ với công tác nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý của Quý thầy cô và các bạn để bản khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Minh Tuấn
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Khối lượng bò H'Mông hạt nhân 40 Bảng 4.2 Kích thước các chiều đo của bò đực H'Mông hạt nhân 41 Bảng 4.3 Kích thước các chiều đo của bò cái H'Mông hạt nhân 41 Bảng 4.4 Khối lượng cơ thể bê sinh ra từ đàn cái hạt nhân ở lứa đẻ thứ 3 42 Bảng 4.5 So sánh khối lượng cơ thể bê sinh ra từ đàn cái sinh sản và bê sinh
ra từ đàn cái hạt nhân ở lứa đẻ thứ 3 43 Bảng 4.6 Tăng khối lượng trung bình của bê sinh ra từ đàn cái hạt nhân ở lứa
đẻ thứ 3 qua các giai đoạn 44 Bảng 4.7 Kích thước chiều đo cao vây của bê sinh ra từ đàn cái hạt nhân ở
lứa đẻ thứ 3 45 Bảng 4.8 Kích thước chiều đo vòng ngực của bê sinh ra từ đàn cái hạt nhân ở
lứa đẻ thứ 3 46 Bảng 4.9 Kích thước chiều đo dài thân chéo của bê sinh ra từ đàn cái hạt
nhân ở lứa đẻ thứ 3 47
Trang 6UBND: Ủy ban nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dân
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu đề tài 2
1.3 Ý nghĩa đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng ở bò 4
2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng của bò 6
2.1.3 Đặc điểm sinh sản của bò 14
2.2 Đặc điểm chung của giống bò H'Mông 19
2.2.1 Nguồn gốc và phân loại 19
2.2.2 Ngoại hình 20
2.2.3 Một số đặc điểm về chăn nuôi bò H'Mông hiện nay 23
2.3 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của huyện Pắc Nặm 24
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 24
2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28
Trang 82.4 Tình hình phát triển chăn nuôi bò ở trong và ngoài nước 35
2.4.1 Tình hình phát triển chăn nuôi bò ở nước ngoài 35
2.4.2 Tình hình phát triển chăn nuôi bò ở Việt Nam 35
PHẦN 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1 Đối tượng nghiên cứu 37
3.2 Địa điểm nghiên cứu 37
3.3 Nội dung nghiên cứu 37
3.3.1 Đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng của đàn bò H'Mông hạt nhân 37
3.3.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng của các bê sinh ra từ đàn bò hạt nhân 37
3.4 Phương pháp nghiên cứu 37
3.4.1 Quản lý đàn bò hạt nhân 37
3.4.2 Theo dõi khả năng sinh trưởng phát triển của đàn bê sinh ra 37
3.4.3 Đánh giá sự tương quan giữa khối lượng bò bố và bò mẹ với khối lượng bê sinh ra 39
3.5 Xử lý số liệu 39
PHẦN 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng của đàn bò H'Mông hạt nhân nuôi tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 40
4.1.1 Khối lượng đàn bò H’Mông hạt nhân 40
4.1.2 Kích thước một số chiều đo cơ thể đàn bò H’Mông hạt nhân 41
4.2 Khối lượng, kích thước cơ thể đàn bê sinh ra từ đàn cái hạt nhân ở lứa đẻ thứ 3 42
4.2.1 Khối lượng cơ thể bê sinh ra từ đàn cái hạt nhân ở lứa đẻ thứ 3 42
4.2.2 Kích thước một số chiều đo cơ thể bê sinh ra từ đàn cái hạt nhân ở lứa đẻ thứ 3 45
PHẦN 5 : KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 50
Trang 95.1 Kết luận, tồn tại và đề nghị 50
5.1.1 Kết luận 50
5.1.2 Tồn tại 51
5.1.3 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 10
PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Bò H’Mông (hay còn gọi là bò Mèo) là một giống bò quý, có năng suất
và chất lượng thịt cao được nuôi nhiều ở vùng núi cao các tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng
Giống bò H'Mông là vật nuôi phổ biến của đồng bào Mông và có nhiều đặc điểm ưu việt, được người Mông chọn lọc, thuần dưỡng từ lâu đời Bò đã thích ứng với điều kiện sống trên vùng cao núi đá, khí hậu lạnh và khan hiếm thức ăn, nước uống Bò vàng vùng cao là vốn gen giống địa phương được đặt tên theo người nuôi phổ biến là người H'Mông Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của FAO trong phân loại các giống vật nuôi hiện nay, đó là: Một nhóm động vật ở một vùng địa lý nào đó có một số đặc điểm sinh học giống nhau và được nhân dân địa phương xem là một kiểu hình thì được xem như là một giống
Thực tiễn cho thấy, con bò H'Mông gắn liền với văn hóa người Mông,
đó là con vật của đời sống tâm linh, một nguồn sức kéo quan trọng và rất thích hợp với canh tác nương rẫy ở vùng cao nên được người Mông trân trọng
và nuôi dưỡng, chăm sóc rất chu đáo Có thể nói kinh nghiệm nuôi bò, huấn luyện bò để cày, kéo của người Mông được coi là tốt nhất trong các cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Con bò là niềm kiêu hãnh của nhiều gia đình người Mông, dù cuộc sống của họ còn nhiều gian khó
Trong những năm qua, khi đất nước phát triển, sự giao lưu kinh tế xã hội phát triển rộng khắp ở mọi vùng miền, nhiều giống vật nuôi mới trong đó
có giống bò đã xâm nhập và trao đổi nguồn gen với bò H'Mông dẫn tới xu hướng lai tạp Mặt khác, sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc trong điều kiện mới được tăng lên góp phần tác động làm cho giống bò H'Mông đứng trước
Trang 11nguy cơ bị thoái hoá do nhiều nguyên nhân: do tập quán chăn nuôi thả rông thành đàn, tự do giao phối, vấn đề cận huyết kéo dài do không luân chuyển đực giống, bò là tài sản của dân nên họ thường bán đi những bò to để được nhiều tiền, giữ lại bò bé, dẫn đến khối lượng cơ thể bị giảm dần Về công tác quản lý chưa có sự vào cuộc của cơ quan chuyên môn để hình thành hệ thống chọn lọc, quản lý giao phối và nhân giống nhằm gìn giữ những đặc tính ưu việt của phẩm giống và phát huy tiềm năng di truyền của chúng Vì vậy việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn và phát triển giống bò này là hết sức cần thiết, trong đó chọn lọc những bò đực có tầm vóc to làm giống để nâng cao sức sản xuất của đàn con sinh ra nhằm khai thác và phát triển giống bò H'Mông một cách có hiệu quả, góp phần phát triển chăn nuôi bò H'Mông năng suất, chất lượng cao, có tính bền vững, thân thiện với môi trường vùng cao
Từ thực tế của chăn nuôi bò H’Mông hiện nay đang bị giảm về số lượng và năng suất do việc chọn lọc, quản lý đàn bò chưa được chú trọng Vấn đề cần đặt ra trong thời điểm hiện nay là nhân giống thuần và khai thác nguồn gen bò H’Mông để phát triển đàn bò cả về số lượng và chất lượng
Từ những lý do trên, em tiến hành đề tài "Khảo sát khả năng sinh trưởng của các bê sinh ra từ đàn bò H'Mông hạt nhân nuôi tại huyện Pắc Nặm – tỉnh Bắc Kạn " nhằm góp phần vào việc chọn lọc, khai thác, phát
triển tốt nguồn gen vật nuôi quý của địa phương và Việt Nam
1.2 Mục tiêu và yêu cầu đề tài
1.2.1 Mục tiêu đề tài
- Đánh giá được hiện trạng đàn bò H’Mông hạt nhân nuôi tại địa phương
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng thế hệ đời con của đàn bò hạt nhân
1.2.2 Yêu cầu đề tài
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng của đàn bê sinh ra từ đàn bò hạt nhân
Trang 121.3 Ý nghĩa đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm những hiểu biết về khả năng sinh trưởng thế hệ đời con của đàn bò hạt nhân nhằm chọn lọc khai thác tốt nguồn gen bò hạt nhân
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nắm bắt được khả năng sinh trưởng thế hệ đời con của đàn bò hạt nhân
từ đó giúp người chăn nuôi biết ảnh hưởng của đàn bò hạt nhân tới thế hệ đàn con để có các biện pháp nâng cao chất lượng đàn con của đàn bò địa phương
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng ở bò
2.1.1.1 Tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng được gọi là tính trạng đo lường Tuy nhiên, có một
số tính trạng mà giá trị của nó thu được băng cách đếm số con đẻ ra trong một lứa, số trứng đẻ ra trong một chu kỳ… vẫn được coi là tính trạng số lượng Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là tính trạng số lượng, hầu như các thay đổi trong quá trình tiến hóa của sinh vật là sự thay đổi của tính trạng số lượng Tính trạng số lượng có các đặc trưng sau:
- Tính trạng số lượng biến thiên liên tục
- Phân bố tần suất giá trị của tính trạng số lượng là phân bố chuẩn
- Là tính trạng do nhiều gen điều khiển, mỗi gen có một tác động nhỏ
- Chịu tác động rất lớn của các yếu tố ngoại cảnh
2.1.1.2 Sự di truyền của tính trạng số lượng
Di truyền học số lượng vẫn lấy các quy luật di truyền của Mendel làm cơ
sở, nhưng do đặc điểm riêng của tính trạng số lượng so với tính trạng chất lượng nên phương pháp nghiên cứu của di truyền học số lượng khác với phương pháp nghiên cứu của di truyền học Mendel (Trần Đình Miên và cs, 1994) [36]
Ở các đời lai, tính trạng số lượng không phân ly theo một tỷ lệ nhất định, kết quả đó hầu như đối lập với quy luật di truyền Mendel Do vậy nhiều nhà nghiên cứu di truyền trước đây cho rằng sự di truyền tính trạng số lượng không tuân theo quy luật di truyền Mendel Đến năm 1908 các công trình nghiên cứu của Nilsson - Ehle mới xác định được tính trạng số lượng biến thiên liên tục và di truyền theo đúng quy luật của tính trạng chất lượng có biến dị gián đoạn
Trang 14Tức là các định luật cơ bản về di truyền của Meldel (trích theo Trần Đình Miên và Cs, 1994) [5] Bộ phận di truyền liên quan tới các tính trạng số lượng được gọi là di truyền học số lượng hoặc di truyền sinh trắc hay di truyền thống kê
Do đặc trưng của tính trạng số lượng nên phương pháp nghiên cứu di truyền số lượng khác với phương pháp nghiên cứu di truyến chất lượng
Đối tượng nghiên cứu không dừng lại ở mức độ cá thể mà phải mở rộng ở mức độ quần thể bao gồm các nhóm cá thể
Sự sai khác giữa các cá thể không thể chỉ là sự phân loại và phải có sự
đo lường từng cá thể
Cơ sở di truyền tính trạng số lượng được thiết lập bởi các công trình nghiên cứu của Fisher (1918); Wright 1926, Haldane 1932 (trích theo Nguyễn Văn Thiện, 1995) [10], Đặng Vũ Bình (2002) [1] Để giải thích sự di truyền tính trạng số lượng Nilsson - Ehle (1908) (trích theo Nguyễn Văn Thiện, 1995) [10], Đặng Vũ Bình (2002) [1], đã đưa ra thuyết đa gen với nội dung sau: tính trạng số lượng chịu tác động của nhiều cặp gen, phương thức di truyền của các cặp gen này tuân theo các quy luật cơ bản của di truyền như:
Sự phân ly, tổ hợp và liên kết… Mỗi gen thường có tác dụng nhỏ đối với các tính trạng kiểu hình, nhưng nhiều gen có giá trị cộng gộp lớn hơn Tác dụng của các gen khác nhau trên cùng một tính trạng có thể cộng gộp hoặc không cộng gộp Ngoài ra còn có thể có các kiểu tác động ức chế khác nhau giữa các gen nằm ở các locus khác nhau
Trong thực tế nếu biết được chính xác số lượng gen quyết định tính trạng số lượng có thể đề ra các phương pháp trực tiếp nghiên cứu các tính trạng số lượng đó
Theo Morgan 1911, Wright 1933 (trích theo Phan Cự Nhân, 1977) [6], quá trình hình thành tính trạng của gia súc không những chịu sự chi phối của các gen mà còn chịu sự chi phối rất lớn của điều kiện môi trường
Trang 15Giá trị kiểu hình của 1 tính trạng được ký hiệu là P (Phenotype)
Giá trị kiểu gen được ký hiệu là G (Genotype) và sai lệch môi trường được ký hiệu bằng E (Environment)
Quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P = G + E
Trong đó:
P: Giá trị kiểu hình G: Giá trị kiểu gen E: Sai lệch môi trường
Sai lệch môi trường của một quần thể bằng không, do đó giá trị trung bình kiểu hình bằng giá trị trung bình kiểu gen Giá trị kiểu gen của tính trạng
số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ cấu tạo thành, các gen có hiệu ứng riêng biệt rất nhỏ, nhưng khi tập hợp nhiều gen sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu
Phân tích giá trị tính trạng số lượng cho thấy: muốn cải tiến năng suất của vật nuôi cần phải tác động cải tiến di truyền (G) bằng cách tác động vào hiệu ứng cộng gộp thông qua các biện pháp chọn lọc Tác động vào các hiệu ứng trội và át chế bằng các biện pháp tạp giao Tác động về mặt môi trường bằng các cải tiến điều kiện chăn nuôi, nâng cao chất lượng thức ăn, cải tiến chuồng trại và các điều kiện môi trường, tăng cường biện pháp thú y
Theo Holroyd, 1988 [14], tính trạng số lượng thể hiện bằng các giá trị
đo lường và được xác định bằng các tham số thống kê riêng Theo Nguyễn Văn Thiện 1995 [10], khi nghiên cứu di truyền các tính trạng số lượng người
ta thường dùng các tham số thống kê mô tả cũng như xác định các mối tương quan phụ thuộc tuyến tính
2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng của bò
2.1.2.1 Khái niệm sinh trưởng
Theo Rouse (1982), Driesch (1990), thì sinh trưởng là sự tăng khối lượng của cơ thể do các xoang và các tế bào trong cơ thể đều tăng (trích theo Trần Đình Miên và Cs, 1992) [4]
Trang 16Theo Lee (1988) sự sinh trưởng bao giờ cũng phải có các quá trình: tế bào phân chia, tăng thể tích và các chất giữa tế bào, trong đó hai quá trình đầu là quan trọng nhất Gatner (1992) cho rằng quá trình sinh trưởng trước hết là kết quả của phân chia tế bào, tăng thể tích của các tế bào tạo nên sự sống Như vậy,
sự sinh trưởng của sinh vật phải thông qua ba quá trình: phân chia tế bào để tăng
số lượng tế bào; tăng thể tích tế bào; tăng thể tích giữa các tế bào (trích theo Trần Đình Miên và Cs, 1992) [4]
Quá trình sinh trưởng gắn liền với quá trình phát triển của cơ thể đó là
sự hình thành các tổ chức, bộ phận mới, sự hoàn thiện tính chất và chức năng của các bộ phận trong cơ thể, đó là sự phát triển toàn diện của cơ thể cả về hình thái và chức năng trên cơ sở tính di truyền Sinh trưởng là sự tăng thêm
về khối lượng, kích thước, thể tích của từng bộ phận hay của toàn bộ cơ thể con vật (Đặng Vũ Bình, 2007) [2]
Như vậy, có thể định nghĩa: “Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính di truyền có
từ đời trước” (Nguyễn Đức Hưng và Cs, 2008) [3]
2.1.2.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của bò
Cũng như các loài gia súc khác, sinh trưởng và phát dục của bò tuân thủ theo các quy luật chung, đó là quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn, quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều và quy luật sinh trưởng và phát dục có tính chu kỳ
a Quy luật sinh trưởng, phát dục theo giai đoạn
Sinh trưởng và phát dục cùng diễn ra trong cơ thể trong sự phát triển chung không tách rời nhau, không mâu thuẫn với nhau, cùng tồn tại và hỗ trợ nhau cùng phát triển Quá trình sinh trưởng phát dục của cơ thể gia súc trải qua hai giai đoạn lớn, mỗi giai đoạn có một đặc thù về sinh trưởng và phát dục riêng
Trang 17- Giai đoạn trong thai (trong cơ thể mẹ)
Thời gian của giai đoạn này được tính từ khi trứng được thụ tinh thành hợp tử đến khi con non sinh ra ngoài Trong giai đoạn phôi thai này người ta lại chia ra thành các giai đoạn nhỏ hơn đó là:
+ Thời kì phôi: bắt đầu được tính từ khi trứng và tinh trùng gặp nhau tạo thành hợp tử cho đến lúc hình thành bào thai, thời kì này ở bò là 60 ngày
+ Thời kỳ tiền thai: thời gian được tính từ khi hợp tử bám chắc vào niêm mạc tử cung đến khi xuất hiện các nét đặc trưng về giải phẫu, sinh lý trao đổi chất của lá phôi như: ống tiêu hoá, ống tim
Trong chăn nuôi gia súc cái mang thai ở thời kỳ này cần chú ý cung cấp đủ dinh dưỡng để gia súc mẹ đảm bảo dinh dưỡng cung cấp cho thai
+ Thời kỳ thai nhi: thời gian của thời kỳ này tính từ khi kết thúc tiền thai đến khi con non được sinh ra
- Giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ)
Thời gian của giai đoạn này được tính từ khi con vật sinh ra cho đến khi con vật già cỗi và chết Giai đoạn này được chia làm bốn thời kỳ:
+ Thời kỳ bú sữa, được tính từ khi con vật sinh ra đến khi thôi bú ở thời kỳ này con vật còn non chủ yếu sống dựa vào dinh dưỡng của mẹ (sữa mẹ) Ngoài sữa là nguồn thức ăn chính cần tập cho gia súc ăn sớm, ăn các thức ăn thực vật để bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết và tạo điều kiện kích thích bộ máy tiêu hoá phát triển và hoàn thiện dần
+ Thời kỳ thành thục: được tính từ khi cai sữa đến khi con vật có biểu hiện về tính dục Thời kỳ này dài ngắn khác nhau tuỳ thuộc vào loài
và tính biệt Đặc điểm của giai đoạn này là gia súc có tốc độ sinh trưởng nhanh và dinh dưỡng tách khỏi mẹ
+ Thời kỳ trưởng thành: ở thời kỳ này con vật đã phát triển hoàn thiện, hoàn chỉnh về mọi mặt con vật có khả năng sinh sản và sản xuất cao nhất, vì vậy người ta thường khai thác con vật ở thời kỳ này
Trang 18+ Thời kỳ già cỗi: được tính tiếp theo kỳ trưởng thành đến khi con vật chết vì già, đặc điểm của giai đoạn này là khả năng sinh sản của gia súc cái giảm dần rồi mất hẳn, con đực không bị mất nhưng cũng bị giảm sức khoẻ và sức sản xuất Thời kỳ này bắt đầu sớm hay muộn phụ thuộc vào tuổi và điều kiện sống
b Quy luật sinh trưởng, phát dục không đồng đều
Sự phát triển của vật nuôi không phải là sự phóng to dần các cơ quan
bộ phận mà tuân theo quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều Điều này được biểu hiện rõ rệt ở sự thay đổi về tốc độ phát triển của các bộ phận theo độ tuổi: bộ phận này phát triển mạnh ở độ tuổi này thì độ tuổi khác lại phát triển chậm Chính sự phát triển không đồng đều của các bộ phận theo tuổi như vậy đã tạo nên sự cân đối của cơ thể
Biểu hiện rõ nhất của sự phát triển không đồng đều là sự tăng khối lượng của cơ thể, tăng nhiều hay ít là sự cân bằng của các quá trình oxi hoá trong trao đổi chất, có giữ được nhiều ở một nhịp độ nào đó hay không Đồng thời cũng do sự chăm sóc nuôi dưỡng tốt hay không Sự phát triển không đồng đều còn thể hiện ở thành phần hoá học của cơ thể gia súc Ở bò thời kỳ bào thai trong tháng thứ nhất tăng 600 lần, tháng thứ 9 tăng 1,5 lần, khi sơ sinh tỷ lệ vật chất khô trong cơ thể là 25,81% còn lúc 6 tháng là 30,93% lúc 12 tháng tuổi là 36,25%
Sự phát triển không đồng đều còn biểu hiện ở khả năng thích ứng với ngoại cảnh khác nhau của cơ thể gia súc tuỳ theo từng độ tuổi sự thay đổi điều kiện sống ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động của con vật, trước tiên là hoạt động của thần kinh, từ đó ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, làm cho chức năng cấu tạo của từng tế bào và các bộ phận cơ thể cũng thay đổi theo
Trang 19c Quy luật sinh trưởng, phát dục theo chu kỳ
Sự sinh trưởng phát dục của sinh vật nói chung và gia súc nói riêng không phải là tuyến tính Sự tăng khối lượng thường diễn ra theo chu kỳ, mỗi chu kỳ khoảng 12 ngày Một số quá trình khác trong cơ thể cũng diễn ra theo nhịp điệu như chu kỳ động dục, sự đồng hóa và dị hóa
2.1.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của bò
a Ảnh hưởng của di truyền
Sinh trưởng của bò thịt phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó di truyền
là một trong những yếu tố có vai trò quyết định đến mức độ sinh trưởng của chúng Theo Nguyễn Văn Thưởng và Cs, (1995) [11], năng suất đời con ở các công thức lai khi thay đổi giống bố sẽ cho khối lượng và tỷ lệ thịt tinh khác nhau Thí nghiệm trên bò lai F1 giữa các giống bò đực Red Sindhi, Santa Gertrudis, Charolais với bò cái Lai Sind cho khối lượng tương ứng 219; 259
và 244 kg, tỷ lệ thịt tinh lần lượt là 30,4; 37,7 và 40,6% Các giống bò đực nói trên lai trên nền bò cái F1 (HF × Lai Sind) cho kết quả về khối lượng là 255,5; 236,3 và 213,17 kg và tỷ lệ thịt tinh tương ứng 39,8; 36,7 và 35,5% Khối lượng và chất lượng thịt ở con lai phụ thuộc vào giống bố và con cái làm nền lai tạo, các giống bò thịt ôn đới có xu hướng di truyền tính trạng năng suất cao
và phẩm chất tốt cho con lai Trong một công thức lai tạo khác giữa các bò đực giống Red Sindhi, Santa Gertrudis, Charolais, Brown Swiss trên nền bò cái Lai Sind, tác giả cho biết sinh trưởng tuyệt đối đạt tương ứng là: 284,94; 305,14; 336,69 và 305,59 gr/con/ngày Rõ ràng yếu tố giống đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất thịt của các con lai
b Ảnh hưởng của dinh dưỡng và mức độ nuôi dưỡng
Quá trình phát triển của con vật sẽ phụ thuộc rất lớn vào mức độ dinh dưỡng Nếu mức dinh dưỡng cao, con vật sẽ sinh trưởng nhanh và đạt khối lượng tối đa trong thời gian ngắn Nếu mức dinh dưỡng thấp, con vật sẽ sinh trưởng chậm, thời gian nuôi kéo dài
Trang 20Không chỉ có vậy, mức dinh dưỡng trong khẩu phần còn ảnh hưởng đến sự tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể con vật từ đó mà ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm thịt bò
Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các yếu tố ngoại cảnh chi phối khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt của bò Nếu mức dinh dưỡng cao, con vật sẽ sinh trưởng nhanh và đạt khối lượng tối đa trong thời gian ngắn Nếu mức dinh dưỡng thấp, con vật sẽ sinh trưởng chậm, thời gian nuôi kéo dài Không chỉ có vậy, mức dinh dưỡng trong khẩu phần còn ảnh hưởng đến sự tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể con vật từ đó mà ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm thịt bò
Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các yếu tố ngoại cảnh chi phối khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt của bò Chế độ dinh dưỡng cao sẽ rút ngắn quá trình nuôi dưỡng và làm thay đổi phẩm chất thịt Hai loại dinh dưỡng quan trọng cần cho vật nuôi là năng lượng và protein Năng lượng cần cho việc duy trì sự tồn tại của tổ chức cơ thể, hoạt động của cơ, hệ tiêu hóa và hình thành
tổ chức mới Nhu cầu năng lượng chịu ảnh hưởng bởi khối lượng của con vật và khối lượng tăng lên của các tổ chức trong cơ thể
c Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường
Các điều kiện tự nhiên như: độ ẩm, nhiệt độ, cường độ chiếu sáng, lượng mưa Đều có những ảnh hưởng trực tiếp lên cơ thể con vật Ngay cả các điều kiện về dịch bệnh, thổ nhưỡng, chất đất của cây thức ăn sử dụng đều
có ảnh hưởng nhất định đến trao đổi chất của con vật, từ đó tác động tới sự sinh trưởng và phát triển của chúng
Một vấn đề hết sức quan trọng khi xây dựng chương trình phát triển chăn nuôi bò là hiểu biết các điều kiện môi trường mà bò được nuôi Khả năng sản xuất của bò ở các vùng khác nhau mang tính đặc trưng của nhiệt độ,
độ ẩm, lượng mưa, độ màu mỡ của đất đai, thảm thực vật, tình trạng bệnh tật
và ký sinh trùng
Trang 21Điều kiện môi trường khác nhau đã tác động đến sự sinh trưởng, phát triển của gia súc Trong chăn nuôi bò tạo nên sự tương thích giữa kiểu gen (giống gia súc) với môi trường, tạo nên sự cân bằng giữa tăng trưởng, khối lượng sơ sinh lớn, tỷ lệ sinh sản cao ở bò mẹ, sản xuất sản phẩm có chất lượng cao với giá thành thấp nhất Vấn đề này liên quan đến điều kiện chăn nuôi tại địa phương, khả năng chăm sóc cũng như các điều kiện sẵn có về nguồn thức ăn, trình độ chăn nuôi của hộ dân tại địa phương Nó ảnh hưởng đến thời gian vỗ béo, khả năng nuôi dưỡng tốt của hộ dân, rút ngắn khoảng thời gian nuôi nhưng tăng khối lượng của bò vẫn đạt tiêu chuẩn, góp phần nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi bò
d Ảnh hưởng của tuổi và tầm vóc, khối lượng bò bố mẹ
Tuổi hoạt động sinh sản của bố mẹ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới sức sống và khả năng sinh trưởng của đời con Tuổi bố mẹ thể hiện sự thành thục
di truyền về chức năng sinh sản Bố mẹ có tuổi còn non thì cơ thể chưa phát triển đầy đủ, chức năng sinh sản chưa đạt tới sự chín muồi sinh dục để có chất lượng đời con tốt nhất vì thế đời con sinh ra có khối lượng sơ sinh bị hạn chế, sức sống đời con thấp và sức sinh trưởng không cao
Bố mẹ có tuổi hoạt động sinh sản cao thì chất lượng tế bào sinh dục giảm sút ảnh hưởng xấu tới khả năng thụ thai cũng như dễ gây ra tình trạng đột biến di truyền tạo khuyết tật ở đời con Vì những ảnh hưởng trên mà người ta chỉ xác định tuổi sinh sản tốt nhất cho vật nuôi tùy theo từng loài, giống Với bò tuổi sinh sản tốt nhất của đực giống nằm trong khoảng ≥ 2
Sức sinh trưởng và tầm vóc cơ thể con vật khi trưởng thành còn phụ thuộc vào tầm vóc khối lượng bố mẹ, của kỹ thuật ghép đôi giao phối…
Tầm vóc cơ thể con bố là tính trạng di truyền trội để gây ra biểu hiện kiểu hình theo hướng trội ở đời con vì thế tầm vóc con bố có tương quan thuận với tầm vóc của đời con
Trang 22Theo nguyên tắc: “tốt đực thì tốt cả đàn” người ta thường chọn những con đực tốt nhất trong đàn để làm giống vì nó có cơ hội phổ quát nguồn gen tốt nhanh chóng trong quần thể
Tầm vóc con mẹ ảnh hưởng đế tầm vóc của con thông qua việc tạo môi trường tử cung cho sự phát triển bào thai Con mẹ có tầm vóc to thì sinh con
to và ngược lại Hơn nữa, con non có khối lượng sơ sinh lớn sẽ có tốc độ sinh trưởng nhanh Vì lý do này người ta không cho con mẹ sinh sản khi còn non sinh đẻ cũng như không chọn những con nái còi cọc nhỏ bé làm nái giống
Kỹ thuật chọn phối cũng là nguyên nhân ảnh hưởng tới sinh trưởng và sức sống đời sau Cần chọn phối theo nguyên tắc con tốt x con tốt = con tốt hơn hoặc con tốt x con trung bình = con tốt
2.1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng
Để đánh giá sức sinh trưởng của bò chúng ta thường dùng các công cụ xác định khối lượng, kích thước như cân, thước đo Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng gồm:
- Sinh trưởng tích lũy: là tăng lên của khối lượng, kích thước các chiều
cơ thể được tích lũy theo thời gian nuôi Đường cong lý thuyết của sinh trưởng tích lũy có dạng chữ S, tuyến tính khi gia súc còn nhỏ, dốc dựng khi bò ở giai đoạn sinh trưởng nhanh và sau đó đường cong có xu hướng nằm ngang khi bò đạt tuổi trưởng thành, con vật thành thục về thể vóc
- Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng khối lượng, kích thước các chiều cơ thể bình quân đạt được trong một khoảng thời gian xác định Đường cong biểu diễn sinh trưởng tuyệt đối có dạng hình chuông úp tăng dần đạt giá trị cực đại và sau đó giảm dần Nuôi bò thịt thường kết thúc ở thời kỳ cuối cùng của giai đoạn
vỗ béo, khi đường cong bắt đầu đi xuống Sinh trưởng tuyệt đối đạt được cao hay thấp phụ thuộc vào tiềm năng di truyền của phẩm giống Các giống bò chuyên dụng thịt cho sinh trưởng tuyệt đối cao hơn so với các giống bò kiêm dụng hoặc các giống bò địa phương
Trang 23- Sinh trưởng tương đối: là mức tăng trưởng đạt được tính theo tỷ lệ % tăng lên của lần khảo sát sinh trưởng sau so với lần trước đó, đường cong sinh trưởng tương đối là đường hyperbol Bò càng lớn tuổi sinh trưởng tương đối càng giảm đi
2.1.3 Đặc điểm sinh sản của bò
2.1.3.1 Đặc điểm sinh sản của bò cái
b Tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu
Trong chăn nuôi bò cái sinh sản thì tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu có vai trò quan trọng Tuy nhiên, tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu còn phụ thuộc vào các yếu tố như: di truyền, ngoại cảnh, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và các yếu tố như: sự theo dõi động dục, thời điểm phối giống, kỹ thuật phối
Trong điều kiện nước ta, do ảnh hưởng của của khí hậu và chế độ dinh dưỡng không hợp lý cho nên tuổi đẻ lứa đầu đối với bò thường cao
Trang 24c Thời gian động dục lại sau khi đẻ
Trong điều kiện gia súc cái được nuôi dưỡng, chăm sóc hợp lý và tình trạng sức khoẻ bình thường thì thời gian động dục lại sau khi đẻ cũng là thời gian hồi phục của tử cung sau khi đẻ Thời gian động dục lại sau để chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: thời tiết, khí hậu, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc hộ lý sau khi
đẻ, tình trạng sức khoẻ và bệnh tật cũng như các yếu tố bên trong cơ thể con vật
d Thời gian phối giống có chửa sau khi đẻ và khoảng cách lứa đẻ
Thời gian phối giống có chửa sau khi đẻ là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của gia súc cái Trong thực tế có những bò cái thời gian động dục lại sau khi đẻ rất sớm khoảng 30 ngày, nhưng người ta cũng không cho phối giống ngay mà đợi thêm 1 - 2 chu kỳ sau mới phối
Khoảng cách giữa hai lứa đẻ được tính từ lần đẻ lứa trước tới lần đẻ lứa sau, nó là thước đo khả năng sinh sản của gia súc một cách rõ rệt nhất, khoảng cách giữa hai lứa đẻ ảnh hưởng đến toàn bộ thời gian cho sản phẩm, ảnh hưỏng tới tổng số bê con sinh ra của bò mẹ
Khoảng cách giữa hai lứa đẻ bằng khoảng thời gian phối giống lại có chửa sau khi đẻ và thời gian mang thai Thời gian mang thai của bò thường ổn định, ít biến động (275 - 285 ngày) do đó khoảng cách giữa hai lứa đẻ phụ thuộc lớn nhất vào thời gian phối giống có chửa sau khi đẻ
e Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của bò cái
* Yếu tố di truyền
Các tính trạng sinh sản thường có hệ số di truyền thấp nên ảnh hưởng của di truyền đến khả năng sinh sản của bò cái không lớn so với ảnh hưởng của uyêus tố ngoại cảnh môi trường Tuy nhiên, những giống hoặc cá thể có khả năng thích nghi cao với khí hậu, khả năng chống đỡ bệnh tật tốt trong một môi trường cụ thể sẽ cho khả năng sinh sản cao hơn
Trang 25* Nuôi dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố ảnh hưởng tới sinh sản rất đa dạng và có vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi Bò là gia súc thuộc loài nhai lại, có đặc điểm tiêu hoá riêng biệt, cần rất nhiều thức ăn thô xanh trong khẩu phần Bởi vì chỉ
có thức ăn thô xanh mới tạo nên môt trường dạ cỏ thích hợp cho hệ vi sinh vật hoạt động và phát triển
* Chăm sóc quản lý
Công tác chăm sóc quản lý không những có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng suất sinh sản của bò cái mà còn thể hiện trình độ và kinh nghiệm của người chăn nuôi Việc tổ chức theo dõi phát hiện động dục tốt, kỹ thuật phối giống tốt và phối giống đúng thời điểm cộng với chất lượng tinh tốt
sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và tăng khả năng sinh sản của đàn bò
* Bệnh tật
Đối với gia súc cái sinh sản thì các rối loạn chức năng sinh sản và bệnh sản khoa như: sẩy thai truyền nhiễm, kí sinh trùng đường sinh dục, bệnh buồng trứng,
tử cung v.v đều là những bệnh nguy hiểm làm giảm khả năng sinh sản
2.1.3.2 Đặc điểm sinh sản của bò đực
a Tinh dịch và một số chỉ tiêu đánh giá tinh dịch
Tinh dịch là dịch tiết của cơ quan sinh dục đực khi nó thực hiện có kết quả phản xạ sinh dục Tinh dịch gồm: tinh trùng (3-5 %) và tinh thanh (95-97 %)
Một số chỉ tiêu đánh giá số lượng và chất lượng tinh dịch:
- Thể tích tinh dịch (V) là lượng tinh dịch của một lần xuất tinh (ml/lần) Thể tích tinh dịch có liên quan chặt chẽ tới giống, tuổi, chế độ chăm sóc, chế độ dinh dưỡng, kích thước dịch hoàn, mùa vụ, mức độ kích thích tính
dục trước khi lấy tinh, phản xạ nhảy giá và kỹ thuật khai thác tinh
Trang 26- Màu sắc và mùi tinh dịch: tinh dịch bò thường có màu trắng sữa hay trắng ngà, màu sắc tinh dịch thường phụ thuộc vào nồng độ tinh trùng cũng như sự có mặt của các chất khác Tinh dịch bò đực khoẻ mạnh thường có mùi đặc trưng bởi chất spermie, có mùi giống mùi sữa tươi mới vắt, tinh dịch có mùi khác là do có chất lạ lẫn vào hoặc để lâu, bị bệnh đường sinh dục như: mùi tanh thối của dịch rỉ viêm, mùi nước tiểu
- pH tinh dịch do nồng độ ion H+ quyết định Nồng độ H+ cao thì tinh dịch toan tính, pH trong trường hợp này có liên quan đến năng lực đệm, khả năng sống sót và năng lực thụ tinh của tinh trùng Độ pH của tinh dịch phụ thuộc vào lứa tuổi, khẩu phần ăn ,pH tinh dịch bò từ 6,4 đến 6,9, thường
pH của tinh dịch bò hơi toan lúc còn non, sau đó tính toan giảm tính kiềm tăng lên khi bò trưởng thành
- Nồng độ tinh trùng (C) là số lượng tinh trùng có trong một ml tinh dịch Chỉ tiêu này có ý nghĩa quyết định loại bỏ hay sử dụng tinh dịch cho các công đoạn sau trong quá trình sản xuất tinh đông lạnh Bình thường, bò đực
Trang 27b Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất tinh dịch
- Giống và cá thể bò đực: tuỳ từng giống, tầm vóc to hay nhỏ, cường độ
trao đổi chất mạnh hay yếu, khả năng thích nghi với thời tiết khí hậu tốt hay không mà có số lượng và chất lượng tinh sản xuất khác nhau… Ví dụ bò đực giống ôn đới trọng lượng từ 800 - 1000 mỗi lần lấy tinh cho 8 - 9 (ml), còn bò nội chỉ cho 3 - 5 ml/lần khai thác
- Tuổi bò đực: tuổi bò đực giống có thể đạt từ 18 - 20 năm nhưng
thường sử dụng 5 - 8 năm Thể tích tinh dịch và số lượng tinh trùng của con đực trưởng thành thường nhiều và ổn định hơn so với đực non Bò đực sản xuất tinh tốt và ổn định vào khoảng 3 - 6 năm tuổi Tinh dịch được lấy từ những bò đực già hơn thể hiện những đặc trưng như: giảm tỷ lệ tinh trùng sống, tăng tỷ lệ tinh trùng kỳ hình và giảm khả năng có thể đông lạnh
- Thời tiết và khí hậu: môi trường mà đặc biệt là thời tiết, khí hậu có
ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của bò đực Tác động của môi trường đến sản xuất tinh dịch của con đực là rất phức tạp Ở nhiệt độ không khí 60C, dịch hoàn được nâng lên gần với thân bò đực, khi nhiệt độ lớn hơn
240C dịch hoàn buông thõng xuống để điều hoà nhiệt độ dịch hoàn Vào các tháng nắng nóng nhiệt độ không khí trrên 300C và độ ẩm quá cao trên 90% hoặc thấp 40% sức sản xuất tinh của bò đực giống giảm đi rõ rệt
- Chế độ dinh dưỡng: thức ăn là một trong những yêu tố cơ bản có ảnh
hưởng trực tiếp và gián tiếp đến số lượng và chất lượng tinh dịch Trao đổi chất của bò đực giống cao hơn bò thường 10% - 12%, thành phần tinh dịch cũng đặc biệt hơn các sản phẩm khác Vì vậy, nhu cầu thức ăn cho đực giống đòi hỏi đầy đủ cả về số lượng và chất lượng
- Khoảng cách lấy tinh: dối với bò đực giống thường khoảng cách 3 - 5 ngày
lấy tinh một lần, nếu khoảng cách lấy tinh ngắn thì có thể mỗi lần lấy tinh được ít, nhưng số lần lấy tinh thì nhiều Nếu khoảng cách lấy tinh dài, thể tích tinh dịch lấy được nhiều nhưng tỷ lệ tinh trùng chết cao, hoạt lực tinh trùng yếu
Trang 28- Chăm sóc: chăm sóc là công việc tác động trực tiếp lên cơ thể bò đực
Chuồng trại sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, bò đực giống được tắm, chải, vận động thoải mái hàng ngày, tuần hoàn máu lưu thông vv giúp bò đực giống khỏe mạnh sẽ làm tăng khả năng sinh tinh và chất lượng tinh cũng được tăng lên
2.2 Đặc điểm chung của giống bò H'Mông
2.2.1 Nguồn gốc và phân loại
Bò H’Mông (hay còn gọi là bò Mèo) được xác định là nhóm bò vàng thuộc giống bò Vàng Việt Nam Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả,
bò H’Mông có nguồn gốc từ giống bò Vàng Ấn Độ có u (Bos Indicus) và bò Vàng Trung Quốc không u (Bos Taurus) được đưa vào nước ta do quá trình giao lưu, buôn bán và được thuần hóa tại Việt Nam
Theo phân loại, bò H’Mông thuộc loại gia súc lớn nhai lại, hay còn được gọi là gia súc lớn có sừng, thuộc lớp động vật có vú (Mammalia), bộ guốc chẵn (Artiodactyla), bộ phụ nhai lại (Ruminantia), họ sừng rỗng (Bovidae), tộc bò (Bovini), loài bò (Bos indicus)
Hà Giang và một số tỉnh có đông người Mông sinh sống như Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La…là địa bàn phân bố của giống bò H'Mông Giống bò này được nuôi được tập trung tại các huyện vùng cao của các tỉnh Bò H'Mông có khả năng cày kéo tốt, mức cho thịt cao, tầm vóc lớn, phẩm chất thịt thơm ngon Hơn nữa giống bò này có khả năng thích nghi cao với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, và điều kiện chăn thả tự nhiên Tuy vậy, việc khai thác giống bò của đồng bào Mông mang tính tự phát, thiếu điều tiết Hiện nay, các nghiên cứu về bò H'Mông còn rất hạn chế, nội dung nghiên cứu chỉ tập trung chủ yếu vào đặc điểm sinh học của bò
Trang 292.2.2 Ngoại hình
2.2.2.1 Màu sắc lông
Kết quả của các công trình nghiên cứu trên bò H’Mông nuôi tại Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng cho thấy màu sắc lông của bò H'Mông rất đa dạng, chủ yếu là màu vàng hoặc vàng phối trộn với một số màu khác nhưng vẫn có sắc vàng Nói chung, màu vàng hoặc hơi vàng chiếm tỷ lệ cao nhất, lên tới 80%, màu đen mờ chiếm 19% và màu xám ít nhất, chỉ chiếm 1% Chủ yếu
là 3 nhóm:
+ Nhóm bò vàng cánh gián: Màu lông nổi bật là vàng cánh gián, có lẫn những mảng tối ở hai bên cổ, u vai và dọc lưng Mõm và xung quanh hố mắt
có mầu sáng Bò cái có màu lông toàn thân là vàng cánh gián
+ Nhóm bò có màu vàng tơ: Màu lông nổi bật là vàng tơ Đôi khi có một số con có lẫn những mảng tối ở hai bên cổ và u vai Mõm và xung quanh
hố mắt có mầu sáng Bò cái có mầu lông toàn thân là vàng tơ
+ Nhóm bò đen tuyền: Bò có màu lông toàn thân là đen tuyền Vùng quanh vành môi trên và dưới có mầu sáng
2.2.2.2 Khối lượng và kích thước
Bò H’Mông có tầm vóc to lớn, tương đương nhóm bò Vàng U Đầu Rìu nuôi ở Nghệ An, nhưng to lớn hơn so với các nhóm bò Vàng khác của giống bò vàng Việt Nam đã được các nhà khoa học công bố (Nguyễn Văn Niêm và CTV,
1999 [8] Bò H’Mông có ngoại hình cân đối, cấu tạo chắc chắn, linh hoạt, đôi mắt
và lông mi hoe vàng, xung quanh hố mắt màu trắng sáng, phần lớn có màu vàng
tơ, một số ít màu cánh gián xẫm, da mỏng, lông mịn Đỉnh trán có u gồ lên (91%), một số ít có trán lõm hoặc rộng phẳng, đôi khi hơi lõm hoặc gồ lên Hai tai nhỏ vểnh lên, sừng hướng về phía trước và vểnh ra hai bên, ngắn hoặc mọc nhú lên xù xì Bò đực có u vai to, cao, có yếm rộng, đuôi dài, trông hung
dữ Bò cái có dáng thanh, đầu nhẹ, sống mũi thẳng, truớc hẹp, phía mông rộng hơn, bầu vú to cân đối, núm vú đều, thẳng hàng
Trang 30a Khối lượng (KL)
Khối lượng trung bình của nhóm bò H’Mông là 290,14± 5,22 kg, biến động trong phạm vi 164-388 kg Nguyễn Văn Niêm và CTV (1999) [8], Nguyễn Đàm Thuyên (2012) [12]
Bò H'Mông có khối lương sơ sinh: con đực 17-18 kg và con cái 14-16
kg Lúc 2 năm tuổi con đực đạt khối lượng 233-275 kg và con cái đạt 216-225
kg Đến khi bò trưởng thành (5 năm tuổi) con đực đạt 382-388 kg và con cái đạt 250-270 kg Nghiên cứu của Nguyễn Đàm Thuyên (2012) [12] cho biết lúc 2 năm tuổi con đực đạt khối lượng 321 kg và con cái đạt 267 kg, đến 36 tháng (3 năm tuổi) con đực đạt 371 kg và con cái đạt 280 kg
b Kích thước (KT)
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Niêm và CTV (1999) [8], về kích thước của một số chiều đo chính của nhóm bò Vàng H’Mông:
- Dài thân chéo (DTC) trung bình của giống là 123,34 cm
- Vòng ngực (VN), cao vai (CV) và cao khum (CK) trung bình là 154,87; 118,45 cm và 117,01 cm
c Sự khác nhau về khối lượng và kích thước giữa 2 giới tính ở bò H’Mông
Ở bò H'Mông giữa 2 giới tính có sự khác biệt nhau khá lớn, đặc biệt là
sự khác biệt về khối lượng và kích thước của một số chiều đo chính Kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy bò H'Mông đực có khối lượng và kích thước lớn hơn khá rõ rệt so với bò cái
Nguyễn Văn Niêm và CTV (1999) [8] cho biết, bò H'Mông đực trưởng thành có khối lượng trung bình là 294,98 kg, kích thước các chiều đo trung bình CV: 118,14 cm; VN: 154,58 cm; DTC: 123,77 cm; ở bò H'Mông cái khối lượng trung bình là 286,50 kg; kích thước các chiều đo tương ứng CV: 118,68 cm; VN: 155,08 cm và DTC: 123,01 cm
Trang 31Nguyễn Đàm Thuyên (2012) [12] nghiên cứu trên đàn bò H'Mông nuôi tại Đồng Văn - Hà Giang cho biết: bò H'Mông đực 3 năm tuổi có khối lượng trung bình là 301,4 kg, kích thước các chiều đo trung bình CV: 111,9 cm; VN: 158,5 cm; DTC: 113,2 cm; ở cùng lứa tuổi bò H'Mông cái khối lượng trung bình là 255,4 kg; kích thước các chiều đo tương ứng CV: 112,2 cm; VN: 152,0 cm và DTC: 113,7 cm
Theo Nguyễn Văn Niêm và CTV, (1999) [8], bò H'Mông đực có khối lượng cơ thể đạt 400-450 kg, bò cái trưởng thành có khối lượng cơ thể đạt 250-280 kg, tỉ lệ thịt xẻ khá cao: 52,12 %, tỉ lệ thịt tinh đạt 40,33 % (so với bò Vàng Việt Nam tỉ lệ này là 42 % và 33 %)
Theo Trần Xuân Vũ (2012) [13] nghiên cứu một số đặc điểm sinh sản của
bò Mông tại huyện Đồng Văn (Hà Giang) cho kết quả là bò cái H'Mông có khả năng sinh sản tốt, tuổi phối giống lần đầu trung bình là 32,86 tháng, tuổi đẻ lứa đầu trung bình là 33,44 tháng, thời gian phối giống có chửa sau đẻ là 242,07 ngày, khoảng cách lứa đẻ trung bình là 17,23 tháng, tỷ lệ thụ thai lần đầu phối đạt 45,28
%, hệ số phối trung bình là 1,56, tỷ lệ thụ thai toàn đàn trung bình đạt 64,2 % và tỷ
lệ đẻ toàn đàn đạt 50,88% Bò đực H’Mông có thể tích tinh dịch trung bình là 4,37ml/xuất tinh, hoạt lực tinh trùng trung bình đạt 67,98 %, nồng độ tinh trùng trung bình là 0,84 tỷ/ml, tổng số tinh trùng tiến thẳng/lần khai thác là 2,5 tỷ/lần, tỷ
lệ kỳ hình chiếm 16,26 %, pH trung bình là 6,74
Kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm sinh trưởng và khả năng sản xuất thịt của bò H'Mông nuôi tại Mèo Vạc (Hà Giang) của Nguyễn Đàm Thuyên (2012) [12] cho biết, bò H'Mông có khối lượng khá lớn thể hiện ngoại hình của bò thịt khá rõ nét Bò đực từ 18 tháng đến 24 tháng tăng bình quân là 50,3kg/con, từ 24 đến 36 tháng tuổi tăng 50,2 kg/con, nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt ở giai đoạn này thì khối lượng bò đực có thể còn tăng cao hơn
Bò cái tăng khối lượng cơ thể thấp hơn và không ổn định giống như bò đực