1. Trang chủ
  2. » Tất cả

NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của NÔNG THÔN mới tới sủ DỤNG đất NÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn xã NINH GIANG, HUYỆN HOA lư, TỈNH NINH BÌNH GIAI đoạn 2010 2014

81 275 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 604,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Điểm dân cư nông thôn là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định bao gồm

Trang 1

ĐẠI HỌCTHÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

ĐINH THỊ THẢO

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NÔNG THÔN MỚI TỚI SỦ DỤNG

ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NINH GIANG,

HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2010-2014”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính môi trường

Khóa học : 2011 – 2015 Giảng viên HD : TS Nguyễn Đức Nhuận

THÁI NGUYÊN, 2015

Trang 2

i

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ

và chỉ bảo nhiệt tình của các Thầy, Cô giáo trong khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, các đoàn thể đã tạo điều kiện để em hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này

Trước hết em xin nói lời cảm ơn chân thành nhất tới Thầy giáo – TS Nguyễn Đức Nhuận đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập

cũng như thực hiện đề tài và hoàn thành báo cáo này

Em xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ, chỉ bảo ân cần của các Thầy, các Cô giáo trong Khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên trong suốt thời gian thực tập

Em xin chân thành cảm ơn UBND xã Ninh Giang, huyên Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình là đơn vị trực tiếp giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu làm đề tài tại địa phương

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Em xin kính chúc các Thầy, các Cô giáo và các Cô, Chú luôn mạnh khỏe và công tác tốt

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 05 năm 2015

SINH VIÊN THỰC HIỆN

Đinh Thị Thảo

Trang 3

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Tình hình biến động dân số của xã Ninh Giang giai đoạn 2010-2014 40

Bảng 4.2 Dự báo dân số, lao động xã Ninh Giang đến năm 2020 41

Bảng 4.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã Ninh Giang giai đoạn 2010 - 2014 39

Bảng 4.4 Sự biến động mục đích sử dụng đất của xã Ninh Giang giai đoạn 2010 – 2015 43

Bảng 4.5 Kết quả giao đất của xã Ninh Giang giai đoạn 2010 - 2014 44

Bảng 4.6 Kết quả thu hồi đất ở xã Ninh Giang giai đoạn 2010 - 2014 46

Bảng 4.7 Tình hình biến động đất đai của xã Ninh Giang từ năm 2010 đến năm 2014 48

Bảng 4.8 Một số thông tin cơ bản về các chủ hộ 49

Bảng 4.9 Tình hình biến động đất đai của hộ trước và sau khi thu hồi 50

Bảng 4.10 Tình hình nghề nghiệp của hộ trước và sau nông thôn mới 51

Bảng 4.11 Thay đổi thu nhập của hộ qua quá trình nông thôn mới 53

Bảng 4.12 Tình hình sử dụng nguồn tiền bồi thường đất đai của hộ 53

Bảng 4.13 Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của nông thôn mới 55

Bảng 4.14 Ý kiến của các hộ điều tra về kế hoạch trong thời gian tới 56

Trang 5

iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

v

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 : MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Yêu cầu 3

1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 3

Phần 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở lý luận về nông thôn mới 4

2.1.1 Cơ sở lý luận về nông thôn và phát triển nông thôn 4

2.1.3 Đất đai nông thôn và quản lý nhà nước về đất đai trong xây dựng nông thôn mới 10

2.2 Cơ sở pháp lý 14

2.3 Cơ sở thực tiễn về nông thôn mới 15

2.3.1 Thực tiễn nông thôn mới của một số nước trên thế giới 15

2.3.2 Thực tiễn nông thôn mới ở Việt Nam 21

2.3.3 Thực tiễn nông thôn mới tại tỉnh Ninh Bình 28

Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32

Trang 7

vi

3.3 Nội dung nghiên cứu 32

3.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Ninh Giang ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp 32

3.3.2 Ảnh hưởng của nông thôn mới đến sử dụng đất nông nghiệp 32

3.3.3 Ảnh hưởng của nông thôn mới đến đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp 33

3.3.4 Đánh giá chung tác động của nông thôn mới 33

3.3.5 Đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong quá trình nông thôn mới tại xã Ninh Giang – Huyện Hoa Lư – Tỉnh Ninh Bình 33

3.4 Phương pháp nghiên cứu 34

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 34

3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 35

Phần 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Ninh Giang 36

4.1.1 Điều kiên tự nhiên 36

4.1.2 Các nguồn tài nguyên 37

4.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội và thực trạng nông thôn mới 38

4.1.4 Đánh giá thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sự phát triển kinh tế - xã hội và nông thôn mới xã Ninh Giang 41

4.2 Ảnh hưởng của NTM đến sử dụng đất nông nghiệp 42

4.2.1 Thực trạng của quá trình chuyển mục đích sử dụng đất 42

4.2.2 Thực trạng của công tác quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất 44

4.2.3 Sự biến động về đất đai trong quá trình nông thôn mới của xã Ninh Giang 47

4.3 Ảnh hưởng của nông thôn mới tới đời sống kinh tế hộ nông dân trên địa bàn xã Ninh Giang 49

4.3.1 Nông thôn mới với hộ nông dân mất đất nông nghiệp 49

4.3.2 Đánh giá sự ảnh hưởng của nông thôn mới tới đời sống kinh tế - xã hội của các hộ thông qua các câu hỏi định tính 54

Trang 8

vii

4.3.3 Kế hoạch của hộ nông dân xã ninh Giang trong thời gian tới 56

4.4 Đánh giá chung tác động của nông thôn mới tới sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Ninh Giang 57

4.4.1 Tác động tích cực 57

4.4.2 Tác động tiêu cực 58

4.5 Định hướng phát triển và một số giải pháp nhằm nâng cao đời sống kinh tế hộ, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong quá trình nông thôn mới tại xã Ninh Giang 59

4.5.1 Định hướng phát triển của xã Ninh Giang tới năm 2020 59

4.5.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế mất đất nông nghiệp và đảm bảo đời sống hộ nông dân bị mất đất nông nghiệp trong quá trình nông thôn mới tại xã Ninh Giang 60

4.5.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai trong quá trình nông thôn mới của xã Ninh Giang 65

Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

5.1 Kết luận 69

5.2 Kiến nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

1

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được đối với các ngành sản xuất nông - lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nền tảng cho sự sống của con người và nhiều sinh vật khác

Việt Nam là một nước gắn liền với nông nghiệp nông thôn và nông dân vì vậy song song với vấn đề phát triển đất nước thì vấn đề phát triển nông thôn luôn được đặt lên hàng đầu Xây dựng nông thôn mới là giải pháp chủ yếu, quan trọng và

có tính chiến lược để thực hiện thành công Nghị quyết 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân của Ðảng, nhà nước, đã được nhân dân đồng tình và hưởng ứng tích cực Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào quần chúng sôi nổi và tương đối đều khắp trong cả nước; bộ máy chỉ đạo thực hiện từ Trung ương đến cơ sở được tổ chức thống nhất, đồng bộ

Hiện nay, cùng với xu hướng phát triển của thế giới thì quá trình nông thôn mới (NTM) đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới vấn đề sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Cùng với xu thế đó, tốc độ NTM phát triển mạnh mẽ tại tỉnh Ninh Bình và ảnh hưởng tới quá trình sử dụng đất nông nghiệp

Năm 2012, tỉnh Ninh Bình đã tổ chức lễ phát động “Ninh Bình chung tay xây dựng nông thôn mới”.Tốc độ NTM diễn ra mạnh mẽ kể từ đây Trong chiến lược phát triển tỉnh, xã Ninh Giang là nơi được chọn để tập trung phát triển NTM mẫu của huyện Hoa Lư NTM đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới quá trình sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh Ninh Bình nói chung và xã Ninh Giang nói riêng Quá trình NTM đã làm cho diện tích đất nông nghiệp tại xã Ninh Giang có những thay đổi đáng kể: diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã bị thu hẹp dần nhường cho diện tích đất của các công trình phục vụ NTM tăng lên nhanh chóng

Trang 10

2

Do biến động của quan hệ sử dụng đất trong quá trình nông thôn mới tình hình chính trị xã hội cũng có những biểu hiện xấu như: Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn; tình trạng khiếu kiện ngày càng gia tăng, đặc biệt khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai…

Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học

Nông lâm Thái Nguyên và với sự hướng dẫn trực tiếp của Thầy giáo – TS

Nguyễn Đức Nhuận, em tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của nông thôn mới đến sử dụng đất nông nghiệp tại xã Ninh Giang, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011-2014”

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Đề ra được các giải pháp nâng cao đời sống kinh tế hộ nông dân, tăng cường vai

trò quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình nông thôn mới của xã Ninh Giang

Trang 11

3

1.3 Yêu cầu

- Nắm vững hệ thống các văn bản pháp luật về đất đai mà Nhà nước đã ban

hành, đặc biệt là các văn bản có liên quan đến sử dụng đất

- Số liệu, tài liệu điều tra phải chính xác, đầy đủ, đảm bảo cơ sở pháp lý, đảm

bảo tính khách quan

- Đối chiếu, so sánh được giữa lý thuyết đã học với thực tế, vận dụng để

củng cố và nâng cao kiến thức

- Những giải pháp và kiến nghị đưa ra phải phù hợp với điều kiện địa

phương

1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài

- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Là cơ hội cho bản thân củng

cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường, đồng thời là cơ hội cho bản thân tiếp cận với vấn đề NTM

- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất:Tìm ra những mặt hạn chế và tích cực của quá trình NTM ảnh hưởng tới vấn đề sử dụng đất nông nghiệp, từ đó đề xuất ra những giải pháp thích hợp, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương góp phần đẩy nhanh quá trình này trong thời gian tới

Trang 12

4

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Cơ sở lý luận về nông thôn và phát triển nông thôn

2.1.1.1 Khái niện về nông thôn

- Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư trong đó có nhiều nông dân

Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, và môi trường trong một số cơ chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác, phân biệt với đô thị

- Phát triển nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội, và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn với sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức khác

- Khái niệm trên chỉa ra

+ Đối tượng phát triển làcưdân nông thôn ( cá nhân, gia đình/dòng họ, cộng đồng, trong đó nông dân là chủ yếu)

+ Yếu tố/ lĩnh vực phát triển là kinh tế( nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ…), văn hóa xã hội và môi trường

+ Vai trò của các bên tham gia đối với sự phát triển( chủ thể cư dân nông thôn là chính, nhà nước và các tổ chức khác đóng vai trò tích cực)

- Quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn là việc tổ chức không gian, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của điểm dân cư nông thôn

- Điểm dân cư nông thôn là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định bao gồm trung tâm xã, thôn, làng, ấp, bản,buôn … ( gọi chung là thôn) được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế- xã hội,văn hóa, phong tục, tập quán và các yếu tố khác

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỉ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỉ trọng sản phẩm và lao động nông

Trang 13

5

nghiệp; xây dung kế cấu hạ tầng kinh tế- xã hội,Quy luật phát triển nông thôn, bảo

vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân.[7]

2.1.1.2 Vai trò của nông thôn đối với sự phát triển của đất nước

Nông thôn có vị trí vô cùng quan trọng đối với sự phát triển đất nước- xuất phát từ đặc điểm của nước ta là nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu , 70% dân số sống bằng nghề nông

Là địa bàn sản xuất nông sản, thực phẩm cho người tiêu dùng của toàn xã hội

Vì vậy, phát triển bền vững nông thôn sẽ đáp ứng nhu cầu lương thực vàthực phẩm cho toàn xã hội

Với 70% dân số sống bằng nghề nông là địa bàn cung cấp lao động cho

đô thị

Là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm của đô thị hiện đại, phát triển nông thôn sẽ góp phần phát triển, công nghiệp, dịch vụ trên phạm vi toàn xã hội

Nông thôn có rất nhiều dân tộc khác nhau chung sống.Nên mỗi sự biến động

dù tích cực hay tiêu cực đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính trị, kinh tế, ANQP của

cả nước

Phát triển bền vững nông thôn có ảnh hưởng to lớn đến môi trường sinh thái

2.1.1.3 Đặc điểm của nông thôn và những vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước

2.1.1.3.1 Đặc điểm của nông nghiệp

- Đối tượng sản xuất NN là sinh vật

- Sản xuất nông nghiệp có tính chất thời vụ cao trong sử dụng lao động, vốn

và các nguồn lực khác

- Năng suất lao động NN phụ thuộc vào năng suất sinh vật

- Trong NN đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt

- Sản xuất NN đươc tiến hành chủyếu trên địa bàn nông thôn

- Sản xuất NN diễn ra trong không gian rộng lớn và thời gian dài Chủ thể chính sản xuất NN là nông dân

Trang 14

6

+ Đặc điểm của nông nghiệp Việt Nam:

- NN Việt Nam sản xất lương thực chủ yếu là cây lúa nước

- NN Việt Nam đang chuyển từ nền sản xuất nhỏ, lac hậu, phân tán sang nền sản xuất lớn tập trung trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

- Bình quân đất nông nghiệp theo đầu người thấp trong lúc đa số dân cư và lao động xã hội sống bằng nghề nông

- Việt Nam ở khu vực nhiệt đới gió mùa, có quần thể động thực vật phong phú, có tiềm năng lớn phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, có khả năng tăng vụ, quay vòng đất nhanh, có điều kiện bố trí sử dụng lao động đem lại hiệu quả cao

2.1.1.3.2 Đặc điểm của nông thôn

- Nơi định cư của những người sống chủ yếu bằng nghề nông, một số ít phi nông nghiệp, trình độ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội thấp,dân trí thấp hơn

đô thị

- Cộng đồng làng bản nhỏ, văn minh nông nghiệp

-Tương phản độ dân số thấp, tính nông thôn tương phản với mật độ dân số

- Di động xã hội theo lãnh thổ, theo ngành nghề không lớn

- Cộng đồng thuần nhất hơn về các đạc điểm chủng tộc tâm lý

- Tác động xã hội đến từng cá nhân thấp hơn quan hệ xã hội sơ sấp, láng giềng, huyết thống

- Môi trường tự nhiên ưu trội, quan hệ trực tiếp với tự nhiên

+ Một số đặc điểm của nông thôn Việt Nam

- Ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân, lao động và GDP nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong kinh tế nông thôn

- Đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái bao gồm các tài nguyên đất, nước, kh íhậu, rừng,sông suối, ao hồ, khoáng sản, hệ động thực vật

- Dân cư nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình Những người ngoài họ tộc cùng chung sống luôn có tinh thần đòan kết giúp đỡ nhau tạo nên tình làng, nghĩa xóm lâu bền

Trang 15

7

- Nông thôn lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hóa quốc gia như phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa, các danh lam thắng cảnh…Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hóa dân tộc, đồng thời là khu vực giải trí và du lịch sinh thái phong phú và hấp dẫn đối với mọi người

2.1.1.3.3 Đặc điểm của nông dân

- Tinh thần yêu quê hương, làng bản cao

- Truyền thống đoàn kết gắn bó cộng đồng

- Thích tự do, tùy tiện, tác phong vàlối sống nông nghiệp

- Số đông có trình độ văn hóa thấp, có tính ngưỡng vọng cao

- Thích nhiều con và thích có con trai

- Tính tư hữu cao về tài sản

- E ngại, ít tự tin

2.1.1.3.4 Quan điểm và mục tiêu phát triển nông thôn

Coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH – HĐH) nông nhiệp và kinh

tề nông thôn, đưa nông nghiệp, kinh tế nông thôn lên sản xuất hang hóa lớn Đây là nhiệm vụ rất quan trọng của cả nước về trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, củng cố liên mimh công - nông - trí thức theo định hướng XHCN

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề, gắn sản xuất với thị trường để hình thành sự liên kết công nông nghiệp – dịch vụ và thị trường trên địa bàn nông thôn và trên phạm vi cả nước, gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới, gắn công nghiệp hóa với dân chủ hóa và nâng cao dân trí, tạo ra sự phân công lao động mới, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo, thu hẹp dần khoản cách về đời sống giữa thành thị và nông thôn, thực hiện có kết quả mục tiêu dân số và kế hoạch hóa gia đình

Trang 16

8

Phát huy lợi thế của từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu nông sản thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp, hướng mạnh ra xuất khẩu

Phát triển nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể, HTX dần dần trở thành nền tảng, hợp tác và hướng dẫn kinh tế tư nhân phát triển theo đúng pháp luật

Củng cố và đổi mới hoạt động của kinh tế nhà nước Tiếp tục phát triển nhiều hình thức kinh tế hợp tác, các loại hình HTX dịch vụ cho kinh tế hộ gia đình, từng bước chuyển đổi và xây dựng HTX nông nghiệp kiểu mới theo luật HTX, chú trọng liên kết kinh tế nhà nước với các thành phần kinh tế khác, tạo điều kiện và khuyến khích mạnh mẽ hộ nông dân và những người có khả năng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp,công nghiệp,dịch vụ ở nông thôn

+ Quan điểm trong nghị quyết số 26- NQ/TW Hộ nghị lầm thứ 7 BCHTW khóa V về nông nghiệp, nông thôn, nông dân

- Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị tríc hiến lược quan trọng sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển KT-XH bền vững,giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước

- Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng

bộ, gắn với quá trình CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với quá trình xây dựng các cơ sở công nghiệp,dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt

2.1.2 Cơ sở lý luận về nông thôn mới

2.1.2.1 Khái niệm nông thôn mới

- Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị

Trang 17

2.1.2.2 Xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng

đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ);

có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.[7]

2.1.2.3 Đặc trưng của nông thôn mới

Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” (Nhà xuất bản Lao

động 2010), đặc trưng của Nông thôn mới thời kỳ CNH –HĐH, giai đoạn

- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;

- An ninh tốt, quản lý dân chủ

Trang 18

10

- Chất lương hệ thống chính trị được nâng cao

2.1.2.4 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

- Nội dung xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được qui định tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ

- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện

- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu

quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư

- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch

và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế,

kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành)

- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; Hình thành cuộc vận động “toàn dân xây dựng nông thôn mới" do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới.[7]

2.1.3 Đất đai nông thôn và quản lý nhà nước về đất đai trong xây dựng nông thôn mới

Với khoảng 70% dân số là nông dân sống ở nông thôn, những vấn đề liên quan đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn luôn được tỉnh ta đặt lên hàng đầu để tạo động lực cho sự phát triển bền vững

Trang 19

11

Trong thực tế phát triển, muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì một phần lớn đất nông nghiệp được chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, chủ yếu cho phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị; một bộ phận lớn nông dân bị mất đất sản xuất, phải chuyển đổi nghề nghiệp Do đó, việc hoàn thiện chính sách đất đai cho phù hợp luôn luôn được đặt lên hàng đầu

Trong quá trình thi hành pháp luật về đất đai hai vấn đề tồn đọng còn nổi cộm lên là vấn đề tích tụ đất trong nông nghiệp và vần đề bồi thường tái định cư khi thu hồi đất

Với việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa thì phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp và sản xuất hàng hóa là nhu cầu tất yếu khách quan Chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa trong kinh tế nông nghiệp được Đảng ta đặt ra như một bước đi tất yếu để giải quyết vấn đề tam nông Một trong nhưng biện pháp quan trọng nhất để phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp

là giải pháp tập trung ruộng đất để tổ chức sản xuất ở quy mô lớn hơn Nhà nước khuyến khích khu vực nông thôn thực hiện phong trào "dồn điền, đổi thửa" để khắc phục tình trang manh mún do quá trình giao đất trước đây, có điều kiện quy hoạch lại đồng ruộng, sử dụng được các dịch vụ công nghiệp, giao thông, điện, thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, v.v và áp dụng được các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp Từng người nông dân, hộ gia đình nông dân hay một nhóm hộ gia đình có năng lực làm nông nghiệp có thể tập trung ruộng đất hình thành các trang trại để có một địa bàn hoạt động rộng hơn, đa dạng hơn và công nghiệp hơn

Đối với chính sách đất đai, Nhà nước đẩy nhanh tiến độ giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận để các chủ trang trại yên tâm sản xuất; ưu tiên cho thuê đất đối với đất chưa giao, chưa cho thuê ở địa phương để phát trển trang trại, khuyến khích khai hoang, phục hóa để phát triển mở rộng trang trại Nghi định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai (năm 2003) đã đưa ra loại đất nông nghiệp khác bao gồm các loại đất phi nông nghiệp sử dụng để phục vụ sản xuất nông nghiệp được hưởng các chế độ sử dụng đất như đối với đất sản xuất nông nghiệp Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 lại quy định cụ thể hơn

Trang 20

12

là khi chuyển mục đích sử dụng từ đất sản xuất nông nghiệp (trừ đất chuyên trồng lúa nước), đất rừng sản xuất sang làn đất nông nghiệp khác thì không phải nộp tiền

sử dụng đất Hơn nữa, các trang trại chăn nuôi tập trung được hưởng chế độ ưu đãi

về sử dụng đất như đối với các khu công nghiệp Đây là một chính sách rất quan trọng để tạo điều kiện cho các chủ trang trại tổ chức sản xuất kết hợp giữa nông nghiệp với công nghiệp chế biến và dịch vụ Chính phủ đã quyết định miễn, giảm thuế thu nhập cho trang trại với thời gian tối đa theo quy định hiện hành; miễn, giảm tiền thuê đất đối với đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá để trồng rừng sản xuất, trồng cây lâu năm và diện tích ở các vùng nước tự nhiên chưa có đầu tư cải tạo

để sử dụng vào mục đích sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

Vấn đề tồn tại cơ bản hiện nay chủ yếu liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Ở đây có cả vấn đề khách quan và chủ quan và liên quan đến nhiều khía cạnh Trước hết là hệ thống văn bản có liên quan đến vấn đề trên còn có những điểm bất cập và sau đó là nhận thức của người thực thi pháp luật trong vấn đề tuyên truyền phổ biến pháp luật và nhận thức của bản thân những người chịu tác động của pháp luật

Đối với trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh, việc triển khai bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khá thuận lợi và ít gặp trở ngại từ phía người có đất bị thu hồi Các quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng phù hợp hơn với quy luật kinh tế; quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của người có đất bị thu hồi; trình tự, thủ tục thu hồi đất ngày càng rõ ràng hơn Nhiều địa phương đã vận dụng chính sách bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành bình thường hầu như không có hoặc có rất ít khiếu nại Việc bổ sung quy định về tự thỏa thuận giữa nhà đầu tư cần đất với người sử dụng đất đã giảm sức ép từ các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất

Tuy nhiên, việc thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đất đai hiện nay Thực tế triển khai cho thấy việc thu hồi đất ở phần lớn các địa phương đang ách tắc, làm

Trang 21

13

chậm tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tư, gây nên những bức xúc cả cho người sử dụng đất, nhà đầu tư và cơ quan chính quyền có trách nhiệm thu hồi đất Nổi lên những mặt yếu kém, bất cập như:

- Giá đất bồi thường, hỗ trợ nhìn chung chưa sát giá thị trường trong điều kiện bình thường, trong nhiều trường hợp quá thấp so với giá đất cùng loại chuyển nhượng thực tế, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị và liền kề với khu dân cư Tại vùng giáp ranh giữa các tỉnh và vùng giáp ranh giữa đô thị và nông thôn còn chênh lệch quá lớn về giá đất bồi thường, hỗ trợ đang là một khó khăn lớn cho các công trình theo tuyến

- Việc tính toán mức bồi thường, hỗ trợ có sự thiếu công bằng giữa các trường hợp có các điều kiện giống nhau về sử dụng đất trong cùng một dự án Trong nhiều trường hợp tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để nhận chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp tương tự hoặc không đủ để chuyển sang làm ngành nghề khác Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường trong nhiều trường hợp không đủ để nhận chuyển nhượng lại đất ở tương đương hoặc nhà ở mới tại khu tái định cư

- Nhiều dự án chưa có khu tái định cư đã thực hiện thu hồi đất ở Nhìn chung, các địa phương chưa coi trọng việc lập khu tái định cư chung cho các dự án tại địa bàn, một số khu tái định cư đã được lập nhưng không bảo đảm điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ

- Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ngày càng được Nhà nước quan tâm giải quyết thỏa đáng hơn; tuy nhiên, việc thay đổi chính sách cùng với sự vận dụng thiếu cụ thể, linh hoạt tại các dự án áp dụng các mức bồi thường khác nhau do sự thay đổi chính sách đã dẫn tới sự suy bì và khiếu kiện kéo dài của người

có đất bị thu hồi, do vậy việc giải phóng mặt bằng để thực hiện một số dự án không bảo đảm tiến độ

Với những đổi mới trong chính sách pháp luật đất đai như trên đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông dân nước ta chắc chắn sẽ không ngừng được nâng cao, nền nông nghiệp sẽ được phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn,

Trang 22

- Quyết định số 372/QĐ-TTg ngày 14/3/2014 về việc xét công nhận và công

bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới;

- Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 16/01/2012 của Tỉnh ủy Ninh Bình về xây dựng nông thôn mới tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011 - 2015;

- Đề án số 06/ĐA-UBND ngày 04/4/2012 của UBND tỉnh về việc xây dựng

đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2010 - 2015, định hướng đến năm 2020;

- Quyết định số 950/QĐ-UBND ngày 30/11/2011 của UBND huyện Hoa Lư về việc phê duyệt đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn

2020 trên địa bàn xã Ninh Giang;

- Quyết định số 1225/QĐ-UBND ngày 31/12/2011 của UBND huyện Hoa

Lư về việc phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 tầm nhìn

2020 trên địa bàn xã Ninh Giang;

- Hướng dẫn số 63/HD-VPĐP ngày 31/7/2014 của Văn phòng Điều phối chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Ninh Bình về việc quy định tạm thời trình

tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2014;

Trang 23

15

- Công văn số 365/UBND-VPĐP ngày 4/8/2014 của UBND huyện Hoa Lư về việc đăng ký thời điểm xã Ninh Giang hoàn thành xây dựng NTM năm 2014

2.3 Cơ sở thực tiễn về nông thôn mới

2.3.1 Thực tiễn nông thôn mới của một số nước trên thế giới

Phát triển nông nghiệp để xây dựng một nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, từ các góc cạnh khác nhau, đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế giới Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này là bài học cho Việt Nam

2.3.1.1 Nông thôn mới tại Mỹ

Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa

Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động

có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp Mỹ Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồng rất thuận lợi: máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt tiền Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn Phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí, theo các nhà môi trường, quá phổ biến Công nghệ vũ trụ được

sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản phẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy, hải sản, chẳng hạn như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá

Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty

Trang 24

16

đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn

Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trang trại hơn, nhưng quy mô các trang trại thì lớn hơn nhiều Đôi khi được sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn Vào năm 1940, Mỹ có 6 triệu trang trại và trung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng 67 ha, đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, số trang trại chỉ còn 2,2 triệu nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190 ha Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh - từ 12,5 triệu người năm 1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập niên 90 của thế kỷ trước - dù cho dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi Và gần 60% trong số nông dân còn lại đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trang trại; thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để

bù đắp thêm thu nhập cho mình

Hiện nay, trong cuộc sống hiện đại ồn ào, đầy sức ép, người Mỹ ở vùng đô thị hay ven đô hướng về những ngôi nhà thô sơ, ngăn nắp và những cánh đồng, phong cảnh miền quê truyền thống, yên tĩnh Tuy nhiên, để duy trì “trang trại gia đình” và phong cảnh làng quê đó thực sự là một thách thức

2.3.1.2 Nông thôn mới tại Nhật Bản

Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ

Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên

Trang 25

17

thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”

Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình.[15]

2.3.1.3 Nông thôn mới tại Hàn Quốc

Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo

Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và, hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích

và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân

Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong

8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu

Trang 26

18

(Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140

hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân

tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào

Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế

Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết, Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn

Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ ra 1 vật

tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình

Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa

Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu

Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương

Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán

bộ HTX do dân bầu chọn Phong trào SU là bước ngoặt đối với sự phát triển của

Trang 27

Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có.[15]

2.1.1.4 Nông thôn mới tại Thái Lan

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân

Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn

có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn

Trang 28

20

quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…

Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:

- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng

- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm

2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp

ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do

đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận

- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa

Trang 29

21

cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó

có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn.[15]

Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.[15]

2.3.2 Thực tiễn nông thôn mới ở Việt Nam

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số

26-NQ/TW, ngày 5-8-2008 “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” nhằm “không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, bảo đảm hài hòa

giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu

vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Xây dựng nền

Trang 30

22

nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá

lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm vững

chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ

chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ,

đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội

và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(1)

Đại hội XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới:

“Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với đô thị và bố trí các điểm dân cư Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp

và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động…”

Với Nghị quyết của Đảng, những quyết sách của Chính phủ và sự vào cuộc mạnh mẽ với quyết tâm chính trị cao của các bộ, ban, ngành ở Trung ương, các cấp chính quyền ở cơ sở, việc xây dựng nông thôn mới theo đúng lộ trình thực sự trở thành một cuộc vận động cách mạng của đất nước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Những kết quả bước đầu trong triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới

Ngay trong những năm đầu triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào của cả nước, các nhiệm vụ về xây

Trang 31

23

dựng nông thôn mới được xác định rõ trong nghị quyết đại hội Đảng các cấp từ tỉnh đến huyện và xã Ban Bí thư Trung ương khóa X đã trực tiếp chỉ đạo Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã tại 11 xã điểm ở 11 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng, miền.[14]

Bộ máy quản lý và điều hành Chương trình xây dựng nông thôn mới đã được hình thành từ Trung ương xuống địa phương 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 84,7% huyện và 52% số xã trên toàn quốc đã thành lập được Ban Chỉ đạo Các bộ, ngành đã ban hành 25 loại văn bản hướng dẫn địa phương về tổ chức

bộ máy quản lý, điều hành, quy hoạch nông thôn mới Ủy ban Trung ương Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam đã triển khai cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới” Ngày 8-6-2011, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phát động thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”.[14]

Dự toán hằng năm trình Quốc hội về bảo đảm chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có tốc độ tăng cao hơn chi chung của cả nước Riêng năm 2011 cao gấp 2,21 lần so với năm 2008 Tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn trong 3 năm 2009-2011 chiếm khoảng 52% tổng vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ của cả nước, trong đó đầu tư cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 37% tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn Vốn tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được ưu đãi Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn được ưu tiên theo Nghị định 61/2010/NĐ-CP của Chính phủ.[14]

Riêng năm 2011, Nhà nước đã bố trí 1.600 tỉ đồng từ nguồn ngân sách Trung ương cho Chương trình để tập trung vào 5 nội dung, gồm quy hoạch, đào tạo, tuyên truyền, phát triển sản xuất và xây dựng một số hạng mục kết cấu hạ tầng thiết yếu Nhiều địa phương, như Hà Tĩnh, Lào Cai, Hải Dương, Vĩnh Long, Phú Thọ, Nam Định, Thái Bình, Sóc Trăng còn chủ động bổ sung kinh phí lên tới 5.664,8 tỉ đồng

từ nguồn ngân sách địa phương cho các xã để triển khai chương trình ngay trong năm 2011 10/13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tự túc ngân sách giai đoạn 2011-2015

Trang 32

24

Với sự vào cuộc tích cực, khẩn trương của các bộ, ban, ngành ở Trung ương, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương và bản thân người dân nông thôn, trong gần ba năm qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng nông nghiệp, nông thôn đã vững vàng vượt qua khó khăn, duy trì được tăng trưởng, góp phần ổn định kinh tế - xã hội đất nước

Năm 2010, nông nghiệp nước ta đạt mức tăng GDP là 2,78%, sản lượng lúa tăng thêm 1,17 triệu tấn (đạt 39,9 triệu tấn); sản lượng thịt các loại tăng 725 ngàn tấn, đạt 4,02 triệu tấn; tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thuỷ sản tăng 990 ngàn tấn, đạt 5,12 triệu tấn; sản lượng muối tăng 340 ngàn tấn, đạt 1,18 triệu tấn; tỷ

lệ che phủ rừng tăng 1,2%, đạt 39,5% diện tích Tổng kim ngạch xuất khẩu các loại nông, lâm, thủy sản đạt 19,53 tỉ USD (tăng 3,46 tỉ USD so với năm 2008).[14]

Giao thông nông thôn được coi là khâu đột phá trong xây dựng hạ tầng nông thôn Trong 2 năm, 2009 và 2010 đã huy động gần 33 ngàn tỉ đồng, trong đó nhân dân đóng góp khoảng 11,2% và trên 24 triệu ngày công lao động; các nguồn khác chiếm 14,4%; ngân sách nhà nước hỗ trợ 74,4% mở mới và nâng cấp hơn 40 nghìn ki-lô-mét đường; xây dựng khoảng 4.200 cầu bê tông, cầu liên hợp, cầu dầm sắt, cầu treo, cầu gỗ và gần 50 nghìn cống Hạ tầng thương mại ở nông thôn mở rộng, tăng nhịp độ và tần suất giao thương Nâng cấp và mở rộng hệ thống điện, nâng tỷ

lệ số xã lên 97,8% với 95,4% hộ sử dụng điện Hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin về cơ bản đã phát triển đến các xã vùng sâu, vùng xa Khoảng 70% số xã có điểm truy cập in-tơ-nét công cộng và 97% số xã có điện thoại công cộng.[14]

Cơ cấu kinh tế nông thôn có bước chuyển biến tích cực Công nghiệp và dịch

vụ đã chiếm xấp xỉ 60% cơ cấu kinh tế nông thôn Trên 40 tỉnh hoàn thành việc xây dựng quy hoạch phát triển làng nghề nông thôn Số lượng làng nghề tăng lên, hiện

có trên 2.971 làng nghề theo tiêu chí của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu đã tập trung xây dựng kịch bản

về tác động của biến đổi khí hậu tới cấp huyện Thể chế, chính sách, chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu và kế hoạch hành động quốc gia, huy động được hơn 1,2 tỉ USD từ cam kết tài trợ quốc tế Năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai tiếp tục được tăng cường

Trang 33

25

Về nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nhất là vùng

khó khăn được tập trung ưu tiên như xuất khẩu lao động nông thôn; tiếp tục hoàn

thiện cơ chế, chính sách giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho nông dân thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp; Các chính sách và giải pháp xóa đói giảm nghèo được triển khai đồng bộ trên cả 3 phương diện: (i) Giúp người nghèo tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà

ở, nước sinh hoạt; (ii) Hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm đất sản xuất, tín dụng ưu đãi, khuyến nông - lâm - ngư, phát triển ngành nghề; (iii) Phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu cho các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn được hưởng ứng mạnh và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao

Các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả đang được triển khai mạnh mẽ Đặc biệt, mô hình kinh tế trang trại theo đơn vị hộ nông thôn đang có xu thế phát triển và tiếp tục là đơn vị sản xuất kinh doanh chủ lực ở nông thôn Ngày càng xuất hiện những mô hình hợp tác xã đa dạng, mở ra triển vọng mới

Công tác nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực và công tác khuyến nông ngày càng được coi trọng để hỗ trợ cho nông dân phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa Đội ngũ cán bộ khuyến nông ở các địa phương được bổ sung một số lượng lớn Sau 1 năm, cả nước đã đào tạo nghề cho 345.140 lao động nông thôn, tỷ lệ có việc làm sau học nghề đạt khoảng 70% Việc thí điểm dạy nghề gắn với giải quyết việc làm và nâng cao mức sống ở

11 xã điểm xây dựng mô hình nông thôn mới; mô hình dạy nghề gắn với doanh nghiệp bước đầu thu được kết quả tích cực Việc huy động các nguồn lực, tăng mạnh đầu tư ngân sách nhà nước cho nông nghiệp, nông thôn được đổi mới mạnh

Hạn chế và vấn đề đặt ra trong triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới

Bên cạnh việc ghi nhận những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới dưới

sự lãnh đạo của Đảng sau hơn 20 năm mà đất nước, nhất là khu vực nông thôn đã đạt được, Nghị quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X cũng nhấn mạnh: hiện nay “những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng,

Trang 34

26

lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp Công nghiệp, dịch

vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh

tế và lao động ở nông thôn Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hoá Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc”

Sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam hiện nay chưa có sức cạnh tranh cao, chưa đủ khả năng nâng vị thế quốc gia trên trường quốc tế về nông phẩm hàng hóa

Trong quá trình xây dựng nông thôn mới chúng ta đang gặp phải 2 mâu thuẫn lớn là: mâu thuẫn giữa sản xuất nhỏ với thị trường lớn; mâu thuẫn giữa hiệu quả thấp với rủi ro cao Cần có chính sách, biện pháp giải quyết tốt các mâu thuẫn nêu trên để thu hút doanh nghiệp về nông thôn, đó là cách tốt nhất để huy động nguồn lực và tạo ra cầu nối nông dân - doanh nghiệp - thị trường

Phải tạo cơ hội thế nào cho cư dân nông thôn tham gia đầu tư không chỉ cho sản xuất của riêng mình, mà còn chia sẻ lợi ích, thành quả hoạt động sản xuất kinh doanh với cộng đồng?

Các cơ chế chính sách, các nội dung cụ thể của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, lộ trình và cách thực hiện… trong một thời gian khá dài nên không chỉ phía trước mà ngay trong hiện tại cũng đang đặt ra nhiều khó khăn, thách thức, nhiều bất cập rất cần được khảo sát, đánh giá, bàn thảo

Trang 35

27

Vấn đề quan trọng hàng đầu với nông nghiệp, nông dân, nông thôn là đất đai Nhiệm vụ được coi là cấp bách đối với xây dựng nông thôn mới hiện nay là sớm hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2003 Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá cần được sử dụng hiệu quả nhất, hợp lý nhất

Để đạt được 19 tiêu chí theo quy định của Thủ tướng Chính phủ là không dễ dàng, nhưng chúng ta đều thống nhất cao: việc xây dựng nông thôn mới là tạo ra những giá trị mới của nông thôn Việt Nam, một nông thôn hiện đại phải hàm chứa những giá trị kinh tế mới, có văn hóa nông thôn văn minh, hiện đại nhưng vẫn gìn giữ, bảo tồn được bản sắc văn hóa dân tộc Vì vậy, xây dựng nông thôn mới phải gắn liền với phát triển văn hóa Làm sao để nông thôn vừa là nơi bảo vệ, lưu giữ, vừa là môi trường tốt đẹp nhất tiếp tục tạo ra những giá trị văn hóa mới văn minh và hiện đại Ở đó những người nông dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa được thụ hưởng các giá trị văn hóa mới để họ có ý thức hơn trong việc bảo tồn giá trị, các trầm tích văn hóa của cha ông.[14]

Đề xuất những giải pháp đột phá, khả thi vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp bách trước mắt nhằm tập trung nỗ lực, triển khai hiệu quả các nhiệm vụ đã nêu trong Nghị quyết số 26 của Trung ương Đảng, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Chương trình xây dựng nông thôn mới của Chính phủ về các nội dung:

- Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn;

- Xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn cả đồng bằng, miền núi và ven biển

- Đẩy mạnh triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới để nâng cao nhanh, rõ rệt hơn đời sống vật chất tinh thần của cư dân nông thôn, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị;

- Tiếp tục nỗ lực xóa đói giảm nghèo nhanh, bền vững;

- Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả của các hình thức tổ chức sản xuất theo hướng chú trọng phát triển hợp tác xã kiểu mới trong nông nghiệp, nông thôn;

Trang 36

28

- Tăng mạnh nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm đầu tư

từ ngân sách nhà nước sau 05 năm để có thể tăng gấp đôi như mục tiêu Chương trình đã đề ra;

- Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn;

- Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội

ở nông thôn, nhất là Hội Nông dân.[14]

2.3.3 Thực tiễn nông thôn mới tại tỉnh Binh Bình

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững nhất là tỉnh có tới hơn 70% dân số sống bằng nghề nông như Ninh Bình Sau Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương đảng (Khóa X) ban hành về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Tỉnh ủy Ninh Bình xây dựng Chương trình hành động số 20-CTr/TU và Nghị quyết số 03-NQ/TU hướng mục tiêu đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới.[13]

Từ đó, nhiều nguồn lực tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện

để kinh tế nông nghiệp không ngừng phát triển, thu nhập của lao động nông thôn

tăng trưởng đáng kể

Diện mạo nông thôn Ninh Bình không ngừng đổi mới

Có thể nói, đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn được cả hệ thống chính trị ở Ninh Bình quan tâm Tiếp theo Nghị quyết 03-NQ/TU của tỉnh ủy Ninh Bình, HĐND tỉnh cũng ra Nghị quyết, UBND tỉnh còn xây dựng đề án số 06 về xây dựng nông thôn mới (NTM) tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011-2015, định hướng đến

2020 để cụ thể hóa các nhiệm vụ và tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện Tỉnh chú trọng đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng chỉ đạo các huyện, thị xã, thành phố vận động nông dân thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động nông thôn, nâng cao thu nhập cho lao động nghề nông

Trang 37

29

Đồng thời, tỉnh từng bước xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế theo hướng

hiện đại, bền vững và nâng cao năng lực phòng chống thiên tai thông qua việc triển khai lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) cùng một số chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn tỉnh như: Chương trình MTQG về nước sạch, vệ sinh môi trường, y tế, văn hóa, giáo dục… các đề án giảm nghèo (Nghị quyết 10-NQ/TU của tỉnh ủy), xóa nhà tranh tre, dột nát, đề án hỗ trợ phát triển cây

vụ Đông, hỗ trợ sản xuất lúa cao sản và lúa chất lượng cao, hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, phát triển ngành nghề nông thôn (Nghị quyết 04-NQ/TU) Ngoài ra, nhiều dự án giao thông, thuỷ lợi, nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai, biến đổi khí hậu… được triển khai tại cơ sở Đến nay, diện mạo nông thôn ở Ninh Bình có nhiều đổi mới thể hiện rõ nét là kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa với giá trị sản phẩm đạt hơn 86 triệu đồng/ha mỗi năm Mặt khác, kết cấu hạ tầng như điện, nước, giao thông, thuỷ lợi, trường học, trạm y

tế, nhà văn hóa, chợ được đầu tư, nâng cấp, sửa chữa đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất

và sinh hoạt của nhân dân vùng nông thôn.[12]

Trong ba năm (từ 2011 đến 2014), tỉnh nâng cấp, làm mới 981 km đường nông thôn nhờ cơ chế hỗ trợ 66.159 tấn xi-măng để cấp huyện trực tiếp cung cấp cho xã làm 5.348 tuyến đường, với tổng chiều dài hơn 536 km tuyến liên huyện, liên xã Bên cạnh đó, các huyện tập trung kiên cố hóa 216,6 km và nạo vét 45 km kênh mương, lắp đặt thêm 250,5 km đường điện, nâng cấp được 88 trường học đạt chuẩn quốc gia, xây dựng và nâng cấp 156 nhà văn hóa, khu thể thao xã và thôn đạt chuẩn; xây dựng năm chợ đạt chuẩn, xóa 758 nhà tạm, dột nát và nâng tỷ lệ nhà ở dân cư đạt chuẩn lên 63%

"Đời sống vật chất, tinh thần của nông thôn được nâng lên, nhất là vùng miền núi, ven biển khó khăn" - Chủ tịch UBND huyện miền núi Nho Quan Bùi Thị Quế cho biết

Tại những xã có phong trào xây dựng NTM, thu nhập bình quân hằng năm của lao động nông nghiệp tăng khoảng 9,35%, trung bình đạt 19,5 triệu đồng/người Nhiều xã nghèo vùng trũng như Đức Long, Gia Tường, Gia Thuỷ hay xã vùng cao

Trang 38

động phong trào toàn dân xây dựng NTM" - Chánh Văn phòng chương trình xây

dựng NTM tỉnh Ninh Bình, Trần Văn Hà nói.[12]

Nổi bật là các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường Cụ thể

là Ninh Bình được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 1, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt 25%, có 101/119 trạm y tế xã đạt chuẩn, 62% số dân nông thôn tham gia các hình thức bảo hiểm y tế, cơ sở vật chất cũng như chất lượng chăm sóc y tế cho nông dân nâng lên Toàn tỉnh có 69% thôn, xóm được công nhận làng văn hóa và hơn 90% số dân nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh tại 27 công trình nước sạch tập trung.[12]

Qua ba năm tích cực triển khai thực hiện chương trình xây dựng NTM của tỉnh, kết quả bước đầu đánh giá nỗ lực của các cấp ủy đảng và chính quyền cơ sở,

đó là ba xã Khánh Thiện, Khánh Phú, Khánh Thành (Yên Khánh) về đích với 19

tiêu chí được tỉnh công nhận hoàn thành chương trình xây dựng NTM Ngoài ra, chín xã đạt 15 đến 18 tiêu chí, 45 xã đạt 10 đến 14 tiêu chí, 65 xã đạt từ năm đến chín tiêu chí, năm xã đạt bốn tiêu chí

Còn nhiều thách thức và giải pháp khắc phục

Sau ba năm nỗ lực thực hiện chương trình xây dựng NTM và từ những kết quả rõ nét hằng ngày, phần lớn nông dân trong tỉnh Ninh Bình có chuyển biến về nhận thức rằng xây dựng NTM là để chính người dân hưởng thụ Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân địa phương lại cho đây là chương trình của Chính phủ thì Nhà nước phải đầu tư là chủ yếu, cho nên nảy sinh tư tưởng trông chờ, ỷ lại chưa xác định rõ vai trò chủ thể trong xây dựng NTM Bên cạnh những thôn, xã thi đua sôi nổi, đồng đều, tự giác, thì có thôn, xã phong trào trầm lắng "ngó nhà hàng xóm làm mà bình chân như vại" tạo nên bức tranh với gam sáng tối rõ nét: một bên hăng hái tự nguyện hiến đất làm đường, đóng góp ngày công

Trang 39

31

thậm chí tiền để xây dựng, còn một bên nhiều hộ so đo, tính toán nên không thống nhất ý trí trong thôn, đặc biệt là làm giao thông nông thôn hoặc quy hoạch đồng ruộng gắn với chủ trương của tỉnh về dồn điền đổi thửa Bên cạnh đó, lãnh đạo ở một số địa phương lúng túng trong chỉ đạo, điều hành.[12]

"Kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM ở Ninh Bình không đồng đều giữa các xã trong huyện, các thôn trong xã, là sự phản ánh trung thực về cách làm cũng như phương pháp tuyên truyền tại cơ sở" - Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình kiêm Trưởng Ban chỉ đạo xây dựng NTM ở địa phương Bùi Văn Thắng cho biết Điều đó giải thích nơi nào chính quyền địa phương làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích cho người dân hiểu thì phong trào thi đua sôi nổi, còn nếu tuyên truyền, vận động yếu thì kết quả ngược lại Cho nên mới xảy ra chuyện số xã thực hiện không đồng đều giữa các tiêu chí Có nơi tập trung nhiều vào các tiêu chí xây dựng cơ bản, chưa quan tâm thực hiện các biện pháp phát triển kinh tế nâng thu nhập cho người dân

Về việc thực hiện các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ phong trào xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh thời gian tới, Ban Chỉ đạo NTM các cấp để phát huy tính năng động, sáng tạo, đi sát thực tế từng huyện, xã để xác định lộ trình thích hợp ở từng nơi, đồng thời, tổ chức nhân rộng những mô hình mới, cách làm hay, hiệu quả lấy điển hình ở ba xã Khánh Thiện, Khánh Thành, Khánh Phú (Yên Khánh) để học tập làm theo Bên cạnh đó, tỉnh làm tốt công tác tuyên truyền để quán triệt Nghị quyết 03 của Tỉnh ủy về xây dựng NTM trong các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân để phát huy vai trò chủ thể của người dân chung tay xây dựng NTM.[112]

Xây dựng nông thôn mới là đổi mới tư duy về sản xuất nông nghiệp, nông thôn, nông dân chính là nền tảng cơ bản của nền nông nghiệp hiện đại theo hướng sản xuất hàng hóa Đây là công việc lâu dài, khó khăn, phức tạp trong quá trình chuyển biến nhận thức từ sản xuất manh mún, quản canh sang sản xuất quy mô lớn, tập trung nhằm tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, do vậy cần có sự chỉ đạo thống nhất của cả hệ thống chính trị các cấp và nhân dân [12]

Trang 40

32

Phần 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Những vấn đề về lý luận và thực tiễn về nông thôn, nông thôn mới

- Ảnh hưởng của nông thôn mới tới sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Ninh Giang

- Ảnh hưởng của nông thôn mới tới đời sống kinh tế của hộ nông dân trong

xã Ninh Giang

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: nghiên cứu trên địa bàn xã Ninh Giang – Huyện Hoa

Lư – Tỉnh Ninh Bình

- Phạm vi thời gian: năm 2010 và tiến trình nông thôn mới đến năm 2014

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: địa bàn xã Ninh Giang – Huyện Hoa Lư – Tỉnh Ninh Bình

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 05 năm 2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Ninh Giang ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp

- Đặc điểm về điều kiện tự nhiên của xã Ninh Giang – Huyện Hoa Lư – Tỉnh Ninh Bình

- Đặc điểm về tình hình kinh tế - xã hội tại xã Ninh Giang – Huyện Hoa Lư – Tỉnh Ninh Bình

- Đánh giá thuận lợi và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến

sự phát triển kinh tế - xã hội và nông thôn mới của xã Ninh Giang

3.3.2 Ảnh hưởng của nông thôn mới đến sử dụng đất nông nghiệp

- Ảnh hưởng của nông thôn mới đến biến động diện tích đất nông nghiệp: + Thực trạng của quá trình chuyển mục đích sử dụng đất

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1. Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã Ninh Giang - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của NÔNG THÔN mới tới sủ DỤNG đất NÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn xã NINH GIANG, HUYỆN HOA lư, TỈNH NINH BÌNH GIAI đoạn 2010 2014
Hình 4.1. Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã Ninh Giang (Trang 47)
Bảng 4.1. Tình hình biến động dân số của xã Ninh Giang giai đoạn 2010-2014 - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của NÔNG THÔN mới tới sủ DỤNG đất NÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn xã NINH GIANG, HUYỆN HOA lư, TỈNH NINH BÌNH GIAI đoạn 2010 2014
Bảng 4.1. Tình hình biến động dân số của xã Ninh Giang giai đoạn 2010-2014 (Trang 48)
Bảng 4.5. Kết quả giao đất của xã Ninh Giang giai đoạn 2010 - 2014 - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của NÔNG THÔN mới tới sủ DỤNG đất NÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn xã NINH GIANG, HUYỆN HOA lư, TỈNH NINH BÌNH GIAI đoạn 2010 2014
Bảng 4.5. Kết quả giao đất của xã Ninh Giang giai đoạn 2010 - 2014 (Trang 52)
Bảng 4.6. Kết quả thu hồi đất ở xã Ninh Giang giai đoạn 2010 - 2014 - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của NÔNG THÔN mới tới sủ DỤNG đất NÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn xã NINH GIANG, HUYỆN HOA lư, TỈNH NINH BÌNH GIAI đoạn 2010 2014
Bảng 4.6. Kết quả thu hồi đất ở xã Ninh Giang giai đoạn 2010 - 2014 (Trang 54)
Bảng 4.10. Tình hình nghề nghiệp của hộ trước và sau khi thu hồi đât - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của NÔNG THÔN mới tới sủ DỤNG đất NÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn xã NINH GIANG, HUYỆN HOA lư, TỈNH NINH BÌNH GIAI đoạn 2010 2014
Bảng 4.10. Tình hình nghề nghiệp của hộ trước và sau khi thu hồi đât (Trang 59)
Bảng 4.11. Thay đổi thu nhập của hộ qua quá trình nông thôn mới - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của NÔNG THÔN mới tới sủ DỤNG đất NÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn xã NINH GIANG, HUYỆN HOA lư, TỈNH NINH BÌNH GIAI đoạn 2010 2014
Bảng 4.11. Thay đổi thu nhập của hộ qua quá trình nông thôn mới (Trang 61)
Bảng 4.13. Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của nông thôn mới - NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của NÔNG THÔN mới tới sủ DỤNG đất NÔNG NGHIỆP TRÊN địa bàn xã NINH GIANG, HUYỆN HOA lư, TỈNH NINH BÌNH GIAI đoạn 2010 2014
Bảng 4.13. Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của nông thôn mới (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w