TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM BÙI THỊ THANH THÙY Tên đề tài: “ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI SẢN XUẤT CỦA NHÀ MÁY CHẾ BIẾN TINH BỘT SẮN TÂN HIẾU HƯNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THỊ THANH THÙY
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI SẢN XUẤT CỦA NHÀ MÁY CHẾ BIẾN TINH BỘT SẮN TÂN HIẾU HƯNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Khoa : Quản lý tài nguyên
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THỊ THANH THÙY
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI SẢN XUẤT CỦA NHÀ MÁY CHẾ BIẾN TINH BỘT SẮN TÂN HIẾU HƯNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Địa chính Môi trường Khoa : Quản lý tài nguyên
Giảng viên hướng dẫn : ThS Hà Đình Nghiêm
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp đại học này ngoài sự cố gắng của bản thân,
em còn nhận được sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Em xin chân thành cảm ơn ban Giám hiệu Nhà trường, khoa Quản lý Tài nguyên, tập thể các thầy cô giáo trong trường, các thầy cô giáo trong khoa Quản lý Tài nguyên và khoa Môi Trường của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo
điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này
Em cũng xin đặc biệt cảm ơn thầy giáo Ths Hà Đình Nghiêm đã hướng dẫn,
giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Lạc Sơn, các cán bộ, chuyên viên, các ban ngành khác đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận
Em xin gửi lời cảm ơn tới bố, mẹ những người thân trong gia đình và bạn bè
đã động viên giúp đỡ cả về vật chất cũng như tinh thần để em hoàn thành tốt nhất đề
tài này
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian thực tập hạn chế cũng như sự hiểu biết của bản thân còn hạn hẹp vì vậy khóa luận tốt nghiệp này vẫn còn nhiều thiếu sót Em rất mong được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo trong khoa Quản lý Tài nguyên, khoa Môi Trường và các bạn để khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn./
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Bùi Thị Thanh Thùy
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Thống kê sơ bộ của TCHQ về tình hình xuất khẩu sắn năm 2013 10
Bảng 2.2 Thành phần hóa học của củ sắn 12
Bảng 2.3 Tính chất nước thải ngành tinh bột sắn 15
Bảng 2.4 Một số chỉ tiêu cơ bản trong nước thải nhà máy sản xuất tinh bột sắn: 17
Bảng 3.1 Kế hoạch lấy mẫu, phân tích nước 26
Bảng 3.2 Thiết bị phân tích môi trường nước 27
Bảng 4.1 Lượng nước tiêu thụ của nhà máy tinh bột sắn tân Hiếu Hưng 40
Bảng 4.2 Các nguồn phát sinh nước thải của nhà máy tinh bột sắn Tân Hiếu Hưng 42
Bảng 4.3 Kết quả phân tích nước thải 44
Bảng 4.4 Kết quả phân tích mẫu nước mặt 49
Bảng 4.5 Mức độ ảnh hưởng của nước thải đến môi trường nước 52
Bảng 4.6 Mức độ ảnh hưởng của nước thải đến môi trường không khí 54
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Sơ đồ quy trình công nghệ xử lý nước thải tinh bột sắn 21
Hình 4.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Nhà máy 35
Hình 4.2: Quy trình sản xuất tinh bột sắn 36
Hình 4.3: Sơ đồ công nghệ sản xuất 37
Hình 4.4: Sơ đồ Quy trình xử lý nước thải sản xuất nhà máy tinh bột sắn 42
Hình 4.5: Nồng độ các thông số COD, BOD,TSS trong nước thải 45
Hình 4.6: Nồng độ các chất có trong nước thải 46
Hình 4.7: Nước thải của nhà máy trước khi được xử lý 46
Hình 4.8: Nước thải nhà máy sau khi xử lý 47
Hình 4.9: Nước thải tại hồ sinh học 48
Hình 4.10: Nồng độ các thông số về nước mặt 50
Hình 4.11: Lưu vực sông Bưởi nơi tiếp nhận nguồn thải 50
Hình 4.12: Ý kiến của người dân về ảnh hưởng của nước thải đến môi trường nước 52
Hình 4.13: ô nhiễm do nước thải nhà máy 53 Hình 4.14: Ý kiến người dân về ảnh hưởng của nước thải đối với môi trường không khí 55
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATGT : An toàn giao thông BHYT : Bảo hiểm y tế BOD : Biochemical oxigen Demen - Nhu cầu ôxy sinh học BYT : Bộ Y tế
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa COD : Chemical oxigen Demen - Nhu cầu ôxy hóa hóa học
DO : Độ oxy hòa tan
EU : Châu Âu HĐND : Hội đồng nhân dân
KH : Kế hoạch KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình NXB : Nhà xuất bản
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
QĐ : Quyết định TCCP : Tiêu chuẩn cho phép TCHQ : Tổng cục hải quan TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam TDTT : Thể dục thể thao THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông
TP : Thành phố TSS : Tổng chất rắn lơ lửng UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Mục tiêu của đề tài 2
1.4 Yêu cầu của đề tài 3
1.5 Ý nghĩa của đề tài 3
1.5.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.2 Cơ sở pháp lý 6
2.2 Cơ sở thực tiễn 7
2.2.1 Hiện trạng sản xuất tinh bột sắn 7
2.2.2 Thành phần hóa học của củ sắn 12
2.2.3 Đặc điểm chất thải của quá trình sản xuất chế biến tinh bột sắn 14
2.2.4 Một số kinh nghiệm xử lý nước thải sản xuất tinh bột sắn trên thế giới và ở Việt Nam 18
2.2.5 Hiện trạng môi trường nước trên thế giới và Việt Nam 22
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25 3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 25
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
Trang 83.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp kế thừa 25
3.4.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, số liệu thứ cấp 25
3.4.3 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 26
3.4.4 Phương pháp lấy mẫu và phân tích nước thải 26
3.4.5 Phương pháp so sánh kết quả phân tích Error! Bookmark not defined PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình 28
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 30
4.2 Đặc điểm của nhà máy tinh bột sắn Tân Hiếu Hưng 34
4.2.1 Vị trí, quy mô 34
4.2.2 Cơ cấu tổ chức của công ty 34
4.2.3 Công nghệ sản xuất 35
4.2.4 Hiện trạng sử dụng nước của nhà máy tinh bột sắn Tân Hiếu Hưng 39
4.3 Đánh giá chất lượng và ảnh hưởng của nước thải sản xuất đến môi trường 44
4.3.1 Hiện trạng chất lượng nước thải 44
4.3.2 Hiện trạng nước mặt 48
4.3.3 Đánh giá chất lượng nước thải 51
4.3.4 Ý kiến của người dân về ảnh hưởng của nước thải nhà máy đến môi trường51 4.4 Một số định hướng và giải pháp khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước do nước thải nhà máy gây ra 55
4.4.1 Trước mắt 55
4.4.2 Định hướng lâu dài 56
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Kiến nghị 58
Trang 95.2.1 Với nhà máy chế biến tinh bột sắn Tân Hiếu Hưng 58
5.2.2 Với cơ quan quản lý môi trường 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
I Tiếng Việt 59
II Tiếng Anh 59
III Tài liệu trích dẫn từ INTERNET 60
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cây sắn là một trong các loài cây có củ, được trồng tại trên dưới 100 quốc gia trên toàn thế giới với quy mô canh tác rất khác nhau Đây là một loại cây thực phẩm năng lượng cao, dễ trồng Đối với nhiều vùng dân cư ở miền nhiệt đới sắn là sản phẩm bậc nhất, nhì Sản lượng sắn toàn thế giới trong nhiều năm trở lại đây duy trì tương đối ổn định ở mức sản lượng 230 triệu tấn sắn Năm 2011, sản lượng sắn trên thế giới là 250,2 triệu tấn với diện tích canh tác là 19,64 triệu ha Ở các nước nhiệt đới trên thế giới, hầu hết sắn sản xuất ra được sử dụng làm thức ăn cho người, phần còn lại làm thức ăn cho gia súc và sử dụng trong công nghiệp tinh bột… Có thể nói sắn là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao trong các cây có củ
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam cây sắn đang nhanh chóng chuyển
đổi vai trò từ cây lương thực truyền thống sang cây công nghiệp với lợi thế cạnh
tranh cao Sự hội nhập kinh tế đang mở ra thị trường sắn, hàng loạt các nhà máy chế biến tinh bột sắn và các cơ sở chế biến sắn thủ công được xây dựng, đã đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu tinh bột sắn đứng hàng thứ 2 ở Châu Á sau Thái Lan Tính đến 2012, Việt Nam có 550,6 ha trồng sắn, sản lượng đạt 9,7 triệu tấn Diện tích trồng sắn nhiều nhất ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung Tính đến thời điểm này cả nước có hơn 61 nhà máy chế biến tinh bột sắn đang hoạt động, tập trung chủ yếu ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên, Nam Bộ Các nhà máy này tiêu thụ khoảng 5,6 triệu tấn sắn củ mỗi năm
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngành sản xuất tinh bột sắn, các vấn nạn về môi trường cũng ngày càng gia tăng Nước thải từ sản xuất tinh bột sắn chứa hàm lượng BOD5 và TSS rất cao, khối lượng chất thải rắn lớn, độ ẩm cao dễ bị chuyển hóa do các vi sinh vật có trong nước thải Sản xuất tinh bột sắn là một trong những ngành có định mức sử dụng nước lớn (trung bình từ 14 ÷ 20 m3 cho 1 tấn sản phẩm) Do đó nước thải từ nhà máy sản xuất tinh bột sắn khi thải ra nguồn nước sẽ làm cho môi trường nước ô nhiễm nghiêm trọng Ngoài ra, nước thải của nhà máy
Trang 11chế biến tinh bột sắn cũng chứa một lượng không nhỏ chất tẩy trắng tinh bột và độc hại nhất là hợp chất xyanua (CN-) Chính vì vậy, nếu không được xử lý, nước thải sản xuất tinh bột sắn sẽ là một hiểm họa tiềm tàng cho môi trường xung quanh và
ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe cộng đồng dân cư trên địa bàn sản xuất
Tỉnh Hòa Bình nằm ở khu vực Tây Bắc, dân số tập tung chủ yếu ở khu vực nông thôn, miền núi Đời sống của đại bộ phận nhân dân chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp Hiện tại ở Hòa Bình vùng nguyên liệu sắn có khoảng 7.000 - 10.000 ha trong đó Lạc Sơn khoảng 2.000 ha, Kim Bôi 1.000 ha, Tân Lạc 700 ha rải rác tại các huyện còn lại mỗi huyện vài trăm ha Nhằm tận dụng, khai thác hết khả năng của vùng đất trống đồi núi trọc cùng nguồn nguyên liệu sẵn có của tỉnh các nhà máy chế biến tinh bột sắn ra đời góp phần vào sự phát triển công nghiệp của tỉnh Hòa Bình Song bên cạnh đó mặt tiêu cực là nước thải sau sản xuất của các nhà máy hầu như xử lý chưa triệt để nên đã gây ô nhiễm môi trường và gây nhiều bức xúc cho người dân Do vậy, việc đánh giá chất lượng nước thải ở các nhà máy là hết sức cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó và được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, khoa Môi Trường, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo, ThS Hà
Đình Nghiêm, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá chất lượng nước thải sản xuất của nhà máy chế biến tinh bột sắn Tân Hiếu Hưng trên địa bàn huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình”
1.2 Mục đích của đề tài
Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải sản xuất của nhà máy chế biến tinh
bột sắn Tân Hiếu Hưng ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Tạo ra cơ sở khoa học và
dữ liệu phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nhằm bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường
1.3 Mục tiêu của đề tài
- Thông qua nghiên cứu đề tài nắm được hiện trạng chất lượng nước thải của nhà máy chế biến tinh bột sắn Tân Hiếu Hưng
Trang 12- Xác định mức độ ô nhiễm và nguồn gây ô nhiễm nguồn nước thải
- Đề xuất một số biện pháp xử lý nước thải nhằm giảm thiểu ô nhiễm đối với môi trường
1.4 Yêu cầu của đề tài
- Thông tin thu thập được phải chính xác, trung thực và khách quan
- Các mẫu nghiên cứu và phân tích phải đảm bảo tính khoa học và tính đại diện cho khu vực nghiên cứu
- Đánh giá đầy đủ, chính xác hoạt động sản xuất và tác động của nước thải sản xuất đến môi trường
- Các kết quả phân tích và các thông số môi trường phải được so sánh với các quy chuẩn môi trường Việt Nam
- Giải pháp kiến nghị đưa ra phải thực tế, có tính khả thi và phù hợp với điều kiện của nhà máy
1.5 Ý nghĩa của đề tài
1.5.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên có thể áp dụng lý thuyết vào thực tế, rèn luyện kỹ năng tổng hợp, phân tích số liệu
- Là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu và học hỏi các kinh nghiệm từ thực
tế, đồng thời nâng cao kiến thức trong lĩnh vực nghiên cứu, khả năng tiếp cận và xử
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.1 Khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường
∗ Khái niệm môi trường
- Theo UNESCO thì Môi trường được hiểu là: “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người”
- Theo luật Bảo vệ Môi trường (2014) của nước CHXHCN Việt Nam thì môi trường được khái niệm như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên
và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [7]
Ô nhiễm môi trường: Là sự thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu
chuẩn môi trường Chất gây ô nhiễm môi trường là những nhân tố làm cho môi trường trở nên độc hại Thông thường tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường (Lưu Đức Hải, 2001) [2]
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi, gây tác hại tới đời sống của con người và các sinh vật khác (Nguyễn Thanh Hải, 2013) [3]
Theo điều 3 chương 1 luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2014: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu
đến con người và sinh vật [7]
- Tài nguyên nước: Là một dạng tài nguyên thiên thiên vừa vô hạn vừa hữu
hạn và chính bản thân nước có thể đáp ứng nhu cầu của cuộc sống như ăn uống, sinh hoạt, hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, năng lượng, du lịch… (Dư Ngọc Thành, 2012) [11]
Trang 14- Ô nhiễm nước: Là sự thay đổi thành phần, tính chất của nước và ảnh hưởng
đến hoạt động sống của con người, vi sinh vật Khi sự thay đổi thành phần và tính
chất vượt quá một ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh ở người (Lưu Đức Hải, 2001) [2]
Theo hiến chương Châu Âu: Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho nông nghiệp, cho công nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại (Paper JAAPU) [14]
∗ Các dạng ô nhiễm nước:
Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước hoặc dựa vào nguồn gốc gây ô nhiễm như ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp hay sinh hoạt hoặc dựa vào tính chất của
ô nhiễm như: Ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý
- Ô nhiễm sinh học của nước: Ô nhiễm sinh học của nước do các nguồn thải
đô thị hay công nghệ có các chất thải sinh hoạt, phân, nước rửa của các nhà máy đường, giấy… Sự ô nhiễm về mặt sinh học chủ yếu là do sự thải các chất hữu cơ có
thể lên men được, sự thải sinh hoạt có chứa chất cặn bã sinh hoạt, phân tiêu, nước rửa của các nhà máy đường, giấy, các lò giết mổ… Ô nhiễm hữu cơ được đánh giá bằng chỉ tiêu BOD5 trong nước (Gary W.) [13]
- Ô nhiễm hóa học: Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ là do sự thải vào nước
các chất như nitrat, phosphat và các chất dùng trong nông nghiệp
- Ô nhiễm vật lý: Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng
lượng chất lơ lửng, tức làm tăng độ đục của nước Các chất này có thể là gốc vô cơ hay hữu cơ, có thể được vi khuẩn ăn Sự phát triển của vi khuẩn và các vi sinh vật khác lại càng làm tăng độ đục của nước và làm giảm độ xuyên thấu của ánh sáng Nhiều chất thải công nghiệp có chứa các chất màu, hầu hết là màu hữu cơ làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ Ngoài ra các chất thải công nghiệp có chứa nhiều hợp chất hóa học như muối, sắt, mangan, clo tự do, hydro sulfur, phenol… làm cho nước có vị không bình thường (Gary W.) [13]
Trang 152.1.1.2 Khái niệm nước thải và nguồn nước thải
- Khái niệm nước thải: Theo TCVN 5980 - 1995 và iso 6107/1-1980: Nước
thải là nước đã thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ mà không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó
- Khái niệm nguồn nước thải:
Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng
Đó cũng là cơ sở trong việc lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lý
* Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác
* Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu
* Nước thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí
* Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng
* Nước thải đô thị: nước thải đô thị là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã; đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên
2.1.2 Cơ sở pháp lý
- Căn cứ Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/06/2014 và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/06/2013 Luật có hiệu lực thi hành vào 01/01/2013.
- Nghị Định số 201/2013/NĐ-CP của Chính Phủ quy định việc thi hành Luật Tài Nguyên Nước
- Nghị quyết số 41 - NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính Trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 16- Nghị Định số 19/2015/NĐ-CP ban hành ngày 14/02/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo Vệ Môi Trường
- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ban hành ngày 14/11/2013 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP Quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác,
sử dụng, tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước
- Các quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường Việt Nam dùng để đánh giá, bao gồm: + QCVN 40:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp
+ QCVN 08:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt + TCVN 5945: 2005 Nước thải công nghiệp - Tiêu chuẩn xả thải
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Hiện trạng sản xuất tinh bột sắn
2.2.1.1 Tình hình sản xuất tinh bột sắn trên thế giới
Năm 2011, tổng sản lượng sắn thế giới đạt 250,2 triệu tấn củ tươi, tăng 6%
so với năm trước Sự gia tăng sản lượng mạnh mẽ này bởi ngành chế biến công nghiệp nhiên liệu sinh học ethanol sử dụng sắn làm nguyên liệu đầu vào tại các quốc gia Đông Nam Á cùng với nhu cầu lương thực tăng tại châu Phi Trong đó, Nigeria là quốc gia sản xuất sắn hàng đầu thế giới với sản lượng hai năm gần đây (2009 - 2010) có xu hướng giảm xuống đạt khoảng 37 triệu tấn so với giai đoạn
2006 - 2008 liên tục đạt trên dưới 45 triệu tấn Năm 2011 sản lượng sắn của Nigeria cũng đã hồi phục lên xấp xỉ 40 triệu tấn, tăng 4% so với năm trước Quốc gia có sản lượng sắn lớn thứ hai thế giới là Brazil với sản lượng thường niên trong giai đoạn
2009 - 2010 vào khoảng 24 triệu tấn sắn củ tươi, giảm khoảng 8% so với giai đoạn
2 năm trước đó Năm 2011, sản lượng sắn của quốc gia này cũng đã hồi phục trở lại lên mức trên 26 triệu tấn, tăng 8% so với năm trước đó Indonesia, Cộng hòa Công
gô và Thái Lan là ba quốc gia có sản lượng sắn lớn tiếp theo trên thế giới, với sản
Trang 17lượng hàng năm trong giai đoạn 2009 - 2011 vào khoảng 22 triệu tấn củ Các nước còn lại trong nhóm 10 quốc gia có sản lượng sắn hàng đầu thế giới bao gồm Angola, Ghana, Việt Nam, Ấn Độ, Mozambic 10 quốc gia sản xuất sắn hàng đầu chiếm 75% tổng sản lượng sắn toàn thế giới
Tại Thái Lan, Việt Nam và Indonesia, sắn trở thành một loại cây công nghiệp hàng năm quan trọng và được thu mua để chế biến thành các sản phẩm xuất khẩu
Năm 2006 được coi là năm có giá sắn cao đối với cả bột, tinh bột và sắn lát Việc xuất khẩu sắn làm thức ăn gia súc sang các nước cộng đồng châu Âu hiện đã giảm sút nhưng giá sắn năm 2006 vẫn được duy trì ở mức cao do có thị trường lớn tại Trung Quốc và Nhật Bản (FAO, 2007) Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực thế giới (IFPRI), đã tính toán nhiều mặt và dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu với tầm nhìn đến năm 2020 Năm 2020 sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275,10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn chủ yếu ở các nước đang phát triển là 274,7 triệu tấn, các nước đã phát triển khoảng 0,40 triệu tấn Mức tiêu thụ sắn ở các nước
đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20,5
triệu tấn Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53,4 triệu tấn Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98% và 0,95% Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báo sản lượng năm 2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn Trong đó, khối lượng sản phẩm sử dụng làm lương thực thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4% Châu Mỹ La tinh giai đoạn 1993 - 2020, ước tính tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hàng năm là 1,3%, so với châu Phi là 2,44% và châu Á là 0,84 - 0,96% Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nước châu Á, đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứng thứ ba sau lúa và ngô
và tổng sản lượng đứng thứ ba sau lúa và mía Chiều hướng sản xuất sắn phụ thuộc
Trang 18vào khả năng cạnh tranh cây trồng Giải pháp chính là tăng năng suất sắn bằng cách
áp dụng giống mới và các biện pháp kỹ thuật tiến bộ
2.2.1.2 Tình hình sản xuất tinh bột sắn ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, năng lực sản xuất và chế biến sắn của Việt Nam
đã có bước tiến bộ đáng kể Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, năm 2013 xuất
khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 3,1 triệu tấn với kim ngạch 1,1 tỷ USD, giảm 25,72% về lượng và giảm 18,63% về kim ngạch so với năm 2012 Năng suất sắn của Việt Nam hiện nay đứng khoảng thứ 10 trong số các quốc gia năng suất cao, với năng suất 17,6 tấn/ha Số liệu thống kê cũng cho biết, diện tích trồng sắn của cả nước có 560 nghìn ha, với tổng sản lượng đạt gần 9,4 triệu tấn 30% sản lượng thu
được phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước làm lương thực, chế biến thức ăn chăn
nuôi, công nghiệp dược phẩm, làm nguyên liệu sản xuất xăng sinh học, cồn công nghiệp, v.v 70% được xuất khẩu dưới dạng tinh bột hoặc sắn lát khô Xuất khẩu sắn và sản phẩm từ sắn của Việt Nam đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Thái Lan và đã
có mặt ở các quốc gia trong khu vực châu Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Myanmar, Nhật Bản, v.v…
Tính riêng tháng 12/2013, xuất khẩu sắn và sản phẩm đạt 269 nghìn tấn, trị giá 104,7 triệu USD, tăng 28,3% về lượng và tăng 15,2% về trị giá, trong đó sắn đạt 67,9 nghìn tấn, trị giá 15,6 triệu USD, tăng 169,3% về lượng và tăng 168,9% về trị giá so với tháng 11/2013 Việt Nam xuất khẩu sắn và sản phẩm sang 5 thị trường trên thế giới, trong đó Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu chính, chiếm 85,7% thị phần, kim ngạch 946,4 triệu USD với 2,6 triệu tấn, giảm 28,33% về lượng và giảm 19,79% về trị giá so với năm 2012 Tuy đứng thứ hai sau thị trường Trung Quốc, nhưng xuất khẩu sắn và sản phẩm sang thị trường Hàn Quốc lại tăng cả về lượng và trị giá, tăng lần lượt 42,30% và tăng 47,34% so với năm trước - đây cũng
là thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất, với lượng xuất là 237,6 nghìn tấn, đạt kim ngạch 64,8 triệu USD
Trang 19Ngoài hai thị trường chính kể trên, Việt Nam còn xuất khẩu sắn và sản phẩm sang thị trường khác như Philippin, Đài Loan, Malaixia, Nhật Bản với lượng xuất
đạt lần lượt 62,8 nghìn tấn, 41,3 nghìn tấn, 28,8 nghìn tấn và 8,9 nghìn tấn
Bảng 2.1: Thống kê sơ bộ của TCHQ về tình hình xuất khẩu sắn năm 2013
ĐVT: lượng (tấn); Trị giá (USD)
Thị trường 12 tháng/2013 12 tháng/2012
Tốc độ tăng trưởng (%) Lượng Giá trị Lượng Giá trị Lượng Giá trị
Tổng KN 3.140.432 1.100.420.465 4.227.568 1.352.372.218 -25,72 -18,63 Trung Quốc 2.693.884 946.406.274 3.758.709 1.179.895.644 -28,33 -19,79 Hàn Quốc 237.600 64.847.174 166.973 44.012.808 42,30 47,34 Philippin 62.894 23.327.063 53.730 22.052.851 17,06 5,78
Đài Loan 41.373 18.541.593 86.458 36.076.742 -52,15 -48,61 Malaixia 28.802 13.418.843 30.671 13.055.264 -6,09 2,78 Nhật Bản 8.905 4.375.002 11.581 3.934.907 -23,11 11,18
( Nguồn: Tổng Cục Hải Quan, 2013)
Tính đến 2013, cả nước có 60 nhà máy sản xuất nhiêu liệu sinh học sử dụng nguyên liệu là sắn lát khô đi vào hoạt động, gần 100 nhà máy chế biến tinh bột sắn
và hàng trăm cơ sở chế biến thủ công, v.v
Sắn và sản phẩm từ sắn là mặt hàng tăng trưởng nóng trong những năm qua
và phụ thuộc vào nhu cầu nhập khẩu của các nước, do vậy, nghề trồng sắn rất dễ bị
động nếu các thị trường giảm nhu cầu nhập khẩu Hiện nay Trung Quốc là thị
trường nhập khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn lớn nhất của Việt Nam (chiếm 85,6%) tuy nhiên xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn sang thị trường Trung Quốc trong năm
2013 chỉ đạt 946,4 triệu USD, giảm 19,8% so với năm 2012 Do khủng hoảng kinh
tế thế giới và sự trì trệ của ngành Ethanol tại Trung Quốc, các nhà máy sản xuất cồn tại đây đã đóng cửa gần 70%, một số còn lại giảm công suất nên nhu cầu nhập khẩu sắn cũng sụt giảm mạnh
Ngoài ra, giá xuất khẩu sắn của Việt Nam hiện đang giảm, thêm vào đó lượng tồn kho sắn lại cao trong khi nguồn cung từ các thị trường xuất khẩu khác
Trang 20(như Thái Lan và Indonesia) đang rất lớn, giá cả cạnh tranh cũng là nguyên nhân của sự sụt giảm xuất khẩu sắn sang thị trường Trung Quốc nói riêng và thị trường thế giới nói chung Bởi thế, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải chủ động được thị trường và đặc biệt ưu tiên chính từ thị trường nội địa
2.2.1.3 Tình hình sản xuất tinh bột sắn ở tỉnh Hòa Bình
Hòa Bình là một tỉnh có diện tích và sản lượng sắn tương đối lớn ở khu vực Tây Bắc và trong cả nước với nhiều loại giống sắn khác nhau Tuy nhiên, tập trung nhiều là giống sắn KM94, đây là giống có năng suất tương đối cao phù hợp với nhiều dạng xen canh Các huyện có sản lượng sắn lớn như: Lương Sơn, Tân Lạc, Lạc Sơn, Yên Thủy…
Tỉnh Hòa bình đã triển khai dự án “Xây dựng mô hình sản xuất sắn bền vững” trong toàn tỉnh và đã đạt được các kết quả nhất định, cho năng suất cao Tại
xã Hương Nhượng, huyện Lạc Sơn Dự án đã thử nghiệm thành công 2 mô hình canh tác sắn bền vững là sắn - keo và sắn - đậu tương, đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân, góp phần bảo vệ đất, cải tạo đất hoang hóa áp dụng kỹ thuật chống xói mòn, khôi phục độ phì nhiêu trên đất dốc Thông qua các lớp tập huấn và trồng sắn theo kỹ thuật mà dự án chuyển giao, người dân đã nắm được kỹ thuật canh tác trên đất dốc theo phương thức nông - lâm kết hợp Mô hình trồng sắn xen canh đậu tương cho năng suất sắn một vụ đạt 48,7 tấn/ha, đậu tương đạt 1,23 tấn/ha Ở mô hình sắn - keo, năng suất sắn đạt 34,8 tấn/ha/vụ, keo đạt trên 6 triệu đồng/ha/vụ; lượng đất xói mòn giảm 50%
Trước đây sắn được trồng làm thực phẩm hoặc làm thức ăn cho gia súc hoặc
để chế biến thành các thực phẩm khác bằng phương pháp thủ công, do đó người dân
chưa quen tới việc trồng sắn làm hàng hóa, diện tích sắn còn nhỏ lẻ, đầu tư thấp nên năng suất kém Tuy nhiên trong những năm gần đây nhờ chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đã hình thành nhiều vùng trồng sắn có diện tích trên 100 ha như vùng Lạc Sơn, Tân Lạc, Yên Thủy, Lương Sơn… Bên cạnh đó, áp dụng các tiến bộ khoa học trong trồng trọt người dân đã quan tâm nhiều
đến việc chế biến thành sản phẩm sắn nhằm đa dạng hóa sản phẩm nâng cao hiệu
Trang 21quả sản xuất sắn Cùng với đó trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đã có nhà máy chế biến tinh bột sắn được xây dựng và đi vào hoạt động sản xuất như: nhà máy chế biến tinh bột sắn Tân Hiếu Hưng, nhà máy Phú Mỹ… và lượng tinh bột sắn được sản xuất ra
từ các nhà máy không chỉ cung cấp tiêu thụ trong thị trường nội địa mà còn xuất khẩu sang một số nước như Trung Quốc, Nga…
2.2.2 Thành phần hóa học của củ sắn
Thành phần hóa học của củ sắn phụ thuộc rất nhiều vào giống, loại đất trồng,
điều kiện đất đai, khí hậu, chăm bón, sinh trưởng, thời gian thu hoạch…
(Nguồn: Bảo quản và chế biến sắn, Cao Văn Hùng, 2001)[5]
- Tinh bột: Trong thành phần hóa học của sắn tinh bột chiếm tỷ lệ cao (20 -
34%) Hàm lượng tinh bột của sắn cao hay thấp tùy thuộc vào nhiều yếu tố Trong
đó, độ già có ý nghĩa rất quan trọng mà độ già lại phụ thuộc vào thời gian thu
hoạch Ở các tỉnh phía Bắc nước ta, với giống sắn có thời gian sinh trưởng một năm thì trồng vào tháng 2 và thu hoạch vào tháng 9 đến tháng 4 năm sau Thu hoạch sắn vào tháng 12 và tháng 1 thì hàm lượng tinh bột là cao nhất Tháng 9 và tháng 11 thì
ít tinh bột, hàm lượng nước cao, lượng chất hòa tan lớn, sắn non không chỉ cho hiệu suất thu hồi tinh bột thấp mà còn khó bảo quản tươi Ngược lại thu hoạch vào tháng
Trang 223, tháng 4 hàm lượng tinh bột lại giảm vì một phần tinh bột lại bị phân hủy thành
đường để nuôi mầm non trong khi cây chưa có khả năng quang hợp
- Đường: Trong sắn chiếm 1 - 3%, chủ yếu là glucoza và một ít mantoza,
saccaroza Sắn càng già hàm lượng đường càng giảm Trong khi chế biến đường hòa tan trong nước, ra theo nước thải
- Protein: Protein của củ sắn cho tới nay chưa được nghiên cứu kỹ, tuy nhiên
vì hàm lượng thấp nên cũng ảnh hưởng tới quy trình công nghệ Do đặc điểm nghèo protein nên ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới hiện nay chủ yếu sử dụng sắn để sản xuất tinh bột
Ngoài các thành phần trên, trong sắn còn có độc tố, tanin, sắc tố và cả hệ enzym phức tạp Những chất này gây khó khăn nhất là khi quy trình công nghệ chưa tối ưu hóa, chất lượng sản phẩm kém
- Độc tố: Trong sắn củ tươi chứa một lượng hợp chất có tên là glucozit
linamarin (C10H17O6) nhất là khi củ chưa được thu hoạch, bản thân hợp chất này không độc nhưng khi trong môi trường axit (như trong dạ dày sau khi ăn hay trong dịch sản xuất tinh bột) bị phân hủy và giải phóng ra axit cianhydric (HCN) là chất rất độc, chỉ cần một lượng nhỏ cũng đủ gây chết người (lượng HCN có thể gây chết người là 1 mg/kg cơ thể) Hợp chất glucozit có ở hầu hết các bộ phận của cây sắn, ở sắn đắng chứa nhiều độc tố hơn sắn ngọt (ở sắn ngọt có khoảng 20 - 30 g/1kg sắn
Ở sắn đắng chứa khoảng 60 - 150 g/1kg sắn) Độc tố tập trung chủ yếu ở vỏ, cùi và
dễ hòa tan trong nước Vì vậy khi ăn tươi (dù là sắn đắng hay sắn ngọt) cũng nên bóc vỏ cùi, và ngâm trong nước 2 - 3 giờ để loại bỏ độc tố Trong sản xuất tinh bột sắn, HCN thường phản ứng với sắt có trong nước tạo thành xianat có màu đen, do
đó không tách dịch nước nhanh thì sẽ ảnh hưởng đến màu sắc tinh bột, làm giảm
chất lượng sản phẩm
- Enzym: Các enzym trong sắn cho tới nay chưa được nghiên cứa kỹ, tuy
nhiên trong hệ enzym của sắn các enzym polyphenolxydaza ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của sắn trong bảo quản cũng như trong sản xuất và chế biến Khi sắn chưa thu hoạch thì hoạt độ của các enzym trong sắn yếu và ổn định nhưng sau khi
Trang 23tách củ khỏi cây các enzym đều hoạt động mạnh Polyphenolxydaza xúc tác quá trình oxy hóa polyphenol tạo thành octokinol sau đó trùng hợp với các chất không
có bản chất phenol như axitamin để tạo thành các hợp chất có màu Trong nhóm polyphenolxydaza có những enzym oxy hóa các mono phenol mà điển hình là tinezinaza xúc tác sự oxy hóa tiozin tạo ra các kinol tương ứng Sau một chuỗi chuyển hóa, các kinol này sinh ra sắc tố màu đen (hiện tượng “chảy nhựa”), những vết đen này xuất hiện trong củ sắn bắt đầu từ lớp vỏ cùi
Sắn bị chảy nhựa sẽ ảnh hưởng không tốt đến chất lượng sắn cũng như quy trình công nghệ trong sản xuất tinh bột sắn và trong xử lý nước thải Khi luộc sắn ăn thì bị sượng, còn khi mài sắn thì khó phá vỡ tế bào để giải phóng tinh bột, do đó hiệu suất thu hồi tinh bột giảm mạnh, tinh bột không trắng
- Tanin: Hàm lượng tanin có trong sắn thấp, nhưng sản phẩm oxy hóa tanin
lại là flobenzen có màu đen khó tẩy Mặt khác, trong chế biến tanin còn tác dụng với sắt tạo thành tinat cũng có màu xám đen Cả hai chất này đều ảnh hưởng đến màu sắc tinh bột, do đó khi chế biến chúng ta phải tách dịch ra khỏi tinh bột càng nhanh càng tốt
- Sắc tố: Cho tới nay sắc tố trong sắn chưa được nghiên cứu đầy đủ, tuy
nhiên trong sản xuất, chế biến cũng như trong bảo quản đều xảy ra quá trình hình thành flobenzen có màu đen
- Vitamin: Ngoài các thành phần kể trên, trong sắn còn chứa một lượng rất
nhỏ vitamin, chủ yếu là vitamin thuộc nhóm B, trong đó, vitamin B1 chiếm khoảng 0,03 mg/100g, vitamin B2 chiếm khoảng 0,03 mg/100g và vitamin PP chiếm khoảng 0,6mg/100g
2.2.3 Đặc điểm chất thải của quá trình sản xuất chế biến tinh bột sắn
2.2.3.1 Nước thải
Các thành phần hữu cơ như tinh bột, protein, xenluloza, pectin, đường có trong nguyên liệu củ sắn tươi là nguyên nhân gây ô nhiễm cao cho các dòng nước thải của nhà máy sản xuất tinh bột sắn Nước thải sinh ra từ dây chuyền sản xuất tinh bột sắn có các thông số đặc trưng: pH thấp, hàm lượng chất hữu cơ và vô cơ
Trang 24cao, thể hiện qua hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS), TSS rất cao, các chất dinh dưỡng chứa N, P, các chỉ số về nhu cầu oxy sinh học (BOD5), nhu cầu oxy hoá học (COD), với nồng độ rất cao và trong thành phần của vỏ sắn và lõi củ sắn có chứa Cyanua (CN-) một trong những chất độc hại có khả năng gây ung thư
Bảng 2.3: Tính chất nước thải ngành tinh bột sắn
(Nguồn: Quản lý công nghiệp trong ngành chế biến tinh bột sắn ở Việt Nam,
Lê Văn Khoa, 2002)[6]
Độ pH:
Độ pH của nước thải quá thấp sẽ làm mất khả năng tự làm sạch của nguồn
nước tiếp nhận do các loại vi sinh vật có tự nhiên trong nước bị kìm hãm sự phát triển Ngoài ra khi nước thải có tính axit sẽ có tính ăn mòn, làm mất cân bằng trao
đổi chất tế bào, ức chế sự phát sinh bình thường của quá trình sống
Hàm lượng chất rắn lơ lửng:
Các chất rắn lơ lửng là tác nhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên nước do tăng độ đục nguồn nước làm giảm năng suất sinh hoạt và gây bồi lắng cho nguồn tiếp nhận
Các chất dinh dưỡng N,P:
Các chất dinh dưỡng gây hiện tượng phú dưỡng nguồn nước ảnh hưởng tới chất lượng nước, sự sống thủy sinh
Trang 25Các cất hữu cơ BOD 5 :
Các chất hữu cơ chủ yếu trong nước thải sinh hoạt là Carbonhydrate Đây là hợp chất dễ dàng bị vi sinh vật phân hủy bằng cơ chế sử dụng oxy hòa tan trong nước để oxy hóa các hợp chất hữu cơ
Sự ô nhiễm các chất hữu cơ sẽ dẫn đến suy giảm nồng độ oxy trong nước do
vi sinh vật sử dụng oxy hòa tan để phân hủy các chất hữu cơ làm oxy hòa tan sẽ giảm, gây tác hại nghiêm trọng đến tài nguyên thủy sinh
Dầu mỡ:
Trong nước thải còn có cả dầu mỡ tuy chỉ với số lượng ít Dầu mỡ là chất thải khó tan trong nước, có thành phần hóa học phức tạp, khi thải vào nước sẽ loãng trên mặt nước tạo thành màng dầu, một phần nhỏ hòa tan trong sông, hồ sẽ tích tụ trong bùn
Dầu mỡ không những là hợp chất Hydrocacbon khó phân hủy sinh học, mà còn chứa các chất phụ gia độc hại như các chất dẫn suất phenol, gây ô nhiễm môi trường nước, đất Cuộc sống của hầu hết các loài động thực vật đều bị tác động xấu
do nước thải có dầu mỡ Các loại thủy sinh và cây ngập nước dễ bị chết do dầu mỡ ngăn cản quá trình hô hấp, quang hợp và cung cấp dinh dưỡng
Nồng độ oxy hòa tan DO:
Do bị ô nhiễm sinh học nên nước thải của nhà máy có nồng độ oxy hòa tan thấp Oxy là chất không thể thiếu được đối với tất cả các cơ thể sống trên cạn cũng như dưới nước Oxy duy trì quá trình trao đổi chất, sinh ra năng lượng cho sự sinh trưởng và tái sản xuất sinh học Khi nước thải này hòa vào các nguồn nước, quá trình oxy hóa diễn ra làm giảm nồng độ oxy tại các nguồn nước này, thậm chí có thể
đe dọa sự sống của các loài cá cũng như cuộc sống dưới nước
Xyanua (CN - ):
CN- là độc đối với sinh vật, nồng độ CN- trong nước thải cao sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả xử lý của các công trình xử lý sinh học do đó trước khi đưa vào công trình xử lý, nước thải phải được xử lý
Trang 26Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu cơ bản trong nước thải nhà máy sản xuất tinh bột sắn:
Khí thải phát sinh trong quá trình sản xuất tinh bột sắn không lớn, tuy nhiên cũng có thể kể đến các loại khí dưới đây:
- Sản xuất sắn ở quy mô công nghiệp thường có lò cấp nhiệt cho quá trình sấy khô, quá trình chạy máy phát điện khi xảy ra sự cố mất điện Do vậy, khí ô nhiễm có thể phát sinh do quá trình đốt dầu, thành phần chính của các loại khí này
là CO2, NOX, SOX, CXHY, bụi…
- Để tẩy trắng bột ở quy mô lớn có thể lò đốt lưu huỳnh tạo SO2 Ngoài ra
SO2 còn phát sinh từ khu vực nghiền bột trong trường hợp định lượng quá nhiều
SO2 vào dung dịch bột
- Trong sản xuất tinh bột sắn, hợp chất cyanogenic glucozit thủy phân giải phóng HCN, đây là axit dễ bay hơi, chúng phát tán vào không khí gây ảnh hưởng tới sức khỏe của con người và gia súc
- Khí ô nhiễm còn có thể phát sinh từ quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ
có trong bã thải rắn hoặc từ các hồ sinh học như H2S, NH3, xetol… có khả năng gây các bệnh về đường hô hấp, ung thư gây nguy hiểm cho con người
- Không khí còn bị ô nhiễm bởi bụi của quá trình vận chuyển sắn nguyên liệu
từ các nông trại tới các khu vực tập kết sắn của các nhà máy, đặc biệt là vào mùa khô hoặc bụi phát sinh trong quá trình sàng, sấy khô và đóng gói
2.2.3.3 Chất thải rắn
Chất thải rắn đang là mối quan tâm về vấn đề môi trường trong ngành chế biến tinh bột sắn Chất thải rắn từ quá trình chế biến tinh bột sắn gồm các loại sau:
Trang 27- Vỏ củ và tạp chất (đất, đá) ở công đoạn bóc vỏ
- Bã sắn từ công đoạn trích ly, chiết xuất
- Bùn từ công đoạn xử lý nước thải
Đối với các nhà máy lớn thì vấn đề xử lý chất thải rắn tương đối thuận lợi do
từ khi hình thành nhà máy, chất thải rắn đã có phương án xử lý Vỏ cùi và các tạp chất ở công đoạn rửa, bóc vỏ được thiết kế khu chôn lấp riêng trong khuôn viên nhà máy Bã sắn từ công đoạn trích ly hầu hết các nhà máy đều ký kết với các cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc và hàng ngày bã sắn được chở đi liên tục do đó giảm
đáng kể ô nhiễm môi trường
Đối với các cơ sở làng nghề, phương hướng xử lý bã thải gặp rất nhiều khó
khăn Mặc dù đã có những biện pháp tích cực trong giải quyết vấn đề chất thải rắn song do sản xuất nhỏ lẻ kết hợp với ý thức người dân chưa cao dẫn đến ô nhiễm môi trường Sự yếu kém trong việc quy hoạch bãi chôn lấp và ý thức của người dân còn làm mất mỹ quan làng xã Bên cạnh những yếu kém còn tồn tại, hiện nay tại một số làng nghề cũng có những hình thức xử lý chất thải rắn khá hiệu quả, bã được phơi khô làm nhiên liệu, làm thức ăn trong chăn nuôi Vỏ được tận dụng sản xuất phân hữu cơ… Đây là cách tận dụng tốt nhất, vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa đảm bảo vấn đề
vệ sinh môi trường
2.2.4 Một số kinh nghiệm xử lý nước thải sản xuất tinh bột sắn trên thế giới và ở Việt Nam
Trong nhà máy chế biến tinh bột, thành phần nước thải sinh ra chủ yếu từ bóc vỏ, rửa củ, băm nhỏ và lắng lọc là các nguồn ô nhiễm chính Trên cơ sở này việc lấy mẫu và phân tích thành phần nước thải được thực hiện ở hai công đoạn riêng biệt và kết hợp hai công đoạn này
Tính chất xử lý nước thải tinh bột sắn mang tính chất acid và có khả năng phân hủy sinh học Đặc biệt với loại nước thải này là trong khoai mì có chứa HCN
là một acid có tính độc hại Khi ngâm khoai mì vào trong nước HCN sẽ tan vào trong nước và theo nước thải ra ngoài
Trang 28Một số quy trình công nghệ xử lý nước thải tinh bột sắn:
Bể lắng cát: Có nhiệm vụ loại bỏ cát, mảng kim loại,… trong nguyên liệu,
trong nước thải vệ sinh nhà xưởng Nước thải từ các khu vực sản xuất theo mạng lưới thoát nước riêng chảy vào bể lắng cát của trạm xử lý Tại đây, để bảo vệ thiết
bị và hệ thống đường ống công nghệ phía sau, song chắn rác thô được lắp đặt trước
bể lắng cát để loại bỏ các tạp chất có kích thước lớn ra khỏi nước thải Bể lắng cát giữ lại phần lớn các hạt cát có kích thước lớn hơn 0,2mm bao gồm những hạt cát rời
và một phần cát dính trong lớp vỏ gỗ, tránh ảnh hưởng đến máy bơm và thiết bị ở các công trình sau Trong nước thải chế biến tinh bột sắn thường có hàm lượng cát
đáng kể, vì vậy trong công nghệ xử lý nước thải cần thiết phải có bể lắng cát Nước
thải sau khi qua bể lắng cát sẽ tự chảy vào hầm tiếp nhận
Nước thải trước khi đến bể điều hòa sẽ qua lưới chắn rác tinh Lưới chắn rác tinh có nhiệm vụ loại bỏ các sơ sợi sắn, lớp váng bọt nổi và rác có kích thước nhỏ hơn 10mm
Bể điều hòa: Sự dao động nồng độ và lưu lượng nước thải sẽ ảnh hưởng đến
chế độ công tác của mạng lưới và các công trình xử lý, đặc biệt quan trọng với các công trình hóa lý, sinh học với việc làm ổn định nồng độ nước thải sẽ giúp giảm nhẹ kích thước công trình xử lý hóa lý, đơn giản hóa công nghệ xử lý và tăng hiệu quả
xử lý nước thải ở các công trình xử lý Tại bể điều hoà nhờ quá trình khuấy trộn và cấp khí giúp ổn định lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm như: BOD5, COD, pH,
CN-…tại đây nước thải được bơm sang bể phản ứng
Bể trung hòa: Nước thải ở công nghệ chế biến tinh bột sắn đều có pH thấp,
ở các công đoạn do quá trình lên men axit tinh bột Do đó, trước khi tiến hành xử lý
sinh học (yêu cầu pH từ 6.5 - 8.5) hay quá trình hóa lý thường yêu cầu pH trung tính cần tiến hành trung hòa để tạo điều kiện thích hợp cho vi sinh phát triển tốt
Bể phản ứng: Hóa chất keo tụ được châm vào bể với liều lượng nhất định
và được kiểm soát chặt chẽ bằng bơm định lượng hóa chất Dưới tác dụng của hệ thống cánh khuấy với tốc độ lớn được lắp đặt trong bể, hóa chất keo tụ được hòa trộn nhanh và đều vào trong nước thải, hình thành các bông cặn nhỏ li ti khắp diện tích bể
Bể keo tụ tạo bông: Hỗn hợp nước thải này tự chảy qua bể keo tụ tạo bông
Dưới tác dụng của chất trợ keo tụ và hệ thống motor cánh khuấy với tốc độ chậm,
Trang 29các bông cặn li ti sẽ chuyển động, va chạm, dính kết và hình thành nên những bông cặn có kích thước và khối lượng lớn gấp nhiều lần các bông cặn ban đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lắng ở bể lắng Hỗn hợp nước và bông cặn ở bể keo tụ tạo bông tự chảy sang bể lắng
Bể lắng 1: Bể lắng có chức năng loại bỏ các chất lắng được mà các chất này
có thể gây ra hiện tượng bùn lắng trong nguồn tiếp nhận, tách dầu mỡ và các chất nổi khác, giảm tải trọng hữu cơ cho các công trình xử lý phía sau Phần bùn trong nước thải được giữ lại ở đáy bể lắng Lượng bùn này được bơm qua bể chứa bùn
Bể UASB: Phần nước sau khi tách bùn được bơm bể phản ứng kỵ khí UASB,
bên cạnh việc phân huỷ phần lớn các chất hữu cơ thì CN- cũng được phân huỷ đáng kể tại đây, nhằm giảm đến mức thấp nhất nồng độ CN- trước khi dẫn vào bể lọc sinh học
Bể UASB thường được áp dụng xử lý nước thải có hàm lượng chất hữu cơ cao như nước thải ngành tinh bột sắn Nước thải được nạp từ phía đáy bể, đi qua lớp bùn hạt, quá trình xử lý nước thải xảy ra khi các chất hữu cơ tiếp xúc với bùn hạt Đặc tính quan trọng nhất của bùn từ bể UASB là vận tốc lắng của bùn khá cao, nhờ đó có thể vận hành thiết bị kỵ khí với vận tốc ngược dòng từ dưới lên cao Khi vận hành ở giai
đoạn đầu tải trọng chất hữu cơ không được quá cao vì vi sinh vật acid hóa sẽ tạo acid
béo dễ bay hơi với vận tốc nhanh hơn rất nhiều lần so với tốc của các acid này thành acetate dưới tác dụng của vi khuẩn acetate làm giảm pH môi trường, ức chế vi khuẩn methane hóa Tải trọng hữu cơ có thể tăng dần khi vi khuẩn thích nghi Vì vậy, với hệ thống UASB tải trọng chất hữu cơ có thể đạt cao trong giai đoạn hoạt động ổn định Bùn từ bể lắng 1 và bùn dư từ bể UASB sẽ được dẫn đến sân phơi bùn, nhằm giảm độ
ẩm và khối lượng bùn để dễ dàng vận chuyển ra bãi thải
Bể lọc sinh học: Màng sinh học hiếu khí là một hệ VSV tuỳ tiện, ở ngoài
cùng của màng là lớp vi khuẩn hiếu khí, lớp sâu bên trong màng là các vi khuẩn kỵ khí Phần cuối cùng của màng là các động vật nguyên sinh và một số các vi khuẩn khác Vi sinh trong màng sinh học sẽ oxy hoá các chất hữu cơ, sử dụng chúng làm nguồn dinh dưỡng và năng lượng Chất hữu cơ được tách ra khỏi nước, còn khối lượng của màng sinh học tăng lên Màng vi sinh chết sẽ được cuốn trôi theo nước ra khỏi bể lọc sinh học Để duy trì điều kiện hiếu khí hay kỵ khí trong bể phụ thuộc vào lượng oxy cấp vào Nhưng thực tế trong bể luôn tồn tại 3 quá trình hiếu, thiếu
và kỵ khí Do đó hiệu quả khử nitơ và photpho của bể lọc tương đối cao
Trang 30Tiếp đó, nước thải sẽ được dẫn đến cụm 5 hồ sinh học, phần CN- nitơ, photpho, BOD5, COD, SS còn lại sẽ được khử tại các hồ sinh học Nước thải sau khi qua hệ thống
xử lý đạt tiêu chuẩn QCVN 24:2009, loại B sẽ thải ra nguồn tiếp nhận
Hình 2.1: Sơ đồ quy trình công nghệ xử lý nước thải tinh bột sắn
Nước thải vào
Trang 312.2.5 Hiện trạng môi trường nước trên thế giới và Việt Nam
2.2.5.1 Hiện trạng môi trường nước trên thế giới
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ
ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp
đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển Đây là thống kê của Viện
Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày 5/9 Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và các bệnh liên quan đến nước.Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm.Tổ chức Lương Nông LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu nước Tổng lượng nước trên thế giới ước tính khoảng 332 tỷ dặm khối trong đó nước
đại dương chiếm 94,4% còn lại khoảng 2% tồn tại dạng băng tuyết ở các cực và 0,6%
ở các bể chứa khác Trên 80% lượng băng tồn tại ở Nam cực và chỉ có hơn 10% ở
Bắc cực, phần còn lại ở các đỉnh núi hoặc sông băng Lượng nước ngọt chúng ta có thể sử dụng ở các sông, suối, hồ, nước ngầm chỉ khoảng 2 triệu dặm khối (0,6% tổng lượng nước) trong đó nước mặt chỉ có 36.000 km3 còn lại là nước ngầm Tuy nhiên, việc khai thác nguồn nước ngầm để sử dụng hiện nay gặp rất nhiều khó khăn và tốn kém Do vậy nguồn nước mặt đóng vai trò rất quan trọng Sự biến đổi khí hậu toàn cầu dẫn đến sự suy giảm tài nguyên nước, cùng với sự phát triển kinh tế là vấn đề ô nhiễm nước mặt đang ngày càng trở nên nghiêm trọng
2.2.5.2 Hiện trạng môi trường nước ở Việt Nam
Giống như một số nước trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trước thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là tại các khu công nghiệp
và đô thị Theo thống kê, tỷ lệ nước mặt trung bình tính theo đầu người với lượng nước sinh ra trong lãnh thổ nước ta vào khoảng 10.240 m3/người/năm Với mức độ tăng dân số như hiện nay vào năm 2025 tỷ lệ này sẽ chỉ còn tương ứng 2.830 và
Trang 327.660 m3/người/năm Theo tiêu chuẩn của hội tài nguyên nước Quốc tế, quốc gia có
tỷ lệ nước bình quân đầu người thấp hơn 40.000 m3 được đánh giá là quốc gia thiếu nước Trong khi đó nguồn nước mặt của nước ta đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Theo kết quả quan trắc, cho thấy chất lượng nước ở thượng lưu các con sông còn khá tốt nhưng vùng hạ lưu phần lớn bị ô nhiễm, nhiều nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng Chất lượng nước suy giảm mạnh: nhiều chỉ tiêu như BOD, COD, NHS, tổng N, tổng P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần đặc biệt mức độ ô nhiễm ngày càng tăng cao vào mùa khô khi lưu lượng nước đổ vào các con sông giảm
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây
áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9 - 11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700 mg/1 và 2.500 mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân
cư Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có
pH từ 8,4 - 9 và hàm lượng NH4 là 4 mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Trang 332.2.5.3 Hiện trạng môi trường nước ở Hòa Bình
Hoà Bình có nguồn tài nguyên nước rất dồi dào Hoà Bình có diện tích mặt nước tương đối lớn; mạng lưới sông, suối phân bố tương đối đều, đặc biệt có sông
Đà lớn nhất bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua các huyện Mai Châu, Đà Bắc, Tân
Lạc, Kỳ Sơn với tổng chiều dài là 151 km, tổng lưu vực là 51.800 km2 Ngoài ra còn phải kể đến một số sông khác như:
+ Sông Bôi: bắt nguồn từ Kỳ Sơn, chảy qua huyện Kim Bôi, Lạc Thủy ra Nho Quan - Ninh Bình; có chiều dài 125 km với diện tích lưu vực là 295 km2; đoạn chảy qua Hoà Bình dài 60 km
+ Sông Bưởi: dài 55 km
+ Sông Lãng: dài 30 km
+ Sông Bùi: dài 32 km
Hoà Bình nằm trong khu vực của ba hệ thống sông chính: Sông Đà, sông Mã
và sông Đáy với khoảng 400 con sông, suối lớn nhỏ chảy trên địa bàn toàn tỉnh Trong đó có khoảng 5 sông có lưu lượng dòng chảy thường xuyên trên 31 m3/s Tổng lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm trên toàn tỉnh khoảng 5 tỷ m3, trong
đó hệ thống sông Đà chiếm tỷ trọng chủ yếu Hệ thống sông suối dày đặc đã tạo nên
một nguồn tài nguyên nước rất dồi dào Tuy nhiên cùng với sự phát triển công nghiệp hóa đã gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên thiên nhiên trong đó
có tài nguyên nước nguồn tài nguyên nước ở Hòa Bình đang bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng bởi tốc độ đô thị hóa tăng nhanh cùng với sự gia tăng dân số
Huyện Lạc Sơn là một huyện phía Nam của tỉnh Hòa Bình, có nguồn tài nguyên nước chủ yếu là con sông Bưởi chảy qua Nhưng trong nhưng năm gần đây
đã bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi nước thải của các nhà máy, khu dân cư… Năm
2011, do sự cố vỡ cống nước thải của nhà máy tinh bột sắn Tân Hiếu Hưng tại xã Tân Mỹ đã làm nước Sông Bưởi bị ô nhiễm nghiêm trọng, gây hiện tượng các chết hàng loạt Hiện nay, sự cố đã được khắc phục nhưng chất lượng môi trường nước sông vẫn đang bị suy thoái nghiêm trọng
Trang 34PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng nước thải sản xuất của nhà máy chế biến tinh bột sắn Tân Hiếu Hưng trên địa bàn huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Nước thải sản xuất của nhà máy tinh bột sắn Tân Hiếu Hưng tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Nhà máy chế biến tinh bột sắn Tân Hiếu Hưng
- Thời gian nghiên cứu: ngày 18/8/2014 đến ngày 04/01/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Đặc điểm cơ bản của nhà máy chế biến tinh bột sắn Tân Hiếu Hưng
- Đánh giá chất lượng nước thải của nhà máy tinh bột sắn Tân Hiếu Hưng
- Đề xuất giải pháp khắc phục để giảm thiểu ô nhiễm môi trường do nước thải của nhà máy
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp kế thừa
- Kế thừa tham khảo kết quả phân tích nước thải của nhà máy
- Nghiên cứu các văn bản pháp luật tài nguyên nước
3.4.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, số liệu thứ cấp
- Thu thập các thông tin, số liệu sẵn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu,
số liệu quan trắc môi trường có liên quan, số liệu về thực trạng sản xuất của nhà máy
- Thu thập ở báo chí và trên internet
- Thu thập tài liệu văn bản có liên quan
Trang 353.4.3 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
- Tiến hành khảo sát thực tế: Tham quan, xem xét công nghệ sản xuất của công ty và các hệ thống xử lý nước thải
- Áp dụng phương pháp điều tra và phỏng vấn: phỏng vấn người dân khu vực xung quanh nhà máy; địa điểm tại xóm Bùi, xóm Đa, xóm Ngheo; Điều tra bằng phiếu hỏi với số lượng là 60 phiếu
3.4.4 Phương pháp lấy mẫu và phân tích nước thải
3.4.4.1 kế hoạch lấy mẫu phân tích
Bảng 3.1 Kế hoạch lấy mẫu, phân tích nước
mẫu Thông số phân tích
Quy chuẩn
so sánh
1 Mẫu nước thải sản xuất của
Nhà máy trước khi được xử lý
tại hồ thu gom bioga
T1
- Chỉ tiêu phân tích tại phòng thí
nghiệm: pH; BOD5; COD; TSS; Ptổng,
NH4+; S2-; CN-;
Ntổng; Coliform
QCVN 40:2011/BTNMT
2 Mẫu nước thải sản xuất của
Nhà máy sau khi xử lý qua hệ
thống bioga thải ra hồ lắng 2
T2
3 Mẫu nước mặt thủy vực
tiếp nhận nguồn nước thải:
nước sông Bưởi
M1
- Chỉ tiêu phân tích tại phòng thí
nghiệm: pH; DO;
BOD5; COD; TSS; NH4+;
NO3-; PO43-; xyanua (CN-); Coliform
QCVN 08:2008/BTNMT
Trang 36Phospho mg/l Phosver 3 method DR 2010- Mỹ
7 Xyanua (CN-) mg/l Hach method 8027 DR 2010- Mỹ
8 Sulfua ( S2-) mg/l Hach method 8131 DR 2010- Mỹ
3.4.4.3 Lấy mẫu và bảo quản mẫu
Mẫu nước được lấy mẫu vào các chai đựng mẫu loại 1500 ml, với chỉ tiêu Coliform mẫu được lấy vào các chai 500 ml vô trùng Mẫu sau khi lấy, tùy theo yêu cầu phân tích của từng chỉ tiêu mà mẫu được bảo quản bằng các điều kiện khác theo