1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hoạt động của dịch vụ logistics của Việt nam trong điệu kiện hội nhập WTO

27 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 216,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó các công ty giaonhận Việt Nam dù là những tổng công ty lớn mạnh nhất cũng chưa có một Côngty nào hoạt động trong lĩnh vực Logistics theo đúng nghĩa của nó.. Các công ty Logi

Trang 1

K IL

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LOGISTICS 4

1.1 Tổng quan về Logistics 4

1.2 Logistics trong giao nhận vận tải 5

1.3 Vai trò của Logistics 7

1.4 Nội dung môn học Quản trị Logistics 7

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ LOSGISTICS Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP WTO 9

2.1 Phân tích thị trường Logistics ở Việt Nam 9

2.2 Thực trạng dịch vụ cung ứng của các Công ty giao nhận ở Việt Nam 10

2.3 Thực trạng các hoạt động trong chuỗi Logistics xảy ra ngoài biên giới Việt Nam 10

2.4 Thực trạng hệ thống thông tin phục vụ cho dịch vụ Logistics ở Việt Nam 11 2.5 Những nhân tố tác động đến phát triển Logistics ở Việt Nam 12

2.5.1 Những nhân tố khách quan 12

2.5.2 Những nhân tố chủ quan 14

2.6 Một số giải pháp phát triển dịch vụ Logistics ở Việt Nam 19

2.6.1 Xây dựng định hướng chiến lược phát triển Logistics trong các Công ty giao nhận Việt Nam. 19

2.6.2 Các giải pháp cụ thể để thực hiện các định hướng chiến lược phát triển Logistics ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập. 21

2.6.3 Một số kiến nghị 23

CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC 24

3.1 Nhận xét 25

3.2 Đánh giá 26

KẾT LUẬN 27

Trang 2

có mặt và cung cấp dịch vụ Logistics toàn cầu Trong khi đó các công ty giaonhận Việt Nam dù là những tổng công ty lớn mạnh nhất cũng chưa có một Công

ty nào hoạt động trong lĩnh vực Logistics theo đúng nghĩa của nó Theo từngbước của tiến trình hội nhập, các hàng rào bảo hộ dần dần được dỡ bỏ, thị trườnggiao nhận vận tải ngoại thương ở Việt nam vốn đã cạnh tranh gay gắt sẽ ngàycàng gay gắt hơn Các công ty Logistics nước ngoài với công nghệ vượt trội chắcchắn sẽ chiếm ưu thế hơn so với hoạt động giao nhận truyền thống của các công

ty trong nước Nếu không có sự thay đổi trong hoạt động giao nhận, các công tygiao nhận Việt Nam sẽ thất thế ngay trên thị trường của chính mình

Chính vì tầm quan trọng trên của hoạt động Logistics, tác giả đã chọn mônhọc “Quản trị Logistics” là chuyên đề nghiên cứu

Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt độngLogistics trong các Công ty giao nhận của Việt Nam trong điều kiện gia nhậpWTO để từ đó đưa ra giải pháp phát triển dịch vụ Logistics ở Việt Nam

Thông qua đề tài, tác giả cũng mong đóng góp những ý kiến của mình đểmôn học này ngày càng được cải thiện tốt hơn, trở nên hữu ích hơn với nhữngthế hệ sinh viên tiếp theo của khoa Quản trị kinh doanh

Đề tài được trình bày gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về Logistics

Trang 3

Chương 3: Nhận xét, đánh giá môn học

Do điều kiện về thời gian cũng như kiến thức có hạn vì vậy đề tài không thểtránh khỏi được những sai sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của thầy để

đề tài được hoàn thiện hơn

Trang 4

Logistics theo nghĩa đang sử dụng trên thế giới có nguồn gốc từ Logistiquetrong tiếng Pháp Logistique lại có gốc từ từ “Loger” nghĩa là nơi đóng quân.Cho đến nay vẫn chưa tìm được thuật ngữ thống nhất, phù hợp để dịch từLogistics sang tiếng Việt Có người dịch là hậu cần, có người dịch là tiếp vậnhoặc tổ chức dịch vụ cung ứng, thậm chí là vận trù Theo một số chuyên giatrong lĩnh vực này, tất cả cách dịch đó đều chưa thoả đáng, chưa phản ánh đúngđắn và đầy đủ bản chất của Logistics Chính vì vậy, trong đề tài này, tác giả xingiữ nguyên thuật ngữ Logistics mà không dịch sang tiếng Việt Theo ESCAP(Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – Ủy ban Kinh tế và

Xã hội châu Á – Thái Bình Dương) Logistics được phát triển qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Phân phối vật chất

Vào những năm 60, 70 của thế kỷ thứ 20, người ta bắt đầu quan tâm đếnvấn đề quản lý một cách có hệ thống những hoạt động có liên quan với nhau đểđảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách có hiệu quả.Những hoạt động đó bao gồm: vận tải, phân phối, bảo quản hàng hoá, quản lý tồnkho, bao bì đóng gói, phân loại, dán nhãn những hoạt động nêu trên được gọi làphân phối, cung ứng sản phẩm vật chất hay còn có tên gọi là Logistics đầu vào

Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics

Đến những năm 80, 90 của thế kỷ trước, các công ty tiến hành kết hợp quản

lý 2 mặt: đầu vào (gọi là cung ứng vật tư) với đầu ra (phân phối sản phẩm), đểtiết kiệm chi phí, tăng thêm hiệu quả của quá trình này Sự kết hợp đó được gọi

là hệ thống Logistics

Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng.

Đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi nối tiếp các hoạtđộng từ người cung cấp - đến người sản xuất - khách hàng tiêu dùng sản phẩm,

Trang 5

Trong lĩnh vực sản xuất, người ta đưa ra định nghĩa Logistics một cách đơngiản, ngắn gọn nhất là cung ứng, là chuỗi hoạt động nhằm đảm bảo nguyên nhiênvật liệu, máy móc, thiết bị, các dịch vụ cho hoạt động của tổ chức, doanhnghiệp được tiến hành liên tục, nhịp nhàng và có hiệu quả; bên cạnh đó còn thamgia vào quá trình phát triển sản phẩm mới.

Ngoài ra có thể định nghĩa “Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí, vậnchuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứngcho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinhtế”

Ở Việt Nam hiện nay, khi nói đến Logistics người ta chú tâm vào cấp độhai - tức là khâu vận chuyển và lưu trữ

1.2 Logistics trong giao nhận vận tải

Giao nhận, vận tải đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội và đâycũng là lĩnh vực có hoạt động Logistics phát triển mạnh mẽ Ngày nay nhiềucông ty vận tải giao nhận và khai thác cảng đã đổi tên gọi là Công ty kinh doanhLogistics Ví dụ: Hiệp hội giao nhận Singapore từ năm 2000 đã đổi thành hiệphội Logistics Singapore (SLA) Các hãng vận tải NYK Logistics, MOLLogistics, Maersk Logistics, APL Logistics và các cảng Bus Logistics (Châu âu),cảng ICS Logistics (Hoa Kỳ), Cảng Thượng Hải Logistics, cảng Klang Logistics(Châu Á)… cũng đã hình thành và phát triển nhanh chóng

Sự phát triển của Logistics trong giao nhận vận tải bắt nguồn từ sự thay đổitrong sản xuất Nhiều thập kỷ qua, cơ cấu công nghiệp và thương mại thế giớitrải qua những biến đổi sâu sắc, nói chung người bán hàng hoá không nhất thiết

là người sản xuất và người mua cũng không nhất thiết phải là người tiêu dùng

Trang 6

lý chặt chẽ đặt ra những yêu cầu mới đối với vận tải Đồng thời để tránh đọngvốn, các nhà sản xuất luôn tìm cách duy trì một lượng hàng trong kho nhỏ nhất.Kết quả là hoạt động vận tải nói riêng và lưu thông phân phối nói chung, một mặtphải đảm bảo yêu cầu đúng lúc (Just in Time), mặt khác tăng cường vận chuyểnnhững chuyến hàng nhỏ thực hiện mục tiêu không để hàng tồn kho (zero-stock).Một hợp đồng như vậy có thể do một người kinh doanh vận tải đa phương thứcđảm nhiệm, nhưng người mua đó vẫn cần một người lên kế hoạch cung ứng muahàng hoá và giám sát mọi di chuyển hàng hoá để đảm bảo đúng loại hàng đếnđúng địa điểm, đúng thời gian Hay nói cách khác, một người tổ chức dịch vụLogistics, người sẽ giúp tiết kiệm chí phí, thời gian, từ đó nâng cao hiệu qủa sảnxuất kinh doanh.

Dịch vụ Logistics chính là sự phát triển khéo léo của dịch vụ vận tải đaphương thức Toàn bộ hoạt động vận tải có thể được thực hiện theo một hợpđồng vận tải đa phương thức và sự phối hợp mọi chu chuyển của hàng hoá dongười tổ chức dịch vụ Logistics đảm nhiệm Điểm tương đồng là ở chỗ, trên cơ

sở nhiều hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán, người tổ chức dịch vụLogistics sẽ nhận hàng tại cơ sở của từng người bán và gom hàng lẻ thành nhiềuđơn vị gửi hàng (consolidation) tại các nhà kho hay nơi xếp dỡ hàng hóa trướckhi chúng được gửi tới nơi đến trên những phương tiện vận tải khác nhau Tạinơi đến người tổ chức dịch vụ Logistics (Logistics Service Provider) thu xếp đểtách các đơn vị gửi hàng đó (các lô hàng lớn) và xếp hàng hoá thành các lô hàngthích hợp (deconsolidation) để phân phối đến những địa chỉ cuối cùng Người tổchức dịch vụ logistics không chỉ giao nhận mà còn làm các công việc như: lưukho, dán nhãn hiệu, đóng gói bao bì, thuê phương tiện vận tải, làm thủ tục hảiquan và có thể mua hộ cả bảo hiểm cho chủ hàng

Trang 7

Như vậy trong lĩnh vực giao nhận vận tải Logistics không phải là một dịch

vụ đơn lẻ mà luôn luôn là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hoá, như: làmcác thủ tục, giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưubãi, phân phát hàng hoá đi các địa điểm khác nhau, chuẩn bị cho hàng hóa luônluôn sẵn sàng ở trạng thái nếu có yêu cầu của khách hàng là đi ngay được(Inventory level) Chính vì vậy khi nói tới Logistics bao giờ người ta cũng nói tớimột chuỗi hệ thống các dịch vụ (Logistics System Chain)

1.3 Vai trò của Logistics

Từ những điều trình bày ở trên cho thấy Logistics là một chức năng kinh tế

có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn xã hội Trong thời đại ngày nay người ta luônmong muốn những dịch vụ hoàn hảo và điều đó sẽ đạt được khi phát triểnLogistics

Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau,tác động qua lại lẫn nhau Nếu xem xét ở góc độ tổng thể ta thấy Logistics là mốiliên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phânphối hàng hoá Mỗi hoạt động trong chuỗi đều có một vị trí và chiếm một khoảnchi phí nhất định

Đối với các doanh nghiệp Logistics có vai trò rất to lớn Logistics giúp giảiquyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả Nhờ có thểthay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyểnnguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ,… Logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năngcạnh tranh cho doanh nghiệp Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ cóđược chiến lược hoạt động đúng đắn

1.4 Nội dung môn học Quản trị Logistics

Chương 1: Những lý luận cơ bản về Logistics

Chương 2: Tổng quan về quản trị Logistics

Chương 3: Dịch vụ khách hàng

Chương 4: Hệ thống thông tin

Trang 8

Chương 6: Quản trị vật tư

Chương 7: Xác định nhu cầu vật tư và dự báo nhu cầu

Chương 8: Vận tải

Chương 9: Kho bãi

- Tài liệu tham khảo chính: Quản trị Logistics – PGS – TS Đoàn Thị

Trang 9

NHẬP WTO2.1 Phân tích thị trường Logistics ở Việt Nam

Như trên đã đề cập, ngành Logistics là một ngành non trẻ không những ởViệt Nam mà cả trên thế giới, tuy nhiên vì đặc điểm của hoạt động Logisticsmang tính toàn cầu, chính vì vậy các công ty hàng đầu về Logistics trên thế giớicũng đã có mặt tại Việt Nam như Panalpina, TNT, DHL, Wilson,… Các hãngtàu lớn nước ngoài cũng đã lập bộ phận Logistics riêng của mình tại thành phố,như: NYK Logistics, Maersk Logistics, APL Logistics,… điều này đã thúc đẩyhoạt động Logistics tại Việt Nam phát triển mạnh Chỉ một vài năm trước đây, từLogistics còn khá xa lạ ở Việt Nam, các công ty có tên là Logistics chỉ đếm trênđầu ngón tay, nhưng hiện nay xu hướng chuyển sang hoạt động Logistics đangrất rầm rộ trong các công ty giao nhận Việt Nam Nhiều công ty giao nhận đã đổitên thành Logistics, tuy rằng hoạt động của các công ty này vẫn là các hoạt độnggiao nhận truyền thống Điều này có thể khẳng định hoạt động Logistics làhướng phát triển của các công ty giao nhận trong tương lai ở Việt Nam, hứa hẹnmột thị trường Logistics phát triển mạnh

Các công ty đa quốc gia cũng như một số công ty Việt Nam đang có xuhướng giảm dần tự làm dịch vụ vận chuyển xuất nhập khẩu thay vào đó là thuênhà cung cấp dịch vụ ngoài công ty Những công ty lớn có khả năng thì thiết kếhoạt động Logistics cho riêng mình Còn đa số các công ty liên kết chặt với mộtcông ty cung cấp dịch vụ Logistics trên thị trường hướng tới việc hoàn thiện hoạtđộng phân phối sản phẩm cũng như cung cấp nguyên vật liệu trong sản xuấtnhằm giảm chi phí Khách hàng của các công ty cung cấp Logistics có thể là cáccông ty bán lẻ (nhất là trong thương mại điện tử, mà Việt Nam cũng sẽ phải pháttriển hoạt động này trong tương lai), các công ty điện tử, công nghệ cao, máytính, viễn thông cũng như các công ty sản xuất gia công hàng xuất khẩu… Dự

Trang 10

2.2 Thực trạng dịch vụ cung ứng của các Công ty giao nhận ở Việt Nam

Các dịch vụ cung ứng của các Công ty giao nhận ở Việt Nam gồm:

+ Dịch vụ vận tải ngoại thương đường biển, đường hàng không, đườngbộ… trong đó 100% các công ty có nhận vận tải đường biển;

+ Dịch vụ khai quan hàng hoá tại cảng đi và cảng đến;

+ Dịch vụ vận chuyển hàng hoá từ cửa đến cửa (xuất ex-work và giaodoor);

+ Dịch vụ gom hàng và vận chuyển hàng lẻ (consolidation);

+ Dịch vụ đóng gói hàng hóa, kiểm đếm hàng hóa;

Trang 11

2.4 Thực trạng hệ thống thông tin phục vụ cho dịch vụ Logistics ở Việt Nam

Công nghệ thông tin là một trong những công cụ quan trọng nhất hỗ trợhoạt động Logistics Tuy nhiên việc sử dụng công nghệ thông tin trong các công

ty giao nhận Việt Nam còn rất yếu cho dù máy tính được sử dụng khá rộng rãitrong các công ty này Theo số liệu điều tra thì 100% các công ty giao nhận ViệtNam có máy tính trong đó 29,03% là 1 máy/1 nhân viên và 64,52% là 1 máy/2nhân viên Đây là điều kiện rất thuận lợi để xây dựng hệ thống EDI một cách hữuhiệu

Ngoài việc sử dụng máy tính nối mạng để nhận và gửi email, còn lại phầnlớn nhân viên các công ty sử dụng máy tính như máy đánh chữ, thậm chí cả việclưu trữ, sắp xếp dữ liệu hợp lý vẫn còn ít nhân viên làm được do trình độ tin họctrong các nhân viên còn khá yếu Chỉ có một số ít công ty có những phần mềmriêng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh, chưa nói là những phần mềm đặcbiệt được thiết kế riêng cho hoạt động Logistics Việc đầu tư để thiết kế phầnmềm cho riêng mình hầu như ít công ty chú trọng Thêm vào đó cũng rất khó đểthiết kế được một chương trình hoàn hảo, thường các chương trình phần mềmthiết kế hoạt động kém hiệu quả Thứ nhất là do các kỹ sư phần mềm ít am hiểu

về vận tải, ngược lại các chuyên gia trong vận tải và Logistics thì lại không biếtviết phần mềm Thứ hai là do công nghệ phần mềm của Việt Nam còn yếu, cáccông ty lại không dám bỏ một khoản tiền lớn để thuê các công ty phần mềm

Trang 12

Đa số các công ty có trang web riêng, chiếm 61,29% trong tổng số công tygiao nhận Việt Nam Nhưng trang web được thiết kế rất sơ sài, chủ yếu cung cấpthông tin về công ty là chính Các công ty cũng không cử người chăm sóc và cậpnhật thường xuyên, thậm chí ngay cả giám đốc công ty cũng ít khi nào truy cậpvào trang web của mình Còn nhân viên nhiều khi đi làm cả năm cũng không biếtcông ty mình có trang web hay không, và nhiều người cũng không biết mặt trangweb của công ty mình như thế nào Việc phát triển hệ thống trao đổi thông tintrên mạng đã và đang được nhiều công ty Logistics nước ngoài chú trọng pháttriển và việc ứng dụng đem lại rất nhiều thuận lợi cho hoạt động Logistics nhưviệc booking qua mạng, theo dõi lô hàng trong quá trình vận chuyển… Thiếtnghĩ đây cũng là khả năng trong tầm tay của các công ty giao nhận Việt Nam sovới việc thiết kế những mạng EDI riêng biệt.

2.5 Những nhân tố tác động đến phát triển Logistics ở Việt Nam

2.5.1 Những nhân tố khách quan

- Logistics còn là một ngành khá trẻ trên thế giới và khá mới ở Việt nam.Cho dù thuật ngữ Logistics đã xuất hiện từ lâu, nhưng hoạt động Logistics chỉphát triển trong khoảng vài thập niên gần đây

Ở Việt nam Logistics vẫn còn khá mới mẻ, phần lớn các hoạt độngLogistics được thực hiện ở các công ty giao nhận và hầu hết những công ty cungcấp dịch vụ Logistics là các công ty nước ngoài Do yếu tố còn quá mới, nênchính những người hoạt động và thậm chí quản lý trong ngành vận tải giao nhậncũng còn chưa hiểu tường tận về hoạt động này Trong khi các nước trên thế giới

đã đưa Logistics vào chương trình đào tạo ở các trường đại học và có riêng cảnhững chuyên ngành về Logistics thì tại Việt Nam, ngay cả những trường đào tạochuyên ngành về vận tải ngoại thương cũng chưa có môn học Logistics trong

Trang 13

Mặt khác ngay cả hoạt động giao nhận ngoại thương tại Việt nam vẫn còn

là một ngành non trẻ Nếu các công ty trên thế giới đã có hàng trăm năm pháttriển hoạt động này thì ở Việt Nam, hoạt động giao nhận ngoại thương chỉ mớiphát triển sau thời kỳ mở cửa, nghĩa là chỉ trong vòng một vài thập niên trở lại.Chính điều này là một cản ngại rất lớn trong quá trình hội nhập quốc tế về hoạtđộng Logistics bởi cơ sở nền tảng để phát triển hoạt động Logistics của chúng tachưa được hình thành đầy đủ

- Do thói quen và tập quán thương mại của Việt Nam đã cản trở đến pháttriển Logistics Các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa nắm bắt các tập quán, luật

lệ buôn bán quốc tế Hơn thế nữa, bước ra thị trường thế giới muộn, khi thịtrường thế giới đã ấn định rõ nét người mua và người bán, làm cho các doanhnghiệp trong nước khó có thế mạnh, có sức cạnh tranh lớn để dành các điều kiệnthương mại có lợi cho mình Vì vậy, thông thường đa số các doanh nghiệp ViệtNam chủ yếu lựa chọn điều kiện thương mại để thực hiện các phương thức kinhdoanh bán tại cảng, mua tại cảng (của nước mình) Các doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu trong nước chưa sử dụng có hiệu quả và vận dụng đúng các điều kiệnthương mại quốc tế (Incoterms) Xuất “FOB”, nhập “CIF” gần như là hiện tượngphổ biến Với các điều kiện thương mại này, việc xuất khẩu những sản phẩm vôhình của ngành dịch vụ vận tải bị hạn chế Đây cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫnđến cản trở phát triển Logistics

- Về vị trí địa lý: Nước ta có bờ biển dài, có biên giới với Trung Quốc, Lào,Campuchia; với hệ thống sông ngòi chằng chịt và hệ thống đường bộ dọc theo đấtnước rất thuận lợi cho việc kết hợp nhiều phương thức vận tải, vận tải quá cảnh.Trong đó vận tải đa phương thức là một phương thức vận tải rất quan trọng đểthiết lập nên chuỗi cung ứng dịch vụ logistics

Ngày đăng: 19/12/2015, 18:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w