1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp đẩy mạnh hệ thống phân phối cho ngành xi măng Việt Nam

32 326 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 344,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và với vai trò là một người làm marketing, thì chúng ta cần phải biết khi nào thì tranh thủ thị trường lớn và khi nào thì tranh thủ những lỗ hỏng trên thị trường, khi nào cần tung ra nhữ

Trang 1

K IL

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 5

TỔNG QUAN VỀ MÔN HỌC QUẢN TRỊ MARKETING 5

1.1 Những khái niệm cơ bản về Marketing 5

1.2 Quản trị Marketing 5

1.2.1 Định nghĩa 5

1.2.2 Các triết lý quản trị marketing 6

1.2.3 Tiến trình quản trị marketing 6

1.2.4 Marketing - mix 7

1.2.4.1 Khái niệm 7

1.2.4.2 Các yếu tố tạo thành phần của marketing - mix 8

1.2.4.3 Triển khai marketing - mix 9

CHƯƠNG 2 11

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HỆ THỐNG PHÂN PHỐI NGÀNH XI MĂNG VIỆT NAM 11

2.1 Tổng quan về ngành công nghiệp xi măng Việt Nam 11

2.1.1 Vị trí ngành công nghiệp xi măng trong nền kinh tế Việt Nam 11

2.1.2 Thực trạng hoạt động của ngành công nghiệp xi măng Việt Nam 12

2.2 Một số giải pháp cho ngành xi măng Việt Nam 19

2.2.1 Thuận lợi 19

2.2.2 Khó khăn 20

2.2.3 Giải pháp 22

2.2.4 Giải pháp đẩy mạnh hệ thống phân phối 23

2.3 Kiến nghị 26

CHƯƠNG 3 29

NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC 29

3.1 Nhận xét môn học 29

3.2 Đánh giá môn học 29

KẾT LUẬN 32

Trang 2

Trên thương trường cạnh tranh quyết liệt ngày nay, vấn đế hàng đầu trong

kinh doanh của các công ty là duy trì lòng trung thành của khách hàng bằng cáchluôn luôn thỏa mãn một cách tốt nhất những nhu cầu của họ Và với vai trò là một

người làm marketing, thì chúng ta cần phải biết khi nào thì tranh thủ thị trường lớn

và khi nào thì tranh thủ những lỗ hỏng trên thị trường, khi nào cần tung ra nhữngnhãn hiệu mới và khi nào cần mở rộng những tên nhãn hiệu hiện có, khi nào thì đẩy

và khi nào thì kéo các sản phẩm của mình qua hệ thống phân phối, khi nào thì bảo

vệ thị trường nội địa và khi nào thì tích cực xâm nhập vào các thị trường nướcngoài, khi nào thì tăng lên lợi ích trong các bản chào hàng và khi nào thì giảm giá,khi nào thì tăng, và khi nào thì giảm bớt ngân sách của mình giành cho lực lượngbán hàng, quảng cáo và các công cụ marketing khác,….và vô vàng những câu hỏi,vấn đề đặt ra cho các nhà quản trị marketing Môn học quản trị marketing sẽ giúpcác nhà làm marketing giải quyết tốt những công việc trên Và môn học quản trị

marketing đã được đưa vào giảng dạy cho sinh viên thuộc khối ngành kinh tế trongcác trường đại học, điều này thật sự cần thiết bởi vì ngoài những hiểu biết cơ bản ởcác môn marketing căn bản, nghiên cứu marketing,… môn học này giúp sinh viên

hiểu sâu hơn về marketing để từ đó có thể vận dụng có hiệu quả vào thực tiễn

Đề tài

Ngành công nghiệp xi măng Việt Nam đã trải qua lịch sử trên 100 năm hìnhthành và phát triển, cùng với những biến cố thăng trầm của đất nước, đến nay nhữngngười làm xi măng có thể tự hào về sự phát triển vượt bậc về mọi mặt Với tốc độphát triển kinh tế tương đối nhanh và ổn định, cầu xi măng cũng sẽ tăng nhanh bởi

vì nó góp phần đáp ứng được nhu cầu của con người: xây dựng nhà ở, công trình,

đường xá, cầu cảng,…và góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước Có thể nói

Trang 3

ngành xi măng Việt Nam đã thực sự đóng vai trò đầu tàu trong nền kinh tế, với tỷ

trọng đóng góp một phần không nhỏ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trungbình từ 10% - 12% GDP Chính phủ cũng đã xác định xi măng là ngành phát triểnchiến lược nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế Là ngành công nghiệp trọng điểm, trong

sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngành công nghiệp xi măng Việt Nam đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn Bên cạnh đó cũng đối diện với muôn vàng thách thức trướcyêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Xuất phát từ những nguyên nhân trên, em đã lựa chọn nghiên cứu chuyên đềmôn học Quản trị marketing để từ đó ứng dụng vào thực tiễn đưa ra “Một số giảipháp marketing nhằm đẩy mạnh hệ thống phân phối cho ngành xi măng Việt Nam”nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu sau:

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu những lý luận cơ bản về môn học Quản trị marketing, tính cấpthiết của môn học, những nhận xét đánh giá về môn học và ứng dụng vào thực tiễn

Nghiên cứu về thực trạng ngành xi măng Việt Nam, chỉ ra những ưu nhược

điểm…

Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để đề xuất một số giải pháp nhằm đẩymạnh hệ thống phân phối cho ngành xi măng nước ta từ đó nâng cao khả năng cạnhtranh của chúng đối với các sản phẩm nước ngoài tràn ngập vào Việt Nam cũng nhưkhả năng cạnh tranh của chúng trên thương trường quốc tế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng

Tập trung nghiên cứu môn học Quản trị marketing và nghiên cứu về thựctrạng ngành công nghiệp xi măng Việt Nam, phân tích, đánh giá và từ đó đưa ranhững giải pháp phát triển hệ thống phân phối xi măng hoàn thiện hơn

Phạm vi

- Nghiên cứu tổng quan thực trạng ngành công nghiệp xi măng Việt

Nam…

Trang 4

- Nghiên cứu hệ thống kênh phân phối xi măng…

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp tổng hợp thống kê và so sánh, đối chiếu, khái quáthoá, tổng hợp và đánh giá trên cơ sở sử dụng số liệu thống kê và tư liệu của ngànhxây dựng

5 Kết cấu

Chuyên đề môn học: “Quản trị marketing”

Tên đề tài: “Một số giải pháp đẩy mạnh hệ thống phân phối của ngành ximăng Việt Nam”

Ngoài phần Mở Đầu và Kết Luận, chuyên đề gồm có 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về môn học Quản trị marketing

Chương 2: Một số giải pháp đẩy mạnh hệ thống phân phối cho ngành ximăng Việt Nam

Chương 3: Nhận xét, đánh giá môn học

Tuy nhiên, để thực hiện chuyên đề này: do sự hạn chế về nhiều mặt nên bài

làm không sao tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự đóng góp ý kiến của thầy

cô giáo để nâng cao hơn nữa chất lượng của đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

TỔNG QUAN VỀ MÔN HỌC QUẢN TRỊ MARKETING

1.1 Những khái niệm cơ bản về Marketing

Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ vào đó mà các cánhân, tổ chức, các nhóm người khác nhau có thể nhận được cái họ cần và mongmuốn thông qua việc tạo ra, cung cấp và trao đổi các sản phẩm có giá trị với những

người khác

Các định nghĩa: có nhiều ý kiến, định nghĩa khác nhau và có thể hiểu

theo nhiều cách khác nhau:

Định nghĩa thứ nhất: Marketing là một học thuyết cho rằng mọi hoạt động

của công ty đều hướng về người tiêu dùng để đảm bảo rằng công ty thoả mãn nhucầu và ước muốn của họ có hiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh

Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: Marketing là một quá trình hoạch định và

và quản lý thực hiện việc định giá, chiêu thị và phân phối các ý tưởng, hàng hoá,dịch vụ nhằm mục đích tạo ra những giao dịch để thoả mãn những mục tiêu cá nhân,của tổ chức, của xã hội

Tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào đi nữa thì Marketing vẫn là một hoạt độnggiữ vai trò quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, tổchức

1.2 Quản trị Marketing

1.2.1 Định nghĩa

Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (1987): Quản trị marketing là quá trình hoạch

định và quản lý khái niệm, định giá, chiêu thị và phân phối sản phẩm để tạo nên cáctrao đổi với các nhóm mục tiêu để làm thoả mãn khách hàng và đạt được mục đích

của tổ chức

Theo định nghĩa này thì có thể hiểu quản trị marketing là quá trình quá trình

Trang 6

tập trung nguồn lực của công ty vào các mục tiêu dựa trên những cơ hội của thị

trường, phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra hoạt động marketing Nó liênquan đến sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng, dựa trên ý niệm về sự trao đổi,… mục đích

là tạo ra sự thoả mãn cho các bên tham gia

1.2.2 Các triết lý quản trị marketing

Có thể nói quản trị marketing là nỗ lực có ý thức để đạt được kết quả traođổi mong muốn với thị trường mục tiêu Nỗ lực này được chỉ đạo bởi các triết lýquản trị marketing Có 5 triết lý cơ bản:

• Triết lý sản xuất

• Triết lý sản phẩm

• Triết lý bán hàng

• Triết lý marketing

• Triết lý marketing xã hội

Việc lựa chọn một triết lý marketing nào đó trong thực hành quản trịmarketing tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố: vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc

điểm sản phẩm và dịch vụ, nhu cầu thị trường mục tiêu, khả năng đội ngũ marketingcủa doanh nghiệp,… Điều quan trọng là việc thực hiện triết lý marketing đó phảiđem lại sự thoả mãn cao nhất cho khách hàng, góp phần đạt được các mục tiêu của

doanh nghiệp và không làm thiệt hại đến lợi ích của xã hội

1.2.3 Tiến trình quản trị marketing

Nhận thức được vai trò của hoạt động quản trị marketing, có rất nhiều quan

điểm khác nhau về tiến trình của quản trị marketing

Theo J.Mc Cathy, quản trị marketing có 3 nội dung chủ yếu:

- Hoạch định chiến lược marketing

- Thực hiện chiến lược marketing

- Kiểm tra chiến lược và các hoạt động marketing

Theo Philip Kotler, tiến trình quản trị bao gồm các bước trong sơ đồsau:

Trang 7

Theo Philip Kotler: Marketing - mix là tập hợp những công cụ marketing

mà công ty sử dụng để theo đuổi những mục tiêu marketing của mình trên thị trườngmục tiêu

Nói cách khác, marketing - mix là tập hợp các phương tiện (công cụ)

marketing có thể kiểm soát được mà doanh nghiệp phối hợp sử dụng để tạo nên sự

đáp ứng cần thiết trong thị trường mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu marketing củamình

Phân tích các cơ hội thị trường

Lựa chọn thị trường mục tiêu

Hoạch định chiến lược marketing

Thực hiện chiến lược marketing

Kiểm tra hoạt động marketing

Trang 8

1.2.4.2 Các yếu tố tạo thành phần của marketing - mix

Có nhiều công cụ khác nhau được sử dụng trong marketing - mix, theo J.Mc

Cathy thì marketing - mix gồm 4 yếu tố: 4P

Sản phẩm (product)Giá cả (price)

Phân phối (place)Chiêu thị (promotion)

Là một yếu tố cực kỳ quan trọng của marketing - mix Giá cả là số tiền mà

khách hàng phải bỏ ra để có được sản phẩm Nó phải tương xứng với giá trị được

cảm nhận ở sản phẩm Nếu không người mua sẽ tìm mua ở các nhà sản xuất khác.Giá cả bao gồm: giá quy định, giá chiết khấu, giá bù lỗ, giá theo thời hạn thanh toán,giá kèm theo điều kiện tín dụng,…

Chiêu thị

Là những hoạt động thông đạt những giá trị của sản phẩm và thuyết phụcđược khách hàng mục tiêu của sản phẩm ấy Chiêu thị bao gồm các hoạt động quảngcáo, khuyến mãi, marketing trực tiếp và quan hệ công chúng

Trang 9

một lợi ích cho khách hàng Robert Lauterborn cho rằng 4P tương ứng với 4C:

- Customer needs and wants (nhu cầu và mong muốn của khách hàng)

- Cost to the customer (chi phí đối với khách hàng)

- Convenience (sự thuận tiện)

- Communication (thông tin)

1.2.4.3 Triển khai marketing - mix

Các doanh nghiệp thực hiện marketing - mix bằng cách phối hợp 4P ( sản

phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) để tác động làm thay đổi sức cầu thị trường về

sản phẩm của mình theo hướng có lợi cho kinh doanh

Việc thiết kế marketing - mix có liên quan đến hai quyết định thuộc về ngân

sách Một là doanh nghiệp phải quyết định tổng số chi tiêu dành cho các nỗ lực

marketing (quyết định về chi phí marketing) Hai là, doanh nghiệp phải xác địnhmức chi tổng ngân sách cho các phương tiện thuộc marketing - mix (quyết định vềchi phí marketing - mix) Các công ty thường xây dựng ngân sách marketing của

mình theo một tỷ lệ phần trăm thông thường của chỉ tiêu doanh số bán Một công ty

có thể chi nhiều hơn bình thường khi họ có hy vọng dành thị phần lớn hơn

Thứ tự và cấu trúc của marketing - mix được triển khai tuỳ thuộc vào

phương án chiến lược marketing đã được xác định

Marketing - mix có thể được triển khai thống nhất hoặc khác biệt theo từng

đoạn thị trường mục tiêu đã lựa chọn Bởi vì không phải tất cả các biến của

marketing - mix đều có thể điều chỉnh được sau một thời gian ngắn Thông thườngcông ty có thể thay đổi giá, quy mô lực lượng bán hàng và chi phí quảng cáo saumột thời gian ngắn Thế nhưng công ty chỉ có thể phát triển sản phẩm mới và thaythế các kênh phân phối của mình sau một thời gian dài Do đó, công ty thường ít

thay đổi marketing - mix của từng thời kỳ trong một thời gian ngắn mà chỉ thay đổi

Trang 10

một số biến của marketing - mix.

Ngoài ra, những quyết định về marketing chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của

quyết định định vị thị trường của doanh nghiệp

Cấu trúc của marketing - mix, sự hỗ trợ và liên kết của các thành phần trongmarketing - mix phải thể hiện rõ để tránh gây khó khăn trong quá trình thực hiện.Chẳng hạn, một chiến dịch quảng cáo mạnh mẽ phải được sự hỗ trợ của việc phânphối rộng rãi nếu không khách hàng khó có thể đáp ứng lại chương trình quảng cáo

đó

Có thể thiết kế các nội dung của từng biến số trong marketing - mix bằngcác chính sách hoặc các chương trình Nhưng thông thường marketing - mix được

triển khai bằng các chính sách

Sau đây là mô hình thể hiện quá trình triển khai marketing - mix của doanh

nghiệp thông qua sự phối hợp 4P:

Doanh

nghiệp

Sản phẩm Dịch vu Giá cả

Kênh phân phối

Khách hàng mục tiêu Quan hệ công chúng

Khuyến mãi Quảng cáo

Lực lượng bán hàng

Marketing trực tiếp

Trang 11

2.1 Tổng quan về ngành công nghiệp xi măng Việt Nam

2.1.1 Vị trí ngành công nghiệp xi măng trong nền kinh tế Việt Nam

Xi măng là một trong những ngành công nghiệp được hình thành sớm nhất

ở nước ta (cùng với các ngành than, dệt, đường sắt,…)

Ngày 25/12/1889 khởi công xây dựng nhà máy xi măng đầu tiên của ngành

Xi măng Việt Nam tại Hải Phòng

Đến nay đã có khoảng 90 Công ty, đơn vị tham gia trực tiếp sản xuất và

phục vụ sản xuất xi măng trong cả nước, trong đó: khoảng 33 thành viên thuộc tổng

công ty xi măng Việt Nam, 5 công ty liên doanh, hơn 50 công ty nhỏ và các trạm

nghiền khác

Tuy nhiên sản lượng xi măng sản xuất trong những năm qua không đáp ứng

được nhu cầu tiêu thụ trong nước:

(Nguồn VLXD Đơn vị: triệu tấn)

Bảng 2.1 Sản lượng sản xuất xi măng

Đến năm 2008 và 2009 thì hầu như đã phần nào đáp ứng được nhu cầu tiêu

thụ với sản lượng năm 2008 là: 40 triệu tấn; năm 2009 là 60 triệu tấn Dự kiến trongnhững năm sắp tới thị trường xi măng Việt Nam sẽ mở rộng ra thế giới khi đạt năngsuất cao đáp ứng được thị trường trong nước

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

SL 12.7 14.64 16.8 18.4 20 21.7 23.6 26.9

TT 13.62 16.48 20.5 24.38 26.5 28.2 32.1 35.8

Trang 12

2.1.2 Thực trạng hoạt động của ngành công nghiệp xi măng Việt Nam

Thực trạng thì công nghiệp (CN) xi măng đang ở giai đoạn phát triển tốt.Thành quả tốt nhất của nó là đáp ứng đủ nhu cầu xi măng cho sự phát triển kinh tế

Về công nghệ: Hiện đang tồn tại 3 quy mô Lò quay với công nghệ tiên

tiến, hiện đại nhưng chỉ ở mức trung bình so với khu vực và thế giới, bình quân từ1,2 - 2 triệu tấn/năm Trong khi đó: Trung Quốc hiện đã có lò quay với công suấttrên 4 triệu tấn/ năm Lò quay mức trung bình (ở Việt Nam) hiện có khoảng 5 - 6dây chuyền đã và đang đầu tư, với công suất khoảng 900.000 - 1 triệu tấn/năm/dâychuyền Các thiết bị, dây chuyền này chủ yếu được nhập từ Trung Quốc với côngnghệ chỉ mức trung bình (so với Việt Nam) Công nghệ cuối cùng là lò đứng với sựlạc hậu, hiện có khoảng 50 đơn vị, hiện đang tập trung chuyển đổi sang công nghệ lòquay

Đến năm 2010 sẽ có hoàn toàn 40 nhà máy xi măng lò quay (công suất 1-2

triệu tấn / năm) đi vào hoạt động (trừ dọc trục lò nhà máy xi măng và nghiền xi

măng quy mô nhỏ các trạm) Đặc biệt tại một số tỉnh như Hà Nam, Ninh Bình,

Thanh Hóa, Hải Dương, Quảng Ninh, sẽ có cụm các nhà máy xi măng Đối vớinhững người vận tải địa phương, truyền thông, môi trường ô nhiễm là vấn đề cần

được điều trị ngay từ bây giờ

Trong những năm gần đây, một số nhà máy sản xuất xi măng lớn tập trungnhiều vào thị trường trong nước do thị trường này đang tăng trưởng mạnh mẽ.Ngành công nghiệp xi măng Việt Nam hiện nay đã có khoảng 14 nhà máy xi măng

lò quay với tổng công suất thiết kế là 21,5 triệu tấn/năm, 55 cơ sở xi măng lò đứng,

lò quay chuyển đổi tổng công suất thiết kế 6 triệu tấn/năm, khoảng 18 triệu tấn xi

măng được sản xuất từ nguồn clinker trong nước (ứng với 14,41 triệu tấn clinker)

Hầu hết các nhà máy sản xuất xi măng sử dụng phương pháp kỹ thuật khô, ngoại trừnhững nhà máy có lò trộn xi măng đứng với thiết bị và kỹ thuật lạc hậu, thì nhữngnhà máy còn lại có năng suất trộn xi măng từ 1,4 triệu đến 2,3 triệu tấn mỗi năm vớithiết bị và trình độ kỹ thuật tương đương với những nhà máy khác ở Đông Nam Á

Trang 13

Việc bổ sung các dự án một phần cũng là chuyện bình thường nhằm đáp

ứng đủ nhu cầu và các dự án mới, không nằm trong quy hoạch được làm rất nhanh,

trong khi các dự án nằm trong quy hoạch thì tiến hành quá chậm Cụ thể như nhàmáy xi măng Hải Phòng làm 6 năm không xong và Việt Nam hiện vẫn đang phảinhập clinker mỗi năm vài ba triệu tấn

Về chất lượng: Xi măng Việt Nam cũng chỉ ở mức trung bình, sản phẩm xi

măng chưa đa dạng, chỉ 1 - 2 loại so với hàng chục loại của các nước trong khu vực

Vấn đề môi trường: Các nhà máy xi măng lò quay đáp ứng được tiêu

chuẩn Việt Nam nhưng cũng chỉ ở mức trung bình (50 mg bụi/1 m3 tiêu chuẩn khíthải, trong khi thế giới là 30 mg bụi/1 m3 tiêu chuẩn khí thải), còn xi măng lò đứngthì không thể đáp ứng được các tiêu chuẩn về môi trường Riêng giá cả của xi măngViệt Nam ở mức độ trung bình thấp so với khu vực, khoảng 50USD/tấn ở miền Bắc

và 60 USD tấn ở miền Nam, so sánh với 60 - 65 USD/tấn của một số nước trong khuvực

Về phân bố: Việt Nam đang có khoảng 31 dự án xi măng lò quay với tổng

công suất thiết kế là 39 triệu tấn được phân bổ ở nhiều vùng trên cả nước (Đa sốtập trung ở miền Bắc, miền Trung và chỉ có 4/31nằm ở miền Nam)

Hiện nay các nhà máy xi măng phân bố không đều giữa các khu vực Hầuhết các nhà máy tập trung nhiều tại miền Bắc nơi có vùng nguyên liệu đầu vào lớn,

trong khi đó các nhà máy lớn phía Nam rất hạn chế Do đó nguồn cung xi măng ở

phía Bắc thì dư thừa trong khi miền Nam lại thiếu hụt

Một nhân tố ảnh hưởng khác đó là nước ta có vị trí địa lý sát với quốc giasản xuất xi măng lớn nhất thế giới Trung Quốc, do đó phải cụ thể hóa thị trườngxuất khẩu khi nhu cầu trong nước đã tạm thời ổn định

Như vậy, thực trạng đáng lo ngại nhất của ngành công nghiệp xi măng hiện

nay là tính cạnh tranh trong khu vực và thế giới không cao, nói đúng ra là còn yếu

Nguyên nhân

Cái chính là do giá thành sản xuất cao, trong khi giá bán thấp Thực tế,

Trang 14

ngành xi măng có lãi, nhưng đó là so sánh với một số ngành nghề, lĩnh vực khác của

Việt Nam, còn đối với khu vực thì lợi nhuận của ngành xi măng thuộc dạng thấp

Đối với những nhà máy xây dựng từ 10 năm trước thì không đáng ngại lắm do đã có

ưu đãi từ trước và đã khấu hao gần hết, nhưng thực tế vẫn khó tích luỹ được vốn đểtái đầu tư Đối với những nhà máy mới bắt đầu xây dựng, đi vào hoạt động (khoảng

từ năm 2000 đến nay, chủ yếu sử dụng vốn vay theo lãi suất thương mại) thì sẽ rất

khó khăn Nếu tính trung bình giá bán 60 USD/tấn thì những nhà máy này phải 10năm sau mới thu hồi được vốn

Tình hình tiêu thụ: Thống kê của Bộ Xây dựng cuối 4 tháng đối với tiêu

thụ xi măng trong quy ước đạt 4.490.000 tấn, tăng 0.230.000 so với 3 tháng và tăng11,2% so với cùng kỳ năm 2008 Với đà tăng trưởng, xi măng tiêu thụ dự báo sẽ tiếptục tăng mạnh trong cả hai lĩnh vực

Tuy nhiên, sức mua tăng không có nghĩa là giá cả sẽ "leo thang" bởi vì việccung cấp xi măng hiện tại đang khá dồi dào Hàng tồn kho xi măng đến cuối tháng

4 vẫn là 0.360.000 tấn, clinker là 1.090.000 tấn

Giá xi măng ở phía Bắc đã tăng nhẹ, lên khoảng 50.000 đồng / tấn nhưng

Bộ Công nghiệp và Thương mại, không làm tăng giá tiêu dùng, vì đầu vào tăng Cụthể: việc tăng giá có ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của nhà máy thuộc Tổng Công

ty Xi măng Việt Nam tại các tỉnh phía Bắc Giá bán lẻ xi măng tại phía bắc phổ biến

900.000 đến 1.200.000 đồng / tấn Trong khi ở phía Nam, giá cả vẫn ổn định ở1.200.000 đến 1.400.000 đồng / tấn

Hiện nay xi măng chiếm 40% thị trường miền nam đất nước và trong năm

2009 là khoảng 17,8 - 18.000.000 tấn, trong khi tổng công suất của nhà máy sảnxuất thực tế trang web chỉ có khoảng 5,5 triệu tấn Thâm hụt như vậy sẽ được 12 -12,5 triệu tấn xi măng

Năm 2009 được xem là năm đầu tiên mà ngành xi măng trong nước sản xuất

đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ Tổng công suất thiết kế của các nhà máy theo báocáo đến thời điểm này vào khoảng gần 60 triệu tấn, và khả năng sản xuất thực tế

Trang 15

2 Tăng trưởng TT xi măng %/năm 11.0 11.0 11.0 11.0

3 Năng lực sản xuất trong nước Triệu tấn 26.9 34.2 44.8 51.8

4 Thừa (+); Thiếu (-) Triệu tấn -9.2 -5.8 0.4 2.4

(Nguồn: Quyết định số 108/2005/QĐ-TTg ngày 16/05/2005 của Chính phủ v/v phê duyệt quy hoạch phát triển ngành xi măng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

Bảng 2.2 Các chỉ tiêu kinh tế ngành xi măng giai đoạn 2007 - 2009 và dự báo đến năm 2010

Bên cạnh đó: Ngành xi măng và các ngành nguyên vật liệu xây dựng khác

sẽ hưởng lợi từ sự phát triển của lĩnh vực xây dựng, bất động sản và cơ sở hạ tầng.Triển vọng tăng trưởng hàng năm của nhu cầu xi măng trong giai đoạn 2008 - 2010

là 11%, giai đoạn 2011 -2016 vào khoảng 9%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 là4,5%/năm Nhu cầu xi măng được ước lượng sẽ đạt 76 triệu tấn vào năm 2015, hơn

gấp 2 lần nhu cầu năm 2007 đã đạt mức 35,8 triệu tấn

Tuy nhiên theo dự báo hiện nay có rất nhiều các dự án sắp đi vào giai đoạnhoạt động Mặc dù nhu cầu sử dụng lớn, nhưng với công suất dự kiến đến cuối năm

2009 ngành xi măng không những đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường mà còn phải

tính tới việc xuất khẩu Buộc các công ty trong ngành phải có hướng đi rõ ràng trongsản xuất kinh doanh, có lộ trình cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Nếucác doanh nghiệp không có kế hoạch sớm lộ trình xuất khẩu sẽ dẫn tới tình trạng

“thừa” xi măng – lãng phí trong khai thác công suất máy móc, giảm lợi nhuận kinh

doanh

Trang 16

Tình hình phân phối: Ngoài Tổng Công ty Công nghiệp xi - măng Việt

Nam hiện chiếm khoảng 41% thị phần xi - măng cả nước, tham gia vào hệ thốngphân phối xi - măng tại thị trường Việt Nam còn có khá nhiều doanh nghiệp thuộc

đủ mọi thành phần kinh tế với tổng thị phần tới gần 60%

Hệ thống phân phối xi - măng của Vicem bao gồm 2 kênh song song:

- Phân phối qua các công ty thương mại (công ty con thuộc Vicem) và hệthống các chi nhánh, cửa hàng bán lẻ trực thuộc, cửa hàng đại lý của các công ty conthuộc Vicem

- Phân phối qua các nhà phân phối nằm ngoài Vicem (chiếm 27% khối

lượng tiêu thụ xi - măng của Vicem và chủ yếu áp dụng hình thức "mua đứt bánđoạn")

Các doanh nghiệp lớn trong ngành đều thuộc tổng công ty công nghiệp xi

măng Việt Nam như: Hà Tiên1, 2, Xi măng Hoàng Thạch, Xi măng Hải Phòng,….hơn 33 đơn vị gồm công ty con, công ty cổ phần - tổng công ty nắm quyền chi phối,

công ty liên doanh liên kết

Thị phần của các doanh nghiệp xi măng nhỏ chiếm 31% toàn thị trường, 4

tháng đầu năm 2008 là 28,9% - do vốn nhỏ, khả năng cạnh tranh kém

Thị phần của các doanh nghiệp liên doanh là 29%, 4 tháng đầu năm 2008 là30%

Biểu đồ 2.1 Thị phần của các doanh nghiệp

Ngày đăng: 19/12/2015, 18:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. So sánh thị phần của các doanh nghiệp - Một số giải pháp đẩy mạnh hệ thống phân phối cho ngành xi măng Việt Nam
Bảng 2.3. So sánh thị phần của các doanh nghiệp (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w