1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn phân tích thống kê thực trạng và hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1992 2004

61 299 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 642,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có rất nhiều tiêu thức để phân loại đầu tư, ở đây chúng ta chỉ xem xét phân loại đầu tư theo nguồn vốn thì đầu tư gồm hai loại: - Đầu tư trong nước - Đầu tư nước ngoài Trong đó, đầu tư n

Trang 2

Lời nói đầu

Nền kinh tế thế giới đang phát triển ở giai đoạn thứ ba, kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai Giai đoạn này được mệnh danh là giai đoạn toàn cầu hoá, khu vực hoá với đặc trưng nổi bật là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI – Foreign Direct Investment ) FDI đang là làn sóng mở đường cho xu hướng phát triển kinh tế của thế giới, nhiều nền kinh tế trước đây đã từng đóng cửa thì nay thực sự đã mở rộng để đón chào các nhà đầu

Đối với nước ta, FDI là một thành tố quan trọng trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời nó cũng góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới của nước ta diễn ra một cách nhanh chóng thuận lợi hơn Trong tình trạng đói vốn, khát công nghệ hiện nay của nước ta, công tác bức xúc là phải kêu gọi càng nhiều càng nhanh FDI ( Nguồn tài chính không phải nợ vay-Non debt sorce of finance ) càng tốt

Hơn 13 năm qua, kể từ khi luật đầu tư nước ngoài ra đời tại Việt Nam (29/12/1987) tới nay, việc thực hiện chủ trương thu hút vốn FDI đã đạt được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên, hơn 3 năm trở lại đây, do ảnh hưởng nặng nề của cuộc tài chính xảy ra ở một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới, cộng mức độ cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực thu hút FDI của các nước láng giềng như Trung Quốc, Thái Lan… FDI tại Việt Nam có phần chững lại, giảm thiểu cả về mặt số lượng lẫn chất lượng Tình hình này đòi hỏi chúng ta phải có những tổng kết và đánh giá đúng đắn về FDI trong những năm qua, phân tích được những lợi thế và bất lợi của đất nước để nhanh chóng có những giải pháp đồng bộ toàn diện nhằm tạo dựng môi trường đầu tư hấp dẫn,

có thể cạnh tranh với các nước trên khu vực

Hơn nữa, một khi đã thu hút được FDI thì vấn đề là làm sao sử dụng FDI một cách có hiệu quả nhất, đảm bảo kết hợp một cách hài hoà hiệu quả tài chính (góc độ nhà đầu tư) và hiệu quả kinh tế xã hội (góc độ nền kinh tế xã hội) Có như vậy, Việt Nam mới ngày càng hấp dẫn các nhà đầu tư, đồng thời giảm thiểu chi phí mà xã hội phải gánh chịu nâng cao lợi ích kinh tế xã hội khi đầu tư Với mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc

giải quyết các vấn đề trên, em đã chọn đề tài “ Phân tích thống kê thực trạng và hiệu

quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thời kỳ 1992-2004”

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp được chia làm ba phần chính:

Chương I: Những vấn đề về FDI và hiệu quả FDI

Chương II: Hệ thống chỉ tiêu thống kê về FDI và hiệu quả FDI

Trang 3

Chương III: Phân tích thống kê thực trạng và hiệu quả FDI

Chương I Những vấn đề về FDI và hiệu quả FDI

I Khái niệm và vai trò của FDI

1 Khái niệm:

Đầu tư ( Investment ) nói chung là sự bỏ ra các nguồn lực ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ ) để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó

Có rất nhiều tiêu thức để phân loại đầu tư, ở đây chúng ta chỉ xem xét phân loại đầu tư theo nguồn vốn thì đầu tư gồm hai loại:

- Đầu tư trong nước

- Đầu tư nước ngoài

Trong đó, đầu tư nước ngoài là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định Về bản chất đầu tư nước ngoài là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá

Đầu tư nước ngoài gồm hai dòng chính:

- Đầu tư tư nhân

- Trợ giúp phát triển chính thức của Chính phủ và tổ chức quốc tế

Đầu tư của tư nhân được thực hiện dưới ba hình thức: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và tín dụng thương mại Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) chỉ là một trong ba hình thức đầu tư tư nhân Đầu tư tư nhân đây là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc dịch vụ thương mại Nhìn chung ở các nước, FDI được hiểu là một hoạt động kinh doanh, một dạng quan hệ kinh tế

có nhân tố nước ngoài Nhân tố nước ngoài ở đây không chỉ thể hiện sự khác biệt về quốc tịch hoặc về lãnh thổ cư trú thường xuyên của các bên tham gia vào quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài mà còn thể hiện ở việc di chuyển tư bản bắt buộc phải vượt ra ngoài tầm kiểm soát quốc gia

Trang 4

Còn theo điều 2 Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/11/1996 thì: " Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất

cứ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này"

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có các đặc điểm sau:

- Là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu

tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị không để lại gánh nợ nần cho nền kinh tế

- Chủ đầu tư tiến hành mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ đầu tư chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và chỉ được tham gia liên doanh với số vốn cổ phần của bên nước ngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49%; 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ Trong khi đó, Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam cho phép

mở rộng rãi hơn với hình thưc 100% vốn nước ngoài và quy định bên nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án

- Thông qua Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận công nghệ, kỹ thuật tiên tiến học hỏi kinh nghiệm quản lý là nhiều mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không thể giải quyết được

- Nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình hoạt động nó bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp dể triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như nguồn vốn đầu tư từ lợi nhuận

Chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong nguồn vốn đầu tư nước ngoài là nguồn hỗ trợ phát triển chính thưc (ODA-Official Development Assistance) Khác với FDI, ODA thường dùng để đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng cơ sở như giao thông vận tải, giáo dục, y tế Đó là những công trình mặc dù có lợi nhuận thấp, thậm chí không có lợi nhuận trực tiếp, thời gian thu hồi vốn chậm nhưng lại hết sức cần thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư, tuy có ưu điểm hơn FDI về lãi suất nhưng ODA cũng có những bất lợi cho nước đầu tư như: Chịu ràng buộc về kinh tế và chính trị (nước chủ nhà phải có cổ phần đóng góp vào IMF ); sử dụng vốn vay tràn lan, kém hiệu quả gây nợ chồng chất; là nguyên nhân gián tiếp gây ra tình trạng tham nhũng; chi phí tiếp

Trang 5

nhận vốn cao Trong điều kiện này thì FDI có lợi thế hơn hẳn bởi FDI không đưa đến gánh nặng nợ nần, không bị ràng buộc về kinh tế hay chính trị, việc sử dụng vốn trực tiếp đụng chạm đến lợi ích của các nhà đầu tư nên sẽ có hiệu quả hơn Chính vì thế, báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tháng 3/1996 đã đề cập: "Bên cạnh những thuận lợi to lớn ở trong nước và quốc tế đối với việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA, chúng ta còn nhiều khó khăn và thách thức ODA trên thế giới là nguồn vốn có hạn lại có sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước đang phát triển ODA và chính trị đi liền với nhau, các nước cung cấp ODA thường hay gắn các điều kiện để mưu tìm lợi ích kinh tế hoặc chính trị Phần lớn ODA là vốn vay, tuy có phần ưu đãi, song phải trả nợ nếu không tính toán đúng đắn sẽ có nguy cơ mắc phải nợ nần"

FDI cũng khác xa các quan hệ thương mại thông thường như quan hệ xuất nhập khẩu vay thương mại, gia công hàng hoá Bởi lẽ, bản chất FDI là việc di chuyển tư bản từ nước này sang nước khác để kinh doanh và chủ đầu tư không bị tách rời khỏi vốn đầu tư (quản lý và sử dụng vốn đầu tư, hưởng lợi nhuận thu được và phải chịu sự rủi ro trực tiếp nếu có) Còn các quan hệ thương mại thông thường là các quan hệ trao đổi hàng tiền giữa các chủ thể trong từng việc cụ thể, dù có sự chuyển dịch hàng tiền qua biên giới nhưng không kéo theo sự quản lý của chủ sở hữu, sự chuyển giao quyền quản lý và trách nhiệm gánh chịu sự rủi ro với đối tượng chuyển giao

2 Vai trò của FDI

2.1 Đối với nước đi đầu tư

FDI cho phép bành chướng sức mạnh về nền kinh tế, tăng cưởng ảnh hưởng của mình trên thị trường quốc tế, nhờ mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, lại tránh được hàng rào bảo vệ mậu dịch của các nước nhận đầu tư khi xuất khẩu sản phẩm là máy móc thiết bị sang nước nhận đầu tư (để góp vốn) và xuất khẩu sản phẩm tại đây sang các nước khác (do chính sách xuất khẩu ưu đãi cảu các nước nhận đầu tư nhằm khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, chuyển giao vốn, công nghệ và sản xuất hàng xuất khẩu của các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài) nhờ đó mà giảm được giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh với hàng nhập của các nước khác Phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các nước, về thực chất hoạt động như là chi nhánh của công ty mẹ ở chính quốc Việc xây dựng các nhà máy sản xuất chế tạo hoặc lắp ráp ở nước sở tại sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phụ tùng của công ty mẹ ở nước ngoài Đặc biệt thị trường

Trang 6

để giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận Trước hết, đó là chi phí về lao động Tiền lương của người lao động ở Nhật gấp hơn 10 lần lương bình quân lao động trong khối ASEAN, lương bình quân lao động trong các nước NICS Đông á cũng gấp 12 lần lương của Việt Nam Do đó thời gian qua các nước tư bản phát triển và những nước công nghiệp mới đã chuyển những ngành sử dụng nhiều lao động sang các nước đang phát triển để giảm chi phí sản xuất Việc tổ chưc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại các nước sở tại cũng giúp chủ đầu tư giảm chi phí vận chuyẻen, tiết kiệm chi phí quảng cáo, tiếp thị

Do chạy theo lợi nhuận độc quyền cao, các nhà đầu tư sẵn sàng bỏ mặc nạn thất nghiệp ở các nước phát triển để đầu tư sang những nước có chi phí rẻ, lợi nhuận cao và như vậy tạo ra công ăn việc làm cho các nước nhận đầu tư Ngoài ra, mục tiêu của nhiều dự án nước ngoài là tạo nguồn nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ cho nhu cầu phát triển để sản xuất kinh doanh của chủ các chủ đầu tư, chẳng hạn thăm dò khai thác khí, khoáng sản, tài nguyên biển rừng, sản phẩm cây công nghiệp Nguồn tài nguyên của các nước đang phát triển có nhiều nhưng không có điều kiện chế biến vì thiếu thốn công nghệ Do đó, đầu tư vào cả lĩnh vực này sẽ thu được nguyên liệu thô với giá rẻ và qua chế biến sẽ thu được lợi nhuận cao nhất

Như vậy, đối với việc đầu tư ra nước ngoài để khai thác lợi thế so sánh của các nước nhận đầu tư các chủ đầu tư trực tiếp sản xuất được sản phẩm với giá thành hạ hơn

so với sản xuất trong nước, nhờ đó mà các chủ đầu tư này có được ưu thế trong việc tiêu thụ sản phẩm này trên thị trường thế giới Nếu các sản phẩm này được nhập trở lại các nước chủ đầu tư với giá hạ hơn giá sản phẩm này trong nước hoặc của một số nước khác thì khả năng tiêu thụ sản phẩm này ở chính quốc sẽ mạnh hơn Cùng với việc đem tiền để

đi đầu tư nước khác và nhập khẩu sản phẩm với nhu cầu cao hơn tự sản xuất trên đây làm cho nhu cầu đồng nội tệ tăng so với đồng ngoại tệ theo chiều hướng giảm dần Sự giảm tỉ

Trang 7

giá hối đoái này sẽ có tác dụng khuyến khích các nhà sản xuất tăng cường xuất khẩu nhờ

đó tăng thu ngoại tệ cho đất nước

FDI cho phép các công ty nước ngoài kéo dài chu kỳ sống của các sản phẩm mới được tạo ra trong nước, đổi mới cơ cấu sản xuất, áp dụng công nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh Đổi mới công nghệ là điều kiện sống còn trong cạnh tranh, do đó các nhà đầu tư nước ngoài thường chuyển những máy móc công nghẹ đã lạc hậu so với trình độ chung của thế giới để sang nước khác Điều đó, một mặt giúp các chủ đầu tư thực chất bán được máy móc cũ để thu hồi vốn nhằm đổi mới thiết bị công nghệ; kéo dài được chu

kỳ sản phẩm của hãng ở các thị trường mới; di chuyển máy móc gây ô nhiễm môi trường

ra nước ngoài và trong nhiều trường hợp còn thu được đặc lợi do chuyển giao công nghẹ

đã lạc hậu đối với nước chủ đầu tư nước ngoài

2.2 Đối với nước nhận đầu tư

a Tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng

Vốn cho đầu tư phát triển bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Đối với các nước đang phát triển, sản xuất còn ở trình độ thấp nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp thì vốn FDI có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nước này, có nhiều tiềm năng về lao động, tài nguyên thiên nhiên nhưng do trình độ sản xuất còn thấp kém, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, lạc hậu nên chưa có điều kiện khai thác các tiềm năng ấy Các nước này chỉ có thể thoát khỏi sự nghèo đói bằng cách tăng trưởng đầu tư, phát triển sản xuất, tạo ra mức tăng trưởng kinh

tế cao và ổn định Để thực hiện được việc này các nước đang phát triển cần có nhiều vốn

để đầu tư

Trong điều kiện hiện nay, khi mà trên thế giới có nhiều nước đang nắm trong tay một khối lượng vốn khổng lồ và có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài thì đó là cơ hội để các nước đang phát triển có thể tranh thủ nguồn vốn ngắn hạn huy động từ các ngân hàng hoặc thông qua các khoản đầu tư tài chính khác, FDI có tính ổn định hơn rất nhiều Có thể thấy rõ điều này qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997-1998 Trong 18 tháng trước khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra, dòng vốn chảy vào bốn nước bị tác động nặng nề nhất sau này là Inđônêxia, Hàn Quốc, Philippin, Thái Lan lên tới 86,8 tỷ USD chỉ 18 tháng sau đã có 77,9 tỷ USD thoát lui khỏi các nước này Ngược lại, dòng vốn đi

Trang 8

ở các nước này, FDI đã thực sự đóng vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế và nếu chỉ căn cứ vào thực tại vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế thì có thể đánh giá FDI có

ý nghĩa quyết định đến tăng trưởng kinh tế của các nước này

Tỉ lệ FDI/Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở Việt Nam năm là 32,33%; năm 1997 là 31,32%; đến năm 1999 giảm xuống còn 18,19% Con số này đã thể hiện chúng ta khá thành công trong việc thu hút FDI trong thời gian qua nhưng tỷ lệ này đang có xu hướng ngày càng giảm

b Chuyển giao công nghệ

Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ chuyển vào nước đó bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu (hay còn gọi

là công nghệ cứng) và vốn vô hình như chuyên gia kỹ thuật công nghệ, tri thức khoa học,

bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị trường (hay còn gọi là công nghẹ mềm) Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, quá trình chuyển giao công nghệ được thực hiện nhanh chóng và thuận tiện cho cả bên đầu tư cũng như bên nhận đầu tư Thực tế cho thấy rằng, kỹ thuật và công nghệ nước ngoài đã giúp cho Malaisia từ chỗ là một nước kinh tế lạc hậu, kỹ thuật thủ công phân tán, lực lượng sản xuất kém phát triển đến giữa những năm 1980 đã trở thành một nước phát triển nhất về găng tay cao su, thứ hai thế giới về chất bán dẫn và tinh thể sơ đồ tích phân và thứ ba thế giới về máy điều hoà nhiệt

độ

Mọt trở ngại lớn nhất trên con đường phát triển kinh tế của hầu hết các nước đang phát triển lao đông trình độ chuyển giao công nghệ còn lạc hậu Trong thời đại khoa học

kỹ thuật phát triển như hiện nay, thì việc các nước đang phát triển tự phát triển khoa học

kỹ thuật cho kịp với tốc độ phát triển kỹ thuật hiện nay là phải biết tận dụng những thành

tụ khoa học kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài thồn qua hoạt động chuyển giao công nghệ

Trang 9

Tiếp nhận FDI là một phương thức cho phép các nước đang phát triển tiếp nhận khoa học

kỹ thuật - công nghệ hiện đại trên thế giới, tuy nhiên mức độ hiện đại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Nhưng dù thế nào thì đây cũng là lợi ích căn bản của các nước tiếp nhận FDI Trong điều kiện hiện nay, trên thế giới có nhiều công ty của các quốc gia khác nhau

có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài và chuyển giao công nghẹe cho nước nhận đầu tư, thì đây là cơ hội cho các nước đang phát triển có thể tiếp thu được kỹ thuật công nghệ thuận lợi nhất Nhưng không phải các nước đang phát triển được "đi xe miễn phí" mà họ phải trả một khoản học phí không nhỏ cho việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ này So với việc nhập khẩu thiết bị và mua bản quyền những cách được áp dụng trước kia để nâng cao trình độ công nghệ, thì FDI có lợi hơn hẳn bởi "đó là một kênh chuyển giao trình độ quản lý và kỹ thuật, đi kèm với các nhà máy, thiết bị nước ngoài cũng như mạng lưới tiếp thị và phân phối" Hơn nữa, trong mọi trường hợp các nước đang phát triển cũng ít có sự lựa chọn nào khác ngoài việc mở cửa thu hút FDI, bởi cách mua bản quyền để thay thế cho FDI hiện đã khó khăn hơn rất nhiều so với trước Theo các chuyên gia, thách thức

mà các nước đang phát triển phải đối mặt là "các nước đang phát triển vẫn phải liên tục xoá đi khoảng cách với những nước dẫn đầu công nghiệp, song họ sẽ phải chuyển dẫn từ mẫu hình phát triển dựa vào tích luỹ lên theo mẫu hình dựa theo sự đổi mới"

c Thúc đầy tăng trường kinh tế

Tranh thủ vốn và công nghệ của nước ngoài, các nước đang phát triển muốn sử dụng nó để thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Đây cũng là điểm nút để các nước đang phát triển ra khỏi vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy quốc gia nào thực hiện chiến lược

mở cửa với bên ngoài, biết tranh thủ các nhân tố với bên ngoài nó trở thành nhân tố bên trong thì quốc gia đó sẽ tạo được sự tăng trưởng kinh tế cao

Xem xét tình hình tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển trên thế giới,

có thể rút ra một số nhân xét sau:

- Có mức tăng trưởng tỉ lệ thuận giữa tăng trưởng kinh tế với khối lượng vốn FDI được huy động và sử dụng ở Việt Nam năm 1995, khối lượng FDI là 6.607 triệu USD , thì tăng trưởng GDP là 9,5%, tương ứng năm 1996 là 8.864 triệu USD và 9,3%, năm

1997 là 4.654 triệu USD và 8,2%, năm 1998 là 4.059 triệu USD và 5,8%, năm 1999 là 1.548 triệu USD và 4,8%

Trang 10

- Sự tăng trưởng gắn liền với mức tăng trưởng xuất khẩu mức tăng trưởng kinh tế chủ yếu ở các nước đang phát triển thường do nhân tố đầu tư chủ yếu, nhờ đó mà các nhân tố khác như tổng số lao động cũng được sử dụng và năng suất lao động cũng tăng theo Vì vậy, có thể thống qua tỷ lệ đóng góp của FDI trong GDP để đánh giá vai trò của FDI với tăng trưởng kinh tế

Bảng 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tổng sản phẩm trong nước (GDP) của một số

d Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại của nền kinh tế, mà nó còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống đang diến ra mạnh mẽ hiện nay, FDI là một hoạt động quan trong của hoạt động kinh tế đối ngoại, thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân công lao động quốc tế Để hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi từng quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế Sự chuyển của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Ngược lại, chính đầu tư trực tiếp nước ngoài lại góp phần thúc đẩy nhanh chuyển dich cơ cấu kinh tế Bởi vì:

- Thông qua FDI đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành nghề mới ở nước nhận đầu tư

Trang 11

- FDI góp phần vào sự phát triển nhanh chóng trình độ kỹ thuật công nghệ ở nhiều ngành kinh tế góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động ở các ngành này làm tăng tỉ phần của chúng trong nền kinh tế

- Một số ngành được kích thích phát triển bởi FDI nhưng cũng có nhiều ngành bị mai mọt rồi đi đến bị xoá sổ

e Trong quan hệ kinh tế quốc tế

Quan hệ kinh tế quốc tế xuất hiện từ khi con người bắt đầu thực hiện hành vi trao đổi mua bán hàng hoá giữa các quốc gia Qui mô và phạm vi trao đổi ngày càng mở rộng, hình thành nên các quan hệ quốc tế gắn bó và phụ thuộc vào nhau giữa các nước trên thế giới

FDI là một hoạt động kinh tế đối ngoại ra đời muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác vài ba thập kỷ Nhưng ngay từ khi xuất hiện, vào khoảng cuối thế kỷ 19, FDI

đã có vị trí đáng kể trong quan hệ kinh tế quốc tế Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh tế quốc tế, hoạt động FDI không ngừng được mở rộng và ngày càng chiếm vị trí quan trong trong quan hệ kinh tế quốc tế Đến nay, FDI đã trở thành xu hướng của thời đại và là nhân tố cơ bản quy định bản chất các quan hệ kinh tế

Thập kỷ 80 vừa qua đã chứng kiến những bước phát triển mới của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới, khối lượng vốn tăng lên với tốc độ nhanh hơn so với sự gia tăng của sản xuất và buôn bán quốc tế Những năm 70, lượng vốn FDI trên toàn thế giới bình quân hàng năm là 25 tỷ USD, con số này đã tăng lên gấp hai lần trong thời kỳ 1980-

1985 Năm 1986, lượng vồn FDI trên toàn thế giới là 78 tỷ USD, năm 1987 là 133 tỷ USD, năm 1988 là 195 tỷ USD, đến năm 1990 giảm xuống còn chút ít 184 tỷ USD Tính bình quân hàng năm trong thời kỳ 1985-1990, FDI tăng khoảng 24%, tốc độ này lớn hơn bốn lần so với tốc độ tăng kim nghạch xuất khẩu trong thời kỳ này là 6,1% Bước sang thập kỷ 90 này, FDI đã tăng lên nhanh chóng và là một nhân tố gây ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia Trái ngược với tình hình năm 1997, mặc dù tăng trưởng thương mại thế giới giảm hơn một nửa chỉ còn 3,7% so với năm 1994, năm 1997

là 6,3% năm 1996 song FDI trên toàn thế giới vẫn gia tăng và đạt mức kỷ lục, bất chấp tình trạng suy giảm kinh tế trên thế giới Theo đánh giá của tổ chức thương mại và phát triển của tổ chức Liên hiệp quốc (UNCTAD), năm 1998 FDI trên toàn thế giới đạt khoảng 410 tỷ tăng 10% so với mức 400 tỷ năm 1997 Năm 1999, tăng trưởng khoảng

Trang 12

20%, đạt gần 800 tỷ USD,năm 2000 đạt mức kỷ lục 1.140 tỷ USD, gấp ba lần năm 1997 Bốn quốc gia đứng đầu thế giới về thu hút FDI là Mỹ, Anh, Đức, Trung Quốc, FDI vào Châu á vẫn chiếm khoảng 1/3 tổng vốn FDI trên toàn thế giới Tình hình trên đây, cho phép khẳng định rằng FDI đang trở thành xu hướng phát triển quan hệ kinh tế quốc tế

Ngoài những vai trò trên FDI còn có một số vai trò sau:

- Đóng góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước thông qua việc nộp thuế, phí tiền thuê đất của các đơn vị đầu tư nước ngoài Bởi vì, hầu hết các dự án FDI

là sản xuất ra các sản phẩm hướng vào xuất khẩu

- Cùng với việc tăng khả năng sản xuất, nhập khẩu hàng hoá, FDI còn giúp mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước Đa số các dự án FDI đều có phương án bao tiêu sản phẩm Đây là hiện tượng đa chiều đang trở thành khá phổ biến ở các nước đang phát triển hiện nay

- Về mặt xã hội, FDI đã tạo ra nhiều công ăn việc làm mới, thu hút được một khối lượng đáng kể ở các nước nhận đầu tư vào các đơn vị đầu tư nước ngoài, nâng cao thu nhập cho người lao động, đồng thời góp phần đào tạo một đội ngũ công nhân có trình độ

kỹ thuật cao

Điều này góp phần vào việc làm giảm bớt nạn thất nghiệp vốn là tình trạng nan giải ở nhiều quốc gia Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam nơi có lực lượng lao động rất phong phú nhưng không có điều kiện khai thác và sử dụng được, thì FDI được coi là chiếc chìa khoá quan trọng để giải quyết vấn để này Bởi vì, FDI tạo nên điều kiện vốn và kỹ thuật cho phép khai thác và sử dụng tiềm năng của nền kinh tế trong đó có tiềm năng về lao động

II Hiệu quả của FDI

Trang 13

Hiệu quả tài chính ( hiệu quả kinh tế theo quan điểm doanh nghiệp ) của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu ccầu phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ, nâng cao đời sống của người lao động trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trên cơ sở vốn đầu tư mà đơn vị đó đã sử dụng so với các kỳ khác hoặc so với định mức chung

Các kết quả đem lại cho chủ đầu tư rất đa dạng và là quá trình tất yếu của quá trình thực hiện đầu tư Các kết quả đó có thể là lợi nhuận thuần, doanh thu thuần, mức tăng năng suất lao động, số lao động có việc làm do hoạt động đầu tư tạo ra, mức tăng thu nhập cho người lao động của đơn vị thực hiện đầu tư

Hiệu quả kinh tế xã hội (hiệu quả kinh tế theo quan điểm kinh tế xã hội) của hoạt động đầu tư là chênh giữa các lợi ích mà nền kinh tế xã hội thu được so với các đóng góp

mà nền kinh tế xã hội phải bỏ ra khi thực hiện đầu tư

Những lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đáp ứng hoạt động đầu tư với việc thực hiện các mục tiêu chung của xã hội, của nền kinh tế Những sự đáp ứng này có thể được xem xét mang tính chất định tính như: đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế, phục

vụ việc thực hiện các chủ trương, chính sách nhà nước ; góp phần chống ô nhiễm môi trường, cải tạo môi sinh; tận dụng khai thác tài nguyên chưa được quan tâm; phát triển vùng kinh tế yếu kém; phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo, kéo theo sự phát triển các ngành nghề khác; phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương nghèo, các vùng dân cư

xa xôi thưa thớt nhưng có tiềm năng về tài nguyên hoặc đo lường bằng các tính toán định lượng như mức tăng thu ngân sách, tăng số người có việc làm, tăng thu ngoại tệ, tăng tích luỹ vốn, tăng tổng sản phẩm quốc dân, tăng đầu tư, tăng tốc độ phát triển, tốc

độ tăng trưởng, tăng xuất khẩu, nâng cao thu nhập cho dân cư

Trang 14

Chi phí mà xã hội phải gánh chịu khi một công cuộc đầu tư thực hiện bao gồm toàn bộ tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, sức lao động mà xã hội phgải dành cho đầu tư thay vì sử dụng vào các công việc khác trong tương lai không xa

Như vậy hiệu quả kinh tế xã hội chính là so sánh có mục đích giữa các giá mà xã hội phải trả cho việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình và lợi ích do đầu tư tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế

2 ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả FDI

Nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với yêu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển xã hội loài người nói chung Nâng cao hiệu quả kinh tế của FDI là cở vật chất để không ngừng nâng cao mức sống dân cư Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự điều tiết nền kinh tế vĩ mô của nhà nước, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải được xem xét từ hai góc độ nhà đầu tư và nền kinh tế

Trên góc độ chủ đầu tư là các doanh nghiệp, mục đích cụ thể có nhiều, nhưng quy

tụ lại là lợi nhuận Khả năng sinh lợi của các dự án là thước đo chủ yếu quyết định sự chấp nhận một việc làm mạo hiểm của nhà đầu tư Khả năng sinh lời càng cao thì càng hấp dẫn các nhà đầu tư Việc nâng cao hiệu quả đầu tư (hiệu quả tài chính) của các đơn

vị đầu tư nước ngoài có vai trò quyết định trực tiếp đối với bản thân chủ đầu tư, từ đó tạo lòng tin đối với các chủ đầu tư khác sắp có ý định bỏ vốn đầu tư Đây là yếu tố gián tiếp làm tăng thêm sức cạnhu tranh, cho phép giành lợi thế trong quan hệ kinh tế Việt Nam

Tuy nhiên, không phải mọi hoạt động đầu tư có khả năng sinh lời cao đều tạo ra những ảnh hưởng tốt đẹp đối với nền kinh tế xã hội Không ít trường hợp có hiệu quả tài chính cao nhưng có hiệu quả kinh tế xã hội thấp, thậm chí gây tổn hại đến lợi ích kinh tế

xã hội, có lợi trước mắt nhưng có hại lâu dài Bởi vì, các chủ đầu tư nước ngoài và đôi khi cả bên Việt Nam chỉ quan tâm nhiều đến hiệu quả tài chính Đứng về lợi ích riêng của nhà đầu tư thì hiệu quả cao nhất là thu được lợi nhuận Cho nên, họ chỉ chú ý đến những vấn đề thiết thực như doanh thu chi phí, thuế, tiền thuê đất… Trong khi đó nhà nước góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế Do đó, trên góc độ quản lý vĩ mô chúng

ta phải xem xét mặt lợi ích xã hội đầu tư đem lại Điều này giữ vai trò quyết định để được các cấp có thẩm quyền chấp nhận cho phép đầu tư tức là trong khi thẩm định xem

Trang 15

xét một dự án FDI cần phải đặt hiệu quả kinh tế xã hội lên trên và coi đó là những biện pháp cơ bản để khuyến khích đầu tư

3 Tình hình FDI trong thời gian qua

- Hoạt động đầu tư nước ngoài không ngừng tăng (kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1987) Tính đến tháng 7/2004, Việt Nam đã cấp giấy phép đầu

tư cho 5.837 dự án đầu tư nước ngoài, trong đó 4.796 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư cấp mới là 43,97 tỷ USD, vốn pháp định 19,5 tỷ USD; trong đó 45,4% vốn đầu tư cấp mới theo hình thức 100% vốn nước ngoài và 42,5% theo hình thức liên doanh; số vốn còn lại theo hình thức BOT (với 6 dự án)

- Đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng (FDI) nói riêng đã thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội) của đất nước, củng cố thêm thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế: đóng góp trên 13% GDP, trên 18% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, trên 23% kim ngạch xuất khẩu (không kể dầu khí), đạt trên 35% giá trị sản xuất công nghiệp và khoảng 7% thu ngân sách cả nước; thu hút gần nửa triệu lao động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp

Tuy vậy, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và sự mong muốn của chúng ta:

- Cơ cấu của vốn FDI đang quá chênh lệch giữa các ngành, phần vốn chủ yếu tập Trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng (57,8% tổng số vốn) Lĩnh vực dịch vụ chiếm 34,8% và lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm 7,3%

- Cơ cấu vùng, vốn đầu tư cấp mới chủ yếu tại các địa phương, thành phố có điều kiện kinh tế-xã hội thuộc các vùng trọng điểm kinh tế như thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Hải Phòng, Hà Nội Riêng vùng kinh tế trọng điểm kinh tế phía Nam (thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu) chiếm 55,5% tổng số vốn đầu tư nước ngoài của cả nước Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hải Phòng, Hà Nội, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh) chiếm 26,3% tổng số đầu tư nước ngoài đăng ký trên cả nước

- Hình thức đầu tư chính vẫn là liên doanh chiếm 51% số vốn đăng ký và 30% số

dự án; 100% vốn nước ngoài chiếm 36% số vốn đăng ký và 66% dự án; hợp đồng hợp tác kinh doanh và hợp đồng khai thác chuyển giao chiếm 13% vốn đăng ký và 4% dự án

Trang 16

- Số dự án và số vốn đầu tư tại Việt Nam của các nước khu vực Châu á chiếm tỷ

lệ lớn: trong 64 nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, các nước Châu á chiếm 76% dự án và 70% vốn đăng ký; các nước châu Âu chiếm gần 16% dự án và 24% vốn đăng ký; Hoa Kỳ chiếm 4% dự án và 2,7% vốn đăng ký; còn lại là khu vực khác

- Hoạt động của các dự án còn chưa thực sự hiệu quả, tiến độ châm: trong các dự

án còn hiệu lực nói trên chỉ có 2.304 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh với tổng vốn đầu tư 27,71 tỷ USD, có 869 dự án đang xây dựng cơ bản với tổng vốn đầu tư 9,95 tỷ USD, 1.038 dự án đã giải thể trước thời hạn với tổng vốn đầu tư 12,46 tỷ USD và

39 dự án kết thúc đúng hạn với tổng vốn đầu tư 658 triệu USD

- Vốn đầu tư nước ngoài liên tục tăng nhưng số vốn đưa vào tăng không đáng kể

so với số vốn thực hiện: từ năm 1988 đến hết tháng 7/2004 đạt hơn 28,2 tỷ USD (gồm cả vốn thực hiện của các dự án hết hạn hoặc giải thể trước thời hạn), trong đó bên ngoài đưa vào chiếm 85,08% vốn thực hiện Thời kỳ 1991-1995, vốn thực hiện đạt 7,15 tỷ USD chiếm 44% tổng số vốn thực hiện, trong đó vốn bên ngoài đưa vào chiếm 85,08% vốn thực hiện Thời kỳ 1996-2000 đạt 13,47 tỷ USD chiếm 64,8% tổng số vốn cấp mới, tăng 88% so với thời kỳ 1991-1995 và vượt 3,6% chỉ tiêu dự kiến (13 tỷ USD), trong đó vốn bên ngoài đưa vào chiếm 89,3%

Để thu hút hơn nữa đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, điều quan trọng nhất là tạo môi trường thể chế ổn định, nhất quán để các nhà đầu tư trong và ngoài nước yên tâm làm ăn lâu dài và cần phải có chiến lược tổng thể xúc tiến đầu tư nước ngoài

Trang 17

Chương II Hệ thống chỉ tiêu thống kê thực trạng và đánh giá hiệu quả FDI

I Nguyên tắc và yêu cầu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê thực trạng và đánh giá hiệu quả FDI

Để có thể xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê FDI và hiệu quả FDI

một cách khoa học và hợp lýcần bảo đảm các yêu cầu sau đây:

- Xác định đúng bản chất, tiêu chuẩn đánh giá FDI và hiệu quả FDI, nắm chắc các phạm trù kinh tế về đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong thực tế, do chưa giải quyết đúng đắn và đầy đủ yêu cầu này nên tồn tại hiện tượng đồng nhất hiệu quả FDI một phạm trù tổng hợp với các chỉ tiêu bộ phận biểu hiện từng mặt của nó (như năng suất lao động) hay đồng nhất hiệu quả FDI với tăng trưởng và phát triển kinh tế Như vậy là lẫn lộn giữa phát triển theo chiều sâu và phát triển nói chung hoặc lẫn lộn giữa kết quả trung gian và kết quả cuối cùng khi xác định hiệu quả FDI

- Đảm bảo phản ánh đầy đủ, chính xác và hệ thống tức là các chỉ tiêu được chọn phải đủ lớn để bao quát hết các mặt cơ bản có liên quan tới FDI; các chỉ tiêu được chọn phải là các chỉ tiêu đặc trưng nhất; các chỉ tiêu phải đảm bảo có nội dung phạm vi và đơn

vị tính phù hợp với yêu cầu đánh giá thực trạng và hiệu quả FDI; các chỉ tiêu trong hệ thống phải có mối liên hệ hữu cơ với nhau, trong hệ thống phải thể hiện rõ các chỉ tiêu chủ yếu và thứ yếu, các chỉ tiêu tổng hợp và từng mặt của hiệu quả

- Các chỉ tiêu phải được quy định và hướng dẫn đầy đủ cách thu thập số liệu và phương pháp tính toán, áp dụng thống nhất cho các ngành cũng như các cấp từ Trung ương đến địa phương và cơ sở

- Trong vấn đề xác định hiệu quả FDI phải đảm bảo được yêu cầu so sánh về độ dài của thời kỳ nghiên cứu tức là hai chỉ tiêu kết quả và chi phí có thời kỳ tính toán giống nhau; tính đến độ trễ của vốn, vì đầu tư chỉ mang lại kết quả sau một thời gian nhất định trong đó có kết quả gián tiếp và kết quả trực tiếp

- Khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính kế thừa, song cũng phải chú ý thường xuyên cải tiến, hoàn thiện và bổ sung cho phù hợp với nhu cầu quản lý mới và so sánh quốc tế

- Các chỉ tiêu phải được phân loại một cách khoa học và tuỳ theo cấp độ khác nhau (doanh nghiệp và nề kinh tế quốc dân) mà áp dụng các chỉ tiêu khác nhau cho phù hợp

Trang 18

- Hệ thống được hình thành phải là hệ thống cho phép giải quyết tốt nhất mâu thuẫn giữa nhu cầu thông tin với khả năng về mọi mặt để thu thập xử lý và phân tích các chỉ tiêu nêu ra Điều đó cũng có nghĩa là cần sự kết hợp giữa tính lý thuyết với tính khả thi và thực tiễn của hệ thống

II Hệ thống chỉ tiêu thống kê thực trạng FDI

Hệ thống chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu: Số lượng dự án, tổng vốn đầu tư của

dự án, vốn pháp định, vốn đăng ký, vón thực hiên, vốn cấp mới, vốn tăng thêm, vốn giải thể, vốn hết han… Các chỉ tiêu này thường được cập nhật thường xuyên thông qua các báo cáo của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

1 Nhóm chỉ tiêu tuyệt đối:

1.1 Số lượng dự án: Là toàn bộ số dự án FDI đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy

phép đầu tư

Số dự án được chia theo thời gian (tháng, quý, năm); vùng; địa phương; ngành; đối tác đầu tư; hình thức đầu tư

1.2 Vốn pháp định: Là vốn ban đầu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được

ghi trong điều lệ doanh nghiệp hay là mức vốn phải có để thành lập doanh nghiệp được ghi trong điều lệ thành lập doanh nghiệp (Điều 19-Luật đầu tư nước ngoài)

Vốn pháp định được chia theo thời gian; ngành; doanh nghiệp

1.3 Vốn đăng ký: Là số vốn chủ đầu tư cam kết trong hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư

Vốn đăng ký được chia theo thời gian; vùng; địa phương; ngành; doanh nghiệp; đối tác đầu tư; hình thức đầu tư

1.4 Vốn thực hiện: Là số vốn chủ đầu tư đã thực sự bỏ ra để đầu tư trong suốt dự án

Vốn thực hiện được chia theo thời gian; vùng; địa phương; ngành; doanh nghiệp; đối tác đầu tư; hình thức đầu tư

1.5 Vốn đầu tư: Là số vốn thực hiện dự án đầu tư, bao gồm vốn pháp định và vốn vay

Vốn đầu tư được chia theo thời gian; vùng; địa phương; ngành; doanh nghiệp; đối tác đầu tư; hình thức đầu tư

1.6 Vốn cấp mới: Là số vốn mà chủ đầu tư xin cấp giấy phép đầu tư thêm trong năm

Vốn cấp mới được chia theo thời gian; vùng; địa phương; ngành; doanh nghiệp; đối tác đầu tư; hình thức đầu tư

Trang 19

Vốn còn hiệu lực=Vốn cấp mới +Vốn tăng-(Vốn hết hạn+Vốn giải thể)

Vốn còn hiệu lực được chia theo thời gian; vùng; địa phương; ngành; đối tác đầu tư; hình thức đầu tư

2 Nhóm chỉ tiêu tương đối và bình quân

2.1 Vốn đăng ký bình quân một dự án ( K dk ): Là quan hệ so sánh giữa số vốn đăng ký

(Kdk) và số lượng dự án (n)

n

K

Kdkdk

2.2 Vốn thực hiện bình quân một dự án ( K th ): Là mối quan hệ so sánh giữa vốn thực

hiện (Kth) và số lượng vốn đầu tư (n)

Trang 20

III Hệ thống chỉ tiêu thống kê hiệu quả FDI

Bao gồm hai nhóm chỉ tiêu:

Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính (góc độ doanh nghiệp)

Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xã hội (góc độ nền kinh tế)

1 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính của doanh nghiệp có FDI

1.1 Công thức tổng quát xác định các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính

Hiệu quả tài chính được đo lường bằng các chỉ tiêu tương đối thời kỳ, nó có hai loại chỉ tiêu:

1.1.1 Kết quả thu được do thực hiện vốn đầu tư (Htc): Chỉ tiêu được xác định bằng cách

chia kết quả sản xuất mà đơn vị có vốn FDI thu được (Q) cho số vốn mà đơn vị bỏ ra để tạo ra kết quả đó (C)

C

Q

Htc

H tc được coi là hiệu quả khi H tc > H tc0

Với H tc0 là chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, hoặc của các kỳ khác mà cơ sở đã

được chọn làm cơ sở so sánh hoặc của đơn vị khac đã đạt tiêu chuảa hiệu quả

Đơn vị tính USD/USD

ý nghĩa: Chỉ tiêu cho biết cứ 1 đơn vị giá trị vốn bỏ ra thì có bao nhiêu đơn vị giá trị kết quả

1.1.2 Vốn thực hiện để tạo ra một đơn vị kết quả sản xuất (Etc): Chỉ tiêu được xác định

bằng cách chia kết quả sản xuất mà đơn vị có vốn FDI thu được cho số vốn mà đơn vị bỏ

ra để tạo ra kết quả đó

Trang 21

Q

C

Etc

Etc được coi là hiệu quả khi Etc< Etc0

Etc là chỉ tiêu nghịch của chỉ tiêu H tc

Đơn vị tính USD/USD

ý nghĩa: Chỉ tiêu cho biết để cần 1 đơn vị giá trị kết quả thì có bao nhiêu đơn vị giá trị vốn

1.2 Một số chỉ tiêu thống kê hiệu quả tài chính

1.2.1 Tỷ suất sinh lời (hệ số thu hồi vốn đầu tư RR): Chỉ tiêu này được xác định bằng

cách chia tổng mức lợi nhuận thuần cho số vốn đầu tư của dự án (K)

1.2.2 Thời hạn thu hồi vốn đầu tư: Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia chia số

vốn đầu tư của dự án (K) cho tổng mức lợi nhuận thuần

ý nghĩa: Chỉ tiêu cho biết thời gian để chủ đầu tư thu hồi vốn ban đầu Nó dùng để

so sánh hiệu quả sử dụng vốn giữa các dự án khác nhau hoặc giữa các năm của đời dự án

Trang 22

1.2.3 Số vòng quay vốn lưu động (N): Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia doanh

thu (D) cho số vốn lưu động bình quân

1.2.4 Hệ số tự chủ vốn: Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia số vốn tự có cho số

vốn đầu tư của doanh nghiệp

ý nghĩa: Chỉ tiêu cho biết cứ một đơn vị giá trị vốn đầu tư thì có bao nhiêu đơn vị giá trị vốn tự có của doanh nghiệp FDI

1.2.5 Tỷ số cân đối nợ:

Tỷ số cân đối nợ

= Tổng số nợTổng số tài san có

Khả năng thanh toán ngắn hạn

= Tai sản có + nợ phải đòi

Trang 23

2.1 Tỷ trọng vốn đầu tư trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội (R'): Chỉ tiêu này bằng số

vốn FDI (K) chia cho số vốn đầu tư toàn xã hội (Kxh) nhân với 100

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu càng lớn càng tốt

ý nghĩa: Chỉ tiêu cho biết cứ 100 đơn vị giá trị vốn toàn xã hội thì có bao nhiêu đơn vị giá trị vốn FDI

2.2 Hiệu quả sử dụng vốn FDI: Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia giá trị tăng

thêm của VA hay GDP cho vốn FDI bình quân (K)

K

GDP K

VA

ý nghĩa: Chỉ tiêu này có nghĩa là cứ mỗi đơn vị giá trị vốn FDI thì sẽ làm tăng bao nhiêu đơn vị giá trị gia tăng hay GDP

2.3 Tỷ lệ số lao động được sử dụng trong doanh nghiệp FDI ( R ): Chỉ tiêu này được

xác định bằng cách chia số lao động bình quân của doanh nghiệp FDI cho số lao động được sử dụng trong xã hội

2.4 Mức sử dụng lao động (SDld): Chỉ tiêu này là quan hệ so sánh giữa số vốn đầu tư

với số lao động bình quân của doanh nghiệp có vốn FDI

Trang 24

Số ngoại tệ thực thu = Tổng thu ngoại tệ - Tổng chi ngoại tệ

2.6 Đóng góp ngân sách (Hdg): Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia mức đóng

góp vào ngân sách của doanh nghiệp FDI (DG) cho số vốn FDI

2.8 Mức thu nhập bình quân lao động: Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia tổng

quỹ lương phân phối cho lao động (Q) cho số lao động hiện có bình quân

2.9 Tỷ lệ đóng góp vào GDP: Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia giá trị GDP do

khu vực có vố FDI cho giá trị GDP của toàn bộ nền kinh tế nhân với 100

2.10 Tỷ lệ đóng góp vào xuất khẩu (txk): Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia giá

trị xuất khẩu do khu vực có vốn FDI (XKFDI) cho giá trị xuất khẩu của toàn bộ nền kinh

tế (XK) nhân với 100

Trang 25

2.11 Tỷ lệ giá trị sản xuất trong các ngành (tGO): Chỉ tiêu này được xác định bằng

cách chia giá trị sản xuất của ngành i do khu vực có vốn FDI (GOFDI nganh i) cho giá trị sản xuất của toàn bộ nền kinh tế (GOnganhi) nhân với 100

GO

GO t

Đơn vị tính: %

ý nghĩa: Chỉ tiêu này có cho biết cứ mỗi đơn vị giá trị xuất khẩu của toàn bộ nền kinh tế thì có bao nhiêu đơn vị giá trị xuất khẩu do khu vực có vốn FDI tạo ra

2.12 Tỷ lệ số doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm (tmt): Chỉ tiêu này được xác định bằng

cách chia số doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm (Non) cho số doanh nghiệp FDI (N) nhân với 100

2.13 Tỷ lệ số máy móc công nghệ lạc hậu (tcn): Chỉ tiêu này được xác định bằng cách

chia số máy móc, công nghệ lạc hậu (Nlh) cho toàn bộ số máy móc, công nghệ được chuyển giao qua FDI (N) nhân với 100

Trang 26

ý nghĩa: Chỉ tiêu này có cho biết cứ 100 máy móc, công nghệđược chuyển giao qua FDI thì có bao nhiêu máy móc, công nghệ lạc hậu

2.14 Tỷ lệ số diện tích đất được các doanh nghiệp FDI thuê trong các KCN, KCX (ts):

Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia số diện tích đất được các doanh nghiệp FDI thuê (SFDI) cho tổng diện tích đất có trong KCN, KCX (S) nhân với 100

Trang 27

Chương III: Phân tích thống kê thực trạng FDI và hiệu quả FDI

I Phân tích thực trạng thu hút FDI tại Việt Nam giai đoạn 1992-2004

Trong thời gian 13 năm qua, kể từ năm 1992 đến nay hoạt động FDI có thể chia làm bốn giai đoạn:

- Ba năm đầu (1992-1994) được coi là giai đoạn khởi động Lúc đó chúng ta như người mới vào nghề, vừa chưa có kinh nghiệm, vừa rất mạnh dạn trong các quyết định, còn người nước ngoài thì đến với nước ta như đến một miền đất mới vừa lạ, vừa hấp dẫn,

họ thận trọng không dám mạo hiểm, mới làm thử để thăm dò cơ hội, nên số dự án trong thời gian này chưa nhiều, mức tăng trưởng vốn đầu tư còn chậm, Trong giai đoạn này trừ hai lĩnh vực là thăm dò dầu khí và viễn thông FDI có tác động rõ rệt, còn các lĩnh vực khác hầu như mới chỉ có một ít dự án, phần lớn lại chưa được triển khai, doanh thu, kim ngạch xuất khẩu, tỉ trọng đóng góp trong GDP và các khoản nộp ngân sách còn rất ít, số lao động trong các xí nghiệp có vốn FDI cũng chưa nhiều Do vậy, chưa thu hút được sự chú ý của các cơ quan Trung ương cũng như địa phương Thái độ chung của nhiều người lúc này là "trải chiếu hoa" đón các nhà đầu tư nước ngoài kể cả những nhà đầu tư thực và rởm, nên hoạt động đầu tư ít gặp khó khăn từ khi xin giấy phép đầu tư cho đến khi triển khai dự án

- Giai đoạn 1995-1999 được coi là giai đoạn tăng trưởng nhanh và thay đổi cả về chất lượng hoạt động đầu tư nước ngoài Tháng 3 năm 1995 một diễn đàn quốc tế vầ đầu

tư nước ngoài có quy mô lớn với sự tham gia của hơn 650 khách quốc tế và đại diện của một số tổ chức như: UNIDO, IMF, WB, ADB, ESCAF, UNDP… đã được tổ chức thành công tại thành phố Hồ Chí Minh Đây có thể coi là một sự kiện quan trọng có ý nghĩa lịch sử trong hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta, mở đầu một thời kỳ mới trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới Nét nổi bật trong thời kỳ này là hoạt động đầu tư

Trang 28

2000 lại giảm 0,04% so với năm 1999

- Giai đoạn 2004-2005: Đây là giai đoạn bắt đầu xuất hiện dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế nói chung và thực trạng thu hút FDI nói riêng Theo ước tính năm 2004 tốc

độ tăng trưởng đạt 6,7% tăng hơn so với 4,8% năm 2003 Tính đến ngày 15/4/2005 trên

cả nước có khoảng 2.725 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 36,56 tỷ USD vốn pháp định trên 16,45 tỷ USD

2 Phân tích quy mô dự án FDI

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư đến 31/3/2005 Việt Nam đã thu hút được 3348 dự

án với tổng vốn đăng ký 38.902 triệu USD

Qua số liệu thống kê cho thấy thời kỳ đầu tư năm 1992-1994 FDI chỉ dừng lại ở những dự án có quy mô vừa và nhỏ, với quy mô trung bình một dự án khoảng 6,9 triệu USD Bước sang thời kỳ thứ hai 1995-1999 FDI đã tăng mạnh cả về số lượng và chất lượng: quy mô trung bình một dự án năm 1991 là 8,2 triệu USD Đặc biệt trong hai năm 1998-1999, cả số vốn đăng ký được duyệt lẫn vốn thực hiện đều có bước tiến nhảy vọt

So với năm 1992 vốn đầu tư của năm 1999 tăng gấp 18 lần, chỉ nói hết quý I năm 1999,

số vốn đăng ký đã đạt hơn một nửa của cả năm 1998, số vốn thực hiện đạt khoảng 30%

Nhịp độ vốn FDI tăng nhanh, năm 1982 số lượng vốn đăng ký mới chỉ đạt 366 triệu USD, năm 1999 tăng lên 6.607 triệu USD mức tăng bình quân hàng năm là 50% Tốc độ tăng vốn FDI cao hơn tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu (thời kỳ 1990-1994 là 23,3%) điều này phù hợp với xu hướng phát triển quan hệ kinh tế quốc tế hiện nay Tốc

độ của dòng FDI đạt được ngày càng lớn chứng tỏ rằng các nhà đầu tư đã nhận ra được một miền đất hứa nhiều lợi nhuận và an toàn

Nhưng đến năm 2000,do tốc độ phát triển của nền kinh tế quốc nội có phần chậm lại cùng với ngòi nổ của cuộc khủng hoảng khu vực, FDI đã bắt đầu chững lại và suy

Trang 29

giảm Thật vậy, năm 2000 tổng vốn FDI đăng ký là 8,6 tỷ USD (tăng 31%so với năm 1999) với quy mô trung bình một dự án là 26,6 triệu USD thì đến năm 2002 tổng vốn đăng ký đã giảm mạnh chỉ còn 4,6 tỷ USD và 13,4 triệu USD bình quân một dự án, cho

dù vào thời điểm của năm 1996 có hai dự án là khu đô thị Nam Thăng Long và An Phú với số vốn khoảng 1 tỷ USD và một trong hai dự án này đã không triển khai được vào năm 2002 Nếu so 2002 số dự án duyệt năm 2003 chỉ bằng 85,36%, năm 2000 chỉ bằng 90,14% Só liệu tương ứng của vốn đăng ký là 87,22 và 33,69% Nếu theo số lượng vốn đăng ký thì quy mô dự án bình quân của thời kỳ 1992-2003 là 12,71 triệu USD/1 dự án

So với một số nước ở thời kỳ này không phải là thấp Nhưng vấn đề đang quan tâm ở đây

là quy mô dự án theo vốn đang ký bình quân của năm 2003 lại nhỏ đi một cách đột ngột

và ở mức thấp nhất từ trước tới nay (5,04 triệu USD/1 dự án) Quy mô dự án theo vốn đăng ký bình quân của năm 2003 chỉ bằng 39,65% quy mô bình quân của thời kỳ 1992-

2003 và chỉ bằng 21,29% quy mô bình quân một dự án của năm cao nhất, năm 2000) Điều này cho thấy, trong một chừng mực nhất định, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng khá nặng nề của cuộc khủng hoảng khu vực Khi mà khoảng 70% vốn FDI vào Việt Nam là xuất phát từ các nhà đầu tư Châu á và nguyên nhân khác cũng không kém phần quan trọng là sự giảm sút về khả năng hấp dẫn do điều kiện nội tại của nền kinh tế Việt Nam

Năm 2003, trong bối cảnh nền kinh tế và nhất là các nước Châu á mới ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính nhưng nước ta vẫn thu hút được 298 dự án với vốn đăng ký là 1.548 triệu USD là một thành công đáng ghi nhận Sự thành công không dừng lại ở số dự án và số vốn đăng ký mà còn thể hiện rõ nét ở các góc độ khác: Năm 2003 so với năm 2002, tuy số vốn đăng ký chỉ bằng 44,29% nhưng tỷ lệ thực hiện vốn cao hơn hẳn 98,13% so với 50,19% Như vậy, nếu xét suốt thời kỳ 1992-2003 thì năm 1999 có thể xem là đỉnh cao về thu hút FDI của Việt Nam (cả về dự án, vốn đăng ký và vốn thực hiện)

Trong thời kỳ 2000-2004 tổng vốn FDI thực hiện đạt 12,2 tỷ USD Trong 5 năm tới phấn đấu để vốn FDI thực hiện đạt mức cao hơn so với 5 năm trước Điều này có khả năng trở thành hiện thực khi xem xét diễn biến và xu hướng của lĩnh vực FDI trong thời gian tới

Trước hết, trong số 2.620 dự án FDI được cấp giấy phép trước năm 2005 và còn hiệu lực thì hiện vẫn còn tới 1.300 dự án với tổng vốn đăng ký 17,6 tỷ USD đang trong

Trang 30

số vốn thực hiện của nhóm dự án này trong thời kỳ 2005-2009 cũng có thể bằng hoặc vượt mức kế hoạch trong thời kỳ trước

Ba là, số vốn thực hiện của những dự án mới được cấp giấy phép kể từ năm 2005

có thể đạt khoảng 4 tỷ USD như tiến độ thực hiện ở thời kỳ trước Như vậy, cộng ba nguồn vốn này lại thì tổng vốn FDI thực hiện trong thời kỳ 2005-2009 có thể đạt trên 13

tỷ USD

Năm 2004 và 2005 bắt đầu xuất hiện dấu hiệu phục hồi, năm 2004 với số vốn đăng ký đạt 1.985 triệu USD tăng 28,2% so với năm 2003, trong đó có dự án đường dẫn khí Nam Côn Sơn số vốn đăng ký 1 tỷ USD được cấp giấy phép trong tháng 12 là lớn nhất Đây cũng là dự án lớn thứ hai trong vòng ba năm nay, sau dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất (1,8 tỷ USD) Trong ba tháng đầu năm 2001 cả nước đã có thêm 83 dự án có vốn FDI được cấp giấy phép, với tổng vốn đăng ký đạt 273 triệu USD Điểm khả quan nhất mà kết quả thống kê này cho thấy là số vốn FDI được cấp giấy phép trong quý I vừa qua đã tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2000 và số dự án tăng 16,9% Tính riêng trong tháng ba năm nay đã có thêm 20 dự án có vốn FDI được cấp giấy phép với tổng vốn đăng

ký là 1.413 triệu USD, trong đó dự án lớn nhất là của Metro Cash và Carry GmHI với

120 triệu USD vốn đăng ký Tình hình thu hút FDI quý I/2001 có những dấu hiệu phục hồi dưới tác động của các chính sách mới do Nhà nước ban hành gần đây trong ddó có những nỗ lực liên tiếp kể từ sau khi luật sửa đổi luật đầu tư nước ngoài được thông qua vào ngày 9/6/2000, Nghị định 24/2000/ND-CP Thông tư 12/2000/TT/BKH Có thể kể tới cuộc thành công của hội thảo "cùng hướng tới thành công" tổ chức tại Hà Nội và Singapore

Tuy nhiên, những con số trên đây mới chỉ nói lên được số lượng vốn đầu tư mới

và vốn đưa vào thực hiện, còn những yếu tố quan trọng như cơ cấu đầu tư (theo ngành, vùng, đối tác đầu tư và hình thức đầu tư thì sao?)

Ngày đăng: 19/12/2015, 18:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tổng sản phẩm trong nước (GDP) của một số - LUẬN văn   phân tích thống kê thực trạng và hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1992 2004
Bảng 1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tổng sản phẩm trong nước (GDP) của một số (Trang 10)
Bảng 2: FDI vào Việt Nam phân theo ngành trong hai năm 2003-2004 - LUẬN văn   phân tích thống kê thực trạng và hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1992 2004
Bảng 2 FDI vào Việt Nam phân theo ngành trong hai năm 2003-2004 (Trang 31)
Bảng 3: 10 tỉnh và thành phố dẫn đầu trong thu hút FDI từ năm 1992 đến 31/12/2004 - LUẬN văn   phân tích thống kê thực trạng và hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1992 2004
Bảng 3 10 tỉnh và thành phố dẫn đầu trong thu hút FDI từ năm 1992 đến 31/12/2004 (Trang 32)
Bảng 5: 10 nước dẫn đầu trong đầu tư vào VN năm 2003-2004 - LUẬN văn   phân tích thống kê thực trạng và hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1992 2004
Bảng 5 10 nước dẫn đầu trong đầu tư vào VN năm 2003-2004 (Trang 36)
Bảng 7: Cơ cấu vốn đầu tư của Việt Nam thời kỳ 1995-2004 - LUẬN văn   phân tích thống kê thực trạng và hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1992 2004
Bảng 7 Cơ cấu vốn đầu tư của Việt Nam thời kỳ 1995-2004 (Trang 39)
Bảng 8: Tỷ lệ đóng góp FDI trong GDP - LUẬN văn   phân tích thống kê thực trạng và hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1992 2004
Bảng 8 Tỷ lệ đóng góp FDI trong GDP (Trang 41)
Bảng 9: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1994-1999 - LUẬN văn   phân tích thống kê thực trạng và hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1992 2004
Bảng 9 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1994-1999 (Trang 42)
Bảng 11: Tỷ lệ đóng góp FDI trong kim ngạch xuất khẩu - LUẬN văn   phân tích thống kê thực trạng và hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1992 2004
Bảng 11 Tỷ lệ đóng góp FDI trong kim ngạch xuất khẩu (Trang 46)
Bảng 12:Đóng góp của FDI vào ngân sách - LUẬN văn   phân tích thống kê thực trạng và hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1992 2004
Bảng 12 Đóng góp của FDI vào ngân sách (Trang 48)
Bảng 14: Số lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn FDI - LUẬN văn   phân tích thống kê thực trạng và hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1992 2004
Bảng 14 Số lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn FDI (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w