DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Các loại rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng 15 Sơ đồ 2.1 Mô hình kinh doanh và quản lý rủi ro được chuyên Quyền nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2007
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRỊNH THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI - 2007
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Do những điều kiện khách quan cá nhân và thời gian hạn chế nên em
đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình viết và hoàn tất luận văn Tuy nhiên, với sự giúp đỡ nhiệt tình, tận tâm của cô giáo hướng dẫn - TS Trịnh Thị Thu Hương, của các thầy cô công tác tại phòng đọc, phòng mượn Thư viện Trường Đại học Ngoại Thương và của đồng nghiệp, bạn bè, em đã hoàn tất luận văn
Thông qua bản luận văn với mục Lời cảm ơn ngắn gọn này em xin gửi lời cảm ơn chân thành, lời biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn, các thầy cô và toàn thể các đồng nghiệp, bạn bè
Hà Nội, ngày tháng năm 2007 Học viên
Đỗ Thị Ngọc
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan quyển luận văn với đề tài: "Quản lý rủi ro trong
kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế " này là công trình nghiên cứu của riêng em
Kết quả nghiên cứu em có được trên cơ sở học hỏi, tiếp thu và tham khảo từ sách, báo, tạp chí, mạng internet, từ luận văn của các anh chị khóa trước và qua thực tế kinh nghiệm công tác
Do thời gian nghiên cứu hạn chế, năng lực học viên có hạn nên bản luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và bất cập, kính mong các thầy cô giáo, các bạn đọc góp ý để bản luận văn của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.2 Quyết định tín dụng theo điểm số của khách hàng 23
Bảng 1.3 Bảng điểm tín dụng áp dụng cho các doanh nghiệp vừa 24
và nhỏ
Bảng 1.4 Xếp loại và tỷ lệ % dự báo nợ quá hạn căn cứ trên số điểm 25
Bảng 2.1 Bảng cơ cấu và đầu tư tín dụng trong các ngành
39
Bảng 3.1 Báo cáo kết quả cho vay bất động sản 6 tháng đầu năm 84
hoặc cả năm
Bảng 3.2 Báo cáo phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi 85
ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Các loại rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng 15
Sơ đồ 2.1 Mô hình kinh doanh và quản lý rủi ro được chuyên
Quyền nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ các thể nhân
Việt Nam của một chi nhánh Ngân hàng nước ngoài
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
"Các Ngân hàng kinh doanh bằng chính việc quản lý rủi ro Thuần nhất và đơn giản, đó chính là nghề của Ngân hàng" (Câu nói của Ông Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Tổng giám đốc Citi Corp, 1970 - 1984)
Kinh doanh là một nghiệp vụ chủ yếu của các Ngân hàng nói chung
và của các Ngân hàng thương mại Việt Nam nói riêng Các nghiệp vụ kinh doanh Ngân hàng đạt được thành công không phải là dựa trên việc đưa ra các khoản vay, các mức lãi suất hay các dịch vụ hoàn hảo, mà là dựa trên việc tối thiểu hoá rủi ro trong việc thực hiện các dịch vụ đó Trên thực tế mọi hoạt động kinh doanh đều tiềm ẩn rủi ro, chỉ khác nhau ở mức
độ của rủi ro Do vậy, sự sống còn và khả năng cạnh tranh của Ngân hàng phụ thuộc hầu hết vào khả năng của họ trong việc quản lý các rủi ro trong các hoạt động kinh doanh
Qua đây cho thấy Quản lý rủi ro nói chung trong các sản phẩm kinh doanh ngân hàng rất quan trọng đối với một Ngân hàng thương mại Thực
tế hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại cho thấy quản lý rủi ro các hoạt động kinh doanh ngân hàng đã được quan tâm nhưng mức
độ còn hạn chế và chưa cụ thể hoá được những nội dung của quản lý rủi ro… Đây là mối quan tâm, là vấn đề bức xúc của các Ngân hàng Thương mại trong điều kiện nền kinh tế thị trường và trước xu thế toàn cầu hoá
Vì những lý do trên đây, em chọn đề tài: "Quản lý rủi ro trong
kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế"
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 82
Đề tài quản lý rủi ro trong kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã có khá nhiều các tác giả đề cập và nghiên cứu, song hầu hết các tác giả đều nghiên cứu một cách khái quát, tổng thể, các giải pháp đưa ra đều là các giải pháp chung chung, có thể áp dụng cho toàn
bộ các ngân hàng trên thế giới hoặc chỉ nghiên cứu tập trung vào một nội dung chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng Chẳng hạn, giáo trình "Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng" của PGS, TS Nguyễn Văn Tiến; luận văn mã số LV.01046, Thư viện Trường đại học Ngoại thương Hà Nội, với
đề tài "Quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại Việt Nam"
Với những kiến thức đã học và bằng thực tế kinh nghiệm công tác, qua đề tài lựa chọn ở trên, em muốn đưa ra các thực trạng của vấn đề quản
lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cụ thể tại Việt Nam và hệ thống lại các giải pháp để quản lý rủi ro một số nghiệp vụ chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý rủi ro trong kinh doanh của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam và đi sâu nghiên cứu
ưu, nhược điểm của các biện pháp Việt Nam đã và đang áp dụng để quản lý các rủi ro trên
Trên cơ sở thực tiễn và lý luận, đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy quản
lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Quản lý rủi ro trong kinh doanh của
hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc
tế
Trang 93
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: tập trung phân tích quản lý rủi ro trong kinh doanh một số sản phẩm chủ yếu và các biện pháp quản lý chúng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng kết hợp một số phương pháp: phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp phân tích tài liệu, tổng hợp, thống kê
6 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý rủi ro trong kinh
doanh ngân hàng
- Phân tích ưu, nhược điểm của các biện pháp đã và đang áp dụng để
quản lý rủi ro các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp trong quản lý rủi ro các nghiệp vụ chủ yếu
trong kinh doanh ngân hàng nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng đáp ứng yêu cầu hội nhập
Trang 10tệ lên toàn bộ nền kinh tế
Lý do tiếp theo làm cho ngân hàng trở nên đặc biệt là vì các ngân hàng là nguồn chính để tài trợ, cung cấp tín dụng cho một số lĩnh vực nhất định được xác định là có nhu cầu đặc biệt về vốn Vì vậy, ở hầu hết các quốc gia, những nhà làm chính sách luôn xác định các lĩnh vực cần được trợ giúp về vốn, như đối với người nghèo, hoặc một số ngành nghề thuộc các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Ngân hàng còn đem lại lợi ích trực tiếp cho nền kinh tế thông qua tính hiệu quả của các dịch vụ thanh toán Ngày nay, cùng với sự phát triển của
Trang 115
dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, vai trò của ngân hàng càng trở nên quan trọng Bất kỳ một sự trục trặc nào trong hệ thống thanh toán của ngân hàng cũng đủ để gây ra sự bế tắc và thiệt hại cho nền kinh tế
1.1.1.2 Khái niệm rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Danh từ “rủi ro” đã được nhiều nhà kinh tế học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Frank Knight, một học giả người Mỹ định nghĩa: "rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được"[29] Allan Willet cho "rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi"[30] Một học giả khác người Anh là Marilic Hurt Mr Carty quan niệm "rủi ro là một tình trạng trong đó biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được"[28] Theo ông "kinh nghiệm hoạt động của một doanh nghiệp có thể cung cấp chứng cứ của tần số các biến cố riêng biệt trong quá khứ và do đó cho phép nhà quản trị doanh nghiệp xác định được phân bố xác suất xuất hiện các biến cố trong tương lai" Như vậy, các định nghĩa tuy có những mặt khác nhau nhưng đều thống nhất một nội dung, coi rủi ro là sự bất trắc không mong đợi gây ra mất mát, thiệt hại và có thể đo lường được
Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, do vậy những rủi
ro đối với hoạt động ngân hàng cũng vì thế mà mang tính đặc thù Ví dụ, rủi
ro trong hoạt động tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của các khoản vay[26]
1.1.2 Những rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng
1.1.2.1 Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra những tổn thất cho ngân hàng khi lãi suất thay đổi ngoài dự tính [7]
Quá trình chuyển hóa tài sản bao gồm việc mua các chứng khoán sơ cấp, tức là sử dụng vốn và phát hành các chứng khoán sơ cấp, tức là huy động vốn
Kỳ hạn và độ thanh khoản của các chứng khoán sơ cấp trong danh mục đầu tư
Trang 126
thuộc tài sản có thường không cân xứng với các chứng khoán thứ cấp thuộc tài sản nợ Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất
Giả sử lãi suất huy động vốn là 9%/năm và lãi suất đầu tư là 10%/năm Sau năm thứ nhất bằng cách vay ngắn hạn 1 năm và cho vay dài hạn 2 năm, ngân hàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 1% Tuy nhiên, lợi nhuận của năm thứ hai chưa biết trước là bao nhiêu cho nên sẽ là một số không chắc chắn Nếu lãi suất thị trường không thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai thì ngân hàng có thể tái tài trợ tài sản nợ với mức lãi suất không thay đổi là 9% Như vậy, lợi nhuận thu được năm thứ hai cũng sẽ bằng năm thứ nhất là 1% Tuy nhiên, lãi suất thị trường có thể thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai nên ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về thay đổi lãi suất Giả sử sang năm thứ hai ngân hàng chỉ có thể huy động vốn theo mức lãi suất thị trường hiện hành là 11%, tức là năm thứ hai ngân hàng chịu lỗ -1% Như vậy, lợi nhuận của năm thứ nhất chỉ đủ bù đắp khoản lỗ của năm thứ hai Tóm lại, trong mọi trường hợp nếu ngân hàng duy trì tài sản có có kỳ hạn dài hơn so với tài sản nợ thì ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản nợ Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn
bổ sung trong những năm tiếp theo tăng lên trên mức lãi suất đầu tư tín dụng dài hạn
Trong trường hợp ngược lại, ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài và đầu
tư có kỳ hạn ngắn thì tương tự như trên ngân hàng vẫn có thể gặp phải rủi ro về lãi suất tái đầu tư trong trường hợp tài sản có có kỳ hạn ngắn hơn so với tài sản nợ Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có, thì khi lãi suất thị trường thay đổi ngân hàng còn có thể gặp phải rủi ro giảm giá trị tài sản Nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống
Trang 137
Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản có và tài sản nợ
sẽ tăng lên Do đó, nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân xứng với nhau, ví dụ tài sản có có kỳ hạn dài hơn tài sản nợ, thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn nhiều hơn so với sự giảm giá trị của tài sản nợ Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro
về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại về tài sản của ngân hàng
Như vậy, nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản có và tài sản nợ với những
kỳ hạn không cân xứng với nhau, thì phải chịu những rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản có và tài sản nợ; hoặc rủi ro về lãi suất do giá trị của tài sản thay đổi khi lãi suất thị trường biến động
1.1.2.2 Rủi ro ngoại hối
Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính [7]
Một lợi ích tiềm tàng của ngân hàng ngày càng tăng là khả năng mở rộng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài hoặc là mở rộng danh mục đầu tư gián tiếp bằng cách nắm giữ các chứng khoán ghi bằng ngoại tệ bên cạnh các chứng khoán ghi bằng nội tệ Để thấy được rủi ro hối đoái phát sinh như thế nào, chúng ta giả sử một ngân hàng Việt Nam cấp tín dụng bằng USD cho khách hàng của mình Khi đồng USD giảm giá so với VND, thì gốc và lãi của khoản cho vay bằng USD thu về sẽ bị giảm khi quy thành VND Thậm chí trong trường hợp nếu USD giảm giá đáng kể, thì gốc và lãi khi chuyển đổi sang VND có thể là thấp hơn số tiền gốc đầu tư ban đầu, do đó kết quả đầu tư sẽ là âm Nghĩa là khi chúng ta chuyển đổi gốc và lãi từ USD sang VND, thì số tiền lãi thu được chưa
đủ để bù đắp rủi ro hối đoái
Tuy nhiên, các ngân hàng có thể nắm giữ tài sản có hoặc phát hành chứng chỉ tài sản nợ bằng ngoại tệ Chẳng hạn, ngân hàng có thể cho vay bằng USD và huy động vốn bằng USD Nhưng nếu ngân hàng cho vay bằng
Trang 148
USD nhiều hơn vốn huy động bằng USD nghĩa là ngân hàng nắm giữ nhiều tài sản có bằng ngoại tệ hơn là tài sản nợ bằng ngoại tệ Do đó, ngân hàng có thể gặp rủi ro về hối đoái trong trường hợp USD giảm giá so với VND, khi đó
sự giảm giá của tài sản có bằng USD sẽ nhiều hơn so với sự giảm giá của tài sản nợ bằng USD khi quy thành VND
Trường hợp ngược lại, nếu ngân hàng có vốn huy động bằng USD nhiều hơn tài sản có bằng USD, ngân hàng có thể gặp rủi ro hối đoái nếu USD lên giá
so với VND Điều này xảy ra là vì giá trị cả gốc và lãi phải trả cho vốn huy động bằng USD quy thành VND sẽ tăng nhanh hơn so với giá trị gốc và lãi thu được
từ đầu tư bằng USD Như vậy, để có thể phòng ngừa rủi ro hối đoái, ngân hàng phải làm cân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ đối với mỗi loại ngoại tệ trong bảng cân đối tài sản Việc làm cân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ đối với mỗi loại ngoại tệ phải được thực hiện cho cả hai khía cạnh về số lượng và kỳ hạn thì mới có thể phòng ngừa được rủi ro tỷ giá và rủi ro lãi suất ngoại tệ một cách triệt
để
1.1.2.3 Rủi ro tín dụng
"Rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của các khoản vay"[26] Hay rủi ro tín dụng còn được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời gian đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng "Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ, và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng"[4]
Các khái niệm trên đây đều đưa ra một cách hiểu chung về rủi ro tín
dụng đó là những tổn thất do khách hàng không có khả năng thanh toán
Trang 15Sự phân bổ lợi tức đối với rủi ro tín dụng đặt ra cho ngân hàng là phải giám sát và thu thập được những thông tin về công ty mà ngân hàng đã đầu
tư Nghĩa là chiến lược quản lý rủi ro tín dụng cùng với việc quản lý công ty
có hiệu quả có ảnh hưởng đến xác suất phân bổ rủi ro trong việc thu hồi tín dụng Một trong những lợi thế của ngân hàng so với những nhà đầu tư riêng lẻ
là khả năng đa dạng hóa danh mục đầu tư của ngân hàng là rất lớn, và thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư thì rủi ro tín dụng giảm đáng kể
Từ khái niệm trên đây ta có thể phân rủi ro tín dụng thành các loại sau:
- Loại 1: Rủi ro đọng vốn: Đó là rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn (default) trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay Sự sai hẹn này là do trễ hạn (Delayed payment)
- Loại 2: Rủi ro mất vốn: Đó là rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn (default) trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay Sự sai hẹn này là do không thanh toán (nonpayment)
Rủi ro tín dụng gây ra những ảnh hưởng xấu đối với hoạt động của các ngân hàng nói riêng và đối với cả nền kinh tế nói chung:
Đối với nền kinh tế: Ngân hàng hoạt động như các trung gian tài chính giữa người gửi và người vay, chúng khuyến khích tiết kiệm bằng các biện pháp thu hút và huy động vốn thông qua các dạng tài khoản khác nhau trên
Trang 1610
một mạng lưới chi nhánh rộng khắp, đồng thời đưa số vốn này vào sử dụng có hiệu quả mà chủ yếu là hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp, cá nhân dưới hình thức cho vay Việc hỗ trợ tài chính đã khuyến khích sản xuất, tạo thêm việc làm, tăng sản lượng và giảm nhập khẩu hàng hoá Mặt khác việc cho khách hàng cá nhân vay sẽ khuyến khích tăng nhu cầu về hàng hoá và điều này sẽ giúp cho việc tăng cường sản xuất Ngân hàng có thể tạo tiền qua việc cấp cho khách hàng những khoản vay để mua hàng hoá, vì việc chi trả cho các hàng hoá này thực sự tạo ra một khoản tiền mới khi tiền được chuyển vào tài khoản của người bán Vì thế bằng việc cấp một khoản vay ứng trước, một khoản tiền gửi ngân hàng đã được tạo ra, quá trình này được gọi là tạo tiền qua tín dụng Mọi người dân đều chịu tác động của ngân hàng , dù họ là khách hàng gửi tiền, một người vay hay đơn giản là người đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng các dịch vụ ngân hàng Như vậy kinh doanh tín dụng có vai trò vô cùng to lớn trong nền kinh tế, điều này cho thấy nếu kinh doanh tín dụng gặp rủi ro thì sẽ có ảnh hưởng rất xấu đối với nền kinh
tế
Đối với hoạt động của một ngân hàng:
+ Rủi ro tín dụng làm suy giảm uy tín của ngân hàng: Một ngân hàng
có rủi ro tín dụng lớn là một ngân hàng hoạt động tồi, tình hình đó bị báo chí nêu làm cho dân chúng thiếu lòng tin và như vậy khó lòng có thể huy động được nguồn vốn dồi dào Các ngân hàng nước ngoài cũng vì thế mà hạn chế thiết lập quan hệ, không cấp các hạn mức tín dụng, không mở quan hệ đại lý
+ Rủi ro tín dụng làm cho khả năng thanh toán của ngân hàng giảm sút: Các khoản tín dụng có rủi ro khiến cho việc hoàn trả gặp khó khăn, trong lúc đó các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm của dân cư vẫn phải thanh toán đúng kỳ hạn Trong lúc không huy động được nguồn vốn dồi dào do
Trang 17+ Rủi ro tín dụng có thể dẫn đến phá sản: Nếu những tác động của rủi ro tín dụng trên 3 phương diện nêu trên không được khắc phục và cứ phát triển đến một độ nào đó sẽ đẩy ngân hàng đến chỗ phá sản
1.1.2.4 Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá khả năng thanh khoản dự kiến làm gia tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản hoặc làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán[7] Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút tiền ở ngân hàng ngay lập tức Trong những trường hợp như vậy, thì ngân hàng phải đi vay bổ sung nguồn vốn thanh toán hoặc phải bán tài sản có của mình để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền Trong cơ cấu tài sản
có thì tiền mặt có độ thanh khoản cao nhất, do đó trước hết ngân hàng sử dụng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng Bởi vì tiền mặt tại quỹ không mang lại thu nhập lãi suất, cho nên trong những trường hợp bình thường, ngân hàng chỉ duy trì một lượng tiền mặt ở mức tối ưu đủ để đáp ứng nhu cầu rút tiền thường xuyên của người gửi tiền mà không gây ảnh hưởng đến độ thanh khoản của ngân hàng Ngân hàng có thể làm được điều này, bởi
vì qua kinh nghiệm công tác ngân quỹ hàng ngày ngân hàng có thể dự tính chính xác nhu cầu rút tiền gửi hàng ngày và trong trường hợp thiếu hụt tiền
Trang 18bổ sung tăng lên một cách đáng kể do lượng vốn cung ứng trên thị trường giảm Hậu quả là, ngân hàng phải bán một số tài sản có độ thanh khoản thấp
để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi Điều này khiến cho ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản nghiêm trọng và ngân hàng buộc phải bán thốc bán tháo tức thời ngay cả số tài sản khó chuyển nhượng với giá rẻ mạt vì ngân hàng không có đủ thời gian để tìm người mua cũng như điều kiện thương lượng về giá cả Do bán khẩn cấp một số tài sản với giá thấp khiến cho khả năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng bị đe dọa Trong số tài sản có độ thanh khoản thấp bao gồm các khoản tín dụng cấp cho các công ty nhỏ Trong trường hợp rủi ro thanh khoản ngày càng nghiêm trọng, nếu tất cả những người gửi tiền đồng loạt yêu cầu ngân hàng chi trả toàn bộ tiền gửi của họ thì dẫn đến ngân hàng chỉ đang từ chỗ phải đối phó với rủi ro thanh khoản đến chỗ phải đối mặt với rủi ro phá sản Như vậy, rủi ro thanh khoản ở mức độ nghiêm trọng là một trong những nguyên nhân dẫn đến phá sản của các ngân hàng
1.1.2.5 Rủi ro trong các phương thức thanh toán quốc tế
Trong số các nghiệp vụ ngoại bảng, thì thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam là nghiệp vụ quan trọng nhất, có tốc độ tăng trưởng mạnh, mang lại cho ngân hàng khoản thu phí ngày một tăng; thông qua nghiệp
Trang 19Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu mà các tổ chức, doanh nghiệp thường xuyên sử dụng với sự trợ giúp của ngân hàng là phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ
1.2 Quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
1.2.1 Khái niệm quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
- Khái niệm 1: Quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là việc sử dụng đồng thời các công cụ, kỹ thuật và quy trình cần thiết để thực hiện chiến lược kinh doanh các sản phẩm ngân hàng
- Khái niệm 2: Quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng đó là quá trình xác định, đo lường rủi ro; Đưa ra các biện pháp quản lý rủi ro; Thực hiện quá trình kiểm soát rủi ro và báo cáo
1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Quản lý rủi ro nói chung được xác định là một loạt các chính sách được ban hành nhằm theo dõi các giao dịch và các hoạt động có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của ngân hàng, và đề ra các biện pháp hữu hiệu để xác định, kiểm soát và giảm thiểu được những rủi ro này Như vậy, quản lý rủi ro và đặc biệt là quản lý rủi ro trong các hoạt động kinh doanh ngân hàng giúp bảo vệ ngân hàng, các cổ đông và người gửi tiền
Trang 2014
Có một cách nói khác nữa về quản lý rủi ro đó là: Quản lý rủi ro là quá trình chấp nhận rủi ro có sự tính toán trước Chấp nhận rủi ro là trung tâm của hoạt động ngân hàng Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro - lợi nhuận nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà Ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng Tại Việt nam hiện nay ngành kinh doanh ngân hàng đang phát triển hết sức nhanh chóng Sự phát triển này đồng nghĩa với việc các ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc làm trung gian giữa người tiết kiệm tiền và người đi vay tiền, các ngân hàng cạnh tranh với nhau thông qua việc cung cấp các dịch vụ, tiện ích cho khách hàng Để đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng, tạo ra những thuận lợi để cạnh tranh với các ngân hàng khác, các ngân hàng thương mại phải chấp nhận rủi ro, tuy nhiên chấp nhận ở mức
độ nào lại là một câu hỏi, điều này cần phải có quản lý rủi ro trong các hoạt động kinh doanh ngân hàng
Xu hướng của các ngân hàng hiện đại là chuyên môn hoá, là giao dịch một cửa, tức là có người thì chuyên bán hàng, nhiệm vụ của họ là bán được càng nhiều càng tốt, tức là cho vay càng nhiều càng tốt, như vậy họ có thể bỏ qua những yếu tố, chi tiết cần thiết khi quyết định một khoản vay, dẫn đến rủi ro Một tâm lý thường thấy là giữa cán bộ ngân hàng và khách hàng thường có mối quan hệ thân thiết do quá trình quan hệ lâu dài, mối quan hệ này là đương nhiên
vì có như vậy họ mới hiểu khách hàng và cung cấp các sản phẩm phù hợp, chính
sự thân thiết này đôi khi họ bỏ qua những chi tiết cho là không cần thiết nhưng lại có thể gây ra rủi ro, ví dụ như thiếu một vài giấy tờ, thiếu một vài thông tin
Do vậy cần phải có bộ phận kiểm soát những người bán hàng này, đây là một phần của quản lý rủi ro các sản phẩm trong kinh doanh ngân hàng nói chung
Trang 2115
Các sản phẩm kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt nam hiện nay hầu hết đều chịu ảnh hưởng rất lớn bởi môi trường kinh doanh, chu kỳ, ngành kinh tế , do vậy cần phải có sự nghiên cứu đánh giá để hạn chế các rủi
ro có thể phát sinh
Dù có các biện pháp hữu hiệu đến đâu để giảm thiểu rủi ro thì rủi ro vẫn
có thể xảy ra, do vậy cần phải có dự phòng đủ vốn cho những rủi ro này để tránh sự sụp đổ của ngân hàng, đây cũng là một trong những nội dung quan trọng của quản lý rủi ro trong các hoạt động kinh doanh ngân hàng
Qua những lý do trên đây ta thấy quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là thực sự cần thiết đối với các ngân hàng thương mại hiện nay
1.2.3 Nội dung quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
1.2.3.1 Phân tích xác định rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Người quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng phải phân tích và xác định được loại rủi ro dẫn đến tổn thất cho ngân hàng, trên cơ sở đó đưa ra các biên pháp quản lý rủi ro phù hợp Ví dụ, với hoạt động phổ biến và tạo ra tới 50% tổng tài sản có cho ngân hàng như hoạt động tín dụng thì thông thường rủi ro đối với hoạt động tín dụng được xác định có các loại sau đây:
Sơ đồ1.1: Các loại rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng
Nguồn: theo Joel Bessis, Risk Management in Banking [26]
RỦI RO TÍN DỤNG
Rủi ro danh mục Rủi ro giao dịch
Rủi ro bảo đảm
Rủi ro Nghiệp vụ
Lựa chọn
Rủi ro Tập trung Rủi ro
Nội tại
Trang 22nợ cho vay được dồn cho một khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một số loại cho vay hoặc một khu vực địa lý Rủi ro này thường phát sinh đối với các trường hợp cho vay tổng công ty bao gồm nhiều công ty con trực thuộc hay cho vay tập trung quá nhiều vào một ngành kinh tế, chẳng hạn ngành kinh doanh gỗ nhập khẩu Bất kỳ một ảnh hưởng có chiều hướng xấu nào đến ngành nghề kinh doanh làm suy giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp đều có thể ảnh hưởng đến tình hình thanh toán nợ của các doanh nghiệp cho ngân hàng Phản ứng mang tính dây chuyền này sẽ gây ra tình trạng nợ xấu, nợ khó đòi với
tỷ lệ cao cho ngân hàng do tập trung cho vay quá nhiều các doanh nghiệp kinh doanh gỗ
Rủi ro giao dịch có 3 thành phần: Rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi
ro nghiệp vụ Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến thẩm định và phân tích tín dụng Rủi ro này có nguyên nhân chủ yếu từ năng lực và trình độ nghiệp
vụ của cán bộ tín dụng Cán bộ tín dụng sau khi nhận hồ sơ từ khách hàng sẽ tiến hành thẩm định, đánh giá, phân tích về từ cách pháp nhân, năng lực pháp
lý, về ngành nghề kinh doanh, công tác và khả năng tài chính của khách hàng
Trang 2317
Những yếu tố này có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định có cho vay hay không Bất kỳ một sự đánh giá sai, lệch lạc nào của cán bộ tín dụng đều
có thể dẫn đến rủi ro mất vốn cho ngân hàng
Rủi ro bảo đảm xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng vay, các loại tài sản đảm bảo và mức an toàn của nó Trong trường hợp khách hàng vay có biểu hiện chậm trả, chậm thanh toán nợ hoặc
có thái độ không hợp tác với ngân hàng trong việc trả nợ vay thì lúc đó nguồn trả nợ phụ là tài sản đảm bảo được xem xét tới Hợp đồng tín dụng là cơ sở pháp lý về quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến món vay Ngân hàng có quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ Tài sản đảm bảo là nhà đất có độ an toàn cao hơn so với tài sản đảm bảo là xe, máy móc hay hàng hóa Thực tế đã có nhiều ngân hàng cho vay mua ô tô trả góp với tài sản đảm bảo là chính chiếc xe hình thành từ vốn vay và đã có rủi ro khách hàng bán chiếc xe - tài sản đảm bảo đó đi mà ngân hàng không kiểm soát được
Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay như xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng để định hướng cho việc thực hiện cho vay và kiểm soát danh mục cho vay, bao gồm cả việc sử dụng xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề Một ngân hàng hoạt động tốt
là ngân hàng có quy trình hoạt động rõ ràng, có hệ thống báo cáo, xếp hạng rủi ro chặt chẽ và có bộ phận xử lý nợ có chuyên môn Thực tế nhiều ngân hàng thương mại có quy mô còn nhỏ vẫn chưa có bộ phận xử lý nợ mà toàn
bộ các công việc này đều do cán bộ tín dụng đảm nhiệm Quy trình cho vay đối với một số sản phẩm mới còn chưa rõ ràng, thậm chí còn chưa có Những yếu tố này dẫn đến tình trạng cho vay sai so với quy định của ngân hàng Nhà nước và nguy cơ mất vốn cho ngân hàng
Trang 2418
Như vậy, để quản lý tốt các rủi ro trong kinh doanh ngân hàng trước hết người quản lý rủi ro phải phân tích và xác định được rủi ro có thể phát sinh trong sản phẩm kinh doanh đó là gì, nguyên nhân gây ra những rủi ro và bản chất của chúng Từ đó, việc tìm ra những biện pháp khắc phục mới thực sự hữu hiệu
1.2.3.2 Đánh giá và đo lường rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Việc đánh giá các rủi ro trong kinh doanh ngân hàng dựa vào các mô hình định tính và định lượng
- Mô hình định tính: Là phương pháp truyền thống, dựa vào đánh giá
chủ quan của cán bộ ngân hàng căn cứ vào việc trả lời một số câu hỏi để phân loại khách hàng, cụ thể như sau:
*Khách hàng loại A
Về chất lượng quản lý, là khách hàng có uy tín rộng khắp, đội ngũ cán
bộ quản lý có kinh nghiệm, chuyên nghiệp, hoạt động hiệu quả và thực sự có năng lực
Về tình hình tài chính, có chất lượng thông tin tài chính tốt, lành mạnh, các tài khoản được kiểm toán tuyệt đối do các kiểm toán viên quốc tế đảm nhiệm và thường xuyên có số dư tiền gửi lớn tại ngân hàng Doanh thu của công ty luôn ở mức cao và có tốc độ tăng trưởng liên tục Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu thấp, các tài sản cố định có giá trị thực Khả năng thanh toán nợ tốt, xu hướng đạt doanh thu lớn, dòng tiền lưu chuyển lớn và có lãi gộp, có đầy đủ các thông tin về các khoản có thể thua lỗ và không có thua lỗ và có sự
hỗ trợ rất lớn từ nhiều nguồn khác nhau
Về môi trường kinh doanh, có môi trường kinh tế chính trị-xã hội cực kỳ
an toàn và ổn định Tầm quan trọng của khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế quốc dân, có viễn cảnh kinh doanh khá thuận lợi Hoạt động kinh doanh của khách hàng chiếm thị phần khá lớn trong nội bộ ngành và có uy tín,
Trang 25cả khu vực kinh tế chính với năng lực phù hợp
Về tình hình tài chính, là khách hàng có các tài khoản được kiểm toán tuyệt đối do các kiểm toán viên đảm nhiệm, thường xuyên có tài khoản tiền gửi tuy không lớn tại ngân hàng Khách hàng có doanh thu lớn với tốc độ tăng trưởng khá, viễn cảnh tăng trưởng cao, tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu trên mức trung bình, khả năng thanh toán nợ tốt Khách hàng có xu hướng đạt doanh thu và lưu chuyển tiền tệ tích cực nhưng không đều, khả năng kiểm soát thông tin còn hạn chế, có một số khoản lỗ nhưng có thể kiểm soát được
Về môi trường kinh doanh, khách hàng có môi trường kinh doanh khá ổn định nhưng mức cạnh tranh thấp, có ý nghĩa đối với nền kinh tế có thể trong nước hoặc xuất khẩu Xu hướng phát triển khá tốt cùng với sự phát triển của nền kinh tế và có thị phần khá trong nội bộ ngành, sản phẩm, hoạt động đa dạng nhưng có thể chịu ảnh hưởng của chu kỳ
Trang 26- Mô hình định lƣợng:
Hai mươi năm trở về trước hầu hết các ngân hàng chỉ dựa duy nhất vào phương pháp truyền thống (định tính) để đánh giá các rủi ro Phương pháp truyền thống này tỏ ra vừa mất thời gian, tốn kém, lại mang tính chủ quan, chính vì vậy các ngân hàng không ngừng cải tiến phương pháp đánh giá khách hàng để ra các quyết định tài trợ Tuy nhiên nhiều ngân hàng khi cung cấp các sản phẩm cho các khách hàng là doanh nghiệp vẫn tiếp tục sử dụng chủ yếu phương pháp truyền thống để đánh giá rủi ro
Lại ví dụ đối với hoạt động tín dụng ngân hàng, ngày nay một số ngân hàng
đã sử dụng mô hình cho điểm để lượng hoá rủi ro tín dụng người vay Mô hình cho điểm tín dụng có ưu điểm so với phương pháp truyền thống ở chỗ là, nó cho phép xử lý nhanh chóng một khối lượng lớn các đơn xin vay, với chi phí thấp, khách quan, do đó góp phần tích cực trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng ngân hàng Các mô hình cho điểm tín dụng sử dụng số liệu phản ánh những đặc điểm của người vay để lượng hoá xác suất vỡ nợ cũng như phân loại người vay thành các nhóm có mức độ rủi ro khách nhau Để sử dụng các mô hình này, các nhà quản lý phải xác định được các tiêu chí về kinh tế và tài chính liên quan đến rủi ro tín dụng đối với từng nhóm khách hàng cụ thể Đối với tín dụng tiêu dùng, các tiêu chí đó có thể là thu nhập, tài sản, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và nơi ở Đối
Trang 2721
với tín dụng doanh nghiệp, thì các tiêu chí tài chính thường là các chỉ tiêu chủ yếu Sau khi các tiêu chí đã được xác định, kỹ thuật thống kê sẽ được sử dụng để lượng hoá (cho điểm) xác suất rủi ro tín dụng hoặc để phân hạng rủi ro tín dụng
Sau đây là một số mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng cơ bản thường được sử dụng nhất[18]:
+ Mô hình cho điểm số Z: Mô hình này do E.I.Altman hình thành để cho điểm tín dụng đối với các Công ty sản xuất của Mỹ (năm 1993) Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người vay
và phụ thuộc vào:
1 Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (XJ )
2 Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ
Từ đó Altman đi đến mô hình cho điểm như sau:
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3.3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
Trong đó:
X1 = tỷ số "vốn lưu động /Tổng tài sản"
X2 = tỷ số "Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản"
X3 = tỷ số "Lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/Tổng tài sản"
X4 = tỷ số "Thị giá cổ phiếu/Giá trị ghi sổ của nợ dài hạn"
X5 = tỷ số "Doanh thu/Tổng tài sản"
Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp Như vậy khi trị số Z thấp hoặc là âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy
Trang 2822
số "vốn lưu động/Tổng tài sản" (X1) và tỷ số "Doanh thu/Tổng tài sản" (X5) lại cao nên phản ánh khả năng thanh khoản và duy trì doanh số bán hàng tốt Điểm số Z sẽ là thước đo tổng hợp về xác suất vỡ nợ của khách hàng Từ các
số liệu đã cho, ta tính được điểm số Z của khách hàng là 1,64
Theo mô hình cho điểm số Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm
số Z thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy có rủi ro tín dụng cao
+ Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:
Ngày nay, nhiều ngân hàng sử dụng phương pháp cho điểm để xử lý các đơn xin vay của người tiêu dùng Thực tế nhiều tổ chức thẻ tín dụng đã sử dụng
mô hình điểm số để xử lý số lượng đơn xin yêu cầu ngày một gia tăng, những ngân hàng cũng xử dụng mô hình này để đánh giá những khoản tín dụng để mua sắm những khoản xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất động sản và kinh doanh nhỏ Nhiều khách hàng yêu thích sự thuận tiện và nhanh chóng khi những yêu cầu tín dụng của họ được xử lý bằng hệ thống cho điểm tự động Thông thường khách hàng có thể gọi điện thoại đến ngân hàng để liên hệ việc xin vay, thông qua hệ thống máy tính nói mạng, trên cơ sở dữ liệu của khách hàng, trong vòng vài phút ngân hàng có thể thông báo kết quả tín dụng cho khách hàng
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số loại tài sản cá nhân, thời gian công tác
Mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng thường sử dụng từ 7 đến 12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm từ 1 đến 10 Sau đây là những hạng mục và điểm của chúng được sử dụng ở các ngân hàng Mỹ:
Trang 2923
Bảng 1.1: Bảng cho điểm tín dụng tiêu dùng
5
2
Trang 3024
Khách hàng có điểm số cao nhất theo mô hình với 8 hạng mục nêu trên
là 43 điểm, thấp nhất là 9 điểm Giả sử ngân hàng biết rằng, mức 28 điểm là ranh giới giữa khách hàng có tín dụng tốt và khách hàng có tín dụng xấu; trên cơ sở đó ngân hàng hình thành một khung chính sách tín dụng tiêu dùng theo mô hình điểm số nh- sau:
Bảng 1.2: Quyết định tín dụng theo điểm số của khách hàng
Tổng điểm số của khách hàng Quyết định tín dụng
Nguồn: theo Nguyễn Văn Tiến (2005), Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng (xuất bản lần 2)[18]
Rõ ràng là mô hình cho điểm đã loại bỏ đ-ợc sự phán xét chủ quan trong quá trình cho vay và giảm đáng kể thời gian quyết định tín dụng của ngân hàng Tuy nhiên mô hình này cũng có một số nh-ợc điểm nh- đã không thể điều chỉnh
đựoc một cách nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và những thay đổi trong cuộc sống gia đình Một mô hình điểm số không linh hoạt
Trang 3125
có thể đe dọa đến ch-ơng trình tín dụng tiêu dùng của ngân hàng, bỏ sót những khách hàng lành mạnh, làm giảm lòng tin của cộng đồng vào dịch vụ ngân hàng
+ Bảng điểm tín dụng áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Bảng 1.3: Bảng điểm tín dụng áp dụng cho các doanh nghiệp vừa
- Giao dịch tốt trong 2 năm qua
- Đôi khi trễ hạn trả nợ
- Có một vài thay đổi trong
5 năm qua (hoặc 5 năm tới)
- Có thay đổi lãnh đạo liên
tục trong 2 năm qua (Hoặc 2 năm tới mà ng-ời kế ục không rõ)
Trang 32Bảng 1.4: Xếp loại và tỷ lệ % dự báo nợ quá hạn căn cứ trên số điểm
trong vòng 1 năm Trên 120 điểm
đổi Các ngân hàng lớn ở các n-ớc phát triển đã thiết lập nhiều mô hình chấm
điểm khác nhau cho từng loại khách hàng và từng loại vay Đối với các ngân hàng nhỏ mô hình chấm điểm chủ yếu áp dụng cho một vài nhóm khách hàng
Trang 3327
Qua các nội dụng trên đây cho thấy các mô hình định tính và định l-ợng trên đây đ-ợc áp dụng song song không loại trừ nhau
1.2.4 Nguyên tắc quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
1.2.4.1 Nguyên tắc không có rủi ro thì không có lợi nhuận
Mọi hoạt động kinh doanh đều tiềm ẩn rủi ro, rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng cao, muốn không có rủi ro thì đồng nghĩa với việc không kinh doanh và không có lợi nhuận Điểm khác nhau trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp thành đạt và không thành đạt chính là ở sự phân tích rủi ro, việc
sử dụng các biện pháp để phòng tránh rủi ro và biết chấp nhận rủi ro ở mức nào Hoạt động kinh doanh ngân hàng mà chủ yếu là kinh doanh tiền lại càng chứa đựng nhiều rủi ro hơn, do vậy việc tuân thủ các nguyên tắc quản lý rủi ro
là rất quan trọng và cần thiết
Túm lại, "khụng cú rủi ro thỡ khụng cú lợi nhuận" là việc chấp nhận rủi
ro một cỏch cú ý thức và thụng minh cần được khuyến khớch Chấp nhận rủi
ro một cỏch cú ý thức chớnh là việc tớnh toỏn xỏc định rủi ro và mức độ của
nú, để từ đú đưa ra cỏc biện phỏp hạn chế và đưa ra mức giỏ (lói suất) phự hợp, sao cho bự đắp được cỏc chi phớ (đặc biệt là chi phớ dự phũng rủi ro) và
ro Nếu hai bộ phận này được thực hiện bởi cựng một người thỡ mục đớch
Trang 3428
kiểm soát rủi ro không còn nữa hoặc việc kinh doanh sẽ trì trệ, không hiệu quả
1.2.4.3 Nguyên tắc công khai
Đó là làm cho rủi ro có thể nhìn thấy thay vì cố tình che giấu nó đi Ngân hàng nên tạo ra các chính sách khuyến khích cho các nhân viên phát hiện được rủi ro phải thấy được và công khai các rủi ro thì mới có ý thức và áp lực làm hạn chế nó
1.2.4.4 Nguyên tắc tuyệt đối tuân thủ
Việc có một quy trình chính sách quản lý rủi ro hoàn hảo chưa phải là đảm bảo cho việc giảm thiểu rủi ro của ngân hàng Điều quan trọng là tất cả cán bộ ngân hàng phải tuyệt đối tuân thủ quy trình và chính sách của ngân hàng
Trang 35áp lực cạnh tranh càng tăng thì rủi ro xuất hiện càng nhiều và càng đa dạng
Do vậy, vấn đề sống còn đặt ra đối với các ngân hàng là phải đề ra các biện pháp quản lý các rủi ro, hạn chế chúng để đảm bảo tăng trưởng bền vững Bên cạnh những tiến bộ đạt được trong vài năm trở lại đây, vấn đề quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn bộc lộ một số mặt hạn chế sau:
- Việc quản lý rủi ro trong các sản phẩm chưa đồng bộ, chưa có chiến lược rõ ràng Nội dung chủ yếu trong quản lý rủi ro là phòng ngừa ở phạm vi từng hạng mục mà chưa có chiến lược quản lý mang tính tổng thể, vĩ mô Đối với từng sản phẩm biện pháp phòng ngừa rủi ro chỉ mang tính định tính Hầu
Trang 3629
hết các NHTM chưa thực hiện hệ thống xếp hạng, đánh giá rủi ro vì thế không lượng hoá được mức độ của rủi ro
- Các biện pháp để quản lý rủi ro được áp dụng không đồng bộ, thống nhất
- Về cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro, nhìn chung các ngân hàng thương mại Việt Nam chưa có bộ máy chuyên trách để quản lý rủi ro Nhiệm vụ này đang
do bộ phận kiểm soát nội bộ quản lý Tuy nhiên hoạt động của bộ phận kiểm soát nội bộ về bản chất là giám sát việc thực hiện các quy định kinh doanh của ngân hàng, nên chức năng quản lý rủi ro không được chuyên môn hóa và chuyên sâu
- Riêng về quản lý rủi ro tín dụng, trong một số ngân hàng có một bộ phận (phòng thẩm định và quản lý rủi ro tín dụng) làm nhiệm vụ quản lý rủi
ro tín dụng Bộ phận này quản lý rủi ro thông qua việc soạn thảo các văn bản chế độ cho vay, trong đó mới chỉ chú trọng đến các điều kiện cho món vay Các điều kiện mà hiện nay chỉ đủ để đảm bảo lựa chọn một khoản vay an toàn
- Khâu yếu nhất trong quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là thông tin Hệ thống thông tin trong ngân hàng hiện nay chưa đầy đủ, thiếu chính xác và không kịp thời Đa phần các thông tin được báo cáo bằng mẫu biểu nên rất khó sử dụng khi phân tích
Tóm lại, dù rằng quản lý rủi ro đã được các NHTM Việt Nam quan tâm nhưng biện pháp quản lý còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được các yêu cầu khách quan của công cuộc cải tổ NHTM trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hoá Có rất nhiều lý do khác nhau giải thích cho việc nợ đọng, nợ xấu, trong các NHTM hiện nay nhưng nguyên nhân chủ quan do thiếu chính sách quản lý rủi ro đồng bộ, chính sách quản lý chưa rõ ràng đối với từng đối
Trang 3730
tượng khách hàng và hơn thế nữa là sự thiếu hụt về nguồn nhân lực, trong đó bao hàm cả cán bộ nghiệp vụ và cán bộ quản lý
2.2 Những biện pháp Việt Nam đã và đang áp dụng để quản lý rủi
ro trong kinh doanh ngân hàng
2.2.1 Đối với rủi ro lãi suất
Phòng ngừa rủi ro lãi suất là việc ngân hàng sử dụng các hợp đồng phái sinh để cho giá trị của tài sản là cố định, cho dù lãi suất thị trường thay đổi như thế nào
Các nghiệp vụ chủ yếu các ngân hàng Việt Nam đã và đang áp dụng để quản lý rủi ro lãi suất là thông qua các nghiệp vụ về hợp đồng kỳ hạn (forwards), hợp đồng tương lai (futures), hợp đồng quyền chọn (options), và hợp đồng hoán đổi (swaps) Ngoài ra, các ngân hàng cũng vẫn áp dụng hình thức phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng cho vay thế chấp có lãi suất điều chỉnh
2.2.1.1 Biện pháp quản lý rủi ro lãi suất bằng hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán tại thời điểm t = 0 rằng: Người mua sẽ thanh toán cho người bán theo giá thỏa thuận
và người bán sẽ giao hàng cho người mua tại thời điểm hợp đồng đáo hạn, mà không phụ thuộc vào bất kỳ sự biến động nào về giá hàng trong vòng thời hạn của hợp đồng cho đến khi hợp đồng đáo hạn
Hợp đồng kỳ hạn là một công cụ hữu hiệu trong phòng tránh rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng Việc sử dụng hợp đồng kỳ hạn và tác dụng của biện pháp này được thể hiện qua ví dụ dưới đây:
Giả sử ngân hàng đang nắm giữ trong bảng cân đối tài sản 1 triệu USD các trái phiếu có kỳ hạn 10 năm Tại thời điểm t = 0, với mức lãi suất niêm yết
là 12,5428%/năm và lãi suất coupon là 12%/năm, cứ 100 USD mệnh giá trái phiếu này có thị giá là:
Trang 38
Trong đó:
P: Khoản lỗ của trái phiếu P: Thị giá của trái phiếu = 970.000 USD D: Khoản thời gian tồn tại của trái phiếu = 6 năm R: Mức thay đổi lãi suất dự tính = 0,02
1+R = 1+ 0,124428
P = 103.427,32 USD
Như vậy, nhà quản trị ngân hàng dự tính sẽ phải chịu một khoản thua lỗ
do lãi suất tăng là 103.427,32 USD Để bù đắp sự thua lỗ này, ngân hàng sẽ tiến hành sử dụng hợp đồng kỳ hạn bằng cách bán kỳ hạn 1 triệu USD mệnh giá của các trái phiếu này với kỳ hạn 3 tháng với giá 970.000 USD Sau khi lãi suất tăng 2%, nhà quản trị ngân hàng có thể mua 1 triệu USD mệnh giá các trái phiếu có kỳ hạn 10 năm trên thị trường giao ngay với giá giao ngay đối với mỗi 100 USD mệnh giá là:
R 1+R
= 0,02
1,125428 -6
Trang 392.2.1.2 Biện pháp quản lý rủi ro lãi suất bằng hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán tại thời điểm t = 0 rằng, việc thanh toán và giao nhận hàng được tiến hành tại một thời điểm xác định trong tương lai Như vậy, hợp đồng tương lai có đặc điểm rất giống hợp đồng kỳ hạn Sự khác nhau giữa hai loại hợp đồng này có thể nêu tóm tắt như sau:
- Hợp đồng kỳ hạn là sự thỏa thuận song phương, được giao dịch trên thị trường giao dịch qua quầy hay thị trường phi tổ chức (OTC - Over The Counter); trong khi đó, hợp đồng tương lai được giao dịch có tổ chức tại sở giao dịch
- Hợp đồng kỳ hạn là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán nên chúng
là hợp đồng thỏa thuận tùy ý Đối với hợp đồng tương lai, do được giao dịch có tổ chức tại sở giao dịch nên chúng là những hợp đồng mang tính tiêu chuẩn hóa cao
- Giá quy định trong hợp đồng kỳ hạn là cố định trong suốt thời hạn của hợp đồng Còn ở hợp đồng tương lai, giá hợp đồng được điều chỉnh hàng ngày theo giá trên thị trường Bởi vậy, hàng ngày người mua và người bán phải quyết toán với nhau về giá trị hợp đồng để phù hợp với sự thay đổi của thị trường
Trang 4033
- Hợp đồng kỳ hạn là những hợp đồng song phương, là đối tượng chịu rủi
ro tín dụng của các đối tác tham gia hợp đồng; trong khi đó, rủi ro tín dụng trong hợp đồng tương lai được sự bảo đảm của sở giao dịch tương lai nên được giảm một cách đáng kể
Khác với hợp đồng kỳ hạn, được kết thúc bằng việc giao nhận thật vào ngày thỏa thuận trước; trong hợp đồng tương lai, ngân hàng có thể kết thúc hợp đồng vào bất kỳ lúc nào bằng cách ký một hợp đồng khác mua hoặc bán với cùng số tiền và cùng ngày thanh toán khi thấy có điều kiện thuận lợi về lãi suất Điều này giúp ngân hàng thu được khoản lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất nhằm bù đắp cho khoản lợi nhuận mất đi do sự biến động của lãi suất Như vậy, giao dịch hợp đồng tương lai chính là một dạng giao dịch khống, một công cụ bảo hiểm để chống lại rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng
2.2.1.3 Biện pháp quản lý rủi ro lãi suất bằng hợp đồng quyền chọn
Các sản phẩm của nghiệp vụ quyền chọn rất đa dạng và phong phú bao gồm các hợp đồng tại sở giao dịch, giao dịch qua quầy, giao dịch gắn liền với chứng khoán và các giao dịch Caps, Collars và Floors Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài em tập trung nghiên cứu việc sử dụng các hợp đồng quyền chọn chứng khoán có thu nhập cố định để phòng ngừa rủi ro lãi suất, trong đó tập trung vào bốn chiến lược cơ bản sau:
- Mua quyền chọn mua trái phiếu:
Trong chiến lược này, người mua quyền chọn mua có quyền mua chứng khoán tại một mức giá cố định đã được thỏa thuận trước, gọi là giá quyền chọn thông qua việc trả phí cho người bán trái phiếu, gọi là phí chọn mua Phí chọn mua phải được thanh toán cho người bán tại thời điểm ký kết hợp đồng, và người mua trở thành người có tiềm năng thu lợi nhuận nếu lãi suất thị trường giảm một lượng đủ để giá trái phiếu tăng trên mức giá quyền chọn và khoản phí