Nhưng một trong những nguyên nhân chính được đề cập đến nhiều nhất đó là các công ty chưa có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, chưa có cơ chế tạo động lực làm việc cho người lao động nên lâu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN NGỌC PHÚ
TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NHÂN VIÊN TẠI CÔNG
TY TNHH MTV CƠ KHÍ – ĐIỆN – ĐIỆN TỬ TÀU THỦY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN NGỌC PHÚ
TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NHÂN VIÊN TẠI CÔNG
TY TNHH MTV CƠ KHÍ – ĐIỆN – ĐIỆN TỬ TÀU THỦY
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
Trang 3iii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới TS Đỗ Xuân Trường người đã hết sức
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và định hướng cho tôi chọn đề tài nghiên cứu, cơ sở lý
luận cũng như khảo sát thực tế trong quá trình thực hiện viết luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo tại Khoa Quản trị Kinh
doanh Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã dạy dỗ tôi, cung cấp
cho tôi những kiến thức trong suốt quá trình học tập để tôi có thể hoàn thành luận
văn này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các Cán bộ, nhân viên tại công ty
TNHH MTV CƠ KHÍ – ĐIỆN – ĐIỆN TỬ TÀU THỦY, đã cho tôi nhiều lời
khuyên quý báu, đã cung cấp cho tôi những tài liệu, thông tin, tạo điều kiện cho
tôi nghiên cứu, tham khảo các tài liệu phục vụ cho bản luận văn cũng như đã giúp
đỡ và giành thời gian trả lời phỏng vấn, khảo sát để tôi có số liệu cho việc phân
tích luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn với gia đình tôi, đã động viên,
khuyến khích, tạo điều kiện tốt nhất về thời gian, vật chất và tinh thần để tôi có thể
hoàn thành tốt bài luận văn này
Hà Nội, ngày 30 tháng 04 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Phú
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 9
CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 9
1.1 Khái niệm cơ bản về tạo động lực 9
1.1.1 Động cơ lao động, động lực lao động 9
1.1.2 Tạo động lực trong lao động 12
1.2 Các học thuyết tạo động lực trong lao động 14
1.2.1 Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow 14
1.2.2 Học thuyết hệ thống hai nhân tố của F.Herzberg 17
1.2.3 Học thuyết công bằng của J.Stacy Adams 18
1.2.4 Học thuyết tăng cường tích cực của B.F.Skinner 19
1.2.5 Học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom 20
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tạo động lực lao động 21
1.3.1 Yếu tố thuộc về cá nhân người lao động 21
1.3.2 Các yếu tố bên ngoài 24
1.4 Một số công cụ tạo động lực cho người lao động 29
1.4.1 Các công cụ tài chính 29
1.4.2 Các công cụ phi tài chính 33
1.5 Sự cần thiết phải tạo động lực cho người lao động 35
Trang 5CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Phương pháp thu thập tài liệu 37
2.1.1 Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu 37
2.1.2 Phương pháp phân tích 38
2.2 Khảo sát 39
2.2.1 Chọn mẫu 39
2.2.2 Thiết kế bảng hỏi 39
2.2.3 Thu thập và xử lý số liệu 40
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Tổng quan về Công ty TNHH MTV Cơ khí – Điện – Điện tử tàu thủy 41
3.1.1 Thông tin khái quát 41
3.1.2 Cơ cấu tổ chức và nhân sự của VINAMAREL 43
3.2 Đặc điểm của mẫu khảo sát 48
3.3 Thực trạng công tác tạo động lực cho nhân viên tại công ty VINAMAREL qua công cụ tài chính 49
3.3.1.Tiền lương 49
3.3.2 Khen thưởng 53
3.3.3 Phúc lợi 55
3.4 Thực trạng công tác tạo động lực cho nhân viên tại Công ty VINAMAREL qua công cụ phi tài chính 56
3.4.1 Điều kiện làm việc 56
3.4.2 Đánh giá công việc 56
3.4.3 Hài lòng với công việc 57
3.4.4 Phong cách lãnh đạo 58
Trang 63.4.5 Đào tạo và phát triển 59
3.4.6 Quan hệ với đồng nghiệp 61
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC TẠI CÔNG TY VINAMAREL 62
4.1 Hoàn thiện công tác lương, thưởng, phúc lợi 62
4.2 Cải thiện điều kiện làm việc 66
4.3 Hoàn thiện công tác đánh giá thực hiện công việc 68
4.4 Cải thiện sự hài lòng của người lao động đối với công việc 70
4.5 Điều chỉnh phong cách lãnh đạo 71
4.6 Định kỳ đo lường mức độ hài lòng của người lao động với công việc 72
4.7 Cải thiện các mối quan hệ lao động trong công ty 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC
Trang 7i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2 CBCNV Cán bộ công nhân viên
3 DNNN Doanh nghiệp nhà nước
4 GTVT Giao thông vận tải
6 VINAMAREL Công ty TNHH MTV Cơ khí – Điện – Điện tử tàu thủy
7 WTO Tổ chức thương mại thế giới
8 SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 8ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
3 Bảng 3.2 Đánh giá của người lao động về chế độ lương, thưởng, phúc lợi 52
4 Bảng 3.3 Bảng chi thưởng tết nguyên đán năm 2013 54
5 Bảng 3.4 Các danh hiệu thi đua khen thưởng tại công ty 54
6 Bảng 3.5 Đánh giá của người lao động về điều kiện làm việc 56
7 Bảng 3.6 Đánh giá của người lao động về đánh giá kết quả công việc 57
8 Bảng 3.7 Mức độ hài lòng của người lao động với công việc 58
9 Bảng 3.8 Nhận định của người lao động về phong cách lãnh đạo 59
10 Bảng 3.9 Đánh giá của người lao động về công tác đào tạo và phát triển 60
11 Bảng 3.10 Đánh giá của người lao động về mối quan hệ đồng nghiệp 61
Trang 9iii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
2 Biểu đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức Công ty TNHH MTV Cơ khí – Điện –
4 Biểu đồ 3.3 Cơ cấu nhân sự theo trình độ chuyên môn 47
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tầm quan trọng của nguồn nhân lực ngày càng được nhìn nhận đúng đắn hơn cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Với mục tiêu vươn tới hội nhập cùng các nước trong khu vực và thế giới khiến cho các nhà doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải biết phát huy tối đa các nguồn lực sẵn có cũng như thúc đẩy sự phát triển các nguồn lực tiềm năng trong tương lai của mình Vì vậy, vấn đề quản trị nguồn nhân lực của tổ chức và doanh nghiệp đã được chú ý hơn ở Việt Nam Tuy nhiên sự nhìn nhận đầy đủ đến đâu, thiên về khâu nào trong quản trị nguồn nhân lực thì còn có sự khác nhau giữa các tổ chức, doanh nghiệp với các điều kiện và hoàn cảnh không giống nhau
Điều này được thể hiện phổ biến trong các doanh nghiệp hiện nay ở nước ta là các nhân viên thường xuyên nhảy việc bất kể thời gian làm việc dài hay ngắn Tư tưởng làm việc, gắn bó lâu dài với công ty không còn là một trong những nhiệm vụ của người lao động nữa, tình trạng này thường xuyên xẩy ra đối với mọi đối tượng lao động trong đó đặc biệt là những người trẻ tuổi Với lợi thế về tuổi tác, họ chỉ làm việc sau một vài tháng nếu nảy sinh cảm giác không được thỏa đáng, không thích hợp
họ sẽ tìm công việc mới Việc này gây ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định về mặt nhân
sự, hoạch định chính sách dài hạn cũng như cơ cấu tổ chức của công ty
Thực trạng trên có thể do rất nhiều nguyên nhân Nhưng một trong những nguyên nhân chính được đề cập đến nhiều nhất đó là các công ty chưa có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, chưa có cơ chế tạo động lực làm việc cho người lao động nên lâu ngày tạo tâm lý bất mãn cho nhân viên khiến họ cảm thấy chán nản muốn
đi tìm một môi trường làm việc mới và không còn muốn gắn bó với công ty nữa Chính vì vậy đã dẫn đến những phản ứng tiêu cực từ nhân viên và gây nên tình trạng chuyển việc của người lao động
Thực tế cho chúng ta thấy, phần lớn các công ty ở Việt Nam hiện nay chưa
có chức năng về quản trị nhân sự độc lập, chưa có sự quan tâm thích đáng đối với
Trang 112
các hoạt động tạo động lực cho người lao động tại công ty đó là một trong những khâu quan trọng của quản trị nguồn nhân lực mà các doanh nghiệp đều rất mong muốn, chú ý để triển khai cho tốt là tạo động lực cho người lao động bởi nhiều doanh nghiệp đã nhìn nhận được đó là một khâu then chốt nhất, quyết định đến việc sử dụng và khai thác hiệu quả nguồn nhân lực – nguồn nhân lực quan trọng nhất của doanh nghiệp
Công ty TNHH MTV Cơ khí – Điện – Điện tử tàu thủy (VINAMAREL) hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực về điện, điều khiển, tự động hóa… từ năm
1982 Từ ngày thành lập, Công ty luôn nằm trong những doanh nghiệp kinh doanh hàng đầu trong lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ và giải pháp cho việc phát triển
hệ thống điện, điện tử viễn thông tại Việt Nam Công ty hiện đang mở rộng và phát triển rộng rãi Do đó để khuyến khích và thúc đẩy nhiệt tình làm việc của người lao động trong giai đoạn này cần phải có sự cố gắng của tất cả mọi thành viên trong công ty Tạo động lực cho người lao động là điều cần thiết phải làm để tăng năng suất lao động nói riêng và lợi ích kinh doanh nói chung Xuất phát từ lý do trên, tác
giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tạo động lực làm việc cho nhân viên tại Công ty TNHH MTV Cơ khí – Điện – Điện tử tàu thủy” để làm luận văn tốt nghiệp thạc
sỹ Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh Nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá mức
độ hiểu biết, nhận thức của lãnh đạo trong công ty và người lao động về việc tạo động lực cho người lao động trong công ty Đồng thời nghiên cứu cũng đánh giá tình hình thực hiện công tác tạo động lực trong công ty tiếp cận từ phía người lao động Qua đó nhằm đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm cải thiện việc thực hiện giải pháp về việc đào tạo nhân sự và tạo động lực trong công ty
2 Tình hình nghiên cứu
Do tính cấp thiết về vấn đề nguồn nhân lực ngày càng cao nên hiện nay đã
có nhiều bài báo, công trình nghiên cứu về vấn đề quản trị nhân sự và các cách tạo động lực làm việc cho người lao động trên thế giới và ngay tại Việt Nam của các tác giả trong nước và ngoài nước
Trang 123
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo nghiên cứu của Rowena Barrett Khoa Quản trị Nhân sự Đại học De Montfort, Leicester, Anh và Susan Mayson Khoa Quản lý Đại học Monash, Caulfield East, Úc vào tháng 2/2007 đã chỉ ra rằng hoạt động nhân sự trong các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả được quan tâm nhiều hơn so với các doanh nghiệp kinh doanh yếu kém Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp này, việc chú trọng vào công tác nhân sự sẽ giúp công ty có những đánh giá tác động tốt hơn trong việc phát triển các kế hoạch kinh doanh của công ty mình để từ đó gia tăng giá trị và doanh thu trong dài hạn
Liên quan đến vấn đề này, tháng 6/2010 Quang Truong, Beatrice IJM van der Heijden và Chris Rowley đã đưa ra những quan điểm và kết quả nghiên cứu về
quản trị nhân sự ở Việt Nam trong bài nghiên cứu này “Toàn cầu hóa, Cạnh tranh
và Quản trị nguồn nhân lực trong nền kinh tế chuyển tiếp: Trường hợp của Việt Nam” Theo đây, các công ty tại Việt Nam thông thường chỉ có Phòng Hành
chính tổng hợp chuyên phụ trách về hành chính và quản lý nhân sự Trưởng phòng này chỉ tập trung vào công tác hành chính giấy tờ hay những công việc quản lý nhân sự đơn thuần chứ chưa tham gia nhiều vào các quyết định chính về vấn đề nhân sự như lên kế hoạch, tuyển dụng, đào tạo và phát triển, giữ chân những nhân viên có năng lực Cuộc điều tra được tiến hành khảo sát 90 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam được đưa ra trong nghiên cứu này, các hoạt động nhân sự trong các công ty tại Việt Nam hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào quy mô của doanh nghiệp cũng như nhận thức của chủ doanh nghiệp Đối với các công ty tư nhân, các giám đốc thường xuyên coi công tác nhân sự là vấn đề dự phòng và tự xử lý các vấn đề liên quan vì vậy dẫn đến làm hạn chế việc đưa ra quyết định nhân sự một cách chính xác của các Trưởng phòng hành chính nhân sự, với sự yếu kém về
kỹ năng và phương thức quản trị nhân lực như hiện nay buộc các công ty Việt Nam phải mất một khoản chi phí lớn hơn để có và đào tạo lại nguồn nhân lực này (Quang Truong, Beatrice IJM van der Heijden and Chirs Rowley (2010)
Trang 134
Nghiên cứu về đào tạo và phát triển trong doanh nghiệp (Jason Cope, 2000) chỉ ra rằng việc cung cấp đào tạo cho nhân viên có ảnh hưởng trực tiếp đến động lực làm việc của nhân viên Từ đó, nhóm tác giả đã đề xuất và gợi ý các doanh nghiệp cần phải cung cấp đào tạo cho nhân viên thường xuyên
Các nghiên cứu của các học giả quốc tế đã có nhiều nghiên cứu về Tạo động lực và Phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên các nước chứ không riêng ở Việt Nam
2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Ngày nay, quản lý và sử dụng hiệu quả lao động luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp Việt Nam Vấn đề tuyển dụng và bố trí sử dụng đúng người, đúng việc là quan trọng nhưng khuyến khích, động viên, tạo động lực cho người lao động phát huy tối đa khả năng trí tuệ của bản thân mới là vấn đề then chốt nhất trong việc sử dụng lao động Nghiên cứu của Trương Minh Đức (2011), tại công ty ERICSSON Việt Nam chỉ ra rằng để tạo động lực làm việc cho nhân viên, các nhà quản lý của công ty nên quan tâm một số vấn đề cơ bản như: (i) Mức tiền lương cơ bản, tổng mức thu nhập của nhân viên và sự quan tâm của lãnh đạo đối với đời sống nhân viên, điều kiện làm việc và quan hệ đồng nghiệp là những yếu tố cần quan tâm trước hết để tạo động lực làm việc cho nhân viên, (ii) cần xây dựng quy trình, quy chế làm việc rõ ràng để giúp nhân viên tránh được những sai lầm đáng tiếc, các nhà quản lý cũng nên quan tâm đến cơ sở vật chất, thiết bị nơi làm việc - đây cũng là những yếu tố giúp nhân viên có hứng thú làm việc; (iii) Áp lực công việc cũng nên được chú ý Nếu áp lực công việc quá cao hoặc công việc nhàm chán sẽ gây chán nản trong công việc của nhân viên
Nguyễn Thị Phương Dung (2012), nghiên cứu xây dựng thang đo động viên nhân viên khối văn phòng ở thành phố Cần Thơ Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích cronbach’s alpha, phân tích nhân tố để kiểm định và xác định thang đo Từ đó, nghiên cứu sử dụng hàm hồi quy để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc động viên nhân viên Kết quả nghiên cứu cho thấy, thang đo động viên
Trang 14tố tác động, ảnh hưởng tới động lực của người lao động và quá trình tạo động lực
đó là: (i) mục tiêu phát triển của nhà trường, (ii) nhu cầu của chính người lao động, (iii) các công cụ tạo động lực Từ mô hình này, nhà Trường sẽ tìm ra nguyên nhân và giải pháp cho quá trình tạo động lực đối với cán bộ quản lý và giảng viên của nhà Trường
Các nghiên cứu trên cho chúng ta thấy nghiên cứu về công tác tạo động lực cho người lao động đã được nghiên cứu tại các công ty, tổ chức cụ thể tại Việt Nam Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu ở mỗi tình huống công ty, tổ chức cụ thể cho chúng ta kết quả khác nhau về công tác tạo động lực cho nhân viên Chính vì vậy, đây sẽ là khoảng trống cho những người nghiên cứu sau thực hiện nghiên cứu tại các công ty/tổ chức khác nhằm cung cấp thêm những bằng chứng về công tác tạo động lực trong doanh nghiệp hay tổ chức tại Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn giúp Công ty VINAMAREL sử dụng tốt hơn nguồn nhân lực của mình, nâng cao chất lượng thực hiện công việc góp phần định hình chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đóng góp và giúp cho công ty phát triển bền vững trong tương lai
Mục tiêu
Nghiên cứu này được thực hiện để đạt được các mục tiêu cụ thể sau:
Trang 156
Hệ thống hóa các lý thuyết cơ bản liên quan đến tạo động lực làm việc Cụ thể, luận văn sẽ tiến hành nghiên cứu các lý thuyết như: học thuyết về nhu cầu của Abraham Maslow, học thuyết hai nhân tố của F.Herzberg, học thuyết về sự công bằng của J.Stacy Adams và học thuyết về tạo động lực nội tại của Hackman và Oldman để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu và phân tích thực tế để hoàn thiện bài luận văn
Đánh giá và phân tích thực trạng chính sách tạo động lực của Công ty VINAMAREL để tìm ra nguyên nhân, những tác động tích cực và tiêu cực ảnh hưởng tới động lực làm việc của cán bộ công nhân viên trong công ty
Đưa ra kiến nghị và đề xuất các giải pháp khả thi để cải thiện chính sách tạo động lực hiện tại của Công ty nhằm nâng cao động lực làm việc cho các cán
bộ, nhân viên công ty và nâng cao hiệu quả công việc trong công ty
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về động lực làm việc (khái niệm, đặc điểm, sự cần thiết….) chính sách tạo động lực làm việc và các
mô hình, công cụ tạo động lực làm việc cho người lao động Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình này cũng như thực trạng chính sách tạo động lực làm việc cho người lao động và các nội dung, yếu tố tác động tới chính sách này với ý nghĩa nhằm đưa ra những giải pháp hữu hiệu, thiết thực trong việc tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty
Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung: trong khuôn khổ của một luận văn cao học, luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở việc tạo động lực làm việc cho người lao động bao gồm nhân viên (150 nhân viên văn phòng làm việc tại trụ sở chính của công ty) và cán
bộ quản lý trực tiếp người lao động (các Giám đốc phụ trách, trưởng phòng) tại Công ty
Trang 167
Về mặt thời gian nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu các thông tin, thu thập tài liệu của cơ quan trong thời gian từ năm 2011 đến 2012
- Tập hợp và xử lý số liệu điều tra: tháng 11,12/2013
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương pháp quan sát thực tế, phương pháp phân tích hệ thống, thống kê và so sánh theo thời gian Dữ liệu sơ cấp nghiên cứu được
sử dụng là phỏng vấn và khảo sát bằng phiếu điều tra câu hỏi đối với nhân viên và cấp quản lý trực tiếp Dữ liệu thứ cấp nghiên cứu sử dụng là các báo cáo, số liệu nội bộ của công ty trong thời gian từ năm 2010 đến 2012 Các quan điểm của Đảng và Nhà nước liên quan đến vấn đề kinh tế cũng được tác giả đặc biệt quán
triệt cho việc tiến hành nghiên cứu đề tài này
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Tác giả đã tiến hành phỏng vấn các cán bộ quản lý trực tiếp và nhân viên văn phòng để rút ra bản chất, nguyên nhân
gốc của bất cập, có cơ sở thiết kế xây dựng phiếu câu hỏi khảo sát
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Tác giả đã phát 150 phiếu điều tra cho cán bộ nhân viên đang làm việc tại trụ sở chính của công ty Kết quả thu về là
127 phiếu với đầy đủ thông tin Sử dụng phần mềm SPSS 18 để nhập dữ liệu, kết quả khảo sát và xử lý kết quả thu về từ phiếu điều tra
6 Những đóng góp của luận văn
Trên cơ sở hệ thống lý luận và kết quả phân tích thực trạng, vận dụng lý luận vào thực tế, đề tài nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc cho người lao động nói chung và áp dụng riêng cho Công ty VINAMAREL
Trang 178
Ngoài ra đề tài cũng góp phần giúp Công ty củng cố lại đội ngũ nhân sự, tạo thế mạnh trong công cuộc đổi mới và phát triển của Công ty, và khẳng định lại vai trò của công tác tạo động lực cho người lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động trong
doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực tại Công ty TNHH MTV Cơ khí – Điện – Điện tử tàu thủy (VINAMAREL)
Trang 189
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC
CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm cơ bản về tạo động lực
1.1.1 Động cơ lao động, động lực lao động
Động cơ lao động
Động cơ là mục đích chủ quan trong hoạt động của con người, là một hiện tượng, quá trình có trước hành động của con người và nó là sự thôi thúc con người hướng tới một hành động cụ thể nào đó nhằm để đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu đặt ra… Các nhà quản lý muốn thúc đẩy nhân viên của họ thì phải đáp ứng được mong muốn và nguyện vọng của người lao động và thúc đẩy hành động của họ theo cách thức mong muốn Động cơ rất trừu tượng và khó xác định vì:
+ Động cơ không thể hiện rõ bản chất của nó, điều đó là do nhiều lý do như: yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội, xuất thân…
+ Động cơ biến đổi theo thời gian, nhu cầu và động cơ của con người luôn khác nhau tại mỗi thời điểm Môi trường hoạt động của con người tác động lớn tới nhu cầu của con người Bởi môi trường ảnh hưởng tới sự nhận thức của con người
về các nhu cầu thứ cấp: ăn, uống, ở, mặc… Do vậy, phải xác định rõ không gian, thời gian và xác định rõ nhu cầu của từng người cụ thể thì mới xác định đúng động cơ để thúc đẩy người lao động làm việc
+ Động cơ rất đa dạng, phức tạp và thường đối ngược mâu thuẫn với nhau Trong một thời gian con người luôn có những mong muốn khác nhau Cùng một thời điểm họ muốn được mua sắm đồng thời cũng muốn tiết kiệm dành dụm ít tiền cho những lúc cần sử dụng Nhưng hai mong muốn này lại mâu thuẫn với nhau vì nếu chấp nhận mua sắm thì sẽ không thể tiết kiệm được
Động lực lao động
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau xoay quanh khái niệm này Theo quan điểm của các nhà quản trị nhân lực thì: “Động lực lao động là khao khát, tự
Trang 19Động lực lao động được thể hiện rất rõ qua các đặc điểm sau:
• Động lực lao động luôn gắn chặt với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể Việc này có thể hiểu là không có động lực lao động chung chung Thông qua thái độ của người lao động đối với tính chất, công việc
cụ thể mà họ làm việc để tạo động lực lao động cho người lao động Vậy muốn tạo cho người lao động có động lực làm việc thì cần phải hiểu công việc cụ thế, môi trường làm việc và mối quan hệ của họ trong tổ chức
• Động lực lao động luôn mang tính tự nguyện, người lao động sẽ làm việc một cách hăng say, có mục tiêu, họ tự nguyện làm việc mà không có cảm giác sức ép hay áp lực nào khi họ có động lực lao động Bản thân mỗi người đều thích được làm việc tự nguyện, chủ động chứ không thích làm việc chịu sự giám sát chặt chẽ của bất
cứ người nào trong tổ chức Khi được làm việc trong môi trường chủ động, tự nguyện thì sẽ mang lại một kết quả ngoài ý muốn Do vậy, là một nhà quản lý cần phải biết phát huy tính tự nguyện của người lao động, nghĩa là tạo ra động lực lao động
• Động lực lao động không phải là đặc điểm tính cách cá nhân Nó luôn thay đổi chứ không cố định trong mỗi người Không ai sinh ra mà đã có tính động lực lao động hoặc không có tinh động lực lao động Mỗi cá nhân vào thời gian này thì họ có động lực lao động rất cao, nhưng vào thời gian khác động lực lao động lại không còn tồn tại Qua đặc điểm này giúp nhà quản lý có những biện pháp tác động vào quá trình tạo động lực lao động cho người lao động
• Động lực lao động là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân
và trong sản xuất có kết quả cao mặc dù các nhân tố khác không đổi Động lực lao động là sự thôi thúc bên trong con người, đó là sức mạnh vô hình giúp người lao động làm việc nỗ lực hơn, miệt mài hơn, làm việc không biết mệt mỏi Tuy nhiên,
Trang 2011
động lực lao động không phải là nhân tố tất yếu làm tăng năng suất lao động cá nhân và hiệu quả sản xuất, mà nó chỉ là nguồn gốc Vì thế, nhà quản lý cần phải chú ý đến các yếu tố của mỗi người như: sức khỏe, trình độ, giới tính… để đưa ra các giải pháp phù hợp tạo động lực lao động cho mỗi người lao động
• Nếu một người lao động có sức khỏe, có trình độ, có bổn phận phải làm việc thì cho dù người đó không có động lực lao động thì họ vẫn có thể làm xong công việc được giao Do đó, ta có thể kết luận rằng, người lao động không có động lực lao động vẫn có thể hoàn thành công việc Nhưng nhược điểm của đặc điểm này là người lao động đó sẽ không cống hiến hết khả năng mà họ có cho công việc, họ cũng không phải là một người lao động trung thành để các tổ chức phải quan tâm, lo lắng cho đời sống của họ
Từ những định nghĩa, nội dung cơ bản của động cơ và động lực lao động giúp chúng ta phần nào tránh được sự hiểu lầm giữa hai khái niệm này Nó giúp chúng ta có cái nhìn nhận sâu sắc hơn về động lực lao động Mặc dù, động cơ và động lực lao động khác nhau nhưng giữa chúng cũng có những điểm chung như: chúng đều không thể nhìn thấy được, đều xuất phát từ bên trong bản thân mỗi người lao động; nó luôn biến đổi từ người này sang người khác và chúng đều chịu
sự tác động mang tính chất quyết định từ phía người lao động
Mối quan hệ giữa động cơ và động lực lao động
Động cơ và động lực lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ, chúng không thể tách rời nhau được Động cơ là cơ sở tiền đề để hình thành động lực lao động Động
cơ lao động dẫn dắt con người đi tìm việc làm Và trong quá trình làm việc, động lực lao động lại xuất hiện khi người lao động chịu sự tác động của một số yếu tố Như vậy, nếu không có động cơ lao động thì cũng không có động lực lao động Ngược lại, động lực lao động lại góp phần củng cố, hoàn thiện động cơ lao động
Mối quan hệ giữa nhu cầu, lợi ích với động cơ, động lực lao động
Từ khi con người xuất hiện thì nhu cầu của con người cũng xuất hiện theo Nhu cầu đó là những đòi hỏi, mong muốn của con người xuất phát từ những lý do khác nhau như: ăn, ở, mặc, xã hội… để nhằm đạt được mục đích nào đó
Trang 2112
Khi con người có những đòi hỏi về một nhu cầu nào đó, nếu nhu cầu đó được thỏa mãn về cơ bản thì sẽ dẫn đến sự thỏa mãn nhu cầu của con người Không một nhu cầu nào là được thỏa mãn hoàn toàn mà nó chỉ thỏa mãn trong một giới hạn nào đó Và cứ theo quy luật khi nhu cầu nào đó được thỏa mãn thì sẽ xuất hiện ngay một nhu cầu mới cao hơn Do nhu cầu của con người ngày càng tăng lên nên hệ thống nhu cầu và sự thỏa mãn hệ thống nhu cầu của con người luôn có khoảng cách, buộc con người phải hoạt động để thu ngắn khoảng cách Điều đó nói lên rằng nhu cầu đã sinh ra động cơ Nhu cầu là yếu tố không thể thiếu trong mọi xã hội Tuy nhiên, khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu không phải là động lực lao động quan trọng nhất thúc đẩy con người hoạt động mà lợi ích mới chính là động lực thôi thúc con người
Vậy “lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người trong một điều kiện cụ thể, nhất định” Có rất nhiều loại lợi ích nhưng quan trọng nhất vẫn là lợi ích kinh tế bao gồm lợi ích vật chất và lợi ích cá nhân Lợi ích của người lao động càng lớn thì mức độ thỏa mãn càng cao, điều đó làm động lực lao động tăng lên Chính lợi ích là động lực quan trọng kích thích người lao động làm việc
Giữa nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ không thể tách rời nhau, cái này hỗ trợ cho cái kia: không có nhu cầu thì cũng không có lợi ích, lợi ích là hình thức còn nhu cầu là nội dung
1.1.2 Tạo động lực trong lao động
Mọi hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức được tiến hành với người lao động để nhằm tác động đến khả năng làm việc, tinh thần và trách nhiệm đối với công việc để hiệu quả trong lao động cao hơn gọi là tạo động lực
Các doanh nghiệp, tổ chức muốn kinh doanh, sản xuất đạt được năng suất lao động cao thì đòi hỏi người lao động phải làm việc hết mình và sáng tạo Để làm được điều này thì nhà quản lý cần phải đưa ra các phương pháp và hình thức quản lý sao cho phù hợp với điều kiện của công ty và môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh mà công ty tham gia
Trang 2213
Tạo động lực cho người lao động bắt nguồn từ việc thỏa mãn lợi ích của
họ Do vậy, mà nhà quản lý phải đưa ra được các chính sách mà lợi ích của người lao động luôn gắn liền với hoạt động của tổ chức Để làm được điều đó thì người quản lý phải quan tâm đến các vấn đề như:
+ Xây dựng và thực hiện hệ thống đánh giá thực hiện công việc một cách hợp lý, công bằng
+ Tạo mọi điều kiện thuận lợi để người lao động tham gia thực hiện công việc + Luôn làm cho người lao động thấy được sự quan tâm và tôn trọng của tổ chức đối với họ
+ Tạo ra tính thi đua, cạnh tranh lẫn nhau giữa mọi người trong tổ chức + Khuyến khích người lao động tích cực sáng tạo trong công việc
+ Nghiên cứu và xây dựng các chương trình đào tạo động lực một cách có tính hệ thống, tính khoa học cho người lao động
Như vậy, việc tổ chức làm tốt việc tạo động lực cho người lao động không chỉ mang lại lợi ích đối với người lao động, đối với tổ chức mà còn đối với xã hội
• Đối với người lao động giúp họ: kích thích tính sáng tạo cho người lao động, làm cho người lao động có động lực đem hết sức lực, trí tuệ vào công việc,
từ đó giúp họ tăng năng suất lao động dẫn đến thu nhập của họ cũng tăng theo, làm cho người lao động cảm thấy yêu thích công việc hiện tại, làm tăng sự gắn bó của người lao động đối với công ty, ngoài ra nó con giúp người lao động hoàn thiện bản thân, họ thấy được sự quan trọng của mình đối với công việc
• Đối với tổ chức giúp: tạo nên được một đội ngũ nhân viên có năng lực, có chuyên môn, tâm huyết, gắn bó với tổ chức Đồng thời còn thu hút được những người giỏi vào làm việc, khai thác hiệu quả các khả năng của người lao động giúp
tổ chức nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm cho bầu không khí trong tổ chức thoải mái, hăng say làm việc góp phần làm cho văn hóa trong doanh nghiệp càng được hoàn thiện hơn
Trang 2314
• Đối với xã hội: mọi người trong xã hội có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có khả năng phát triển bản thân Mặt khác, tạo động lực là yếu tố xây dựng
xã hội ngày càng phát triển hơn bằng sự phát triển của các tổ chức
1.2 Các học thuyết tạo động lực trong lao động
1.2.1 Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Tháp nhu cầu (Hiearchy of Needs hay Pyramid of Needs) được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943 trong bài viết “A Theory of Human Motivation” và là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của Quản trị Kinh doanh, đặc biệt là các ứng dụng cụ thể trong quản trị nhân sự và quản trị marketing
Maslow cho rằng con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn Theo đó ông chia hệ thống nhu cầu của con người thành 5 thứ bậc từ thấp đến cao
Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow
Trang 2415
Nhu cầu cơ bản là các nhu cầu ở mức thấp nhất, có tính sinh lý giúp con
người có thể tồn tại như thức ăn, nước uống, chỗ ở, nghỉ ngơi… Abraham Maslow quan niệm rằng khi những nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để
có thể duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được mọi người Nhu cầu này thường gắn liền với thu nhập của người lao động (lương, thưởng), nhưng thu nhập không phải là nhu cầu của người lao động mà nó chỉ là phương tiện
để họ thỏa mãn các nhu cầu sống của bản thân và nuôi sống gia đình
Nhu cầu về an toàn sau khi đã có đủ các điều kiện sinh hoạt cơ bản, nhu cầu
sinh lý không còn là yếu tố mạnh mẽ nhất thúc đẩy con người làm việc và thay vào
đó là nhu cầu an toàn Khi người lao động làm việc trong doanh nghiệp họ sẽ quan tâm nhiều nhất đến công việc của họ thực chất làm gì, điều kiện làm việc có được đảm bảo không, công việc có hay xảy ra tai nạn không,… Sự an toàn không chỉ đơn thuần là vấn đề hiện tại mà con người còn có nhu cầu an toàn trong tương lai Đó là công việc ổn định, các vấn đề về bảo hiểm xã hội, trợ cấp, hưu trí được đảm bảo
Nhu cầu về xã hội thể hiện mong muốn của con người muốn được quan hệ để
thể hiện hay chấp nhận tình cảm, sự hợp tác với người xung quanh Người lao động khi làm việc và lao động trong một tập thể họ muốn hòa mình và chung sống hòa bình, hữu nghị với với các thành viên khác trong tập thể, họ luôn muốn coi tập thể nơi mình lao động là mái nhà thứ hai Mức độ của nhu cầu xã hội có trong mỗi cá nhân là khác nhau, tùy thuộc vào tính cách, quá trình công tác, trình độ học vấn của mỗi người Do vậy các nhà quản lý cần xem xét tình hình thực tế tại doanh nghiệp mình
để có những biện pháp thích hợp tăng cường nhu cầu xã hội như lập các câu lạc bộ ngoài giờ, tăng cường giao lưu trong nội bộ và với bên ngoài doanh nghiệp
Nhu cầu được tôn trọng thường xuất hiện khi con người đã đạt được
những mục tiêu nhất định, nó thường gắn với các động cơ liên quan đến uy tín và quyền lực Nhu cầu này bao gồm nhu cầu tự tôn trọng và nhu cầu được người khác tôn trọng Nhu cầu được người khác tôn trọng có nghĩa là khi có cống hiến được người khác thừa nhận, được cấp trên và đồng sự đánh giá cao và tán thưởng
Trang 2516
Tự tôn và được người khác tôn trọng là hai mặt có quan hệ mật thiết với nhau Nếu bạn muốn được người khác tông trọng thì trước hết bạn phải có những điều kiện để được người khác tôn trọng, bạn phải có ý thức tự trọng: tự tin vào năng lực công tác của mình, quyết tâm nắm vững tri thức, không chịu thua kém người khác, những điều mà người khác hiểu thì mình không thể không hiểu, những điều mà người khác không biết thì mình cũng phải biết, chỉ có như vậy mới
có thể được người khác tôn trọng
Ý thức tự tôn trọng là động lực thúc đẩy người ta tiến tới, ai cũng có ý thức
tự tôn trọng Do đó, người lãnh đạo phải chú ý nghiên cứu nhu cầu đặc điểm của công nhân viên về mặt này, tìm cách thỏa mãn nhu cầu của họ, càng không thể làm tổn thương ý thức tự trọng của họ Chỉ có như vậy mới khơi dậy tính chủ động, tích cực của họ trong công tác
Nhu cầu được thể hiện tài năng, phẩm giá là cấp độ cao nhất thể hiện
qua việc vận dụng và phát triển các khả năng cá nhân trong công viêc Họ muốn được đảm nhận các công việc đòi hỏi sự sáng tạo có tính thách thức, vươn lên để đạt được các thành tích mới nhằm khẳng định bản thân Do vậy, tổ chức cần tạo môi trường thuận lợi, tăng tính tự quản để người lao động có thể phát huy sáng kiến để đạt được thành tích, kỷ lục mới Thực tế, đối với các cán bộ quản lý có tài năng, việc thiếu sự thỏa mãn và thách thức trong công việc thường là nguyên nhân làm họ tự thôi việc
Maslow cho rằng cá nhân trong tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu và chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động Theo ông, nhu cầu của con người phát triển từ thấp đến cao, khi nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn thì về cơ bản nó không còn tạo ra động lực và nhu cầu bậc cao hơn sẽ trở nên mạnh hơn và tác động quyết định đến hành vi của người lao động Vì thế, muốn tạo động lực cho người lao động cần phải hiểu được cấp bậc nhu cầu hiện tại của người lao động, từ đó dùng các biện pháp nhằm hướng vào thỏa mãn các nhu cầu đó của họ để làm cho họ hăng hái và chăm chỉ hơn với công việc được
Trang 2617
giao, phấn chấn hơn khi thực hiện nhiệm vụ và tận tụy hơn với nhiệm vụ đảm nhận đồng thời đảm bảo đạt đến các mục tiêu của tổ chức
1.2.2 Học thuyết hệ thống hai nhân tố của F.Herzberg
Thuyết hai nhân tố (Two Factor Theory hoặc Herzberg’s Boby
Motivation-Hygiene theory) được đưa ra năm 1959 bởi Frederick Herzberg, một nhà tâm lý
học người Mỹ Thông qua phỏng vấn sâu gần 4000 người với hai câu hỏi: (1) Khi nào bạn thấy hoàn toàn thích công việc đang đảm nhiệm? (2) Khi nào bạn thấy hoàn toàn thất vọng về công việc của bản thân? Tổng hợp kết quả nghiên cứu, Herzberg chỉ ra hai nhóm yếu tố liên quan đến tạo động lực cho người lao động Học thuyết này đã và đang được các nhà quản lý doanh nghiệp áp dụng rộng rãi
Các nhà quản lý thư ờng cho rằng đối ngư ợc với thỏa mãn là b ất mãn và ngược la ̣i Nhưng Herzberg la ̣i cho rằng đối nghịch với bất mãn không phải là thỏa mãn mà là không bất mãn và đối nghịch với thỏa mãn không phải là bất mãn mà là không thỏa mãn Các nhân tố liên quan đến sự th ỏa mãn đối v ới công viê ̣c đ ược gọi là nhân tố thúc đẩy (Motivator) – nhân tố bên trong Các nhân tố liên quan đến bất mãn được gọi là các nhân tố duy trì (Hygiene Factors) - nhân tố bên ngoài
Bảng 1.1: Các nhân tố duy trì và thúc đẩy
Các chính sách và chế độ quản trị Thành tích
Sự giám sát công việc Sự công nhận thành tích
Các quan hệ con người Trách nhiệm lao động
(Nguồn: Herzberg, 1959)
Trang 2718
Các nhân tố duy trì có tác dụng duy trì trạng thái làm việc tốt, ngăn ngừa sự không thỏa mãn trong công việc nhưng không làm cho họ thực hiện công việc tốt hơn Ngược lại nếu không được giải quyết tốt sẽ tạo ra sự bất mãn và sự phản ứng, chống đối của người lao động từ đó làm giảm hiệu suất làm việc
Các nhân tố thúc thúc đẩy nếu được giải quyết tốt sẽ tạo ra sự thỏa mãn và
từ đó sẽ tạo động lực cho người lao động làm việc tích cực hơn, chăm chỉ hơn, nhưng ngược lại nếu không được thực hiện tốt thì sẽ tạo ra tình trạng không thỏa mãn không hài lòng của người lao động đối với công việc, người lao động làm việc như trách nhiệm để đạt yêu cầu mà không có sự thích thú, tâm lý chán nản, không có động lực để phấn đấu nâng cao kết quả thực hiện công việc
Do vậy, để tạo ra sự thỏa mãn trong công việc nhằm đem lại động lực làm việc cho người lao động thì trước hết người quản lý phải quan tâm các nhân tố duy trì nhằm ngăn chặn sự bất mãn và tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho người lao động Tiếp đó, tác động đến các yếu tố thúc đẩy nhằm tạo ra động lực làm việc cho người lao động thông qua phân tích thiết kế lại công việc nhằm làm phong phú nội dung công việc, tăng tính thách thức, tăng trách nhiệm, giao thêm quyền
tự chủ trong công việc cho người lao động, thể hiện sự ghi nhận thành tích của người lao động thông qua các việc tăng lương, khen thưởng, đề bạt và các chế độ đãi ngộ khác
1.2.3 Học thuyết công bằng của J.Stacy Adams
Học thuyết về sự công bằng là một lý thuyết động viên do John Stacy Adams, một nhà tâm lý học hành vi và quản trị đưa ra vào năm 1965 Thuyết công bằng của Adams đưa ra những yếu tố ngầm và mang tính biến đổi tác động đến sự nhìn nhận và đánh giá của nhân viên về Công ty và công việc của họ
J Stacy Adams đề cập tới vấn đề nhận thức của người lao động về mức độ được đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức Giả thiết cơ bản của học thuyết
là mọi người đều muốn được đối xử công bằng, các cá nhân trong tổ chức có xu hướng so sánh những gì họ cống hiến cho công việc với thành quả họ gặt hái được
Trang 28Do vậy để thiết lập và duy trì sự công bằng trong tổ chức nhằm tạo động lực cho người lao động làm việc, tổ chức cần phải xây dựng hệ thống đánh giá tốt, với những tiêu thức đánh giá hợp lý phù hợp, phương pháp đánh giá chính xác công bằng, tiến hành đánh giá một cách công bằng, công khai nhằm mục đích phản ánh chính xác kết quả công việc và đóng góp của người lao động Đồng thời tiến hành chi trả lương, thưởng và các hoạt động quản trị nhân lực khác phải dựa trên kết quả đánh giá thực hiện công việc Bên cạnh đó, cần phải tránh sự phân biệt đối xử giữa những người lao động trong tập thể vì bất kỳ lý do nào như giới, tuổi, dân tộc hay tôn giáo
1.2.4 Học thuyết tăng cường tích cực của B.F.Skinner
Học thuyết của Skinner cho rằng con người sẽ có xu hướng lặp lại những hành vi mà họ nhận được những đánh giá tích cực (khen thưởng) còn những hành vi không được thưởng hoặc bị phạt sẽ có xu hướng không được lặp lại Tuy nhiên, tác dụng của các tác động tăng cường như thưởng phạt phụ thuộc vào khoảng thời gian
Trang 29người lao động đã đem lại lợi ích cho công ty Mặt khác, nên hạn chế sử dụng
hình phạt như là quở trách, cắt giảm quyền lợi đối với lỗi lầm mà người lao động
mắc phải hoặc có thể làm ngơ, coi như không biết đối với những sai sót mang
tính tạm thời hoặc không nghiêm trọng tới mức phải dùng hình phạt của nhân viên, tạo cơ hội cho họ tự sửa đổi
Để có thể sử dụng tốt các hình thức thưởng phạt để khuyến khích người lao động làm việc thì tổ chức phải thực hiện tốt các việc sau:
- Xác định một cách cụ thể những hành vi tích cực để định hướng người lao động thực hiện trong công việc đồng thời chỉ ra cho người lao động những hành vi tiêu cực không nên phạm phải
- Xây dựng các hình thức thưởng phạt gắn với các hành vi đã được xác định
ở trên, tuy nhiên nên nhấn mạnh vào các hình thức thưởng hơn là các hình phạt
- Thông báo và giải thích cho người lao động nắm được các hành vi tốt và không tốt, các biện pháp thưởng phạt tương ứng
- Việc thưởng hay phạt cần phải tiến hành sau khi xuất hiện hành vi càng sớm càng tốt và phải tiến hành một cách công bằng, công khai
1.2.5 Học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom
Victor Vroom đã nghiên cứu và đưa ra công thức về động lực của một cá nhân như sau:
Động lực = Kỳ vọng x Phương tiện x Tính hấp dẫn
Kỳ vọng hay mối quan hệ nỗ lực - thành tích: là khả năng mà một nhân viên
nhận thức rằng một nỗ lực nhất định sẽ dẫn đến một mức độ thành tích nhất định
Trang 3021
Phuơng tiện hay quan hệ thành tích - phần thưởng: là niềm tin của nhân
viên rằng khi hoàn thành công việc và đạt một thành tích nhất định sẽ được nhận một phần thưởng tương xứng
Tính hấp dẫn của phần thưởng: là mức độ quan trọng mà nhân viên đặt vào
kết quả hay phần thưởng tiềm năng mà họ có thể đạt được trong công việc Chất xúc tác ở đây có nghĩa là sự lôi cuốn của cả mục tiêu lẫn nhu cầu của nhân viên
Học thuyết kỳ vọng của Vroom chỉ ra rằng một người sẽ có nỗ lực làm việc khi họ có niềm tin mạnh mẽ rằng một sự nỗ lực nhất định của họ sẽ đem lại một thành tích nhất định, và với thành tích đó họ sẽ được nhận được những kết quả hoặc những phần thưởng mong muốn Do đó để tạo động lực thúc đẩy người lao động hăng say làm việc, người quản lý phải làm cho người lao động thấy rõ được mối quan hệ giữa sự nỗ lực với thành tích, giữa thành tích với kết quả và phần thưởng, đồng thời phải đưa ra các phần thưởng cả vật chất lẫn tinh thần tương xứng với thành tích mà người lao động đạt được đặc biệt phải phù hợp với nhu cầu, mong muốn của người lao động
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tạo động lực lao động
1.3.1 Yếu tố thuộc về cá nhân người lao động
Nhu cầu của người lao động
Nhu cầu là những đòi hỏi hay mong muốn tất yếu mà con người thấy cần phải thỏa mãn trong những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển Con người
ở một khoảng không gian nhất định luôn có nhiều nhu cầu khác nhau, trong những nhu cầu đó nhu cầu nào đã chín muồi sẽ là động cơ mạnh nhất quyết định hành vi của họ và khi nhu cầu đó đã được thỏa mãn thì nó sẽ không còn là động cơ thúc đẩy con người làm việc nữa mà lúc này nhu cầu mới xuất hiện sẽ đóng vai trò này Con người ở những vị trí xã hội khác nhau, những điều kiện kinh tế khác nhau thì
sẽ nảy sinh ra các nhu cầu khác nhau Do vậy các nhà quản lý phải luôn tìm các biện pháp quản trị thích hợp để gợi mở những nhu cầu của người lao động,
Trang 3122
khuyến khích họ nỗ lực làm việc tạo ra những sản phẩm thoả mãn khách hàng Đó chính là bí quyết của sự thành công
Mục tiêu cá nhân của người lao động
Mục tiêu cá nhân là cái mà người lao động đặt ra và mong muốn đạt được Mục tiêu là động cơ thôi thúc người lao động làm việc Trong một hoạt động cụ thể thì người lao động và tổ chức đều có những mục tiêu nhất định Không phải lúc nào mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của người lao động cũng đồng nhất với nhau mà có khi lại trái ngược nhau Nếu không có sự dung hòa thì cả hai bên đều không đạt được mục tiêu của mình Vì vậy nhiệm vụ của người quản lý là làm sao hướng các mục tiêu cá nhân đồng nhất hoặc không mâu thuẫn với mục tiêu của tổ chức và tạo điều kiện để người lao động hoàn thành tốt mục tiêu đó
Như vậy tính cách không phải là do di truyền mà nó chính là hiệu quả tác động của sự giáo dục, rèn luyện của bản thân và sự tác động gián tiếp của môi trường mà người đó được sống và làm việc trong đó Các nhà quản trị khi biết được tính cách của mỗi người lao động trong doanh nghiệp mình thì nó sẽ là cơ sở
để họ tìm ra cách đối xử và sử dụng tốt hơn
Tính cách gồm hai đặc điểm cơ bản là đạo đức và ý chí:
Trang 32Tính cách con người cũng là yếu tố cơ bản tác động đến hành vi hay ứng
xử của người nào đó Ví dụ khi gặp khó khăn hay trở ngại trong công việc thì người có tính độc lập và dám chịu trách nhiệm sẽ xem đó là một động lực để quyết tâm làm việc tốt hơn còn nếu là người không dám đối diện với trách nhiệm, sống phụ thuộc vào người khác thì họ sẽ run sợ trước sự khó khăn này và họ có thể sẽ bỏ dở công việc hoặc đi tìm một người dám đứng ra chịu trách nhiệm hộ họ
Khả năng, năng lực của mỗi người
Khả năng hay còn gọi là năng khiếu là những thuộc tính cá nhân giúp con người có thể lĩnh hội một công việc, một kỹ năng hay một loại kiến thức nào đó được dễ dàng và khi họ được hoạt động ở lĩnh vực đó thì khả năng của họ sẽ được phát huy tối đa, kết quả thu được sẽ cao hơn những người khác
Năng lực vừa là yếu tố di truyền vừa là kết quả của sự rèn luyện Năng lực
là cơ sở để tạo ra khả năng của con người Năng lực được thực hiện và trưởng thành chủ yếu trong thực tế Trong các loại năng lực của con người thì quan trọng nhất là năng lực tổ chức và năng lực chuyên môn Người lao động có thể có một trình độ chuyên môn rất tốt nhưng nếu họ chỉ được sắp xếp để làm những công việc ngang bằng với trình độ hiện có thì năng lực của họ cũng chưa được phát huy hết sức vì người lao động là con người mà con người thì họ luôn muốn tìm tòi, học hỏi để nâng cao tầm hiểu biết của mình lên Vì vậy trong thực tế quá trình lao động nhà quản trị luôn phải thiết kế công việc, bố trí nhân lực sao cho người lao động có điều kiện để duy trì và phát triển năng lực chuyên môn của mình Đồng thời trong quá trình làm việc, nếu có thể được thì nhà quản trị nên thiết lập nên một không gian cho người lao động để họ tự tổ chức nơi làm việc sao cho hợp lý với họ nhất
Trang 3324
Đánh giá đúng năng lực nhân viên là cơ sở để nhà quản lý sử dụng tốt nhất nhân viên trong doanh nghiệp Một người lao động sẽ thoải mái hơn khi họ được giao những công việc phù hợp với khả năng và năng lực của họ vì họ biết được chắc chắn rằng họ sẽ hoàn thành được công việc đó ở mức tốt nhất Ngược lại khi phải đảm nhận những công việc ngoài khả năng hoặc những công việc mà họ biết chắc rằng nếu họ cố gắng cũng không thực hiện công việc đó được tốt thì sẽ rất dễ gây nên tâm lý bất mãn của người lao động với tổ chức, doanh nghiệp
Sự khác biệt về cá nhân người lao động
Đây là nhóm yếu tố bao gồm giới tính, tuổi, tôn giáo, địa vị,… tất cả những điểm khác nhau khiến việc tạo động lực làm việc cho người lao động cũng khác nhau Ở đây cần quan tâm đến quan điểm cá nhân và đặc điểm tâm lý
Quan điểm cá nhân là hệ thống những triết lý, tư tưởng được thể hiện qua cách nhìn nhận và đánh giá của bản thân cá nhân đó trước một vấn đề, một sự việc
và có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động lao động của họ Đặc điểm tâm lý cá nhân của mỗi người là cơ sở của mọi hành động của con người Mỗi con người có đặc điểm tâm lý khác nhau do đó hình thành nên những tính cách khác nhau, đây
là cơ sở giúp nhà quản lý sử dụng và khai thác người tại các vị trí khác nhau nhằm phục vụ công việc một cách hiệu quả nhất
Tình trạng kinh tế của người lao động
Khi cuộc sống càng khó khăn thì người lao động càng cố gắng làm việc để tăng thu nhập cải thiện đời sống bản thân và gia đình lúc đó khuyến khích tài chính là biện pháp tạo động lực mạnh Khi đời sống kinh tế của họ đầy đủ thì khuyến khích phi tài chính là biện pháp tạo động lực lao động mạnh nhất Vì vậy người quản lý cần nắm rõ tình trạng kinh tế của người lao động để thỏa mãn các nhu cầu kinh tế khác nhau để tạo động lực cho người lao động một cách hiệu quả
1.3.2 Các yếu tố bên ngoài
1.3.2.1 Yếu tố thuộc về công việc
Tính hấp dẫn của công việc
Trang 3425
Người lao động sẽ cảm thấy thế nào khi nhận được một công việc không như mong muốn của họ, ngược lại họ sẽ cảm thấy như thế nào khi nhận được một công việc phù hợp với khả năng, sở trường của họ… những vấn đề này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động, hiệu quả làm việc của người lao động vì vậy nhà quản trị cần quan tâm đến nhu cầu, khả năng của người lao động để vừa tạo điều kiện cho người lao động phát huy khả năng của họ vừa tạo ra được sự thoả mãn đối với người lao động
Tính hấp dẫn của công việc tạo nên sự thoả mãn đối với công việc của người lao động Sự thoả mãn sẽ được thể hiện ở thái độ của người đó trong quá trình làm việc Tính hấp dẫn của công việc là một khái niệm khá rộng, đối với người lao động nó không chỉ là một công việc như mong muốn mà nó còn là sự kiểm soát đối với công việc, sự ủng hộ của lãnh đạo trong quá trình làm việc, những phần thưởng, trợ cấp đối với công việc… Tất cả những vấn đề này có tác dụng tạo động lực cho người lao động trong quá trình làm việc
Khi người lao động nhận được công việc phù hợp với khả năng, sở trường của họ thì họ sẽ phát huy năng lực làm việc của họ một cách tối đa dù những điều kiện dù bình thường nhất Nhà quản trị cần dựa vào những đặc điểm tâm lý cá nhân, tính cách của người lao động để sắp xếp công việc cho phù hợp với họ Những công việc có tính thách thức sẽ là động cơ tốt cho người lao động
Làm mới công việc cũng được coi là một cách tạo động lực làm việc cho người lao động Người lao đông phải làm ở một vị trí công việc trong suốt thời gian dài sẽ dẫn đến nhàm chán trong công việc Công việc có sự mới mẻ luôn tạo cảm giác hứng khởi, lôi cuốn người lao động làm việc hăng say hơn là một công việc nhàm chán
Vì vậy, để tạo động lực cho người lao động, người sử dụng lao động phải thường xuyên nghĩ đến làm mới công việc bằng các cách khác nhau như việc giới hạn của thời gian lặp lại các thao tác lao động, bố trí sắp xếp lại lao động, luân chuyển lao động, hoặc đề bạt thăng chức đưa người lao động lên vị trí làm việc cao hơn, ngoài ra còn có thể giao cho họ những công việc đòi hỏi sự sáng tạo, tìm tòi mới hay những công việc có gắn trách nhiệm bản thân cao,… Công việc luôn
Trang 3526
đem lại ý nghĩa cao cho cá nhân người lao động và toàn xã hội nghĩa là công việc luôn thỏa mãn động cơ lao động của những người đó
Khả năng thăng tiến
Thăng tiến là quá trình một người lao động được chuyển lên một vị trí cao hơn trong doanh nghiệp, việc này thường được đi kèm với việc lợi ích vật chất của người lao động sẽ được tăng lên đồng thời cái tôi của họ cũng được thăng hoa Như vậy thăng tiến cũng là một nhu cầu thiết thực của người lao động vì sự thăng tiến tạo cơ hội cho sự phát triển cá nhân, tăng địa vị, uy tín cũng như quyền lực của người lao động
Trong điều kiện hiện nay bất kỳ người lao động nào cũng muốn mình được người khác tôn trọng, họ làm việc không chỉ đơn thuần là lấy thu nhập mà họ còn mong muốn có được chỗ đứng nhất định trong xã hội Một công việc giúp họ có
cơ hội thăng tiến tốt, rõ ràng sẽ có tác động mạnh mẽ đến động cơ làm việc của người lao động Để đảm bảo sự thăng tiến công tác phân công và hiệp tác lao động đóng vai trò quan trọng, nó mở ra những đòi hỏi ngày càng cao đối với trình độ chuyên môn của người lao động, lúc này việc đòi hỏi kinh nghiệm của người lao động cũng tăng theo, hướng người lao động đến nấc thang cao của sự lành nghề Đảm bảo sự thăng tiến cho người lao động là một công tác cần thiết trong việc tạo động lực cho người lao động
Quan hệ trong công việc
Đây chính là nhu cầu xã hội của người lao động trong quá trình làm việc Môi trường làm việc trong doanh nghiệp luôn được các cá nhân trong doanh nghiệp quan tâm và để ý vì môi trường làm việc là yếu tố chủ yếu liên quan đến sự thuận tiện cá nhân và nó cũng là nhân tố giúp người lao động hoàn thiện tốt nhiệm
vụ của họ
Môi trường làm việc bao gồm các điều kiện vật chất kỹ thuật và những người lao động xung quanh môi trường đó Điều kiện vật chất kỹ thuật bao gồm những yếu tố như: điều kiện làm việc, vấn đề về tổ chức nơi làm việc, máy móc
Trang 3627
trang thiết bị kỹ thuật trong doanh nghiệp… và những người lao động xung quanh chính là những người lao động trong và ngoài doanh nghiệp, mối quan hệ giữa những người này cũng ảnh hưởng lớn đến sự thực hiện công việc của công nhân Trong con người thì tính xã hội là rất cao vì vậy người lao động trong tổ chức luôn muốn có được mối quan hệ tốt với mọi người trong cùng một tổ chức đó
Nhu cầu quan hệ thường bao gồm một phần của nhu cầu tự trọng mà muốn thoả mãn được nhu cầu tự trọng thì các nhà quản trị phải tìm cách thoả mãn nó từ bên ngoài, và nhu cầu tự trọng chỉ thể hiện rõ nhất khi người lao động tồn tại trong một tổ chức vì vậy thông thường họ mong muốn được là thành viên của một nhóm
xã hội nào đó, có thể là chính thức hoặc phi chính thức Ví dụ đối với nhiều người những tương tác mang tính công việc góp phần đáng kể trong việc thoả mãn nhu cầu bạn bè và quan hệ xã hội
1.3.2.2 Các yếu tố thuộc về tổ chức
Chính sách quản lý của doanh nghiệp
Quản trị nhân lực vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật Tính khoa học thể hiện ở việc các nhà quản trị phải biết nắm vững những đặc điểm vốn có của con người để có thể xây dựng nên các chính sách quản lý hợp lý dựa trên cơ
sở vận dụng các quy luật khách quan Và nói quản trị nhân lực là một nghệ thuật
vì các nhà quản lý phải biết lựa chọn và kết hợp các phương pháp quản lý thích hợp vì mỗi cá nhân con người đều có sự khác biệt lẫn nhau về nhu cầu, thái độ, nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý
Như vậy chính sách quản lý của doanh nghiệp phải bao gồm nhiều biện pháp khác nhau vì một chính sách quản lý của doanh nghiệp tác động rất nhiều đến thái độ, hành vi của người lao động Ở một khía cạnh nào đó người lao động trong doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi chính sách quản lý, cách cư xử của lãnh đạo trong doanh nghiệp Ví dụ: không có chính sách luân chuyển công việc thì sẽ rất dễ gây đến sự nhàm chán trong công việc cho người lao động, không có chính sách về đào tạo và phát triển thì người lao động sẽ không có cơ
Trang 3728
hội thăng tiến như vật sẽ mất đi một phần động cơ của người lao động, một thành tích đạt được mà không có thưởng hoặc một lời khen ngợi thì sẽ làm giảm sự nỗ lực tiếp theo của người lao động… Rất nhiều vấn đề được đặt ra để cho thấy sự ảnh hưởng của chính sách đến người lao động
Việc quản trị sẽ có hiệu quả nhất khi các nhà quản trị biết kết hợp đúng đắn, nhuần nhuyễn và linh hoạt các phương pháp quản trị Đó chính là nghệ thuật trong quản trị hay nói rõ hơn nó chính là tài nghệ của chủ thể quản trị nói riêng và các nhà lãnh đạo nói chung
Hệ thống trả công trong doanh nghiệp
Vấn đề mình sẽ nhận được gì khi thực hiện những công việc, nhiệm vụ của mình được hầu hết mọi người lao động trong doanh nghiệp quan tâm Vì vậy các nhà quản trị phải thấy rằng việc thực hiện nhiệm vụ và sự thoả mãn của người lao động có thể hoàn thiện bằng việc xây dựng một chế độ trả lương trả thưởng hợp lý
Lương bổng và đãi ngộ là một trong những động lực kích thích con người làm việc hăng hái nhưng ngược lại nó cũng là một trong những nhân tố gây nên sự trì trệ, bất mãn hoặc cao hơn đó là sự rời bỏ công ty mà đi của người lao động Tất cả những điều này phụ thuộc vào năng lực quản lý và trình độ của các cấp quản trị
Điều kiện làm việc
Quá trình lao động bao giờ cũng được diễn ra trong một môi trường sản xuất nhất định Môi trường sản xuất khác nhau có các điều kiện khác nhau tác động đến người lao động Như vậy điều kiện làm việc của mỗi người lao động rất phong phú và đa dạng và mỗi một môi trường làm việc, một điều kiện làm việc để tác động rất nhiều đến người lao động và nó tác động đến họ theo nhiều khía cạnh khác nhau
Điều kiện tâm sinh lý lao động: Đó là các vấn đề về sức tập trung tinh thần, nhịp độ, tính đơn điệu của công việc Điều kiện này tác động đến sức khoẻ và sự hứng thú của người lao động
Trang 38Điều kiện về chề độ làm việc, nghỉ ngơi Xây dựng tốt chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý sẽ đảm bảo cho việc tái sản xuất sức lao động, là điều kiện để giảm tai nạn lao động, tăng năng suất và chất lượng lao động
1.4 Một số công cụ tạo động lực cho người lao động
1.4.1 Các công cụ tài chính
Tiền lương
Tiền lương là số lượng tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận của hai bên trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Tiền lương là động lực chủ yếu kích thích người lao động làm việc tốt vì:
Tiền lương là phần cơ bản nhất trong thu nhập chính của người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống hàng ngày, duy trì cuộc sống của bản thân và gia đình
Tiền lương kiếm được ảnh hưởng đến địa vị của người lao động trong gia đình, giá trị và địa vị của họ trong tương quan với các bạn đồng nghiệp cũng như giá trị tương đối của họ với tổ chức và đối với xã hội
Tiền lương không chỉ ảnh hưởng tới người lao động mà còn ảnh hưởng tới
tổ chức:
Tiền lương là một phần quan trọng của chi phí sản xuất Tăng tiền lương sẽ ảnh hưởng tới chi phí, giá thành sản phẩm và khả năng cạnh tranh của sản phẩm của tổ chức trên thị trường Nên tiền lương cần phải quản lý một cách có hiệu quả, đảm bảo mức chi trả tiền lương là thấp nhất
Trang 39Từ những ý nghĩa trên của tiền lương nhà quản lý cần thấy được ý nghĩa vô cùng to lớn của tiền lương trong việc kích thích tâm lý của người lao động Tiền lương chỉ thỏa mãn những yêu cầu sau thì tiền lương mới có giá trị kích thích tâm
lý của người lao động:
Thu nhập từ tiền lương của người lao động phải chiếm từ 70% - 80% tổng thu nhập của người lao động Tiền lương phải gắn chặt số lượng và chất lượng lao động, phải phản ánh cống hiến của người lao động cho tổ chức, phải phản ánh vai trò vị trí đích thực của người lao động Từ đó tiền lương mới kích thích họ hăng say lao động với tinh thần và trách nhiệm cao nhất Nếu người lao động cảm thấy tiền lương của mình không thỏa đáng với sự đóng góp của họ, họ sẽ có thái độ bất mãn, gây ra những ảnh hưởng không tốt đối với tổ chức
Tiền lương phải được trả dựa trên các chỉ tiêu lao động cụ thể đã được xác định trong bản mô tả công việc và bản tiêu chuẩn thực hiện công việc Để người lao động thấy được muốn được lương cao thì phải người lao động phải làm những công việc gì và cần phải thực hiện công việc đó tốt tới mức nào
Tiền lương phải đảm bảo được tái sản xuất giản đơn sức lao động của người lao động Trong quá trình làm việc cho tổ chức nếu tổ chức đảm bảo được đời sống của họ thì họ sẽ phấn khởi và gắn bó với doanh nghiệp
Trong công tác trả lương tổ chức cần chú ý đến cả hai mặt của tiền lương là trình độ và thâm niên công tác của người lao động Điều đó tổ chức vừa có thể giữ chân người tài, giỏi vừa kích thích động lực hăng say làm việc của họ hết mình vì công việc vì tổ chức
Trang 40Tiền thưởng cho những hoạt động sáng tạo của người lao động
Như vậy tiền thưởng có vai trò rất quan trọng trong công tác tạo động lực cho người lao động Nó tạo ra sự cạnh tranh giữa những người lao động trong tổ chức làm cho năng suất lao động tăng lên
Phụ cấp và phúc lợi
Phụ cấp là khoản tiền mà tổ chức trả thêm cho người lao động Nó bổ xung cho lương cơ bản, bù đắp thêm cho người lao động khi họ phải làm việc trong những điều kiện không ổn định hoặc không thuận lợi mà chưa được tính đến khi xác định lương cơ bản
Ở Việt Nam hiện nay có một số loại phụ cấp chủ yếu: phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp độc hại nguy hiểm…
Phụ cấp tuy không lớn nhưng nó cũng góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động Phụ cấp còn góp phần tạo ra sự công bằng giữa những người lao động trong tổ chức Những người đảm nhận trách nhiệm công việc cao hay làm việc trong môi trường khó khăn độc hại sẽ được mức phụ cấp ưu đãi hơn những người làm việc trong điều kiện bình thường Không những vậy phụ cấp còn nâng cao tinh thần trách nhiệm của người lao động với tổ chức