Một trong những nhiệm vụ luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm đó là “Phát triển nông nghiệp và kinh tế ngoại thành theo hướng nông nghiệp đô thị - sinh thái, thực hiện công nghiệp hoá, hi
Trang 1
LUẬN VĂN:
Cơ sở khoa học để phát triển nông
nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái và hđh nông thôn Hà Nội giai
đoạn 2006-2010
Trang 21 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
“Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước" Với vị trí quan trọng như vậy, Hà Nội có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có nhiều thách thức trong phát triển kinh tế, văn hoá xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng Một trong những nhiệm vụ luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm đó là “Phát triển nông nghiệp và kinh tế ngoại thành theo hướng nông nghiệp đô thị - sinh thái, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn; ưu tiên phát triển nông nghiệp sạch, các nghề, làng nghề truyền thống, làng nông nghiệp du lịch sinh thái” Trong giai đoạn 2001 - 2005, nhiệm vụ này
đã được quán triệt trong Đại hội lần thứ 13 của Đảng bộ thành phố, và đã được cụ thể hoá trong chương trình 12 của Thành uỷ Hà Nội Nhiều nội dung của nhiệm vụ đã đi vào cuộc sống Dù sao đây cũng là vấn đề mới cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, vì điểm xuất phát của nó từ một quốc gia đang phát triển, còn có nhiều khó khăn khi thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Vấn đề đặt ra là xác định mục tiêu, chặng đường, bước đi, các giải pháp, làm thế nào đạt được mục tiêu trong thời gian ngắn và hiệu quả cao Để phục vụ cho chủ trương phát triển nông nghiệp
đô thị sinh thái và hiện đại hoá nông thôn Hà Nội giai đoạn 2006 - 2010, việc nghiên
cứu đề tài “Cơ sở khoa học để phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại
hoá nông thôn Hà Nội giai đoạn 2006-2010” có ý nghĩa thực tiễn Trên cơ sở đó, giúp
cho các cơ quan hoạch định đường lối, chính sách làm luận cứ xây dựng chiến lược, mục tiêu, phương hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hoá nông
2.2 Đề xuất được những định hướng, giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn
Hà Nội theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hoá nông thôn giai đoạn
2006 - 2010
3 Nội dung chủ yếu
Trang 3Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm 3 phần
Phần I: Cơ sở lý luận của phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hoá nông thôn
Phần II: Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hoá nông thôn giai đoạn 1986-2005
Phần III Phương hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hoá nông thôn giai đoạn 2006-2010
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Đề tài đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để quán triệt sự logic hóa
từ lý luận đến thực tiễn và dự báo sự phát triển trong tương lai
- Phương pháp kế thừa: toàn bộ nghiên cứu, số liệu thông tin, tư liệu, các bài viết chuyên đề về các lĩnh vực có liên quan đến đề tài đều được kế thừa trong quá trình nghiên cứu của các chuyên đề và đề tài một cách có khoa học
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo để thu nhập thêm các thông tin cần thiết từ các ngành, các cơ quan chức năng và người sản xuất
- Phương pháp tổng hợp và phân tích kinh tế thông qua hệ thống chỉ tiêu nhằm đánh giá một cách khoa học vấn đề thực tiễn phát triển kinh tế xã hội và xây dựng hệ thống chỉ tiêu, tiêu chí cần thiết
- Phương pháp dự tính, dự báo phát triển kinh tế xã hội nhằm giúp cho đề tài dự báo các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội nông nghiệp – nông thôn Hà Nội trong giai đoạn 2006-2010 và các giải pháp thực hiện
Trang 4Phần thứ nhất
Cơ sở lý luận của nông nghiệp đô thị sinh thái
và hiện đại hoá nông thôn
1.1 Nông nghiệp đô thị sinh thái
1.1.1 Khái niệm nông nghiệp sinh thái
- Sản xuất nông nghiệp vốn đã mang trong nó bản chất sinh thái, sản xuất nông nghiệp muốn phát triển có hiệu quả và ổn định đương nhiên phải phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn, môi trường và quần thể sinh vật tạo nên hệ sinh thái nông nghiệp Chính sự phù hợp đó làm cho cây trồng vật nuôi phát huy mọi ưu thế và tác động lẫn nhau để tồn tại và phát triển, đó là một nền nông nghiệp sinh thái Nhiều học giả cũng cho rằng nông nghiệp sinh thái cũng chính là nông nghiệp bền vững, một nền nông nghiệp sinh thái, hay bền vững đều mang lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Nhưng ngược lại, một nền sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao, chưa chắc đã là một nền nông nghiệp sinh thái và bền vững nếu như nó không có tác động đến bảo vệ môi trường sinh thái
“Nông nghiệp đô thị: nông nghiệp đô thị là một ngành công nghiệp mà sản xuất, chế biến và buôn bán thực phẩm và chất đốt thực hiện trên các vùng đất và mặt nước xen kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô” (UNDP) Nông nghiệp đô thị nói một cách đơn giản bao gồm toàn bộ hoạt động sản xuất nông nghiệp từ sản xuất nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nằm xen kẽ trong đô thị và các vùng ven đô Khái niệm này có thể gói gọn trong phạm vi lãnh thổ và phi lãnh thổ của một đô thị
Sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản) diễn ra trong các quận gọi là nông nghiệp nội đô, diễn ra ở ngoại thành thì gọi là nông nghiệp ngoại đô Điều này dẫn đến đặc điểm sự khác biệt giữa nông nghiệp nội đô, nông nghiệp giáp ranh, nông nghiệp ngoại đô hay ngoại thành
Nông nghiệp đô thị sẽ được phân chia theo các vành đai khác nhau do tính chất
và đặc thù của nó Có thể phân chia theo các khu vực dưới đây:
- Nông nghiệp nội đô
- Nông nghiệp vùng vành đai nhạy cảm
Trang 5- Nông nghiệp ngoại đô (ngoại thành)
Do đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội và môi trường của mỗi vùng khác nhau, cho nên sản xuất nông nghiệp ở mỗi vùng cũng khác nhau, chính điều đó hình thành tính đa dạng của nông nghiệp đô thị Kế thừa các công trình nghiên cứu của các học giả
có thể nêu khái niệm nông nghiệp đô thị sinh thái
Khái niệm nông nghiệp đô thị sinh thái: nông nghiệp đô thị sinh thái là một quá trình sản xuất được bố trí phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng đô thị nhằm khai thác triệt để các tiềm năng với công nghệ sản xuất sạch tạo ra sản phẩm chất lượng cao, an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng môi trường, cảnh quan tạo ra hệ sinh thái bền vững
Khái niệm này chỉ ra các nội dung chủ yếu:
- Sản xuất nông nghiệp được bố trí và sản xuất phù hợp với điều kiện của mỗi vùng, tạo ra sự tác động hữu cơ, đảm bảo cân bằng sinh thái, đạt hiệu quả sản xuất cao
- Quá trình sản xuất nông nghiệp trên diễn ra ở vùng xen kẽ, hay tập trung các vùng đô thị bao gồm nội đô, giáp ranh và ngoại ô
- Sản xuất nông nghiệp trên tạo ra mối quan hệ hữu cơ trong ngành và đảm bảo
sự cân bằng sinh thái, tính hiệu quả và bền vững Đồng thời tác động tích cực đến cải tạo môi trường sinh thái của vùng đô thị
- Sản xuất nông nghiệp tạo ra sản phẩm chất lượng cao, đảm bảo an toàn tthực
phẩm, giữ gìn sức khoẻ và nhu cầu cho người tiêu dùng
1.1.2 Những đặc điểm của nông nghiệp đô thị sinh thái
Phát triển nông nghiệp ven đô với mục đích đầu tiên đó là phát triển nông thôn ven đô chứ không phải là để thoả mãn nhu cầu của đô thị Bởi thế, cần phải hiểu đặc trưng của nông thôn ven đô, trước khi hiểu nông nghiệp đô thị sinh thái Nông thôn ven
đô thường có các đặc điểm sau:
1.1.2.1- Có sự gia tăng mạnh về dân số, đặc biệt là sự gia tăng cơ học Dân số ven đô luôn được bổ xung bởi sự di cư từ nội thành ra và từ các nơi khác đến Kết quả là tồn tại một xã hội nông thôn ven đô đa dạng cả về dân số và nghề nghiệp… Rất nhiều người sống ở nông thôn ven đô bị tách biệt giữa nơi ở và nơi làm việc, các hoạt động phi nông nghiệp cạnh tranh về lao động khá lớn với nông nghiệp và nó thu hút đặc biệt
là lực lượng lao động trẻ Cơ sở hạ tầng nông thôn khá tốt, nhưng đôi khi không gian nông thôn bị chia cắt, gây khó khăn cho sinh hoạt và lao động của người dân
Trang 61.1.2.2- Tình trạng sản xuất nông nghiệp không ổn định do ngày càng có sự mở rộng các vành đai đô thị ra bên ngoài Tốc độ đô thị hoá, khả năng quy hoạch đô thị, chính sách và khả năng kiểm soát sự phát triển đô thị ảnh hưởng mạnh đến tính ổn định của nông nghiệp ven đô Đất đai nông nghiệp có xu thế giảm mạnh Nông nghiệp ảnh hưởng nhiều của sự ô nhiễm đô thị Các thành phố càng phát triển càng tồn tại nhiều các
hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ, do đất đai ngày một đắt và bị mất đất vì đô thị hoá
1.1.2.3- Nông nghiệp ven đô có nhiều lợi thế về thị trường Tận dụng lợi thế gần thành phố, nông nghiệp ven đô thường phát triển sản xuất các sản phẩm tươi sống, rau, sữa, quả… tạo ra nền nông nghiệp khác biệt với đặc điểm thông thường của nó Đó là nông nghiệp không (hoặc ít) mang tính mùa vụ Tuy nhiên, sản phẩm đặc sản của một
số vùng nhỏ ven đô vẫn có thể tồn tại và phát triển nhờ thị trường tiêu thụ luôn mở rộng Các sản phẩm đặc biệt khác như hoa, cây cảnh cũng có cơ hội phát triển
1.1.2.4- Nông nghiệp sinh thái làm cho năng suất thấp hơn: Ngô 10%, đậu 5%…,
so với nông nghiệp thường Trong điều kiện thuận lợi nông nghiệp sinh thái cho năng suất thấp hơn nông nghiệp thường; Nhưng trong điều kiện không thuận lợi nông nghiệp sinh thái cho năng suất cao hơn Khoảng sau 3-4 năm luân canh, nông nghiệp sinh thái
có năng suất tăng lên rõ rệt
1.1.2.5- Nông nghiệp sinh thái dùng ít năng lượng hơn nông nghiệp nhưng vì năng suất của nông nghiệp sinh thái thấp hơn nên thu nhập thuần giữa hai phương thức gần như nhau
1.1.2.6- Nhu cầu lao động trong nông nghiệp sinh thái có phần cao hơn so với nông nghiệp thường Nông nghiệp sinh thái đi đôi với việc giữ gìn đa dạng sinh học.ở các cửa hàng ta thấy có các loài và giống cây trồng hiện nay đã biến mất trên thị trường như các loại ngũ cốc: Kê, ý dĩ; các loại củ như: Từ, môn, củ mài và các loại rau, quả tự nhiên, các loại thịt lợn rừng, gà rừng v.v…
Bởi vậy do yêu cầu của thị trường về chất lượng sản phẩm nông nghiệp sinh học, nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp công nghệ cao có nhiều cơ hội phát triển
1.1.3 Nông nghiệp sinh học, hữu cơ, sinh thái
1.1.3.1 Khái niệm: ở các nước nói tiếng pháp thường gọi là nông nghiệp sinh học,
ở các nước nói tiếng Anh thường được gọi là nông nghiệp hữu cơ và ở các nước Bắc Âu thường được gọi là nông nghiệp sinh thái
Trang 7Nông nghiệp sinh học là một nền nông nghiệp dựa trên các nguyên tắc sau: Tôn trọng tuyệt đối các quan hệ và cân bằng tự nhiên giữa đất (môi trường), thực vật (cây trồng) và động vật (chăn nuôi) Cấm sử dụng các hóa chất tổng hợp Tôn trọng sinh trưởng và phát triển tự nhiên của động vật Nông nghiệp sinh học là hình thức nông nghiệp sinh thái có quy định nhất, có các tiêu chuẩn xác định một cách pháp lý về sản xuất, chế biến, nhãn hiệu Trong hệ thống nông nghiệp sinh học, các yếu tố sản xuất sinh vật lý quan hệ với các yếu tố kinh tế xã hội và thể chế Nông nghiệp sinh học là một chuỗi từ nông trại đến bàn ăn Các thông số sản xuất và sau sản xuất bao gồm: Đất
và nước trong hệ thống cây trồng và vật nuôi bao gồm sử dụng đất, làm đất, đồng cỏ, nông lâm kết hợp, sử dụng nước
Quản lý độ màu mỡ của đất bao gồm sinh lý, sinh thái, quay vòng dinh dưỡng, luân canh, trồng xen, tạo ra và sử dụng lại chất hữu cơ Sản xuất trồng trọt bao gồm chọn giống, nhân giống, phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại Chăn nuôi bao gồm chiến lược nuôi dưỡng, thú y, bảo quản Nguồn lợi nông trại bao gồm nguồn năng lượng tái tạo được, lao động và cơ khí Hệ thống sau thu hoạch bao gồm cất giữ, chế biến, vận chuyển để giảm mất mát và giữ chất lượng
Các cơ sở kinh tế xã hội và thể chế bao gồm: Các khung điều tiết và chính sách
hỗ trợ và công cụ trả cho người sản xuất, các cơ sở tiếp thị, phát triển vùng, cung cấp thông tin và khung pháp lý Tiêu chuẩn và định mức chỉ đạo việc kiểm tra, cấp chứng chỉ, nhãn hiệu và bảo đảm tín nhiệm Chương trình nghiên cứu, bảo đảm liên hệ với các
cơ quan nghiên cứu, thúc đẩy việc tham gia của người sản xuất vào nghiên cứu tại chỗ Phát triển cộng đồng tổ chức nông dân với các cơ chế tự điều tiết và mạng lưới quốc gia Cơ cấu thị trường bao gồm đầu ra, cơ hội, lợi thế so sánh, giá cả, nhu cầu, tổ chức, hợp tác xã và hiệp hội, các tổ chức sản xuất - tiêu dùng, mạng lưới buôn bán Hướng dẫn thị hiếu tiêu dùng liên quan đến quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm
Khả năng chi tiêu của người tiêu dùng để hỗ trợ sản xuất sinh học Việc chuyển đổi sang nông nghiệp sinh học đòi hỏi thay đổi thành phần của đầu vào Để thay thế chi phí về phân hóa học và thuốc trừ sâu bệnh cần các chi phí về các đầu vào khác như chất hữu cơ, làm đất, máy móc … Việc thay đổi luân canh làm giảm năng suất, sản lượng và thu nhập, ảnh hưởng an ninh thực phẩm và môi trường tự nhiên
Các thay đổi ấy ảnh hưởng đến các thay đổi về xã hội trong cộng đồng Các nguyên tắc mà các nông gia sinh học cần nhớ: Độ màu mỡ của đất do chất hữu cơ và
Trang 8chất dinh dưỡng phân hữu cơ cung cấp Chăn nuôi phải gắn liền với trồng trọt, với luân canh, với thức ăn sản xuất trong nông trại Phải chuyển đổi tất cả đất hoang hóa thành nơi sản xuất thức ăn để chăn nuôi Phải bảo vệ đa dạng sinh học bằng cách chọn các loài
và giống cây trồng và vật nuôi địa phương để trồng, nuôi và tìm đầu ra cho chúng (VS.GS Đào Thế Tuấn)
1.1.3.2 Việc phổ biến nông nghiệp sinh học trong sản xuất
Hiện nay diện tích nông nghiệp sinh học trong sản xuất nông nghiệp còn rất ít ở các nước cộng đồng châu Âu chỉ chiếm có 2%, ở Hoa Kỳ là 0,1%, Canada là 1,34% ở một số nước đang phát triển như Trung Quốc, Ai Cập, ấn Độ, … cũng có phát triển Năm 1991 và 1992 cộng đồng châu Âu có chính sách hỗ trợ nông nghiệp sinh học Từ năm 1991 nông nghiệp sinh học theo quy trình sản xuất trồng trọt của Cộng đồng châu
Âu số 209/91 Về chăn nuôi chưa có quy trình châu Âu nhưng có 11 quy trình quốc gia Trong 13 năm diện tích nông nghiệp sinh học ở cộng đồng châu Âu tăng 30 lần, từ 100.000 ha năm 1985 lên 2,8 triệu ha năm 1998.Trong 10 năm gần đây tốc độ tăng là 25% năm Nếu cứ tiếp tục theo tốc độ 15-25% năm thì đến 2005 đạt 5-10%, năm 2020 đạt 10-30%
Năm 1998 thị trường nông nghiệp sinh học ở Mỹ đạt 4 tỷ USD, tăng 20% hàng năm, ở Cộng đồng châu Âu đạt 5-7 tỷ Euro Có 113.000 doanh nghiệp và 2,8 triệu ha hay 2,1% diện tích nông nghiệp ở Trung và Đông Âu trong các năm 90 cũng tăng nhanh, năm 2000 đã đạt 192.000 ha Những cản trở của việc áp dụng nông nghiệp sinh học là: Năng suất lao động thấp hơn, nông nghiệp thường 22-25%, mà ở các nước tiên tiến thường dùng vốn thay lao động Thiếu phân hữu cơ, các nông trại ngày càng có xu hướng độc canh nên không phát triển chăn nuôi Khó khăn trong việc phòng trừ cỏ dại, làm cỏ bằng tay tốn công Thị trường của nông nghiệp hữu cơ nhỏ, việc trả tiền lương chậm, thiếu tín dụng …
Để khắc phục các khó khăn các Chính phủ thường có chính sách hỗ trợ việc chuyển đổi từ nông nghiệp sang nông nghiệp sinh học
1.1.3.3 Việc kiểm tra và buôn bán sản phẩm nông nghiệp sinh học
Các sản phẩm nông nghiệp sinh học có bán ở cửa hàng đặc biệt hay siêu thị thường mang nhãn hiệu có ghi nhãn AB (nông nghiệp sinh học) Có nhiều tổ chức kiểm tra độc lập với người sản xuất được Bộ nông nghiệp uỷ quyền Các tổ chức này thường
Trang 9xuyên đến kiểm tra các nông trại và phân tích sản phẩm trong phòng thí nghiệm Đồng thời các tổ chức này dán nhãn hiệu của mình trên hàng hóa
Trên thị trường rau quả nông nghiệp sinh học xuất hiện sớm nhất Sau đấy đến thịt, hạt cốc, sản phẩm chế biến Hiện nay đã có hơn 20 quy trình kỹ thuật quy định việc sản xuất thịt, sữa, phomát, trứng, giò chả, bún bánh, bánh ngọt, rượu vang, cà phê, chè, chứa các thức ăn chế biến Hiện nay cũng đã có hạt giống và cây con để trồng cho nông nghiệp sinh học
Giá của các sản phẩm sinh học thường đắt hơn sản phẩm thường 20-50%, tuỳ loại sản phẩm Thường sữa, khoai tây, hạt cốc, gạo ít khi đắt hơn 20%, thịt 20-40%, quả 50% vì phải bảo quản
1.1.4 Chỉ tiêu đánh giá
- Tổng giá trị sản xuất/1ha đất nông nghiệp
- Tổng giá trị sản xuất/1ha đất canh tác
- Tốc độ tăng của giá trị sản xuất, thu nhập/1ha canh tác, người lao động
- Chất lượng sản phẩm, độ an toàn thực phẩm đối với con người
- Chỉ tiêu chất lượng môi trường nước đất, không khí vùng sản xuất
1.2 Hiện đại hoá nông thôn
1.2.1 Khái niệm
Hiện đại hoá nông thôn là quá trình ứng dụng và đổi mới các công nghệ hiện đại và phương pháp tiên tiến vào các ngành sản xuất, cơ sở hạ tầng và văn hóa xã hội, nhằm tạo ra năng xuất lao động và xây dựng xã hội văn minh Các ngành kinh
tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ ở nông thôn được thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sản xuất, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, năng suất cao Đặc biệt trong nông nghiệp từ sản xuất nguyên liệu đến bảo quản chế biến đều tiến hành công nghiệp để tạo ra sản phẩm sạch, an toàn thực phẩm chất lượng cao là mục tiêu phấn đấu
ở vùng nông thôn Từ sản xuất phát triển, đi đôi với nó là cơ sở hạ tầng như hệ thống giao thông, điện, cấp nước, thông tin cũng được hiện đai từng bước để đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống
Khi sản xuất đã được công nghiệp, các vấn đề xã hội cũng nhất thiết phải phát triển, có như vậy tạo nên sự cân bằng phát triển, đặc biệt là trí tuệ, trình độ, tác phong làm việc, đầu óc tổ chức để đáp ứng được yêu cầu của quá trình hiện đại hoá Điều đặc
Trang 10biệt quan tâm là ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất và đời sống của con người
Như vậy, công nghiệp hoá là cầu nối đưa một đất nước, hay một vùng kinh tế, nông thôn v.v… đến hiện đại hoá cho nên hai phạm trù này khó tách khỏi nhau công nghiệp hoá - hiện đại hoá
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiểu theo bản chất của nó, là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sức phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học, công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao Theo cách hiểu này, chúng ta thấy rõ mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hóa là nâng cao năng suất lao động xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, giữ nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn là một nội dung quan trọng không thể bỏ qua trong quá trình công nghiệp hoá đối với tất cả các nước Nếu chỉ phát triển công nghiệp ở đô thị mà không công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, thì chính công nghiệp hóa đô thị cũng gặp khó khăn vì thiếu nông sản hàng hóa và thiếu lao động; nông nghiệp và nông thôn chưa công nghiệp hóa thì sẽ không đủ năng lực đáp ứng các nhu cầu trên của đô thị vì sản lượng hàng hóa ít và năng suất lao động thấp
Nhưng nội dung và bước đi của công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn ở các nước và các khu vực trên thế giới không giống nhau
ở các nước Âu, Mỹ, trong quá trình công nghiệp hóa, mô hình phổ biến là ưu tiên phát triển công nghiệp đô thị đi trước Khi công nghiệp đô thị đủ mạnh mới thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn và đến nay trở thành những nước công, nông nghiệp phát triển phương Tây
Một số nước đang phát triển ở Châu Phi và Châu á, vừa qua đã rập khuôn mô hình của các nước Âu, Mỹ nhưng không thành công
Những nước và lãnh thổ ở khu vực Đông Bắc á bắt đầu là Nhật Bản rồi đến Đài Loan, Hàn Quốc, đi lên công nghiệp hóa bằng con đường khác: Phát triển mạnh công nghiệp đô thị đi đôi với công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn với phạm vi và mức
độ thích hợp, ở từng vùng trong thời kỳ công nghiệp hóa và đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ
Trang 11Xuất phát từ những điều kiện thực tế của nước ta và vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài, Đảng ta có chủ trương trong thời kỳ đầu đi lên công nghiệp hóa: “đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn”, nghĩa là đồng thời vừa công nghiệp hóa đô thị vừa công nghiệp hóa nông thôn
Cơ sở khoa học và thực tiễn của chủ trương này là ở chỗ nước ta đi lên công nghiệp hóa từ một nền kinh tế nông nghiệp với trình độ sản xuất thấp kém, sản xuất tự cấp tự túc, khối lượng và tỷ suất nông sản hàng hóa ít, không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu bức thiết của công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn
Mặt khác, nông nghiệp và nông thôn nước ta là khu vực kinh tế có tiềm năng lớn
về tài nguyên mà ta có thế mạnh về đất đai và lao động Công nghiệp hóa tác động vào đất đai thông qua các giải pháp ứng dụng các thành tựu công nghệ sinh học, hóa học, cơ điện, sẽ tạo ra năng suất cao về cây trồng, vật nuôi, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nước, khí hậu nhiệt đới tạo ra sản lượng cao về nông, lâm, ngư nghiệp Công nghiệp hóa tác động vào đội ngũ lao động đông đảo gần 30 triệu người ở nông thôn, chiếm khoản 70% lao động xã hội, thông qua các giải pháp tổ chức quản lý, cơ chế và chính sách khoa học, công nghệ thích hợp sẽ đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, mở mang các ngành nghề, nâng cao năng suất lao động nông nghiệp Công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn cuối cùng tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ thuần nông sang cơ cấu kinh tế nông, công nghiệp và dịch vụ, góp phần tích cực vào việc phân bổ lại lực lượng lao động nông nghiệp và nông thôn, giải quyết lao động dư thừa ở nông thôn, nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn, cải thiện mức sống ở nông thôn và thúc đẩy việc cải tạo và xây dựng nông thôn mới Công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn tạo ra điều kiện tăng trưởng khối lượng và chất lượng nông – lâm – thuỷ, hải sản xuất khẩu, thu ngoại tệ phục vụ nhu cầu nhập thiết bị công nghệ cho công nghiệp hóa
Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn nước ta có vị trí hết sức quan trọng vì nó tạo ra tiền đề và cơ sở vững chắc thúc đẩy toàn bộ qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là mũi đột phá quan trọng nhằm giải phóng sức lao động dồi dào và nguồn đất đai rộng lớn ở nông thôn
1.2.2 Nội dung của hiện đại hoá nông thôn
1.2 2.1 Hiện đại hoá các ngành kinh tế
Trang 12Công nghiệp hoá và hiện đại hoá là kết quả của quá trình phát triển từ một nền sản xuất thủ công trở thành một nền sản xuất với công cụ cơ khí, điện khí, áp dụng các công nghệ tiên tiến, thể hiện sự hiện đại trong sản xuất và tạo ra năng suất cao, giá thành hạ, chất lượng tốt Đây là sự thay đổi từ lượng sang chất, thay đổi cơ bản của lực lượng sản xuất Để đạt kết quả đó, loài người trải qua nhiều cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật Song song phát triển khoa học kỹ thuật, trình độ trí tuệ của con người cũng phát triển, quan hệ sản xuất cũng thay đổi để phù hợp với sự tiến bộ đó
Thực chất nội dung của CNH - HĐH là như vậy, ở đây cần làm rõ thêm trong lĩnh vực nông thôn Kinh tế nông thôn dù nông thôn đó ở nơi nào thì sự hoạt động kinh
tế cũng thể hiện trên ba lĩnh vực cơ bản công nghiệp - nông nghiệp và dịch vụ CNH - HĐH các ngành kinh tế đóng vai trò quyết định sự thành bại của sự phát triển CNH - HĐH tạo ra năng suất lao động cao, sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội, làm thay đổi
xã hội Muốn phát triển các ngành kinh tế, công nghiệp phải là ngành có tính quyết định, từ đó thúc đẩy ngành nông nghiệp và dịch vụ phát triển Bởi vậy, trong khi đánh giá mức độ CNH - HĐH thì không nhất thiết các ngành phải giống nhau, do đặc điểm của từng ngành mà mức độ CNH - HĐH có khác nhau ở đây đang bàn đến CNH- HĐH nông thôn cho nên vấn đề công nghiệp hoá trong sản xuất nông nghiệp, đây là một trong lĩnh vực công nghiệp hoá gặp nhiều khó khăn Điểm xuất phát là do đặc thù của sản xuất nông nghiệp, đối tượng là sinh vật, diễn ra trong môi trường lớn, rất khác nhau v.v… cho nên công nghiệp hoá diễn ra thường chậm chạp hơn các ngành công nghiệp
và dịch vụ
Phát triển công nghệ cao: Nhờ có phát triển của công nghiệp và các tiến hộ khoa học, ngày nay trong lĩnh vực nông nghiệp trên thế giới đã tiến hành công nghiệp hoá trong tất cả các ngành sản xuất nông nghiệp, từ khâu sản xuất nguyên liệu, đến khâu bảo quản, chế biến và tiêu thụ Nhiều nước còn ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp Nhưng điều khẳng định chắn chắn CNH - HĐH nông thôn là quá trình khá dài
và đòi hỏi phải đầu tư lớn
1.2.2.2 Hiện đại hoá các cơ sở hạ tầng
Các ngành kinh tế muốn phát triển thì cơ sở hạ tầng cũng phải phát triển tương ứng, thậm chí có cơ sở hạ tầng còn phải đi trước một bước để thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển :
+ Đường giao thông
Trang 13+ Hệ thống công trình văn hoá, phúc lợi
1.2.2.3 - Hiện đại hoá các vấn đề xã hội
+ Nâng cao trình độ dân trí của người lao động và dân cư
+ Xây dưng và tổ chức nếp sống văn hoá công nghiệp cho cộng đồng
+ Hiện đại cuộc sống văn hoá, xây dựng xã hội văn minh
1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá hiện đại hoá
Trên thế giới không có chỉ tiêu đánh giá cho một quốc gia hiện đại, nông thôn hiện đại, mà họ có chỉ tiêu phân chia ra các nước công nghiệp (các nước phát triển) , các nước đang phát triển, trong các nước đang phát triển còn có một số nước chậm phát triển
Đây là sự đánh giá thông qua trình độ phát triển kinh tế, trong đó chỉ tiêu quan trọng là phát triển công nghiệp, dịch vụ, họ còn gọi là các nước công nghiệp Với logic, khi kinh tế phát triển thì kéo theo nhiều vấn đề khác phải phát triển và ngược lại kinh tế phát triển hỗ trợ cho các lĩnh vực khác phát triển
Cho nên có thể sử dụng tiêu thức: GDP bình quân đầu người; tỷ lệ CN -DV trong
cơ cấu GDP; trình độ phát triển cơ sở hạ tầng
Các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn
- Mức độ thuỷ lợi hóa
- Mức độ sử dụng động lực máy móc nông nghiệp
- Mức độ điện khí hóa
- Năng suất tổng hợp ruộng đất
- Năng suất lao động nông thôn
- Trình độ thương phẩm hóa trong nông thôn
- Trình độ chuyên môn hóa, xã hội hóa sản xuất
- Tỷ trọng giá trị gia tăng nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trong GDP thuộc phạm vi nông thôn
- Trình độ văn hóa của nông dân
Trang 14- Trình độ đô thị hóa
- Trình độ thu nhập thuần bình quân của 1 người lao động nông thôn
- Mức độ nâng cao về đời sống văn hóa - xã hội ở nông thôn
1.2.4 Một số vấn đề về công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông thôn nước ta
Công nghiệp hóa- hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý, theo hướng chuyển từ lao động thủ công là chính sang lao động có văn hóa, có kỹ năng, sử dụng các phương tiện hiện đại và phương pháp lao động tiên tiến nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Sau 20 năm đổi mới, đất nước ta đứng trước thời cơ, vận hội lớn cho sự phát triển mạnh mẽ, đồng thời cũng đứng trước những thách thức, nguy cơ không thể xem thường Để tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, Đảng ta đã chỉ ra nhiệm vụ trung tâm từ nay đến năm 2020 là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mà nhiệm vụ trung tâm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Điện khí hóa nông thôn
- Phát triển giao thông nông thôn
- Thuỷ lợi hóa nông nghiệp
- Cơ khí hóa, đẩy mạnh công nghiệp chế biến nông sản
- Tiến hành cuộc cách mạng sinh học thay đổi giống cây, con có năng suất, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và thế giới
- Phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế nông thôn
Để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, Nghị quyết Trung ương bốn đã nêu ra hệ thống giải pháp lớn, cụ thể:
1.2.4.1 Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động ở nông thôn
Nông thôn nước ta đất chật, người đông, ruộng đất vốn đã ít lại đang bị giảm nhanh (do xây dựng phát triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng, đô thị hóa …), đến nay đất canh tác bình quân một nhân khẩu nông nghiệp chỉ còn hơn 800m2, riêng miền Bắc chỉ còn hơn 500m2, thấp hơn nhiều mức “xiềng 3 sào” của những năm 60 Hơn nữa, do hầu hết lao động làm nông nghiệp tập trung chủ yếu vào trồng trọt, trồng cây lương thực, nên lao động nông thôn còn dư thừa lớn (theo điều tra năm 1996, tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn là 27,6% tương ứng 2,2 tỷ ngày công chưa được sử dụng ở một số tỉnh tỷ lệ
Trang 15thiếu việc làm ở nông thôn tới 30%-32% lực lượng lao động) Trong những năm tới cần chuyển đổi căn bản cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, vừa nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích đất canh tác, tăng nhanh tỷ trọng các sản phẩm ngoài lương thực (rau màu, cây công nghiệp, chăn nuôi Nếu trồng lúa năng suất 10 tấn trên 1 ha một năm thì giá trị thu được trên 1 ha một năm chỉ đạt 15 - 20 triệu đồng Nhờ thay đổi cơ cấu cây trồng , áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, nhiều địa phương đã tạo ra 40
- 50 triệu đồng trên 1 ha một năm), vừa phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong khu vực nông thôn, để đến năm 2000 sử dụng được trên 75% thời gian lao động ở nông thôn Để thực hiện được điều đó cần phải:
1.2.4.2 Thực hiện tốt các chủ trương về phát triển nông, lâm, ngư nghiệp theo đường lối của Đại hội Đảng đã vạch ra
- Trong nông nghiệp, tiếp tục thực hiện các chương trình thuỷ lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa, ứng dụng công nghệ sinh học Đẩy nhanh việc thực hiện chương trình thoát lũ và ngọt hóa ở đồng bằng sông Cửu Long, củng cố hệ thống đê điều cả nước Hướng phát triển nông nghiệp là đầu tư thâm canh, tăng vụ là chính, mở thêm diện tích
ở nơi còn có điều kiện như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, vùng Tây Nguyên Xác định diện tích trồng lúa bảo đảm an toàn lương thực quốc gia Việc chuyển đất lúa ở những nơi sản xuất lúa bấp bênh, hiệu quả thấp sang trồng cây khác, chuyển sang sử dụng cho các mục đích phi nông nghiệp phải có quy hoạch và được xét
duyệt chặt chẽ
Quy hoạch và phát triển các vùng chuyên canh, phát huy ưu thế của từng vùng (vùng trọng điểm lúa đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, vùng cây công nghiệp Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, vùng cây ăn quả …) Đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ sinh học, ưu tiên phát triển các cây trồng, vật nuôi có quy mô xuất khẩu lớn và thị trường ổn định, những sản phẩm quý hiếm, đặc sản của nông nghiệp Việt Nam Trước mắt, tập trung sức phát triển các vùng chuyên canh lúa xuất khẩu (sản xuất những loại gạo có giá trị xuất khẩu cao), ngô, cao su, cà phê, chè, hạt điều, mía đường, cây ăn quả, rau đậu, chăn nuôi bò, lợn và các cây con đặc sản khác
Hết sức chú trọng phát triển các cơ sở vật chất, công nghệ bảo quản sản phẩm sau thu hoạch (nhà kho, phương tiện vận tải, công nghệ phơi sấy, bảo quản …) và công nghiệp chế biến để giảm tỷ lệ hao hụt, bảo đảm chất lượng sản phẩm, tăng giá trị sản
Trang 16phẩm xuất khẩu, điều hoà lưu thông, bảo vệ cho cả lợi ích của nông dân và lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người sản xuất và tiêu dùng
- Trong lâm nghiệp, quản lý và sử dụng có hiệu quả tiềm năng to lớn của rừng
và đất rừng có ý nghĩa to lớn về kinh tế, xã hội, sinh thái, an ninh, quốc phòng của đất nước, đời sống của hàng chục triệu đồng bào các dân tộc ít người ở miền núi, ven biển
và hải đảo Trước tình hình đốt rừng làm nương rẫy, chặt phá, khai thác rừng bừa bãi hiện nay đã và đang làm suy kiệt tài nguyên rừng, suy thoái môi trường, vì lợi ích trước mắt và lâu dài của đất nước cũng như với tư cách một quốc gia đã tham gia Hội nghị về bảo vệ môi trường thế giới, cần phải có những biện pháp kiên quyết ngăn chặn tình
trạng này
Trước hết, phải bảo vệ cho được diện tích rừng hiện có, đặc biệt bảo vệ nghiêm ngặt rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, khoanh nuôi rừng tái sinh, quản lý chặt chẽ việc khai thác vốn rừng kinh tế Xây dựng quy hoạch cụ thể và tích cực triển khai thực hiện
dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đã được Quốc hội thông qua Bảo đảm phủ xanh 40% diện tích cả nước
Để ngăn chặn tình trạng du canh du cư, đốt phá rừng bừa bãi, chuyển đồng bào miền núi sang định canh, định cư, ổn định cuộc sống, cần phải thực hiện nhất quán và tích cực chủ trương giao đất, giao rừng cho hộ gia đình làm chủ, bảo đảm lợi ích của hộ nhận đất, nhận rừng, giúp đỡ cho các hộ có điều kiện sinh sống để trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng, để đồng bào sống được bằng nghề rừng ngay cả khi có chủ trương đóng cửa rừng Cần xem xét cụ thể điều kiện sinh sống trước mắt và lâu dài của nhân dân từng xã, từng huyện miền núi để có biện pháp phát triển kinh tế - xã hội tại chỗ, hoặc chính sách tạo việc làm, đảm bảo đời sống cho những hộ cần chuyển cư Hạn chế thấp nhất tình trạng di dân tự do, cần phối hợp giữa các tỉnh, các huyện có dân đi và dân đến
để tổ chức việc di dân có tổ chức, có kế hoạch, có hiệu quả
- Trong ngư nghiệp và phát triển kinh tế biển: Nước ta là quốc gia có biển; phát triển kinh tế biển, đánh bắt và nuôi trồng hải sản là thế mạnh của nền kinh tế nước ta Trong những năm qua, ngành thuỷ sản đã tạo ra lượng hàng xuất khẩu có giá trị lớn (năm 1996: 651 triệu USD; năm 1997:750 triệu USD, năm 2004 kế hoạch xuất khẩu 2
tỷ USD )
Tiềm năng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản còn rất lớn Trước mắt phải khôi phục lại đội tàu thuyền đánh bắt và diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại lớn do cơn
Trang 17bão số 5 gây ra Đầu tư cho các vùng không bị thiên tai phát triển để bù lại và nâng cao sản lượng bảo vệ nguồn lợi hải sản và khôi phục môi trường sinh thái biển vùng gần bờ, cần hạn chế việc đánh bắt cá ven bờ, chuyển mạnh sang đánh bắt xa bờ, nuôi trồng thuỷ sản với mức thâm canh cao, công nghệ nuôi trồng bền vững Tích cực triển khai thực hiện chương trình của Chính phủ về vay vốn (cả cho các doanh nghiệp và các hộ gia đình) đóng tàu thuyền đánh bắt xa bờ áp dụng công nghệ mới vào nuôi trồng thuỷ sản với mức độ thâm canh cao, bảo vệ môi trường Tổ chức lại công nghiệp chế biến và dịch vụ trên bờ phục vụ các đội tàu đánh bắt xa bờ bám biển dài ngày và bảo đảm chất lượng, nâng cao giá trị sản phẩm Cải tạo và nâng cấp hệ thống hạ tầng cơ sở nghề cá, các cảng cá, hệ thống kho bãi, giao thông vận tải, các cơ sở sửa chữa tàu biển … Tạo điều kiện và khuyến khích mọi thành phần kinh tế, các doanh nghiệp, các hộ và nhóm
hộ ngư dân tự đầu tư, mua sắm tàu thuyền đánh bắt, chế biến hải sản, làm dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm
Ngoài phát triển đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, biển còn rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác Cần xây dựng quy hoạch, chiến lược khai thác tổng hợp tiềm năng của biển, phát triển kinh tế biển Tăng đầu tư từ nhiều nguồn (trong và ngoài nước) cho nghiên cứu khoa học biển, nghiên cứu khí tượng thuỷ văn, đẩy mạnh tìm kiếm thăm dò dầu khí, khoáng sản biển, nghiên cứu các nguồn năng lượng biển, nghiên cứu và bảo vệ môi trường
1.2.4.3 Thực hiện chính sách ruộng đất phù hợp với sự phát triển nông nghiệp hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm và thu nhập cao cho
nông dân nghèo
Ruộng đất là tư liệu sản xuất hàng đầu của nông nghiệp Chính sách ruộng đất đúng đắn, phù hợp sẽ là một động lực mạnh mẽ cho nông nghiệp phát triển Chính sách giao đất, giao rừng cho hộ quản lý và sử dụng lâu dài từ sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (5-4-1988) đã là một trong những yếu tố cơ bản tạo ra sự phát triển của nông nghiệp những năm đổi mới vừa qua
Nhưng đến nay việc giao đất cho nông dân quản lý, sử dụng, chưa hoàn thành, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho nông dân làm còn chậm, cần phải đẩy mạnh và sớm hoàn thành Tình trạng phân chia ruộng đất quá manh mún ảnh hưởng tới
áp dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất Có khoảng 10 triệu hộ nông dân nhận 100 triệu mảnh đất, trung bình mỗi hộ tới 10 mảnh (diện tích trung bình một hộ là
Trang 18800m2, ở đồng bằng Bắc bộ là 500m2, tức là mỗi mảnh chỉ khoảng 50-80m2) Bởi vậy cần khuyến khích và giúp đỡ các hộ nông dân đổi đất cho nhau để liền thửa, liền khoảnh, tạo điều kiện cho thâm canh và nâng cao năng suất lao động Hiện nay việc này đang được các hộ nông dân ở một số tỉnh thành thực hiện tích cực
Trong nông nghiệp, nông thôn hiện nay đang diễn ra hiện tượng sang nhượng ruộng đất, tích tụ, tập trung ruộng đất Những người sang nhượng, chuyển quyền sử dụng đất cho người khác có nhiều loại, có nhiều lý do: Người chuyển sang làm việc khác, nghề khác, người thiếu vốn, thiếu lao động, ốm đau bệnh tật hoặc rủi ro tai hoạ, người không có kinh nghiệm sản xuất … Điều này một mặt dẫn đến tích tụ và tập trung ruộng đất, hình thành nên những hộ sản xuất hàng hóa lớn và tạo điều kiện thúc đẩy sự phân công lao động xã hội trong nông nghiệp, nông thôn Nhưng mặt khác lại đưa tới hàng vạn hộ nông dân (hiện nay tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long) không còn ruộng đất phải trở thành người làm thuê, làm mướn, phân hóa giàu nghèo ở nông thôn ngày càng mở rộng.Xử lý vấn đề này có ý kiến cho rằng việc tích tụ và tập trung ruộng đất là tất yếu phải diễn ra trong quá trình phát triển nông nghiệp và là xu hướng tiến bộ Để tích tụ và tập trung ruộng đất thì nhất định có một bộ phận nông dân không có ruộng đất, nhưng đó là điều kiện để phân công lại lao động nông nghiệp, để chuyển một bộ phận nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Đó là điều bình thường.Cần phải có sự tích tụ và tập trung ruộng đất trong quá trình phát triển của nông nghiệp Nhưng vấn đề là tích tụ đến mức nào, như thế nào? Tất nhiên là phải phân công lại lao động nông nghiệp, rút bớt lực lượng lao động khỏi nông nghiệp cùng với quá trình phát triển kinh tế đất nước Nhưng điều đó lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của công nghiệp và dịch vụ, vào khả năng thu hút lực lượng lao động của các khu vực này Khi công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển mà nông dân mất đất phải đi làm thuê, làm mướn là điều không thể chấp nhận Vì vậy Nghị quyết trung ương bốn khóa VIII cũng
đã chỉ ra là cần quản lý chặt chẽ việc nhượng quyền sử dụng đất theo đúng pháp luật, không để nông dân nghèo sống bằng nghề nông phải bán đất (những người chuyển đi làm nghề khác hay di cư lập nghiệp ở nơi khác … thì có thể nhượng quyền sử dụng đất) Đặc biệt phải ngăn chặn và xử lý các thủ đoạn chèn ép, cưỡng đoạt ruộng đất của người nông dân nghèo Đồng thời trong điều kiện hiện nay chưa đặt vấn đề mở ruộng mức hạn điền đối với đất canh tác Kiểm tra việc thực hiện chính sách hạn điền đối với đất canh tác phù hợp với điều kiện đất đai ở các vùng khác nhau Đối với đất vượt mức hạn điền
Trang 19cần có biện pháp xử lý hợp lý với từng loại đất (đất canh tác cũ, đất khai hoang, đất chưa sử dụng …) theo nguyên tắc khuyến khích sử dụng đất có hiệu quả, đồng thời nghiêm cấm việc mua bán đất để kiếm lời, bảo đảm công bằng xã hội
Kinh tế trang trại với các hình thức sở hữu khác nhau (Nhà nước, tập thể, tư nhân) đang phát triển ở những nơi có nhiều ruộng đất (trung du, miền núi) để trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc Khuyến khích việc khai phá đất hoang, nhận đất đồi rừng chưa có người sử dụng để phát triển kinh tế trang trại (hiện nay kinh tế trang trại đang phát triển, tiêu biểu như ở tỉnh Yên Bái, Bình Dương, mỗi tỉnh có 500 - 600 trang trại quy mô từ 3 đến 300 ha, chủ yếu là đất đồi rừng, trồng cây dài ngày)
Đối với các hộ nông dân thiếu đất hoặc không còn đất canh tác cần đánh giá, phân loại để có chính sách, giải pháp xử lý phù hợp với từng trường hợp theo hướng vừa không để nông dân bị bần cùng hóa, phải đi làm thuê do không có đất sản xuất, vừa tạo điều kiện cho tích tụ và tập trung ruộng đất hợp lý theo tiến trình công nghiệp hóa (như tạo điều kiện cho họ lập nghiệp mới, làm nghề mới, giúp họ khai thác đất chưa sử dụng hoặc cho vay vốn để chuộc lại đất …)
Đồng thời bổ sung thể chế để ngăn ngừa tình trạng lãng phí đất đai Quy định cụ thể điều kiện và kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nhất là chuyển đất canh tác sang sử dụng vào mục đích khác Chính sách đền bù cho nông dân khi lấy đất sử dụng vào mục đích khác phải có sự phân biệt giữa lấy đất cho mục đích kinh doanh với lấy đất cho mục đích công ích Khi lấy đất của nông dân, ngoài chính sách đền bù bằng tiền, cần giúp nông dân có việc làm và nguồn thu mới (như có ruộng đất ở nơi khác để sản xuất, có nghề mới, góp vốn hay làm việc ở các doanh nghiệp xây dựng trên đất bị thu hồi
1.2.4.4 Phát triển mạnh các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
là hướng phát triển được nhiều nước đang phát triển thực hiện có kết quả tốt
Trang 20Để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, Nhà nước cần có sự hỗ trợ xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng ở nông thôn như điện, đường, hệ thống nước, trường, trạm, chợ … Bổ sung chính sách khuyến khích mọi người, mọi doanh nghiệp thuộc mội thành phần kinh tế, kể cả người nước ngoài đầu tư vào phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, như xoá bỏ các thủ tục phiền hà trong đăng ký kinh doanh, những quy định không hợp lý về cư trú, về quản lý hộ khẩu, phân biệt người địa phương với người nơi khác đến đầu tư và tìm việc làm; tăng thời gian miễn, giảm thuế, ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay và bảo lãnh các khoản tín dụng, giảm giá thuê đất hoặc miễn toàn bộ tiền thuê đất đối với những dự án đầu tư vào vùng khó khăn, kể cả với đầu tư 100% vốn nước ngoài …
Quy hoạch và xúc tiến việc xây dựng các khu công nghiệp, đặc biệt là các khu quy mô nhỏ, tạo sẵn cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư vào nông thôn; xây dựng các thị trấn, thị tứ cùng với các khu công nghiệp, hình thành các trung tâm kinh tế - xã hội - văn hóa, khoa học và công nghệ ở nông thôn
Việc phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn cần được tổ chức theo theo hưóng liên kết cơ sở công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản với đơn vị sản xuất nguyên liệu, liên kết giữa các khâu trước, trong và sau sản xuất, giữa sản xuất nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo lợi ích của các khâu, gắn kết quan hệ nông nghiệp với công nghiệp, công nhân với nông dân Một số mô hình
đã hình thành ở một số địa phương như Liên hiệp mía đường Lam Sơn, nông trường Sông Hậu cần được tổng kết, nhân rộng
1.2.4.5 Tăng nhanh trang thiết bị kỹ thuật trong nông nghiệp, nông thôn
Trong 5 năm qua, nông thôn đã tăng thêm 56 ngàn máy kéo nhỏ, 83 ngàn máy xay xát nhỏ, 60 ngàn máy động lực nhỏ phục vụ bơm nước và vận chuyển, 16.500 ô tô các loại; trong ngư nghiệp có gần 100 ngàn tàu thuyền với 70 ngàn chiếc thuyền máy có tổng công suất 1,6 triệu mã lực, do nông dân tự mua sắm trong khi Nhà nước chưa có sự
ưu đại nàp đáng kể Tổng lượng phương tiện này nhiều hơn số được trang bị trong 20 năm trước đó (nhà nước bao cấp)
Tuy nhiên hiện nay, trong sản xuất nông nghiệp, sức máy móc cơ khí mới chiếm khoảng 20%, còn 35% là sức người, 45% là sức súc vật Trong lĩnh vực vận chuyển, chế biến nông sản, tỷ lệ cơ khí hóa còn rất thấp Lao động thủ công còn ở nhiều khâu trong
Trang 21quá trình sản xuất nông nghiệp, làm cho năng suất lao động thấp, chưa giảm bớt được
sự nặng nhọc của công việc, các khâu sau thu hoạch tổn thất lớn
Trong thời gian tới Nhà nước sẽ hỗ trợ, tạo điều kiện để đẩy mạnh sản xuất cơ khí trong nước phục vụ nông nghiệp, nhất là các thiết bị vừa và nhỏ (máy kéo 6 - 12 mã lực, động cơ 4 – 6 – 9 - 12 mã lực, máy làm đất, bơm nước, máy tuốt lúa, xay xát, đánh bóng) có sức cạnh tranh với nước ngoài Tổ chức tốt các dịch vụ lắp đặt, hướng dẫn kỹ thuật, bảo dưỡng, sữa chữa sau khi bán máy để tăng tính cạnh tranh và phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp
Đối với những sản phẩm cơ khí phục vụ nông nghiệp và thuỷ sản, trong nước sản xuất chưa đủ nhu cầu thì Nhà nước có sự ưu đãi về vốn và thuế để nhập khẩu những mặt hàng này
Việc nâng cao trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất ở nông thôn đòi hỏi phải có sự phát triển tương ứng của lực lượng lao động, sự phát triển tương ứng về đào tạo nguồn nhân lực Bởi vậy, cần đẩy mạnh việc đào tạo bồi dưỡng kỹ thuật, đồng thời bồi dưỡng kiến thức kinh tế, hình thành đội ngũ những nhà kinh doanh giỏi ở nông thôn, trong cả nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
1 2.4.6 Giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản
Trong những năm vừa qua, nông nghiệp phát triển khá Mặc dù nông sản hàng hóa chưa nhiều nhưng một số sản phẩm đã thiếu thị trường, khó tiêu thụ, giá cả không
ổn định, nhiều khi xuống quá thấp nên giá trị tăng thêm của nông sản không tương ứng với mức tăng sản lượng, nông dân bị thu thiệt, được muà nông dân không phấn khởi, làm cho sức mua của xã hội hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển chung của nền kinh tế Ngoài lúa thì hạt điều, cao su, cà phê, chè, các loại hoa quả khác cũng gặp những vấn đề khó khăn về thị trường, sự bấp bênh của giá cả
Thị trường tiêu thụ nông sản đang trở thành vấn đề lớn, bức sức đối với sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân Nông sản xuất khẩu của Việt Nam có cơ cấu tương
tự như nhiều nước trong khu vực: gạo, cà phê, cao su, chè … Gần đây các nước như Thái Lan, Malaixia, Indônêxia, Philippin, đồng tiền mất giá do cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ càng làm cho hàng xuất khẩu của Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt hơn, khó khăn hơn
Để mở rộng thị trường tiêu thụ, yếu tố quyết định là nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Đó là những vấn đề thuộc
Trang 22lĩnh vực sản xuất, phải phấn đấu thực hiện Còn trong lĩnh vực lưu thông cần phải giải quyết một số giải pháp lớn sau:
- Thực hiện cơ chế lưu thông thật sự thông thoáng trên thị trường trong nước đối
với các loại vật tư và sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp nông thôn với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, xóa bỏ tình trạng độc quyền, chia cắt, cát cứ trong việc mua nông sản Nhưng phải đặc biệt coi trọng, củng cố và phát triển hệ thống thương nghiệp nhà nước trên địa bàn nông thôn, phát triển các hình thức hợp tác, liên kết giữa thương nghiệp nhà nước với hợp tác xã, nông dân và lực lượng thương nghiệp tư nhân nhỏ Khắc phục tình trạng thương nghiệp nhà nước co cụm về thành phố, thị xã, thị trấn, kinh doanh đơn thuần chỉ để nuôi sống mình, thả nổi thị trường nông thôn, gây thiệt hại đến
lợi ích của nông dân, không phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp
Ngăn ngừa và xử lý kịp thời những hành vi đầu cơ lũng đoạn thị trường, xử lý kịp thời những biến động trên thị trường làm thiệt hại lợi ích của nông dân và Nhà nước Miễn thuế lưu thông đối với hàng tươi sống và những nông sản thực phẩm thiết yếu cho đời sống nhân dân
- Tạo cho được một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực có sức cạnh tranh trên
thị trường quốc tế
Điều đó đòi hỏi phải có sự lựa chọn đúng những sản phẩm có ưu thế của nông nghiệp nước ta để tập trung đầu tư tổ chức sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học và công nghệ chế biến để tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, có chất lượng và giá trị cao, như các sản phẩm thuỷ sản, gạo, chè, cà phê, cao su, hạt điều, rau quả, thịt lợn, gia cầm …
Để khuyến khích và tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, cần đổi mới cơ chế quản lý xuất khẩu nông sản theo hướng quy định rõ những điều kiện để cho phép các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định) được trực tiếp xuất khẩu hoặc tham gia hiệp hội xuất khẩu nông sản, bảo đảm vai trò chủ đạo và chủ lực của kinh tế nhà nước đối với xuất khẩu những sản phẩm chủ yếu
Để khuyến khích chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu từ xuất khẩu sản phẩm thô, giá trị thấp sang xuất khẩu sản phẩm chế biến có giá trị cao, cần đánh thuế xuất khẩu cao đối với hàng xuất khẩu dạng nguyên liệu thô mà trong nước đã có khả năng, đã có cơ sở chế biến Cho nhập khẩu miễn thuế hoặc thuế suất thấp đối với các loại nguyên liệu, vật liệu phục vụ công nghiệp nông thôn mà trong nước chưa sản xuất được hoặc còn thiếu
Trang 23và đánh thuế nhập khẩu cao những nguyên liệu trong nước đã có để khuyến khích sản xuất và sử dụng nguyên liệu trong nước
1.3 Kinh nghiệm của một số nước về phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hóa nông thôn
1.3.1 Kinh nghiệm chung:
Trong vài chục năm qua nông nghiệp đô thị phát triển nhanh song song với quá trình đô thị hóa ở Hoa kỳ, từ 1980 đến 1990 nông nghiệp đô thị tăng 17% ở Nhật Bản,
Hà Lan, Thuỵ Sĩ cũng tăng mạnh
Trong 25 năm cuối của thế kỷ 20 trong thế giới đô thị hóa, xuất hiện một xu hướng ngược lại với quá trình tách rời giữa quá trình xây dựng đô thị hiện đại với nông nghiệp - công nghiệp hóa xảy ra từ thế kỷ 19 Chính sự phát triển của nông nghiệp đô thị đã hài hoà hai quá trình đô thị hóa và phát triển nông nghiệp hiện đại
Trong các năm 1970 nông nghiệp đô thị còn ít được chú ý ở một số nước châu Phi bắt đầu xây dựng các dự án nông nghiệp đô thị như ở Ghana, Zaire, Zambia với sự giúp đỡ của Pháp FOA, UNICEF Sang các năm 1980 nhiều tổ chức phát triển của các nước và tổ chức quốc tế hỗ trợ nhiều dự án ở châu Phi, á, Mỹ Latin Sang các năm 1990 thì phong trào nông nghiệp đô thị phát triển mạnh ở nhiều nước và bắt đầu phát triển cả
ở các nước đã phát triển như Mỹ, Canada, Anh, Hà Lan Nhiều tổ chức quốc tế về nông nghiệp đô thị ra đời, thúc đẩy việc nghiên cứu về vấn đề này Các tổ chức phi chính phủ tham gia vào phong trào này ngày càng đông từ thực tiễn phát triển nông nghiệp đô thị của các nước có thể rút ra mặt tích cực của nông nghiệp đô thị: Đô thị có xu hướng phát triển với mật độ dân số thấp hơn trước nên có nhiều đất để làm nông nghiệp Nông nghiệp đô thị có hiệu quả và tính cạnh tranh cao hơn nông nghiệp nông thôn, nhất là trong những ngành rau, thuỷ sản, gia cầm, lợn Nông nghiệp đô thị ở các nước đang phát triển nhằm tạo an ninh thực phẩm, việc làm, môi trường còn ở các nước đang phát triển thì nhằm vào chất lượng cao
Theo các dự báo từ năm 1993 đến 2005, nông nghiệp đô thị tăng tỷ lệ tự túc thực phẩm từ 15% lên 33%, phần rau, thịt, cá, sữa dùng ở đô thị tăng từ 33 lên 50%, số nông dân ra đô thị sản xuất hàng hóa tăng từ 200 lên 400 triệu người Công nghệ trong nông nghiệp đô thị bắt đầu phát triển nhanh và trong thời gian tới sẽ phát triển rất nhanh Châu á là một vùng có nhiều châu thổ đông dân Vấn đề phát triển của các châu thổ này
Trang 24từ lâu đã là một đề tài mà nhiều ngành khoa học quan tâm Vùng Nam và Đông Nam châu á có hai loại châu thổ: Châu thổ đông dân (trên 300 dân một km2), có 250.000km2với 120 triệu dân và châu thổ thưa dân có 120.000 km2 với 10 triệu dân
Trong tương lai các châu thổ như châu thổ sông Hồng sẽ phát triển như thế nào
Dự đoán sự phát triển này thực ra rất khó Dự đoán của P.Gourou vào các năm 1930 là:
“Nếu người ta chấp nhận một suất dư là 15 trên 1000 thì dân số Châu thổ Bắc Kỳ sẽ là 13.000.000 khẩu vào năm 1984 Chúng tôi tin rằng số dư thực sự phải giữ mức giữa 10
và 15 trên 1.000 và nếu như không gì làm biến đổi tiến bộ của sự khai triển thì dân số vùng châu thổ sẽ lên tới 13.000.000 người giữa năm 1984 và 2001” Trong thực tế vào năm 1998 dân số đã tăng lên đến 14,2 triệu người hay 947 người/km2 tức là đã tăng lên 2,2 lần Dự báo về tăng dân số gần đúng nhưng mối lo của Gourou lại không xảy ra ở vùng châu thổ sông Hồng không những không giải quyết được đủ ăn mà còn dư thừa một ít để xuất khẩu
Tương lai của châu thổ này có thể hình dung ra được nếu chúng ta so sánh với các châu thổ còn đông dân hơn nữa của vùng Đông á như Nhật Bản, Trung Quốc Các châu thổ của vùng này có mật độ dân số còn cao hơn châu thổ sông Hồng nhưng đã rút lao động ra khỏi nông nghiệp nhiều hơn Mặc dù vậy sản lượng nông nghiệp trên một đơn vị diện tích cao hơn ở sông Hồng 2-3 lần chủ yếu do phát triển chăn nuôi Cơ cấu sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh cây trồng hàng hóa và chăn nuôi Để phục vụ cho
cơ cấu sản xuất ấy thì lương thực không đủ phải nhập thêm nhiều để phát triển chăn nuôi
Như vậy sự phát triển của các châu thổ này chỉ có thể thực hiện được với một sự công nghiệp hóa và đô thị hóa rất mạnh Tuy vậy các châu thổ của Đông Nam á sẽ không thể theo mô hình của các nước Đông Nam á là sẽ phải nhập thực phẩm từ nước ngoài Phải phát triển như thế nào để vừa có tốc độ công nghiệp hóa nhanh nhưng vừa phát triển được nông nghiệp, vừa tăng được thu nhập của nông dân, vừa đảm bảo được
an ninh thực phẩm vì các nước lớn khó có thể nhập lương thực của nước ngoài
Vì vậy việc phát triển nông nghiệp trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh ở các châu thổ đông dân trở thành một vấn đề quan trọng cần giải quyết để có thể phát triển Theo nhiều dự báo thì ở châu á trong thời gian tới quá trình đô thị hóa sẽ xảy
ra rất nhanh chóng Nếu tỷ lệ dân số đô thị năm 1995 là 50% thì năm 2025 sẽ tăng lên 70% Các siêu đô thị sẽ được hình thành trong thời gian tới Siêu đô thị là một khái
Trang 25niệm do J.Gotunam (1978), một nhà địa lý Pháp đề nghị năm 1950 lúc nghiên cứu vùng Đông Bắc của nước Mỹ Các điều kiện để có siêu đô thị là: Phải có cảng, phải giữ vai trò của một ngã tư, phải có mật độ dày đặc về quan hệ, phải có mật độ dân số cao, phải
có một hệ thống kinh tế trong đó dịch vụ chiếm một vị trí quan trọng Trên thế giới có 5
tổ hợp siêu đô thị: Vùng 5 hồ lớn ở Mỹ, vùng bờ biển phía
Bảng1: Các hệ thống nông nghiệp đông dân ở châu á
Nhật Bản
Đài Loan Đông Nam
TQ
Châu thổ sông Hồng Dân số/ha canh tác 28,5 24,3 22,6 23,0 Nông dân/ha canh tác 1,5 4,5 16,5 18,0 Lao động/ha canh tác 0,8 1,1 8,8 9,1 Sản lượng nông nghiệp($/ha) 6730 8540 4820 3550 Sản lượng trồng trọt($/ha) 1710 3090 2510 2470 Sản lượng chăn nuôi($/ha) 1450 5450 2310 1070
Cơ cấu sản lượng(%)
Lương thực 10 7 30 43 Rau quả 13 20 14 13 Cây công nghiệp 2 20 8 13 Chăn nuôi 75 64 48 30 Lương thực sản xuất(kg/ha) 2612 2603 6961 6928 Lương thực nhập(kg/ha) 6106 8289 2164 754 Lương thực sử dụng(kg/ha) 8717 10892 9125 7683 Lương thực sử dụng(kg/người) 305 449 403 335 Thịt sản xuất(kg/người) 732 2106 913 409
Nguồn: Đào Thế Tuấn, 2001
đông của Mỹ, ở Anh, ở Nhật và ở Tây Âu Năm 2010 thế giới sẽ có 13 siêu đô thị trên 10 triệu dân thì 7 ở châu á Năm 2010 châu á sẽ có 30 thành thị trên 5 triệu dân (trong lúc Mỹ chỉ có 2 và châu âu chỉ có 6) Thượng Hải, Bombay sẽ có trên 20 triệu dân, Bắc Kinh, Dhaka, Jakarta, Manila, Thiên Tân, Calcuta và Delhi trên 15 triệu
Trang 26Trung Quốc năm 1994 sẽ có 28% dân sống ở đô thị thì đến năm 2010 sẽ có 50%
Kế hoạch đô thị hóa ở Trung Quốc trong 30 năm tới như sau: Trung Quốc có 2000 huyện Mỗi huyện lỵ sẽ phát triển thành một thị xã có 50 đến 100 ngàn dân, tổng số sẽ
là 100 triệu dân Cả nước có 10609 thị trấn với 240 triệu dân Nếu có một phần ba số thị trấn sẽ trở thành thị xã nhỏ với 30-50 ngàn dân và trung bình với 50-150 ngàn dân thì sẽ
có 150-200 triệu dân Cả nước có 500 thành phố, trong thời gian sau cải cách qua dân số dân số đã tăng từ 500 ngàn đến 1 triệu người Nếu trong 30 năm tới sẽ tăng trung bình
300 ngàn người thì sẽ có 150 triệu người Nếu sẽ phát triển như vậy thì 30 năm tới sẽ có thêm 400 triệu nông dân ra thành thị và dân số đô thị sẽ là 50% Trung Quốc sẽ có 4 tổ hợp siêu thị: Trung và hạ lưu sông Trường Giang (Thượng Hải, Tô Châu, Vô Tích, Nam Kinh, Hàng Châu, Dương Châu); vùng châu thổ Châu Giang (Quảng Châu, Thẩm Quyến, Chu Hải, …); vùng Liêu Ninh (Thẩm Dương …); vùng Bắc Kinh - Thiên Tân - Đường Sơn Riêng vùng châu thổ châu Giang có 20 đô thị và 500 thị trấn, 30 triệu dân
và 600 người / km2, sản phẩm trong nước/người khoảng 3000 USD
1.3.2 Nông nghiệp đô thị ở các nước phát triển
- ở Hoa Kỳ, trong số 2 triệu nông trại có 696.000 nông trại (chiếm 33%) ở trên đất đô thị, các nông trại này chiếm trên 16% diện tích, sản xuất ra 35% sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi Khoảng 25% nông hộ tham gia nông nghiệp đô thị, sản xuất 38 triệu USD thực phẩm Có khoảng 1000 dự án nông nghiệp vùng ven đô thị Từ 1980 đến
1990 nông nghiệp đô thị của Hoa Kỳ tăng 17% Năm 1994, có 30.000 nông trang tham gia vườn công cộng, trong đó thành phố NewYork có 1000 vườn, Boston có 400, San Francisco có 100 Các nông trại đô thị bán nông sản gấp 13 lần trên một acre nông trại nông thôn Các nông trại đô thị nông nghiệp hữu cơ phát triển nhiều hơn Các hiệu ăn ở Chicago và Washington mua 80% sản phẩm sản xuất ra ở vùng ven đô thị ở miền Nam California nơi có giá đất cao nhất thế giới nhưng lại là nơi có nông nghiệp đô thị phát triển nhất, hoa và cây cảnh sản xuất nhiều trong nhà kính và ngoài trời ở đây
- ở Canada có 11% diện tích đất tự nhiên (105 triệu ha) có thể phát triển nông nghiệp, trong đó chỉ có 43% đất trồng trọt có hiệu quả cao (45,9 triệu ha), nhưng có khoảng 1/3 đất này nằm trong các vành đai đô thị Gần 55% đất tốt nằm trong vòng bán kính 161 km của 23 đô thị lớn, từ 1950 đô thị hóa xảy ra trong loại đất này Canada phát triển mạnh nông nghiệp đô thị, hình thức vườn cộng đồng được phát triển phổ biến từ năm 1970 Các đô thị trích một phần đất chia cho dân với một tỷ lệ nhất định để phát
Trang 27triển các nhà vườn Thành phố Montreal và Toronto có 10.000 khu đất chia cho dân Vancouver đã phát triển hình thức này hơn 20 năm nay
- ở Cộng Hoà Liên Bang Đức, 15% đất ở thủ đô Berlin dùng cho nông nghiệp đô thị, 80.000 mảnh vườn được chia và 14.000 người còn trên danh sách chờ đợi Ngày nghỉ các gia đình đến các nhà vườn để nghỉ ngơi
- ở Hà Lan nông nghiệp đô thị chiếm 33% sản lượng nông nghiệp là từ Nhiều hộ nông gia nông thôn chuyển thành nông gia đô thị do thay đổi vành đai ven đô ở các thành phố của Hà Lan, để khắc phục khó khăn trong việc quản lý chất lượng rau xanh
đã tiến hành kiểm tra chặt chẽ chất lượng sản phẩm tại nơi tiêu thụ Đồng thời xây dựng mạng lưới chợ rau xanh để quản lý chất lượng sản phẩm và bảo vệ người tiêu dùng Điều đó đã tác động tích cực đến sản xuất, buộc các nhà sản xuất phải cải tiến quy trình sản xuất, tuân thủ các quy định về chất lượng để tiêu thụ được sản phẩm trên thị trường
- ở Nga, nông nghiệp đô thị có truyền thống lâu đời với các nhà vườn ở ngoại ô, vào cuối tuần dân đô thị đến nghỉ ngơi và trồng trọt, khoảng 30% thực phẩm được sản xuất từ các nhà vườn này ở ngoại ô Thành phố St.Peterburg có 500.000 nhà vườn của dân đô thị, lượng rau quả sản xuất ở đây đã bổ sung đáng kể nguồn rau xanh của thành phố ở Moskva số người làm nông nghiệp tăng 3 lần từ 1972 đến 1992
1.3.3 Nông nghiệp đô thị ở các nước đang phát triển
Các nước đang phát triển đã bắt đầu phát triển nông nghiệp đô thị trước Vào các năm 1970, Ghana ở châu Phi phát triển nông nghiệp đô thị để giải quyết vấn đề thực phẩm, tập trung trước tiên vào sản xuất chuối bột, đậu bắp, lúa gạo và rau
ở ven đô của Zambia tập trung phát triển sản xuất rau và gia súc nhỏ từ năm 1980 phong trào này mở rộng ra Mozambique, Lesotho, Bostvana, Kenya, Chile, Philipin, Peru Từ 1990 phong trào nông nghiệp đô thị đã mở rộng ra hầu hết các nước đang phát triển Nhiều điển hình nông nghiệp đô thị đã được tổng kết, phổ biến ở các hội nghị quốc tế Phong trào đã phát triển mạnh sang cả châu Mỹ latinh với các điển hình như Cuba, Braxin, Arhentina, Peru
- Nông nghiệp đô thị ở châu á: ở châu á trước kia quy mô dân số các đô thị phụ thuộc vào lượng thực phẩm sản xuất ra để cung cấp cho đô thị Với sự phát triển của giao thông cước phí vận chuyển lương thực thực phẩm được chở từ các vùng khác đến,
do đó thu nhập đã trở thành nhân tố quyết định Tình trạng thiếu ăn và nghèo khổ ở các
đô thị trở thành một vấn đề gay gắt Việc sản xuất thực phẩm trong nội đô thị và vùng
Trang 28ven đô trở thành một nhu cầu: Do đô thị hóa, đất nông nghiệp vùng ven đô mất dần Đồng thời do sự đầu cơ đất nên việc bỏ hoang hay sử dụng kém hiệu quả đất ven đô cũng trở nên phổ biến do sự đầu cơ đất Do đó các nhà lãnh đạo và các nhà làm quy hoạch cho rằng không nên làm nông nghiệp trong đô thị, do vậy trong quy hoạch đô thị không có nông nghiệp, nông nghiệp đô thị dần lạc hậu và giảm đi Các nước châu á phát triển ngày càng phụ thuộc vào thực phẩm nhập Hiện nay nông nghiệp đô thị ở các nước châu á là phát triển vì cá là thức ăn chủ yếu của người dân châu á Xu hướng phát triển cây có giá trị hàng hóa cao và chăn nuôi thay cho cây lương thực, phát triển nhà vườn
đã trở lên phổ biến, lâm nghiệp đô thị ít phát triển Nông nghiệp đô thị thường thâm canh cao và có kết quả
- Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp đô thị tại Trung Quốc: Trung Quốc có một chiến lược đô thị hoá phi tập trung với nhiều đô thị nhỏ trong nông thôn và như vậy nông nghiệp nông thôn cũng sẽ biến đổi Vì vậy, nghiên cứu nông nghiệp đô thị này có thể thấy được phần nào hình ảnh của nông nghiệp nông thôn trong tương lai gần Trong hoàn cảnh Trung Quốc tham gia WTO thì lợi thế so sánh của Trung Quốc sẽ là các sản phẩm cần nhiều lao động như rau xanh, nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất trong nhà lưới Hiện nay, Trung Quốc cũng đã xuất khẩu nhiều rau xanh sang các nước ASEAN Tại các đô thị lớn, nông nghiệp có xu thế đẩy xa ra các vùng khác có cơ sở hạ tầng tốt, nối
đô thị với các vùng xa hơn Nông nghiệp quanh các đô thị lớn dần (tuy còn chậm) định hướng theo nông nghiệp du lịch và sinh thái
- Kinh nghiệm của Bangkok (Thái Lan): Do quá trình đô thị hoá nhanh đã gây nhiều biến động về thị trường ruộng đất ở vùng ngoại ô, đã đẩy nông nghiệp ra các vùng
xa hơn Để thúc đẩy các vùng sản xuất vệ tinh này phát triển đã xác lập các yếu tố tác động sau: dễ dàng tiếp cận tín dụng, các kỹ thuật mới đa dạng mà nông dân dễ tiếp cận,
cơ sở hạ tầng phát triển, tăng cường quan hệ hợp đồng giữa các công ty chế biến và nông dân nhằm tạo đầu ra cho nông sản Các công ty tư nhân là yếu tố trực tiếp định hướng cho phát triển nông nghiệp, đồng thời không thể thiếu vai trò của nhà nước trong việc: quy hoạch đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng, điều tiết giá cả, làm trung gian giải quyết các vấn đề về môi trường, tư vấn, đào tạo và tạo khung pháp lý cho phát triển nông nghiệp
1.3.4 Những kinh nghiệm rút ra từ quá trình phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái của một số nước
Trang 291.3.4.1 Hầu hết thủ đô và thành phố lớn của các nước công nghiệp cũng như các nước đang phát triển đều hình thành các vùng vành đai phát triển nông nghiệp nằm xen
kẽ hoặc tạo thành vành đai bao quanh vùng đô thị, các vùng sản xuất này phần lớn bị chia cắt, qui mô nhỏ, sản xuất ra các sản phẩm tự nuôi mình và cung cấp cho thị trường
đô thị Hình thành vành đai nông nghiệp, vành đai môi trường sinh thái cho vùng đô thị
1.3.4.2 Vùng nông nghiệp nội đô, hay ngoại vi đều bị ảnh hưởng ô nhiễm môi trường: Nước, đất, khí và rác thải từ vùng đô thị Điều này gây không ít khó khăn cho vùng nông nghiệp áp lực rất lớn đặt ra cho vùng nông nghiệp đô thị là vừa phải tiến hành sản xuất, vừa phải tạo ra hệ sinh thái và môi trường cảnh quan cho đô thị
1.3.4.3 Các nước công nghiệp đều đầu tư rất lớn cho sản xuất nông nghiệp và đặc biệt quan tâm đầu tư cho nông nghiệp ngoại thành nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn, khắc phục hậu quả về môi trường và cũng chính là làm cho các đô thị phát triển bền vững hơn
1.3.4.4 Định hướng cho vùng nông nghiệp ở đô thị cũng có ý tưởng rõ ràng Đối với vùng đô thị: Diện tích đất nông nghiệp vẫn dùng trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả và nuôi trồng thuỷ sản, nhưng không chỉ để lấy sản phẩm tiêu dùng mà còn để tạo cảnh quan, môi trường sinh thái cho đô thị
Đối với vùng ngoại ô sát đô thị: Tiến hành sản xuất nông nghiệp sạch, dựa vào tự nhiên, tạo ra sản phẩm chất lượng cao nhưng không yêu cầu phải có năng suất cao vì Nhà nước sẽ trợ giá để tồn tại Mục đích của việc này là nhằm tạo ra một vùng đệm về cảnh quan sinh thái cho khu đô thị
Đối với vùng ngoại ô xa, hoặc các tỉnh lân cận: Tiến hành sản xuất nông nghiệp qui mô lớn để đáp ứng các yêu cầu của đô thị về nông sản và môi trường
1.3.4.5 Các vùng sản xuất nông nghiệp ngoại ô sẽ được CNH - HĐH ở mức độ cao nhằm kéo bớt lực lượng lao động trẻ của khu vực này đi vào đô thị để học tập và làm việc
Phần thứ hai
Đánh giá hiện trạng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hóa nông
thôn Hà Nội trong thời kỳ đổi mới 1986 – 2005
2.1 Đánh giá hiện trạng nông nghiệp – nt giai đoạn 1986-1990
Trang 302.1.1 Cơ cấu kinh tế Hà Nội giai đoạn 1986 - 1990
- Cơ cấu kinh tế chung của thành phố trong giai đoạn 1986 -1990: Công nghiệp TTCN chiếm tỷ trọng lớn, sau đó là nông nghiệp (Nông lâm thuỷ sản) tiếp đến là thương mại và dịch vụ
- Cơ cấu kinh tế nông thôn ngoại thành: Cơ cấu kinh tế nông thôn trên địa bàn (kể
cả kinh tế TW) công nghiệp TTCN - nông nghiệp - thương mại dịch vụ
- Cơ cấu kinh tế nông thôn (không kể kinh tế TW) cơ cấu kinh tế nông thôn là nông nghiệp - công nghiệp TTCN - thương mại dịch vụ
2.1.2 Về phát triển công nghiệp và TTCN
Nhiệm vụ hàng đầu của công nghiệp TTCN trong giai đoạn này là tăng nhanh sản xuất hàng tiêu dùng của nhân dân Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, thay thế hàng nhập khẩu, đồng thời tăng nhanh hàng xuất khẩu
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp thời kỳ 1986 - 1990 đạt tốc độ tăng bình quân 2,7%/năm (nếu không tính công nghiệp TW thì chỉ đạt tốc độ tăng trưởng 2,4%/năm) Trong đó công nghiệp quốc doanh tăng 3,3%/năm, ngoài quốc doanh tăng 1,3%/năm Công nghiệp TTCN ngoài quốc doanh của ngoại thành chỉ tăng 0,55%/năm
- Xét về lượng, sản xuất hàng tiêu dùng không đạt tốc độ đề ra, thậm chí năm
1986 - 1990 còn giảm so với các năm trước, chưa đáp ứng thoả mãn nhu cầu tiêu dùng
của nhân dân thủ đô cả về lượng và chất
2.1.2.1 Nguyên nhân
- Do chuyển đổi cơ chế kinh tế và quản lý theo tinh thần của Đại hội đại biểu Đảng bộ của thành phố lần thứ 10, không chỉ ảnh hưởng đến các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh của nhà nước mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến các HTX, một số tổ sản xuất
và một số cơ sở sản xuất tư nhân và cá thể
- Nguyên liệu, phụ liệu và phụ tùng thay thế không đảm bảo nhu cầu sản xuất hàng tiêu dùng Nguồn trong nước chỉ đáp ứng được 40%, nguồn nhập khẩu chỉ đảm bảo khoảng 30% Do vậy, năng lực sản xuất hàng tiêu dùng của Hà Nội nói riêng, của
cả nước nói chung không huy động hết năng lực sản xuất
- Việc nhập hàng ngoại bằng nhiều kênh khác nhau diễn ra với tốc độ nhanh, tuy
có bổ xung một phần cho sự thiếu hụt về quỹ hàng hoá, giảm bớt căng thẳng cung - cầu
và quan hệ hàng - tiền, nhưng mặt khác đã chèn ép sản xuất hàng tiêu dùng nội địa, gây tình trạng đình đốn trong sản xuất
Trang 312.1.2.2 Thành công trong đổi mới công nghiệp TTCN của thủ đô
- Về phía người sản xuất đã bắt đầu quan tâm đến nhu cầu của người tiêu dùng, đến thị hiếu, mẫu mã sản phẩm, giá cả và giá trị sử dụng Trình độ kỹ thuật sản xuất, trình độ quản lý kinh doanh, tiếp cận thị trường của các đơn vị sản xuất công nghiệp TTCN đã được nâng lên một bước Một số doanh nghiệp đã chú ý đầu tư chiều sâu, áp dụng công nghệ tiên tiến, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm
- Cơ cấu sản phẩm qua tác động của thị trường đang hình thành rõ hơn cơ cấu sản phẩm tiêu dùng Những sản phẩm không có nhu cầu sử dụng bị che lấp bởi cơ chế phân phối, cấp phát hiện nay đã bộc lộ, những sản phẩm tiêu dùng đã bão hoà hoặc không còn phù hợp với thị hiếu tiêu dùng nay đang chuyển đổi… Đã tác động mạnh mẽ đến thay đổi cơ cấu sản xuất công nghiệp TTCN của thủ đô và bố trí lại sản xuất công nghiệp, TTCN ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội
- Về cơ cấu các thành phần kinh tế trong sản xuất công nghiệp, TTCN cũng có thay đổi theo hướng tiến bộ Sản xuất công nghiệp, TTCN của khối ngoài quốc doanh tăng mạnh Trong đó, giá trị sản lượng công nghiệp, TTCN của các hộ cá thể tăng bình quân 15%/năm, các tổ sản xuất CN - TTCN tăng 10,9%/năm
- Về phía người tiêu dùng: Quan điểm tiêu dùng cũng có thay đổi về cơ bản, đã quan tâm đến giá trị sử dụng và nhu cầu đích thực, không còn dự trữ hàng tạo ra nhu cầu giả tạo; Cung cầu hàng hoá vì thế cũng đỡ căng thẳng, tình trạng khan hiếm hàng hoá cũng giảm bớt
2.1.3 Sản xuất nông nghiệp của Hà Nội 1986 - 1990
- Nhiệm vụ trọng tâm của nông nghiệp ngoại thành là phát triển vành đai thực phẩm, đảm bảo nhu cầu lượng thực, thực phẩm cho nông dân, đồng thời đáp ứng phần quan trọng thực phẩm cho nhu cầu của dân cư nội thành, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp và nông sản xuất khẩu
- Cơ cấu sản xuất nông nghiệp Hà Nội Năm 1985 ngành trồng trọt chiếm 61,94%, chăn nuôi chiếm 38,06% giá trị sản lượng Năm 1990 trồng trọt chiếm 64,68%, chăn nuôi thuỷ sản chỉ chiếm 35,32%
- Sản xuất trồng trọt: Đảm bảo lương thực cho nông dân và cung cấp một phần cho nội thành, đáp ứng nhu cầu rau xanh của thành phố, bằng cách tăng vụ và thâm
Trang 32canh để tăng năng suất cây trồng Diện tích gieo trồng năm 1985 là 76.280 ha, năm
1990 đạt 83.940 ha, tốc độ tăng diện tích gieo trồng 1,92%/năm
Về sản xuất lương thực: Cây ngô đông và khoai lang đông phát triển mạnh, diện tích cây lương thực từ 60.161 ha năm 1985 đã tăng lên 69.497 ha năm 1990, tốc độ tăng diện tích gieo trồng cây lương thực 1,29%/năm Năm 1985, năng suất lúa cả năm đạt 26,4 tạ/ha đã tăng lên 30,1 tạ/ha năm 1990 Năng suất ngô từ 22,7 tạ/ha năm 1985 tăng lên 24,6 tạ/ha năm 1990 Sản lượng lương thực quy thóc tăng bình quân 6,15%/năm Năm 1985, lương thực bình quân/khẩu của cả Thủ Đô đạt 85,2 kg tăng lên 102,3 kg năm 1990 Nếu tính bình quân lương thực cho một nhân khẩu nông nghiệp thì năm 1985 chỉ đạt 251,6 kg, đến năm 1990 đã đạt 308,1 kg
Về cây thực phẩm: Diện tích cây thực phẩm trong giai đoạn 1986 - 1990 không
có biến động lớn, luôn giữ ổn định ở mức trên dưới 8000 ha Tuy nhiên, do cơ cấu các loại rau, đậu có chất lượng cao được đưa vào sản xuất ngày càng nhiều, nên giá trị sản lượng của cây thực phẩm có tốc độ phát triển rất cao 24,2%/năm Cơ cấu cây thực phẩm trong giá trị sản xuất ngành trồng trọt chiếm từ 12,94% năm 1985 lên 22,57% năm
1990
- Về chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản: Đáp ứng nhu cầu về thịt, trứng, cá cho nhân dân Thủ Đô và có thêm sản phẩm xuất khẩu Thực tế qua số liệu về chăn nuôi cho thấy: Đàn bò tăng trưởng bình quân 6,5%/năm trong giai đoạn 1985 - 1990; năm 1985 chưa có chăn nuôi bò sữa, năm 1990 toàn thành phố đã có 337 con bò sữa và cho sản lượng 200 tấn sữa tươi
Chăn nuôi lợn, tổng đàn lợn (không kể lợn sữa) giảm, tốc độ giảm bình quân 1,05%/năm, do đàn lợn trước năm 1986 phát triển ở khắp các nơi, các hộ nội thành, các
hộ cán bộ công chức, hộ nhà cao tầng, nhà cấp 4, đều chăn nuôi lợn để tăng thu nhập, cải thiện đời sống nên đàn lợn phát triển mạnh Giai đoạn 1986 - 1990 phong trào chăn nuôi đã tạm thời lắng xuống, ở khu vực ngoại thành tốc độ tăng trưởng rất thấp chỉ có 0,35%/năm Tuy đầu con giảm nhưng sản lượng thịt hơi xuất chuồng của toàn thành phố vẫn tăng, bình quân 4,8%/năm, trong đó khu vực ngoại thành tăng 6,7%/năm do trọng lượng xuất chuồng tăng
Đàn gia cầm (nhất là gà công nghiệp) được phát triển mạnh và rộng khắp, đầu gia cầm tăng bình quân 5,5%/năm, trong đó khu vực ngoại thành tăng 7,35%/năm Sản lượng thịt gia cầm giết mổ tăng bình quân 15,75%, ngoại thành tăng 17,75%/năm
Trang 33Nuôi trồng thuỷ sản, về diện tích nuôi thả giảm bình quân 0,3/năm, nhưng do nuôi thâm canh và thả giống cá có năng suất cao nên sản lượng cá thu hoạch tăng bình quân 9%/năm, ngoại thành tăng 8,25% Sản lượng cá tăng nhanh ở các xí nghiệp nuôi
cá quốc doanh quản lý các hồ nội thành và Hồ Tây
- Sản xuất nông nghiệp của Hà Nội nói chung và ngoại thành nói riêng giai đoạn
1986 - 1990 có bước phát triển nhất định, kết quả chưa đạt được mục tiêu đề ra, tốc độ tăng trưởng sản lượng nông nghiệp tăng bình quân 5%/năm, bằng nửa tốc độ tăng trưởng của giai đoạn 1981 - 1985 Trong đó, ngành trồng trọt tăng 6,6% năm, chăn nuôi tăng 7,35%/năm; xét theo thành phần kinh tế thì khu vực quốc doanh giảm 4,35%/năm, ngoài quốc doanh tăng 5,35%/năm Theo khu vực nội thành và ngoại thành thì nội thành giảm bình quân 2,5%/năm, ngoại thành tăng 5,9%/năm
- Do công nghiệp hóa, đô thị hóa chậm và theo kế hoạch và quy hoạch nên ít tác động xấu đến môi trường sinh thái Đồng thời sản xuất nông nghiệp ở mức độ thâm canh chưa cao Việc sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu, hóa chất chưa nhiều nên hệ sinh thái nông nghiệp đóng góp lớn trong cải tạo môi trường sinh thái đô thị
2.1.3.1 Nguyên nhân:
- Cơ chế khoán 100 chỉ có tác dụng tích cực ở những năm đầu (giai đoạn 1981 - 1986), những năm sau đó đã bộc lộ những hạn chế như: Định mức khoán không ổn định, thậm chí thay đổi từng vụ đã làm giảm đầu tư thâm canh, phương án phân phối sản phẩm không thống nhất Mặt khác, tình trạng khê đọng sản phẩm đã trở nên bức xúc
ở một số HTX do phương thức ứng trước vật tư theo kiểu bao cấp…
- Tình trạng khoán trắng, buông lỏng quản lý và điều hành HTX, các đội sản xuất phó mặc cho hộ nông dân, chưa được khắc phục kịp thời, triệt để đã làm cho tốc độ tăng trưởng giá trị sản lượng nông nghiệp của Hà Nội tăng chậm so với giai đoạn 1981 -
1985
- Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp (5/4/1988) nhằm hoàn thiện và nâng cao cơ chế khoán sản phẩm trong HTX, khẳng định chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp theo hướng chuyển sang kinh tế hàng hoá đã tác động đến sản xuất nông nghiệp của thủ đô, nhưng chưa tác động mạnh trong giai đoạn 1986 - 1990 do các chính sách khác chưa thay đổi kịp
- Với chính sách đẩy mạnh lưu thông hàng hoá, xoá bỏ “ngăn sông cấm chợ” (1989), nông sản hàng hoá được tự do lưu thông trong cả nước Do vậy nông sản hàng
Trang 34hoá của nông nghiệp Thủ Đô bắt đầu có sự cạnh tranh của các vùng có ưu thế giá rẻ đã tác động đến sản xuất nông nghiệp của Hà Nội
2.1.3.2 Những nhân tố mới của nông nghiệp Hà Nội giai đoạn 1986-1990
- Đa thành phần tham gia sản xuất nông sản hàng hoá, nhất là kinh tế hộ gia đình, kinh tế cá thể…
- Người sản xuất bắt đầu chú ý đến nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng nông sản của người dân đô thị, cơ cấu nông sản bắt đầu có sự chuyển hướng, cụ thể nông sản hàng hoá có giá trị và chất lượng như rau cao cấp, được đưa vào sản xuất nhiều hơn…
2.1.4 Dịch vụ và lưu thông phân phối
Trong giai đoạn 1986 - 1990, giai đoạn rối ren về giá cả tiền tệ và bất ổn về thị trường, nên thương mại và dịch vụ của thủ đô vẫn duy trì phương thức hoạt động của thương nghiệp XHCN Nhà nước nắm hầu hết hàng hoá, phân phối đến tận người tiêu dùng, kiểm soát giá cả thị trường, nhằm ổn định giá cả và lập lại trật tự trên lĩnh vực lưu thông phân phối
Tuy nhiên, với chính sách tự do lưu thông hàng hoá, xoá bỏ “ngăn sông, cấm chợ” và thừa nhận thị trường tự do như là một bộ phận không thể thiếu của thị trường XHCN (1989) đã tác động đến thị trường hàng hoá của thủ đô Hà Nội, trong đó có thị trường nông sản hàng hoá
Nếu như năm 1985, tổng mức bán lẻ hàng hoá của khu vực kinh tế quốc doanh
Hà Nội chiếm 53,8%, thì đến năm 1990 chỉ còn 31% khu vực kinh tế tập thể (HTX mua bán) năm 1985 chiếm 7,5% thì năm 1990 chỉ còn 2,2% Ngược lại, kinh tế tư nhân, từ chỗ chỉ chiếm 38,7% năm 1985, năm 1990 chiếm 66,8%
Hộ tư thương và dịch vụ cá thể tăng nhanh, tốc độ bình quân của thành phố là 11,7%/năm, ở khu vực ngoại thành tăng bình quân 11,1%/năm
Tồn tại: Thương mại và dịch vụ của Hà Nội chậm đổi mới so với một số tỉnh thành trong cả nước, nhất là các tỉnh thành phía Nam Đồng thời, việc chậm đổi mới của thương mại dịch vụ không theo kịp đổi mới trong sản xuất công nghiệp - TTCN và nông nghiệp nên đã hạn chế phần nào của phát triển sản xuất công nghiệp - TTCN và nông nghiệp…
Trang 35Tuy nhiên, với việc thừa nhận thị trường tự do là một bộ phận của thị trường XHCN và kinh tế tư thương đã tác động định hướng sản xuất theo nhu cầu của thị trường…
2.1.5 Kết cấu hạ tầng, văn hoá, xã hội NT của ngoại thành
- Kết cấu hạ tầng nông thôn giai đoạn 1986 -1990 ít đạt được đầu tư và không có thay đổi đáng kể so với giai đoạn trước (giao thông, thuỷ lợi, điện nước, chợ…)
- Văn hoá xã hội: Lao động, việc làm và đời sống; Dân số và lao động có quan hệ khăng khít với nhau và với đời sống Do đó việc hạ thấp tốc độ tăng dân số có ý nghĩa chiến lược sống còn Trong 5 năm, năm 1985 với tỷ lệ sinh là 1,99%, năm 1990 tỷ lệ sinh hạ xuống còn 1,93% Tuy tỷ lệ sinh có giảm chút ít, nhưng do đời sống tăng, tuổi thọ tăng lên, tỷ lệ dân số tự nhiên năm 1985 là 1,5%, năm 1990 tỷ lệ tăng tự nhiên 1,51%
Đời sống đã được cải thiện so với năm 1985, thể hiện năm 1985 chi tiêu chiếm 78,79% thu nhập, thì năm 1990, chi tiêu chỉ chiếm 76,31% Lượng tiêu dùng lương thực, thực phẩm chủ yếu năm 1990 tăng chút ít so với năm 1985 điều đó khẳng định đời sống của nhân dân Thủ Đô đã được cải thiện nhưng chưa nhiều
2.2 Đánh giá hiện trạng nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hóa nông thôn
Hà Nội 1991 - 2000
2.2.1 Tốc độ phát triển và cơ cấu kinh tế ngoại thành
- Trong 10 năm (1991 - 2000), kinh tế ngoại thành phát triển toàn diện và liên tục, với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,65%/năm
- Kinh tế ngoại thành bước đầu đã có chuyển dịch bứt phá Từ chỗ cơ cấu kinh tế năm 1990 là: Nông nghiệp - công nghiệp và TTCN - thương mại và dịch vụ, đến năm
2000 đã chuyển thành công nghiệp, TTCN - nông nghiệp - thương mại và dịch vụ (57,77% - 29,16% - 19,07%)
- Sản xuất công nghiệp TTCN và xây dựng tăng bình quân 13,65% trong đó riêng công nghiệp TTCN tăng bình quân 11,81%/năm
- Sản xuất nông nghiệp thuỷ sản tăng bình quân 5,05%
- Thương mại dịch vụ tăng trưởng mạnh, tốc độ tăng trưởng bình quân 16,34/năm
2.2.2 Phát triển nông lâm thuỷ sản
Trang 362.2.2.1 Những thành tựu đạt được thời kỳ 1990 - 2000:
- Kinh tế nông nghiệp của thành phố có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, từ chỗ tỷ trọng của ngành tròng trọt chỉ chiếm 64,68% (1990) giảm xuống còn
có 58,72% (năm 2000), ngành chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản từ chỗ có 35,32% tăng lên 39,02%
- Sản xuất trồng trọt từ năm 1990 - 2000 có tốc độ tăng trưởng bình quân 3,45%/năm Trong đó, hoa và cây cảnh có tốc độ tăng bình quân cao 49,25%/năm, cây lương thực có hạt tăng bình quân 28,65%/năm, cây ăn quả tăng bình quân 2,7 %/năm
Tỷ trọng của các nhóm cây trồng có sự chuyển dịch tích cực, nhóm cây hoa và cây cảnh tăng dần tỷ trọng trong sản xuất trồng trọt, nhóm cây ăn quả cũng tăng trong tổng cơ cấu
- Chăn nuôi và thuỷ sản trong thời kỳ này tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng bình quân chung của ngành đạt 8,4%/năm Trong đó sữa bò tăng 27,5%/năm, lợn tăng bình quân 6,15%/năm, gia cầm tăng bình quân 7,65%/năm, trứng gia cầm tăng 12,2%, thuỷ sản tăng 7,25%/năm
- Sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp trong suốt 10 năm quan không có sự thay đổi lớn giữa trồng trọt và chăn nuôi, nhưng các loại nông sản hàng hoá phát triển đa dạng theo yêu cầu của thị trường Trong trồng trọt, các loại cây có chất lượng cao như lúa nếp, lúa thơm, rau cao cấp, rau an toàn, hoa và cây cảnh, quả có chất lượng cao vừa được khôi phục vừa tiếp thu các giống tiến bộ đưa nhanh vào sản xuất và đẩy nhanh khối lượng sản phẩm hàng năm
- Chăn nuôi và thuỷ sản cũng phát triển tương tự: Chăn nuôi gia cầm thuỷ sản và chăn nuôi bò sữa phát triển mạnh Các sản phẩm chăn nuôi cũng phát triển theo hướng
đa dạng và nâng cao chất lượng như: Lợn nạc, gà thả vườn, gà siêu thịt, siêu trứng, bò lai sind, bò sữa năng suất, chất lượng sữa cao, cá chim trắng, tôm càng xanh đang phát triển mạnh
- Nông nghiệp thủ đô đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông sản phẩm an toàn và nông sản sạch Hình thành các vùng sản xuất rau an toàn ở Vân Nội (Đông Anh); Đặng Xá, Văn Đức (Gia Lâm); Lĩnh Nam, Yên Mỹ của Thanh Trì… Hình thành các vùng trồng hoa mới ở Tây Tựu - Thanh Trì, vùng cây ăn quả ở Từ Liêm… Nông nghiệp của thủ đô bắt đầu hình thành nông nghiệp sinh thái bền vững kết hợp với du lịch
Trang 37- Cùng với phát triển sản xuất, quản lý trong nông nghiệp - nông thôn cũng có thay đổi phù hợp với sản xuất Đã xuất hiện trên 300 trang trại sản xuất nông sản hàng hoá có hiệu quả cao
2.2.2.2 Những hạn chế của nông nghiệp Hà nội giai đoạn 1990 - 2000
- Sản xuất nông nghiệp của thủ đô vẫn chưa khắc phục được tình trạng sản xuất nhỏ manh mún, nông sản hàng hoá phân tán…
- Tốc độ tăng trưởng chưa ổn định, chuyển dịch trong nội bộ ngành nông nghiệp còn chậm, chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm chưa cao, chưa có địa chỉ tiêu thụ, giá thành còn cao…
- Qui trình CNH, đô thị hoá diễn ra nhanh và tự phát đã làm tăng ô nhiễm, cảnh quan môi trường bị huỷ hoại Diện tích đất nông nghiệp, diện tích ao hồ giảm, nhiều mô hình sản xuất tập trung thâm canh cao, sử dụng quá mức phân hóa học, thuốc sâu, hóa chất và thức ăn công nghiệp tạo ra hệ sinh thái nông nghiệp không bền vững, ít tác dụng trong cải thiện môi trường sinh thái Đồng thời phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái chưa được quan tâm đầy đủ và chưa có định hướng rõ ràng
2.2.3 Phát triển công nghiệp và xây dựng ở nông thôn ngoại thành
2.2.3.1 Những thành tựu đạt được
- Sản xuất công nghiệp TTCN và xây dựng tăng trưởng liên tục, tốc độ tăng trưởng bình quân 13,65%/ năm, trong đó khu vực ngoài quốc doanh tăng 15,3%/ năm, riêng công nghiệp TTCN tăng 11,85%/ năm
- Các huyện ngoại thành đã thu hút nhiều dự án đầu tư nước ngoài và hình thành nên nhiều khu công nghiệp mới như khu công nghiệp Đài Tư, khu công nghiệp Sài Đồng A, khu công nghiệp DAEWOO, khu công nghiệp Nội Bài, khu công nghiệp Bắc
và Nam Thăng Long, khu công nghiệp Cầu Bươu…
- Đã hình thành nhiều khu công nghiệp vừa và nhỏ như khu công nghiệp Từ Liêm, Phú Thượng, Dương Xá, Kiêu Kỵ, Vĩnh Tuy, Nguyên Khê… Nhiều ngành nghề
và làng nghề thủ công truyền thống được khôi phục và phát triển thêm nhiều ngành nghề mới Hiện tại ở ngoại thành Hà Nội có 83 làng nghề sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
- Số doanh nghiệp và cơ sở sản xuất công nghiệp - TTCN không ngừng tăng lên Sản xuất công nghiệp và TTCN bước đầu được đổi mới, kết hợp công nghệ truyền
Trang 38thống với công nghệ tiên tiến hiện đại, đã nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất
- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề tập trung vào các nhóm sản phẩm chủ yếu sau: Gốm sứ, dệt may, thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu song, mây, tre, nứa lá, sản phẩm chế biến lương thực thực phẩm, chế biến đồ gỗ dân dụng, nghề điêu khắc, chạm khảm và điêu khắc…
2.2.4 Thương mại dịch vụ nông thôn ngoại thành
2.2.4.1 Những kết quả đạt được
- Hoạt động thương mại và dịch vụ phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng bình quân 16,34%/năm
- Ngoài thương mại và dịch vụ quốc doanh, thương mại và dịch vụ của tư thương
ở ngoại thành tăng trưởng khá nhanh, năm 1990 có 13.631 hộ đến năm 2000 có 18.597
2.2.4.2 Những tồn tại:
- Thương mại và dịch vụ ở khu vực ngoại thành chủ yếu do tư thương và dịch vụ
tư nhân, thương mại và dịch vụ quốc doanh chiếm tỷ lệ thấp nên việc quản lý và kiểm soát đang là vấn đề nổi cộm
Trang 39- Cơ sở vật chất kỹ thật của thương mại và dịch vụ của khu vực ngoại thành chưa đáp ứng được phát triển kinh tế, văn hoá và đời sống vật chất tinh thần của dân cư khu vực ngoại thành
- Các doanh nghiệp chế biến và hoạt động xuất khẩu tiêu thụ các sản phẩm nông sản còn ít và ít chú ý đến thị trường nông sản của ngoại thành do khối lượng còn hạn chế, phân tán nhỏ lẻ…
-Tổng vốn đầu tư cho kinh tế nông thôn ngoại thành từ năm 1995 đến năm 2000
là 511,5 tỷ đồng, bình quân 1 năm là 102,3 tỷ đồng Tập trung vào các lĩnh vực: Đầu tư cho các trạm trại nông lâm ngư nghiệp 4307 triệu đồng/ năm Đầu tư cho trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc thuộc chương trình 5 triệu ha rừng và chương trình 327 bình quân năm là 2.883 triệu đồng/năm Đầu tư cho thuỷ lợi là 24.457 triệu đồng/năm Đầu
tư cho giao thông ngoại thành trong các năm 1996 - 2000 đạt 161.070 triệu đồng/năm Đầu tư cho nâng cấp hệ thống điện nông thôn bình quân năm đạt 16.926 triệu đồng/năm Đầu tư cho hệ thống nước sạch nông thôn 14.070 triệu đồng cho 22 công trình nước sạch nông thôn… Đầu tư cho tu bổ đê điều bình quân 14.753 triệu đồng/năm
- Hệ thống giao thông nông thôn đã được nâng cấp hệ thống đường liên xã, liên thôn, đường thôn đã được trải nhựa, bê tông và lát gạch đạt 70% Hệ thống đê điều đã đảm bảo vững chắc trong mùa mưa bão Hệ thống thuỷ lợi đã đảm bảo 70% tưới và 40% diện tích tiêu chủ động
- Hệ thống điện đã phủ kín 100% số thôn ở ngoại thành và 100% số hộ sử dụng điện trong sinh hoạt
- Hệ thống nước sạch đã có 38 trạm cấp nước tập trung và chục ngàn giếng khoan UNICEF đảm bảo cấp nước sạch cho 65% dân số ngoại thành
Trang 40- Hệ thống trường học: Đến nay 100% trường PTTH, 83% trường PTCS, 81% trường tiểu học, 68% trường mẫu giáo mầm non đã được xây dựng kiên cố, không còn tình trạng học 3 ca Các huyện đều có trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên đào tạo nghề và học nghề cho thanh thiếu niên
- Hệ thống y tế: 100% số xã có trạm Y tế, bình quân 1000 dân có 0.56 giường bệnh Các trung tâm y tế huyện được nâng cấp, tăng số giường bệnh và trang thiết bị, cùng với hệ thống mạng lưới y tế xã đã phục vụ và chăm sóc sức khoẻ tốt hơn cho nhân dân ở nông thôn 83,1% số xã có sân thể thao, 100% số xã có đài truyền thanh và 51%
số xã có nhà văn hoá…
2.2.6 Phát triển văn hoá xã hội
- Giáo dục đào tạo: Việc xã hội hoá công tác giáo dục và đào tạo đã đạt được kết quả khá, nội dung giáo dục được đổi mới, chất lượng giáo dục được giữ vững Tỷ lệ trẻ
em đến lớp mẫu giáo mầm non đạt 73,4%, tỷ lệ trẻ em 6 tuổi đi học lớp 1 đạt 99,2%, 100% học sinh đạt tốt nghiệp tiểu học, 100% số xã đạt tỷ lệ phổ cập giáo dục cấp phổ thông cơ sở Tuy nhiên cơ sở vật chất và trang thiết bị đồ dùng học tập và giảng dạy giữa ngoại thành và nội thành còn có sự khác biệt lớn, các trường ngoại thành còn thiếu thốn nhiều
- Chăm sóc sức khoẻ: Hệ thống y tế ở tuyến huyện, tuyến xã đều được quan tâm đầu tư nâng cấp Cả 5 huyện ngoại thành đều có trung tâm y tế huyện (bệnh viên Đa khoa), các xã đều có trạm y tế xã có từ 4 - 10 giường bệnh, có bác sĩ và các y sĩ chuyên khoa Hoạt động chuyên môn của ngành y tế liên tục được mở rộng trong các lĩnh vực: Phòng chống dịch bệnh và tai nạn thương tích, tiêm chủng mở rộng; công tác kế hoạch hoá gia đình; chương trình bảo vệ bà mẹ trẻ em và chăm sóc sức khoẻ sinh sản, chương trình phòng chống HIV/AIDS Kết quả tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn 15,5% Tuổi thọ trung bình tăng…
2.2.7 Thể dục thể thao
Phong trào luyện tập Thể dục thể thao phát triển khá và mang tính xã hội hoá cao, phát triển manh như cầu lông, bóng bàn, bóng đá, một số môn võ thuật… Phong trào hoạt động văn hoá văn nghệ phát triển khá Năm 2000 có 310 làng xây dựng làng văn hoá, 73,2% số hộ nông thôn đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá Tuy nhiên hoạt động kinh