1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại tổng công ty điện lực việt nam theo mô hình tập đoàn kinh tế luận văn ths kinh

89 363 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 817,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thành lập tập đoàn Điện lực Việt Nam trên cơ sở mô hình công ty mẹ - công ty con để phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của các đơn vị thành viên và tạo điều kiện cho các thành phần k

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

Nguyễn Thị Quỳnh Hoa

Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tổng Công ty Điện lực Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Hà nội - 2006

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

Nguyễn Thị Quỳnh Hoa

Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tổng Công ty Điện lực Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế

Luận văn Thạc sĩ

Mã Số: 60 34 05

Người hướng dẫn khoa học: TS Đàm Văn Huệ

Hà nội - 2006

Trang 3

§¹i häc Quèc gia Hµ Néi

Khoa Kinh tÕ -

NguyÔn ThÞ Quúnh HOA

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC VIỆT NAM THEO MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ

luËn v¨n th¹c sü QU¶N TRÞ KINH DOANH

Hµ Néi - 2006

Trang 4

Đại học Quốc gia Hà Nội

Khoa Kinh tế -

Nguyễn Thị Quỳnh HOA

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN Lí TÀI CHÍNH TẠI TỔNG CễNG TY ĐIỆN LỰC VIỆT NAM THEO Mễ HèNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60 34 05

luận văn thạc sỹ QUảN TRị KINH DOANH

người hướng dẫn khoa học: TS đàm văn huệ

Hà Nội - 2006

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1.NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC THEO MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN

Trang

1.1 Tổng quan về tập đoàn kinh tế 5

1.1.2 Mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế 6 1.1.2.1 Đặc trưng về cơ cấu tổ chức 6 1.1.2.2 Hình thức tổ chức của tập đoàn kinh tế 8 1.1.2.3 Đặc điểm về hoạt động của tập đoàn 15 1.1.3 Vai trò của tập đoàn kinh tế 15 1.2 Tổng Công ty Nhà nước theo mô hình tập đoàn kinh tế 18 1.2.1 Cơ sở hình thành và vai trò của Tổng Công ty Nhà nước 18 1.2.2 Một số khác biệt của mô hình tập đoàn kinh tế và mô hình 19 Tổng Công ty 91

1.2.3 Sự cần thiết chuyển đổi các Tổng Công ty Nhà nước ở 21 Việt Nam sang hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế

1.3 Cơ chế quản lý tài chính của tập đoàn kinh tế 24 1.3.1 Khái niệm cơ chế quản lý tài chính 24 1.3.2 Mục tiêu của cơ chế quản lý tài chính 24 1.3.3 Nội dung của cơ chế quản lý tài chính 25 1.3.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính 26

Trang 6

của tập đoàn kinh tế

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI

TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

Trang

2.1 Khái quát về Tổng Công ty Điện lực Việt nam 29 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 29 2.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng 30 đến cơ chế quản lý tài chính của EVN

2.1.3 Tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của EVN 31 2.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty 35 Điện lực Việt Nam trong những năm qua

2.2 Thực trạng cơ chế quản lý tài chính của EVN 37 2.2.1 Những quy định về cơ chế quản lý tài chính của EVN 37 2.2.2 Cơ chế quản lý doanh thu 38 2.2.3 Cơ chế quản lý chi phí 39 2.2.4 Cơ chế huy động vốn 43 2.2.4.1 Huy động vốn ngân sách 43

2.2.5 Cơ chế điều hoà vốn trong nội bộ Tổng Công ty 48 2.2.6 Kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tài chính của EVN 49 2.2.6.1 Nội dung của hoạt động kiểm soát nội bộ 49 2.2.6.2 Đặc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ của EVN 50 2.3 Đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính của EVN 50 2.3.1 Kết quả đạt được 50

Trang 7

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 52 2.3.2.1 Đối với cơ chế quản lý doanh thu, chi phí 52 2.3.2.2 Đối với cơ chế huy động vốn 54 2.3.2.3 Đối với cơ chế điều hoà vốn trong nội bộ Tổng Công ty 56 2.3.2.4 Đối với cơ chế kiểm soát nội bộ hoạt động tài chính 56 của Tổng Công ty

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI

CHÍNH CỦA TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC VIỆT NAM THEO MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ

Trang

3.1 Định hướng và quan điểm hoàn thiện cơ chế quản lý tài 59 chính hoạt động theo mô hình tập đoàn đối với Tổng Công ty

Điện lực Việt nam

3.1.1 Định hướng phát triển của Tổng Công ty Điện lực 59 Việt nam theo mô hình tập đoàn

3.1.2 Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn Điện lực Việt nam theo 60

mô hình công ty mẹ - công ty con

3.1.3 Quan điểm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính theo mô 62 hình tập đoàn kinh tế đối với Tổng Công ty Điện lực Việt Nam

3.2 Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với 66 Tổng công ty Điện lực Việt nam theo mô hình tập đoàn

3.2.1 Nhóm giải pháp về cơ chế quản lý doanh thu 66 3.2.1.1 Tách riêng doanh thu của hoạt động công ích ra 66

Trang 8

khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh của EVN

3.2.1.2 Xác định rõ phạm vi quản lý doanh thu của công ty mẹ 67 với các công ty con

3.2.1.3 Kế hoạch hoá giá điện theo thông số đầu vào 68 3.2.2 Nhóm giải pháp về cơ chế quản lý chi phí 69 3.2.2.1 Tiêu chuẩn hoá các định mức chi phí 69 3.2.2.2 Hoàn thiện cơ chế khoán chi phí 70 3.2.3 Hoàn thiện cơ chế huy động vốn 71

3.2.3.2 Đối với cơ chế huy động vốn tín dụng 71 3.2.3.3 Tăng cường huy động vốn cổ phần 72 3.2.4 Hoàn thiện cơ chế điều hoà vốn 73 3.2.5 Hoàn thiện cơ chế kiểm soát nội bộ đối với hoạt động 74 tài chính của EVN

3.2.5.1 Tạo lập môi trường kiểm soát hữu hiệu đối với 75 hoạt động tài chính

3.2.5.2 Hoàn thiện hệ thống quy trình kiểm soát nội bộ 75 3.3 Một số kiến nghị về điều kiện thực hiện giải pháp 76 3.3.1 Cần giảm sự chồng chéo của các quy định của Nhà nước 76 thông qua việc giảm bớt các quy định dưới luật

3.3.2 Phát triển thị trường tài chính 77 3.3.3 Nhà nước cần tạo mọi điều kiện phát triển thị trường Điện 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những chủ trương lớn về kinh tế của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ trương xây dựng các tập đoàn kinh tế mạnh lấy kinh tế nhà nước làm nòng cốt tạo ra sự phát triển kinh tế của đất nước, đưa kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới Việc thành lập các Tổng Công ty Nhà nước (còn gọi là các Tổng Công ty 90, 91) là kết quả của chủ trương đó Với sự ra đời của các Tổng Công ty 90 và 91, nền kinh tế nước ta đã xuất hiện một hình thức tổ chức kinh tế mới, hiện đại với mục tiêu, nhiệm vụ và trách nhiệm mới đối với nền kinh tế đất nước

Trong những năm qua, vấn đề hoàn thiện hoạt động của các Tổng Công

ty 90 và 91 luôn nhận được sự quan tâm lớn nhất của toàn xã hội Nhiều mô hình quản lý đã và đang được thử nghiệm đối với các Tổng Công ty với mục tiêu tìm tòi và hoàn thiện cơ sở lý luận cũng như thực tiễn cho hoạt động có hiệu quả cao nhất của mô hình tập đoàn kinh tế mạnh tại nước ta hiện nay Tuy nhiên, kết quả đến nay vẫn còn khiêm tốn mới chỉ dừng lại ở các đề án thí điểm trong việc xây dựng các tập đoàn kinh tế mạnh của Nhà nước Vì vậy, tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của mô hình Tổng Công ty Nhà nước không những đòi hỏi cấp thiết về lý luận quản lý kinh tế mà còn là nhu cầu cấp thiết của thực tiễn quản

Điện lực Việt Nam - một trong những ngành công nghiệp lớn có vai trò

vô cùng quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội, góp phần không nhỏ trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, đẩy mạnh tiến độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá và đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước Trong nhiều năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các giải pháp điều hành

có hiệu quả của Chính phủ, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) đã và đang từng bước trưởng thành, phát triển vượt bậc cả về số lượng, chất lượng, đáp ứng

Trang 10

về cơ bản nhu cầu điện năng ngày càng tăng, nâng cao hơn nữa đời sống kinh tế

xã hội của đất nước

Căn cứ tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, EVN đã báo cáo Bộ Công nghiệp đề án hình thành Tập đoàn Điện lực Việt Nam Việc thành lập tập đoàn Điện lực Việt Nam trên cơ sở mô hình công ty mẹ - công ty con để phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của các đơn vị thành viên và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia đầu tư xây dựng, quản lý và phát triển điện lực Để chuyển đổi từ mô hình Tổng Công ty sang mô hình tập đoàn, EVN cần có những cơ chế chính sách phù hợp, trong đó cơ chế quản lý tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi vì nó tác động tới toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh

Xuất phát từ lý do trên, đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tổng Công ty Điện lực Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế” được lựa chọn nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu

Cho đến nay, đã có một số đề tài nghiên cứu về các nội dung liên quan đến việc hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các Tổng Công ty 90, 91 Công trình nghiên cứu “Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tổng Công

ty Hoá chất Việt Nam” của tác giả Vũ Đình Hiển đã đưa ra một số giải pháp về vấn đề hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong quá trình chuyển từ mô hình Tổng Công ty Nhà nước sang mô hình tập đoàn kinh tế Ngoài ra, một số tác giả khác cũng đã nghiên cứu về đề tài này: Tác giả Nguyễn Thị Hải Anh với đề tài

“Đổi mới cơ chế quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận theo mô hình tập đoàn đối với Tổng Công ty Bưu chính - Viễn thông Việt nam”; Tác giả Nguyễn Thị Thuý Hồng với đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tổng Công ty Thuốc lá Việt nam”

Tại Tổng Công ty Điện lực Việt Nam cũng đã có một số đề tài nghiên cứu

về lĩnh vực tài chính Tuy nhiên vấn đề hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong quá trình chuyển sang hoạt động theo mô hình tập đoàn chưa được đề cập cụ thể Đây là một nội dung lớn, có tính cấp bách Vì vậy tôi quyết định chọn đề tài này

Trang 11

để nghiên cứu, mong muốn đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tổng Công ty Điện lực Việt Nam trong quá trình chuyển sang hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Qua việc phân tích cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính đối với EVN theo mô hình tập đoàn và đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính của EVN, luận văn đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính theo mô hình tập đoàn đối với EVN

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về cơ chế quản lý tài chính của các tập đoàn kinh

tế, đặc biệt là mô hình công ty mẹ - công ty con, cùng với các yếu tố tác động tới sự vận động của cơ chế quản lý tài chính

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là cơ chế quản lý tài chính của EVN trong quá trình chuyển sang một tập đoàn kinh tế mạnh, chủ yếu trong giai đoạn

2003 – 2005 Luận văn không nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính cho từng đơn

vị thành viên trong tập đoàn

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp thống kê kinh nghiệm, tổng hợp, phân tích và so sánh để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

Luận văn có được một số đóng góp về lý luận cũng như thực tiễn trong lĩnh vực cơ chế quản lý nói chung và cơ chế quản lý tài chính nói riêng của hình thức tập đoàn kinh tế, cụ thể là:

- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính đối với Tổng Công

ty Nhà nước theo mô hình tập đoàn

- Phân tích rõ thực trạng cơ chế quản lý tài chính của EVN, chỉ ra những tồn tại của cơ chế quản lý tài chính ở EVN

Trang 12

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính theo mô hình tập đoàn đối với EVN

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cơ chế quản lý tài chính của Tổng

Công ty Nhà nước theo mô hình tập đoàn

Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại Tổng Công ty Điện lực

Việt Nam trong thời gian qua

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tổng Công

ty Điện lực Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC THEO MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN

1.1 Tổng quan về tập đoàn kinh tế

1.1.2 Sự hình thành

Quá trình ra đời và phát triển của các tập đoàn trên thế giới gắn liền với lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản Quá trình hình thành của các tập đoàn kinh tế là sự phát triển khách quan, đáp ứng đòi hỏi tích tụ và tập trung tư bản

Sự phát triển của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy sự thay đổi trong hình thức tổ chức kinh doanh và làm xuất hiện các kiểu liên kết tập đoàn

Từ khoảng thế kỷ 18, dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu, các công ty cần tăng thêm nhiều vốn để mở rộng kinh doanh, đặc biệt

là mở rộng ra thị trường quốc tế Tuy nhiên, quá trình tích tụ và tập trung tư bản tạo thành những tổ hợp lớn diễn ra mạnh mẽ nhất từ những năm cuối thế kỷ 19

và đầu thế kỷ 20 Một số công ty đa quốc gia hiện nay vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển Hàng loạt các công ty lớn được hình thành trên cơ sở sáp nhập hoặc thôn tính lẫn nhau để trở thành những tập đoàn lớn mạnh

Các tập đoàn kinh tế được hình thành theo các phương thức sau:

- Hình thành tập đoàn kinh tế do mở rộng quy mô sản xuất và chia nhỏ công ty:

Phương thức hình thành tập đoàn này dựa trên sự mở rộng quy mô của công ty tiến tới tách ra thành một số công ty hoạt động trên một số lĩnh vực nhất định Giữa các công ty mới được thành lập và công ty ban đầu (công ty mẹ) tồn tại các mối liên kết kinh tế - tài chính chặt chẽ Nhiều tập đoàn của Nhật Bản được hình thành theo phương thức này

- Hình thành tập đoàn do sự liên kết sáp nhập tự nhiên

Trang 14

Đây là con đường hình thành các tập đoàn kinh tế đầu tiên trong lịch sử Một số công ty có những mối liên hệ nhất định về thị trường, sản phẩm, nguyên liệu hoặc công nghệ tự nguyện liên minh lại theo kiểu Cartel hay Trust Trong quá trình phát triển, nhiều tổ chức Cartel, Trust đã tan vỡ nhưng cũng nhiều tổ chức đã được cơ cấu lại và phát triển Với sự tham gia hoặc sáp nhập tự nguyện, trong những năm thế kỷ 18 – 19 đã hình thành nên các tập đoàn kinh tế

Quá trình tập trung sản xuất, tập trung vốn đã góp phần đẩy nhanh quá trình thành lập các tập đoàn kinh tế Quá trình này diễn ra theo những phương thức khác nhau: hoặc bằng con đường thôn tính theo kiểu cá lớn nuốt cá bé thông qua việc mua lại các công ty nhỏ yếu hơn, biến chúng thành một bộ phận không thể tách rời của công ty mẹ; hoặc bằng con đường tự nguyện sáp nhập với nhau thành một công ty lớn hơn, chống lại nguy cơ bị thôn tính, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Ở các nước công nghiệp hoá đi sau, các tập đoàn kinh tế được hình thành và phát triển chủ yếu bằng tích tụ và liên doanh nhằm tăng nhanh vốn, khả năng sản xuất và khả năng chuyển giao công nghệ nước ngoài, khả năng cạnh tranh nhằm chống lại nguy cơ bị các công ty nước ngoài thôn tính Điển hình như ở Hàn Quốc, Thái Lan, các tập đoàn kinh tế tự lớn lên nhờ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tốt

1.1.2 Mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế

1.1.2.1 Đặc trưng về cơ cấu tổ chức

Tập đoàn kinh tế là một liên kết của nhiều pháp nhân có tổ chức phức tạp,

có nhiều hình thức đa dạng, tuỳ thuộc vào thời kỳ phát triển, đặc điểm kinh tế xã hội và đặc trưng của từng tập đoàn

Sự liên kết của các thành viên trong tập đoàn có những đặc điểm sau:

- Các thành viên trong tập đoàn là các công ty hoạt động trong cùng một ngành liên kết với nhau trong một liên kết ngang Sự liên kết này thường dẫn tới

hệ quả là một tập đoàn có thể nắm giữ một tỷ trọng thị phần lớn về thị trường của ngành mà nó hoạt động, dễ dàng khống chế, điều tiết các xu hướng phát triển của ngành đó và cũng dễ dẫn tới sự độc quyền

Trang 15

- Các thành viên trong tập đoàn là các công ty, tổ chức hoạt động trong các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất sản phẩm Các thành viên vừa là người cung cấp vừa là người tiêu thụ sản phẩm của các thành viên khác trong tập đoàn Ví dụ về hình thức liên kết này là một công ty sản xuất/lắp ráp máy tính hợp nhất với một công ty sản xuất chíp máy tính (một bộ phận cần thiết của

bộ xử lý máy tính)

- Các thành viên trong tập đoàn hoạt động trong các lĩnh vực/ngành không

có mối quan hệ với nhau về công nghệ, thị trường Sự liên kết đa ngành mang lại cho các tập đoàn một số thuận lợi sau:

 Lợi ích kinh tế về quy mô (economies of scale) Tuy các hoạt động kinh doanh của các thành viên không có mối quan hệ với nhau nhưng nó vẫn mang lại những lợi ích nhất định chẳng hạn như: các thành viên của tập đoàn có thể sử dụng kinh nghiệm quản lý của các thành viên khác trong một số lĩnh vực như kỹ thuật, marketing hoặc các thành viên có thể chia sẻ, sử dụng cơ sở, tài sản của các thành viên khác trong tập đoàn mà không làm phát sinh chi phí của tập đoàn nói chung Quy mô lớn của tập đoàn cũng tạo lợi thế trong kinh doanh chẳng hạn làm tăng quyền lực của tập đoàn trong mối quan hệ với người cung cấp

 Lợi thế thứ hai là đa dạng hoá hoạt động Bằng việc kết hợp các doanh nghiệp trong nhiều ngành khác nhau giúp cho tập đoàn đa dạng hoá được hoạt động của mình đảm bảo tránh rủi ro, đặc biệt trong điều kiện các ngành kinh doanh đều phát triển theo chu kỳ Khi một hoạt động của một ngành này giảm sút thì hoạt động ở các ngành khác sẽ làm giảm nhẹ ảnh hưởng giảm sút đó

 Sự liên kết đa ngành thường tạo ra các tập đoàn lớn nên làm giảm mối đe doạ bị thôn tính bởi các tập đoàn khác

 Ngoài ra sự hợp nhất đa ngành còn mang lại cho các tập đoàn những thuận lợi khác chẳng hạn sự liên kết đa ngành giúp các tập đoàn phát triển mà vẫn tránh được sự vi phạm về độc quyền do không khống chế thị phần tối đa của một ngành nghề cụ thể nào Đồng thời nó cũng mang lại khả năng tài chính to lớn giúp các tập đoàn có khả năng mua với giá rẻ các công ty đang gặp khó khăn

Trang 16

để sau đó bán đi thu lợi khi giá cổ phiếu của các công ty đó tăng lại trên thị trường Sự hợp nhất đa ngành cũng làm tăng ảnh hưởng về mặt kinh tế chính trị của tập đoàn trên thương trường

Cho dù hình thức tổ chức tập đoàn rất đa dạng, nhưng chúng thường có các đặc điểm chung như sau:

 Cơ cấu tổ chức nhiều tầng

 Các thành viên có các mối liên kết nhất định với nhau

 Thường có một hạt nhân đóng vai trò chủ đạo

 Thường các thành viên là những pháp nhân độc lập và vì vậy tập đoàn là một liên hợp pháp nhân

Về mối quan hệ giữa các thành viên trong tập đoàn Thành viên trong tập đoàn là các công ty (thường gọi là công ty con) mà phần lớn hoặc toàn bộ cổ phiếu (sở hữu) của công ty do công ty khác nắm giữ (công ty mẹ)

Công ty mẹ là công ty sở hữu đa số hoặc toàn bộ cổ phiếu của công ty khác và tham gia tích cực vào hoạt động quản lý của công ty con Các công ty

mẹ không chỉ nắm giữ và quản lý các công ty khác mà nó còn có thể có hoạt động riêng của mình Đôi khi cũng có những công ty mẹ chỉ tồn tại với mục đích duy nhất là đầu tư vào các công ty con và mục tiêu của công ty mẹ loại này là đầu tư chứ không có hoạt động riêng của mình

1.1.2.2 Hình thức tổ chức của tập đoàn kinh tế

Trên thực tế có nhiều cách thức phân loại các tập đoàn kinh tế khác nhau

a Căn cứ vào hình thức biểu hiện và tên gọi trong thực tế

Theo cách phân loại này, các tập đoàn kinh tế có các hình thức chủ yếu như: Cartel, Syndicate, Trust, Consortium, Concern, Conglomerate, công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia,v.v…

- Cartel là loại hình tập đoàn kinh tế được hình thành bởi sự liên kết của các công ty hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh trên

cơ sở là các thoả thuận kinh tế như: thống nhất về giá cả, sản lượng, tiêu chuẩn

Trang 17

sản phẩm; phân chia thị trường đầu vào, thị trường tiêu thụ sản phẩm… nhằm mục tiêu hạn chế sự cạnh tranh Trong Cartel, các công ty vẫn giữ nguyên tính độc lập về mặt pháp lý còn tính độc lập về kinh tế bị hạn chế bởi các hợp đồng kinh tế

Hình thức Cartel thường dẫn đến độc quyền, hạn chế cạnh tranh, đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường Mặt khác, trong điều kiện kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các công ty trở nên khốc liệt, với mô hình Cartel chỉ hoạt động trong cùng một ngành, một lĩnh vực sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, do vậy, ngày nay ít tồn tại hình thức tập đoàn này

- Syndicate là một dạng đặc biệt của Cartel Theo đó, trong tập đoàn dạng Syndicate có một văn phòng thương mại chung được thành lập do một ban quản trị chung điều hành và tất cả các công ty thành viên đều phải tiêu thụ hàng hoá của chúng qua kênh của văn phòng tiêu thụ này Với mô hình này, các công ty vẫn giữ nguyên tính độc lập về sản xuất nhưng mất tính độc lập về thương mại

- Trust là tập đoàn kinh tế, được hình thành bởi sự liên minh độc quyền của các tổ chức sản xuất kinh doanh là các doanh nghiệp công nghiệp So với tập đoàn kinh tế theo hình thức Syndicate, các công ty thành viên của Trust có sự liên kết chặt chẽ hơn, như các nhà tư bản tham gia Trust thành cổ đông Hoạt động của Trust do một ban quản trị thống nhất điều hành, các công ty tham gia Trust bị mất quyền độc lập về sản xuất và thương mại Việc thành lập Trust nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao, chiếm nguồn nguyên liệu và khu vực đầu tư

- Consortium là một tổ hợp gồm nhiều tổ chức độc quyền ngân hàng liên kết lại với nhau Đứng đầu Consortium thường là một ngân hàng loại lớn có vai trò điều hành toàn bộ hoạt động của tổ chức này

- Concern là hình thức tổ chức tập đoàn kinh tế phổ biến nhất hiện nay Bản thân Concern không có tư cách pháp nhân Các doanh nghiệp thành viên trong Concern vẫn giữ nguyên tính độc lập về mặt pháp lý Cơ sở của các liên kết giữa các thành viên trong Concern là các thoả thuận về lợi ích chung (bằng phát minh sáng chế, nghiên cứu khoa học, công nghệ, đào tạo, hợp tác sản xuất kinh doanh) và có hệ thống tài chính chung

Trang 18

Trong Concern người ta thành lập Holding company giữ vai trò “công ty mẹ”, công ty này thực chất là một công ty cổ phần nắm giữ phần vốn góp của các công ty thành viên

Những lợi ích do mô hình Concern đem lại là:

+ Nhanh chóng tập trung được nguồn lực tài chính lớn, mà từng công ty thành viên không thể có được bằng phương thức tích tụ vốn, đồng thời mô hình này nhanh chóng tạo dựng được thế lực tạo thuận lợi cho hoạt động của cả tập đoàn

+ Hỗ trợ mạnh mẽ trong việc nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và phương thức quản lý hiện đại

+ Tạo điều kiện cho tập đoàn đầu tư vào nhiều lĩnh vực nhằm phân tán rủi

ro

Với mô hình có nhiều ưu điểm của Concern, bằng sức mạnh kinh tế của mình, các Concern có khả năng gây ảnh hưởng to lớn, kiểm soát nhiều lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế

- Conglomerate là loại hình tập đoàn kinh tế được hình thành bằng cách thu hút vốn cổ phần của những công ty có lợi nhuận cao nhất thông qua hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường Cơ cấu sản xuất kinh doanh của Conglomerate có xu hướng dịch chuyển đến những ngành nghề có tỷ suất lợi nhuận cao Bởi vậy, Conglomerate là tập đoàn kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực; các công ty thành viên thường không có mối quan hệ về công nghệ, mà mối quan hệ giữa chúng chủ yếu về hành chính và tài chính

Đặc điểm cơ bản của hình thức tập đoàn kinh tế này là thu hút vốn từ thị trường vốn thông qua phát hành tín phiếu, trái phiếu và thực hiện các hoạt động đầu tư thông qua mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Do vậy, đây là một mô hình tổ chức kinh tế rất năng động Hoạt động của nó thường gắn bó chặt chẽ với các ngân hàng và tổ chức tài chính

- Công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation – TNC) là công ty

tư bản độc quyền, có hoạt động sản xuất kinh doanh trên quy mô rất lớn, vượt ra

Trang 19

khỏi biên giới quốc gia thông qua việc thiết lập các chi nhánh (công ty con) ở nước ngoài Các công ty con có thể là công ty 100% vốn của công ty mẹ hoặc có

tỷ lệ vốn góp của công ty mẹ ít hơn (trong trường hợp liên doanh với nước sở tại)

- Công ty đa quốc gia (Multinational Corporation – MNC) về bản chất cũng là công ty tư bản độc quyền, thực hiện cắm các chi nhánh ở nước ngoài để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh quốc tế, nhưng có đặc điểm khác biệt với công ty xuyên quốc gia là tư bản thuộc sở hữu của công ty mẹ là của hai hoặc nhiều nước

b Căn cứ vào phương thức hình thành

Căn cứ vào phương thức hình thành, các tập đoàn kinh tế có 3 hình thức

cơ bản là: liên kết ngang, liên kết dọc và liên kết hỗn hợp

- Hình thức liên kết ngang: các công ty trong cùng ngành liên kết với nhau theo những mục tiêu đã định trước để hình thành các tập đoàn kinh tế (ví dụ: Cartel, Syndicate, Trust) Các mục tiêu có thể là tập trung vốn, công nghệ, thị trường, …

Thông thường, quá trình liên kết để hình thành nên tập đoàn kinh tế diễn

ra trên cơ sở các công ty thành viên tự nguyện liên kết xoay quanh một công ty

mẹ (là công ty có quy mô lớn về tài chính, công nghệ, v.v…)

Với mô hình liên kết ngang, tập đoàn kinh tế có nhiều ưu điểm Một là,

nhanh chóng tập trung được sức mạnh về vốn, công nghệ, thị trường, v.v… Với

ưu thế đó, công ty mẹ có khả năng bành trướng hoạt động trên phạm vi trong

nước và quốc tế Hai là, các công ty thành viên cũng có điều kiện thuận lợi hơn

để phát triển thông qua sự bảo hộ của công ty mẹ

Tuy nhiên, mô hình liên kết ngang cũng có hạn chế Đó là, do yêu cầu rất

đa dạng về hàng hoá trong cơ chế thị trường nên việc đầu tư vào cùng một ngành

sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, điều này không hấp dẫn nhiều nhà đầu tư Mặt khác, việc liên kết giữa các công ty trong cùng một ngành thường dẫn đến độc quyền, trái với quy luật cạnh tranh của cơ chế thị trường Do vậy, mô hình tập đoàn liên kết ngang không còn là mô hình phổ biến hiện nay

Trang 20

- Hình thức liên kết dọc: các công ty cấu trúc theo chiều dọc, đó là sự phát triển quy mô hoạt động theo các giai đoạn tiếp nối của hoạt động sản xuất kinh doanh trong tất cả các công đoạn (từ cung ứng các yếu tố đầu vào - sản xuất – tiêu thụ sản phẩm) Trên thế giới có rất nhiều tập đoàn kinh tế theo hình thức này như Concern, Conglomerate, v.v… Với hình thức liên kết dọc, các công ty thành viên gia nhập tập đoàn theo hình thức tự nguyện hoặc bắt buộc liên kết với nhau

Đó là các công ty con có mối liên hệ theo quy trình công nghệ với công ty mẹ, hoặc bản thân công ty khi phát triển quy mô thành lập các công ty mới để thực hiện các hoạt động bổ sung, phụ trợ cho hoạt động hiện có của công ty

Tập đoàn kinh tế theo mô hình liên kết dọc có nhiều ưu thế, do nắm được

cả khâu cung ứng đầu vào, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nên dành được thế chủ động, ít bị phụ thuộc vào các nhà cung cấp và khách hàng; tạo điều kiện kiểm soát được chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới, bảo hộ bằng phát minh sáng chế, bảo hộ sản phẩm mới tránh bị cạnh tranh, tăng cường khả năng kiểm soát chi phí Tuy nhiên, sự tập trung dọc đòi hỏi phải

tổ chức lại các doanh nghiệp, xác định lại các mục tiêu và cần có một công ty

mẹ có tiềm lực kinh tế mạnh cùng với công nghệ quản lý tiến bộ, đủ khả năng điều hành hoạt động của cả tập đoàn

c Căn cứ vào hình thức sở hữu

Căn cứ vào hình thức sở hữu, các tập đoàn kinh tế được phân thành hai loại:

Một là, các tập đoàn kinh tế đơn sở hữu Đây là dạng tập đoàn kinh tế có

nguồn gốc phát triển từ các công ty có sở hữu cá nhân hay gia đình, các công ty

Trang 21

thuộc sở hữu nhà nước Ví dụ: tập đoàn BP của Anh, tập đoàn Petronas của Malaysia, v.v…

Hai là, các tập đoàn kinh tế đa sở hữu Trong quá trình phát triển với xu

hướng tích tụ và tập trung vốn giữa các công ty đơn lẻ, các tập đoàn kinh tế hầu như có hình thức đa sở hữu dưới dạng công ty cổ phần Đây là hình thức công ty được ưa chuộng vì nó thường đem lại hiệu quả kinh tế cao hiện nay Với mô hình tập đoàn đa sở hữu, tập đoàn có ưu điểm mang tính xã hội hoá cao, thuận lợi để huy động được nhiều vốn trong xã hội, dễ dàng mở rộng phạm vi hoạt động, đa dạng hoá nguồn lợi nhuận và phân tán rủi ro trong kinh doanh

d Căn cứ vào bản chất liên kết

Thứ nhất, tập đoàn kinh tế được hình thành theo nguyên tắc “liên kết kinh

tế”, có tác giả gọi là tập đoàn “liên kết mềm” Theo đó, các công ty thành viên

ký kết hiệp định thoả thuận với nhau về các nguyên tắc chung trong hoạt động sản xuất kinh doanh như xác định quy mô sản xuất, số lượng và giá cả sản phẩm, phân chia thị trường, hợp tác nghiên cứu khoa học, trao đổi bằng phát minh sáng chế, v.v… Theo hình thức này, các tập đoàn kinh tế thường có một ban quản trị điều hành hoạt động theo một chiến lược chung, nhưng từng công ty thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập về sản xuất, tài chính và thương mại

Thứ hai, tập đoàn kinh tế được hình thành trên cơ sở các công ty thành

viên “liên kết chặt chẽ về vốn”, có tác giả gọi là tập đoàn ‘liên kết cứng” Theo hình thức này, có các mô hình phổ biến sau:

- Mô hình 1: Cấu trúc đơn giản

Tập đoàn có mô hình cấu trúc đơn giản bao gồm công ty mẹ (M1) nắm giữ cổ phần của các công ty con ở tầng thứ hai (C21, C22, C23, …); sau đó các công ty con ở tầng thứ hai lại nắm giữ cổ phần của các công ty con ở tầng thứ ba (C321, C322, C323, v.v…) Theo mô hình này, chỉ có các công ty cấp trên trực tiếp chi phối về tài chính thông qua nắm giữ cổ phiếu của các công ty dưới trực tiếp

- Mô hình 2: Công ty mẹ trực tiếp nắm giữ cổ phiếu của công ty con không thuộc cấp dưới trực tiếp

Trang 22

Một số tập đoàn kinh tế do muốn kiểm soát một số lĩnh vực quan trọng nào đó nên đã trực tiếp đầu tư và nắm giữ cổ phiếu của công ty con không thuộc cấp dưới trực tiếp (tập đoàn Petronas của Malaysia có cấu trúc tương tự mô hình này)

- Mô hình 3: Giữa các công ty đồng cấp đầu tư nắm giữ cổ phiếu của nhau Tập đoàn kinh tế theo mô hình này có điểm khác biệt so với mô hình 1 Các công ty đồng cấp có sự đầu tư nắm giữ cổ phần của nhau (giả định công ty C21 đầu tư, nắm giữ cổ phiếu của công ty C22) Mô hình này có ưu điểm là dễ dàng thành lập được một công ty mới trong tập đoàn, tăng cường được mối liên két giữa các công ty thành viên trong tập đoàn và hạn chế được sự thôn tính của các tập đoàn khác Hiện nay, mô hình này đang được áp dụng phổ biến ở các nước như Nhật Bản (Mitsubishi, Sumitomo), Hàn Quốc (Sam sung, Hyundai, LG), Mỹ (General Electric, General Motors)

- Mô hình 4: Công ty mẹ là công ty con của một số công ty khác

Theo mô hình này, công ty mẹ của tập đoàn kinh tế về bản chất là một công ty cổ phần của nhiều công ty khác, đến lượt mình công ty mẹ lại kiểm soát các công ty con thông qua việc nắm giữ cổ phần (thường là cổ phần chi phối) của các công ty đó (tương tự như các mô hình 1, 2, 3) Tập đoàn theo mô hình này với công ty mẹ là công ty cổ phần nên có ưu điểm là có điều kiện thuận lợi

để tập trung được vốn, công nghệ quản lý kinh doanh từ các công ty chi phối nó

- Mô hình 5: Tập đoàn kinh tế có hình thức hỗn hợp

Đây là hình thức có tổ chức kết hợp đa dạng từ bốn hình thức trên, có các mối quan hệ về tài chính phức tạp nhất, là kết quả của sự phát triển cao độ của các tập đoàn kinh tế dưới sự ảnh hưởng của thị trường chứng khoán và cạnh tranh toàn cầu, buộc các tập đoàn kinh tế lớn phải xây dựng hệ thống tài chính mạnh với sự gắn kết chặt chẽ trong nội bộ tập đoàn

Mặc dù, với hình thức tổ chức và bản chất liên kết của các tập đoàn kinh

tế theo mô hình thứ 2 rất đa dạng nhưng về mô hình tổ chức chúng đều dựa vào mối quan hệ cốt lõi là mối quan hệ công ty mẹ - công ty con

Trang 23

1.1.2.3 Đặc điểm về hoạt động của tập đoàn

Xuất phát từ đặc điểm tổ chức, các tập đoàn kinh tế thường có hoạt động

đa dạng mặc dù có nhiều tập đoàn chỉ giới hạn trong một số ngành thì hoạt động của nó cũng bao trùm tất cả các lĩnh vực trong ngành đó Chẳng hạn tập đoàn IBM có hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất máy vi tính nhưng nó cung cấp hầu hết các sản phẩm, dịch vụ trong ngành công nghệ thông tin, từ thị trường máy tính cá nhân, máy chủ cho tới các giải pháp đồng bộ cho quản lý và các dịch

Mỹ, thường thì người ta hay nói tới GE với các sản phẩm về đồ điện hay động

cơ máy bay, nhưng ngoài ra GE còn là chủ sở hữu của hãng truyền thông nổi tiếng của Mỹ là NBC, một hoạt động mà dường như không hề có mối liên quan nào về mặt kinh doanh với đồ điện hay động cơ máy bay Hay như tập đoàn DEAWOO của Hàn Quốc không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực hàng điện tử, hay ôtô, đóng tầu, mà DEAWOO còn có nhiều hoạt động trong lĩnh vực xây dựng

Bên cạnh tính chất hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, các tập đoàn kinh tế ngày nay thường có hoạt động mang tính chất toàn cầu, các công ty đã thực sự trở thành công ty đa quốc gia, thị trường không còn bó hẹp trong một quốc gia hay một châu lục mà thực sự là thị trường toàn cầu Sự phát triển có tính chất toàn cầu bên cạnh các yếu tố tích cực như mở rộng thị trường, giảm rủi ro hoạt động, cơ hội lợi nhuận còn đặt ra những thách thức lớn trong quản lý hoạt động kinh doanh của các tập đoàn như các vấn đề về văn hoá, phong tục tập quán, điều kiện kinh tế xã hội, luật pháp

1.1.3 Vai trò của tập đoàn kinh tế

Trang 24

Các tập đoàn kinh tế đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước cũng như nền kinh tế toàn cầu

Làm tăng sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của cả tập đoàn cũng như từng đơn vị thành viên trong tập đoàn

Tập đoàn kinh tế cho phép các nhà kinh doanh huy động được nguồn lực

về vật chất, con người và nguồn vốn to lớn trong xã hội vào quá trình sản xuất kinh doanh hình thành những công ty hiện đại, có quy mô và tiềm lực kinh tế lớn Việc hình thành tập đoàn kinh tế cho phép hạn chế tới mức tối đa sự cạnh tranh giữa các công ty thành viên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thống nhất phương hướng và chiến lược phát triển kinh doanh của cả tập đoàn Đồng thời, nâng cao khả năng cạnh tranh để chống lại sự cạnh tranh của các tập đoàn khác, đặc biệt là các tập đoàn tư bản nước ngoài

Đối với các nước công nghiệp phát triển, tập đoàn kinh tế có ý nghĩa hết sức to lớn Việc hình thành các tập đoàn kinh doanh là giải pháp chiến lược để bảo vệ sản xuất trong nước, chống lại sự thâm nhập của các công ty lớn trên thế giới Nhiều tập đoàn đã không ngừng mở rộng thị trường, có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới

Tập đoàn kinh tế có khả năng tập trung, điều hoà vốn:

Thành lập các tập đoàn kinh tế là một đòi hỏi thực tế và khách quan nhằm khắc phục những hạn chế về vốn của từng công ty riêng biệt Nguồn vốn của tập đoàn kinh tế được huy động từ các công ty thành viên và theo các hình thức khác được pháp luật cho phép và được tập trung đầu tư vào những lĩnh vực, những dự

án có hiệu quả nhất, khắc phục tình trạng vốn bị phân tán trong những công ty nhỏ Nguồn vốn tập trung của Tập đoàn được sử dụng bởi các Holding Company Thực chất các Holding Company không phải là ngân hàng vì nó không nhận tiền gửi của các tầng lớp dân cư Holding Company huy động vốn từ các công ty thành viên và điều hoà vốn đầu tư vào những lĩnh vực cần phát triển, các công

ty thành viên sẽ được trả lãi theo cổ phần mà nó đóng góp Holding Company cũng có thể huy động vốn từ các công ty thành viên theo hình thức vay với lãi suất thoả thuận

Trang 25

Như vậy, nhờ việc thành lập các tập đoàn kinh tế mà:

- Vốn của các công ty thành viên được sử dụng vào những lĩnh vực hiệu quả nhất, những dự án tốt nhất, tạo ra sức mạnh quyết định cho sự phát triển của tập đoàn

- Do có việc huy động vốn giữa các công ty với nhau, vốn của công ty này được huy động vào công ty khác và ngược lại đã giúp cho các công ty liên kết với nhau chặt chẽ hơn, quan tâm tới hiệu quả nhiều hơn từ đó mà phát huy được hiệu quả nguồn vốn của từng công ty và cả tập đoàn

Thành lập tập đoàn là giải pháp hữu hiệu cho việc đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh của các công ty thành viên vì:

- Hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ mới đòi hỏi một lượng vốn rất lớn mà mỗi công ty riêng rẽ với khả năng vốn hạn chế không có khả năng huy động được Tập trung điều hoà vốn sẽ có tác dụng tích cực trong việc tạo điều kiện cho triển khai, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất

- Các đề tài nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ lớn đòi hỏi phải có

sự hợp tác của đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học và các phòng thí nghiệm, các thiết bị nghiên cứu khác Chỉ có trên cơ sở liên kết các công ty mới tạo được tiềm năng nghiên cứu khoa học to lớn đó

- Tập đoàn kinh tế có tác dụng to lớn trong việc cung cấp, trao đổi thông tin và những kinh nghiệm quan trọng trong việc tổ chức nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ giữa các công ty thành viên

- Sự hợp tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong tập đoàn cho phép các công ty thành viên có khả năng đưa nhanh các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn trên quy mô rộng lớn, nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu ứng dụng và thu hồi vốn nhanh, giảm được tác động xấu do hao mòn vô hình gây ra

Tập đoàn kinh tế với hình thức là các công ty đa quốc gia có ý nghĩa rất lớn, được coi như là một giải pháp quan trọng giúp các nước công nghiệp hoá

Trang 26

đi sau thực hiện chiến lược chuyển giao công nghệ từ nước ngoài một cách hiệu qủa nhất, tránh việc nhập cùng một loại công nghệ trùng lắp trong nhiều công ty

thành viên Nhờ đó mà cơ cấu công nghệ nhập trong tập đoàn đa dạng hơn, hợp

lý hơn, có hiệu quả hơn và khắc phục được tình trạng công nghệ nhập bị nước ngoài áp đặt giá cao

Các thông tin và kinh nghiệm trong chuyển giao công nghệ từ các công ty thành viên được phổ biến rộng rãi trong tập đoàn, do đó tránh được những sai lầm do thiếu những hiểu biết cơ bản trong chuyển giao công nghệ nước ngoài

Sự phối hợp thống nhất giữa các công ty thành viên trong thực hiện chiến lược công nghệ chung thông qua sự chỉ đạo của một trung tâm thống nhất, tạo điều kiện cho việc lựa chọn khâu quan trọng có ý nghĩa đột phá trong chuyển giao công nghệ với chi phí thấp nhất, giảm lãng phí về vốn, tập trung được nguồn lực vào thực hiện những mục tiêu chiến lược có lợi cho tất cả các công ty thành viên và cả tập đoàn

1.2 Tổng Công ty Nhà nước theo mô hình tập đoàn kinh tế

1.2.1 Cơ sở hình thành và vai trò của Tổng Công ty Nhà nước

Quá trình hình thành và phát triển của các Tổng Công ty lớn tại Việt Nam được thể hiện rõ nét qua quyết định 90 và 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và “thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế”

Đặc điểm của các Tổng Công ty được thành lập trong giai đoạn này là đều

có hình thức tổ chức bao gồm các đơn vị thành viên với sự quản lý, kiểm soát thống nhất của một hội đồng quản trị Điều 6 của Điều lệ Liên hiệp xí nghiệp quốc doanh chỉ rõ: “Hội đồng quản trị của Liên hiệp là cơ quan có quyền hạn cao nhất của Liên hiệp, gồm giám đốc các xí nghiệp thành viên”

Tuy nhiên, các Liên hiệp xí nghiệp và các Tổng Công ty được thành lập trong thời kỳ này vẫn thiên về lối sắp xếp hành chính, nặng về quy mô, hình thức, thêm khâu, cấp trung gian, không tính toán đầy đủ hiệu quả kinh tế; các quan hệ liên doanh, liên kết thường chủ yếu trong lưu thông hàng hoá, dẫn đến

Trang 27

tình trạng mua đi bán lại vòng vèo để thu chênh lệch giá, chiếm dụng vốn lẫn nhau và vốn ngân sách Nhà nước

Khác với sự phát triển của các tập đoàn kinh tế trên thế giới xuất phát từ nguyên nhân cạnh tranh tự do và độc quyền thì sự hình thành của các Tổng Công

ty lớn của Việt Nam thể hiện sự ưu việt của chế độ là “ phải đảm bảo hạn chế độc quyền và cạnh tranh bừa bãi”

Quá trình hình thành các tập đoàn kinh tế lớn tại Việt Nam vẫn đang tiếp tục được nhà nước khuyến khích thông qua việc hoàn thiện dần mô hình Tổng Công ty Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng VIII tại Đại hội Đảng lần thứ IX một lần nữa khẳng định sự cần thiết của sự phát triển các tập đoàn kinh tế mạnh dựa trên nòng cốt kinh tế Nhà nước

Phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những ngành sản xuất và dịch vụ quan trọng; xây dựng các Tổng Công ty Nhà nước đủ mạnh để làm nòng cốt trong những tập đoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế như dầu khí, điện, than, hàng không, đường sắt, viễn thông, cơ khí, luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng, xuất nhập khẩu, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán (Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010)

Và trong đó, phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

5 năm 2001 – 2005 trong giai đoạn trước mắt đề rõ: Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả các Tổng Công ty theo mô hình công ty mẹ - công ty con, kinh doanh

đa ngành tổng hợp trên cơ sở ngành chuyên môn hoá, gọi vốn thuộc nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia kinh doanh, làm nòng cốt để hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh ở một số ngành và lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân như viễn thông, điện lực, hàng không, dầu khí

1.2.2 Một số khác biệt của mô hình Tập đoàn kinh tế và mô hình Tổng Công ty 91

Về tư cách pháp nhân:

Tổng Công ty theo mô hình tập đoàn kinh tế là pháp nhân kinh tế do Nhà nước thành lập gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về tài chính, các dịch vụ liên quan và có quy mô tương đối lớn Còn tập đoàn kinh tế

Trang 28

có thể được định nghĩa như tổ hợp (hay tập hợp) các tổ chức sản xuất kinh doanh, sản xuất và cung ứng một hay nhiều loại sản phẩm ở trong và ngoài nước nhưng được đặt dưới sự chỉ đạo và kiểm soát của một trung tâm là công ty mẹ Về mặt pháp lý, các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc tập đoàn có thể là chi nhánh thuộc

sở hữu hoàn toàn của công ty mẹ, hoặc công ty có tư cách pháp nhân, nhưng công ty mẹ phải nắm giữ cổ phần và có khả năng khống chế

Về sở hữu:

Tổng Công ty là tập hợp các doanh nghiệp đều thuộc sở hữu Nhà nước Bởi vậy, Nhà nước (người chủ sở hữu) có toàn quyền với việc thành lập, quản lý Tổng Công ty, bao gồm cả vấn đề nhân sự của bộ máy quản lý Còn tập đoàn kinh tế thông thường có sở hữu đa dạng, đó là sự tập hợp các chủ sở hữu khác nhau có chung mục tiêu kinh doanh (tối đa hoá lợi nhuận) nhưng cơ cấu quản lý tập đoàn lại không phải là lĩnh vực do Nhà nước quyết định

Đây chính là điểm khác nhau cơ bản giữa Tổng Công ty Nhà nước và tập đoàn kinh tế Có thể khẳng định tính quá độ của Tổng Công ty trong bước chuyển tới thành các tổ chức kinh tế mạnh (theo ý tưởng chủ quan) Từ sự hoạt động có hiệu quả của các Tổng Công ty sẽ tạo nên lực hấp dẫn các tổ chức kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia, sự đa sở hữu sẽ được thiết lập nhưng phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển của Tổng Công ty

Về lĩnh vực hoạt động:

Tổng Công ty “có thể hoạt động kinh doanh đa ngành, song nhất thiết phải

có định hướng chủ đạo” (quyết định 91/TTg) Còn các Tập đoàn kinh tế có nhiều loại Có thể chia thành 2 loại: tập hợp các doanh nghiệp liên kết theo chiều dọc

và tập hợp các doanh nghiệp kinh doanh trên nhiều lĩnh vực Đặc trưng đậm nét nhất của tác động kinh doanh ở giai đoạn trưởng thành là sự đa dạng của lĩnh vực kinh doanh Bởi vậy, có thể coi tính đơn ngành của các Tổng Công ty ở nước

ta hiện nay là sự khởi đầu của Tập đoàn kinh tế

Về cơ cấu tổ chức quản lý:

Trang 29

Tổng Công ty và Tập đoàn kinh tế có những nét tương đồng về cơ cấu tổ chức quản lý: Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ban kiểm soát Nhưng sự khác biệt trong cơ cấu tổ chức, quản lý, các mối quan hệ quản lý là không tránh khỏi

1.2.3 Sự cần thiết chuyển đổi các Tổng Công ty Nhà nước ở Việt nam sang hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế

Các Tổng Công ty trên thực tế vẫn là các doanh nghiệp Nhà nước thuần tuý Mối liên hệ chủ yếu giữa Tổng Công ty với các cơ quan chủ quản và giữa Tổng Công ty với các đơn vị thành viên tuy có một số cải thiện nhất định, song

cơ bản vẫn là mối quan hệ thiên về quản lý hành chính Chính vì vậy, tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, hình thức liên kết của doanh nghiệp Nhà nước nói chung, Tổng Công ty Nhà nước nói riêng vẫn đang là một yêu cầu đặt ra trong quá trình đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nhấn mạnh phải tiếp tục thực hiện đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý đối với các doanh nghiệp Nhà nước theo hướng chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Nghị

quyết Trung ương lần thứ 9 khoá IX đã khẳng định lại chủ trương này: “Đổi mới

và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Tổng Công ty Nhà nước Tổng kết thí điểm việc chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - công ty con; tích cực chuẩn bị để hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh do Tổng Công ty Nhà nước làm nòng cốt”

Việc chuyển đổi tổ chức lại Tổng Công ty Nhà nước sang hoạt động theo

mô hình công ty mẹ - công ty con nhằm chuyển từ liên kết theo kiểu hành chính với cơ chế giao vốn sang liên kết bền chặt bằng cơ chế đầu tư tài chính là chủ yếu; xác định rõ quyền lợi, trách nhiệm về vốn và lợi ích kinh tế giữa công ty mẹ với các công ty con và công ty liên kết; tăng cường năng lực kinh doanh cho các đơn vị tham gia liên kết; tạo điều kiện để phát triển, hình thành các tập đoàn kinh

tế mạnh ở Việt Nam

Việc chuyển đổi, tổ chức lại Tổng Công ty Nhà nước theo mô hình công

mẹ - công ty con nhằm tạo điều kiện phát triển năng lực, quy mô và phạm vi kinh doanh của công ty, thúc đẩy việc tích tụ, sử dụng tiềm lực tài chính và các

Trang 30

nguồn lực khác của công ty để đầu tư, góp vốn và tham gia liên kết với các doanh nghiệp khác, đẩy mạnh việc cổ phần hoá các đơn vị thành viên của công ty

Thực tế, một số Tổng Công ty sau khi chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con (Công ty đầu tư phát triển và xây dựng; Công ty xây lắp điện 3; Công ty đầu tư, xuất nhập khẩu và xây dựng Việt nam) đã thu được kết quả khả quan Sau một năm hoạt động, Công ty đầu tư, xuất nhập khẩu

và xây dựng Việt nam đã tăng doanh thu lên 3,2 lần; lợi nhuận tăng 3,55 lần, số lượng lao động tăng gần 2 lần, thu nhập bình quân người lao động tăng 1,7 lần Công ty xây lắp điện 3 doanh thu tăng 39%, nộp ngân sách tăng 31,45%, lợi nhuận tăng 71%, thu nhập người lao động tăng 10%

Thực tiễn hoạt động của các Tổng Công ty nói trên sau khi chuyển đổi sang mô hình công ty mẹ - công ty con đã cho thấy những ưu thế và tiềm năng

to lớn của mô hình này

Thứ nhất, yếu tố quyết định để kiểm soát một doanh nghiệp là quyền sở

hữu tư liệu sản xuất của doanh nghiệp đó, quyền sở hữu này biểu hiện thành quyền sở hữu về vốn Nếu công ty mẹ không có quyền sở hữu về vốn thì không thể kiểm soát tài chính dẫn đến không thể quản lý được các doanh nghiệp thành viên Do đó, thông qua việc nắm quyền sở hữu vốn cổ phần của các công ty con, công ty mẹ có thể kiểm soát từng đơn vị thành viên và toàn bộ tập đoàn

Thứ hai, về mặt lợi ích, cơ chế kiểm soát hoạt động kinh doanh trong các

tập đoàn thông qua kiểm soát về vốn là phương thức có hiệu quả và chắc chắn nhất Nếu so sánh với kiểm soát bằng hành chính thì rõ rằng sự kiểm soát thông qua quyền sở hữu vốn có tính bền vững và ưu việt hơn Hơn nữa, qua kinh nghiệm của các tập đoàn đa quốc gia cho thấy: cầu trúc công ty mẹ - công ty con tạo ra sự linh hoạt để điều chỉnh quy mô của tập đoàn, phù hợp với điều kiện thị trường và cạnh tranh trong từng thời kỳ

Thứ ba, khắc phục tình trạng không rõ ràng về pháp nhân của các Tổng

Công ty hiện nay bằng việc tách bạch rõ tư cách pháp nhân của công ty mẹ và các công ty con, quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty con là quan hệ của các pháp nhân độc lập Các đơn vị thành viên của Tổng Công ty khi chuyển thành

Trang 31

công ty con sẽ có quyền, trách nhiệm và lợi ích rõ ràng đối với vốn, tài sản cũng như quan hệ với các đối tác trên thị trường

Thứ tư, nâng cao tính chặt chẽ trong liên kết và phát huy quyền tự chủ cho

các doanh nghiệp Khi chuyển sang mô hình công ty mẹ - công ty con, quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con trở thành quan hệ của mộ doanh nghiệp đầu tư với doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư, và vì vậy, vừa tạo cho các đon vị thành viên những động lực cần thiết trong kinh doanh, vừa đảm bảo được sự chi phối về kinh tế của công ty mẹ Sự thay đổi cơ bản này sẽ tạo điều kiện nâng cao quyền

tự chủ của các doanh nghiệp khi chuyển sang mô hình công ty mẹ - công ty con

vì bản thân họ là các pháp nhân độc lập, có các quyền và nghĩa vụ bình đẳng với côgn ty mẹ, chỉ quan hệ với công ty mẹ với tư cách là người được đầu tư vốn

Thứ năm, chuyển đổi sang mô hình công ty mẹ - công ty con có tác dụng

thúc đẩy cải cách và chuyển đổi cơ cấu khu vực doanh nghiệp Nhà nước, bởi vì

để đạt được mục tiêu hình thành công ty con có pháp nhân độc lập từ các đơn

vị thành viên đòi hỏi phải tổ chức lại những đơn vị này thành công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh Điều này đồng nghĩa với việc thúc đẩy cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu, chuyển đổi các đơn vị thành viên thành công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên - điều mà trước đây các Tổng Công ty không mấy mặn mà

Thứ sáu, Việt Nam đang trong hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế khu vực

và thế giới, đặc biệt là việc gia nhập AFTA và WTO Quá trình này đồng nghĩa với việc Việt Nam phải mở cửa thị trường trong nước, chấp nhận sự cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Việc chuyển đổi hoạt động của các Tổng Công

ty Nhà nước sang mô hình công ty mẹ - công ty con, từng bước hình thành một

số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các Tổng Công ty Nhà nước là bước phù hợp nhằm tăng cường tiềm lực, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, phát huy vai trò chủ đạo, định hướng của thành phần kinh tế nhà nước, sẵn sàng cạnh tranh và từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực, và nền kinh tế thế giới

Trang 32

Ngoài những ưu điểm đã nêu, việc chuyển đổi từ mô hình Tổng Công ty sang hoạt động theo mô hình tập đoàn còn nhằm mục tiêu tổ chức lại Tổng Công

ty theo hướng chuyên môn hoá, hợp tác hoá trong sản xuất – kinh doanh, tạo điều kiện để bộ máy quản lý tập trung vào các vấn đề mang tính chiến lược, vấn

đề quan trọng của toàn tổ hợp liên kết Đây cũng là cơ hội để Tổng Công ty phát triển thành tập đoàn kinh tế thông qua chuyên môn hoá, hợp tác hoá, dựa trên trục liên kết bằng tài chính giữa công ty mẹ và các công ty con

1.3 Cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn kinh tế

1.3.1 Khái niệm cơ chế quản lý tài chính

Khái niệm cơ chế quản lý được đề cập tới nhiều, tuy nhiên chưa có một định nghĩa nào giải thích một cách rõ ràng khái niệm này Khi nói đến cơ chế quản lý, người ta thường tránh không đưa ra một định nghĩa cụ thể ngắn gọn mà thường giải thích nó bằng các nội dung mà quản lý thực hiện Cơ chế quản lý theo cách giải thích như vậy là tổng hợp các phương thức, cách thức tổ chức, quy trình để thực hiện mục tiêu của quản lý

Không thể hiểu khái niệm cơ chế quản lý tài chính thông qua một định nghĩa giản đơn và chỉ có thông qua việc nghiên cứu các nội dung của cơ chế thì

tự bản thân khái niệm đó đã được giải thích Cơ chế quản lý tài chính là các phương thức, cách thức quản lý, tổ chức bao gồm cả tổ chức về quy trình cũng như về con người để thông qua đó đạt được các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp Mỗi một doanh nghiệp, trong các điều kiện cụ thể sẽ vận dụng các cách thức khác nhau trong quản lý, tổ chức để thực hiện các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp Cơ chế quản lý tài chính được biểu hiện cụ thể bằng các quy định, chính sách, chế độ mà doanh nghiệp vận dụng, thông qua đó để thực hiện các nội dung của quản lý tài chính

Như vậy để hiểu được cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp trước tiên phải làm rõ hai vấn đề lớn là mục tiêu của quản lý tài chính và các nội dung của quản lý tài chính trong việc thực hiện mục tiêu đó

1.3.2 Mục tiêu của cơ chế quản lý tài chính

Trang 33

Hoạt động quản lý của doanh nghiệp bao gồm nhiều chức năng khác nhau như quản lý nhân sự, quản lý marketting Quản lý tài chính là một trong các chức năng đó Bên cạnh yêu cầu thực hiện mục tiêu chiến lược chung của toàn doanh nghiệp, quản lý tài chính có chức năng và mục tiêu riêng của mình Có nhiều quan điểm khác nhau về mục tiêu của quản lý tài chính doanh nghiệp Lợi nhuận thường được đặt lên hàng đầu, quản lý tài chính doanh nghiệp thường phấn đấu sao cho đạt được lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp Nếu lấy lợi nhuận làm thước đo mục tiêu của quản lý tài chính thì các quyết định sẽ thiên về xu hướng sao cho đạt được lợi nhuận tối đa Xu hướng này dường như rất hợp lý nhưng nếu xem tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu trọng yếu của quản lý tài chính doanh nghiệp thì sẽ có những nhược điểm sau:

- Thay đổi của lợi nhuận thường gắn liền với thay đổi về mức độ rủi ro

- Tối đa hoá lợi nhuận chưa phản ánh được lợi ích gắn liền với yếu tố thời gian, tại các thời điểm khác nhau thì lợi ích cũng sẽ khác nhau nếu xem xét nhân

tố giá trị thời gian của các khoản đầu tư

Trong nền kinh tế thị trường, mối quan tâm lớn nhất về mặt tài chính của các chủ sở hữu chính là giá trị tài sản đầu tư trong các doanh nghiệp mà giá trị đầu tư của chủ sở hữu trong các doanh nghiệp được đánh giá thông qua thị trường Mục tiêu chung nhất cho quản lý tài chính có lẽ là tối đa hoá giá trị của chủ sở hữu của doanh nghiệp

1.3.3 Nội dung của cơ chế quản lý tài chính

Quản lý tài chính phải đồng thời thực hiện các nội dung khác nhau như quản lý doanh thu, quản lý các khoản chi phí theo đúng chế độ, tìm nguồn vốn

và đầu tư sao cho có hiệu quả Các nội dung cụ thể của hoạt động tài chính thì rất nhiều, nhưng trong phạm vi luận văn này tác giả xin đề cập các vấn đề chính sau:

- Quản lý doanh thu

- Quản lý chi phí

- Huy động vốn

Trang 34

- Điều hoà vốn

- Kiểm soát nội bộ đối với các hoạt động tài chính trong doanh nghiệp

1.3.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính của tập đoàn kinh tế

Thứ nhất, cơ cấu tổ chức có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả hoạt động mọi

mặt của tập đoàn kinh tế Cơ cấu tổ chức quyết định tính chất mối quan hệ giữa công ty mẹ và các đơn vị thành viên cũng như mối quan hệ giữa các thành viên trong tập đoàn, là cơ sở cho mối gắn kết giữa các thành viên trong tập đoàn, trong thực hiện mục tiêu chiến lược chung

Trong mô hình tập đoàn kinh tế, cơ cấu tổ chức là tiền đề cho thực hiện quyền kiểm soát của công ty mẹ đói với các đơn vị thành viên Đặc tính chung của tập đoàn kinh tế là phân tán trong hoạt động nhưng lại tập trung trong thực hiện mục tiêu chiến lược chung cho nên vai trò kiểm soát của công ty mẹ là hết sức quan trọng Cơ cấu tổ chức phù hợp sẽ cho phép công ty mẹ có được cơ chế kiểm soát hoạt động của các đơn vị thành viên mà không cần phải can thiệp sâu vào hoạt động của chúng

Cơ cấu tổ chức hợp lý của tập đoàn cũng tạo điều kiện phân định rõ ràng hài hoà chức năng, vai trò của từng bộ phận lãnh đạo trong tập đoàn, như hội đồng quản trị, ban giám đốc

Thứ hai, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn Tính chất

đa dạng trong hoạt động sản xuất kinh doanh tất yếu tạo ra sự đa dạng trong hoạt động quản lý, thường thì các tập đoàn đều hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau vì vậy yêu cầu quản lý tài chính cũng rất đa dạng và phức tạp hơn do đặc điểm ngành nghề mang lại

Đặc điểm đa dạng trong hoạt động của tập đoàn kinh tế tác động tới cơ chế quản lý kinh tế trên hai giác độ cụ thể sau:

- Các ngành nghề khác nhau đòi hỏi quy định quản lý tài chính khác nhau Chẳng hạn các ngành gắn với lĩnh vực ngân hàng, tài chính thường có tỷ trọng tài sản là tiền lớn, dễ xảy ra mất mát, nên cũng đòi hỏi các quy định, quy trình

Trang 35

kiểm soát, sử dụng chặt chẽ, các ngành công nghệ cao thì lại đòi hỏi phải có cơ chế sử dụng tài sản phù hợp với đặc tính nhanh lạc hậu của tài sản v.v

- Tính chất đa dạng về vị trí địa lý cũng đòi hỏi hoạt động của tập đoàn kinh tế phải chịu tác động của nhiều quy định quản lý tài chính của các quốc gia

và vùng lãnh thổ khác nhau

Thứ ba, trình độ quản lý Trình độ quản lý, đặc biệt của đội ngũ cán bộ

cấp cao của tập đoàn kinh tế là nhân tố chủ quan, quyết định tới khả năng triển khai và thực thi các nội dung của cơ chế quản lý tài chính trong tập đoàn Công nghệ quản lý đòi hỏi cán bộ phải có trình độ tương ứng Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi mà hoạt động của các tập đoàn phát triển ở phạm vị toàn cầu thì đòi hỏi người quản lý phải có kiến thức rộng trong mọi lĩnh vực như kinh tế, pháp luật, xã hội Bên cạnh đó, khi mà ứng dụng công nghệ cao (tin học hoá) vào quản

lý ngày càng sâu rộng thì người quản lý còn phải nắm bắt và làm chủ được các công nghệ đó

Trình độ của cán bộ quản lý còn thể hiện thông qua tính chủ động, linh hoạt trong vận dụng cơ chế nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong thực hiện các nội dung của cơ chế quản lý tài chính Trình độ quản lý thấp và sự thiếu chủ động sẽ hạn chế ứng dụng của mô hình quản lý tiên tiến

Thứ tư, môi trường pháp lý Môi trường pháp lý cũng là một trong các yếu

tố bên ngoài chủ yếu tác động tới cơ chế quản lý tài chính của các tập đoàn kinh

tế Sự vận hành và hiệu quả của cơ chế quản lý tài chính của tập đoàn chịu sự tác động trực tiếp của các quy định về luật kinh tế, thuế, kế toán Do đó, nó luôn đòi hỏi phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với các quy định của luật pháp, hoạt động của tập đoàn càng đa dạng, đa lĩnh vực thì càng đòi hỏi phải có tính thích nghi cao

Môi trường pháp lý tác động tới cơ chế quản lý trên hai phương diện sau:

- Sự ổn định của cơ chế quản lý tài chính và

- Tính linh hoạt cho cơ chế quản lý tài chính

Trang 36

Do đặc điểm như vậy nên trong xây dựng cơ chế quản lý tài chính các tập đoàn kinh tế cần phải tính tới yếu tố hội nhập của nền kinh tế thế giới và phải đảm bảo tính mở của cơ chế

Kết luận Chương 1:

Trong bối cảnh nước ta hiện nay, vấn đề quản lý tài chính nói riêng, cũng như vấn đề quản lý doanh nghiệp nói chung vẫn còn là điều mới mẻ do nền kinh

tế nước ta mới chỉ thực sự ở những bước đầu tiên chuyển đổi sang một nền kinh

tế thị trường Đặc biệt các vấn đề về cơ chế quản lý đối với tập đoàn kinh tế lại càng mới, không những đối với các nhà quản lý doanh nghiệp mà với cả cơ quan quản lý nhà nước

Cơ chế quản lý tài chính chịu nhiều yếu tố quản lý khác nhau Cơ chế quản

lý tài chính là khái niệm rộng, phản ánh cách thức, phương thức tổ chức và thực hiện các nội dung của quản lý tài chính nhằm đạt được các mục tiêu tài chính của một tổ chức Như vậy, có thể thấy cơ chế quản lý tài chính chịu ảnh hưởng của các yếu tố quản lý khác, đồng thời cũng tác động ngược trở lại đối với hiệu quả hoạt động quản lý tài chính

Nghiên cứu về các nội dung của cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường, đặc biệt là sự vận dụng các nội dung của cơ chế quản lý tài chính cho hình thức tổ chức của các tập đoàn kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm tòi một mô hình tổ chức có hiệu quả cho các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam Đồng thời đó cũng là cơ sở để hoàn thiện cơ chế quản lý nói chung và cơ chế quản lý tài chính nói riêng của các tập đoàn kinh tế trong điều kiện đặc thù của mình

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 Khái quát về Tổng Công ty Điện lực Việt Nam

2.1.3 Quá trình hình thành và phát triển

Ngành Điện lực Việt Nam được thành lập ngày 15/08/1954 thừa hưởng một di sản manh mún của thực dân Pháp với tổng công suất hệ thống không quá 100MW, và sản lượng điện khoảng 180KWh Từ đó đến nay, với sự cống hiến, đóng góp của bao thế hệ cán bộ công nhân ngành Điện, Điện lực Việt Nam đã từng bước trưởng thành xứng đáng là một ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá của Tổ quốc

Quá trình phát triển của Điện lực Việt Nam có thể chia thành những thời

kỳ có liên hệ mật thiết với những giai đoạn phát triển của Đất nước

Giai đoạn trước năm 1954, khi thành lập ngành Điện, hệ thống điện Việt Nam rất nhỏ bé Chỉ có một số ít các nhà máy công suất nhỏ tồn tại như Cửa Cấm (Hải Phòng), Bờ Hồ (Hà Nội), Cọc 5 (Hải Phòng), Vinh (Nghệ An) cung cấp điện qua một hệ thống lưới điện nghèo nàn với cấp điện áp cao nhất là 30,5kV chỉ cung cấp điện cục bộ cho Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh

Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975: Sự phát triển của Điện lực Việt Nam bị tác động sâu sắc bởi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Nhiệm vụ chủ yếu của ngành điện trong giai đoạn này là cải tạo, đại tu các nhà máy do Pháp để lại, và nhanh chóng huy động nguồn lực để xây dựng các nhà máy mới tạo tiền đề để xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trang 38

Giai đoạn từ năm 1995 đến nay: Giai đoạn này được đánh dấu bởi sự hình thành Tổng Công ty Điện lực Việt Nam Tổng Công ty Điện lực Việt Nam – tên giao dịch là Electricity of Vietnam (EVN) được thành lập theo quyết định số 562/TTg ngày 10/10/1994 của Thủ tướng Chính phủ Tổng Công ty ra đời thống nhất quản lý toàn ngành điện trên phạm vi cả nước nhằm huy động tối ưu mọi nguồn lực của cả 3 miền trong việc xây dựng và phát triển ngành điện cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

2.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính của EVN

Điện năng là một loại hàng hoá đặc biệt Quá trình kinh doanh điện năng bao gồm 3 khâu liên hoàn: sản xuất - truyền tải - phân phối điện năng Khác với các loại hàng hoá khác, điện năng là một loại hàng hoá đặc biệt, không dự trữ được sau khi đã sản xuất ra (không lưu, tồn kho) Như vậy tại mọi thời điểm đều diễn ra sự cân bằng giữa sản xuất và tiêu thụ điện, cân bằng giữa cung và cầu, nếu không đảm bảo được sự cân bằng đó thì chất lượng điện năng không đảm bảo, hệ thống điện mất ổn định, nguy cơ tan rã hệ thống

Do quá trình tiêu thụ không tách rời khỏi quá trình sản xuất cho nên sản phẩm điện năng chỉ dùng một lần không dùng lại như những sản phẩm công nghiệp khác, không có tình trạng sản xuất xong chờ bán hàng Do đó không có chi phí ở khâu trung gian, trong giá thành sản phẩm không có khoản chi phí này Cũng do quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ mà chu kỳ của quá trình sản xuất – tiêu thụ sản phẩm điện năng diễn ra rất nhanh, các chi phí phát sinh đan xen nhau, rất khó hạch toán theo từng công đoạn sản xuất

Quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm điện năng có rất nhiều đơn vị cùng tham gia Nói cách khác quá trình sản xuất điện năng trải dài trên một vùng không gian rộng lớn Do đó chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm không chỉ phát sinh ở một đơn vị thành viên mà phát sinh đan xen nhau Vì vậy số liệu chi phí của nó là tổng chi phí của các đơn vị thành viên cùng tham gia sản xuất sản phẩm, nghĩa là số liệu chi phí tổng hợp toàn ngành Như vậy việc xác định chi

Trang 39

phí cho đúng phần đóng góp của mỗi người, mỗi bộ phận trong tổng sản phẩm hoàn thành là vấn đề khó khăn

Một đặc điểm khác của quá trình sản xuất kinh doanh điện năng là nhu cầu sử dụng xuất hiện không đều theo thời gian và không gian Nhu cầu thường tăng cao vào những cao điểm, gây ra tình trạng quá tải của hệ thống Thường vào những thời điểm này, các phương tiện và thiết bị được vận hành tối đa công suất Ngược lại vào những giờ thấp điểm, các khoản chi phí vẫn phát sinh nhưng lượng điện năng tiêu thụ lại thấp hơn rất nhiều

Theo không gian, nhu cầu sử dụng điện năng là rất lớn ở những trung tâm kinh tế, khu dân cư đông đúc, khu công nghiệp , đòi hỏi chất lượng phục vụ ngày càng cao Ở vùng dân cư thưa thớt như miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo thì nhu cầu thường rất ít, trong khi chi phí đầu tư xây dựng mua sắm thiết

bị điện là rất lớn Hiện nay giá bán điện ở những vùng này do Nhà nước quy định, thấp hơn giá thành sản xuất, do đó cần phải có cơ chế tài chính tách hoạt động công ích ra khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh điện của EVN

Một đặc điểm khác của hoạt động sản xuất kinh doanh điện năng là kết quả sản xuất kinh doanh chịu nhiều ảnh hưởng của yếu tố thời tiết Những năm thời tiết khô hạn kéo dài (Ví dụ mùa khô năm 2005), EVN đã phải huy động các nguồn điện có giá thành cao là tuốcbin khí chạy dầu, nhiệt điện dầu và điện mua ngoài tăng mạnh gây khó khăn rất lớn cho EVN, đặt ra yêu cầu phải có cơ chế tài chính linh hoạt phù hợp tình hình tài chính của EVN, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế

2.1.3 Tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của EVN

Sau hơn 10 năm phát triển, từng bước thực hiện lộ trình cải cách, hiện nay,

bộ máy của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam được tổ chức như biểu 2.1 và chia thành các khối sau:

Khối Hạch toán tập trung sản xuất truyền tải điện:

- 14 Nhà máy và công ty cổ phần nhiệt điện, thuỷ điện có nhiệm vụ cung cấp điện cho toàn bộ hệ thống lưới điện của cả nước

Trang 40

- 4 Công ty truyền tải điện chịu trách nhiệm truyền tải điện năng trên hệ thống lưới điện cao áp từ 220KV - 500KV từ các Nhà máy điện đến các trạm biến áp hạ thế của các Công ty Điện lực trong phạm vi cả nước

- Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia là đơn vị đặc biệt trực thuộc Tổng Công ty bao gồm 3 Trung tâm điều độ hệ thống điện ba miền Bắc, Trung, Nam và thực hiện chức năng điều hành toàn bộ hệ thống lưới điện quốc gia, đảm bảo sự hoạt động ổn định và kinh tế trên toàn bộ hệ thống điện Quốc gia

- Trung tâm Công nghệ thông tin đảm nhiệm chức năng quản lý và vận hành hệ thống mạng máy tính của toàn Tổng Công ty

Khối Hạch toán độc lập kinh doanh điện:

- 7 Công ty Điện lực vùng và 1 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực, dưới có các Điện lực Tỉnh, Thành phố, Quận huyện là các đơn vị hạch toán phụ thuộc có nhiệm vụ quản lý đường dây và trạm biến áp hạ thế để phân phối điện năng cho khách hàng dùng điện, kinh doanh bán điện

Khối sản xuất kinh doanh khác:

- 4 Công ty Tư vấn xây dựng Điện có nhiệm vụ khảo sát và xây dựng các công trình nguồn điện và trạm biến áp, đường dây tải điện

- 2 Công ty sản xuất thiết bị điện có nhiệm vụ chế tạo và sữa chữa các thiết

bị điện như máy biến áp, cầu dao, công tơ tổng v.v

- Công ty Thông tin viễn thông điện lực chịu trách nhiệm cung cấp thông tin dịch vụ viễn thông trong toàn Tổng Công ty

Khối các đơn vị sự nghiệp:

- Các đơn vị sự nghiệp: Trung tâm thông tin và dịch vụ khoa học kỹ thuật ngành điện

- 4 Trường đào tạo trực thuộc Tổng Công ty: 1 Trường Cao đẳng Điện lực,

2 Trường trung học Điện và một Trường đào tạo nghề Điện có nhiệm vụ đào tạo

và bồi dưỡng kỹ sư, kỹ sư thực hành, trung cấp và công nhân điện phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh điện của Tổng Công ty

Ngày đăng: 19/12/2015, 14:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu 2.1. Sơ đồ tổ chức của Tổng công ty Điện lực Việt nam - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại tổng công ty điện lực việt nam theo mô hình tập đoàn kinh tế   luận văn ths kinh
i ểu 2.1. Sơ đồ tổ chức của Tổng công ty Điện lực Việt nam (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w