Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích: - Góp phần làm rõ thực chất, nội dung của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc và những tác động của nó đối với các nước thành viên ACFTA v
Trang 1KHOA KINH TẾ
VŨ THỊ THANH XUÂN
KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN- TRUNG QUỐC
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2004
Trang 2VŨ THỊ THANH XUÂN
KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN- TRUNG QUỐC
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ XHCN
MÃ SỐ: 5.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.,TS., NGUYỄN XUÂN THẮNG
HÀ NỘI - 2004
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang gia tăng mối liên hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia, dân tộc.Việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nước trở thành một tất yếu kinh tế Năm 2003, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN đã bắt đầu có hiệu lực trong khu vực và điều này đã đặt ra rất nhiều thách thức cũng như cơ hội cho các nước thành viên mới như Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar Không chỉ có vậy, tháng 11 năm 2002, Hiệp định khung về khu vực mậu dịch tự do ASEAN + Trung Quốc đã được ký kết Như vậy, từ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đến Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), sẽ mang đến nhiều cơ hội và thách thức cho các nền kinh tế ASEAN, đặc biệt là tác động của ACFTA đối với các nước thành viên mới càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết Điều này giúp chúng ta tận dụng được những thuận lợi, khắc phục những khó khăn, khai thác có hiệu quả những cơ hội do ACFTA đem lại trong quá trình nước ta hội nhập khu vực và thế giới
Với ý nghĩa đó, tác giả đã chọn vấn đề "Khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam " làm đề tài luận văn thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN đã được nhiều nhà khoa học, các nhà quản lý và hoạch định chính sách quan tâm nghiên cứu Có nhiều công trình về vấn đề này đã được công bố và các kết quả nghiên cứu đó đã có tác dụng đáng kể đối với thực tiễn đổi mới và phát triển ở nước ta Trong khi đó,
do ACFTA là vấn đề mới nên chúng ta chưa có nhiều công trình nghiên cứu lớn
mà chỉ có những bài viết đăng tải trên các báo, tạp chí và những báo cáo trong những hội thảo khoa học
Trang 43 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
- Góp phần làm rõ thực chất, nội dung của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc và những tác động của nó đối với các nước thành viên ACFTA và Việt Nam
- Đề xuất một số kiến nghị chính sách nhằm nâng cao khả năng và hội nhập của Việt Nam trong ASEAN nói chung, trong ACFTA nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là ACFTA và sự tham gia của các bên có liên quan trong đó có Việt Nam Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào các lĩnh vực: Thương mại và đầu tư Khung thời gian nghiên cứu là từ khi bắt đầu có đàm phán để ký kết Hiệp định khung ACFTA cho đến nay Tuy nhiên, do ACFTA vừa mới thành lập, nên các phân tích về chương trình của nó chủ yếu nặng về khía cạnh phân tích định tính và dự báo
5 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị, duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…
6 Những đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ thực chất và chiều hướng của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
- Chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực cùng những thuận lợi và khó khăn của ACFTA đối với các nước
Trang 5- Đưa ra một số giải pháp để khắc phục những bất lợi, nâng cao khả năng phát triển và hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương I - Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN - Trung Quốc
Chương II - Những tác động của ACFTA đối với các nước thành viên
ASEAN và Trung Quốc
Chương III - Phương hướng và một số giải pháp thực hiện ACFTA của Việt
Nam
Trang 6CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỰ HÌNH THÀNH ACFTA
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Khái niệm về khu vực mậu dịch tự do
Khu vực mậu dịch tự do là một hình thức liên kết thương mại của hai nước hay nhiều nước với nhau Thông qua khu vực mậu dịch tự do, các nước mở rộng trao đổi buôn bán và mở rộng các hình thức hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế Ngày nay khái niệm thương mại có nội hàm rộng hơn nhiều, không chỉ bó hẹp ở lĩnh vực thương mại hàng hoá, mà nó còn liên quan đến đầu tư, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, thậm chí đã mở rộng đến cả các vấn đề như: lao động, điều chỉnh việc làm, vấn đề môi trường, thương mại điện tử Nội hàm của thương mại quốc tế không chỉ được mở rộng mà nội dung ngày càng sâu sắc thêm
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) là một hình thức liên kết thương mại của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Trước đây đàm phán, thoả thuận, thực hiện cắt giảm thuế quan, hạ thấp và xoá bỏ hàng rào phi quan thuế là nội dung trọng tâm của AFTA Nhưng từ cuối những năm 1990, AFTA đã thể hiện
rõ ràng xu hướng mở rộng nội dung sang các vấn đề lớn của quan hệ kinh tế quốc tế như đầu tư, dịch vụ, sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại, thương mại điện tử và những vấn đề khác
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) là hình thức liên kết thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc Trong Hiệp định khung, hai bên khẳng định việc thành lập ACFTA có ý nghĩa quan trọng, không chỉ tăng cường hợp tác kinh tế vốn có giữa hai bên mà còn giúp mở rộng cơ hội mậu dịch và đầu
tư song phương Nội dung hợp tác của ACFTA được thoả thuận trên rất nhiều lĩnh vực Đó cũng là xu hướng chung của các khu vực mậu dịch tự do trên thế giới, nó không nằm ngoài khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Mục tiêu của AFTA cũng như của ACFTA là thúc đẩy sự hợp tác kinh tế, trao đổi buôn bán giữa các bên tham gia nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của
Trang 7các nước trong khu vực và trên thị trường thế giới Thông qua đó nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, nâng cao khả năng huy động và phân bổ nguồn lực giữa các nền kinh tế nhằm thích ứng với những chuyển biến và những điều kiện chung của thương mại thế giới, thúc đẩy nền kinh tế của các nước thành viên
1.1.2 Các lý thuyết về tự do hoá thương mại
Lý thuyết về thương mại quốc tế
Ngay từ giữa thế kỷ 16, trường phái trọng thương đã chú ý tới vai trò quan trọng của ngoại thương trong việc làm tăng của cải của quốc gia Đến thế kỷ 18, đại biểu xuất sắc của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh Adam Smith đã đưa ra
khái niệm "lợi thế tuyệt đối" để lý giải nhận định trên Theo ông các nước trên
thế giới buôn bán với nhau vì họ khác nhau và vì họ cùng có lợi.Với lý thuyết
"Lợi thế tuyệt đối", A.dam Smith đã chỉ ra rằng các nước có thể dựa vào sự chuyên môn hoá sản xuất và các điều kiện tự nhiên khác nhau của mình để lựa chọn mặt hàng sản xuất phù hợp và cho năng suất cao Sau đó, thông qua trao đổi quốc tế thì các nước đều có lợi
Ngoài những khác biệt về điều kiện thiên nhiên và vị trí địa lý, giữa các nước còn có sự khác biệt về năng suất lao động, nhu cầu thị trường, khả năng cung ứng và sử dụng các nguồn lực Để thể hiện đầy đủ sự khác biệt giữa các nước theo những tiêu chí như vậy, các nhà kinh tế đã đưa ra quan điểm về lợi thế
so sánh hay lợi thế tương đối Quan điểm này được thể hiện thông qua nhiều mô
hình khác nhau, trong số đó phải kể đến mô hình Ricardo, mô hình các yếu tố chuyên biệt của Paul Samuelson, mô hình Heckscher- Ohlin, mô hình thương mại chuẩn Chúng được coi là những mô hình cơ bản để giải thích về nguồn gốc
những lợi ích từ thương mại
Ra đời vào đầu thế kỷ 19, mô hình Ricardo được coi là mô hình đơn giản
nhất lý giải về nguồn gốc những lợi ích từ thương mại Mô hình này giả định rằng chỉ có một yếu tố duy nhất tham gia vào quá trình sản xuất - đó là lao động
và nó được di chuyển tự do từ ngành này sang ngành khác, các nước khác nhau chỉ vì năng suất lao động trong các ngành công nghiệp khác nhau và mức lợi tức
Trang 8không đổi theo qui mô Nếu không có thuế quan và chi phí vận chuyển không đáng kể, các nước thường xuất khẩu hàng hoá mà họ sản xuất có hiệu quả và nhập khẩu hàng hoá mà họ sản xuất tương đối kém hiệu quả Điều này hàm ý rằng: “các nước sẽ chuyên môn hoá vào việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm
mà họ làm ra với chi phí tương đối, hay chi phí cơ hội thấp hơn các nước khác” [3, 327] Như vậy, việc chuyên môn hoá sản xuất dựa trên cơ sở lợi thế so sánh
sẽ giúp cho các nước có điều kiện trao đổi hàng hoá với nhau và làm cho họ
cùng có lợi Những lợi ích từ thương mại có thể được thể hiện thông qua việc
mở rộng khả năng tiêu dùng của các bên trao đổi và nâng cao hiệu quả sản xuất Nhưng nếu so sánh với thực tiễn thương mại quốc tế, mô hình này còn
nhiều hạn chế và đôi khi còn đưa ra những phán đoán sai lệch như: Thứ nhất,
việc chuyên môn hoá sản xuất hoàn toàn mà mô hình đòi hỏi là không thể có
được trong thực tiễn Thứ hai, do giả định rằng lao động có thể di chuyển tự do
và không tốn kém giữa các ngành, mô hình Ricardo đã đưa ra phán đoán không sát với thực tế khi cho rằng thương mại không tác động lên sự phân phối thu
nhập trong nội bộ các nước Thứ ba, mô hình Ricardo đã bỏ qua vai trò của lợi
thế nhờ qui mô - một nguồn gốc của trao đổi quốc tế
Để góp phần khắc phục những hạn chế trong mô hình Ricardo, Paul Samuelson và Ronald Jones đã lý giải nguồn gốc của thương mại và các lợi ích
tiềm tàng của nó thông qua mô hình các yếu tố chuyên biệt Mô hình này giả
định rằng có nhiều yếu tố khác ngoài lao động tham gia vào quá trình sản xuất, trong đó lao động là yếu tố linh hoạt, tức có thể tham gia vào nhiều ngành sản xuất khác nhau, còn các yếu tố khác là chuyên biệt, tức chúng chỉ tham gia vào một ngành sản xuất nhất định nào đó Với bất kỳ mức giá nào của sản phẩm (tức
không phải do người sản xuất quyết định), mô hình các yếu tố chuyên biệt cho
thấy sự có mặt của các yếu tố chuyên biệt trong quá trình sản xuất đã tạo điều kiện cho các nước có thể thay đổi mức cung hàng hoá ra thị trường, khi họ thay đổi lượng yếu tố chuyên biệt được sử dụng Do có sự khác nhau trong cung ứng các yếu tố giữa các nước, nên mỗi nước sẽ chuyên môn hoá vào việc sản xuất
Trang 9mặt hàng nào cần nhiều yếu tố chuyên biệt mà nó sẵn có (nước có nhiều vốn sẽ tập trung sản xuất hàng công nghiệp, còn nước có nhiều đất đai thì sản xuất hàng thực phẩm) Khi đó, thông qua thương mại, các nước có thể trao đổi với nhau những hàng hoá mà họ có điều kiện sản xuất tốt hơn
Trong lý thuyết thương mại quốc tế, bên cạnh mô hình các yếu tố chuyên biệt, còn có một mô hình khác giải thích nguồn gốc của thương mại thông qua
sự khác biệt về nguồn lực Đó là mô hình Heckscher- Ohlin, hay còn gọi là mô
hình tỷ lệ các yếu tố, do hai nhà kinh tế học Thuỵ điển Eli Heckscher và Bertil Ohlin đưa ra vào những năm 30 của thế kỷ XX Mô hình này được xây dựng dựa trên giả thuyết nền kinh tế có hai yếu tố sản xuất (ví dụ lao động và đất đai) và chúng đều có thể tham gia vào hai ngành sản xuất khác nhau (có tỷ lệ lao động- đất đai sử dụng vào sản xuất khác nhau) Trong mô hình này, không có yếu tố nào là chuyên biệt cả Ngoài ra, để giải thích nguồn gốc của thương mại, mô hình Heckscher- Ohlin còn giả định rằng hai nước buôn bán với nhau chỉ có một
sự khác biệt duy nhất là ở các nguồn lực – một nước có tỷ lệ lao động - đất đai cao hơn nước kia (nghĩa là nó tương đối giàu có hơn về lao động), trong khi có rất nhiều điểm giống nhau – nhu cầu về hàng hoá, mức giá tương đối, công nghệ Với các điều kiện khác như nhau và không đổi, nước tương đối giàu có hơn
về lao động sẽ tập trung vào việc sản xuất hàng hoá cần nhiều lao động hơn, còn nước kia, do giàu có hơn về đất đai sẽ tập trung vào việc sản xuất hàng hoá cần nhiều đất đai Sự dồi dào tương đối về nguồn lực này gây ra tác động thiên lệch lên khả năng sản xuất của các nước tham gia thương mại và mỗi nước có thiên hướng xuất khẩu loại hàng hoá mà nó cung tương đối lớn hơn Có thể nói một cách khái quát rằng các nước có thiên hướng xuất khẩu hàng hoá cần nhiều yếu
tố sản xuất mà nước họ có dồi dào
Trong ba mô hình trên, các nhà kinh tế học mới chỉ tập trung giải thích nguồn gốc và tác động của thương mại trên cơ sở những thay đổi trong cung tương đối của hàng hoá trên thị trường, mà chưa chú ý đến những thay đổi trong cầu tương đối, đặc biệt khi nó bị hạn chế bởi khả năng thu nhập của dân chúng
Trang 10Mô hình thương mại chuẩn sẽ cho chúng ta một bức tranh sát với thực tế hơn
về thương mại quốc tế, khi nó đặt thương mại trong mối quan hệ với sản xuất và
tiêu dùng Trong mô hình thương mại chuẩn, chuyên môn hoá không hoàn
toàn đã được sử dụng để xác định khả năng sản xuất của các nước Điều này có nghĩa là, mỗi nước sẽ sản xuất nhiều hơn những mặt hàng mà nó có lợi thế so sánh, trong khi nó vẫn sản xuất những mặt hàng khác nhưng với số lượng hạn chế Trong mô hình này, giả thuyết nhu cầu tương đối là không đổi đã bị loại bỏ,
nó được xác định từ sở thích tiêu dùng của các cá nhân và bị giới hạn bởi khả năng thu nhập của họ
Khi có thương mại, mức cung tương đối hàng hoá của thế giới được xác định từ khả năng sản xuất của tất cả các nước tham gia thương mại và mức cầu tương đối - từ sở thích của chúng Sự tăng trưởng kinh tế ở một nước (sự mở rộng khả năng sản xuất thông qua sự gia tăng các nguồn lực hoặc cải thiện hiệu quả sử dụng chúng) gây tác động lên phúc lợi của các nước còn lại thông qua điều kiện mậu dịch - mức giá của hàng xuất khẩu so tương đối với hàng nhập khẩu, theo hai hướng khác nhau Khi các yếu tố khác không đổi, nếu điều kiện mậu dịch của một nước được cải thiện hơn, thì sự cải thiện đó thúc đẩy sự tăng trưởng ban đầu ở trong nước đó, nhưng lại gây tổn thương cho các nước khác Ngược lại, khi điều kiện mậu dịch của nước này giảm đi, thì sự giảm đi đó sẽ làm mất đi một số tác động thuận lợi đến tốc độ tăng trưởng trong nước, nhưng lại có lợi cho các nước còn lại Hướng tác động lên điều kiện mậu dịch này phụ
thuộc vào bản chất của sự tăng trưởng Thông qua mô hình thương mại chuẩn,
có thể thấy rõ thương mại không những tác động mạnh lên phân phối thu nhập trong nội bộ một nước mà nó còn tác động lên phân phối thu nhập quốc tế thông qua điều kiện mậu dịch Mỗi nước có thể được lợi hoặc bị thiệt hại từ thương mại quốc tế tuỳ thuộc vào xu hướng tăng trưởng kinh tế, việc áp dụng thuế quan nhập khẩu hay trợ cấp xuất khẩu
Qua các mô hình thương mại quốc tế, có thể đi đến kết luận rằng các nước buôn bán với nhau hoặc vì họ khác biệt về các nguồn lực, về công nghệ, hoặc vì
Trang 11họ khác biệt nhau về lợi thế kinh tế nhờ qui mô, hoặc vì cả hai lý do đó Thương mại luôn mang lại lợi ích cho các nước tham gia và các lợi ích này là tiềm tàng
Lý thuyết về chủ nghĩa khu vực mở
Từ những năm 1980 quá trình liên kết và hợp tác kinh tế ở các khu vực và trên phạm vi toàn cầu phát triển mạnh, tự do hoá kinh tế, thương mại và đầu tư
trở thành xu hướng bao trùm Lý thuyết Chủ nghĩa khu vực mở được APEC
khởi xướng đã trở thành một trào lưu kinh tế được rất nhiều nước thực hiện
Tổ chức APEC ra đời như một đáp ứng đúng lúc đối với yêu cầu và lợi ích của của các nền kinh tế ở Châu Á- Thái Bình Dương vốn đang ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau hơn Không giống như các tổ chức khu vực khác (đặc biệt là EU), ngay từ ban đầu, APEC không nhấn mạnh đến mục tiêu tạo lập hệ thống ưu đãi thuế quan, liên minh thuế quan hay thị trường chung, mà nhấn mạnh tới việc tăng cường hệ thống thương mại đa phương mở Điều này được lý giải bởi hai lý
do Một là, APEC là tập hợp của các nền kinh tế rất đa dạng về trình độ phát triển, chế độ chính trị- xã hội cũng như điều kiện lịch sử văn hoá Vì thế, các nước đang phát triển như ASEAN, NIEs không muốn thành lập khu vực tự do hoá và bị lệ thuộc một cách bất bình đẳng vào các nền kinh tế lớn hơn, có trình
độ phát triển cao hơn như Mỹ, Nhật Bản, Ôxtrâylia và Canada Hai là, các nền kinh tế APEC đặc biệt là các nước Đông Á phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh tế thế giới Sự tăng trưởng của các nền kinh tế Nhật Bản, NIEs và ASEAN trong những năm 1970 và1980 chủ yếu nhờ vào sự thành công của chiến lược hướng vào xuất khẩu, do vậy, họ rất muốn duy trì một hệ thống thương mại toàn cầu mở và ổn định Việc cát cứ sẽ là điều bất lợi trước hết đối với những thành viên APEC có nền kinh tế, thương mại phát triển cao
Nguyên tắc quan trọng nhất của APEC trong quá trình thực hiện khu vực tự
do hoá kinh tế và thương mại là "phù hợp với WTO" Theo đó, các chương trình hợp tác của APEC không đi ngược lại với những nguyên tắc đã được qui định tại
WTO Ngoài ra, nói một cách rộng hơn, chủ trương của APEC là theo đuổi "chủ nghĩa khu vực mở" Những nguyên tắc của "chủ nghĩa khu vực mở" của
Trang 12APEC bao gồm: i) APEC là diễn đàn mở cửa và không mang tính chất tự bảo vệ; ii) APEC thừa nhận sự khác biệt tồn tại giữa các nền kinh tế thành viên; iii) APEC có thái độ thực tế về việc thúc đẩy trao đổi thương mại; và iv) các nền kinh tế thành viên APEC không được thực hiện phân biệt đối xử Nói
cách khác, "chủ nghĩa khu vực mở" của APEC đồng nghĩa với việc APEC
không thi hành chính sách "loại trừ" và phân biệt đối xử, mà thay vào đó, thực hiện chính sách cởi mở với qui định các hiệp định được nhất trí trong APEC sẽ được áp dụng ra ngoài khu vực APEC [37] Trên cơ sở đó, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của APEC là nền tảng để thúc đẩy tự do hoá
kinh tế, thương mại toàn cầu Ngày nay, lý thuyết “Chủ nghĩa khu vực mở”
được phát triển mạnh mẽ ở các nước với sự ra đời của các khối liên kết khác
nhau ở các khu vực khác nhau Lý thuyết "Chủ nghĩa khu vực mở" đã trở
thành một trào lưu kinh tế ở khắp thế giới
Sự phục hồi và phát triển của lý thuyết chủ nghĩa tự do mới
Vào cuối những năm 70 của thế kỷ 20 cho đến nay, có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ của những lý thuyết kinh tế chủ nghĩa tự do mới Các quốc gia trên thế giới đã nhận ra rằng, để phát triển nền kinh tế của quốc gia mình thì cần phải chấp nhận điều tiết bằng cơ chế thị trường Đó là: 1/ thị trường khuyến khích hoạt động của kinh tế tư nhân, tạo thuận lợi cho một nền kinh tế đa thành phần; 2/ Thị trường có thể đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của tiêu dùng và sản xuất lại ít tốn kém hơn; 3/ Thị trường linh hoạt và mềm dẻo hơn các cơ quan nhà nước nên nó dễ thích nghi với những thay đổi nhanh chóng trên thực tế
Thực tiễn đã chứng minh không có nước nào trên thế giới thành công trong chiến lược phát triển kinh tế của mình mà không có nền kinh tế thị trường tự do Đặc biệt, sự thành công của các nước NIEs, ASEAN là một bằng chứng cho thấy tăng cường sự tự điều tiết dựa trên nguyên tắc thị trường và dỡ bỏ những rào cản
để thị trường phát triển tự do là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự thành công
Thêm vào nữa, người ta bắt đầu cảm nhận thấy cái giá của việc không phải
Trang 13là thành viên của bất kỳ thoả thuận khu vực nào là có thật: mất đi thế đàm phán trong các cuộc đàm phán đa phương; bỏ lỡ các cơ hội hưởng lợi từ bên ngoài và
sự chậm trễ nói chung trong việc sử dụng hiệu quả làn sóng toàn cầu hoá
Như vậy, với những cơ sở lý luận của ích lợi thương mại đưa lại cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của lý thuyết “chủ nghĩa khu vực mở” do APEC khởi
xướng đã thúc đẩy hơn nữa sự ra đời của các khối liên kết thương mại ở tầm khu vực và sự phục hồi tư tưởng của chủ nghĩa tự do mới ACFTA ra đời cũng là phù hợp với xu hướng chung của thế giới
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CHO SỰ RA ĐỜI ACFTA
1.2.1 Sự thay đổi của bối cảnh quốc tế
Ngày nay, toàn cầu hoá đang là xu thế phát triển chủ yếu của quan hệ quốc
tế hiện đại Toàn cầu hoá, khu vực hoá đã trở thành một xu thế của nền kinh tế thế giới, trong đó tự do hoá thương mại là nội dung nổi trội Trong thực tế, một nền kinh tế toàn cầu hoá không phải là một hiện tượng hoàn toàn mới mẻ, nó đã được người ta nói đến cách đây khoảng một thế kỷ, khi liên kết kinh tế quốc tế bắt đầu được phát triển Lúc này, tính toàn cầu chỉ được thể hiện thông qua việc cắt giảm các hàng rào thương mại và được nảy sinh từ khả năng cắt giảm chi phí vận chuyển do sự phát triển của đường sắt và đường thuỷ
Trong những năm gần đây, toàn cầu hoá đã là một xu thế bao trùm của nền kinh
tế thế giới Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới ngày nay không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực thương mại quốc tế, mà nó còn bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội Do đó, để phát triển, mọi nước trên thế giới cần phải chấp nhận nó và cố gắng cải cách nền kinh tế của mình sao cho có thể tranh thủ được tối
đa các lợi ích mà quá trình này mang lại Quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá được tăng cường rất mạnh mẽ trong lĩnh vực thương mại quốc tế
Toàn cầu hoá kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy nhiều tổ chức liên kết kinh tế mở rộng Liên minh Châu Âu (EU) mở rộng tới phía Trung và Đông Âu APEC có xu hướng dần dần thể chế hoá khu vực cho mình Ấn Độ đưa ra sáng kiến thành lập tổ chức vành đai Ấn Độ Dương, nhằm tạo ra một
Trang 14không gian địa- kinh tế mới Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) đẩy mạnh thương mại từ Alaska đến Nam cực Như vậy, các chương trình tự do hóa thương mại khu vực đang được phát triển rất rầm rộ Thông qua việc ký kết các hiệp định thương mại đa bên, nhiều khối thương mại tự do đã được thành lập
BẢNG 1 MỘT SỐ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI KHU VỰC VỚI SỰ THAM GIA
CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN (TÍNH ĐẾN NĂM 1997)
Caribe và TBD với Cộng đồng châu Âu Thị trường chung An-đơ
(Hiệp ước An-đơ)
Tổ chức hợp tác kinh tế
Châu Á- TBD
Nhật bản, Indonexia, Hàn Quốc, Malaysia, NiuDilan, Mexico, Papua New Guine, Philippines, Singapore, Đài Loan, Thái Lan, Mỹ, Nga, Peru và Việt Nam
Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á
ASEAN Indonexia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan,
Lào, Brunei, Myanma, Campuchia, và Việt Nam Cộng đồng hợp tác kinh tế
Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN
AFTA Indonexia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan,
Lào,Brunei, Myanmar, Campuchia, và Việt Nam Liên minh kinh tế và thuế
quan Trung Phi
đảo Gambia, Mali, Ni –ghê, Sênêgal, Togo
Trang 15Hiệp hội kinh tế Đông Á EAEG Brunei, Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Lan,
Thái Lan, Philíppin, Inđônêxia, Malayxia, Singapor, Nhật bản
Ecuado, Mexico, Paragoay, Urugoay, Venezuela
Ecuado, Mexico, Paragoay, Urugoay, Venezuela
Srilanka
Cho đến nay, đã có trên 100 liên minh thương mại được ra đời, tập trung chủ yếu ở Châu Âu và Châu Mỹ Ở Châu Á, tuy các hiệp định thương mại tự do không nhiều (theo số liệu của JETRO thì có 3 liên minh, nhưng theo WTO thì có
10 vì nó bao hàm cả các liên minh chỉ mới ký kết trên giấy tờ chứ chưa được thực hiện), nhưng chúng được đánh giá là thực hiện rất tích cực và đạt kết quả ban đầu đáng khích lệ Các khối thương mại tự do này có thể là do các nước phát triển và các nước đang phát triển cùng thành lập nên như NAFTA, APEC, MERCOSUR, SAFTA Cần ghi nhận thêm rằng các khối thương mại tự do mới thành lập đều được định hướng ra thị trường thế giới rộng lớn, chứ không mang tính hướng nội như các khối thương mại được thành lập trước đây
Theo các nhà nghiên cứu kinh tế, có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến
sự phát triển liên kết thương mại khu vực Đó là:
a) Sự gần gũi về địa lý: Do có sự gần gũi về địa lý, các nước thành viên của
khối thương mại tự do hy vọng trao đổi thương mại giữa họ sẽ được tăng cường
Trang 16hơn vì chi phí vận tải và viễn thông thấp hơn, đồng thời lại đáp ứng được yêu cầu muốn vươn ra thị trường thế giới của các nhà sản xuất địa phương
b) Do những nhu cầu chính trị của các nước thành viên: Các hiệp định
thương mại khu vực góp phần tích cực trong việc ổn định bầu không khí chính trị trong vùng và chống lại những mối đe doạ từ bên ngoài Có thể chứng minh điều này qua những ví dụ từ thực tế Việc tham gia vào liên minh Châu Âu đã làm giảm đến mức tối thiểu nguy cơ bùng nổ chiến tranh dưới bất kỳ dạng nào giữa Pháp và Đức Mối hiềm khích giữa Achentia và Braxin đã được xoá bỏ khi
họ tham gia vào MERCOSUR Mối quan hệ giữa các nước lớn ở vùng Châu Á- Thái Bình Dương đã được cải thiện đáng kể nhờ sự ra đời và hoạt động của APEC
c) Đáp ứng nhu cầu của các nước về một thể chế thương mại đa phương trong điều kiện các vòng đàm phán của GATT/WTO chưa đạt kết quả mong đợi:
Sau khi kết thúc Vòng Urugoay, mức thuế quan trung bình trên thế giới đã giảm đáng kể và các nước bắt đầu chuyển sang đàm phán về việc xoá bỏ các rào cản phi quan thuế cũng như các vấn đề liên quan đến hoạt động của các thị trường
mở cửa như quyền sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp và thương mại dịch vụ Thế nhưng, đàm phán về các vấn đề này không những đòi hỏi nhiều thời gian,
mà trong nhiều trường hợp không đạt được hiệu quả mong muốn Trước thực tế
đó, các nước hy vọng thông qua các hiệp định thương mại khu vực, các vấn đề
mà WTO đang cần giải quyết sẽ được giải quyết nhanh chóng hơn, do số lượng thành viên ít hơn Không dừng lại ở đó, đa số các hiệp định thương mại khu vực được hình thành hiện nay đều cố gắng đáp ứng những yêu cầu pháp lý của WTO đến mức tối đa có thể Để được coi là có tính pháp lý theo WTO, các hiệp định khu vực cần đáp ứng ba tiêu chuẩn sau: cần phải bao hàm phần lớn thương mại của các nước thành viên, phải hạn chế tối đa khả năng xuất hiện các trở lực thương mại mới đối với các nước không phải là thành viên và phải đạt được chế
độ thương mại tự do sau một thời hạn nhất định (thường là không quá 10 năm) Các liên minh khu vực quan trọng như EU và NAFTA đã đáp ứng rất tốt các chỉ
Trang 17tiêu này và chúng là nền tảng của hệ thống thương mại đa phương sau này Chính vì vậy, có thể nói các khối thương mại tự do khu vực giữ vai trò bổ sung, chứ không phải là thay thế hệ thống thương mại toàn cầu
Hiện nay, với vòng đàm phán Đô ha đang diễn ra rất khó khăn và đặc biệt
là sự thất bại của Hội nghị Can cun gần đây cho thấy rằng, các nước phát triển và đang phát triển đã không đạt được sự đồng thuận cao trong chương trình phát triển Đô ha Điều này là do thiếu sự nỗ lực cần thiết để củng cố vai trò và hiệu quả của hệ thống thương mại toàn cầu Đây là nguyên nhân chủ yếu đã thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng hình thành chủ nghĩa khu vực và ra đời các FTA song phương và khu vực như ACFTA, trong thời gian gần đây.{27,74}
d) Là bước thử nghiệm để tham gia tự do hóa thương mại toàn cầu: Trong
điều kiện thế giới chưa sẵn sàng cho thương mại tự do ở mức toàn cầu, khi tham gia một hiệp định thương mại khu vực nào đó, các nước thành viên có cơ hội làm quen với tự do hoá ở cấp cao hơn và từ đó có kinh nghiệm để tham gia vào hợp tác đa phương Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu còn cho rằng trong phạm vi tổ chức thương mại khu vực, các nước thành viên có cơ hội khảo cứu và thử nghiệm các giải pháp cho các vấn đề thương mại phức tạp hơn mà hệ thống thương mại toàn cầu chưa thể đề cập đến
Khi tham gia vào WTO, cũng như các tổ chức thương mại khu vực, các nước đang phát triển có nghĩa vụ thực hiện các cam kết về tự do hoá thương mại Hiện tại, vị thế của các nước đang phát triển trong các tổ chức quốc tế nói chung
và các tổ chức thương mại nói riêng đã tăng lên rõ rệt Ngày nay, không chỉ các nước Mỹ và Châu Âu được lợi từ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, mà các nước đang phát triển cũng bắt đầu thu lợi từ cơ chế này Ví dụ vào tháng 8/2003, các công ty dệt may của Mỹ yêu cầu chính phủ áp dụng hạn ngạch đối với bốn chủng loại sản phẩm là đồ lót, quần áo ngủ, găng tay và sợi len Theo Viện nghiên cứu sản xuất dệt may của Mỹ, xuất khẩu của Trung Quốc có thể khiến cho ngành công nghiệp dệt may của nước này phá sản trong vòng 5 năm tới Trung Quốc lại thuyết phục Mỹ dỡ bỏ các biện pháp bảo hộ và cũng tuyên bố sẽ
Trang 18đưa vụ kiện ra trước WTO, đồng thời có thể trả đũa vào sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu từ Mỹ [7] Có thể nói, các nước đang phát triển đã biết tận dụng những cơ chế trong các tổ chức thương mại nhằm xoá dần tình trạng bất bình đẳng giữa nước lớn và nước phát triển với các nước đang phát triển Đây là một trong những lý do làm cho tự do hoá thương mại khu vực mở trở thành làn sóng được phát triển mạnh mẽ trên phạm vi thế giới trong những năm gần đây
Các khối liên kết thương mại khu vực xuất hiện có nhiều nguyên nhân như
đã trình bày ở trên và Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc được ra đời cũng không nằm ngoài những nguyên nhân đó Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất theo các nhà nghiên cứu thì do những nhu cầu về kinh tế và chính trị của các nước thành viên đặc biệt là Trung Quốc khi muốn thể hiện vai trò bá chủ của mình trong khu vực
1.2.2 Những yếu tố nội tại từ sự phát triển của ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN ) được thành lập vào năm
1967 với sự tham gia của năm nước là Thái lan, Indonexia, Malayxia, Singapore
và Philipin Vào năm 1984, tổ chức này kết hợp thêm thành viên thứ 6 là Brunei Bước sang thập niên 90, dưới tác động của quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá trong nền kinh tế thế giới, nhu cầu mở rộng ASEAN ra toàn khu vực Đông Nam Á đã trở nên cấp thiết Vì vậy, chỉ trong vòng 5 năm, từ 1995-1999, bốn nước còn lại trong khu vực là Việt Nam, Lào, Myanma và Cămpuchia lần lượt trở thành thành viên chính thức của ASEAN Sự ra đời của ASEAN là do sự tương đồng về vị trí địa- kinh tế, địa- chính trị ASEAN là một khối kinh tế- thương mại khu vực liên kết 10 quốc gia không đồng nhất, nếu xét về tổng thể Với 10 thành viên, ASEAN đã trở thành một thị trường khu vực rộng lớn với dân số trên 490 triệu người, diện tích gần 4,2 triệu kilômét vuông và liên kết mạnh vào nền kinh tế thế giới - xuất khẩu của toàn khối đã đạt 6,3% tổng xuất khẩu của thế giới vào năm 1996 (tỷ trọng lớn nhất so với các khối kinh tế thương mại khác của các nước đang phát triển ) Các nước ASEAN không chỉ khác nhau về diện tích đất đai, dân số, thu nhập theo đầu người, mức tăng
Trang 19trưởng kinh tế và xuất khẩu (bảng 2), mà còn khác nhau về thể chế chính trị
và trình độ phát triển kinh tế
ASEAN kể từ khi thành lập đã coi hợp tác kinh tế là một trong những nội dung hợp tác chủ yếu trong các hoạt động của Hiệp hội “Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” là ưu tiên hàng đầu trong số các mục tiêu của Hiệp hội Từ
“Tuyên bố về sự hoà hợp ASEAN” thông qua năm 1976; “Tuyên bố Singapore năm 1992” và “Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN ” thông qua năm 1992 và đến “Tầm nhìn ASEAN năm 2020” thông qua năm 1997, mục tiêu và phương hướng hợp tác kinh tế của ASEAN có những thay đổi và điều chỉnh nhưng nội dung hợp tác kinh tế ASEAN ngày càng được mở rộng ra các lĩnh vực và hợp tác ngày càng chặt chẽ hơn Các chương trình hợp tác của ASEAN với tính cách là một cộng đồng khu vực mậu dịch tự do được thông qua như hợp tác về thương mại, thoả thuận ưu đãi thương mại rồi đến khu vực mậu dịch tự do ASEAN Có thể khẳng định ASEAN coi phát triển kinh tế là một nhu cầu cấp thiết trong đó quá trình tự
do hoá thương mại là việc cần thiết phải tiến hành
Quan điểm ủng hộ tự do hoá thương mại của các nước thành viên ASEAN tiếp tục được củng cố, khi họ quyết định thành lập khu vực mậu dịch
tự do ASEAN và ủng hộ triệt để tư tưởng chủ đạo của APEC về “Chủ nghĩa khu vực mở” Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã được ra đời tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ tư 1-1992 tại Singapore, đánh dấu một giai đoạn mới trong quá trình hợp tác kinh tế khu vực Theo “Tuyên bố Singapore” mậu dịch tự do trong nội bộ khu vực sẽ được thực hiện vào năm
2008 và sau đó được đẩy lên sớm hơn vào năm 2003 Mục tiêu cơ bản là
“tăng cường khả năng cạnh tranh của ASEAN như một cơ sở sản xuất quốc tế nhằm cung cấp hàng hoá ra thị trường thế giới”
Sự ra đời của AFTA là phù hợp với xu thế chung của nền kinh tế thế giới, phù hợp với diễn biến tình hình chính trị và an ninh trong khu vực, đáp ứng những đòi hỏi của liên kết kinh tế khu vực trong kỷ nguyên sau chiến tranh lạnh
Trang 20Mặc dù ASEAN là 1 khối kinh tế- thương mại khu vực liên kết 10 quốc gia không đồng nhất, nhưng vẫn được coi là khối thương mại thành công nhất trong những tổ chức liên kết kinh tế khu vực của các nước đang phát triển Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước thành viên đó chính là sự nỗ lực cải cách và hội nhập của từng nước, là kết quả của đường lối phát triển kinh tế đúng đắn của mỗi nước thành viên
Đông Nam Á là vùng tập trung nhiều tuyến đường giao thông quốc tế và ở
vị trí tiếp giáp, trung chuyển giữa Phương Đông và Phương Tây, với vị trí như vậy, ASEAN luôn thu hút sự chú ý của các nước lớn trong và ngoài khu vực Mong muốn được phát triển ổn định và độc lập, nhiều quốc gia Đông Nam Á từ lâu đã nhận thấy rằng, cần kết thành một khối tạo nên sự gần gũi về chính trị, kinh tế giữ được độc lập tự chủ trong quan hệ quốc tế Những năm gần đây các nhà lãnh đạo ASEAN càng khẳng định quyết tâm tăng cường hợp tác quốc tế để nâng cao sức mạnh của nền kinh tế quốc gia, khai thác tốt những tiềm năng của khu vực để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế một cách ổn định trong xu hướng toàn cầu
Kể từ khi thành lập, quá trình hội nhập kinh tế của các nước ASEAN được tiến hành trên 30 năm Những sự hợp tác mà ASEAN đã, đang và sẽ thực hiện không ngoài mục đích làm cho kinh tế quốc gia của từng thành viên phát triển, vấn đề việc làm và công bằng xã hội ở mỗi nước được cải thiện Hơn nữa trong điều kiện thị trường ngày một khó khăn, hợp tác kinh tế ASEAN còn nhằm mục tiêu tăng khả năng cạnh tranh của mỗi nước trên thị trường thế giới Qua tất cả các giai đoạn, tất cả những yếu tố: tình hình chính trị thế giới, những xu hướng biến động chung về mọi mặt trên toàn cầu, những sự cố chính trị của mỗi nước, tình hình phát triển của nền kinh tế thế giới đều có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế từng quốc gia cũng như sự hợp tác kinh tế của khu vực
Tuy thời điểm khởi đầu của AFTA về cơ bản là thuận lợi, song trong quá trình thực hiện, các nước thành viên ASEAN đã gặp phải không ít khó khăn Ban
Trang 21đầu chủ yếu là những khó khăn mang tính chất kỹ thuật, sau đó là những khó khăn do cuộc khủng hoảng tài chính khu vực xảy ra vào tháng 7/1997 gây ra Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực tuy đã gây ra hậu quả nặng nề cho nhiều nước như tốc độ tăng trưởng giảm sút, thất nghiệp gia tăng, nợ nần thêm chồng chất, làm tăng nguy cơ bất ổn về chính trị, nhưng đồng thời nó cũng mang lại cho chính các nước này những cơ hội để phát triển Cho đến nay, ở nhiều nước nền kinh tế đã đi vào ổn định, kim ngạch ngoại thương tính bằng đồng nội tệ đều có xu hướng tăng lên do giá của chúng đã giảm tương đối so với đồng đô la Mỹ Kết hợp với việc kiềm chế nhập khẩu, một số nước đã có thặng dư trong cán cân thanh toán vãng lai [34, 174; 35, 194] Sự phục hồi nhanh chóng của các nước này chủ yếu do sự quan tâm hơn đến việc điều chỉnh các chính sách liên quan, trong đó có chính sách tỷ giá hối đoái - vấn đề mà từ trước đến nay dường như bị lãng quên trong quá trình tự do hoá thương mại khu vực
Sau khủng hoảng tài chính- tiền tệ vào tháng 7 năm 1997, với tinh thần
quyết tâm theo đuổi chủ nghĩa tự do kinh tế và trách nhiệm đối với các cam
kết tại các tổ chức quốc tế, cụ thể APEC và WTO, tháng 12 năm 1998, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ sáu tổ chức ở Hà nội, các nước thành viên ASEAN đã khẳng định quyết tâm thực hiện chương trình về Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN bằng việc đẩy thời gian thực hiện AFTA từ năm 2008 lên sớm hơn vào năm 2003 Điều đó thể hiện quyết tâm phát triển liên kết kinh tế khu vực sâu hơn nữa, đẩy mạnh cơ cấu và hội nhập kinh tế nhằm đưa ASEAN trở lại với vị trí là một khu vực phát triển kinh tế năng động nhất trên thế giới, như trước khi xảy ra khủng hoảng Tại Hội nghị cấp cao ASEAN ở Bali (Inđônêxia)
vào 7/10/2003 đã quyết định xây dựng ASEAN thành một cộng đồng kinh tế
(AEC) vào năm 2020 Theo đó, ASEAN sẽ trở thành một thị trường duy nhất, có
cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự chu chuyển tự do của hàng hóa, dịch
vụ, đầu tư, tư bản và nhân công có tay nghề ASEAN cũng sẽ hợp tác và liên kết
Trang 22chặt chẽ hơn trong các lĩnh vực kinh tế chuyên ngành, công nghệ, khoa học, phát triển nguồn nhân lực, thông tin, thể chế… Như vậy, với tiến trình này, trong hai thập niên tới, ASEAN sẽ tiến gần hơn về phía một thị trường chung Nhưng ASEAN cũng không hoàn toàn là một khối kinh tế đóng theo kiểu EU, mà có khuynh hướng “mở” với nhiều hình thái liên kết kinh tế với đối tác bên ngoài Các khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), ASEAN – Ấn Độ (AIFTA), ASEAN – Nhật Bản (AJCEP/FTA), Đối tác kinh tế chặt chẽ ASEAN – CER, Hợp tác và liên kết kinh tế ASEAN – EU, ASEAN – Mỹ trong khuôn khổ Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại và đầu tư (TIFA), Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN – Mỹ và Khu vực mậu dịch tự do Đông Á (EAFTA) trong tương lai… sẽ tạo nên một mạng lưới dày đặc các liên kết có tâm là ASEAN
Trang 24BẢNG 2 MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ CƠ BẢN CỦA CÁC NƯỚC ASEAN
Tên nước
Dân số (triệu người)
1996
Diện tích (nghìn km2)
GDP (tỷ USD)
1996
GNP (xếp hạng theo WB)
GNP theo đầu người (USD) 1996
Tỷ lệ biết chữ ở người lớn (%)
Tăng trưởng GNP trung bình năm (%)
1995 – 1996
Tăng trưởng xuất khẩu trung bình hàng năm (%) 1965- 1996
Nguồn: WB (1998), Wold Development Indicators 1998
Trang 251.2.3 Những yêu cầu trong tiến trình phát triển của Trung Quốc
Cải cách của Trung Quốc bắt từ năm 1978 Tại Hội nghị Trung ương 3 khoá XI của Đảng cộng sản Trung Quốc trong khi quyết định chuyển trọng điểm công tác của Đảng và Nhà nước sang xây dựng kinh tế, đã có những quyết sách quan trọng đối với cải cách mở cửa Hay Cải cách mở cửa là quyết sách quan trọng quyết định vận mệnh của Trung Quốc{23} Đặng Tiểu Bình nói rằng
“Xem xét kinh nghiệm lịch sử, lý do chính yếu làm cho Trung Quốc chìm vào tình trạng đình trệ trong một thời gian dài là chính sách cô lập Kinh nghiệm chỉ
ra rằng, sự phát triển của Trung Quốc không thể tách rời khỏi thế giới” Chính sách mở cửa đã thúc đẩy sự giao lưu kinh tế, kỹ thuật và văn hoá giữa Trung Quốc
và thế giới, thúc đẩy quá trình nghiên cứu quản lý kinh tế vĩ mô trong một môi trường kinh tế mở, đẩy nhanh tiến bộ kỹ thuật và tích luỹ kiến thức, duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế thế giới Kết quả của cuộc cải cách đạt được là vô cùng to lớn, với chính sách này đã làm cho Trung Quốc, một quốc gia lớn đang phát triển, hiện thực hoá một cách thành công phát triển kinh tế thông qua việc mở cửa ra thế giới bên ngoài; Giúp Trung Quốc chuyển đổi một cách thành công từ một nền kinh tế kế hoạch hoá sang kinh tế thị trường; Chính sách này giúp Trung Quốc không chỉ vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á và sự suy giảm kinh
tế toàn cầu, mà còn thực sự thu hút nhiều FDI nhất thế giới trong năm 2002 và
2003 cùng với tổng kim ngạch thương mại vượt mức 600 tỷ USD và tăng GDP ở mức 8% [40]
Cải cách mở cửa đã thúc đẩy kinh tế – xã hội của Trung Quốc phát triển nhanh chóng Hơn 20 năm cải cách mở cửa là thời kỳ mà nền kinh tế – xã hội Trung Quốc phát triển nhanh nhất, nguồn lực của đất nước được tăng cường nhiều nhất, nhân dân được lợi nhiều nhất Nền kinh tế phát triển nhanh đã thu hẹp rất nhiều khoảng cách của Trung Quốc so với các nước phát triển Tính theo
tỷ giá hối đoái của Ngân hàng thế giới, tổng sản lượng kinh tế của Trung Quốc năm 1997 đứng thứ 7 trên thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Italia Sản lượng của rất nhiều sản phẩm công- nông nghiệp quan trọng của
Trang 26Trung Quốc đã đứng vào nhóm các sản phẩm hàng đầu thế giới
Có thể thấy những kết quả đạt được của Trung Quốc là vô cùng to lớn Từ
đó tạo thế và lực cho Trung Quốc tham gia sâu sắc hơn vào nền kinh tế thế giới Trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Trung Quốc nhận ra rằng cần phải tích cực tham gia vào quá trình này, đó là con đường duy nhất để Trung Quốc tiếp tục nhận được những lợi ích, tận dụng được thời cơ về dịch chuyển lớn trên phạm vi toàn cầu về vốn, kỹ thuật, ngành nghề do toàn cầu hóa đem lại, tiến hành chuyển đổi
cơ cấu nguồn lực thông qua các con đường như phát triển mậu dịch, sử dụng vốn nước ngoài… nhằm đẩy mạnh liên tục sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Ngược lại, Trung Quốc rút ra khỏi quá trình này thì sẽ không nhận được lợi ích
từ toàn cầu hóa kinh tế, mà có thể sẽ rơi vào cái vòng luẩn quẩn như trước khi
mở cửa, đó là: đóng cửa- lạc hậu- đóng cửa{11} Vì vậy, Trung Quốc hội nhập sâu sắc vào nền kinh tế thế giới là một tất yếu Bên cạnh đó, với vị thế là một quốc gia lớn Trung Quốc cũng đang muốn gia tăng ảnh hưởng của mình đối với các nước trong khu vực Điều này đã thúc đẩy sự liên kết mạnh mẽ giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực
Với những nỗ lực cải cách và hội nhập cùng với sự nỗ lực đàm phán đến tháng 10-2001, Trung Quốc chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Đây là một mốc quan trọng đánh dấu tiến trình mở cửa đối ngoại của Trung Quốc đã bước vào giai đoạn mới Việc gia nhập WTO là sự kiện có ý nghĩa nhất kể từ khi Trung Quốc bắt đầu những cuộc cải cách kinh tế Với tư cách thành viên WTO sẽ đảm bảo rằng, những nỗ lực cải cách theo hướng thị trường này sẽ tiếp tục tăng nhanh bằng việc mở cửa nền kinh tế cho những đối tác cạnh tranh trong và ngoài nước, hạn chế tối đa mọi sự thay đổi Nó sẽ giúp Trung Quốc thực hiện được mục tiêu tăng gấp đôi tổng sản phẩm trong nước (GDP) vào năm 2010 và trở thành một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới Với sự gia nhập WTO, Trung Quốc càng có điều kiện thuận lợi trong việc thúc đẩy hợp tác khu vực
Trang 27Một nước Trung Quốc phát triển sẽ có tác dụng kích thích cả khu vực, dẫn tới tăng mạnh về mặt thương mại và đóng vai trò thúc đẩy cải tổ kinh tế trên bình diện rộng lớn hơn Nhưng bên cạnh đó, Trung Quốc gia nhập WTO có thể sẽ thúc đẩy vị trí cạnh tranh vốn đã cao kinh khủng của nước này lên ngang với phần còn lại của khu vực Có thể khẳng định với việc gia nhập WTO, Trung Quốc đã tác động mạnh đến các nước trong khu vực theo cả hướng tích cực cũng như tiêu cực Việc Trung Quốc gia nhập WTO sẽ làm nước này có thêm nhiều láng giềng lẫn kẻ thù ở Châu Á Là một cường quốc đang lên, đương nhiên vai trò vượt trội của Trung Quốc cũng đồng nghĩa với những cản trở về mặt kinh tế đối với các nước láng giềng
Để khắc phục những điểm tiêu cực cũng như khai thác triệt để mối lợi do việc Trung Quốc gia nhập WTO, các nước trong khu vực đang bắt đầu có những biện pháp phản ứng Việc hình thành ACFTA cũng không nằm ngoài mục đích của các nước ASEAN và nó cũng là một sự bổ sung quan trọng cho các lợi thế của ASEAN và Trung Quốc mà trong đó sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên
1.2.4 Nhu cầu hợp tác kinh tế trong khu vực Đông Á
Ngày nay, Bắc Mỹ, Châu Âu và Đông Á đã trở thành ba trụ cột của nền kinh tế thế giới Nhưng trong đó Đông Á lại là khu vực duy nhất còn lại trên thế giới mà chưa có một khối kinh tế khu vực như EU hoặc NAFTA Mức độ hợp tác kinh tế ở Đông Á lại bị xếp vào loại thấp nhất so với EU và NAFTA Vì vậy, gần đây nhu cầu hợp tác khu vực Đông Á đã được quan tâm Nhu cầu này được bắt nguồn từ sự phát triển của chủ nghĩa khu vực, từ cuộc khủng hoảng tài chính
ở Đông Á và xu hướng tăng cường các mối quan hệ cá nhân tại khu vực Đông Á Hiện nay, Hiệp định mậu dịch tự do khu vực đã được ký kết rất nhiều giữa các nước trong khu vực, qua đó có thể thấy việc thành lập những khu vực mậu dịch
tự do ở qui mô khu vực được các nước coi như một chính sách thương mại mang tính chiến lược hơn là chính sách để đảm bảo an toàn trong trường hợp hệ thống thương mại toàn cầu không phát huy được tác dụng Sự tham gia tích cực vào khu vực mậu dịch tự do của các nước nhằm chuẩn bị bước vào chủ nghĩa khu
Trang 28vực, đồng thời tích luỹ kinh nghiệm về toàn cầu hoá thông qua hội nhập kinh tế Bên cạnh đó, khi khủng hoảng tài chính năm 1997 đã làm cho các nước Đông Á nhận thức ra sự cần thiết phải tăng cường hợp tác kinh tế trong khu vực
Để ngăn chặn việc khủng hoảng lan ra từ nước này qua nước khác, các nước Đông
Á đã cảm nhận được sự cần thiết phải tăng cường hợp tác trong khu vực hơn nữa Thêm nữa, việc phát triển những mối quan hệ cá nhân là một yếu tố quan trọng trong việc đẩy nhanh các cuộc thảo luận diễn ra gần đây về chủ nghĩa khu vực tại Đông Á Cùng với việc thảo luận về hợp tác kinh tế giữa Đông Á và Châu Âu trong khuôn khổ ASEM, các nước Đông Á cũng đang cân nhắc sự cần thiết phải củng cố lại vị thế của mình trong khu vực so với EU Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN +3 diễn ra vào năm 1997 khi Thủ Tướng Mohamet Mahathir của Malaysia mời các nhà lãnh đạo của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc tham dự với tư cách không chính thức vào lễ kỷ niệm 30 năm thành lập tổ chức ASEAN Việc khởi đầu này đã thúc đẩy nhanh các cuộc thảo luận về sự hợp tác và hợp nhất về kinh tế giữa các nước trong khu vực Đông Á Cả 3 nước Đông Bắc Á đang tỏ thái độ tích cực hơn đối với việc thành lập khu vực mậu dịch tự do Đông Á Trung Quốc đã đề xuất việc thành lập khu vực mậu dịch tự
do với ASEAN tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN + 3 vào tháng 11/2002 Liệu phải chăng Trung Quốc đang muốn thể hiện vai trò là người cầm đầu cho hội nhập kinh tế tại khu vực Đông Á này? Câu trả lời là ACFTA ra đời cũng không nằm ngoài nguyên nhân đó Bên cạnh đó, ACFTA còn phản ánh nhu cầu hợp tác kinh tế khu vực Đông Á và nó xuất phát từ lợi ích của cả hai phía là ASEAN và Trung Quốc
Trang 29tình chống đối trên khắp thế giới có thể tác động chuyển một ASEAN hướng ngoại thành ASEAN hướng nội Tuy nhiên, ASEAN không thể dễ dàng quay trở
lại một hiệp hội hướng nội vì: Thứ nhất, các nước thành viên đã hội nhập sâu
sắc vào nền kinh tế thế giới cả về mặt thị trường xuất khẩu lẫn FDI hay cả hai mặt này Nói cách khác mô hình tăng trưởng nhờ xuất khẩu đã làm cho ASEAN
phụ thuộc nhiều vào bên ngoài Thứ hai, các chiến lược hướng nội đòi hỏi phải
có thị trường nội địa đủ lớn để tạo ra cầu cho sản xuất Thị trường khu vực của ASEAN chưa hội nhập đầy đủ để có thể cho phép Hiệp hội đi theo hướng hướng nội Giải pháp thoả hiệp đối với ASEAN để giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường bên ngoài mà vẫn không hướng nội là tiến theo hướng khu vực mở có chọn lọc với Trung Quốc thông qua thành lập ACFTA
Một yếu tố nữa thúc đẩy bắt đầu thành lập ACFTA là nhu cầu của ASEAN muốn tạo dựng khuôn khổ hợp tác có thể kiềm chế ảnh hưởng tiềm năng của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với thị trường nội khối Dưới sự cạnh tranh quyết liệt của Trung Quốc, đặc biệt từ khi Trung Quốc là thành viên WTO, ASEAN phải tìm cách để biến quan hệ cạnh tranh tiềm tàng với Trung Quốc thành quan hệ hợp tác Ngay cả khi chưa phải là thành viên của WTO, Trung Quốc đã có lợi thế tuyệt đối so với ASEAN về hàng dệt may/quần áo, các ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều nhân công và hàng điện tử Các mặt hàng điện máy, các công cụ liên quan đến kính mắt/đồng hồ treo tường/đồng hồ đeo tay, phương tiện giao thông vận tải chiếm 70% kim ngạch nhập khẩu hàng hoá Trung Quốc của ASEAN Trong giai đoạn 1993 đến 1999, khối lượng nhập khẩu từ Trung Quốc vào ASEAN tăng nhanh chóng, với tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều lần
so với mức tăng của kim ngạch nhập khẩu các hàng hoá này từ các nước khác trên thế giới vào ASEAN Vì vậy, điều quan trọng là ASEAN phải tìm kiếm một khuôn khổ làm việc có thể giúp kiềm chế tác động tiêu cực đối với thị trường của
nó do việc Trung Quốc vào WTO mang lại ACFTA có thể là một khuôn khổ làm việc như vậy
Thông qua ACFTA, ASEAN có điều kiện thuận lợi đẩy mạnh xuất khẩu
Trang 30hàng hoá vào thị trường khổng lồ hơn 1,2 tỷ người tiêu dùng Trung Quốc
Đối với FDI, ASEAN đã không ngừng bị sức ép sao cho trở nên có thuận
lợi hơn từ phía các nhà đầu tư nước ngoài Do đó, đối với ASEAN, tác động nghiêm trọng nhất của việc Trung Quốc gia nhập WTO là nguy cơ giảm sút tỷ phần FDI Sau khi cuộc khủng hoảng nổ ra, luồng FDI vào ASEAN đã suy giảm nghiêm trọng Giá trị tuyệt đối của luồng FDI vào ASEAN giảm từ 32,5 tỷ năm
1997 xuống còn 13,8 tỷ năm 2000 Đối với Trung Quốc, các luồng FDI tăng gấp
10 lần từ mức 3,5 tỷ năm 1990 (chiếm 10% tổng số FDI vào các nước đang phát triển) lên 40,77 tỷ đôla Mỹ vào năm 2000 (chiếm 17% tổng FDI vào các nước đang phát triển) Xu hướng suy giảm của luồng FDI vào ASEAN về giá trị tương đối cũng như về giá trị tuyệt đối so với Trung Quốc dự kiến sẽ tiếp tục giảm trong tương lai Sự suy giảm này sẽ trở nên tồi tệ hơn khi viễn cảnh mà người ta
vẽ ra về các công ty Trung Quốc, một khi nền kinh tế Trung Quốc đã được củng
cố, sẽ bắt đầu đầu tư ra nước ngoài không tỏ ra khả thi cho lắm Một trong những
lý do để các công ty đầu tư ra nước ngoài là nhằm tránh những hàng rào thuế quan cao hoặc nhằm tận dụng những yếu tố đầu vào với giá thành thấp tại nước nhập khẩu ví dụ như công nhân, tài nguyên thiên nhiên, Xét cả hai lý do trên, ASEAN sẽ không phải là một điểm đầu tư có lãi đối với các nhà đầu tư Trung Quốc Với tư cách là thành viên của WTO, Trung Quốc sẽ được hưởng lợi từ mức thuế quan thấp của các nước ASEAN là thành viên của WTO Nền kinh tế Trung Quốc vẫn có lợi thế là có nhiều ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động có tay nghề thấp Do những lợi thế này, các công ty Trung Quốc có thể sẽ
ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực và khu vực kém phát triển trong nền kinh tế Trung Quốc hơn là đầu tư ra nước ngoài Đầu tư trong nước có thể sẽ còn trở nên hấp dẫn hơn một khi chính phủ Trung Quốc đưa ra các chính sách khuyến khích các công ty trong nước và nước ngoài đầu tư hoặc tái đầu tư vào những tỉnh kém phát triển của Trung Quốc
Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, quy mô của nền kinh tế Trung Quốc sẽ còn trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư ASEAN làm ăn tại Trung Quốc
Trang 31ASEAN đang và sẽ tiếp tục đầu tư thặng dư vào Trung Quốc Tuy việc thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc sẽ không trực tiếp giải quyết việc ASEAN ở thế bất lợi hơn Trung Quốc trong việc cạnh tranh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Việc suy giảm đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ASEAN là một trong những nguyên nhân thúc đẩy việc thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN –Trung Quốc Khu vực mậu dịch tự do này sẽ góp phần giảm đi những rủi ro và những bất trắc, do đó góp phần thu hút thêm nhiều nhà đầu tư nước ngoài cho cả hai bên
ACFTA là khuôn khổ hợp tác để Trung Quốc điều tiết cạnh tranh của ASEAN Trong các thập kỷ qua, những ưu đãi thương mại và tự do hoá đầu tư ở một số lĩnh vực và khu vực đã làm cho nền kinh tế trong nước Trung Quốc bị phân mảnh và đứt đoạn Trong khi các vùng ven biển đang chuyển hướng sang các ngành công nghiệp dùng nhiều vốn con người và công nghệ thì các vùng phía tây vẫn rất phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và các ngành công nghiệp
sử dụng nhiều lao động không tay nghề Sự phát triển không đồng đều này có thể
là nguyên nhân tiềm tàng cho các rối loạn về chính trị và xã hội Trong giai đoạn tới của cải cách kinh tế của Trung Quốc có thể sẽ tập trung vào hội nhập thị trường trong nước và san bằng sự chênh lệch kinh tế xã hội bên trong Trung Quốc nhằm dập tắt các nguyên nhân tiềm tàng của sự bất ổn chính trị và xã hội
Do sự gần gũi về địa lý và sự tương đồng về lợi thế cạnh tranh, đặc biệt trong các sản phẩm sử dụng lao động không tay nghề, cạnh tranh từ phía ASEAN có thể dẫn đến làm tồi tệ thêm sự chênh lệch kinh tế xã hội giữa các vùng địa lý của Trung Quốc Vấn đề này có thể dẫn đến việc sử dụng các biện pháp hạn chế đối với việc tăng nhập khẩu từ ASEAN Tuy nhiên, Trung Quốc chịu sự ràng buộc của các luật lệ của WTO và do đó không dễ dàng áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại đơn phương nào đối với các hàng hoá nhập khẩu từ ASEAN Bởi vậy, ACFTA có thể tạo ra một khuôn khổ cho phép Trung Quốc kiểm soát hàng hoá nhập khẩu của ASEAN vào Trung Quốc ngoài những luật lệ của WTO ACFTA với tư cách là một giải pháp cho việc bất ổn định của thị trường
Trang 32xuất khẩu của ASEAN và Trung Quốc ASEAN và Trung Quốc sẽ cạnh tranh với nhau tại thị trường của các nước thứ ba Thị trường xuất khẩu chính của ASEAN và Trung Quốc cũng như cấu thành xuất khẩu của ASEAN và Trung Quốc sang các thị trường này hầu như giống nhau Hai bên cùng xuất khẩu hàng dệt may, quần áo, máy móc, hàng điện tử sang thị trường Mỹ, Nhật Bản và EU Nhưng hiện nay cạnh tranh tại thị trường nước thứ ba chưa gay gắt bằng cạnh tranh tại thị trường nội địa của cả ASEAN và Trung Quốc Tại thị trường
Mỹ, trong thập kỷ qua, Trung Quốc đã được hưởng quy chế tối huệ quốc, mà sau này đã được đổi tên thành quy chế thương mại bình thường Do đó, hàng xuất khẩu của ASEAN, đặc biệt là hàng xuất khẩu của các nước ASEAN cũ đã phải cạnh tranh với hàng Trung Quốc tại thị trường Mỹ Cho dù Trung Quốc gia nhập WTO, thị phần nhập khẩu của ASEAN và Trung Quốc vào thị trường Mỹ sẽ không bị thay đổi một cách đáng kể Đối với thị trường EU, mặc dù Trung Quốc
là thành viên của WTO và được hưởng lợi từ quá trình cắt giảm thuế quan đối với hàng dệt may theo quy định tại Hiệp định về hàng dệt may của WTO, nhưng
do việc thực thi Hiệp định này bị trì hoãn, do đó cạnh tranh của Trung Quốc tại thị trường EU sẽ không tăng lên đáng kể trong thời gian ngắn và hàng dệt may của ASEAN xuất khẩu qua EU sẽ tiếp tục được đảm bảo nhờ những thoả thuận
về hạn ngạch dệt may giữa hai bên
Yếu tố khác thúc đẩy ASEAN và Trung Quốc tiến tới thành lập ACFTA là việc tìm kiếm những thị trường thay thế cho những thị trường đang ngày càng bị thu hẹp lại tại Mỹ, Nhật Bản, EU Một điều mà ngày càng hiển nhiên là việc phụ thuộc quá nhiều vào thị trường của nước thứ ba đang tỏ ra phản tác dụng đối với
cả ASEAN lẫn Trung Quốc Cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế 1997 cùng
sự suy giảm của nền kinh tế thế giới mới đây đã chỉ ra rằng đây là lúc Trung Quốc và ASEAN phải đa dạng hoá thị trường xuất khẩu của mình, đặc biệt là nhằm tối ưu hoá các tiềm năng của thị trường nội địa của cả hai bên Đứng trước những bất lợi mà thị trường xuất khẩu truyền thống tại các nước thứ ba đang mang lại cho ASEAN và Trung Quốc thì việc thành lập khu vực mậu dịch tự do
Trang 33ASEAN và Trung Quốc là cần thiết
Về chính trị
Mong muốn của Trung Quốc gìn giữ sự ổn định khu vực
Có rất nhiều nhà kinh tế đã đặt câu hỏi: tại sao ý tưởng thành lập ACFTA lại được bắt đầu từ phía Trung Quốc khi mà thậm chí không có ACFTA, với tư cách là một thành viên của WTO, Trung Quốc đã có thể có được khả năng thâm nhập thị trường đối với các thị trường chính của ASEAN trừ thị trường của các nước thành viên mới Đó là, việc Trung Quốc có thể và sẵn sàng nhận vai trò của một cường quốc kinh tế trong khu vực Trung Quốc có ý định gây ảnh hưởng trong khu vực bằng cách lấp đầy chỗ trống của một nước nắm quyền lãnh đạo trong khu vực Ý định này được hỗ trợ của sức mạnh kinh tế đã tích luỹ trong suốt hai thập kỷ qua Thêm nữa, Trung Quốc lo ngại ASEAN ở ngã ba đường có thể dễ dàng bị lôi kéo Xu hướng ASEAN chuyển từ hiệp hội hướng ngoại sang hiệp hội hướng nội là rất có thể do các điều kiện kinh tế chính trị bất lợi trong khu vực và trên thế giới Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 đã ảnh hưởng tới vai trò chính trị và xoá đi các thành tựu kinh tế của ASEAN Những nhà quan sát bi quan đang bắt đầu tự hỏi liệu ASEAN vẫn còn cần thiết đứng trên phương diện chính trị và kinh tế Đã có cuộc khủng hoảng niềm tin trầm trọng đối với ASEAN Khả năng Trung Quốc gia nhập WTO đến khi khu vực này vừa mới phục hồi vào năm 2000 Do sự gần gũi về địa lý, tính tương đồng về lợi thế so sánh và các quan hệ lịch sử với Trung Quốc, khả năng Trung Quốc gia nhập WTO gây ra các mối sợ hãi rộng khắp và nỗi lo lắng băn khoăn ở Đông Nam Á
về sự canh tranh ác liệt với Trung Quốc về FDI và thị phần, những cái có ý nghĩa sống còn đối với quá trình hồi phục của ASEAN Các mối sợ hãi và lo lắng này có thể dễ dàng và nhanh chóng chuyển thành các biện pháp đối phó có thể bất lợi cho Trung Quốc trong việc mở rộng ảnh hưởng trong vùng Đông Nam
Á
Một ASEAN hướng nội có thể sẽ thiệt hại cho lợi ích chính trị của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á trong ngắn hạn Nhưng trong dài hạn, tác động
Trang 34không lợi này sẽ rất có thể chuyển sang lĩnh vực kinh tế Khi mà các nước Đông Nam Á phục hồi từ cuộc khủng hoảng và trở nên hội nhập hoàn toàn Trung Quốc sẽ có thể mất đi thị phần trong thị trường thống nhất này nếu nó không ủng
hộ thiết lập các mối quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn với hiệp hội này ngày hôm nay Trong bối cảnh này, việc thành lập ACFTA đã được Trung Quốc khuyến cáo nhằm làm dịu mối lo lắng khắp nơi trong khu vực Đông Nam Á rằng tự do hoá thương mại với Trung Quốc sẽ là trò chơi có tổng bằng không đối với ASEAN Việc thành lập ACFTA là một quyết định đúng lúc của Trung Quốc khi
mà dường như ASEAN không còn nhiều sự lựa chọn ngoài việc đồng ý
Mong muốn về chính trị của ASEAN là có một khu vực hòa bình, ổn định
và hợp tác cùng có lợi Bên cạnh đó, những mối quan hệ chặt chẽ giữa ASEAN
và Trung Quốc còn có thể làm giảm áp lực mà một số nước ASEAN đang cảm nhận từ việc mở rộng cuộc chiến chống khủng bố vào các nước ASEAN Đồng thời, ASEAN muốn ngăn ngừa nguy cơ bành trướng quân sự của Trung Quốc đối với khu vực này và lôi kéo Trung Quốc vào hợp tác kinh tế là một cách để
ASEAN ngăn chặn sự bành trướng này
Ngoài ra, ACFTA ra đời còn phản ánh xu thế hội nhập khu vực của các nước Đông Á Theo các nhà kinh tế Nhật Bản, sau khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á xảy ra, những người Đông Á nhận ra rằng họ đã tự chăm sóc mình trong nỗi khốn khó của mình và không phụ thuộc vào các thế lực bên ngoài Vậy làm thế nào để họ có thể vạch ra một cơ chế phối hợp chính sách để chống lại khủng hoảng? Làm thế nào để nuôi dưỡng môi trường kinh tế phù hợp với sự năng động của Châu Á Câu trả lời một cách tự nhiên đối với họ chính là bước vào địa hạt của chủ nghĩa khu vực Năm 1998, Hàn Quốc và Nhật Bản đã chính thức tuyên bố rằng họ sẽ từ bỏ giải pháp bấy lâu là chỉ tham gia vào GATT/WTO và theo đuổi giải pháp nhiều tầng nấc bao gồm việc tham gia vào chủ nghĩa khu vực và đa phương trong chính sách thương mại quốc tế của mình Mục tiêu cuối cùng của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đông Nam Á
đó chính là sự hội nhập toàn khu vực Đông Á Với đầu tầu tích cực về phía
Trang 35Trung Quốc, các lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã nhanh chóng tuyên bố thành lập ACFTA Sáng kiến ACFTA được xem như là bằng chứng mạnh mẽ rằng Đông Á sẽ bước vào kỉ nguyên của chủ nghĩa hội nhập
Trang 36CHƯƠNG II ACFTA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÁC
NƯỚC THÀNH VIÊN ASEAN VÀ TRUNG QUỐC
2.1 HIỆP ĐỊNH KHUNG ACFTA VÀ NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA NÓ
2.1.1 Diễn tiến ra đời của Hiệp định khung ACFTA
Quan hệ ASEAN – Trung Quốc bắt đầu từ năm 1991, khi Trung Quốc được mời tham dự hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 24 tại Cuala Lămpơ với tư cách là khách mời của nước chủ nhà Malaixia, đánh dấu sự mở đầu quan
hệ hiệp thương ASEAN-Trung Quốc Đến tháng 3-1996, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc gửi thư cho chủ tịch uỷ ban Thường trực ASEAN
đề nghị nâng quan hệ tư vấn ASEAN-Trung Quốc lên thành quan hệ đối thoại đầy đủ Không chỉ dừng lại ở đó, quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc ngày càng được mở rộng và hợp tác sâu rộng trên nhiều lĩnh vực
Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN- Trung Quốc 6/11/2001 tại Brunây, các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã phê chuẩn đề nghị việc một Hiệp định hợp tác kinh tế khung và thiết lập một khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc trong 10 năm Trong đó các nhà lãnh đạo cũng xác định năm lĩnh vực ưu tiên để hợp tác trong tương lai là Nông nghiệp, Công nghệ thông tin viễn thông, đầu tư tương hỗ và phát triển Lưu vực Mê-Kông
Về lĩnh vực nông nghiệp: Theo Hiệp định khung Trung Quốc- AMAF, các
Bộ trưởng Nông nghiệp của các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc đã thông qua chương trình nghị sự hợp tác giữa hai bên Một bản ghi nhớ dự thảo
về hợp tác nuôi trồng thuỷ sản trung và dài hạn giữa ASEAN và Trung Quốc đã được xây dựng và thảo luận và được Tổng Thư ký ASEAN thay mặt cho các nước thành viên ASEAN và Bộ trưởng Nông nghiệp Trung Quốc kí kết vào tháng 10 năm 2002 Bản ghi nhớ dự kiến sẽ thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc trong lĩnh vực nông nghiệp
Phát triển nguồn nhân lực: Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, tạo nền
Trang 37tảng cho hợp tác chung giữa ASEAN và Trung Quốc trong các lĩnh vực khác Phát triển nguồn nhân lực sẽ đem lại sự hiểu biết sâu sắc hơn cho ASEAN và Trung Quốc thông qua trao đổi liên kết giữa các chuyên gia, quan chức và các lĩnh vực hợp tác này
Công nghệ thông tin và liên lạc (ITC): Trong nền kinh tế tri thức, ITC đóng
vai trò chủ đạo nhằm đảm bảo sản lượng cao giúp thúc đẩy sự tăng trưởng kinh
tế ASEAN và Trung Quốc cho rằng hợp tác trong lĩnh vực ITC cần được coi
là một công cụ để rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế Một số dự án đã được xây dựng nhằm thúc đẩy trao đổi thông tin về xây dựng viễn thông, luật
lệ và qui định mạng, an ninh thông tin, phát triển nhân lực và công nghệ thông tin tạo ra một môi trường chính sách thuận lợi cho việc phát triển công nghệ thông tin liên lạc
Phát triển tiểu vùng Mêkông: ASEAN và Trung Quốc đang hợp tác chặt
chẽ trong các chương trình và dự án phát triển tiểu vùng Mêkông trong các khuôn khổ khác nhau như Tiểu vùng Mêkông mở rộng (GMS), Hợp tác Phát triển Lưu vực Mêkông ASEAN và uỷ Hội sông Mêkông
Các động thái kể trên trong hợp tác ASEAN – Trung Quốc đã đặt nền tảng vững chắc cho sự phát triển một khu vực thương mại tự do giữa ASEAN và Trung Quốc
Ý tưởng về việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do giữa ASEAN và Trung Quốc xuất phát từ đề xuất của Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ tại Hội nghị thượng đỉnh không chính thức ASEAN lần thứ 4 tổ chức vào 11/2000 Trong năm này, Trung Quốc còn thoả thuận sẽ tăng cường hợp tác và đưa ra những hạng mục hợp tác cụ thể như khai thác sông Mêkông, xây dựng tuyến đường sắt xuyên á
Đến năm 2001, những thoả thuận này giữa Trung Quốc và ASEAN đã có những bước tiến mới Trung Quốc ủng hộ nỗ lực của ASEAN thiết lập khu vực không có vũ khí hạt nhân, xem xét ký kết Hiệp định hợp tác hữu nghị Đông Nam
Á, cam kết đầu tư 5 triệu USD để nạo vét sông Mêkông và tài trợ 1/3 chi phí xây dựng tuyến đường cao tốc Băng Kốc- Côn Minh Đặc biệt, Hội nghị giữa những nhà lãnh đạo ASEAN- Trung Quốc tổ chức vào ngày 6/11/2001 tại Banda Seri
Trang 38Begawan- Brunei, các nhà lãnh đạo Trung Quốc và 10 nước ASEAN đã đi đến nhất trí về việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc trong vòng 10 năm, đồng thời chính thức uỷ quyền cho các bộ trưởng và quan chức của hai bên đàm phán vấn đề này
Từ sau khi đạt được thoả thuận thành lập ACFTA đến nay, hai bên đã nỗ lực xúc tiến các công tác thúc đẩy tiến trình ra đời của ACFTA Các tổ chức như
Uỷ ban đàm phán thương mại ASEAN- Trung Quốc (TNC) và Hội đồng thương mại ASEAN –Trung Quốc đã được thành lập Đồng thời các cuộc gặp giữa các nhà lãnh đạo hai bên để đàm phán về phát triển hợp tác kinh tế thương mại đã diễn
ra liên tục trong năm qua như: Cuộc gặp giữa các quan chức kinh tế cao cấp ASEAN –Trung Quốc (SEOM) lần thứ 3 hồi tháng 5/2002 tại Bắc Kinh, Hội thảo quốc tế về hợp tác trong thương mại, đầu tư và phát triển ASEAN –Trung Quốc diễn ra vào tháng 6 tại Côn Minh Trung Quốc, Diễn đàn về hợp tác ASEAN – Trung Quốc vào tháng 8 tại Kuala Lumpur- Malayxia, Hội nghị bộ trưởng kinh tế ASEAN – Trung Quốc lần thứ nhất vào tháng 9 tại Brunei, cuộc gặp giữa các quan chức kinh tế cấp cao của hai bên vào tháng 10 tại Singapore Bên cạnh đó, còn có rất nhiều các cuộc viếng thăm của các nhà lãnh đạo cũng như của các nhóm khảo sát của hai bên đến Trung Quốc và ASEAN để tìm hiểu thị trường và tìm kiếm cơ hội
Với những nỗ lực của hai bên qua một năm, ngày 4/11/2002, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 8 diễn ra tại Phnom Penh- Cămpuchia, Trung Quốc
và 10 nước ASEAN đã ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa Trung Quốc và ASEAN Sự kiện này có ý nghĩa rất quan trọng, nó chính thức đánh dấu sự bắt đầu của quá trình thành lập ACFTA- khu vực mậu dịch tự do lớn nhất trên thế giới với gần 1,8 tỷ dân và cũng là khu vực mậu dịch tự do lớn nhất của các nước đang phát triển Đây là lần đầu tiên Trung Quốc cam kết thành lập khu vực mậu dịch tự do với các nước khác trên thế giới, đặc biệt lại là với một tổ chức khu vực của 10 nước ASEAN ACFTA được coi là một mốc lịch sử quan trọng trong quan hệ kinh tế, chính trị Trung Quốc- ASEAN, mở ra thời kỳ phát triển mới cho quan hệ hợp tác giữa hai bên trên các lĩnh vực, trước hết là
Trang 39trên lĩnh vực kinh tế- thương mại
2.1.2 Nội dung cơ bản của Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN- Trung Quốc
Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc
ký ngày 4/11/2002 gồm tổng cộng 16 điều và 4 phụ lục kèm theo Nội dung
chính của hiệp định được chia làm 2 phần: Phần 1 từ điều 3 đến điều 6 đề cập đến thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư và EHP; Phần 2 là điều 7
đề cập đến hợp tác kinh tế trên các lĩnh vực khác Còn lại từ điều 8 đến điều 16 gồm các qui định khung về thời gian của các chương trình hợp tác, về chế độ đãi ngộ MFN, các ngoại lệ chung, cơ chế giải quyết tranh chấp, kế hoạch đàm phán
và một số điều khoản khác liên quan đến sự sửa đổi, hiệu lực của Hiệp định
Hiệp định này sẽ chính thức có hiệu lực vào 1/7/2003 Các nội dung chính của Hiệp định như sau:
Phần 1- Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA )
Phần này có 4 điều qui định những nguyên tắc cơ bản định hướng cho việc đàm phán thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc bao gồm các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và đầu tư (các điều 3,4,5) Đặc biệt hai bên sẽ thực hiện EHP nhằm mang lại ngay một số lợi ích và tạo bước đột phá ban đầu trong quá trình thành lập ACFTA (điều 6)
Về thương mại hàng hoá (điều 3):
Hai bên sẽ tiến hành đàm phán để thiết lập khu vực mậu dịch tự do đối với hàng hoá vào năm 2010 với 6 nước thành viên cũ của ASEAN (ASEAN-6); vào năm 2015 đối với 4 nước thành viên mới của ASEAN Các phiên đàm phán bắt đầu từ năm 2003 và kết thúc trước 30 tháng 6 năm 2003 Việc đàm phán cắt giảm thuế quan sẽ được định hướng bởi các nguyên tắc chính sau:
- Các mặt hàng là đối tượng cắt giảm thuế quan được chia thành hai danh mục chủ yếu: Danh mục thông thường và danh mục nhạy cảm
- Đối với hàng hoá thuộc danh mục thông thường, ASEAN –6 và Trung Quốc sẽ cắt giảm và loại bỏ thuế quan theo lộ trình từ ngày 01 tháng 01 năm 2005
Trang 40đến 2010 Đối với bốn nước thành viên mới của ASEAN, lộ trình cắt giảm thuế quan sẽ dài hơn 5 năm, bước đầu từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 và kết thúc vào năm 2015 Cách thức cắt giảm thuế quan phụ thuộc vào kết quả các phiên đàm phán tiếp theo
- Đối với hàng hoá thuộc danh mục nhạy cảm, sẽ có cơ chế cắt giảm thuế quan linh hoạt hơn, với thời hạn kết thúc, thuế suất cuối cùng và số lượng giới hạn mặt hàng sẽ được đàm phán sau
- Các bên có quyền áp dụng các biện pháp để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo
vệ giá trị nghệ thuật, lịch sử và khảo cổ, bảo vệ đạo đức xã hội, sức khoẻ và cuộc sống của con người và động thực vật, phù hợp với điều XX của Hiệp định GATT
Ngoài ra, Hiệp định khung cũng xác định thêm những vấn đề sẽ tiếp tục đàm phán bao gồm:
- Các qui tắc chi tiết điều chỉnh việc cắt giảm thuế quan, gồm cả quy tắc có đi có lại;
- Quy tắc xuất xứ hàng hoá;
- Quy tắc xử lý đối với hạn ngạch thuế quan;
- Sửa đổi cam kết;
- Các biện pháp phi thuế quan;
- Các qui tắc điều chỉnh các biện pháp tự vệ, trợ cấp và chống trợ cấp; chống bán phá giá;
- Các biện pháp tạo thuận lợi và thúc đẩy bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
có hiệu quả
Về thương mại dịch vụ
Do vấn đề tự do hoá thương mại dịch vụ rất phức tạp, cần có thời gian để xem xét và đàm phán, Hiệp định khung chỉ đưa ra phương hướng chung nhất, trong đó qui định các cuộc đàm phán sẽ tập trung vào 3 vấn đề: xoá bỏ dần sự phân biệt giữa các bên trong thương mại hàng hoá, mở rộng phạm vi tự do hoá thương mại dịch vụ theo GATS (Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO), tăng cường hợp tác trong dịch vụ giữa các bên để nâng cao hiệu quả và