KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU RA THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI TRONG ĐÓ CÓ THỊ TRƯỜNG HOA KỲ 25 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MỘT SỐ MẶT HÀNG CHỦ LỰC CỦA V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA KINH TẾ
-*&* -
NGUYỄN TIẾN SƠN
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI – 09/2004
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA KINH TẾ
-*&* -
NGUYỄN TIẾN SƠN
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI – 09/2004
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
-*&* -
NGUYỄN TIẾN SƠN
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị XHCN
Mã số: 50201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Chu Văn Cấp
HÀ NỘI - 09/2004
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀO THỊ TRƯỜNG HOA
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU RA THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI (TRONG ĐÓ CÓ THỊ TRƯỜNG HOA KỲ)
25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MỘT SỐ MẶT HÀNG CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HOA
2.1 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG
2.1.1 Trước khi Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MỘT SỐ MẶT
Trang 52.2.3 Giày dép và phụ kiện giày dép 56
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH
XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HOA
3.1 NHỮNG DỰ BÁO LIÊN QUAN ĐẾN ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
3.1.2 Những thuận lợi (cơ hội) và khó khăn (thách thức) đối với việc
xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong thời gian tới 70
3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ bắt đầu phát triển từ sau khi Hoa
Kỳ bỏ chính sách cấm vận đối với nước ta và cho đến hiện nay, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu quan trọng thứ 6 của Việt Nam Đặc biệt là từ sau khi Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết và có hiệu lực vào ngày 10/12/2001,
là một bước đột phá và cơ hội lớn cho hoạt động xuất khẩu Việt Nam, cũng như những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh và mở rộng quan hệ thương mại giữa hai quốc gia Do đó, xuất khẩu sang Hoa Kỳ của Việt Nam tăng lên tới 827,4 triệu USD trong năm 2000, tăng 37,63% so với mức 601,9 triệu USD của năm 1999 và đến năm 2002, năm đầu tiên sau Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, kim ngạch xuất khẩu vào Hoa Kỳ tăng hơn gấp đôi (128% trong năm 2002) so với năm 2001 [11,108], [6,47]
Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam hiện nay vào thị trường Hoa Kỳ là hàng dệt may, hải sản, cà phê, hạt tiêu, giày dép, sản phẩm gỗ, thực phẩm chế biến Tuy nhiên, quy mô và kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ còn rất nhỏ, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu hạn chế về chủng loại, sức cạnh tranh kém, bị áp đặt, chèn ép, Trong thời gian tới, cùng với lộ trình thực hiện AFTA và sẽ trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đòi hỏi Việt Nam phải có những chính sách ngoại thương phù hợp và hữu hiệu để tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài, đặc biệt là đối với thị trường Hoa Kỳ, một thị trường có tiềm năng lớn, xếp vào hàng đầu thế giới về nhập khẩu hàng hoá Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong giai đoạn nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là hết sức cần thiết, cấp bách,
có ý nghĩa lý luận thực tiễn quan trọng
Trang 72 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong thời gian qua có nhiều công trình đã công bố liên quan đến hướng nghiên cứu đề tài Trong đó, có một số công trình nổi bật là:
- TS Lê Thị Anh Vân (2003), “Đổi mới chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Nxb Lao động, 4/2003
- Nguyễn Hữu Khải, “Các giải pháp đẩy mạnh và khuyến khích sản xuất
và xuất khẩu một số sản phẩm cây công nghiệp của Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường đại học ngoại thương, 4/2001
- PGS.TS Hoàng Đức Thân “Chính sách thương mại trong điều kiện hội nhập”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001
- GS.TS Bùi Xuân Lưu và Ths Phạm Thị Hồng Yến, “Chính sách bảo hộ nông nghiệp của Mỹ”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 4/2003
- TS Bùi Ngọc Sơn, “Một số biện pháp để thâm nhập thành công vào thị trường Mỹ”, Tạp chí kinh tế đối ngoại, số 4/2003
- Ths Nguyễn Văn Hồng, “Một số giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược xuất khẩu của doanh nghiệp”, Tạp chí kinh tế đối ngoại, số 4/2003
- Nguyễn Thị Hường, “Chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam trong xu thế tự do hoá thương mại”, Luận văn TS kinh tế, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 4/2003
- Đề tài “Phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ”, mã số: 78-060-Trung tâm tư vấn và đào tạo kinh tế thương mại
Trang 897 Dự án STAR Việt nam và Viện Quản lý kinh tế Trung ương "Đánh giá tác động kinh tế của hiệp định thương mại song phương Việt nam – Hoa Kỳ", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 6/2003
- GS.TS Võ Thanh Thu, Chiến lược thâm nhập thị trường Mỹ, Nxb thống
kê, 5/2001
Các công trình trên đã tiếp cận dưới những gốc độ khác nhau cả về mặt lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam, như: nghiên cứu chính sách xuất nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực; Chính sách xuất nhập khẩu một số mặt hàng và các công cụ của chính sách ngoại thương, một số chuyên đề của Bộ thương mại về biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, Tuy nhiên, còn ít công trình nghiên cứu một cách toàn diện về hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa
Kỳ dưới góc độ kinh tế chính trị Vì thế, đề tài luận văn này không trùng lặp với các luận văn, các công trình khoa học đã công bố và vẫn cần thiết, có tính thời sự cấp bách
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu về thị trường, hệ thống luật pháp và chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ; Kết hợp giữa kinh nghiệm thực tiễn đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của một số quốc gia (Châu Á) Luận văn cố gắng làm rõ thực trạng xuất khẩu một số mặt hàng của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ, trên cơ sở đó đề xuất một số định hướng và các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong thời gian tới
Trang 94 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ Là đề tài thuộc chuyên ngành kinh tế chính trị, do đó luận văn chú
ý tới các vấn đề chung có tính chất định hướng ở tầm vĩ mô Chẳng hạn như:
- Nghiên cứu các cơ chế chính sách ảnh hướng tới khả năng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ Những điều kiện thuận lợi khó khăn, đối thủ cạnh tranh của Việt Nam khi xâm nhập thị trường Hoa Kỳ
Thời gian nghiên cứu là từ 1995 đến nay Các số liệu thống kê lấy đến hết năm 2003
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp cơ bản trong việc nghiên cứu các lĩnh vực khoa học – xã hội nói chung, cũng như kinh tế chính trị nói riêng, đó là: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trừu tượng khoa học Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác, như: phân tích kinh tế, tổng hợp thống kê nhằm minh hoạ cho các luận điểm
6 GIÁ TRỊ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng góp phần nhỏ cho việc tham khảo, nghiên cứu hoạch định chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam và có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy môn khoa học chuyên ngành
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
CHƯƠNG 1: Xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ; Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn
Trang 10CHƯƠNG 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị
trường Hoa Kỳ thời kỳ đến 2003 và những vấn đề đặt ra
CHƯƠNG 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ thời kỳ đến 2010
Trang 11CHƯƠNG 1 XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KỲ; MỘT SỐ VẤN
ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
Nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ và trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh
tế Do đó, “mở cửa”, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, khu vực và việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh rằng, không có quốc gia nào có thể phát triển nhanh nếu thực hiện chính sách “đóng cửa”, tự cấp, tự túc Ngược lại, những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đều là những nước biết dựa vào phát triển kinh tế đối ngoại để thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển, biết dựa vào những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ để hiện đại hoá sản xuất, biết khai thác các nguồn lực bên ngoài để phát huy các nguồn lực trong nước
“Mở cửa”, hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực thì ngoại thương được coi là
“mũi nhọn” Ngoại thương bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá hữu hình
và vô hình, gia công, tạm nhập – tái xuất, tạm xuất tái nhập, xuất khẩu tại chỗ (bán hàng thu ngoại tệ trong nước)…Trong đó, xuất khẩu là hướng ưu tiên và là một trọng điểm của hoạt động ngoại thương các nước nói chung và nước ta nói riêng, bởi nó liên quan đến phương thức xâm nhập thị trường Phương thức xâm nhập thị trường là một sự sắp xếp có tổ chức cần thiết cho sự xâm nhập thị trường của sản phẩm, kỹ thuật, nguồn vốn, con người của một doanh nghiệp vào một
Trang 12quốc gia hay một thị trường nước ngoài Hình thức đơn giản và dễ dàng đáp ứng nhu cầu của thị trường nước ngoài là xuất khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu có tính đặc thù là hoạt động ở thị trường nước ngoài, khách hàng phần lớn là các đối thủ có kinh nghiệm dày dạn trong hoạt động thương mại quốc tế, có tiềm lực kinh tế mạnh, có khả năng cạnh tranh cao…Vì thế, hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu là khó khăn phức tạp đòi hỏi phải có tiềm lực kinh tế mạnh, có khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường trong và ngoài nước nhanh nhạy, chính xác, có đội ngũ cán bộ tinh thông
về nghiệp vụ, ngoại ngữ, về hệ thống luật pháp, thông lệ thương mại quốc tế và có lập trường chính trị vững vàng thì mới đảm bảo cho hoạt động xuất nhập khẩu chủ động, hiệu quả cao, tạo động lực cho sự tăng trưởng kinh tế quốc dân
Vai trò của ngoại thương nói chung, xuất khẩu nói riêng đã được khẳng định cả về mặt lý luận và thực tiễn, đó là một trong những yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế và do đó góp phần quyết định sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Xuất khẩu làm cho các doanh nghiệp phải trải qua những thử thách gay go trong cạnh tranh trên thị trường thế giới Trong quá trình đó, các doanh nghiệp không những cố gắng cải tiến, nâng cao chất lượng hàng hoá, phải giảm chi phí sản xuất, mà còn có những cơ hội tiếp xúc với những công nghệ mới và bí quyết kinh doanh, do vậy có thể nâng cao được trình độ công nghệ sản xuất, quản lý và tiếp thị
Xuất khẩu cũng đã góp phần vào giải quyết những vấn đề cấp bách của xã hội như: tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với sự biến đổi của thị trường thế giới
Trang 13Tất cả những đóng góp trên đây của hoạt động xuất khẩu đã góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam và tạo dựng những cơ sở cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh
1.2 XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
1.2.1 Thị trường Hoa Kỳ
1.2.1.1 Vài nét về kinh tế Hoa Kỳ
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có diện tích 9.364.000 km2 Tính đến tháng 07/
2001, dân số Hoa Kỳ khoảng hơn 278 triệu người Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là 9.963 ngìn tỷ USD, GDP/người của Hoa Kỳ năm 2000 là 33.900 USD [30]
Hoa Kỳ, một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới, quốc gia dẫn đầu công nghiệp thế giới về các phân ngành đa dạng và áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất như: hoá dầu, luyện kim, ô tô, thiết bị động cơ, hàng không, vũ trụ, viễn thông, hoá chất điện tử, chế biến thực phẩm, hàng tiêu dùng, khai khoáng và
gỗ Năm 1999, trong cơ cấu nền kinh tế Hoa Kỳ, nông nghiệp chiếm 2%, công nghiệp: 18%, dịch vụ: 80% Hoa Kỳ chính là nước có lĩnh vực phát triển dịch vụ cao nhất thế giới [30]
Giai đoạn 1994 – 1999 là thời kỳ Hoa Kỳ đạt tăng trưởng kinh tế cao, mức lạm phát thấp và tỷ lệ thất nghiệp dưới 5% Các công ty lớn của Hoa Kỳ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của kinh tế Hoa Kỳ, chi tiêu Chính phủ cũng chiếm một phần quan trọng trong toàn bộ chi tiêu khổng lồ của một xã hội tiêu dùng
Hoa Kỳ vốn có thị trường quốc nội rất lớn (nước Nhật cũng không bằng) và một thị trường rất thống nhất (Châu Âu không có được) Nhu cầu trong nước là
Trang 14động lực chủ yếu để phát triển Hoa Kỳ cũng có một thị trường ngoài nước rất to lớn, ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và còn có một thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới Do đó, có thể nói thị trường Hoa Kỳ có sức ảnh hưởng lớn đến thị trường thế giới và cả nền kinh tế các nước trên thế giới
Phải nói thêm rằng, Hoa Kỳ có ưu thế về kinh tế vùng ven Quan hệ vùng ven của Hoa Kỳ có tính toàn diện, bao gồm vùng Bắc Mỹ là Sở thuộc (khuôn vào
tổ chức “Khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ – NAFTA”, cũng bao gồm Châu á - Thái Bình Dương) và hướng đến Châu Âu (trong dự tính của Mỹ sẽ có “Khu mậu dịch
tự do Âu - Mỹ”) Chính điều này đã làm cho quan hệ và sự ảnh hưởng của kinh tế đối ngoại Hoa Kỳ có “quyền uy” ở bất cứ khu vực nào trên thế giới
Có thể nói, sự kiện khủng bố ở nước Mỹ ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã làm chấn động và kinh hoàng cả nước Mỹ và thế giới Do đó, tăng trưởng thương mại thế giới giảm từ mức 12%/năm (năm 2000) xuống còn 5,5% (năm 2001) Cả IMF, OECD, WB đều thống nhất nhận định, kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng năm
2001 chỉ đạt 1,1% tức là giảm 4,1% so với năm 2000 Những năm 2002 – 2003 kinh tế Mỹ có sự phục hồi và tăng trưởng ở mức chậm
Mặc dù vậy, Hoa Kỳ vẫn là cường quốc kinh tế hàng đầu và là một trong ba trung tâm kinh tế lớn của thế giới
1.2.1.2 Tiềm năng nhập khẩu của Hoa Kỳ
Một là, tiềm năng chung: Hoa Kỳ có một thị trường nhập khẩu lớn nhất thế
giới Năm 1988, hàng hoá nhập khẩu của Hoa Kỳ đạt 800 tỷ USD Năm 2002, kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ đạt 1408,3 tỷ USD Các mặt hàng nhập khẩu chính gồm: dầu thô, các sản phẩm dầu tinh chế, máy móc, ô tô, hàng tiêu dùng, vật liệu công nghiệp, thực phẩm và đồ uống Trong đó thủy sản, dệt may, giày dép, cà phờ là những mặt hàng nhập khẩu với số lượng lớn Chẳng hạn năm 2000
Trang 15Hoa Kỳ nhập khẩu 19 tỉ USD mặt hàng thủy sản, trong đó riêng tôm là 3,76 tỉ USD; Hàng dệt may năm 2000 nhập 76 tỉ USD, năm 2001 nhập 75,1 tỉ USD Năm 2002 hàng hoá nhập khẩu chiếm 1.166,9 tỷ USD và dịch vụ chiếm 243,3 tỷ USD
Những mặt hàng nhập khẩu gần đây có sự tăng trưởng là hàng tiêu dùng, bia, thực phẩm,…và những mặt hàng có sự suy giảm là nguyên vật liệu, thiết bị công nghiệp, ô tô và phụ tùng,…Tất cả những con số trên cho thấy Hoa Kỳ là một nước nhập siêu và là một thị trường đầy tiềm năng đối với các nước trên thế giới
Hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ rất đa đạng về chủng loại và được phân theo các nhóm hàng sau:
Bảng 1.1: Tình hình nhập khẩu hàng hoá của Hoa Kỳ 1997 - 1998
Đơn vị tính: Triệu USD
Trang 16Hoa Kỳ là một thị trường lớn về nhiều loại hàng hoá và dịch vụ với các dải phân đoạn thị trường rất rộng lớn có thể thu hút, tiêu thụ vô số chủng loại hàng hoá Với hệ thống cửa hàng, siêu thị bán buôn, bán lẻ rộng khắp và tâm lý thích tiêu dùng, mua sắm của người Mỹ, Hoa Kỳ đã, đang và sẽ là một thị trường đầy hứa hẹn cho các doanh nghiệp và công ty các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Các chủng loại hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ đều có số lượng lớn, đây là một yếu tố thuận lợi mà các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm bắt để tăng cường xuất khẩu và đầu tư tái sản xuất mở rộng
Hai là, một số nhóm ngành hàng nhập khẩu chủ yếu mà Việt Nam có nhiều
lợi thế để đưa sản phẩm vào thị trường Hoa Kỳ, đó là:
* Nhóm thực phẩm, thức ăn gia súc và đồ uống:
Qua số liệu thể hiện ở Bảng 1.1 cho ta thấy hàng năm Hoa Kỳ nhập khẩu nhóm hàng này ở mức trên dưới 40 tỷ USD Những mặt hàng chủ yếu trong nhóm này gồm:
Bảng 1.2: Tình hình nhập khẩu thực phẩm, đồ uống vào Hoa Kỳ 1998
Đơn vị tính: Triệu USD
Trang 177 Rau các loại 2.937 3.499 +562
Nguồn: Department of commerce, Bureau of Economic Analysis U.S.A [16, 26]
Trong nhóm ngành hàng này có nhiều mặt hàng Việt Nam có lợi thế và khả năng thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ như: hải sản, rau, cà phê hạt, chè, gia vị Trong đó đáng kể nhất là mặt hàng thuỷ sản và cà phê
Đối với mặt hàng thuỷ sản, Hoa Kỳ là thị trường nhiều triển vọng mà Việt Nam bắt đầu khai thác Thị trường này có sức mua lớn và giá cả tương đối ổn định Với GDP/người/năm là 33,882 USD và tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm là 4%, Hoa Kỳ là một thị trường có mức tiêu dùng mặt hàng thuỷ sản rất cao Hiện nay trung bình mỗi năm người Mỹ tiêu thụ hết khoảng 4,9 pounds thuỷ sản tương đương 8 kg Trong tương lai, mức tiêu thụ thuỷ sản sẽ ngày càng tăng mạnh do nhiều người Mỹ có xu hướng chuyển sang sử dụng sản phẩm thuỷ sản cho bữa ăn chính trong gia đình Theo thống kê của Bộ thuỷ sản Hoa Kỳ, hiện nay người Mỹ sử dụng xấp xỉ 80% tổng sản lượng thuỷ sản thế giới, trong đó hơn một nửa có nguồn gốc nhập khẩu Tại Hoa Kỳ có nhiều cơ sở chế biến phải sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài Khoảng 1000 cơ sở chế biến cả nước phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu Do đó, Hoa
Kỳ đã trở thành thị trường xuất khẩu thuỷ sản rất hấp dẫn đối với nhiều nước, trong đó có Việt Nam
Đối với mặt hàng cà phê, từ năm 1994 Việt Nam đã bắt đầu khai thác thị trường tiềm năng về tiêu thụ cà phê - thị trường Hoa Kỳ và ngay trong năm đầu
Trang 18tiên Hoa Kỳ bỏ chính sách cấm vận đối với Việt Nam (2/1994), tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đã đạt 32 triệu USD Vào năm 1998 Hoa Kỳ đã trở thành thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam với mức nhập khẩu cà phê từ Việt Nam đạt 142,5 triệu USD (21%-26% tổng lượng cà phê Việt Nam) và Việt Nam đứng thứ 7 về trị giá trong số các nước xuất khẩu cà phê vào Hoa Kỳ, từ năm 1994 – 1998 tăng 350%, mức tăng bình quân 70%/năm [13, 45-46]
* Nhóm hàng nguyên liệu và vật liệu công nghiệp:
Đối với nhóm hàng này Hoa Kỳ hàng năm nhập khẩu trên 200 tỷ USD Trong đó, chủ yếu các mặt hàng sau:
Bảng 1.3: Tình hình nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu công nghiệp
Trang 19Trong thời gian qua, chúng ta chỉ mới xuất khẩu dầu thô và một trị giá không nhiều cao su thiên nhiên sang thị trường Hoa Kỳ Sau năm 2005, khi khu công nghiệp hoá dầu Dung Quất đi vào hoạt động Việt Nam có thể mở rộng xuất khẩu các sản phẩm dầu mỏ, các loại hoá chất làm từ dầu mỏ
* Nhóm hàng tiêu dùng
Hàng năm Hoa Kỳ nhập khẩu nhóm ngành hàng này trên dưới 200 tỷ USD Khi Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực thì đây là nhóm ngành hàng Việt Nam có thể đẩy nhanh tốc độ xuất khẩu cả về quy mô lẫn số lượng Bởi
vì, những sản phẩm nằm trong nhóm ngành hàng này Việt Nam có những lợi thế tương đối lớn như hàng may mặc, giày dép,…
Bảng 1.4: Tình hình nhập khẩu hàng tiêu dùng vào Hoa Kỳ 1997- 1998
Đơn vị tính: Triệu USD
Trang 20Nguồn: Department of commerce, Bureau of Economic Analysis U.S.A [16, 30]
Nhóm hàng tiêu dùng là nhóm hàng có tính cạnh tranh quyết liệt nhất trên thị trường Hoa Kỳ Việt Nam muốn gia tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu nhóm ngành hàng này, trước hết phải có những chiến lược lớn nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường này càng sớm càng tốt
Đối với mặt hàng dệt may, Hoa Kỳ là thị trường đầy tiềm năng cho các nước xuất khẩu hàng dệt may, trong đó có Việt Nam Song cần lưu ý rằng: thị trường Hoa Kỳ có nhu cầu rất đa dạng, kể cả các sản phẩm trung bình, nhưng lại
có những quy định nghiêm ngặt về tuân thủ luật thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, xuất xứ sản phẩm Thị trường Hoa Kỳ chỉ mua hàng thành phẩm không qua gia công, trong khi đó ngành may Việt Nam chủ yếu là gia công xuất khẩu Đây là một trở ngại không nhỏ trong tăng cường xuất khẩu sang Hoa Kỳ
1.2.1.3 Đặc điểm thị trường Hoa Kỳ (chủ yếu là tâm lý và thị hiếu tiêu dùng
của người tiêu dùng Hoa Kỳ)
- Dân cư của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có nhiều tầng lớp giai cấp, nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới tụ tập về đây sinh sống nên nhu cầu rất đa dạng, phong phú, chất lượng hàng hoá đòi hỏi không cao và khắt khe như thị trường
EU Những đặc điểm riêng có về địa lý và lịch sử, đã hình thành nên một thị trường tiêu dùng khổng lồ và đa dạng nhất thế giới Ngày nay, với những tâm lý đặc trưng ưa chuộng mua sắm và tiêu dùng không những chỉ ảnh hưởng tới riêng nền kinh tế Hoa Kỳ mà còn có tác động sâu rộng đến các nhà xuất khẩu trên toàn thế giới Hàng hoá dù chất lượng cao hay vừa đều có thể bán được trên thị trường Hoa Kỳ, do sự đa dạng của các tầng lớp dân cư và thói quen tiêu dùng nhiều
- Hoa Kỳ là một quốc gia có tài nguyên phong phú, không bị ảnh hưởng nặng nề bởi hai cuộc đại chiến thế giới, cộng với chiến lược phát triển kinh tế lâu
Trang 21dài đã tạo cho Hoa Kỳ một sức mạnh kinh tế khổng lồ và thu nhập cao cho người dân Với thu nhập đó, việc mua sắm nay đã trở thành một nét đặc trưng trong văn hoá hiện đại của nước này Mua sắm tại cửa hàng là một thói quen của người Hoa
Kỳ, họ đến đó không chỉ mua hàng mà còn gặp nhau, trò chuyện và mở rộng giao tiếp xã hội Qua thời gian, người tiêu dùng Hoa Kỳ có một niềm tin gần như tuyệt đối vào siêu thị, cửa hàng đại lý bán lẻ trên lãnh thổ của quốc gia, nơi họ có sự bảo đảm về chất lượng, bảo hành và các điều kiện vệ sinh an toàn khác Điều này cũng làm cho họ ấn tượng rất mạnh khi tiếp xúc lần đầu tiên với những sản phẩm mới, nếu ấn tượng này là xấu thì mặt hàng đó khó có cơ hội quay lại Còn nếu được sự đảm bảo của các nhà phân phối nổi tiếng và có uy tín thì chắc chắn hàng hoá sẽ được chấp nhận Vì vậy, sự xâm nhập của những nhà nhập khẩu đơn lẻ thường không mấy khi đe doạ đến sự hiện diện thương mại của những người đến trước
- Đối với những đồ dùng cá nhân như sản phẩm quần áo, may mặc, giày dép nhìn chung người tiêu dùng Hoa Kỳ thích sự giản tiện nhưng đòi hỏi phải hiện đại và hợp thời trang Hơn nữa nếu đồ dùng cá nhân là đồ hiệu thì càng được
ưa thích và được mua nhiều Mặt khác, khi mua đồ dùng cá nhân nhiều người thường coi trọng yếu tố độc đáo, khác biệt, mỗi người có thể mặc những đồ họ thích Ở những thành phố lớn, nam giới thường mặc complê, nữ giới thường mặc váy hoặc juýp khi đi làm Trong khi đó ở nông thôn người ta thường ăn mặc khá xuyềnh xoàng, quần Jean và quần vải thô rất phổ biến Tuy vậy, hầu hết người Hoa Kỳ kể cả người lớn tuổi, ngoài giờ làm việc thường ăn mặc thoải mái theo ý thích của mỗi người Nhìn chung những đồ dùng cá nhân thường phải là những hàng hoá theo mùa và hợp với thời trang
- Hoa Kỳ không có các lệ ước và tiêu chuẩn thẩm mỹ xã hội bắt buộc như
ở một số quốc gia khác, Những nhóm người khác nhau vẫn sống theo văn hoá, tôn
Trang 22giáo của mình và dần dần theo thời gian hoà trộn và ảnh hưởng lẫn nhau Chính điều này đã tạo nên sự khác biệt trong thói quan tiêu dùng của người Hoa Kỳ so với người tiêu dùng ở các nước Châu Âu Họ rất tôn trọng chất lượng những sự thay đổi luôn là yếu tố chính, cùng một đồ vật nhưng thời gian sử dụng của họ có thể chỉ bằng một nửa thời gian sử dụng của người tiêu dùng các nước phát triển khác Với thói quen thường xuyên thay đổi như vậy, giá cả là yếu tố có vai trò quan trọng trong việc ra quyết định tiêu dùng của người tiêu dùng Hoa Kỳ đối với một sản phẩm nào đó Điều này giải thích tại sao hàng hoá tiêu dùng có xuất xứ từ những nước đang phát triển, có chất lượng không bằng so với hàng hoá tiêu dùng của các nước phát triển nhưng vẫn có chỗ đứng ở thị trường Hoa Kỳ vì có mức giá bán thực sự cạnh tranh
Nói tóm lại, chất lượng sự tiện lợi, nét độc đáo, phân phối và giá cả là những yếu tố ưu tiên trong thứ tự cân nhắc quyết định tiêu dùng hàng hoá của người dân Hoa Kỳ
- Thị hiếu của người tiêu dùng Hoa Kỳ rất đa dạng do nhiều nền văn hoá khác nhau đang đan xen cùng tồn tại Ví dụ: kích thước giường ngủ của người gốc Châu Á khác với người gốc Châu Âu hay người gốc Châu Á ăn uống nhiều gia vị hơn,…sở thích về màu sắc cũng khác nhau theo từng vùng, người miền Bắc ưa chuộng màu ấm cúng như màu đỏ, màu nâu,…trong khi đó người miền Nam lại thích các gam màu mát dịu hơn như màu xanh dương, trắng,…
Với diện tích rộng lớn, phong cảnh đa dạng đã tạo cho người dân Hoa Kỳ một thói quen ham mê du lịch, thích khám phá thế giới thiên nhiên, đất nước con người Vì thế, tất cả những hàng hoá tiêu dùng liên quan đến những chuyến du lịch bằng xe hơi có một thị trường hết sức rộng lớn Các mặt hàng tiêu dùng như sản phẩm may mặc, giày dép, mũ nón liên quan đến thể thao bán rất chạy với đủ
Trang 23dải thị trường từ hàng hoá có giá trị cao giành cho giới có thu nhập cao đến những hàng hoá rẻ tiền dành cho người tiêu dùng có thu nhập thấp Xác định rõ phân đoạn thị trường, lựa chọn phương thức hợp lý nhất để thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ, đồng thời tranh thủ sức mạnh cộng đồng, hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp, những người di cư từ quốc gia xuất khẩu để làm bàn đạp đẩy mạnh hàng hoá vào thị trường Hoa Kỳ mà không cần buôn bán qua các trung gian Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan là những ví dụ điển hình cho sự thành công khi
áp dụng theo phương thức này Hoặc những nhà xuất khẩu tham gia vào hệ thống phân phối có sẵn tại Hoa Kỳ và buộc phải chấp nhận tuân thủ chặt chẽ các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như về thương mại mang tính toàn cầu mà họ đề
ra Tuy nhiên, để có thể thực hiện được cả hai điều trên nhà xuất khẩu phải hiểu biết một cách thấu đáo hệ thống pháp luật, chính sách và những thủ tục của Hoa
Kỳ liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu Nắm chắc được yếu tố trên, có thể nói nhà xuất khẩu đã cơ bản nắm chắc được chìa khoá của sự thành công khi thâm nhập vào và hoạt động trong lãnh thổ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Một điều nữa phải nói tới là ở Hoa Kỳ có hơn 1 triệu Việt kiều rất thích các mặt hàng quê hương và họ cũng là những người tham gia đầu tư và xúc tiến thương mại
1.2.2 Chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ
Nằm trong tổng thể chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, chính sách nhập khẩu Hoa Kỳ nhằm phục vụ cho lợi ích của quốc gia, cụ thể là phục vụ người tiêu dùng và phát triển các ngành kỹ thuật cao, từ đó tối ưu hoá cơ cấu nền kinh tế Xét về tổng thể, chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ có 5 mục đích nổi bật như sau:
Trang 24- Hàng hoá nhập khẩu nhằm mục đích đa dạng hoá nền kinh tế và tăng tính năng động cho mỗi ngành sản xuất cũng như đối với từng doanh nghiệp Hoa
- Tạo đối trọng nhằm gây sức ép để các nước đối tác mở cửa thị trường cho sản phẩm của Hoa Kỳ
- Kết hợp chặt chẽ giữa các chính sách quân sự và ngoại giao tạo thành công cụ gây sức ép trong quan hệ đối ngoại, giành cho mình những nguồn lợi to lớn về kinh tế cũng như chính trị Điển hình là các công cụ trừng phạt hoặc trợ giúp kinh tế đã được Hoa Kỳ áp dụng cho nhiều nước trong đó có Việt Nam
Chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ và những mục đích của nó hoàn toàn phù hợp với chiến lược khuyếch trương tự do hóa thương mại, toàn cầu hoá kinh
tế mà Hoa Kỳ đã và đang tiến hành Tuy nhiên, xem xét trên góc độ một quốc gia
có quan hệ thương mại với Hoa Kỳ có thể thấy hai mặt trong chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ Một mặt, tính mở đối với việc tiếp cận thị trường – do Hoa Kỳ muốn các nước khác mở cửa thị trường cho hàng hoá của mình, thì trước hết Hoa
Kỳ phải mở cửa thị trường của chính mình Mặt khác xét đến tính đóng đối với một số khu vực và một số quốc gia, do Hoa Kỳ lợi dụng triệt để các công cụ tiếp cận thị trường nhằm đạt được các mục đích kinh tế và phi kinh tế
Chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ hiếm khi được trình bày cụ thể, riêng rẽ
mà phần lớn được biểu hiện trực tiếp trong các đạo luật, đặc biệt là từ cơ quan Đại
Trang 25diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) Tuy vậy, có thể nhận thấy những điểm nổi bật trong chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ, như sau:
Thứ nhất, các điều luật, quy tắc nhập khẩu áp dụng, phổ biến nhất là hệ
thống luật và quy tắc của WTO mà Hoa Kỳ và một số nước phát triển đã dày công xây dựng Trong đó, các biện pháp thuế quan được sử dụng chủ yếu, ngoài ra một
số ít biện pháp phi thuế quan được WTO cho phép được sử dụng
- Thuế quan là một công cụ mà Hoa Kỳ áp dụng phổ biến đối với những quốc gia nhập khẩu hàng hoá vào thị trường Hoa Kỳ Hệ thống thuế quan của Hoa
Kỳ là Biểu thuế quan hài hoà được thống nhất giữa các bang và chính thức áp dụng từ ngày 01/01/1998 Hệ thống này dựa trên cơ sở của Hệ thống hài hoà (Harmonized System viết tắt là HS) được tất cả các nước buôn bán lớn trên thế giới áp dụng, miêu tả mã số hàng hoá thống nhất do Tổ chức Hải quan thế giới – một tổ chức liên chính phủ đặt tại Brussels
- Hầu hết thuế quan của Hoa Kỳ là thuế theo trị giá - thuế được tính trên
cơ sở phần trăm của trị giá hàng nhập khẩu (Advalorem Duty Rate) Loại thuế này bao gồm từ mức dưới 1% tới gần 90%, mặt hàng dệt may và giày dép nhập khẩu thường phải chịu mức thuế suất cao Thông thường, thuế theo trị giá nằm ở mức 2% - 7%, với mức thuế MFN trung bình toàn biểu là 4% [11, 64]
- Một số mặt hàng nhập khẩu, chủ yếu là nông sản và những mặt hàng chưa qua chế biến thì bị đánh thuế theo lượng (Weight Duty Rate) là thuế đánh theo lượng hay dung tích hàng hoá, một số lượng quy định trên trọng lượng đơn
vị hoặc các số đo khác về số lượng Một số mặt hàng phải chịu thuế gộp (Compound Rate), tức là thuế suất gồm hai phần thuế theo trị giá và thuế đặc định Cũng có một số mặt hàng khác chẳng hạn như đường lại chịu “hạn ngạch
Trang 26thuế suất” là mức thuế quan cao hơn áp dụng đối với số hàng nhập khẩu vượt quá
số lượng quy định vào Hoa Kỳ trong năm
Thứ hai, các quy định áp dụng mang tính phân biệt đối xử Các quy định
này gần như hạn chế hoàn toàn khả năng tiếp cận thị trường Hoa Kỳ đối với các quốc gia thuộc nhóm 3 như: Cu Ba, Irắc,…
Thứ ba, các quy định được hưởng những quyền lợi đặc biệt từ Hoa Kỳ
Thể hiện rõ nhất qua các Hiệp định thương mại đa biên hoặc song biên như: Hiệp định tự do thương mại Hoa Kỳ – Israel, Hoa Kỳ – Canada, …
Thứ tƣ, ngoài ra, Hoa Kỳ thực thi chính sách nhập khẩu nghiêm ngặt xét về
khía cạnh các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn và vệ sinh Đối với những nước chưa
có hệ thống kiểm soát chất lượng và kiểm dịch an toàn, hoàn thiện thì đây là một yếu tố trở ngại rất lớn
Thứ năm, đối với những nhóm nước khác nhau, Hoa Kỳ có chính sách
nhập khẩu khác nhau, chẳng hạn:
- Đối với những nước đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Luật thực hiện những thoả thuận của vòng đàm phán thương mại đa biên Uruguay – vòng đàm phán thiết lập nên WTO là Đạo luật cơ bản điều tiết quan hệ thương mại giữa Hoa Kỳ và các nước thành viên WTO
Theo Luật này hầu hết tất cả các bạn hàng của Hoa Kỳ đều được hưởng quy chế thương mại Tối huệ quốc (Most Favored Nations – MFN) mà nay là Quy chế thương mại bình thường (Normal Trade Relations – NTR) Hàng hoá từ tất cả các nước được hưởng MFN của Hoa Kỳ đều chịu cùng một mức thuế khi nhập khẩu hàng hoá vào thị trường này Trên thực tế, mức thuế này khá thấp trung bình chỉ nằm vào khoảng 0% – 3% Khi Hoa Kỳ giảm, loại bỏ hay thay đổi một loại thuế quan nào đó thì sự thay đổi này sẽ được áp dụng công bằng cho tất cả các nước
Trang 27được hưởng MFN Hàng nhập khẩu từ những quốc gia không được hưởng MFN thì phải chịu một mức thuế cao hơn từ 3% – 40%
Hoa Kỳ chấp nhận sử dụng Hiệp định GATT/ WTO làm cơ sở cho Luật định giá Hải quan của Hoa Kỳ, quy định quá trình xác định trị giá của sản phẩm nhập khẩu để đánh thuế theo trị giá
- Với những nước chưa trở thành thành viên của WTO nhưng đã ký kết Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ; những quốc gia có Hiệp định hoặc thoả thuận song phương tiếp cận thị trường lẫn nhau và một số quốc gia hàng năm phải được Tổng thống Hoa Kỳ miễn trừ điều khoản Jackson – Vanik để được hưởng Quy chế tối huệ quốc MFN Ngày 7/3 hàng năm, Tổng thống Hoa Kỳ phải gia hạn miễn trừ điều khoản tự do di cư Jackson – Vanik cho Trung Quốc, sự miễn trừ này có hiệu lực từ năm 1980 Hàng năm, Quốc hội Hoa Kỳ đã đưa ra điều luật không tán thành sự miễn trừ của Tổng thống nhằm tạo sức ép với Trung Quốc nếu muốn gia hạn MFN phải đáp ứng những điều kiện về nhân quyền, ngoài vấn đề tự do di cư Tuy nhiên trên thực tế những chính sách như vậy đều không thực hiện được kể từ năm 1996
- Đối với những nước có quyền lợi đối nghịch với Hoa Kỳ và bị hạn chế gần như hoàn toàn trong quan hệ thương mại với Hoa Kỳ Các quốc gia không được hưởng MFN của Hoa Kỳ tính đến hết năm 2000 bao gồm Afganistan, Cuba, Lào, Bắc Triều Tiên, Việt Nam1 Các nước muốn đựoc hưởng Quy chế MFN phải thực hiện hai điều kiện cơ bản: Một là, tuân thủ theo điều khoản Jackson – Vanik của đạo luật thương mại năm 1974, yêu cầu một nước không được từ chối hoặc hạn chế quyền, cơ hội di cư của công dân nước họ; Hai là, ký kết Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ
1
Việt Nam đã được hưởng MFN của Hoa Kỳ từ ngày 10/12/2001, ngày Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
Trang 28Trong khi Libia, Iran và Irắc được hưởng MFN nhưng quan hệ thương mại với ba quốc gia này vẫn bị Hoa Kỳ cấm vận bằng những đạo luật thương mại riêng biệt khác
- Đối với những nước được hưởng những chính sách ưu đãi đặc biệt của Hoa Kỳ trong quan hệ thương mại Thông qua các chương trình đơn phương đặc biệt, một số đạo luật của Hoa Kỳ dành sự đối xử ưu đãi về thuế quan đối với một
số sản phẩm của các quốc gia đang phát triển có tiềm năng Những chương trình
đó bao gồm:
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (Generalized System of Preferential – GSP): nội dung chính của GSP là miễn thuế hoàn toàn cho những mặt hàng nhập khẩu của những nước đang phát triển được hưởng Quy chế GSP không có điều kiện đi lại, đồng thời những mặt hàng đó phải đáp ứng được các tiêu chuẩn
mà Hoa Kỳ đề ra Tuy nhiên, việc miễn thuế cũng bị hạn chế đối với một số mặt hàng nhất định và lợi ích được hưởng GSP cũng bị hạn chế Nếu một quốc gia duy trì hàng rào gây trở ngại đối với hàng hoá xuất khẩu từ Hoa Kỳ, không thực hiện việc bảo vệ bản quyền hoặc không tuân thủ những quyền lao động được quốc
Trang 29 Các quốc gia mà Hoa Kỳ đã ký Hiệp định thương mại giảm thuế quan
và các trở ngại thương mại khác như: NAFTA và Hiệp định khu vực thương mại
tự do Hoa Kỳ – Israel
Ngoài ra, Hoa Kỳ còn dành ưu đãi thuế quan đặc biệt cho những hàng hoá
có các bộ phận cấu thành, được sản xuất ở Hoa Kỳ Theo đó, thuế chỉ được đánh vào trị giá nước ngoài của sản phẩm mà không đánh vào những bộ phận được sản xuất tại Hoa Kỳ
Điều kiện để các quốc gia được hưởng ưu đãi đặc biệt nêu trên, Luật Hải quan Hoa Kỳ yêu cầu xuất xứ của sản phẩm phải được giải thích rõ ràng và trung thực Điều này đặc biệt quan trọng đối với những sản phẩm vào thị trường Hoa
Kỳ theo các chương trình miễn thuế đơn phương như GSP, CBI, ATPA Đối với những sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế theo 3 chương trình này, ít nhất 35% chi phí trực tiếp sản xuất ra sản phẩm đó phải được thực hiện tại quốc gia được hưởng chế độ ưu đãi nói trên
* Trường hợp Việt Nam
Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ đã được ký kết và
có hiệu lực từ ngày 10/12/2001 Theo Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Việt Nam là một nước đang phát triển có trình độ phát triển thấp với nền kinh tế trong thời kỳ chuyển đổi Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ và đang tích cực thực hiện tiến trình gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO
Theo những điều khoản quy định tại Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, thì ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực Việt Nam sẽ được hưởng ngay lập tức Chế độ thương mại bình thường (NTR) tương đương với các nước đã là thành viên của WTO về mặt thương mại Chỉ có điểm khác đó là Chế độ thương mại
Trang 30bình thường có thể phải xem xét lại hàng năm theo kết quả xét miễn áp dụng Điều khoản Jackson - Vanik
Hệ thống pháp luật thương mại của Hoa Kỳ thể hiện một cách rõ ràng nhất chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ Hệ thống này bao gồm nhiều đạo luật phức tạp với nhiều đối tượng khác nhau Một số Đạo luật đã được sửa đổi nhiều lần do nhu cầu nội tại bên trong, một số đạo luật mới thực hiện các cam kết đa biên mà Hoa
Kỳ có nghĩa vụ thực hiện Các quy định này tuy không trực tiếp ảnh hưởng đến các nhà xuất khẩu Việt Nam nhưng lại có tác động mang tính quyết định tới yếu
tố cạnh tranh và thị phần, đặc biệt là cạnh tranh về giá do thuế nhập khẩu và hạn ngạch đối với một số mặt hàng đặc thù
Vì thế, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam muốn xuất khẩu hàng hoá sang thị trường Hoa Kỳ cần nắm vững, hiểu biết thấu đáo chính sách nhập khẩu chung cũng như những quy định có tính chất đặc thù, riêng có của Hoa Kỳ đối với từng quốc gia Cụ thể, các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm rõ các chính sách, quy định về thuế quan, các loại hàng rào phi thuế quan của Nhà nước Hoa
Kỳ trước và trong quá trình hoạt động xuất nhập khẩu
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU RA THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI (TRONG ĐÓ CÓ THỊ TRƯỜNG HOA KỲ)
Hiện nay có trên 176 nước có hàng hoá xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, Việt Nam đứng hàng thứ 71 trong số này Do khả năng có hạn, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu kinh nghiệm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá ra thị trường nước ngoài (trong đó có thị trường Hoa Kỳ) của một số nước có điều kiện tương tự như Việt Nam để từ đó rút ra các bài học có thể áp dụng ở mức độ khác nhau cho Việt Nam
Trang 311.3.1 Cộng hoà Indonesia
Indonesia là một thành viên của Asean, đồng thời là một quốc gia lớn có vị trí hàng đầu ở khu vực Đông Nam Á về mặt vị trí chiến lược, tài nguyên thiên và dân số Tuy nhiên, con đường phát triển của Indonesia đã phải trải qua nhiều khó khăn để tìm kiếm hướng đi phù hợp với điều kiện cụ thể của mình và xu hướng của nền kinh tế thế giới
Từ năm 1965 đến nay, Indonesia thực hành chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội theo cơ chế thị trường có điều tiết Trong thời kỳ này Indonesia đã thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Gắn liền với
sự thay đổi cơ cơ chế quản lý kinh tế là quá trình chuyển đổi từ chiến lược thay thế nhập khẩu, đóng cửa sang chiến lược hướng về xuất khẩu, mở cửa ra thế giới
Để khôi phục kinh tế, hàng loạt các giải pháp đã được thực hiện: ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, cải cách hệ thống tài chính tiền tệ, công bố luật đầu tư nước ngoài và tìm nguồn cung cấp vốn vay Trong một thời gian dài kinh tế Indonesia tăng trưởng nhanh, hình thành được những ngành công nghiệp mũi nhọn: dầu khí, khai thác gỗ, khoáng sản, máy nông cụ và chế biến nông sản,…tốc độ xuất khẩu hàng năm tăng bình quân 9,3%/năm
Bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất xuất khẩu những mặt hàng truyền thống, Indonesia còn chú ý tới các ngành khác như điện tử, ô tô, hoá chất xe máy để xuất khẩu Hiện nay mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Indonesia vẫn là dầu, các sản phẩm dầu, gỗ dán, cao su, cà phê Thị trường xuất khẩu chính là Nhật Bản 28%, Hoa Kỳ 15%, NIC 20%, EU 10% còn lại là các nước Châu Á khác [24,71]
Để thúc đẩy kinh tế và thương mại phát triển, Chính phủ thực hiện cải cách hệ thống thuế, áp dụng thuế giá trị gia tăng (VAT), mở rộng thị trường vốn nhằm mở rộng quan hệ hàng hoá tiền tệ trong sản xuất và lưu thông Ngày
Trang 3206/05/1986 Chính phủ Indonesia công bố quy định mới về mậu dịch và đầu tư
Trong đó, quy định: Một là, những nhà sản xuất xuất khẩu nào sản xuất ít nhất
85% sản lượng của họ thì được miễn mọi loại thuế khi nhập khẩu nguyên liệu cho
sản xuất Hai là, một hệ thống giảm thuế sẽ được áp dụng cho các nhà sản xuất
xuất khẩu dưới 85% sản lượng Họ cũng được quyền nhập khẩu những hàng hoá theo giới hạn nhập khẩu nếu những người cung ứng trong nước không đáp ứng được giá nguyên liệu nhập khẩu…
Tổ chức lại kinh tế quốc doanh và khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển Năm 1986 Chính phủ Indonesia đã cắt giảm 1/3 bộ máy gián tiếp, cho phá sản hoặc sát nhập, tư nhân hoá 30% số doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ Đồng thời với chương trình cải tổ khu vực doanh nghiệp Nhà nước, Indonesia mở rộng chính sách tư nhân hoá Từ 1993 đến nay, Nhà nước cho phép tư nhân hoạt động kinh doanh ở nhiều ngành kinh tế kể cả ở những lĩnh vực như ngân hàng, tín dụng, những ngành công nghiệp then chốt như sắt thép, hoá chất, phân bón Ngoài
ra Chính phủ còn tạo điều kiện thuận lợi về vốn, tín dụng, ưu đãi thuế để khuyến khích và thu hút vốn đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước Hiện nay, rất nhiều công ty cổ phần hoặc các tổ hợp lớn như tổ hợp thép Krakatau, Tổ hợp Lippo thuộc về tư nhân Chúng không những chiếm vị trí chủ chốt trong các ngành kinh
tế quan trọng trong nước mà còn trở thành các công ty xuyên quốc gia, tham gia đầu tư và kinh doanh trên thị trường quốc tế
Đa phương hoá và đa dạng hoá hình thức hoạt động kinh tế đối ngoại Trong quan hệ ngoại thương Indonesia không chỉ bó hẹp hợp tác với Nhật bản, Hoa Kỳ mà đã mở rộng sang các thị trường Trung Đông, Nam Mỹ đặc biệt chú ý thị trường trong khối Asean, Trung Quốc và Đông Dương.Trong quan hệ với các nước Indonesia không chỉ sử dụng các hình thức buôn bán mậu dịch thông
Trang 33thường, gọi vốn đầu tư hoặc vay nợ mà còn mở rộng liên doanh liên kết với các nước có chế độ chính trị, kinh tế khác nhau
Nền kinh tế Indonesia phục hồi và phát triển vững chắc trên cơ sở đẩy mạnh xuất khẩu và đầu tư cố định Indonesia được xếp là một trong những đối tác quan trọng trên thị trường khụ vực và thế giới Tuy vậy, khi tập trung phát triển mạnh khu vực xây dựng và chế tạo cho xuất khẩu, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
của Indonesia lại suy giảm
1.3.2 Thái Lan
Thái Lan là một quốc gia nằm trong khu vực với Việt Nam và thành viên của ASEAN, có diện tích tự nhiên: 513.000km2, năm 1998 dân số: 61 triệu người, GDP/người: 2.200USD, tổng GDP: 154 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu: 54,5 tỷ USD
Cách đây 30 năm, Thái Lan là một nước nông nghiệp lạc hậu, nhưng hiện nay là một nước phát triển trong khu vực Sự phát triển vượt bậc đó, nhờ vào chính sách đổi mới của Thái Lan, với quan điểm nông nghiệp, nông thôn là xương sống của đất nước Trong kế hoạch năm năm (1977 – 1981), Chính phủ Thái Lan
đã khuyến khích chiến lược công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn; thực hiện chủ trương đa dạng hoá nền kinh tế hướng vào sản xuất sản phẩm xuất khẩu Do vậy, tiềm năng trong nông nghiệp được khai thác và phát huy có hiệu quả cao, sản xuất phát triển nhanh chóng trong một thời gian rất ngắn của những năm đầu thập niên 80 Thái Lan đã là một nước xuất khẩu gạo, sắn, cao su, mía đường thuộc vào những nước hàng đầu thế giới
Từ giữa những năm 80 ngành xuất khẩu của Thái Lan bắt đầu bùng nổ, từ năm 1990 tốc độ xuất khẩu tăng bình quân hàng năm đạt 20% – 25% Từ chỗ công nghiệp chỉ chiếm gần 4% tổng giá trị xuất khẩu vào năm 1996 đã lên tới 80
Trang 34– 85% vào năm 2000 Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng dệt, tôm tươi, tôm đông lạnh, gạo, bột, cao su Thị trường xuất khẩu chủ yếu gồm: Hoa Kỳ 22%, Nhật Bản 17%, EU 12%, Asean 20% và gần 20% còn lại xuất khẩu sang các nước Châu Á khác Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Thái Lan chủ yếu là máy móc thiết bị và hoá chất Sự bùng nổ xuất khẩu của Thái Lan đã đưa lại cho quốc gia này một nguồn ngoại tệ khổng lồ (60 tỷ USD trong năm 2000) [24, 81]
Để đẩy mạnh xuất khẩu, Thái Lan đã nổ lực thực hiện các vấn đề:
- Khi lực chọn chiến lược hướng về xuất khẩu, Thái Lan đẫ đề ra các biện pháp nhằm đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu và trên cơ sở đó thực hiện mục tiêu phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn, chủ đạo, đồng thời xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm làm đòn bẩy cho việc thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế Để lựa chọn những ngành kinh tế, những mặt hàng xuất khẩu chính, Thái Lan đã căn
cứ vào đặc điểm kinh tế, tự nhiên, xã hội cụ thể của mình, tận dụng tối đa lợi thế
về tài nguyên nhân lực thích ứng cao nhất với các nhu cầu về phân công lao động quốc tế, nhằm xây dựng một cơ cấu hiệu quả trong cả ba khu vực kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Cho đến nay, Thái Lan đã xây dựng được một cơ cấu hàng xuất khẩu hết sức đa dạng, vừa tận dụng được lợi thế về tài nguyên thiên nhiên vừa thâm nhập vào những khoảng trống trong phân công lao động quốc tế
- Thái Lan đã thành công lớn trong việc phát triển một số ngành công nghiệp mới đòi hỏi nhiều kỹ thuật, nhờ xu hướng gia tăng mạnh mẽ việc chuyển giao từ các nước tư bản và NIEs thế hệ thứ nhất sang các nước có mức phát triển thấp hơn trong khu vực Điển hình là các ngành công nghiệp điện tử và điện dân dụng, sản xuất linh kiện và máy điều hoá nhiệt độ Giá trị xuất khẩu các sản phẩm điện tử và điện dân dụng đạt trên 420,85 tỷ Bath vào năm 2001 Sản phẩm linh
Trang 35kiện và máy điều hoà nhiệt độ là sản phẩm xuất khẩu mới nhưng cũng đạt được bước nhảy vọt doanh số xuất khẩu là trên 32 tỷ Bath năm 2001 [24, 82]
- Khuyến khích nông dân vừa đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu vừa nâng cao giá trị nông sản và sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Trong chiến lược xuất khẩu nông sản, một thành công đáng kể là Thái Lan đã chủ động phát triển công nghệ chế biến, bảo quản sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, vì thế mà nông sản của Thái Lan có sức cạnh tranh cao và khá ổn định
Trải qua nhiều thách thức trong sự biến động của kinh tế thế giới, Thái Lan
đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, thể hiện qua sự thay đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu hàng xuất khẩu Thái Lan từ một nước sản xuất xuất khẩu các sản phẩm thô, nay đã trở thành một nước xuất khẩu các sản phẩm chế tạo chủ yếu trong khu vực
1.3.3 Trung Quốc
Sau khi Trung Quốc ký Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ và liên minh Châu Âu, chuẩn bị gia nhập WTO và đã có những nổ lực nhằm cải cách doanh nghiệp và ngân hàng,….thì việc cạnh tranh để thu hút vốn FDI và thúc đẩy xuất khẩu đã trở thành một vấn đề rất quan trọng Giống như những trường hợp của bốn con rồng Châu Á (Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan) và Nhật Bản, đối với Trung Quốc xuất khẩu có nghĩa là xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo chứ không phải là khoáng sản và nông sản
Để đạt được những thành tựu như ngày hôm nay, Chính phủ Trung Quốc
đã chú trọng một trong những chính sách sau:
- Trung Quốc đã tiến hành tự do hoá thương mại của mình bằng nhiều biện pháp đơn phương, đa phương hoặc thông qua các tổ chức của khu vực như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á hay Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương Đồng thời, chia chiến lược xuất khẩu thành 3 giai đoạn:
Trang 36Giai đoạn 1: chuyển từ xuất khẩu các sản phẩm thô, sơ cấp sang xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động,
Giai đoạn 2: Chuyển từ xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nhẹ và bán thành phẩm sử dụng nhiều lao động sang xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp cần nhiều vốn mà chủ yếu là các sản phẩm công nghiệp nặng, hoá chất
Giai đoạn 3: tập trung và coi trọng xuất khẩu các sản phẩm sử dụng kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến
Thực hiện các giai đoạn của chiến lược xuất khẩu, Trung Quốc coi trọng phát huy thế mạnh của từng địa phương, tăng xuất khẩu những mặt hàng sử dụng
kỹ thuật mới, cải tạo ngành nghề và các ngành nghề truyền thống Bên cạnh việc phát triển các sản phẩm xuất khẩu dùng nhiều lao động tập trung, tận dụng nguồn lao động rẻ, dồi dào góp phần giải quyết công ăn việc làm, đồng thời Trung Quốc coi trọng tăng đầu tư có trọng điểm mở rộng sản xuất, tăng xuất khẩu các sản phẩm sử dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến, phát triển các ngành nghề mới
Trong những năm tới, hàng xuất khẩu của Trung Quốc sẽ vẫn là các sản phẩm công nghiệp nhẹ, công nghiệp dệt và nhiên liệu Tuy nhiên, xét theo khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các cơ sở chế tạo máy, tỷ trọng máy móc, thiết bị xuất khẩu sẽ gia tăng đáng kể
Hiện nay Trung Quốc đang cố gắng điều chỉnh hợp lý cơ cấu hàng hoá xuất khẩu để chuyển từ xuất khẩu các sản phẩm dệt, công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều vốn kết hợp từng bước tăng xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao
- Để có thể gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO (12/2001) Trung Quốc cam kết tuân thủ nội dung của các nguyên tắc thương mại quốc tế đã được quy định trong WTO và mở cửa thị trường trong một số ngành mà cho đến nay vẫn phần nào hoặc hoàn toàn đóng cửa
Trang 37Mức thuế quan công nghiệp trung bình sẽ được cắt giảm từ 25% năm 1997 xuống còn 9% năm 2005 Thuế quan đánh vào nông sản Hoa Kỳ sẽ hạ thấp từ 32% xuống còn 15% năm 2004 Tất cả các mức thuế quan đều được giới hạn lại khi Trung Quốc gia nhập WTO, nhằm tăng niềm tin vào cải cách cho các nhà đầu
tư và người tiêu dùng Tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu chịu sự chi phối của các rào cản hành chính sẽ giảm từ 33% xuống còn 11% [24, 93]
- Sử dụng chính sách trợ cấp xuất khẩu: miễn hoặc hoàn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu,…nhằm làm giảm bớt những khuynh hướng bất lợi đối với xuất khẩu do việc bảo hộ nhập khẩu gây ra
Ngoài ra, để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường nước ngoài, đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ, Trung Quốc đã:
- Tận dụng Kiều dân sinh sống ở Hoa Kỳ để đẩy mạnh xuất khẩu Họ tận dụng hoạt động kinh tế của doanh nghiệp gốc Hoa để làm bàn đạp đưa hàng hoá vào thị trường Hoa Kỳ mà không cần buôn bán qua trung gian Với những khu thương mại của người Hoa ở các thành phố lớn của Hoa Kỳ mà hàng hoá Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường Hoa Kỳ nhanh chóng và có hiệu quả
- Nâng cao sức cạnh tranh về giá để chiếm lĩnh thị trường Bởi vì, thị trường Hoa Kỳ rất lớn nhưng người tiêu dùng Hoa Kỳ lại rất thực dụng, giá rẻ vẫn
là một trong những yếu tố quan trọng để chiếm lĩnh thị trường, nhất là thị trường
“bình dân” và thu nhập thấp Trên thực tế, nhiều mặt hàng như: quần áo, dày dép, hàng dệt kim,…của Trung Quốc chiếm thị phần rất lớn ở Hoa Kỳ nhờ chính sách giá rẻ mà không vi phạm Luật chống phá giá của Hoa Kỳ
- Đa dạng hoá mặt hàng, cải tiến mẫu mã thường xuyên cũng là biện pháp quan trọng để chiếm lĩnh thị trường Hoa Kỳ Trung Quốc lúc đầu khi mới được hưởng Quy chế tối huệ quốc, hàng Trung Quốc vào thị trường Hoa Kỳ chủ yếu là
Trang 38những mặt hàng sử dụng nhiều lao động, như: dày dép, hàng dệt may, đồ da,…Nhưng hiện nay, Trung Quốc đã đưa được hàng chục nhóm ngành hàng xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ Trong đó, có 10 mặt hàng chiếm 77% kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc vào thị trường Hoa Kỳ Đó là: Máy móc thiết bị điện, Máy móc cơ khí, Giày dép, Đồ chơi, Đồ gỗ, Hàng may mặc, Đồ nhựa, Dụng cụ quang học, Đồ da
1.3.4 Hàn Quốc và Đài Loan
Hàn Quốc và Đài Loan là một trong những nước hàng đầu về xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ năm 1998
Hàn Quốc xuất khẩu vào thị trường này với tổng kim ngạch: 49 tỷ USD, chiếm 5,36% Đài Loan có kim ngạch xuất khẩu vào Hoa Kỳ là 48 tỷ USD, chiếm 5,26% (Nguồn: Department Commerce, Bureau of Economic Analysis USA)
Để đẩy mạnh xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Đài Loan có chung một kinh nghiệm là tận dụng Kiều dân sống ở Mỹ
Hàn Quốc thực hiện một biện pháp quan trọng là cải tiến mẫu mã, mặt hàng thường xuyên để chiếm lĩnh thị trường Hoa Kỳ
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, vì vậy cần đặc biệt coi trọng kinh nghiệm của các quốc gia đi trước nhằm rút ngắn quá trình phát triển của mình và tránh khỏi những thất bại mà các quốc gia đó đã trải qua Kinh nghiệm của các nước Châu Á đặc biệt là các nước Asean có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi vì hầu hết các nước này đều có xuất phát điểm tương tự như ở Việt Nam thời
kỳ đầu của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có nhiều nét tương đồng về lịch sử, văn hoá, hoàn cảnh tự nhiên Nghiên cứu kinh nghiệm đẩy mạnh xuất khẩu của các nước trong Asean và một số nước Châu Á khác, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm:
Trang 39Một là: cần phải tìm hiểu và tham gia một cách tích cực vào các định chế
hoạt động thị trường thế giới, hội nhập nền kinh tế dân tộc với kinh tế thế giới để
có thể tranh thủ các điều kiện quốc tế, mở rộng thị trường Các nước trong khu vực hầu hết đã tham gia vào các định chế này và họ đã tranh thủ được các điều kiện, các ưu đãi hỗ trợ cho việc thu hút vốn, chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu và thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Hai là: Tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước
Một nền kinh tế hướng vào xuất khẩu đòi hỏi hàng hoá phải có sức cạnh tranh cao Muốn thực hiện được như vậy phải khai thác tốt các nhân tố làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất ở trong nước Các nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của hàng hoá đó là: khả năng về công nghệ, khả năng thâm nhập vào các thị trường lớn, hiệu quả giữa chi phí sản xuất và giá thị trường tại nước nhập khẩu, khả năng phát triển của hàng hoá đó trên thị trường thế giới để đầu tư phát triển sản xuất trong nước
Từ những thực tế đó, nhằm đổi mới cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu, các nước đã tập trung đầu tư vào các ngành hàng nhằm tạo ra những sản phẩm mới trên cơ sở nhu cầu thị trường thế giới; những sản phẩm với hàm lượng công nghệ cao và chứa đựng nhiều giá trị gia tăng; tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế và trong nước
Ba là: xác định được hướng phát triển hợp lý và các chính sách hỗ trợ để
thực hiện định hướng đó Trên thực tế, các nước NICs đã gặt hái được thành công nhờ vào việc thực hiện chiến lược chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu sang xuất khẩu các sản phẩm chế biến Lúc đầu là sản phẩm có hàm lượng lao động cao ở nơi có lao động rẻ, sau khi lao động tăng giá, các nước này chuyển sang sản xuất
Trang 40xuất khẩu các sản phẩm với công nghệ tiên tiến và hàm lượng khoa học cao và sử dụng ít lao động Đối với các nước Asean vào những năm 60 đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp may mặc, sản xuất các nông sản nhiệt đới, đến những năm
70 các nước này chuyển dần sang sản xuất các sản phẩm điện tử, ô tô, công nghệ tin học và các sản phẩm này đã cạnh tranh được trên thị trường thế giới, xâm nhập được vào các thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản Về cơ cấu xuất khẩu của các nước Đông Á cho thấy thời kỳ đầu các nước này xuất khẩu hàng thô, nguyên liệu, thực phẩm và nhập khẩu hàng công nghiệp, tư liệu sản xuất, công nghệ hiện đại sau đó chuyển dần sang xuất khẩu hàng chế biến
Bốn là, đối với Việt Nam từ vụ kiện bán phá giá cá da trơn vào Hoa Kỳ, có
thể rút ra bài học kinh nghiệm là: phải nghiên cứu kỹ thị trường nhập khẩu hàng hóa của mình; chủ động đăng ký nhãn hiệu sản phẩm; thiết lập mạng lưới phân phối, thiết lập các hiệp hội nhành hàng và có sự tư vấn của luật sư giỏi