Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam nằm sâu trong nội địa, cách xa Hà Nội, Hải Phòng, các cửa khẩu và các vùng trọng điểm phát triển kinh tế, ít có điều kiện thuận lợi để thu
Trang 1ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI
TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Hà Nội, 2011
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Xuân Thiên
HÀ NỘI - 2011
Trang 3i
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH YÊN BÁI 8
1.1 Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài 8
1.1.1.1 Khái niệm 8
1.1.1.2 Đặc điểm cơ bản của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 9
1.1.1.3 Phân loại hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 10
1.1.2 Nguyên nhân hình thành đầu tư trực tiếp nước ngoài 13
1.12.1 Lý thuyết 13
1.1.2.2 Thực tiễn 18
1.1.2.3 Xu hướng FDI trên thế giới 20
1.2 Những nhân tố tác động đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Yên Bái 25
1.2.1 Những nhân tố mang tính chất Quốc tế và Quốc gia 25
1.2.1.1 Những nhân tố mang tính chất Quốc tế 25
1.2.1.2 Những nhân tố mang tính chất Quốc gia 27
1.2.2 Những nhân tố nội tại của tỉnh Yên Bái 29
1.2.2.1 Điều kiện tự nhiên 29
1.2.2.3 Điều kiện về kỹ thuật - xã hội 35
1.2.2.4 Điều kiện về môi trường pháp lý 36
1.2.2.5 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của tỉnh Yên Bái 37
1.3 Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương 43 1.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương 43
1.3.2 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh 44
1.3.3 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh 46
Trang 4ii
Chương 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 48
TẠI YÊN BÁI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY 48
2.1 Khái quát tình hình thu hút vốn FDI tại Việt Nam 48
2.2 Chính sách thu hút FDI của Yên Bái 51
2.2.1 Ưu đãi về đơn giá thuê đất, thuê mặt nước 51
2.2.2 Hỗ trợ bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng 51
2.2.3 Hỗ trợ đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng 52
2.2.4 Hỗ trợ đào tạo, lãi suất, kinh phí tổ chức,hoạt động xúc tiến đầu tư 52
2.2.5 Về thủ tục hành chính 53
2.3 Phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Yên Bái 54
2.3.1 Quy mô và xu hướng dòng vốn FDI vào tỉnh Yên Bái 57
2.3.1.1 Quy mô 57
2.3.1.2 Xu hướng, đặc điểm 62
2.2.2 Cơ cấu dòng vốn FDI vào tỉnh Yên Bái 63
2.2.2.1 Cơ cấu vốn đầu tư theo hình thức đầu tư 63
2.3.2.2 Cơ cấu đầu tư theo đối tác 66
2.3.2.3 Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành nghề, lĩnh vực đầu tư 68
2.3.2.4 Cơ cấu vốn đầu tư theo địa bàn 69
2.3.3 Kết quả và nguyên nhân tồn tại của việc triển khai thực hiện thu hút FDI 74
2.3.3.1 Những kết quả đạt được 74
2.3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 75
2.4 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế xã hội tỉnh Yên Bái 81
2.4.1 Về mặt kinh tế 81
2.4.2 Về mặt xã hội 84
2.3.3 Về mặt môi trường 85
Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO TỈNH YÊN BÁI 86
3.1 Triển vọng thu hút FDI của tỉnh Yên Bái 86
3.2 Mục tiêu và định hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh
Yên Bái 88
Trang 5iii
3.2.1 Mục tiêu đến năm 2020 88
3.2.2 Những lĩnh vực ưu tiên phát triển 89
3.2.3 Định hướng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Yên Bái 91
3.2.3.1 Về địa bàn đầu tư 91
3.2.3.2 Về hình thức đầu tư 91
3.2.3.3 Về dự án kêu gọi đầu tư 91
3.2.3.4 Đối tác đầu tư: 95
3.3 Những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Yên Bái 95
3.3.1 Nhóm giải pháp về quy hoạch 95
3.3.2 Nhóm giải pháp về luật pháp, chính sách, môi trường đầu tư 97
3.3.3 Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư 100
3.3.4 Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng 102
3.3.5 Nhóm giải pháp về lao động 104
3.3.6 Nhóm giải pháp về tăng cường hiệu lực và quản lý của nhà nước 106
3.3.7 Một số giải pháp khác 107
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 6iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa Tiếng Anh Nguyên nghĩa Tiếng Việt
1 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
2 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
3 IFM International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
4 UNCTAD United Nation Conference on Trade
and Development
Hội nghị Liên hợp Quốc về Thương ma ̣i và Phát triển
5 OECD Organization for Economic
Co-operation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
6 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
7 BOT Build-Operate-Transfer Xây dựng-Vận hành-Chuyển
giao
8 R&D Reseach and Development Nghiên cứu và phát triển
9 M &A Mergers and Acquisitions Mua lại và Sáp nhập
10 TNCs Transnational Corporations Công ty Đa quốc gia
11 DTTs Double Taxation Avoidance Treaty Hiệp định tránh đánh thuế hai
lần
12 I IAs International Investment Agreements Hiệp định đầu tư quốc tế
14 EVN Elictric Viet Nam Điện lực Việt Nam
17 ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
20 GI Greenfield Investment Đầu tư mới
21 NGO Non-Governmental Organization Phi chính phủ
Trang 7v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Quy mô trung bình một dự án FDI của tỉnh Yên Bái 58
Bảng 2.2 Doanh nghiệp FDI đã bị thu hồi giấy phép tại Yên Bái 59
Bảng 2.3 Tình hình đăng ký lại giấy chứng nhận đầu tư của FDI trên đại bàn 61
Bảng 2.4 Cơ cấu vốn FDI theo hình thức đầu tư 63
Bảng 2.5 Cơ cấu vốn FDI theo hình thức đầu tư và loại hình đầu tư 64
Bảng 2.6 Cơ cấu vốn đầu tư FDI phân theo đối tác của tỉnh Yên Bái 67
Bảng 2.7 Cơ cấu vốn đầu tư FDI phân theo địa bàn tại tỉnh Yên Bái 69
Bảng 2.8 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện trên địa bàn tỉnh Yên Bái 72
Bảng 2.9 Bảng so sánh vốn đăng FDI của Yên Bái trong vùng Tây Bắc đến năm 2010 75
Bảng 2.10 Bảng so sánh vốn đăng FDI vùng Tây Bắc với các vùng khác trong cả nước 76 Bảng 3.1 Danh mục dự án kêu gọi đầu tư FDI tỉnh Yên Bái đến 2015 92
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 2.1 Các đại biểu tham dự Diễn đàn xúc tiến đầu tư vùng Tây Bắc năm 2010 55
Hình 2.2 Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái trao giấy chứng nhận đầu tư cho các doanh nghiệp đầu tư vào Yên Bái 56
Hình 2.3 Cơ cấu vốn FDI tỉnh Yên Bái theo hình thức đầu tư 64
Hình 2.4 Cơ cấu vốn FDI phân theo đối tác tại tỉnh Yên Bái 67
Hình 2.5 Địa bàn FDI hoạt động tại tỉnh Yên Bái 70
Hình 2.6 Tình hình thực hiện FDI trên địa bàn tỉnh Yên Bái 72
Hình 2.7 Cơ cấu thành phần kinh tế trên đại bàn tỉnh Yên Bái 82
Hình 2.8 Cơ cấu sản xuất công nghiệp theo thành phần kinh tế 83
Hình 2.9 Hậu trường sau khi thái thác đá của công ty TNHH cẩm thạch R.K ấn độ 85
Trang 81
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những tác động tích cực và quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với nền kinh tế Việt Nam trong hơn 20 năm qua là điều không thể phủ nhận FDI
đã đóng góp lượng vốn đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần thúc đẩy, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu, tạo ra những cơ hội và ưu thế mới về luân chuyển vốn quốc tế, để tham gia
có hiệu quả vào quá trình tự do hoá thương mại trên phạm vi toàn cầu
Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam nằm sâu trong nội địa, cách xa
Hà Nội, Hải Phòng, các cửa khẩu và các vùng trọng điểm phát triển kinh tế, ít có điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Yên Bái còn gặp nhiều khó khăn hơn các tỉnh vùng đồng bằng khi ngân sách địa phương mới chỉ đáp ứng được 20% - 30% nhu cầu chi thường xuyên còn lại do Trung ương hỗ trợ Dân số toàn tỉnh
có 749.145 người nhưng có gần 50% là đồng bào các dân tộc thiểu số (trong đó: dân tộc Kinh 49,6%, Tày 18,6%, Dao 10,3%, H’Mông 8,9%, Thái 6,7%, các dân tộc khác: Mường, Nùng, Cao Lan, Khơ me, Phù Lá dưới 2% dân số), kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp và không đồng đều Vùng cao Yên Bái trải rộng trên 7 huyện với
70 xã chiếm 64,4% diện tích và 30,2% dân số toàn tỉnh Phát triển kinh tế - xã hội vùng cao nói chung và Yên Bái nói riêng đòi hỏi phải có sự cố gắng nỗ lực rất lớn của địa phương và sự hỗ trợ của Nhà nước, của các tổ chức Quốc tế cả về đời sống, sản xuất, giải quyết việc làm, các vấn đề xã hội và xây dựng kết cấu hạ tầng
Trước tình hình trên, Yên Bái đã và đang làm gì để đưa kinh tế của Tỉnh nhà đi lên? Trong hơn 20 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới của đất nước, tỉnh Yên Bái đã đạt
được những thành tựu quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội Tốc độ tăng trưởng kinh tế Yên Bái đạt khá cao, GDP bình quân 9%/năm Đời sống người dân được cải thiện đáng kể Nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu kinh tế - xã hội trên là nguồn lực, một nhân tố quyết định được khơi dậy nhờ các chính sách đổi mới đúng đắn, hợp lòng dân trên các mặt của đời sống kinh tế, xã hội của đất nước Đồng
Trang 92
thời, nguồn vốn hỗ trợ từ bên ngoài đặc biệt là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở địa phương Một trong những kết quả quan trọng mà đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đem lại là tỉnh Yên Bái tiếp nhận được các kỹ thuật công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý trong một số ngành kinh tế Đồng thời việc tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ sản xuất hướng về xuất khẩu, đã tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp trong tỉnh tiếp cận và mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu của địa phương
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra cho tỉnh Yên Bái là tại sao phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và làm thế nào để tăng cường thu hút nguồn vốn này một cách có hiệu quả vào một tỉnh miền núi? Liệu các chính sách thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh đã thực sự thu hút nhà đầu tư chưa? Làm thế nào để Yên Bái là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư? Đó là những vấn đề cần quan tâm đối với các cấp, các ngành ở tỉnh
Yên Bái vì chỉ có thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mới giúp phát triển kinh tế
xã hội có hiệu quả, phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển của tỉnh nhà Do
vậy, việc nghiên cứu đề tài “Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Yên Bái" là hết sức
cần thiết, không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Yên Bái Từ thực trạng đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh, những kết quả đạt được và những tồn tại, kinh nghiệm thu hút đầu tư FDI của các tỉnh khác, chúng ta mới có thể đề ra giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy thu hút FDI tại tỉnh nhà một cách có hiệu quả
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, các vấn đề liên quan đến thu hút FDI đang được các học giả, các nhà nghiên cứu, nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu về thu hút FDI đã được công bố và có giá trị thực tiễn cao
Về sách chuyên khảo, tham khảo có các công trình nghiên cứu tiêu biểu:
- Lý thuyết thương mại và đầu tư quốc tế, Bài giảng cao học Nguyễn Anh Minh
(2001);
Trang 10- Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam của tác giả Đỗ
Đức Bình năm 2006 Các cuốn sách này mới chỉ đề cập đến các lý thuyết giải thích
sự hình thành FDI đứng trên góc độ quan hệ kinh tế quốc tế
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển KCN Lê Xuân Trinh (1998);
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế của Võ Đại Lược, Lê Bộ
Lĩnh (2000) Tác giả mới chỉ đề cập đến FDI trong KCN, thời gian chỉ dừng lại ở 2000 khi mà luật đầu nước ngoài vẫn còn hiệu lực
- Thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam, của
tác giả Hoàng Thị Bích Loan, chủ biên (2008) Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Tác giả cho ta thấy toàn cảnh bức tranh của TNCs trong dòng lưu chuyển vốn FDI toàn cầu, chiến lược đầu tư trực tiếp của các TNCs, thực trạng đầu tư trực tiếp của TNCs vào Việt Nam
Về giáo trình có các công trình nghiên cứu tiêu biểu:
- Giáo trình Đầu tư nước ngoài của tác giả Vũ Chí Lộc, xuất bản năm 1997
- Giáo trình quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tập 2,
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Bộ môn Kinh doanh quốc tế của Nguyễn Thị Hường, chủ biên (2004), Nhà xuất bản Thống kê Tác giả khái luận chung về quản trị
dự án FDI Đại cương về quản trị doanh nghiệp có vốn FDI Chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI Quản trị rủi ro trong hoạt động FDI Quản trị soạn thảo dự án FDI Quản trị thẩm định dự án FDI và triển khai dự án FDI giới thiệu những vấn đề chung
về quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn FDI, quản trị các giai đoạn của dự án FDI như quản trị soạn thảo dự án, quản trị thẩm định dự án, quản trị triển khai dự án;
- Một số vấn đề mới về FDI tại Việt Nam - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1996) Đã
nêu ra một số văn bản mới hướng dẫn hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài FDI tại Việt Nam Phương hướng hoạt động của FDI trong thời gian tới
- Giáo trình Đầu tư Quốc tế của tác giả Phùng Xuân Nhạ, xuất bản năm 2001
Trang 114
Các giáo trình này đã và đang được giảng dạy về đầu tư trong các trường đại học
có chuyên ngành kinh tế quốc tế Tuy nhiên, giáo trình này chủ yếu trình bày những vấn đề cơ bản nhất về đầu tư trực tiếp (FDI)
Bên cạnh các giáo trình và sách còn có rất nhiều luận án Tiến sĩ, các bài báo nghiên cứu về lĩnh vực FDI vào Việt Nam như:
- Luận án tiến sĩ Đỗ Hoàng Long: Tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Tác giả nghiên cứu tác động của
toàn cầu hoá kinh tế đối với dòng FDI trên thế giới và dòng FDI vào Việt Nam Nghiên cứu xu hướng vận động của dòng FDI toàn cầu và một số giải pháp đối với việc thu hút FDI vào Việt Nam
- Luận án tiến sĩBùi Huy Nhượng (2005) Một số biện pháp thúc đẩy việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Tác giả tập trung
phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Tìm những nguyên nhân về phía nhà nước đang cản trở hoạt động triển khai dự
án FDI tại Việt Nam Đề xuất biện pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc, nhằm thúc đẩy việc triển khai thực hiện dự án FDI tại Việt Nam
Các bài báo nghiên cứu về lĩnh vực FDI vào Việt Nam :
- Ảnh hưởng của FDI và chuyển giao công nghệ đến phát triển công nghiệp và xuất khẩu của các nước khu vực Đông Á và Đông Nam Á, Nguyễn Quang (2005) số 9, Tr.64-72, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
- Tác động của FDI đối với sự phát triển kinh tế của Trung Quốc - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam Nguyễn Xuân Thắng (2006) số 106, Tr.54-56, Tạp chí Kinh
tế và phát triển
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI, Trần Xuân
Hải (2006) số 2, Tr.13-15 Tạp chí Kinh tế và dự báo
- Những loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Khu vực Đông Á - Đông Nam
Á và kinh nghiệm thu hút vốn FDI của một số quốc gia Trà Ngọc Phong (2004) số 85,
Tr 53-56, Tạp chí Kinh tế và phát triển
Từ trước đến nay có nhiều luận án nghiên cứu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam nhưng ở địa bàn tỉnh Yên Bái mới có một Luận án Tiến sĩ và một số bài báo liên quan đến FDI Cụ thể:
Trang 12- Báo cáo 20 năm Đầu tư nước ngoài tại Yên Bái (1988 - 2008) Báo cáo đánh
giá đầu tư nước ngoài 20 năm tại Yên Bái, việc phân tích và đánh giá số mới chỉ dừng lại ở năm 2008
- Yên Bái tiềm năng và cơ hội đầu tư, của Hoàng Thạch (2010) Tạp chí Tổng
quan Kinh tế - Xã hội Việt Nam Số 1 - 2010 (Số 9), tác giả phân tích mặt mạnh mặt yếu trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tỉnh Yên Bái, đưa danh mục, các lĩnh vực, địa bàn kêu gọi đầu tư, các chính sách ưu đãi đối với nhà đầu tư
- Đẩy mạnh kinh tế đối ngoại và xúc tiến đầu tư: động lực đưa Yên Bái phát triển nhanh và bền vững, Tạp chí Tổng quan Kinh tế - Xã hội Việt Nam Số 1 -
2010 (Số 9) Đã cho ta thấy được bức tranh tổng quan thu hút đầu tư nước ngoài tại
tỉnh Yên Bái, phân tích thực trạng doanh nghiệp có vốn nước ngoài từ 2006 đến nay,
đề ra các chiến lược thu hút nguồn vốn nước ngoài (ODA, NGO, FDI) vào tỉnh Yên Bái đến 2015
- Các doanh nghiệp đến đầu tư vào các KCN Yên Bái sẽ được hưởng nhiều ưu đãi của tác giả Thạch Hoàng, Tạp chí Tổng quan Kinh tế - Xã hội Việt Nam Số 1 -
2010 (Số 9) Tác giả cho thấy tầm quan trọng hút đầu tư vào tỉnh Yên Bái nói chung, các KCN (KCN) nói riêng là động lực quan trọng để đưa kinh tế của tỉnh ngày một phát triển Xác định được tầm quan trọng đó, Yên Bái đã ban hành cơ chế chính sách thông thoáng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đến đầu tư vào các KCN trên địa bàn
Tóm lại: Với mục đích khác nhau, những công trình ở trên nghiên cứu những
vấn đề liên quan về đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Yên Bái ở những góc độ khác nhau Do vậy, chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách trực tiếp đầy đủ và hệ thống về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Yên Bái từ 2001 đến nay Vì vậy, tác giả
chọn đề tài “Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Yên Bái" làm luận văn Thạc sỹ
Trang 13- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Yên Bái trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên tác giả đề ra nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn là:
- Khái quát một số lý luận cơ bản liên quan đến thu hút đầu từ trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Yên Bái
- Phân tích đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Yên Bái giai đoạn 2001 đến nay
- Nghiên cứu cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Yên Bái trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Yên Bái giai đoạn 2001 đến nay, trong đó tập trung vào nghiên cứu thực trạng thu hút FDI qua quy mô Fdi của từng năm và giai đoạn, sự chuyển biến trong cơ cấu FDI và ảnh hưởng của chính sách thu hút FDI của tỉnh đến triển khai FDI đặt trong bối cảnh thu hút FDI chung của cả nước
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp hệ thống:
Việc nghiên cứu tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Yên Bái được thực
Trang 147
hiện đồng bộ, gắn với hoàn cảnh, điều kiện và các giai đoạn cụ thể và kế thừa các công
trình nghiên cứu trước đây
Phương pháp thống kê: tác giả sử dụng các số liệu thống kê thích hợp để phục
vụ cho quá trình phân tích thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Yên
Bái từ đó đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút và nâng cao hiệu quả kinh
doanh của vốn FDI
Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở phân tích tình hình thực trạng
thu hút FDI tại Yên Bái, tác giả đưa ra các đánh giá chung có tính chất khái quát về
mặt được, những hạn chế của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Yên Bái
Phương pháp so sánh, đối chiếu: tác giả sử dụng phương pháp so sánh - đối
chiếu để so sánh kinh nghiệm của ba tỉnh Bắc Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh và Bình
Dương trong việc thu hút FDI Từ đó, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm cho
tỉnh Yên Bái
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp phân tích SWOT để đánh giá điểm
mạnh điểm yếu và cơ hội thách thức đối tỉnh Yên Bái trong việc thu hút FDI
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích làm rõ thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Yên Bái giai
đoạn 2001 đến nay;
- Đánh giá các yếu tố tác động đến thu hút FDI vào tỉnh Yên Bái chỉ ra những
nhân tố thuận lợi, khó khăn, những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào tỉnh Yên Bái trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục tham khảo, danh mục viết tắt, bảng biểu
luận văn bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn vai trò của đầu trực tiếp nước ngoài đối
với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Yên Bái Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Yên Bái giai
đoạn 2001- đến nay
Chương 3: Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
tỉnh Yên Bái trong thời gian tới
Trang 158
CHƯƠNG 1
CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH YÊN BÁI
1.1 Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1 Khái niệm
Hiện nay đã có khá nhiều cách hiểu khác nhau về FDI, chẳng hạn:
Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) đưa ra khái niệm FDI là một công cuộc đầu tư ra
khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trưc tiếp đạt được một phần hay toàn bộ
quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp FDI trong một quốc gia khác Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận FDI
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau về FDI: FDI
xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản
lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp,
cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD) đưa ra khái niệm: FDI phản ánh những lợi ích khách quan
lâu dài mà một thực thể kinh tế tại một nước (nhà đầu tư) đạt được thông qua một cơ
sở kinh tế tại một nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc đất nước của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) Đầu tư trực tiếp bao hàm sự giao dịch ngay từ đầu và tất cả những giao dịch vốn tiếp sau giữa hai thực thể được liên kết một cách chặt chẽ
Quan điểm về FDI của Việt Nam theo quy định tại Điều 3 Luật đầu tư năm 2005:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” [9, Tr 15]
Tóm lại: các khái niệm khác nhau về FDI đều thống nhất ở các điểm như: FDI
là hình thức đầu tư quốc tế, cho phép các nhà đầu tư tham gia điều hành hoạt động đầu
Trang 16tư nước ngoài có thể đầu tư bằng tài sản ở nước tiếp nhận đầu tư nhưng phải là những loại tài sản do nước tiếp nhận đầu tư quy định trong luật pháp chứ không phải bất kỳ loại tài sản nào Nguồn vốn đầu tư không chỉ bao gồm nguồn vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu
tư từ nguồn lợi nhuận thu được
1.1.1.2 Đặc điểm cơ bản của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình của hoạt động đầu tư, do đó nó mang những đặc điểm của hoạt động đầu tư nói chung Ngoài các đặc điểm cơ bản của hoạt động đầu tư nói chung, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có các đặc điểm mang tính đặc thù khác với đầu tư gián tiếp nước ngoài như sau:
FDI mang tính lâu dài: FDI thường gắn với thời gian hoạt động tương đối dài
Đây là đặc điểm phân biệt giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với đầu tư gián tiếp Đầu tư gián tiếp thường là các dòng vốn có thời gian hoạt động ngắn và có thu nhập thông qua việc mua bán cổ phần, cổ phiếu, chứng khoán, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác Đầu tư gián tiếp có tính thanh khoản cao hơn đầu tư trực tiếp, dễ dàng thu lại số vốn đầu tư ban đầu khi đem bán cổ phần, cổ phiếu, chứng khoán, trái phiếu và các giấy tờ
có giá khác từ đó tạo điều kiện cho thị trường tiền tệ phát triển ở những nước tiếp nhận đầu tư
FDI có sự tham gia quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài: Đây cũng là đặc
điểm phân biệt giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Trong khi đầu tư gián tiếp không cần có sự tham gia quản lý doanh nghiệp ở nước đầu tư, các khoản thu nhập chủ yếu từ cổ tức từ việc mua chứng khoán tại các doanh nghiệp ở nước đầu tư, còn đầu tư trực tiếp thì nhà đầu tư trực tiếp tham gia điều hành hoặc tự điều hành dự án
Trang 1710
Hầu hết các dự án FDI đều gắn liền với hoạt động thương mại, chuyển giao công nghệ, di cư lao động quốc tế: Đi kèm với đầu tư trực tiếp nước ngoài là các hoạt
động thương mại, chuyển giao máy móc thiết bị và di cư lao động quốc tế Trong đó di
dư lao động quốc tế góp phần vào việc chuyển giao kỹ năng quản lý cho nước tiếp nhận đầu tư
FDI là hình thức kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản xuất”, “chu kỳ tuổi thọ kỹ thuật”
và “nội bộ hoá di chuyển kỹ thuật”: Trên thực tế là trong nền kinh tế hiện đại có một
số yếu tố liên quan đến kỹ thuật sản xuất phải lựa chọn phương thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như một điều kiện của sự tồn tại và phát triển của mình Ngoài ra đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giúp doanh nghiệp thay đổi được dây chuyền công nghệ lạc hậu ở nước mình nhưng dễ chấp nhận ở nước có dây chuyền công nghệ thấp hơn và góp phần kéo dài chu kỳ sản xuất
Tính đa quốc tịch của các bên trong dự án FDI: Trong một dự án FDI luôn có
ít nhất hai bên: bên nước sở tại và bên nước ngoài Bên nước sở tại có thể là một hoặc nhiều bên, bên nước ngoài cũng có thể là một hoặc nhiều bên FDI gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách về FDI của mỗi quốc gia tiếp nhận đầu tư thể hiện chính sách mở cửa và quan điểm hội nhập quốc tế về đầu tư
Dự án FDI chịu sự chi phối đồng thời của nhiều hệ thống pháp luật: Các chủ
đầu tư trong dự án FDI mang quốc tịch của các quốc gia khác nhau, do đó các dự án FDI đồng thời chịu sự chi phối bởi luật pháp của nhiều quốc gia Thêm vào đó, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mang tính quốc tế, do vậy nó còn bị chi phối bởi luật pháp quốc tế
1.1.1.3 Phân loại hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Qua nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài
qua các thời kỳ có thể nhận thấy bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích đầu tư hay tìm kiếm lợi nhuận ở nước tiếp nhận đầu tư
thông qua di chuyển vốn (bằng tiền và tài sản, công nghệ và trình độ quản lý của nhà đầu tư nước ngoài) từ nước đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư Nhà đầu tư ở đây bao gồm tổ chức hay cá nhân chỉ mong muốn đầu tư khi cho rằng khoản đầu tư đó có thể đem lại lợi ích hoặc lợi nhuận cho họ Đây là một trong những đặc điểm cơ bản nhất
và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc hình thành hoạt động FDI giữa các quốc gia
Trang 1811
Xét theo mục đích của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Hội nghị về thương mại và phát triển của Liên hiệp quốc (UNCTAD), FDI trong giai đoạn này bao gồm các hình chủ yếu sau:
Tìm kiếm tài nguyên và lao động rẻ: Là hình thức nguyên thuỷ của các công ty
xuyên quốc gia (TNCs) đầu tư vào các nước đang phát triển Hình thức này sẽ tạo ra thương mại gắn với sản xuất thành phẩm (hoặc sản phẩm đầu ra), đồng thời có tác động thúc đẩy thương mại thông qua nhập khẩu tư liệu sản xuất từ các nước đầu tư sang các nước nhận đầu tư và xuất khẩu bán thành phẩm từ nước nhận đầu tư Đây là dạng tiêu biểu nhất nhằm vào các quốc gia ĐPT như Trung Đông, Châu Phi, Đông Âu
và các nước Đông Nam Á mà Việt Nam là một trong những mục tiêu quan trọng Tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ là những “mặt hàng” các TNCs rất thích ở các quốc gia ĐPT với mức sinh hoạt còn thấp
Tìm kiếm thị trường: Là hình thức đầu tư sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại thị
trường của nước nhận đầu tư Các công ty tiến hành đầu tư dưới dạng này điển hình là các công ty sản xuất đa dạng các sản phẩm gia dụng hoặc các loại hàng hoá công nghiệp khác nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế hoặc trong lai đối với sản phẩm của họ Một số trường hợp FDI tìm kiếm thị trường có thể là các công ty cung ứng phục vụ cho khách hàng nước ngoài Đầu tư theo kiểu tìm kiếm thị trường có tính phòng thủ và
do các công ty cố gắng vượt qua các rào cản nhập khẩu thực tế hoặc có thể xảy ra Do vậy một chế độ thương mại thông thoáng là cần thiết để các nhà đầu tư phục vụ các nước láng giềng hoặc các nước khác Là những FDI nhằm vào việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phảm của các công ty chủ quản Điển hình nhất là đầu tư FDI của công ty Coca-Cola và Pepsi- Cola và Trung Quốc, Ấn Độ hay Việt Nam
FDI tìm kiếm hiệu quả kinh doanh: Là dạng FDI thường thấy ở các quốc gia
phát triển, nguồn FDI nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và trao đổi khoa học kỹ thuật lẫn nhau
Tìm kiếm tài sản chiến lược: Hình thức này xuất hiện ở giai đoạn phát triển cao
của quá trình toàn cầu hoá các hoạt động của công ty khi các công ty (kể cả công ty đang phát triển) đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm khả năng nghiên cứu và phát triển (R&D)
Trang 1912
Xét theo kênh đầu tư, FDI được chia thành đầu tư mới (GI) và mua lại & sát nhập
Đầu tư mới (GI-Greenfield Investment): Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài
được sử dụng để xây dựng các doanh nghiệp mới hoặc phát triển thêm các doanh nghiệp có sẵn trong nước Đây là phương thức các quốc gia nhận FDI thích nhất vì tạo thêm công ăn việc làm cho lao động trong nước, nâng cao sản lượng, chuyển giao công nghệ kỹ thuật cao cấp, đồng thời tạo những mối quan hệ trao đổi với thị trường thế giới Những mặt yếu của GI là có thể “bóp nghẹt” sản xuất trong nước vì nhờ khả năng cạnh tranh cao hơn về kỹ thuật và hiệu qủa kinh tế, đồng thời là khô cạn tài nguyên trong nước, ngoài ra một phần lợi nhuận quan trọng sẽ chảy ngược về công ty
mẹ
Sáp nhập và mua lại (M&A-Mergers and Acquisitions): Hình thức này xảy ra
khi tài sản của một doanh nghiệp trong nước được chuyển giao cho một doanh nghiệp nước ngoài Hình thức chuyển giao này có thể là một sự sáp nhập giữa một công ty trong nước và một công ty nước ngoài để tạo thành một doanh nghiệp với một tư cách pháp nhân mới Doanh nghiệp mới này bắt đầu có tính cách đa quốc gia Trường hợp sáp nhập với một công ty nước ngoài, phần FDI được tính là phần tài trợ mà công ty trong nước nhận được từ bộ phận công ty nước ngoài rót vào Hình thức chuyển giao thứ hai là bán đứt công ty trong nước cho công ty nước ngoài, trường hợp này FDI được tính là những khoản đầu tư từ công ty mẹ qua cho công ty con trong nước
Xét theo mục đích đầu tư, FDI được chia làm 2 hình thức:
FDI hàng ngang (Horizontal FDI): Công ty nước ngoài đầu tư trực tiếp cùng
công nghệ: ví dụ công ty Intel đầu tư nhà máy sản xuất chíp điện tử giống như ở bên
Mỹ
FDI hàng dọc (Vertical FDI): Đây là trường hợp công ty nước ngoài đầu tư
nhằm cung cấp hàng hóa cho công ty trong nước hay bán các sản phẩm công ty trong nước làm ra
Xét theo tiêu chí vốn và quản lí hoạt động, FDI được chia thành:
Hình thức liên doanh
Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng:
Hình thức 100 % vốn nước ngoài
Trang 20 Nhóm lý thuyết kinh tế vĩ mô:
Các lý thuyết kinh tế vĩ mô dựa trên mô hình cổ điển 2x2 (hai nước, hai hàng hóa, hai yếu tố sản xuất) để so sánh hiệu quả của vốn đầu tư hoặc tỷ suất lợi nhuận, từ
đó giải thích và dự đoán hiện tượng đầu tư nước ngoài dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố đầu tư (vốn, lao động, công nghệ) giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư [28, tr 16]
Lý thuyết thương mại quốc tế của Heckcher - Ohlin - Samuelson (hay còn gọi là
mô hình HOS): Lý thuyết này được xây dùng dựa trên các giả định: (1) Hai nước tham gia trao đổi hàng hóa hoặc đầu tư (nước I và nước II), hai yếu tố sản xuất (lao động - L
và vốn - K), sản xuất ra hai hàng hoá (X và Y); (2) trình độ kỹ thuật sản xuất, thị hiếu, hiệu quả kinh tế theo qui mô ở hai nước như nhau; thị trường tại hai nuớc cạnh tranh hoàn hảo, không có chi phí vận tải, không có sự can thiệp của chính sách, không hạn chế đầu tư, vốn được vận chuyển tự do Từ giả định này, mô hình HOS phân tích tỷ lệ chi phí của các yếu tố sản xuất (L và K) ở hai nước và chỉ ra rằng sản lượng của hai nước sẽ tăng lên nếu mỗi nước tập trung sản xuất để xuất khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều yếu tố sản xuất dư thừa và tiết kiệm yếu tố khan hiếm; ngược lại sẽ nhập khẩu những hàng hóa có chứa ít hàm lượng yếu tố dư thừa mà dùng nhiều yếu tố khan hiếm Mô hình này còn được gọi là lý thuyết các yếu tố sản xuất (Dominick Salvantore, 1993)
Một cách tiếp cận khác, Richard S.EcKaus dựa trên cơ sở mô hình HOS nhưng ông đã loại bỏ giả định không có sự di chuyển các yếu tố sản xuất giữa các nước trong
mô hình HOS và mở rộng phân tích để xây dựng lý luận về sự chênh lệch hiệu quả đầu
tư, từ đó giải thích nguyên nhân hình thành đầu tư nước ngoài Tác giả cho rằng, nước đầu tư thường có hiệu quả sử dụng vốn thấp (thừa vốn), trong khi nước nhận đầu tư lại
có hiệu quả sử dụng vốn cao (thiếu vốn) Từ đó kết luận, chênh lệch về hiệu quả sử
Trang 2114
dụng vốn giữa các nước là nguyên nhân tạo ra dòng lưu chuyển vốn đầu tư quốc tế từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn nhằm đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu của chủ đầu tư
Cũng dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của mô hình HOS, K.Kojima đưa ra quan điểm nguyên nhân hình thành đầu tư nước ngoài là do có sự chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận giữa các nước và sự chênh lệch này được bắt nguồn từ sự khác biệt về lợi thế
so sánh trong phân công lao động quốc tế
Lý thuyết của Macdougall-Kemp (hay còn gọi là mô hình Macdougall-Kemp)
Mô hình này cũng có quan điểm như mô hình HOS, đồng thời giả định cạnh tranh giữa hai nước là hoàn hảo, quy luật năng suất cận biên của vốn giảm dần và giá cả sử dụng vốn được quyết định bởi quy luật này Theo tác giả, do những nước phát triển dư thừa vốn đầu tư nên có năng suất cận biên của vốn thấp hơn năng suất cận biên của vốn ở những nước ĐPT Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn đầu tư giữa các nước là nguyên nhân dẫn đến lưu chuyển dòng vốn quốc tế Do vậy, cần giải thích hiện tượng đầu tư quốc tế từ phân tích so sánh giữa chi phí và lợi ích của di chuyển vốn ra nước ngoài [50, tr 17]
Một số lý thuyết khác thuộc nhóm này cũng đã giải thích nguyên nhân của FDI
từ các chính sách vĩ mô của các nước tham gia đầu tư như tỷ giá hối đoái, thuế quan bảo hộ Chẳng hạn Sibert cho rằng thuế cao không khuyến khích được FDI, vì thế các yếu tố đầu tư trong nước không khai thác được lợi thế so sánh [26, tr 21]
Qua một số lý thuyết kinh tế vĩ mô về FDI trên đây cho thấy: Các lý thuyết đã
chỉ ra nguyên nhân xuất hiện đầu tư nước ngoài là do có sự chênh lệch về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư giữa các nước Các lý thuyết đều dựa trên cơ sở lý thuyết phân công lao động quốc tế, phù hợp với nguyên tắc chung của lý thuyết thương mại và di chuyển các nguồn lực sản xuất quốc tế nhưng là sự phát triển lý thuyết thương mại quốc tế trong điều kiện có sự di chuyển vốn đầu tư, bởi vì lý thuyết thương mại dựa trên nguyên tắc tỷ lệ chi phí trong khi các lý thuyết trên căn cứ vào chênh lệch tỷ suất lợi nhuận
Mặc dù đã giải thích được nguyên nhân và ảnh hưởng của FDI đối với nền kinh
tế các nước tham gia đầu tư, nhưng vì các lý thuyết dựa trên những giả định đơn giản hóa và phân tích ở trạng thái tĩnh nên chưa phản ảnh hết thực tế của nền kinh tế Để so
Trang 2215
sánh được tỷ suất lợi nhuận giữa các nước còn phải xét đến nhiều yếu tố khác nữa về môi trường đầu tư, chính sách phát triển kinh tế của các nước, vai trò của các công ty xuyên quốc gia (TNCs), xu hướng tự do hoá thương mại và đầu tư, nhất là trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập KTQT ngày càng sâu rộng hiện nay Ví dụ, Mỹ là nơi cung cấp FDI ra nước ngoài rất lớn nhưng đồng thời cũng là nước hấp thụ vốn FDI lớn nhất thế giới Hơn nữa, FDI không phải chỉ là sự di chuyển vốn đầu tư giữa các nước
mà kèm theo FDI là sự chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý Vì thế, nước nhận đầu tư, nhất là các nước ĐPT đã và đang có những chính sách cải thiện môi trường đầu
tư hấp dẫn và tăng cường cạnh tranh thu hút FDI
Nhóm lý thuyết kinh tế vi mô
Cùng với sự phát triển của các lý thuyết kinh tế vĩ mô, nhiều quan điểm lý
thuyết kinh tế vi mô cũng đã nghiên cứu về FDI Các lý thuyết tổ chức công nghiệp (Industrial organisation theories) ra đời vào đầu những năm 1960 đã giải thích sự phát
triển mạnh của các công ty lớn độc quyền ở Mỹ là nguyên nhân quan trọng tạo ra dòng FDI Stephen Hymer cho rằng, do kết cấu của thị trường độc quyền đã thúc đẩy các công ty của Mỹ mở rộng chi nhánh ra nước ngoài để khai thác các lợi thế về vốn, công nghệ, kỹ thuật quản lý, mạng lưới thị trường mà các công ty trong cùng ngành ở nước nhận đầu tư không có được Đó là nguyên nhân hình thành các TNCs và việc thành lập các chi nhánh ở nước ngoài Robert Z.Aliber giải thích hiện tượng FDI từ ảnh hưởng của yếu tố thuế và quy mô thị trường tác động đến các công ty độc quyền Theo Z.Aliber, thuế đã làm tăng giá nhập khẩu nên các công ty phải di chuyển sản xuất ra nước ngoài để vượt qua hàng rào thuế quan bảo hộ để giảm chi phí, hạ giá thành, tăng lợi nhuận Mặt khác, hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào qui mô thị trường nên các công ty độc quyền đã mở rộng thị trường bằng cách thành lập chi nhánh ở nước ngoài Richard E.Caver lý giải, những sản phẩm được chế tạo bởi kỹ thuật mới thường có xu hướng độc quyền do có giá thành hạ nên đã tích cực mở rộng phạm vi sản xuất ra nước ngoài để khai thác lợi thế độc quyền kỹ thuật nhằm tối đa hóa lợi nhuận, từ đó hình thành FDI
Lý thuyết chu kỳ sản phẩm của Vernon đưa ra năm 1966 đã lý giải hiện tượng
FDI trên cơ sở phân tích các giai đoạn phát triển của sản phẩm Theo Vernon, bất kỳ sản phẩm nào đều trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn phát minh và thử nghiệm - đổi mới;
Trang 2316
giai đoạn phát triển quy trình chín muồi - tăng trưởng, sản xuất hàng loạt; giai đoạn tiêu chuẩn hóa sản xuất - bão hòa, bước vào suy thoái ở giai đoạn đổi mới sản phẩm chỉ diễn ra ở các nước phát triển (Mỹ), bởi vì: Ở đó có thu nhập cao tác động đến nhu cầu và khả năng tiêu thụ sản phẩm mới; có điều kiện để nghiên cứu và phát triển (R&D); chỉ ở các nước phát triển thì kỹ thuật sản xuất tiên tiến với đặc trưng sử dụng nhiều vốn mới phát huy được hiệu quả cao Kết quả, do sản xuất quy mô lớn, năng suất lao động cao, giá thành sản phẩm giảm đã làm cho sản xuất sản phẩm đạt tới mức bão hòa Khi đó, để tránh lâm vào khủng hoảng và tiếp tục phát triển sản xuất theo qui
mô đã đạt được buộc các công ty phải mở rộng thị trường tiêu thụ ra nước ngoài Nhưng việc tiêu thụ sản phẩm ra thị trường nước ngoài lại vấp phải những rào cản lớn như chi phí vận chuyển, chi phí thuế quan do chính sách bảo hộ của nước sở tại Nên
để vượt qua những rào cản này cũng như tranh thủ lợi thế về chi phí nhân công và nguyên liệu đầu vào rẻ ở các nước ĐPT, các công ty lựa chọn phương án di chuyển sản xuất ra nước ngoài bằng cách thành lập các chi nhánh mới, từ đó tạo ra dòng vốn FDI
Từ lý thuyết chu kỳ sản phẩm, Akamatsu (1969) đã xây dùng lý thuyết chu kỳ
sản phẩm đuổi kịp Akamatsu đi tìm nguyên nhân tạo ra dòng FDI từ việc nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển liên tục ngành công nghiệp của nước nhận đầu tư, từ khi nhập khẩu đến sản xuất và tiêu dùng nội địa rồi chuyển sang xuất khẩu Theo Akamatsu, sản phẩm mới được phát minh và sản xuất ở trong nước (nước đầu tư) sau
đó được xuất khẩu ra nước ngoài Tại nước nhập khẩu (nước nhận đầu tư) do ưu điểm của sản phẩm mới xâm nhập làm cho nhu cầu thị trường nội địa tăng lên, khi đó nước này chuyển hướng sản xuất sản phẩm thay thế nhập khẩu dựa vào vốn, công nghệ của nước ngoài Sản xuất đến một mức nào đó, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm tại thị trường trong nước lại đạt mức bão hòa, khi ấy nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện và các chu kỳ này cứ tiếp diễn dẫn đến hình thành dòng FDI
Oberender mở rộng lý thuyết chu kỳ sản phẩm thông qua mô hình định hướng phát triển thị trường để giải thích động cơ thực hiện FDI Theo Oberender, công ty đi tiên phong trong việc đổi mới sản phẩm sẽ gặt hái được thành công trong việc chiếm lĩnh thị trường, nhưng đến một thời điểm nào đó sẽ có nguy cơ bị mất dần lợi thế độc quyền do năng lực sản xuất của công ty bị kìm hãm bởi thị trường nội địa đã trở nên
Trang 2417
quá chật hẹp, khi ấy sức ép cạnh tranh buộc công ty phải tìm kiếm thị trường ở nước ngoài bằng nhiều cách: (1) Xuất khẩu hàng hóa sang các nước mà ở đó chưa thể sản xuất những sản phẩm có trình độ công nghệ cao; (2) thông qua hoạt động FDI để sản xuất sản phẩm ngay tại thị trường ngoài nước Trước tình hình hàng rào bảo hộ mậu dịch và chi phí vận chuyển cao, các công ty thiên về việc chọn cách đặt cơ sở sản xuất tại nước ngoài, đó là nguyên nhân dẫn đến FDI
Lý thuyết lợi thế độc quyền về FDI: Lý thuyết này hình thành trên cơ sở lý
thuyết cạnh tranh độc quyền, tính không hoàn hảo của thị trường Theo lý thuyết này, các công ty TNCs nắm giữ những lợi thế độc quyền nên cho phép điều hành các chi nhánh ở nước ngoài hoạt động có hiệu quả hơn so với các công ty bản địa Những lợi thế độc quyền về công nghệ, kỹ năng quản lý, thị trường tiêu thụ đã tạo cho các TNCs có những quyền lực vô hình trong cạnh tranh mà các công ty ở bản địa không có được Tuy nhiên, đây mới là điều kiện cần, còn điều kiện nữa là lợi nhuận thu được từ việc mở chi nhánh để sản xuất kinh doanh ở nước ngoài phải cao hơn so với sản xuất ở trong nước sau đó xuất khẩu ra nước ngoài tiêu thụ, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến thực hiện FDI theo chiều ngang
Lý thuyết quốc tế hóa sản xuất (Rugman và Buckley) được xây dùng dựa trên các giả định: TNCs tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo; tính không hoàn hảo của thị trường bán thành phẩm; TNCs tạo ra quốc tế hoá thị trường Từ những giả định này, lý thuyết đã phân tích nguyên nhân đầu tiên hình thành
và phát triển các TNCs là do tác động của thị trường không hoàn hảo TNCs còn được xem như một giải pháp tốt nhằm khắc phục những vấn đề của thị trường thông qua việc mở rộng quy mô ra bên ngoài để mở rộng sản xuất và phân phối sản phẩm Reuber cho rằng, TNCs đã có vai trò đối với các nước ĐPT, quá trình quốc tế hóa của TNCs đã mang lại nhiều lợi ích về vốn, kỹ thuật, công nghệ, việc làm cho các nước ĐPT Tuy nhiên, cũng có những tác giả như Singer, Lall, Vaitsos đã có những đánh giá về tác động tiêu cực không nhỏ của TNCs đối với các nước ĐPT
Nhìn chung, các lý thuyết kinh tế vi mô về FDI trên đây đã giải thích nguyên
nhân hình thành và ảnh hưởng của FDI đối với nền kinh tế thế giới và mỗi quốc gia tham gia đầu tư, nhất là các nước ĐPT Các lý thuyết nghiên cứu từ việc phân tích một công ty, một hàng hóa cụ thể như là kết quả tự nhiên của quá trình khai thác các lợi thế
Trang 2518
độc quyền ở nước ngoài để tối đa hóa lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu cũng như giải thích sự hình thành TNCs và tại sao các công ty lại đầu tư ra nước ngoài, tác động của TNCs đối với nước nhận đầu tư, chủ yếu là các nước ĐPT Vì thế nó mang tính khái quát cao, chặt chẽ và gần thực tiễn hơn Song, lý thuyết kinh tế vi mô về FDI cũng chưa phản ảnh hết những nguyên nhân thực tế khác góp phần vào việc hình thành FDI như sự phát triển của khoa học công nghệ, chính sách phát triển kinh tế, môi trường đầu tư
Học thuyết kinh tế Mác - Lênin: Theo quan điểm lý thuyết xuất khẩu tư bản,
Lênin cho rằng việc xuất khẩu giá trị nhằm thu được giá trị thặng dư ở ngoài biên giới quốc gia đã trở thành một đặc trưng kinh tế của chủ nghĩa tư bản khi bước sang giai đoạn độc quyền - chủ nghĩa đế quốc Người chỉ rõ, điểm điển hình của chủ nghĩa tư bản cũ, trong đó có sự tự do cạnh tranh hoàn toàn thống trị, là việc xuất khẩu hàng hoá; điểm điển hình của chủ nghĩa tư bản mới, trong đó các tổ chức độc quyền thống trị là việc xuất khẩu tư bản Khi đạt đến trình độ phát triển cao của tư bản tài chính, lúc này xuất hiện "tư bản thừa", để thu được lợi nhuận cao trong điều kiện tỷ suất lợi nhuận nếu đầu tư ở trong nước thấp, các nước tư bản sẽ chuyển nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài để có tỷ suất lợi nhuận cao hơn Lênin cho rằng, sở dĩ cần phải xuất khẩu
tư bản vì trong một số nước tư bản đã quá chín, và tư bản thiếu địa bàn đầu tư có lợi Trong khi đó, ở nhiều nước thuộc địa, nền kinh tế còn lạc hậu cần tư bản để phát triển, đổi mới kỹ thuật, học tập kinh nghiệm quản lý và mở rộng thị trường, do đó có sự gặp nhau giữa nước xuất khẩu tư bản và nước tiếp nhận tư bản [50, tr 13]
Phát triển quan điểm lý thuyết trên, các nhà kinh tế mácxit cho rằng các công ty
tư bản độc quyền (ngành chế tạo) đầu tư sang các nước ĐPT để khai thác nguồn lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên phong phú Đó là nguyên nhân hình thành FDI Như vậy, học thuyết kinh tế Mác - Lênin về xuất khẩu tư bản cung cấp những cơ sở khoa học để hiểu rõ về bản chất của đầu tư nước ngoài
1.1.2.2 Thực tiễn
Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước: HelpMan & Sibert,
Richard S Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên của vốn giữa các nước Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn Còn một nước thiếu
Trang 2619
vốn thường có năng suất cận biên cao hơn Tình trạng này sẽ dẫn tới sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận
Chu kỳ sản phẩm: Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm ban đầu được
phát minh và sản xuất ở nước đầu tư sau đó mới được xuất khẩu sang thị trường nước ngoài Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm cho nhu cầu của thị trường nội địa tăng lớn, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thuật của nước ngoài Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trong thị trường trong nước bảo hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện Hiện tượng này xảy ra theo chu kỳ và dẫn tới sự hình thành FDI
Raymond Vernon (1966) lại cho rằng, khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là do thị trường sản phẩm này
có rất nhiều nhà cung cấp Ở giai đoạn này, sản phẩm mới được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn
Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia: Stephen H Hymes (1960) công
bố năm 1976, John H Dunning (1981), Rugman A A (1987) và một số người khác cho rằng các công ty TNCs có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn như năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai, chính trị…) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên
Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại: Đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương Nhật Bản hay bị
Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương Để đối phó Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang Họ còn đầu
tư trực tiếp vào các nước thứ ba và từ đó xuất khẩu sang Bắc Mỹ và châu Âu
Khai thác chuyên gia và công nghệ: Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước
phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ
Trang 27ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM Hay việc công ty TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electroincs, việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy
Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên: Để có nguồn nguyên liệu, nhiều công ty
xuyên quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là với mục đích này FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự
1.1.2.3 Xu hướng FDI trên thế giới
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển nền kinh tế thế giới, cả với nhận đầu tư và nước đầu tư Cũng như
sự phát triển của nền kinh tế thế giới, sự vận động của dòng vốn FDI chịu tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau như: kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội và các nhân tố tự nhiên khác Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 2008 và xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đã khiến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều biến đổi sâu sắc Trong những năm gần đây, FDI ngày càng được mở rộng và tăng lên cả về quy mô, hình thức, thị trường, lĩnh vực đầu tư, đồng thời thể hiện vị trí, vai trò ngày càng to lớn trong quan hệ kinh tế quốc tế Sự vận động của FDI đang thay đổi đáng kể theo những xu hướng sau:
Xu hướng FDI theo cơ cấu : Cuối năm 2008 và đầu năm 2009, FDI giảm sút ở
cả 03 nhóm: tái đầu tư, vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay (chủ yếu vay trong nội bộ công ty) Đầu tư cổ phần giảm cùng với giảm M&A Lợi nhuận giảm dẫn tới giảm phần tái đầu tư chiếm 46% tổng lượng FDI từ các nước phát triển ra nước năm 2009 Trong một số trường hợp việc tái cấu trúc ở công ty mẹ và trụ sở chính dẫn tới việc
Trang 2821
các công ty con ở nước ngoài phải trả nợ khá lớn, làm giảm nguồn vay trong nội bộ công ty để đầu tư từ các TNCs tới các công ty con ở nước ngoài Đáng kể là tỷ lệ giảm đầu tư cổ phần hiện nay cao hơn lượng đăng ký trong lần suy thoái trước
Số liệu về M&A xuyên quốc gia theo ngành hiện có cho thấy các công ty ở một
số ngành đó tăng hoạt động FDI trong năm 2009 Những ngành có trị giá các thương
vụ bán M&A xuyên quốc gia tăng trong năm 2009 là lương thực, đồ uống, và thuốc lá, nổi bật là vụ Stiching Interbrew (Bỉ) mua Anheuser Busch (Mỹ) trị giá 52 tỷ USD; ngành khai khoáng, khai thác than và dầu mỏ, máy chính xác; ô tô và phương tiện vận tải khác; dịch vụ kinh doanh và các dịch vụ khác; nông nghiệp, săn bắt, lâm và thủy sản; luyện than cốc, dầu mỏ và năng lượng hạt nhân; và hành chính công và quốc phòng Nhìn chung, khu vực sơ cấp có mức tăng 17% về trị giá bán M&A xuyên quốc gia trong năm 2009; trong khi ngành chế tạo và dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tích lũy FDI trên thế giới đó giảm với mức tương ứng 10% và 54%
Xu hướng FDI của các TNCs : Hiện nay, trên toàn thế giới đó có 82 nghìn
TNCs với 810 nghìn công ty con ở nước ngoài Những công ty này đóng vai trò chủ đạo và ngày càng tăng trong nền kinh tế thế giới Hầu hết các hoạt động FDI được thực hiện qua kênh TNCs Năm 1997, các chi nhánh TNCs trên thế giới với tổng tài sản trên 12,6 nghìn tỷ USD đã đầu tư ra nước ngoài lượng vốn 422 tỷ USD năm 1999 là
644 tỷ USD, năm 2001 là 1,1 nghìn tỷ USD, năm 2009 là 1,2 nghìn tỷ USD [40, tr 7]
Xu hướng FDI theo vùng:
Xu hướng FDI vào Châu Á: Dòng vốn FDI vào khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương trong giai đoa ̣n 2005 đến nay tiếp tục gia tăng mạnh mẽ Tốc đô ̣ tăng trưởng kinh tế cao , môi trường chính sách đang ngày được cải thiê ̣n cùng với những cam kết chiến lươ ̣c của các TNC s đối với khu vực là những nhân tố thúc đẩy dòng vốn FDI chảy vào khu vực này trong những năm tới Trong số các nước Châu Á, Trung Quốc
và Ấn Độ được coi là những địa điểm đầu tư hấp dẫn nhất trong khu vực , tiếp theo sau
là Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Viê ̣t Nam và Singapore
Nam, Đông và Đông Nam Á tiếp tục thu hút được luồng FDI tăng cao trong năm 2009 (tăng 17%), đạt mốc cao mới là 298 tỷ USD Luồng vốn vào những nền kinh tế chủ yếu ở khu vực có thay đổi đáng kể, tăng mạnh ở Trung Quốc , Ấn Độ và Hàn Quốc, tiếp tục tăng ở Hồng Kông, giảm nhẹ ở Malaysia và Thái Lan, giảm mạnh
Trang 2922
ở Singapore và Đài Loan Luồng FDI ra từ khu vực này tăng 7% đạt 186 tỷ USD, chủ yếu từ Trung Quốc Trái lại, FDI từ các nền kinh tế chủ yếu khác trong khu vực giảm trong cuối năm 2008 và đầu năm 2009 do khủng hoảng đó làm giảm khả năng và động lực đầu tư ra nước ngoài của các TNCs từ các nền kinh tế đó Số liệu ban đầu cho thấy năm 2009 giảm đáng kể luồng FDI vào khu vực, chưa có triển vọng tăng trong ngắn hạn FDI vào Trung quốc và Ấn Đô ̣ giảm rõ rệt những trong trung và dài hạn sẽ tăng
Năm 2008, FDI vào Tây Á tăng (16%) đạt 90 tỷ USD - sáu năm tăng liên tục Điều này chủ yếu do FDI vào Saudi Arabia, đặc biệt vào lĩnh vực bất động sản, hóa dầu và lọc dầu Trái lại, FDI vào Thổ Nhĩ Kỳ - nước lớn thứ hai và ba trong khu vực Tiểu vương quốc Arập thống nhất lại giảm Luồng FDI đầu tư ra nước ngoài giảm 30% còn 34 tỷ USD do giảm đáng kể trị giá M&A xuyên quốc gia do các TNCs của Tây Á mua Xu hướng chính sách ở một số nước trong khu vực là ngày càng tự do hơn cho FDI Chính sách giảm mức thuế cho các công ty nước ngoài, tư nhân hóa một số công ty nhà nước, tự do hóa hệ thống tỷ giá hối đoái, cải thiện việc tiếp cận nguồn vốn
Từ qúi 3/2008, giá dầu giảm mạnh và bối cảnh kinh tế toàn cầu xấu rõ rệt làm ảnh hưởng xấu tới triển vọng FDI vào khu vực này trong năm 2009
Xu hướng FDI vào Châu Phi: Năm 2008, FDI vào Châu Phi tăng lên tới 88 tỷ
USD mốc kỷ lục mới, bất chấp khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu Trong vài năm trước, FDI chủ yếu vào những nơi giàu tài nguyên thiên nhiên, nhưng đó vào cả những nước giàu hàng hóa Các nước phát triển là những nước đầu tư hàng đầu ở Châu Phi, mặc dù tỷ trọng tích lũy FDI của các nước này liên tục giảm Nhiều nước Châu Phi đã áp dụng chính sách để tạo môi trường đầu tư thuận lợi hơn cho FDI Năm
2009, luồng FDI vào Châu Phi giảm, chấm dứt 5 năm tăng liên tục
Xu hướng FDI vào Châu Mỹ Latinh và Caribe : Ở Châu Mỹ Latinh và Caribe,
FDI vào tăng trong năm 2008 với mức tăng 13% đạt 144 tỷ USD Sự gia tăng không đồng đều giữa các vùng trong khu vực: FDI vào Nam Mỹ tăng 29% và vào Trung Mỹ
và Caribe giảm 6% Thu hút vào những ngành có liên quan tới nguồn tài nguyên thiên nhiên là sự hấp dẫn đối với FDI Nam Mỹ và ngày càng trở thành mục tiêu của Trung
Mỹ và Caribe FDI vào ngành công nghiệp chế tạo giảm do giảm luồng FDI vào Trung
Mỹ và Caribe FDI từ Mỹ Latinh và Và Caribe đầu tư ra nước ngoài tăng 22% trong năm 2009 đạt 63 tỷ USD, do sự bựng nổ của luồng đầu tư ra nước ngoài từ Nam Mỹ
Trang 3023
đó bự đắp sự giảm sút của FDI đầu tư ra nước ngoài từ Caribe và Trung Mỹ Nhiều nước trong khu vực đó điều chỉnh chính sách để củng cố vị trị hàng đầu Trong khu vực, FDI vào và ra đều sẽ giảm trong năm 2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng
Xu hướng FDI vào Nam - Đông Âu và các nước có nền kinh tế chuyển đổi: FDI
vào Nam - Đông Âu và các nước có nền kinh tế chuyển đổi vươn lên vị trí thứ 8, đạt
114 tỷ USD mức kỷ lục mặc dự có bất ổn về tài chính và mâu thuẫn ở một số nơi trong khu vực FDI vào khu vực này phần bổ không đồng đều, ở 03 nước: Nga, Kazakstan
và Ukraina chiếm 84% tổng FDI vào khu vực FDI đầu tư ra nước ngoài trong năm
2008 chủ yếu do TNCs của Nga và vẫn giữ chiều tăng lên Năm 2008, các nước ở cả hai tiểu vùng tiếp tục tự do hóa qui chế FDI trong những ngành cụ thể như phát triển điện, ngân hàng, bán lẻ, thông tin liên lạc Ngược lại, các nước giàu tài nguyên đưa ra những điều chỉnh chính sách kém thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài như tăng cường quản lý của họ đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên thông qua hệ thống luật Tốc độ tăng trường kinh tế giảm ở tất cả các nước trong khu vực và giảm giá hàng hóa bổ sung thêm nhưng cơ hội tư nhân hóa chủ yếu đó gần hết, có thể dẫn tới suy giảm FDI mạnh
Do khủng hoảng kinh tế, tài chính suy giảm kinh tế ngày càng tăng tác động nghiêm trọng tới các nền kinh tế chủ chốt, luồng FDI vào và ra từ các nước phát triển
đã giảm mạnh trong năm 2008 sau khi đạt mức kỷ lục năm 2007 FDI vào các nước đạt 962 tỷ USD giảm 29% so với năm trước và sự giảm sút FDI vào hầu khắp các nước phát triển trừ Mỹ FDI giảm trong ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ, trong khi ngành khai khoáng và khai thác than không bị ảnh hưởng và có sự tham gia ngày càng tăng của các TNCs từ nhóm nước ĐPT (chủ yếu là Trung Quốc ) đóng góp sự gia tăng FDI trong ngành sơ cấp trong năm 2008 Giảm tái đầu tư là do giảm lợi nhuận và hoàn trả khoản vay của công ty con cho công ty mẹ, đó làm giảm 17% FDI đầu tư từ các nước phát triển năm 2008 còn 1,5 nghìn tỷ USD
Xu hươ ́ ng FDI trong lĩnh vực nông nghiệp : Nông nghiệp là trọng tâm của xóa
đói giảm nghèo Không chỉ tạo việc làm cho số lượng lớn lao động nông thôn mà còn góp phần tăng trưởng kinh tế quốc gia, nguồn thu ngoại tệ lớn của các nước ĐPT Mặc
dù có tầm quan trọng như vậy, nhưng nông nghiệp vẫn bị coi nhẹ ở nhiều nước ĐPT chính là vấn đề tranh luận nhiều nhất Gần đây, lĩnh vực này đã thu hút được sự tham
Trang 3124
gia của nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước Những nhân tố quyết định sự gia tăng
đó là bản chất cơ cấu…
Động cơ thúc đẩy đầu tư vào nông nghiệp là nguồn đất và nước ở nơi đến đầu
tư, sự gia tăng nhu cầu và tăng nhập lương thực ở nhiều nước bao gồm các nước mới nổi đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ , Hàn Quốc và Brazil, các nước hiếm đất và nước như các quốc gia vùng Vịnh Nhu cầu quốc tế về hàng nông nghiệp tăng còn là
do sáng kiến sản xuất nhiên liệu sinh học trên thế giới dẫn tới tăng đầu tư vào các nước ĐPT để trồng mía, ngô, hạt có dầu như đỗ tương cũng như trồng các cây công nghiệp như cây jatropha Các yếu tố đó làm giá gạo tăng trong những năm gần đây và làm xuất hiện những nhà đầu tư mới, cũng như đầu cơ nông nghiệp và đất
FDI vào nông nghiệp tăng lên mặc dù còn khá ít so với FDI vào các ngành khác Năm 2007 tổng tích lũy FDI vào nông nghiệp là 32 tỷ USD Cuối những năm 1990s, FDI vào nông nghiệp trên thế giới mới khoảng 1 tỷ USD, nhưng đến năm 2005-
2007 hàng năm đó tăng 3 lần đạt khoảng 3 tỷ/năm TNCs tham gia vào phần khúc hạ nguồn trong chuỗi giá trị gia tăng ở nước chủ nhà (chế biến thực phẩm hoặc siêu thị), cũng đầu tư vào sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng theo hợp đồng khoán qua đó tăng cường sự tham gia trong ngành này Thực tế, sau vài nắm đầu thế kỷ 21, FDI vào lĩnh vực đồ uống, lương thực vượt 40 tỷ USD trong năm 2005-2009
Mặc dù FDI vào nông nghiệp chiếm phần nhỏ trong tổng FDI trên thế giới, FDI vào nông nghiệp ở một số nước kém phát triển như Campuchia, Lao, Malawi, Mozambique và Tanzania, VietNam, Malaysia, Ecuador, Honduras, Indonesia chiếm phần khỏ lớn trong tổng FDI vào các nước này Tỷ trọng FDI vào các nước này cao là
do những nhân tố sau: Cơ cấu nền kinh tế, quỹ đất nông nghiệp, chính sách quốc gia (khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp)
Hơn nữa, lợi ích kinh tế nhờ qui mô là một thách thức khác đặc biệt đối với các nước ĐPT nhỏ Trong trường hợp của họ, hội nhập khu vực có thể là một công cụ quan trọng để làm cho các nước này hấp dẫn hơn đối với TNCs
Xu hướng FDI giữa các nước Nam - Nam: FDI giữa các nước Nam - Nam trong
nông nghiệp ngày càng tăng lên và được dự báo còn tiếp tục trong dài hạn Năm 2008, nhà đầu tư của các nước ĐPT trở thành nhà thôn tính xuyên quốc gia chủ yếu Trị giá mua M&A xuyên quốc gia thuần lên tới 1,58tỷ USD chiếm trên 40% tổng trị giá mua
Trang 3225
thuần M&A xuyên quốc gia thế giới (3,56tỷ USD) Dự án đầu tư Nam - Nam bao gồm
dự án do công ty Simne Darby đầu tư 800 triệu USD vào đồn điền ở Liberia năm
2009 Trung Quốc đầu tư và ký hợp đồng thuê khoán sản xuất nhưng hàng hóa như ngô, đường, cao su ở khu vực sông Mekong, đặc biệt ở Cambodia và Lao, mở rộng khu vực Zambia sang Ghana và Nigeria , và mở rộng sang Mexico, Latin America và Caribe
Tóm lại: Xu thế FDI trên thế giới trải qua nhiều xu hướng phát triển, ngoài các
hình thức đầu tư quốc tế như: Đầu tư truyển thống (các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển hoặc đầu tư có tính một chiều); Đầu tư lẫn nhau giữa các nước phát triển Xu hướng chung của đầu tư FDI ngày nay là sự đan xen nhau giữa các xu hướng trên Tuy nhiên, xu hướng đầu tư lẫn nhau giữa các nước đang phát triển ngày càng gia tăng Xu hướng này phản ánh tốc độ hòa nhập nhanh của các nước đang phát triển vào quá trình toàn cầu hóa Điểm nổi bật là xu hướng tự do hóa đầu tư ngày càng mạnh giữa các nước, khu vực và thế giới Các qui chế về FDI của các nước thay đổi nhanh trong thập kỷ qua từ bảo hộ đến hạn chế, kiểm soát và chuyển sang tự do hóa FDI trong phạm vi từng nhóm nước, khu vực
1.2 Những nhân tố tác động đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Yên Bái
1.2.1 Những nhân tố mang tính chất Quốc tế và Quốc gia
1.2.1.1 Những nhân tố mang tính chất Quốc tế
Xu hướng hợp tác và cạnh tranh trong khu vực và quốc tế: Trong những năm
vừa qua, môi trường kinh tế đã có những biến đổi quan trọng, tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế đang tăng lên từng ngày từng giờ Hầu hết nền kinh tế của các quốc gia có xu hướng ngày càng mở rộng ra thế giới bên ngoài Quá trình toàn cầu hoá ngày nay đang tạo ra sự lưu chuyển theo xu hướng tự do đối với luồng vốn và hàng hoá, dịch vụ trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên đối với từng quốc gia thì sự lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là sự lưu chuyển vốn quốc tế và vì vậy mức độ cạnh tranh trong thu hút nguồn vốn đầu tư giữa các quốc gia cũng ngày càng trở nên gay gắt hơn Sự tiến bộ của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin đã trở thành yếu
tố quyết định trong cạnh tranh mà yếu tố này là ưu thế của các nước công nghiệp phát triển Hơn nữa sự phát triển của các TNCs khiến cho sự cạnh tranh lại càng khốc liệt
Trang 3326
thêm bởi các TNCs nắm giữ một khối lượng vốn tư bản, tri thức và công nghệ, do đó
có khả năng đầu tư vào mọi lĩnh vực mang lại lợi nhuận và có khả năng đem lại lợi nhuận
Xu hướng tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế: Dưới tác động mạnh mẽ của
làn sóng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới, quá trình tự do hoá thương mại và đầu
tư đã diễn ra nhanh chóng và rộng khắp ở nhiều nước khác nhau trên thế giới, bắt đầu
từ các nước công nghiệp phát triển, sau đó là đến các nước đang phát triển Đây là yếu
tố mang tính chủ quan tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của toàn cầu theo hướng phục vụ cho lợi ích các quốc gia
Cách mạng khoa học và công nghệ thúc đẩy đầu tư quốc tế: Sự bùng nổ của
cách mạng khoa học và công nghệ đã gây nên sự đột biến trong tăng trưởng kinh tế, đồng thời làm cho cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia có sự biến đổi sâu sắc, đưa xã hội loài người bước sang một nền văn minh mới- nền văn minh "trí tuệ" và cuộc cách mạng này đã làm thay đổi các yếu tố của quá trình sản xuất và quản lý kinh tế, từ công
cụ lao động đến đối tượng lao động, từ người công nhân đến phương pháp quản lý Cơ cấu ngành công nghiệp ở các quốc gia ĐPT đã chuyển dần từ những ngành sử dụng nhiều lao động, vốn và tài nguyên sang phát triển những ngành có hàm lượng kỹ thuật
và công nghệ cao Các ngành nghề truyền thống ở các nước phát triển giảm xuống và chỉ có đầu tư ra các nước đang ở bậc thang phát triển thấp hơn mới có thể tìm được lợi nhuận cao hơn Sự chuyển dịch này đã làm bùng nổ đầu tư FDI và nhiều nước ĐPT đã lợi dụng sự bùng nổ này để thực hiện chiến lược "mở cửa" nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn, tham gia vào cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Một số nước và lãnh thổ đã nhanh chóng vươn lên trở thành những nền công nghiệp mới như: Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và Hàn Quốc Trên cơ sở nâng cao trình độ kinh tế, khoa học và công nghệ, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch đầu tư các ngành nghề cũ tới các nước ĐPT ở tầng thấp hơn
Việc đầu tư ra nước ngoài, sự chuyển giao công nghệ và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng mang tính quốc tế cao, đúng như nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng
Tiểu Bình đã chỉ ra: "Mở cửa với bên ngoài có ý nghĩa rất quan trọng Bất cứ một nước nào, muốn phát triển đều không thể tự cô lập, đóng cửa, tự thủ Không tăng
Trang 3427
cường giao lưu quốc tế, không tiếp thu những kinh nghiệm tiên tiến, khoa học kỹ thuật tiên tiến và tiền vốn của các nước phát triển thì không thể phát triển được." [7, Tr30]
Vai trò của các công ty xuyên quốc gia (TNCs): Theo UNCTAD các TNCs
cũng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng sản phẩm quốc tế Năm 1999, toàn thế giới có 63,3 nghìn TNCs với 821,82 nghìn chi nhánh nước ngoài, và cũng có tổng tài sản nước ngoài lên đến 17.700tỷ USD Trong đó tổng tài sản nước ngoài của 100 TNC lớn nhất thế giới là 2.124tỷ USD, chiếm 12% tổng tài sản nước ngoài của tất cả các TNCs Bên cạnh đó, các TNCs đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và ngày càng đẩy mạnh các hoạt động này Trong thời kỳ 1996-
2000, lượng vốn FDI vào các nước đang phát triển là 995,1 tỷ USD thì đến thời kỳ 2001-2005, lượng vốn này tăng lên là 1.046,8 tỷ USD, trong đó có lượng vốn lớn của các TNCs (trung bình khoảng 60% tổng số vốn đầu tư hàng năm của các các TNC được thực hiện ở nước ngoài) Năm 2006-2010 lượng vốn này là 5.164,2 tỷ USD [6,Tr 20]
Không những thế, TNCs còn đóng vai trò chủ chốt trong hoạt động R&D Năm
2002 có khoảng 310 tỷ USD vốn đầu tư cho hoạt động R&D, 700 TNCs lớn nhất thế giới chiếm khoảng 98% tổng đầu tư R&D của các TNCs toàn cầu, khoảng 46% tổng chi tiêu hoạt động R&D toàn cầu (677tỷ USD) và khoảng 69% chi tiêu hoạt động R&D phục vụ sản xuất kinh doanh toàn cầu Theo điều tra của UNCTAD khảo sát hoạt động R&D của các doanh nghiệp trong khoảng từ tháng 11/2004 đến tháng 3/2005, phần lớn đầu tư cho hoạt động R&D ở nước ngoài thuộc về các TNCs lớn trên thế giới
1.2.1.2 Những nhân tố mang tính chất Quốc gia
Sự ổn định về kinh tế - chính trị: Môi trường chính trị phải ổn định là tiền đề
quan trọng quyết định đến đầu tư hay không của các nhà đầu tư Tình hình chính trị của một nước ổn định sẽ góp phần củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, làm cho họ yên tâm hơn khi quyết định bỏ vốn Nhà đầu tư nước ngoài có mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận nên họ sẽ không đầu tư vào một nước đang trong thời kỳ chiến tranh hay bạo loạn, khủng bố hoặc nền chính trị không ổn định vì như vậy ngay cả tính mạng của họ còn không được bảo toàn, chưa nói gì tới đồng vốn của họ có giữ được hay không và cũng khó có khả năng sinh lời do thị trường lúc đó không ổn định
Trang 3528
Tóm lại, kinh tế - chính trị của nước tiếp nhận đầu tư càng ổn định thì càng có
khả năng thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Vì đó là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro khi hoạt động đầu tư ở nước chủ nhà bởi dòng vốn FDI không nằm trong tầm kiểm soát của chủ đầu tư nước ngoài Những bất ổn định kinh tế - chính trị không chỉ làm cho dòng vốn này bị chững lại, thu hẹp, mà còn làm cho dòng vốn này từ trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến những nơi trú ẩn mới an toàn và hấp dẫn hơn
Môi trường luật pháp thuận lợi: Hệ thống luật pháp của một nước cần phải
thông thoáng để có thể thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng cũng cần phải có những ràng buộc để tránh những tác động xấu Nhưng điều cần thiết là hệ thống các văn bản pháp luật phải rõ ràng, thống nhất, đồng bộ tạo nên cơ sở vững chắc cho các nhà đầu tư tham khảo để đi đến quyết định của mình Đối với mỗi quốc gia, hệ thống luật pháp và môi trường thể chế là thành phần quan trọng của môi trường đầu tư bởi vì
nó phản ánh chính sách mở cửa và chiến lược hội nhập với nền kinh tế thế giới
Phát triển hệ thống két cấu hạ tầng kỹ thuật: Để tăng cường hoạt động đầu tư,
ngoài môi trường pháp lý thông thoáng, minh bạch đòi hỏi các nước phải có kết cấu hạ tầng kỹ thuật tương xứng với sự chuyển đổi của nền kinh tế Sự phát triển của cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư
có thể nhanh chóng thông qua các quyết định và triển khai các dự án đầu tư đã cam kết
Để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy tiến trình đầu tư Do vậy sức cạnh tranh của nhiều ngành dịch vụ như bưu chính viễn thông, vận tải hàng không, điện, vận tải biển ngày càng phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng và chiều sâu ở tất cả các quốc gia Trên thực tế, chính sách phát triển hạ tầng cơ sở của mỗi quốc gia sẽ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước
Việc phát triển và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật không chỉ là điều kiện để tăng sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu
tư triển khai các dự án mà còn là một cơ hội thuận lợi cho những nước tiếp nhận đầu
tư có thể khai thác lợi ích nhiều hơn, đầy đủ hơn từ các dịch vụ vận tải, thông tin, điện nước từ các dự án đầu tư đã được triển khai
Trang 3629
Các chính sách kinh tế: Để tạo sự hấp dẫn hơn nữa cho thị trường đẩu tư của
nước mình, tạo lợi thế cạnh tranh so với nước khác Tất cả các nước trên thế giới đều
có những chính sách khuyến khích, ưu đãi cho những nhà đầu tư nước ngoài thông qua các công cụ, biện pháp như: các ưu đãi về miễn giảm thuế, tín dụng, quyền bảo hộ trí tuệ , đồng thời chính phủ cũng có thể nâng tính ràng buộc đối với các nhà đầu tư nước ngoài thông qua các quy định chặt chẽ như: các quy định về lĩnh vực và ngành nghề cấm, hạn chế đầu tư và đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định đó để tránh những điều bất lợi mà đầu tư nước ngoài có thể gây ra
Các thủ tục hành chính và hiệu quả quản lý của nhà nước về FDI: Đối với nhà
đầu tư nước ngoài thì một cơ chế, các thủ tục hành chính nhanh gọn, chính xác và kịp thời sẽ là sự cổ vũ rất lớn cho họ khi quyết định đầu tư và triển khai dự án ở một số nước
Tóm lại, FDI sẽ tìm đến những quốc gia có nền kinh tế - chính trị- xã hội ổn
định; hệ thống pháp luật đầu tư đầy đủ và đồng bộ, cởi mở, tin cậy và mang tính chuẩn mực quốc tế cao; thủ tục hành chính không rườm rà, chính sách đầu tư linh hoạt và đủ sức hấp dẫn, cơ sở hạ tầng tốt, lao động có trình độ và rẻ, các dự án kinh doanh có hiệu quả…
1.2.2 Những nhân tố nội tại của tỉnh Yên Bái
1.2.2.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Tỉnh Yên Bái nằm ở trung tâm vùng núi và trung du Bắc bộ Việt
Nam Cách Thủ đô Hà Nội 178 km, cách Cảng Hải Phòng 270km và cách cửa khẩu Lào Cai 156 km
Diện tích tự nhiên: Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 6.882,9 km2 chiếm 2,1% diện tích cả nước và bằng 10,4% diện tích vùng Đông Bắc Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp có 79.452 ha; Diện tích đất có rừng là 353.812 ha
Dân số, lao động: Dân số toàn tỉnh hiện có trên 731.000 người với 30 dân tộc
anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm 53%, còn lại là các dân tộc Tày, Dao, Mông, Thái Lực lượng lao động trong độ tuổi là 459.900 người, chiếm 62,9% dân số toàn tỉnh Đây là nguồn nhân lực dồi dào cho việc phát triển kinh tế - xã hội
Địa giới hành chính: Yên Bái có 9 đơn vị hành chính cấp huyện (1 thành phố, 1
thị xã và 7 huyện) với tổng số 180 xã, phường, thị trấn Phía Bắc giáp tỉnh Lao Cai,
Trang 3730
phía Tây giáp tỉnh Sơn La, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp tỉnh Tuyên Quang
Đặc điểm địa hình: Yên Bái nằm ở vùng núi phía Bắc bộ Việt Nam, có địa hình
khá phức tạp nhưng có thể chia là 2 vùng lớn: Vùng cao và vùng thấp Vùng cao có độ cao trung bình 600m trở lên, chiếm 67,56% diện tích toàn tỉnh, vùng này dân cư thưa thớt, có tiềm năng về đất đai, lâm sản, khoáng sản có khả năng huy động vào phát triển kinh tế- xã hội Vùng thấp có độ cao dưới 600m chủ yếu là địa hình đồi núi thấp, thung lũng bồn địa, chiếm 32,44% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Khí hậu: Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung
bình 22 - 23OC, lượng mưa trung bình 1.500 - 2.200mm; độ ẩm trung bình 83-87%
thuận lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp
Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh năm 2010 là 689.949 ha,
trong đó: Đất nông nghiệp 549.104 ha chiếm 79,59% diện tích toàn tỉnh; Đất phi nông nghiệp 47.906 ha chiếm 6.97%; Đất chưa sử dụng 92.938,28 ha chiếm 13,8% diện tích toàn tỉnh; Đất Yên Bái chủ yếu là đất xám chiếm 82,36%, còn lại là đất mùn alít, đất phù sa, đất đỏ
Tài nguyên rừng: Tổng diện tích rừng toàn tỉnh tăng từ 353.812 ha năm 2005
lên 400.221 ha rừng năm 2008 (rừng tự nhiên 231.902 ha) Tỷ lệ che phủ đạt 58%, năm 2010 tổng diện tích rừng đạt 408.000 ha tỷ lệ che phủ đạt 59,13%, tổng trữ lượng
gỗ các loại theo số liệu điều tra năm 1998 có 17,2 triệu m3, trữ lượng gỗ rừng trồng còn 2,5 triệu m3
Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản Yên Bái khá đa dạng, hiện có
176 điểm mỏ khoáng sản, xếp vào các nhóm khoáng sản năng lượng, khoáng sản vật liệu xây dùng, khoáng sản công nghiệp, khoáng sản kim loại và nhóm nước khoáng Nhóm khoáng sản năng lượng gồm các loại than nâu, than Antraxit, đá chứa dầu, than bùn loại than nâu và than lửa dài tập trung ở sông Hồng, sông Chảy và các thung lũng bồn địa như Phù Nham (Văn Chấn) Nhóm khoáng sản vật liệu xây dùng gồm đá vôi, đá ốp lát, sét, cát, sỏi được phân bố rộng rãi trên khắp địa bàn tỉnh Nhóm khoáng sản chất công nghiệp gồm đầy đủ các loại nguyên liệu công nghiệp từ nguyên liệu phân bón, nguyên liệu hoá chất, nguyên liệu kỹ thuật, đặc biệt là đá quý và bán đá quý được phân bổ chủ yếu ở Lục Yên và Yên Bình Nhóm khoáng sản kim loại, có đầy
Trang 3831
đủ các loại từ kim loại đen (sắt) đến kim loại nâu đồng (đồng, chì, kẽm) và kim loại quý (vàng) Nhóm sản khoáng được phân bố chủ yếu ở vùng phía tây của tỉnh (Văn Chấn, Trạm Tấu)
Tiềm năng du lịch: Yên Bái là 1 tỉnh miền núi, phong cảnh thiên nhiên đa dạng
và đẹp: Hang Thẩm Lé (Văn Chấn), động Xuân Long, động Thuỷ Tiên (Yên Bình), hồ Thác Bà, du lịch sinh thái suối Giàng, cánh đồng Mường Lò, di tích cách mạng, đền thờ Nguyễn Thái Học, Căng Đồn, Nghĩa Lộ Tỉnh Yên Bái có nhiều dân tộc thiểu số
và mỗi dân tộc mang đậm một bản sắc văn hóa riêng, là điều kiện kết hợp phát triển du lịch sinh thái Song do kinh tế chậm phát triển, cơ sở hạ tầng thấp kém nên chưa có điều kiện khai thác hết các tiền năng này để phát triển mạnh ngành du lịch Tỉnh đã và đang tiến hành đầu tư xây dùng du lịch hồ Thác Bà trong tương lại sẽ là điểm dừng chân cho du khách trên tuyến du lịch Hà Nội - Lào Cai - Côn Minh (Trung Quốc)
1.2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội: Về tăng trưởng kinh tế: Trong những năm
qua nền kinh tế tỉnh Yên Bái đã có sự chuyển biến tích cực tốc độ tăng trưởng GDP đạt khá cao, cơ cấu kinh tế chuyển biến đúng hướng
Bảng 1.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Yên Bái bình quân từng giai đoạn
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Yên Bái
Như vậy tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm 2006-2010 đạt 12,3% cao hơn giai đoạn 1996-2000 và 2001-2005, trong đó: Nông lâm nghiệp tăng 5,1%; Công nghiệp - Xây dựng tăng 17,24%; ngành Dịch vụ tăng 14,28%
Năm 2000 GDP theo giá thực tế của Yên Bái là 1.340.136 triệu đồng, năm 2009 tăng 3.330.770 triệu đồng gấp 2,49 lần so với năm 2000 So với vùng Tây Bắc năm
2009 GDP của tỉnh Yên Bái chiếm 9,98% So với cả nước GDP của Yên Bái chiếm tỷ
lệ rất nhỏ, chưa đến 1% (năm 2000 chiếm 0,49%, năm 2009 chiếm 0,57%)
Có rất nhiều yếu tố tác động làm tốc độ tăng trưởng kinh tế của Yên Bái tăng liên tục Hoạt động đầu tư phát triển hàng năm đều tăng cao; thị trường tiêu thụ sản
Trang 3932
phẩm được mở rộng, cùng với các tiến bộ về khoa học công nghệ tiên tiến, số lượng và chất lượng lao động tăng lên Ngoài ra tỉnh Yên Bái còn xác định công nghiệp là khâu bứt phá để phát triển kinh tế, cho nên tỉnh phải tập trung thu hút vào KCN
Bên cạnh những điểm mạnh nền kinh tế Yên Bái còn bộc lộ một số hạn chế như chưa khai thác hết tiền năng thế mạnh của tỉnh Yên Bái vào phát triển kinh tế xã hội Tăng trưởng GDP hàng năm chủ yếu do vốn đầu tư, tỷ lệ đầu tư trong GDP năm 2000
là 38,27% tăng lên 55,32% (năm 2009), trong khi đó tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách còn thấp, năm 2005 là 7,13%, năm 2008 là 6,8%, năm 2009 đạt 7,6%, năm 2010 đạt 7,8% Theo số liệu thống kê năm 2009, so với 14 tỉnh trung du, miền núi phía Bắc thì tỉnh Yên Bái đứng thứ 7 về dân số, thứ 4 về tốc độ tăng trưởng GDP, thứ 9 về GDP giá thực tế, đứng thứ 11 về GDP bình quân đầu người, thứ 8 về thu ngân sách trên địa bàn, thứ 5 về tỷ trọng ngành công nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế của Yên Bái đang chuyển dịch
theo hướng CNH,HĐH Việc tập trung vốn đầu tư phát triển công nghiệp đã làm tăng
tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tăng trưởng tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp
Ngành nông lâm nghiệp: Năm 2000 tỷ trọng chiếm 54,7% đến năm 2005 giảm xuống còn 38,98%, năm 2009 là 34,02%, năm 2010 còn 33% (trong 5 năm 2005-2010 giảm 5,98%) Ngành công nghiệp và xây dựng: tăng từ 22,24% năm 2000 lên 27,78 năm 2005, lên 33,13% năm 2009, lên 34% năm 2010 (trong 5 năm tăng 6,22%) Ngành dịch vụ: năm 2000 chiếm 32,24%, năm 2009 chiếm 32,85%, năm 2010 đạt 33%
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo đúng hướng, nhưng sự chuyển
dịch của cơ cấu kinh tế cũng còn một số hạn chế Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần còn chậm, do các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chưa phát huy hết tiềm năng, chưa mạnh dạn đầu tư lớn vào phát triển sản xuất kinh doanh; số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ít, quy mô sản xuất còn nhỏ bé Sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nội bộ từng ngành cũng còn chậm: Trong sản xuất công nghiệp, các doanh nghiệp còn tập trung nhiều vào khai thác nguyên liệu, bán sản phẩm thô, nên hiệu quả kinh tế thấp; Trong sản xuất nông nghiệp, mặc dù tỉnh đã chú trọng
Trang 40tỷ vốn cho đầu tư Đây là vấn đề lớn về thu hút các nguồn lực từ nên ngoài mà các nhà lãnh đạo địa phương cần làm tốt hơn nữa công tác vận động và thu hút nguồn vốn dành cho phát triển
Tình hình đầu tư nước ngoài ODA, FDI, NGO trên địa bàn Yên Bái: Trong những năm gần đây, vận động thu và sử dụng các nguồn vốn nước ngoài trên địa bàn tỉnh Yên Bái đạt 1 số kết quả, góp phần thúc đẩy đầu tư tăng trưởng kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo Tốc độ tăng trưởng vốn nước ngoài thời kỳ 2001-2005 đạt mức 13,4% Kết quả thu hút vốn FDI từ 1996- 2005 đạt 172,85tỷ VNĐ Từ 2006- 2010 đạt
42 tỷ VNĐ, thu hút nguồn vốn ODA đạt 172,85tỷ VNĐ, NGO đạt 28,27 tỷ VNĐ Các
dự án FDI trên đại bàn tỉnh Yên Bái tập trung vào các ngành công nghiệp chiếm 60% vốn đăng ký, ngành nông lâm ngư nghiệp chiếm 40% vốn đăng ký
Vốn đầu tư phát triển: Tỉnh Yên Bái đã thực hiện các giải pháp và chính sách
huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển nên tổng nguồn vốn đầu tư phát triển hàng năm liên tục tăng, góp phần thúc đẩy nhanh tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh những năm qua Tuy nhiên, về cơ cấu vốn đầu tư vốn ngân sách nhà nước tuy có giảm nhưng vẫn còn chiếm tỷ lệ cao; sản xuất chưa phát triển mạnh nên các nguồn vốn tín dụng đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn của doanh nghiệp còn chiếm tỷ lệ thấp Nhu cầu đầu tư rất lớn so với khả năng cân đối, trong khi nguồn vốn ngân sách nhà nước còn hạn hẹp nên vẫn còn tình trạng đầu tư dàn trải và thiếu đồng bộ
Tổng vốn đầu tư phát triển năm 2005 đạt 1.428,99 tỷ đồng, năm 2008 tăng lên 3.477,89 tỷ đồng, năm 2009 đạt 4.250 tỷ đồng, năm 2010 đạt 5.200 tỷ đồng Năm
2009 và 2010 tổng vốn đầu tư tăng cao do đầu tư xây dựng đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai Tổng vốn đầu tư phát triển thời kỳ 2006 - 2010 ước đạt 17.140 tỷ đồng; tốc
độ tăng bình quân 5 năm 2006 - 2010 đạt 29,5% Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP tăng từ 45,81% năm 2005 lên 61,15% năm 2008, năm 2009 lên 64,3%, năm 2010 là 67,4%