1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở trung quốc và những gợi ý chính sách cho việt nam luận văn ths

134 457 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu khác liên quan đến chủ đề này như công trình “The latest on FDI in China” Steve Dickison tham gia tại hội thảo của Trung Quốc: “Otimizing FDI strategy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

TRẦN THỊ THANH HUYỀN

quản lý nhà nước

đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở trung quốc

và những gợi ý chính sách cho việt nam

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội – 2009

Trang 2

đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở trung quốc

và những gợi ý chính sách cho việt nam

Chuyờn ngành : Kinh tế chớnh trị

Mó số : 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS-TS MAI THỊ THANH XUÂN

Hà Nội – 2009

Trang 3

VAT Thuế giá trị gia tăng

WT0 Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thời gian gần đây, người ta nói nhiều về hiện tượng thần kỳ của nền kinh tế Trung Quốc với sự tăng trưởng “không thể cưỡng lại được” Năm

2007, Trung Quốc đứng thứ 4 thế giới về GDP, thứ 3 về kim ngạch ngoại thương và đứng thứ nhất về dự trữ ngoại tệ Thậm chí theo dự báo của Ngân hàng Đầu tư Hoa Kỳ tại Nhật Bản, đến năm 2015, Trung Quốc sẽ vượt Nhật, trở thành cường quốc kinh tế đứng thứ hai thế giới (chỉ sau Mỹ) và đến năm

2040 sẽ đứng đầu thế giới

Đóng góp cho sự thành công ấy có vai trò không nhỏ của khu vực kinh

tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Trung Quốc Năm 2004, Trung Quốc là nước đứng thứ hai thế giới (sau Mỹ) về thu hút FDI với tổng vốn đầu tư tích luỹ chiếm tới hơn 40% GDP Năm 2008 là năm thứ 17 liên tiếp Trung Quốc dẫn đầu các quốc gia đang phát triển trong khả năng thu hút FDI Bình quân giai đoạn 2002-2008, Trung Quốc thu hút 65 tỷ USD vốn FDI/năm Tạo nên sức hấp dẫn của Trung Quốc đối với dòng vốn FDI trước tiên phải kể đến vai trò của Nhà nước Trung Quốc Cách làm của người Trung Quốc có nhiều nét rất độc đáo, có thể là bài học cho nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

Sau hơn 20 năm tồn tại và phát triển, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam đã có chỗ đứng khá vững chắc, ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của nó đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng bộ lộ những hạn chế mà nguyên nhân một phần xuất phát từ sự bất cập trong hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực này Vì vậy, việc đổi mới hoạt động quản lý Nhà nước đối với FDI ở Việt Nam là cần thiết và quan trọng, đặc biệt khi chúng ta đã gia nhập WTO

Trang 5

Là quốc gia láng giềng có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nói chung, về thu hút FDI nói riêng, Việt Nam có thể học hỏi được gì từ kinh nghiệm quản lý FDI của họ nhằm thu hút,

sử dụng có hiệu quả hơn nữa nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và tình hình kinh tế toàn cầu suy giảm hiện nay?

Đề tài luận văn “Quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước

ngoài ở Trung Quốc và những gợi ý chính sách cho Việt Nam” được thực

hiện với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc trả lời câu hỏi đó

2 Tình hình nghiên cứu

Sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu tại nhiều quốc gia khác nhau Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc

từ khi nước này thực hiện cải cách mở cửa nền kinh tế (1978), trong đó có những công trình liên quan trực tiếp đến nội dung luận văn là:

- “Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc từ 1979 đến nay” của

TS Nguyễn Kim Bảo, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000 Công trình này này đã nghiên cứu một cách khá toàn diện về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc từ năm 1979 Bên cạnh việc phân tích các đặc điểm chủ yếu, tác giả còn phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc tới các mặt kinh tế-xã hội và từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế

quốc tế của Trung Quốc thời kỳ 1978-2003: Thực trạng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”, luận án tiến sĩ của Đặng Thu Hương, năm 2007,

lưu tại thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Công trình này đã phân tích, làm rõ một số lý luận cơ bản liên quan đến thu hút FDI, những nhân

Trang 6

tố tác động đến thu hút FDI trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển, trong đó tập trung phân tích các chính sách, thực trạng thu hút FDI của Trung Quốc, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam

- “Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc sau

khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”: Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Thìn, năm 2006, lưu tại thư viện

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Công trình này đã phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến chính sách thu hút FDI; sự điều chỉnh chính sách thu hút FDI của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO từ đó rút ra một số gợi ý cho Việt Nam

- “Các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Trung Quốc - sẵn sàng để thay đổi” Junya Sano đăng trên tạp chí Asia Monthly của Viện nghiên

cứu Quản lý Kinh tế Trung ương số tháng 3/2007 bàn về sự thay đổi trong chính sách thu hút FDI của Trung Quốc sau 5 năm nước này gia nhập WTO

Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu khác liên quan đến chủ đề này như

công trình “The latest on FDI in China” Steve Dickison tham gia tại hội thảo của Trung Quốc: “Otimizing FDI strategy in the current economic climate”

ngày 12/1/2009 nói về sự chuyển hướng trong thu hút FDI của Trung Quốc do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu và hàng loạt các công trình nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): “Trends and Recent Developments in Foreign Direct Investment” (2004), “The OECD welcomes policy advances at China’s 2007 national people’s congress session” (2007)…

Các công trình trên chủ yếu đều tập trung vào nghiên cứu việc làm thế nào để tăng cường thu hút vốn FDI ở Trung Quốc, mà còn ít công trình nghiên cứu một cách tổng thể hoạt động quản lý Nhà nước kể cả trước và sau khi cấp

Trang 7

phép, hoặc nếu có công trình nào đó đề cập thì cũng chỉ dừng lại ở việc phân tích hoạt động quản lý Nhà nước đối với các dự án FDI được cấp phép, còn hoạt động của khu vực này sau khi cấp phép như Nhà nước cần làm gì để hỗ trợ doanh nghiệp triển khai, thực hiện dự án, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư thì vẫn còn bỏ ngỏ Vì vậy, việc nghiên cứu hoạt động Quản lý Nhà nước (cả trước và sau khi cấp phép) đối với FDI ở Trung Quốc

để đưa ra một số gợi ý chính sách cho Việt Nam là rất cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích: Mục đích của luận văn là phân tích thực trạng hoạt động

quản lý Nhà nước đối với FDI ở Trung Quốc, rút ra bài học kinh nghiệm, từ

đó đưa ra một số gợi ý chính sách cho Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Phân tích hoạt động quản lý của Nhà nước Trung Quốc đối với FDI

- Trên cơ sở phân tích mặt được và chưa được trong hoạt động quản lý Nhà nước đối với FDI của Trung Quốc, luận văn đề xuất một số gợi ý về mặt chính sách cho Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước đối với FDI ở nước ta

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài cả trên phương diện lý luận và thực tiễn

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc (đại lục) và Việt Nam

Trang 8

+ Về thời gian: Nghiên cứu quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Trung Quốc từ khi cải cách mở cửa năm 1979 đến nay; đối với Việt Nam, từ năm 2000 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị là chủ yếu, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh dựa trên các tài liệu thứ cấp

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Phân tích, đánh giá hoạt động quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc từ 1979 đến nay

- Trên cơ sở phân tích những bài học thành công và không thành công

về quản lý Nhà nước đối với FDI của Trung Quốc, đưa ra một số gợi ý chính sách cho Việt Nam về vấn đề này

- Cung cấp tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này

7 Bố cục của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, hệ thống các bảng, biểu, hình vẽ, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước ở Trung Quốc đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 3: Một số gợi ý chính sách cho Việt Nam trong quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 9

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

VÀ VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái quát những vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1 Khái niệm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã xuất hiện trên thế giới từ rất lâu song kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 tăng lên nhanh chóng và trở thành hiện tượng nổi bật trong các hoạt động kinh tế quốc tế Nguồn vốn đầu

tư quốc tế dần trở thành điều kiện thiết yếu để tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay Vậy như thế nào là đầu tư trực tiếp nước ngoài thì cho tới nay vẫn còn những cách hiểu khác nhau:

Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn

đầu tư được thực hiện nhằm thu lợi lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động

ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư mong muốn tìm được chỗ đứng trong quản lý doanh nghiệp [41, tr.136]

Trang 10

Về thực chất, khái niệm này khẳng định tính lâu dài trong hoạt động đầu

tư và động cơ của các nhà đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp và mở rộng thị trường

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), đầu tư trực tiếp

nước ngoài phản ánh những lợi ích khách quan lâu dài mà một thực thể kinh tế tại một nước (gọi là nhà đầu tư) đạt được thông qua một cơ sở kinh tế tại một nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc đất nước của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) Lợi ích lâu dài bao gồm sự tồn tại của một mối quan hệ giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp đầu tư cũng như nhà đầu tư giành được ảnh hưởng quan trọng và có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó Đầu tư trực tiếp bao hàm sự giao dịch ngay từ đầu và tất cả những giao dịch vốn tiếp sau giữa hai thực thể và các doanh nghiệp liên kết một cách chặt chẽ [49] Theo quan niệm này, động cơ chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài là phần vốn được sử dụng ở nước ngoài gắn liền với việc tạo ra ảnh hưởng trực tiếp hoặc phục vụ việc kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiếp nhận phần vốn đó

Theo Báo cáo đầu tư thế giới năm 1999 của Tổ chức Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) thì "FDI là hoạt động đầu tư bao gồm

mối quan hệ dài hạn, phản ảnh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh

tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài)" [54] Quan niệm này coi FDI có hai đặc trưng là quyền kiểm soát và lợi ích khống chế Về quyền kiểm soát thì hầu như đã đạt được sự nhất trí của các nhà nghiên cứu về FDI Quyền kiểm soát là đặc trưng tiêu biểu của FDI so với các phương thức đầu tư quốc tế khác Quyền kiểm soát làm cho các nhà đầu tư trực tiếp có được một lợi thế về thông tin so với

Trang 11

các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài và những người gửi tiền tiết kiệm ở trong nước Chính vì vậy, nhiều công ty xuyên quốc gia (TNCs) lớn của thế giới chủ yếu thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước khác hơn là tham gia đầu

tư gián tiếp; nhiều công ty thực hiện các dự án FDI với điều kiện dành được quyền kiểm soát ít nhất là 51% cổ phần của doanh nghiệp; có công ty chỉ thực hiện hình thức 100% sở hữu vốn và quyền kiểm soát Về lợi ích khống chế thì đang có những ý kiến khác nhau, nhưng hiện nay nhiều người đã thừa nhận rằng một công ty nước ngoài có tỷ lệ sở hữu cổ phần tối thiểu 10% thì có ảnh hưởng nhất định đến quyền kiểm soát doanh nghiệp, tác động đến chiến lược kinh doanh và quản trị doanh nghiệp

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng đầu tư trực tiếp là người sở

hữu tư bản tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác Nếu khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho thực thể kinh tế này của nước ngoài

có “ảnh hưởng quyết định” đối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm “quyền cầm cái” trong thực thể kinh tế mà nó có ảnh hưởng ấy, thì đó là đầu tư trực tiếp [1, tr.7] Quyền kiểm soát được đề cập tới ở đây là tỷ lệ cổ phần Khi tỷ lệ cổ phần đạt tới tỷ lệ nhất định nào đó thì có quyền kiểm soát xí nghiệp Các xí nghiệp khác nhau, tỷ lệ cổ phần để giành được quyền kiểm soát ấy có khác nhau Dịch chuyển tư bản quốc tế tùy theo từng nước cũng có sự khác nhau Điều đáng chú ý là quyền kiểm soát là vấn đề cốt lõi trong đầu tư trực tiếp mà đầu tư trực tiếp cũng có thể không có sự dịch chuyển tư bản thực tế Chẳng hạn như các công ty mẹ cung cấp cho các công ty con kỹ năng quản lý, bí quyết kinh doanh, kỹ thuật, nhãn hiệu và chỉ dẫn tiêu thụ Những hoạt động này diễn

ra không kéo theo dịch chuyển tư bản Cũng có thể công ty mẹ vay được tiền ở nước chủ nhà, cùng với bản quyền nhãn hiệu và các tài sản vô hình khác như quản lý kinh doanh nên họ vẫn kiểm soát được các công ty con

Trang 12

Theo Luật Đầu tư được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, tại khoản 3 điều 12 thì

“FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”

Luật này cho thấy không phải bất kỳ sự vận động nào về vốn từ nước ngoài vào Việt Nam cũng đều là đầu tư nước ngoài Những tài sản và vốn muốn đưa vào Việt Nam phải là hợp pháp, tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam

Các khái niệm nêu trên về FDI tuy còn có sự khác nhau song đều thống nhất ở những điểm căn bản như: FDI là hình thức đầu tư quốc tế, cho phép các nhà đầu tư tham gia điều hành hoạt động đầu tư ở nước tiếp nhận đầu tư tuỳ theo mức góp vốn của nhà đầu tư Trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, quyền

sở hữu gắn liền với quyền sử dụng tài sản đầu tư, nghĩa là nhà đầu tư có thể có lợi hơn khi đầu tư thu được lợi nhuận cao và chịu rủi ro hơn khi đầu tư thua lỗ

Từ những khái niệm trên, có thể hiểu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là biểu hiện bằng tiền hoặc tài sản do tổ

chức hoặc cá nhân người nước ngoài mang vào nước khác (nước tiếp nhận)

để thực hiện kinh doanh theo luật pháp của nước tiếp nhận nhằm thu được lợi ích Các nhà đầu tư có quyền điều hành doanh nghiệp tuỳ theo tỷ lệ góp vốn

của mình

Theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư bằng tài sản ở nước tiếp nhận đầu tư nhưng phải là những loại tài sản do nước tiếp nhận đầu tư quy định trong luật pháp chứ không phải bất kỳ loại tài sản nào Nguồn vốn đầu tư không chỉ bao gồm nguồn vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được

Trang 13

1.1.1.2 Các hình thức chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện theo hai kênh chủ yếu: hình thức đầu tư mới (Greenfield) và hình thức mua lại và sáp nhập (Merger and Aquitition) Đầu tư mới là hình thức mà các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc thành lập các doanh nghiệp mới, còn hình thức mua lại và sáp nhập là hình thức mà các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại hoặc sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài Đầu tư mới là kênh đầu tư truyền thống, chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển Còn mua lại và sáp nhập là kênh đầu tư mới phổ biến những năm gần đây, được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công nghiệp hóa

Đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm những hình thức chủ yếu sau đây: + Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

+ Doanh nghiệp liên doanh

+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở hữu

của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh nhưng vẫn là pháp nhân của nước chủ nhà và chịu sự kiểm soát của luật pháp nước chủ nhà

Nhìn chung, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ngày càng được các chủ đầu tư ưa thích vì họ được toàn quyền quản lý và hưởng lợi nhuận do kết quả đầu tư tạo ra (chủ đầu tư chỉ phải làm tròn nghĩa vụ tài chính với nước chủ nhà) Trong khi đó, nước chủ nhà không phải lúc nào cũng có thể tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp liên doanh Do vậy, đối với những dự án đầu

tư vốn lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu, mức độ mạo hiểm cao và không đòi hỏi

Trang 14

phải tham gia quản lý sát sao quá trình vận hành các kết quả đầu tư thì hình thức đầu tư 100% vốn được bên nước chủ nhà ưa chuộng hơn

Một số dạng đặc biệt của hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài là:

Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (Building Operate Transfer - BOT) Với hình thức BOT, các chủ đầu tư chịu trách nhiệm tiến hành xây dựng, kinh doanh công trình trong một thời gian đủ để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý Sau khi dự án kết thúc, toàn bộ công trình sẽ được chuyển giao cho nước chủ nhà mà không thu bất cứ một khoản tiền nào

Hợp đồng xây dựng - chuyển giao- kinh doanh (Building Transfer Operate - BTO) Đối với hình thức BTO, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình cho nước chủ nhà Chính phủ nước chủ nhà giành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi đủ vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý

Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (Building-Transfer-BT) Đây là các dạng đầu tư được áp dụng đối với các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Đối với hình thức BT, sau khi xây dựng xong, chủ đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà, nước chủ nhà sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi đủ vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp

Doanh nghiệp liên doanh: Là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế do

hai bên hoặc các bên nước ngoài cùng hợp tác với nước chủ nhà trên cơ sở góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty TNHH, có tư cách pháp nhân theo luật pháp của nước nhận đầu tư

Doanh nghiệp liên doanh là loại hình thường được nước chủ nhà ưa chuộng vì hầu hết các doanh nghiệp liên doanh khi đầu tư, kinh doanh ở nước chủ nhà, họ thường phải mang theo các thiết bị khoa học kỹ thuật tiên tiến,

Trang 15

kinh nghiệm quản lý hiện đại Loại hình đầu tư này thường được nước chủ nhà

áp dụng chủ yếu đối với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Nhưng để đạt được kết quả mong muốn thì việc áp dụng hình thức này đòi hỏi nước chủ nhà phải

có khả năng góp vốn, các nhà quản lý doanh nghiệp phải có đủ trình độ và năng lực quản lý, tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại của nước ngoài

Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là hình thức liên kết kinh doanh giữa

hai bên hoặc nhiều bên trên cơ sở quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà không thành lập một pháp nhân

Hợp đồng hợp tác kinh doanh rất đa dạng, thường được áp dụng phổ biến trong các lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí, công nghiệp gia công và dịch vụ Các bên tham gia hợp đồng vẫn là những pháp nhân riêng, thời hạn hợp đồng thường ngắn Do vậy loại hình này thích hợp với các nhà đầu tư nước ngoài có ít tiềm lực về vốn

1.1.2 Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước nhận đầu tư

1.1.2.1 Tác động tích cực

Thứ nhất, FDI góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ

Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công nghệ, nhờ đó nâng cao trình độ công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế Thông qua các doanh nghiệp có vốn FDI, những công nghệ tiên tiến, hiện đại sẽ được du nhập vào nước nhận đầu tư, tạo sự phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn như viễn thông, khai thác dầu khí, hóa chất, điện tử, sản xuất ô tô Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao hơn cũng sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp trong

Trang 16

Ngoài ra, thông qua FDI, các nước nhận đầu tư sẽ học hỏi được nhiều kinh nghiệm kinh doanh của các tập đoàn kinh tế lớn, kinh nghiệm quản lý kinh doanh hiện đại góp phần tích cực trong việc thúc đẩy đổi mới kỹ thuật, nhờ đó góp phần làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy phân công lao động quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh hàng xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế

Thứ hai, FDI góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Thực tế cho thấy FDI đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các nước Ở Trung Quốc, nền kinh tế tăng trưởng cao

và liên tục trong gần 3 thập kỷ kể từ khi cải cách mở cửa một phần là do có sự đóng góp tích cực của nguồn vốn FDI Năm 2004, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 9,5% và thu hút được 60,6 tỷ USD vốn FDI, trong đó đóng góp của FDI vào tài sản cố định là 8,2% và GDP là 14,9%

Theo UNCTAD, năm 2004, dòng vốn FDI trên toàn thế giới đóng góp 21,7% vào GDP và 7,5% vào tài sản cố định của thế giới Singapo là nước có

tỷ trọng vốn FDI trong tài sản cố định và GDP cao nhất thế giới Năm 2004 Singapo thu hút được 16,05 tỷ USD, đóng góp 62,7% vào tài sản cố định và 5,2% vào GDP Malaixia cũng là nước có tỷ trọng vốn FDI trong tài sản cố định và GDP thuộc loại cao Năm 2004, FDI vào Malaixia đóng góp 39,3%

Trang 17

Thứ ba, FDI góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Ngày nay, sự giàu có và khả năng cạnh tranh của một quốc gia không còn đơn thuần phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có mà phần lớn phụ thuộc vào chất lượng của nguồn nhân lực Một trong những cách tốt nhất

để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là tham gia vào hội nhập kinh tế quốc

tế bởi ở đó người lao động có điều kiện nâng cao trình độ, tay nghề và kỹ năng sản xuất Hơn nữa môi trường cạnh tranh để tìm kiếm việc làm trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới buộc người lao động phải tìm tòi, học hỏi và thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, ý thức kỷ luật để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các công ty, xí nghiệp trong và ngoài nước Năm

2004, các doanh nghiệp FDI đã giải quyết việc làm cho trên 24 triệu lao động

ở Trung Quốc, chiếm 10% lực lượng lao động thành thị [7, tr 64] Ở Việt Nam, năm 2008, số người làm việc trong khu vực này lên tới 1,83 triệu người chiếm 4,06% lực lượng lao động, thu nhập bình quân của lao động trong khu vực này gấp 5-7 lần so với mức trung bình của nền kinh tế [3, tr.14]

Như vậy, vai trò của FDI đối với vấn đề giải quyết việc làm là không thể phủ nhận, ngoài ra còn là giải pháp tốt đối với nâng cao trình độ, năng lực quản lý và kỹ thuật của người lao động Thông qua làm việc cho các doanh nghiệp có vốn FDI, người lao động có cơ hội được học hỏi kinh nghiệm, kỹ năng quản lý tiên tiến, ý thức kỷ luật lao động cao Đây là những yếu tố tích cực đóng góp vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Trang 18

Thứ tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đối với hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, việc thu hút FDI để bổ sung cho nguồn vốn trong nước đã tạo ra các ngành nghề mới, thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thời kỳ đầu, các nước chủ yếu tập trung vốn FDI vào các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động như công nghiệp chế biến, công nghiệp may mặc Chẳng hạn ở Thái Lan, năm 1988, khoảng gần 90% vốn FDI đầu tư vào các ngành công nghiệp; trong khi vào các ngành nông nghiệp, khai thác

mỏ chỉ chiếm khoảng 10% [7, tr 70] Tuy nhiên, khoảng hai thập kỷ gần đây, khu vực dịch vụ có xu hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhanh và nhiều hơn các khu vực khác, kể cả ở các nước phát triển và đang phát triển Hiện nay, nhìn chung ở các nước đang phát triển, những lĩnh vực dịch vụ thu hút nhiều đầu tư nước ngoài gồm có du lịch, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, thương mại và viễn thông Điều này đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng phù hợp với quá trình thực hiện CNH, HĐH của các nước, nghĩa

là tỷ trọng lao động, GDP của khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên, khu vực nông nghiệp giảm xuống Ở Thái Lan, từ năm 1970 đến năm 2001, tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của nước này giảm từ 30,2% xuống còn 8,6%;

tỷ trọng công nghiệp tăng từ 25,7% lên đến 42,1%; tỷ trọng dịch vụ cũng tăng

từ 44,1% lên đến 49,3% [7, tr 71] Ở Việt Nam, cơ cấu kinh tế cũng đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm nhanh

từ 38,1% năm 1990 xuống còn 24,5% trong năm 2008 và năm 2008 là 20,9%;

tỷ trọng ngành công nghiệp gia tăng nhanh chóng từ 22,7% năm 1990 lên 36,7% năm 2000 và 41,6% năm 2008 Lĩnh vực dịch vụ không biến động nhiều, con số tương ứng qua các năm là 38,6%; 38,1% và 38,7% [14]

Thứ năm, chuyển giao kinh nghiệm quản lý hiện đại

Trang 19

Đối với các nước đang phát triển, ngoài những lợi ích mà FDI mang lại như bổ sung nguồn vốn trong nước và thúc đẩy chuyển giao công nghệ thì kinh nghiệm quản lý tốt cũng tác động rất lớn đến quá trình công nghiệp hoá

và tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Kinh nghiệm quản lý hiện đại được tích luỹ thông qua quá trình chuyển giao công nghệ vì các nước nhận đầu tư không chỉ nhập khẩu công nghệ đơn thuần mà họ phải học hỏi để nắm vững

kỹ năng vận hành, sửa chữa, thực hiện tốt các khâu để đạt hiệu quả cao Các nhà đầu tư nước ngoài không chỉ chuyển giao máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu mà còn chuyển giao cả những tri thức khoa học, bí quyết quản lý, kỹ năng tiếp cận thị trường Điều này bắt buộc các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao trình độ và kinh nghiệm của mình trong công tác quản lý

Kinh nghiệm quản lý hiện đại cũng sẽ được tích luỹ nhiều hơn nếu như nước chủ nhà cùng tham gia làm việc với các nhà đầu tư nước ngoài (dưới các hình thức liên doanh) thông qua việc đánh giá và xây dựng dự án, tổ chức điều hành doanh nghiệp, quản lý tài chính, kế toán, nghiên cứu thị trường và tổ chức mạng lưới dịch vụ

1.1.2.2 Tác động tiêu cực

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể là một động lực mạnh mẽ cho phát triển và tăng trưởng ở nước nhận đầu tư, nhưng nó cũng có thể gây rối loạn cho quá trình phát triển nếu không được quản lý cẩn trọng Những tác động tiêu cực đến sự phát triển của nước nhận đầu tư có thể kể đến là:

Thứ nhất, gây mất cân đối trong cơ cấu đầu tư

Những chính sách ưu đãi nhằm thu hút FDI có sức mạnh như những cục nam châm hút các nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, điều đó sẽ dẫn đến mất cân đối trong phân bổ nguồn vốn đầu tư giữa các ngành nghề, vùng lãnh thổ

Do lợi ích của bên nhận đầu tư và nhà đầu tư là khác nhau nên mục tiêu của họ cũng khác nhau Nước nhận đầu tư muốn dòng vốn được đầu tư vào hệ

Trang 20

thống kết cấu hạ tầng hay vào lĩnh vực sản xuất, nhưng các nhà đầu tư lại không muốn vậy vì mục đích của họ là thu về lợi nhuận cao nhất Do đó, họ chỉ quan tâm đến những lĩnh vực, ngành nghề có tỷ suất lợi nhuận cao, độ rủi

ro thấp như đầu tư vào các khu du lịch, khách sạn, kinh doanh dịch vụ còn không quan tâm đến những dự án, lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp, độ rủi ro cao như sản xuất nông nghiệp, hay lâm nghiệp

Các nhà đầu tư khi lựa chọn địa điểm triển khai dự án thường chỉ tập trung vào những nơi đông dân cư, sức mua lớn, nguồn lao động dồi dào, có kết cấu hạ tầng thuận lợi như các thành phố lớn, những địa phương có cảng biển, cảng hàng không, các tỉnh đồng bằng Trong khi đó, những tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa với điều kiện giao thông thấp kém, lại xa trung tâm, dân cư nghèo, trình độ lao động yếu thì không thể hấp dẫn được các nhà đầu tư mặc dù chính phủ nước nhận đầu tư đưa ra nhiều chính sách ưu đãi Chênh lệch trong khả năng thu hút FDI giữa các vùng tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều, làm gia tang khoảng cách về mức sống, văn hóa – xã hội

Bên cạnh đó, việc sử dụng nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng có thể gây ra mất cân đối trong cơ cấu đầu tư giữa nguồn vốn trong nước và nước ngoài Nếu tỉ trọng vốn FDI chiếm quá lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển thì tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế bị ảnh hưởng, nền kinh tế phát triển lệ thuộc vào bên ngoài, thiếu bền vững

Thứ hai, phải nhận nhiều công nghệ lạc hậu

Đối với nước chủ nhà – thường là các nước đang phát triển, một trong những mục tiêu quan trọng nhất của thu hút FDI là tiếp thu công nghệ hiện đại, nhằm sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế Lợi dụng tình trạng “khát” công nghệ của nước nhận đầu tư, nhiều nhà đầu tư thường tìm mọi cách “xuất khẩu” công nghệ cũ, lạc hậu, không thể sử dụng ở nước họ vào các nước này thông qua

Trang 21

nhiều hình thức khác nhau Hình thức phổ biến là góp vốn bằng công nghệ tại các liên doanh Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn bằng thiết bị, vật tư lạc hậu, đã qua sử dụng song được tân trang lại như mới Điều này gây thiệt hại kinh tế không nhỏ cho nước nhận đầu tư: mua công nghệ cũ nhưng với giá cao Hình thức bán dây chuyển sản xuất cũng tồn tại không ít vấn đề Bên nước ngoài chuyển cho các nước nhận đầu tư công nghệ lạc hậu từ 2-3 thế hệ thậm chí chỉ chuyển giao một phần công nghệ dẫn đến hiện tượng công nghệ chắp vá, không đồng bộ Kết quả là các nước đang phát triển trở thành bãi thải công nghiệp của các nước phát triển, hiệu quả sản xuất vốn đã kém lại không cải thiện được nhiều, sản phẩm cạnh trạnh khó khăn trên thị trường quốc tế Kết quả khảo sát điều tra về thiết bị nhập khẩu trong 42 doanh nghiệp có vốn FDI thuộc ngành công nghiệp nhẹ của Bộ công nghiệp Việt Nam năm 2005 cho thấy, có tới 76% máy móc, thiết bị sản xuất hàng tiêu dùng thuộc thế hệ từ năm 1950-1986, hơn 70% số máy móc đã hết khấu hao, 50% thiết bị cũ được tân trang lại [26, tr 61]

Thứ ba, gây ô nhiễm môi trường

Các doanh nghiệp FDI chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp và chế biến thực phẩm vốn là những ngành sản sinh ra nhiều chất thải,

dễ gây ô nhiễm môi trường, thậm chí ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, tính mạng của người dân Hiện tượng các doanh nghiệp khi đăng ký đầu tư đưa ra các phương án xử lý chất thải công nghiệp, các biện pháp giữ gìn môi trường nhưng trong quá trình thực hiện thì lại tìm mọi cách né tránh là điều thường xuyên xảy ra Nguyên nhân gây ra hiện tượng trên là do những nước nhận đầu tư – chủ yếu là các nước kém và đang phát triển không đặt ra các tiêu chuẩn chặt chẽ về môi trường; đánh thuế thấp thậm chí không đánh thuế đối với các ngành gây ô nhiễm; chính sách kiểm soát môi trường hạn chế, quy định, chế tài xử phạt chưa nghiêm Hơn nữa, việc sử dụng thiết bị công nghệ

Trang 22

lạc hậu mà các nước này nhận chuyển giao từ các nhà đầu tư nước ngoài vốn không tạo ra năng suất lao động cao lại còn gây ra tình trạng ô nhiễm đất, nước, không khí và tiếng ồn

Thứ tư, lợi ích người lao động bị xâm phạm

Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI phải đáp ứng những yêu cầu rất khắt khe về trình độ, nếu không đáp ứng được họ lập tức sẽ

bị sa thải mà không kèm theo một chế độ trợ cấp thất nghiệp nào Bên cạnh

đó, hiện tượng sáp nhập, giải thể của các TNCs đang diễn ra ngày càng nhiều cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiện tượng sa thải ồ ạt lao động trong các doanh nghiệp FDI hiện nay

Các doanh nghiệp FDI không quan tâm đến sức khỏe, tinh thần của người lao động Người lao động luôn trong tình trạng bị vắt kiệt sức lực khi làm việc với cường độ cao, thời gian bị kéo dài song thu nhập lại không cao tương ứng Qua điều tra về tình trạng lao động làm việc cho các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam thời gian gần đây cho thấy có 11,3% số công nhân làm việc trung bình từ 8-10 giờ/ngày; 4,4% số công nhân phải làm việc trên 10 giờ/ngày; có 24,7% số công nhân phải làm việc 7 ngày/tuần tuy nhiên họ lại không được biết hoặc không được doanh nghiệp thoả thuận về tiền lương, tiền công làm tăng ca, tăng giờ Mặc dù đã tích cực làm thêm giờ như vậy nhưng

có tới ½ số công nhân khẳng định là không đủ sống với mức thu nhập hiện có [24, tr.27] Cùng với vấn đề tiền lương, điều kiện làm việc, môi trường lao động cũng như an toàn lao động của người lao động không được các doanh nghiệp quan tâm Người lao động phải làm việc trong môi trường độc hại (tiếng ồn, bụi, khói…), không được cung cấp hệ thống bảo hộ (ánh sáng, nhiệt

độ, các thiết bị an toàn…), thậm chí không được hưởng trợ cấp độc hại

1.2 Nội dung và vai trò quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 23

1.2.1 Khái niệm và nội dung quản lý Nhà nước đối với FDI

1.2.1.1 Khái niệm quản lý Nhà nước đối với FDI

Quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước; các cơ hội có thể có để đạt mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra [23, tr.21]

Ở mỗi quốc gia khi vận hành nền kinh tế đều có sự giống nhau là chịu

sự chi phối và tác động của các quy luật kinh tế và quy luật đặc thù của mỗi chế độ xã hội Nhà nước nhận thức, vận dụng các quy luật đó vào quản lý điều hành nền kinh tế bằng hệ thống luật pháp, chính sách, cơ chế tổ chức thực hiện Tùy theo bản chất kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và trình độ khác nhau

về nhận thức, sự vận dụng các quy luật kinh tế của các nhà nước phát huy hiệu lực và hiệu quả khác nhau Điều đó nói lên tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, hệ thống doanh nghiệp nói riêng (trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài)

Quản lý Nhà nước đối với khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc Nhà nước tạo lập môi trường kinh doanh, các điều kiện cần thiết, tạo khung khổ, chính sách, pháp luật phù hợp thông qua bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương, quản lý hoạt động của doanh nghiệp từ khi thành lập đến khi doanh nghiệp rút khỏi thị trường

1.2.1.2 Nội dung quản lý Nhà nước đối với FDI

- Xây dựng chiến lược, quy hoạch về FDI

Chiến lược là đường lối chung, tổng quát và giải pháp chủ yếu tổng thể

để phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong một thời gian dài (từ 10-20 năm) Quy hoạch là sự cụ thể hóa một bước chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là một tập hợp các mục tiêu và sự bố trí, sắp xếp các nguồn lực tương ứng

để thực hiện các mục tiêu theo không gian và thời gian [23, tr 114-115]

Trang 24

Trong hoạt động quản lý Nhà nước về kinh tế nói chung, đối với FDI nói

riêng, việc xây dựng chiến lược, quy hoạch đóng vai trò quan trọng hàng đầu

bởi đó là căn cứ cơ bản để tiến hành hoạt động quản lý Nhà nước đối với FDI

Chiến lược, quy hoạch về FDI quy định mục tiêu, chỉ tiêu và bước đi cơ bản

nhằm đưa hoạt động FDI theo quỹ đạo và mục tiêu đã định Tất cả những hoạt

động trong công tác quản lý Nhà nước đều nhằm đạt mục tiêu của chiến lược,

quy hoạch đã đề ra Hơn nữa, đó còn là công cụ để điều tiết hoạt động của các

doanh nghiệp FDI, hướng các doanh nghiệp hoạt động theo định hướng của

nước chủ nhà theo những lĩnh vực, ngành nghề và khu vực đầu tư cụ thể; cung

cấp thông tin, dự báo để các doanh nghiệp có thể ra quyết định chính xác, kịp

thời

Khi xây dựng chiến lược, quy hoạch về FDI cần đảm bảo thỏa mãn các

yêu cầu kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng của đất nước;

đồng thời phải công khai cho các nhà đầu tư về các lĩnh vực, ngành nghề

khuyến khích, không khuyến khích hay cấm đầu tư và những ưu tiên của nhà

nước là gì, thứ tự ra sao, những hình thức sản xuất kinh doanh nào được phép

thành lập và hoạt động, yêu cầu đối với chủ thể sản xuất kinh doanh trong

từng hình thức đó như thế nào Việc đề ra chiến lược, quy hoạch phải dựa trên

cơ sở lợi ích của cả hai bên: Nhà đầu tư nước ngoài và nước nhận đầu tư Yêu

cầu doanh nghiệp hoạt động theo khuôn khổ luật pháp nhưng không có nghĩa

là bắt doanh nghiệp nước ngoài phải hoàn toàn làm theo ý muốn của nước

nhận đầu tư Vấn đề là làm thế nào để lợi ích hai bên cùng đạt được là lớn

nhất Không vì tăng cường thu hút FDI bằng mọi giá mà quy hoạch chạy theo

doanh nghiệp mà phải dựa vào lợi ích lâu dài của mỗi địa phương và quốc gia

- Tạo môi trường đầu tư

Môi trường đầu tư có thể hiểu là tập hợp các yếu tố và điều kiện đặc thù

của từng địa phương (quốc gia), có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, định hình

Trang 25

tư tưởng; điều kiện về tài nguyên thiên nhiên, thời tiết, khí hậu, cơ sở hạ tầng…cũng có tác động nhiều mặt đến hoạt động của doanh nghiệp

Môi trường đầu tư không chỉ là một địa điểm ở đó doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn quyết định phương thức và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường đầu tư thuận lợi là một

bệ phóng, điểm tựa vững chắc cho sự vươn lên của doanh nghiệp; trái lại môi trường đầu tư không thuận lợi không chỉ kìm hãm, cản trở mà đôi khi còn làm cho doanh nghiệp bị phá sản hàng loạt Do vậy, việc phân tích môi trường đầu

tư, nhận biết và tận dụng cơ hội đầu tư là cần thiết, quyết định khả năng cạnh tranh và sự sống còn của doanh nghiệp

Tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài là vai trò đặc biệt quan trọng của Nhà nước Vai trò đó được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

Xây dựng chính sách về FDI:

Chính sách là một tập hợp các giải pháp nhất định để thực hiện các mục tiêu bộ phận trong quá trình đạt tới các mục tiêu chung của sự phát triển kinh

Trang 26

tế - xã hội, thường bao gồm hai bộ phận là các mục tiêu cần đạt và các giải pháp cần áp dụng [23, tr 111]

Chính sách kinh tế nói chung, chính sách đối với FDI nói riêng là công

cụ đặc thù và không thể thiếu để Nhà nước quản lý FDI vì chúng có chức năng

là tạo ra những kích thích đủ lớn cần thiết để biến chiến lược, quy hoạch về FDI thành hiện thực Trong hệ thống các công cụ quản lý của Nhà nước đối với FDI, các chính sách là bộ phận năng động nhất, có độ nhạy cảm cao nhất trước những biến động của tình hình thực tế Một hệ thống chính sách đồng

bộ, phù hợp với chiến lược, quy hoạch về FDI sẽ là một đảm bảo vững chắc cho hoạt động quản lý Nhà nước về FDI

Chính sách liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp FDI bao gồm: chính sách tài chính, tiền tệ, chính sách thuế, chính sách đất đai, chính sách khoa học công nghệ, chính sách lao động, tiền lương, chính sách về môi trường…

Xây dựng pháp luật về FDI

Để quản lý tốt khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Nhà nước phải xây dựng, hoàn thiện và thực hiện một hệ thống pháp luật đồng bộ Pháp luật về FDI là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức quản lý

và sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp FDI với nhau và với các cơ quan quản lý Nhà nước

Đây là tiền đề pháp lý để điều chỉnh các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế trong khu vực FDI với nhau và quan hệ giữa doanh nghiệp FDI với

cơ quan quản lý Nhà nước, cũng là cơ chế pháp lý hữu hiệu để thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể kinh tế

Hệ thống pháp luật đối với FDI bao gồm những quy định về các hình thức tổ chức doanh nghiệp, việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất và chuyển đổi

Trang 27

doanh nghiệp, thủ tục đăng ký kinh doanh, các ngành được phép hoặc không được phép kinh doanh, trình tự, thủ tục giải thể, phá sản doanh nghiệp; quy định về giải quyết tranh chấp, vướng mắc trong hoạt động của doanh nghiệp…

Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng

Kết cấu hạ tầng là tổng thể một số ngành sản xuất mang tính chất phục

vụ, cung cấp hàng hóa và dịch vụ (có trả tiền hoặc không trả tiền) phục vụ nhu cầu sinh hoạt của dân cư và nhu cầu sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp; trong đó chủ yếu là hệ thống năng lượng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông và

hệ thống bảo vệ môi trường [23, tr 131]

Kết cấu hạ tầng được coi là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới quyết định của nhà đầu tư nói chung, nhà đầu tư nước ngoài nói riêng Khi chất lượng kết cấu hạ tầng tốt, nhà đầu tư sẽ có cơ hội giảm thiểu chi phí sản xuất, do đó, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của họ sẽ được đảm bảo

Do vậy, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng là yêu cầu cần thiết đối với mỗi quốc gia, một mặt phục vụ nhu cầu dân sinh, mặt khác nhằm tạo nên sức hấp dẫn của môi trường đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, dịch vụ kết cấu hạ tầng phần lớn là những hàng hóa công cộng Những hàng hóa này không được các nhà sản xuất tư nhân quan tâm vì tình trạng “ăn không” của rất nhiều người sử dụng Vì thế, Nhà nước cần thiết phải có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ hạ tầng cho xã hội bằng cách bỏ tiền ra cung cấp trực tiếp thông qua hệ thống các doanh nghiệp của mình hoặc khuyến khích tư nhân cung cấp bằng cách trợ cấp cho họ (trong nhiều trường hợp việc hỗ trợ tư nhân để họ cung cấp các dịch vụ này tỏ ra hiệu quả hơn)

Phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Thời gian vừa qua, sự phát triển của hầu hết các quốc gia đang phát triển đều phù thuộc quá mức vào tài nguyên Sự phát triển đó đang tiềm ẩn sự

Trang 28

không bền vững Trong bối cảnh đó, đầu tư vào con người là sự đầu tư có hiệu quả, sẽ tạo ra sức sống cũng như sự phát triển bền vững của nền kinh tế Trong thời đại kinh tế tri thức đang trở nên phổ biến ở hầu hết các quốc gia, việc sử dụng công nghệ cao đòi hỏi nguồn nhân lực phải đạt đến trình độ cao, do đó hơn bao giờ hết, các nước nhận đầu tư phải tự đào tạo, nâng cao trình độ nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động của các nhà đầu tư nước ngoài Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là giải pháp mang tính lâu dài, quan trọng của tất cả các quốc gia Bàn về khía cạnh này cần phải lưu tâm đến việc nâng cao chất lượng nguồn lao động phục vụ cho hoạt động của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và cả đội ngũ cán bộ làm công tác quản

lý Nhà nước đối với FDI

- Xúc tiến đầu tư

Hoạt động xúc tiến đầu tư là một bộ phận quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước đối với FDI nhằm tăng cường khả năng thu hút FDI của mỗi quốc gia Nó có vai trò “PR” (public relations) môi trường đầu tư của nước chủ nhà đến với các nhà đầu tư nước ngoài Hoạt động này thường được thực hiện thông qua các phương pháp: Thực hiện chương trình tuyên truyền, quảng

bá, giới thiệu, cung cấp thông tin về môi trường đầu tư, tiềm năng và cơ hội đầu tư Tổ chức các cơ sở xúc tiến đầu tư ở trong nước và nước ngoài để vận động, hỗ trợ, hướng dẫn các nhà đầu tư tìm hiểu chính sách, quy định pháp luật về đầu tư và lựa chọn lĩnh vực, địa điểm thực hiện dự án đầu tư Để kêu gọi được các dự án đầu tư vào các lĩnh vực, khu vực mà nền kinh tế đang cần, các nước phải xây dựng được danh mục dự án quốc gia thu hút vốn đầu tư; danh mục dự án thu hút vốn đầu tư của ngành và địa phương phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ

- Thẩm định dự án và cấp phép đầu tư

Trang 29

Để được cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các dự án của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải trải qua quá trình thẩm định và phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của nước tiếp nhận đầu tư

Để có quyết định đúng về lựa chọn dự án FDI, nước nhận đầu tư phải xem xét

dự án đó có phù hợp với chiến lược phát triển của đất nước, phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển của từng ngành, từng vùng, từng địa phương hay không, dự án đó có gây ảnh hưởng xấu tới văn hoá, xã hội và môi trường hay không? Vì vậy, hoạt động thẩm định dự án đầu tư nước ngoài là vô cùng quan trọng Nếu trình độ cán bộ thẩm định dự án yếu kém sẽ dẫn đến những hậu quả lâu dài về mặt xã hội và môi trường mà để khắc phục nó nhiều khi còn tốn kém hơn cả lợi nhuận thu được từ dự án đó Vì vậy, trong thu hút FDI, bên cạnh đảm bảo lợi ích đem lại cho chủ đầu tư để thu hút được nhiều nguồn vốn này, nhất thiết phải quan tâm đến khả năng phát triển kinh tế - xã hội của nước nhận đầu tư do dự án đó mang lại

- Hướng dẫn, hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện dự án và giải quyết vướng mắc, yêu cầu của nhà đầu tư

Để một dự án FDI đi vào hoạt động và hoạt động có hiệu quả, chỉ có những chính sách định hướng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật không thôi thì chưa đủ, mà điều quan trọng nữa là cần phải có sự hướng dẫn, hỗ trợ

từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước từ đó giải quyết những vướng mắc, yêu cầu của nhà đầu tư

Công tác hỗ trợ đầu tư bao gồm hỗ trợ về tài chính, tín dụng; hỗ trợ đầu

tư xây dựng kết cấu hạ tầng; hỗ trợ giải phóng mặt bằng; hỗ trợ đào tạo nhân lực; hỗ trợ chuyển giao công nghệ…

- Kiểm soát hoạt động đầu tư

Kiểm soát hoạt động đầu tư là tổng thể những hoạt động của Nhà nước nhằm đánh giá chính xác kết quả của những hoạt động liên quan đến việc thu

Trang 30

hút và sử dụng nguồn vốn FDI để có những can thiệp hợp lý và kịp thời khi cần thiết Thực chất đây là một hệ thống phản hồi và dự báo Trước hết việc kiểm soát hoạt động đầu tư cho phép Nhà nước thấy rõ tình trạng hoạt động của khu vực FDI, phát hiện những sai lệch trong quá trình thực thi chiến lược, quy hoạch, chính sách, pháp luật về FDI, việc thực hiện các chức năng của cơ quan quản lý Nhà nước, tính hợp lý của hệ thống kế hoạch về FDI để có sự điều chỉnh trong chu kỳ tiếp theo Ngoài ra, hoạt động này còn giúp Nhà nước lường trước được tình hình có thể xảy ra để có những can thiệp kịp thời, nhằm tránh hậu quả đáng tiếc Chức năng kiểm soát đối với FDI bao gồm những hình thức cụ thể như thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư…

Trong các nội dung của hoạt động quản lý Nhà nước đối với FDI, công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát là hoạt động không thể thiếu vì các nhà đầu tư thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà không chú ý đến các vấn đề xã hội, môi trường, hay chấp hành pháp luật, dẫn đến những hậu họa (nhất là môi trường)

mà nước nhận đầu tư phải gánh chịu Mục đích của việc kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động đầu tư là đảm bảo cho mọi hoạt động của các cơ quan, công chức nhà nước làm việc trong lĩnh vực quản lý FDI cũng như các doanh nghiệp FDI thực hiện đúng kế hoạch và pháp luật đề ra, cho phép sửa chữa các sai lầm trước khi chúng trở nên nghiêm trọng Nhờ đó, Nhà nước đối phó kịp thời với những biến động của tình hình thực tế; nhận ra những thời cơ, cơ hội

để kịp thời khai thác; hoàn thiện các chiến lược, quy hoạch, chính sách, pháp luật về FDI

Kiểm tra, thanh tra, giám sát là hoạt động cần thiết, thường xuyên, liên tục của các cơ quan quản lý Nhà nước, nhưng phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không được can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp

1.2.2 Vai trò của công tác quản lý Nhà nước đối với FDI

Trang 31

1.2.2.1 Định hướng đầu tư nước ngoài phục vụ yêu cầu của nền kinh tế

Mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận sẽ tự phát dẫn dắt hoạt động của nhà đầu

tư nước ngoài hướng vào những dự án có tỷ suất lợi nhuận cao, độ rủi ro thấp Khi lựa chọn địa điểm triển khai dự án, nhà đầu tư thường tập trung vào những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuận lợi như các thành phố lớn, những địa phương có cảng biển, cảng hàng không, những tỉnh đồng bằng; còn các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa mặc dù có những ưu đãi cao hơn song vẫn không thu hút được đầu tư nước ngoài Tình hình cũng xảy ra tương tự đối với các ngành nghề, lĩnh vực đầu tư Nhà đầu tư nước ngoài chỉ đầu tư vào các ngành có khả năng sinh lợi cao, rủi ro thấp như kinh doanh du lịch, khách sạn còn không quan tâm đến các ngành nghề, lĩnh vực có khả năng sinh lời thấp,

độ rủi ro cao, mặc dù cần thiết do dân sinh Điều đó tất yếu dẫn tới hệ quả là

sự mất cân đối trong cơ cấu đầu tư Những địa phương có trình độ phát triển cao thì thu hút được đầu tư nước ngoài nhiều, do đó kinh tế tăng trưởng ngày càng cao còn những vùng có trình độ kém phát triển thì có ít dự án đầu tư, tốc

độ tăng trưởng kinh tế vẫn thấp Những ngành nghề, lĩnh vực nhà nước muốn tăng cường đầu tư để phục vụ cho mục tiêu cải thiện trình độ kỹ thuật, công nghệ, nhằm gia tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước thì không nhận được sự đầu tư mà thay vào đó là những dự án với công nghệ trung bình thậm chí là lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, sử dụng nhiều năng lượng, đã bị các nước đầu tư cấm lưu hành, các dự án đầu tư thậm chí không mang lại nhiều giá trị gia tăng và năng lực sản xuất kinh doanh cho nền kinh tế như kinh doanh bất động sản lại được các nhà đầu tư quan tâm Thực tế đó đã tạo nên những tác động bất lợi cho sự phát triển bền vững của quốc gia nhận đầu

tư Do vậy, quản lý Nhà nước với tư cách là hoạt động tự giác sẽ dẫn dắt, định hướng nhà đầu tư nước ngoài vào những khu vực, ngành nghề, lĩnh vực phục

Trang 32

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý của Nhà nước dối với đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 33

Hiệu quả của quản lý Nhà nước về FDI phụ thuộc vào hai nhân tố nội tại là năng lực, trình độ của bộ máy quản lý và hiệu lực các công cụ quản lý

mà Nhà nước sử dụng

1.2.3.1 Năng lực và trình độ của bộ máy quản lý Nhà nước

Hoạt động của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đúng hướng và hiệu quả hay không phụ thuộc trước hết vào năng lực và trình

độ tổ chức quản lý của bộ máy Nhà nước Các tổ chức Nhà nước liên quan trực tiếp đến FDI bao gồm: Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Cục Hải quan, Bộ Tài nguyên & Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học & Công nghệ, Bộ Lao động, Thương binh & Xã hội Rõ ràng, năng lực và trình độ của cán bộ quản

lý trong các cơ quan Nhà nước có tác động rất lớn đến hoạt động thu hút và sử dụng FDI Chẳng hạn, bộ máy quản lý có năng lực sẽ đưa ra được chính sách đúng, pháp luật phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế, đề ra những quy hoạch, chiến lược cho phép khai thác tối đa lợi ích mà vốn FDI mang lại Nếu

bộ máy quản lý không có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ thì không thể phát hiện và xử lý được các trường hợp vi phạm pháp luật của bên nước ngoài trong quá trình thẩm định, xét duyệt và theo dõi các dự án FDI Nếu con người trong bộ máy quản lý không có tư cách đạo đức trong sáng mà chỉ vụ lợi cho bản thân thì nguy cơ thông đồng, móc ngoặc với các nhà đầu tư nước ngoài nhằm thông qua những dự án không đảm bảo mục tiêu, quy định của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến môi trường, trốn lậu thuế…là hoàn toàn có thể xảy

ra Những yếu kém như vậy sẽ dẫn đến những hậu quả đi kèm, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia…

Chính vì vậy, nhân sự của bộ máy quản lý phải được bồi dưỡng, đào tạo

để có kỹ năng quản lý chuyên sâu, chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức trong sáng, lành mạnh để trở thành nhân tố tác động tích cực tới quá trình thu hút và

sử dụng có hiệu quản nguồn vốn FDI

Trang 34

cụ thể, rõ ràng, minh bạch thì công tác quản lý sẽ rất dễ dàng và hiệu quả rất cao Ngược lại, hệ thống pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn thì sẽ dẫn đến hiện tượng vừa làm vừa nghiên cứu, vừa hoàn thiện, thậm chí nhiều khi cơ quan quản lý Nhà nước cũng lúng túng vì không biết phải áp dụng theo quy định nào, còn các doanh nghiệp thì có điều kiện để “lách luật”, gây hậu quả xấu cho

sự phát triển kinh tế - xã hội

- Chiến lược, quy hoạch về FDI

Hệ thống chiến lược, quy hoạch về FDI cung cấp một cái nhìn tổng quát, dài hạn về quá trình thu hút FDI, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động quản lý Nhà nước và quyết định của nhà đầu tư Nếu chiến lược, quy hoạch đúng đắn, hợp lý, các cơ quan quản lý Nhà nước cũng như doanh nghiệp sẽ có cơ sở tốt để xây dựng mục tiêu, phương hướng, chiến lược hoạt động Ngược lại, chiến lược, quy hoạch không đồng bộ, thiếu tính dài hạn, dự báo không chính xác hoặc không kịp thời sẽ làm cho mọi hoạt động trở nên rối rắm, không kiểm soát được bởi lẽ sự không đồng bộ sẽ khiến cho mỗi nơi làm một kiểu, hiểu một kiểu; thiếu tính dài hạn sẽ gây tốn kém thời gian, công sức, tiền của vì thường xuyên phải xây dựng lại mục tiêu, phương hướng hoạt động

và điều quan trọng hơn là gây tâm lý bất ổn ở nhà đầu tư Việc dự báo không chính xác hoặc không kịp thời về nhu cầu, biến động thị trường còn có thể gây

Trang 35

Trong hệ thống chính sách kinh tế thì chính sách thuế và chính sách đất đai có tác động trực tiếp nhất Nếu Nhà nước đánh thuế thu nhập cao thì các nhà đầu tư sẽ thu hẹp quy mô đầu tư hoặc tìm cách để trốn thuế, tránh thuế; ngược lại mức thuế thấp sẽ khuyến khích được các doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh Trong lĩnh vực đất đai, nếu Nhà nước có chính sách phù hợp, giải phóng mặt bằng nhanh hay ưu đãi cho các nhà đầu tư về thời gian sử dụng đất thì họ sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí, yên tâm, tin tưởng sản xuất – kinh doanh; ngược lại sẽ gây tâm lý bất ổn, lo ngại, khiến họ chần chừ trong quyết định đầu tư của mình Bên cạnh đó, chính sách tỷ giá hối đoái cũng có những ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài Việc xác định một mức tỷ giá ở đó đồng nội tệ được định giá cao hơn

so với ngoại tệ khiến cho hàng hoá sản xuất trong nước bị định giá cao hơn so với hàng hoá nước ngoài, do vậy, khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế

bị ảnh hưởng, giảm khả năng xuất khẩu Điều này sẽ làm cho hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn

Các chính sách xã hội bao gồm chính sách dân số, lao động, chính sách giáo dục, văn hoá, chính sách khoa học công nghệ, chính sách bảo hiểm, chính sách xoá đói, giảm nghèo, chính sách bảo vệ môi trường Những chính sách

xã hội mặc dù không hướng tới đối tượng trực tiếp là các doanh nghiệp FDI nhưng cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của khu vực này, bởi vì, suy cho cùng các chính sách này đều có tác động tới những nguồn lực,

Trang 36

những điều kiện đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động Chẳng hạn, Nhà nước quan tâm, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ là một tiền đề tốt để các doanh nghiệp có điều kiện tuyển dụng được đội ngũ lao động có trình độ, tay nghề cao; ngược lại khi công tác giáo dục, đào tạo bị xem nhẹ thì doanh nghiệp sẽ phải tự lo việc lựa chọn, đào tạo lao động Điều này tất nhiên gây tốn kém chi phí cho doanh nghiệp Một chính sách bảo vệ môi trường yêu cầu những điều kiện khắt khe đối với các doanh nghiệp sẽ buộc nhà đầu tư phải đầu tư hệ thống dây chuyền công nghệ hiện đại, đi kèm với những biện pháp đảm bảo chất lượng môi trường hoặc chuyển hướng kinh doanh cho phù hợp với quy định

Rõ ràng, hệ thống các chính sách của Nhà nước dù ít, dù nhiều cũng đều

sẽ ảnh hưởng tới các doanh nghiệp FDI Chính sách hay thay đổi, khó dự đoán

sẽ ảnh hưởng tới tâm lý, gây mất ổn định trong hoạt động của các nhà đầu tư Phản ứng của họ có thể là tích cực mà cũng có thể là tiêu cực và khiến cho công việc của các cán bộ quản lý gặp nhiều khó khăn do phải theo dõi và quản

lý những hoạt động đó Ngoài ra, sự thay đổi thường xuyên của chính sách cũng khiến cho cán bộ làm công tác quản lý phải thường xuyên cập nhật thông tin Điều này gây tốn kém thời gian, chi phí nhưng điều quan trọng hơn là sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng của công tác quản lý bởi đội ngũ cán bộ cần có thời gian để thích nghi với sự thay đổi đó

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở TRUNG QUỐC

2.1 Những tác động chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế - xã hội Trung Quốc

2.1.1 Kết quả thu hút FDI của Trung Quốc từ khi cải cách mở cửa nền kinh tế (1979)

2 1.1.1 Quy mô đầu tư

Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa, tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài vào năm 1979, luồng vốn FDI chảy vào Trung Quốc liên tục tăng lên Nếu như giai đoạn đầu (1979-1991), nguồn vốn FDI chỉ đóng vai trò bổ sung cho hình thức vay nước ngoài trong việc cung cấp ngoại tệ cho nhu cầu phát triển đất nước (lượng vốn thực hiện cả thời kỳ mới chỉ đạt 25,1 tỷ USD) thì sau chuyến tuần du phương Nam của Chủ tịch Đặng Tiểu Bình vào năm 1992, lượng vốn FDI thực hiện đã có sự nhảy vọt từ 4,4 tỷ USD năm 1991 lên 11 tỷ USD năm 1992, đạt 45,4 tỷ USD trong năm 1998 Trong 2 năm 1999, 2000 lượng vốn FDI giảm do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997) còn 40,3 tỷ USD và 40,7 tỷ USD, song lại tiếp tục tăng từ năm 2001 đến nay: Từ 46,8 tỷ USD năm 2001 lên 60,6 tỷ USD năm 2004 và 92,4 tỷ

Trang 38

USD năm 2008 (tăng 23,5% so với năm 2007, nhưng trong 3 tháng cuối năm bắt đầu đã có dấu hiệu chững lại do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu) 5 tháng đầu năm 2009, lượng vốn thực hiện giảm 20,4% so với cùng kỳ năm trước Tuy nhiên, Yao Jian, phát ngôn viên của Bộ Thương mại Trung Quốc cho rằng nước này vẫn sẽ là điểm đến hấp dẫn đối với FDI bởi môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, thị trường rộng lớn và sự mở cửa nhiều hơn nữa trong lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp chế tạo

Quy mô vốn đầu tư bình một dự án tăng dần qua các giai đoạn, đặc biệt

từ năm 2001 đến nay: giai đoạn 2001-2008 đạt 2,58 triệu USD/dự án, tăng 1,35 lần so với thời kỳ 1992-2000 và gấp khoảng 2,35 lần so với thời kỳ 1983-

1991 Sở dĩ có được kết quả trên là vì sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã

mở cửa hầu hết các lĩnh vực, hơn nữa Trung Quốc chú trọng hơn đến thu hút FDI vào các ngành công nghệ cao, có vốn lớn, do đó ngày càng có nhiều TNCs lớn đầu tư vào Trung Quốc (xem bảng 2.1)

Bảng 2.1: Vốn FDI vào Trung Quốc 1979-2008*

Năm Số dự án Số vốn cam kết

(tỷ USD)

Số vốn giải ngân (tỷ USD)

Trang 39

* Không bao gồm đầu tư vào lĩnh vực tài chính

Nguồn: Số liệu thống kê của MOFCOM 2.1.1.2 Theo hình thức đầu tư

Trong giai đoạn đầu thu hút FDI (1978-1985), hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư mạnh nhất của Trung Quốc (năm 1985 hình thức này chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt 58,9%) bởi vì thời kỳ này Trung Quốc

có mối quan hệ hợp tác chủ yếu với Hồng Kông, Macao, Đài Loan, nơi có trình độ sản xuất ngành công nghiệp chế tạo tương đối thích ứng với nội địa

Từ năm 1986, khi Trung Quốc chuyển hướng sang sản xuất các sản phẩm hướng về xuất khẩu thì hình thức này không còn phổ biến như trước nữa mà thay vào đó là hình thức liên doanh, ở đó Trung Quốc sẽ tranh thủ được nguồn vốn, kỹ thuật công nghệ để phát triển sản xuất và học tập được nhiều kinh nghiệm quản lý tiên tiến, thu hút được kỹ thuật ở trình độ cao Hơn nữa, những năm đầu thập niên 1980, Chính phủ Trung Quốc yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài muốn gia nhập thị trường phải hình thành quan hệ liên doanh với các doanh nghiệp Trung Quốc và tỷ trọng đầu tư nước ngoài không thấp hơn 25% Nếu năm 1985, hình thức liên doanh chiếm tỷ trọng là 34,22% thì năm

1990 tăng lên 40,99% và năm 1991 là 50,77%, cao nhất so với các hình thức đầu tư khác

Trong thời kỳ đầu, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng rất nhỏ (0,77% năm 1985) vì các nhà đầu tư nước ngoài còn e ngại về thị trường mới mở cửa của Trung Quốc Họ cho rằng các chính sách đầu tư của Trung Quốc còn mang tính thử nghiệm, chưa hoàn chỉnh nên độ rủi ro cao Hơn nữa, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài thời kỳ này cũng còn nhiều hạn chế đối với các nhà đầu tư Từ năm 1990, trước yêu cầu mới của thị trường và các nhà đầu tư nước ngoài, Chính phủ Trung Quốc đã nới lỏng những hạn chế đối với doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài Vì vậy, tỷ

Trang 40

lệ các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tăng lên và là hình thức được các nhà đầu tư ưa chuộng nhất hiện nay Nếu năm 1985 hình thức đầu tư này mới chỉ chiếm tỷ trọng 0,77% thì năm 1990 là 37,05%, năm 2001 là 62,14% thì năm 2008 đã lên tới con số 78,24%

Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài tăng lên cũng đồng nghĩa với tỷ trọng hình thức liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày càng giảm xuống Nếu năm 1997 tỷ trọng của hình thức liên doanh là 33,18% thì năm

2001 giảm còn 5,36% và năm 2008 là 18,72% Tỷ trọng hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh qua các năm 2001, 2003 và 2008 là 11,99%, 6,51% và 2,05%

Hình thức mua lại và sáp nhập (M&A) được đẩy mạnh đặc biệt từ sau khi Trung Quốc gia nhập WTO Trong năm 2002, lượng vốn M&A đạt 14 tỷ USD tăng 1,8 lần so với năm 2001; con số của 6 tháng đầu năm 2004 là 23 tỷ USD, trong đó các doanh nghiệp có vốn FDI mua lại các doanh nghiệp Trung Quốc khoảng 7,3 tỷ USD bằng 1,37 lần so với cùng kỳ năm 2003 Kể từ năm

2007, Chính phủ Trung Quốc chủ trương không khuyến khích hình thức đầu

tư này nữa (xem bảng 2.2)

Bảng 2.2: Cơ cấu vốn FDI vào Trung Quốc phân theo hình thức đầu tư (2007-2008)

Nguồn: Mofcom

Ngày đăng: 19/12/2015, 13:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Vốn FDI vào Trung Quốc 1979-2008* - Quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở trung quốc và những gợi ý chính sách cho việt nam   luận văn ths
Bảng 2.1 Vốn FDI vào Trung Quốc 1979-2008* (Trang 38)
Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài tăng lên cũng đồng nghĩa với tỷ  trọng  hình  thức liên doanh và  hợp  đồng  hợp  tác  kinh doanh  ngày  càng  giảm  xuống - Quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở trung quốc và những gợi ý chính sách cho việt nam   luận văn ths
Hình th ức đầu tư 100% vốn nước ngoài tăng lên cũng đồng nghĩa với tỷ trọng hình thức liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày càng giảm xuống (Trang 40)
Hình 2.1: Tỷ trọng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước và - Quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở trung quốc và những gợi ý chính sách cho việt nam   luận văn ths
Hình 2.1 Tỷ trọng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước và (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm