1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa việt nam luận văn ths quản trị kinh doanh 60 34 05 pdf

93 427 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vũ Trọng Lâm, NXB Chính trị quốc gia 2006, “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa” của tác giả Trần Sửu, NXB Lao động 2006 là những công trình đã làm rõ một s

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Trần Hùng Các tài liệu tham khảo số liệu thống kê được sử dụng đúng qui định, không vi phạm các quy chế bảo mật của nhà nước Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Vũ Thu Hà

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng, biểu i

Danh mục các hình ii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 9

1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh 9

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh 9

1.1.2 Nguồn gốc, bản chất và ý nghĩa của cạnh tranh 11

1.1.3 Chức năng của cạnh tranh 13

1.1.4 Phân loại cạnh tranh 14

1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh 17

1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 17

1.2.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 19

1.2.3 Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp 24

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 28

1.3 Các mô hình lý thuyết phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 31

1.3.1 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter 31

1.3.2 Mô hình ma trận SWOT 36

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM 38

2.1 Tổng quan về công ty Cổ phần Sữa Việt Nam 38

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 38

2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức 42

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam 44

2.2 Phân tích năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam trên thị trường Việt Nam 45

2.2.1 Phân tích năng lực cạnh tranh theo các yếu tố cấu thành 45

2.2.2 Phân tích các áp lực cạnh tranh của công ty theo mô hình của Michael Porter 52

2.2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam 59

Trang 5

2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam 64

2.3.1 Các thành công đã đạt được 64

2.3.2 Các mặt còn hạn chế 67

2.4 Phân tích ma trận SWOT của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam 67

2.4.1 Điểm mạnh -S 67

2.4.2 Điểm yếu -W 68

2.4.3 Cơ hội -O 68

2.4.4 Thách thức -T 69

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM 71

3.1 Mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam 71

3.2 Xu thế phát triển thị trường ngành sữa 72

3.2.1 Thị trường thế giới 72

3.2.2 Thị trường trong nước 73

3.3 Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam 74

3.3.1 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực 74

3.3.2 Tăng khả năng về tài chính 75

3.3.3 Nâng cao chất lượng sản phẩm 77

3.3.4 Tăng cường các hoạt động Marketing 78

3.3.5 Chính sách khuyến mại 79

3.3.6 Củng cố hệ thống phân phối trên cả nước 79

3.3.7 Mở rộng qui mô các vùng nguyên liệu 80

3.4 Một số kiến nghị 81

3.4.1 Đối với Nhà nước 81

3.4.2 Đối với ngành 83

KẾT LUẬN 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

1 Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Sữa

2 Bảng 2.2 Cơ cấu lao động phân theo trình độ của Công ty 45

4 Bảng 2.4 Danh sách một số nhà cung cấp lớn của Công ty 53

6 Bảng 2.6 Phân tích điểm mạnh điểm yếu của một số đối thủ cạnh tranh 59

8 Biểu đồ 2.1 Doanh thu của Vinamilk theo phân khúc sản phẩm 49

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

1 Hình 1.1 Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter 32

2 Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức và cơ cấu quản lý của công ty Cổ phần

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, đồng thời là động lực để phát triển nền kinh tế Cạnh tranh ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, các thành phần kinh tế và các doanh nghiệp Trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường và mở cửa, hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới, hầu hết các doanh nghiệp đều thừa nhận trong mọi hoạt động đều phải có cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là môi trường, động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng hiệu quả của các doanh nghiệp, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội khi Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật

Với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt trên cả thị trường trong nước và quốc tế Áp lực cạnh tranh mang đến cho các doanh nghiệp rất nhiều khó khăn, thách thức Tuy nhiên nếu như doanh nghiệp tìm ra cho mình được giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh thì đây là cơ hội tốt để phát triển Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố và chịu sự tác động của yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như môi trường kinh doanh, các chính sách kinh tế, kết cấu thị trường, hạ tầng và yếu tố bên trong doanh nghiệp như cơ cấu

tổ chức, trình độ quản lý, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và cả yếu

tố văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh không đơn thuần chỉ là số cộng các năng lực đó mà nó là sự phù hợp của năng lực bên trong và nhu cầu thị trường với điều kiện bên ngoài Để tồn tại và phát triển được cách doanh nghiệp cần tìm ra biện pháp để nâng cao năng lực canh tranh của mình

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, kéo theo mức thu nhập và chất lượng đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt và ngày càng nâng cao Như chúng ta đã biết sữa và các loại thực phẩm từ sữa vô cùng dinh dưỡng và cần thiết với mọi lứa tuổi để bổ sung Tại Việt Nam, Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam -Vinamilk là công ty sản xuất sữa hàng đầu Việt Nam, được thành lập từ năm 1976 với tiền thân là công ty Sữa - cafe miền nam Vinamilk với phương châm mang đến những sản phẩm chất lượng, bổ dưỡng và ngon miệng nhất cho sức khỏe

Trang 9

người tiêu dùng Hiện các nhãn hàng đang dẫn đầu trên thị trường gồm: Sữa tươi Vinamilk, sữa đặc, sản phẩm dinh dưỡng, nước ép trái cây

Tuy nhiên trong thời kỳ hội nhập hiện nay có rất nhiều các thương hiệu sữa

cả trong và ngoài nước gia nhập nền kinh tế Xuất hiện sự cạnh tranh của các công

ty trong ngành như Abbott, Nestle, Dutch Lady, True milk Sữa ngoại nhập từ các hãng như Med Johnson, Abbott, Nestle chiếm khoảng 22% thị phần, với các sản phẩm chủ yếu là sữa bột, còn lại 19% thuộc về 20 công ty có quy mô nhỏ như Hanoimilk, Ba vì Đặc biệt trên thị trường sữa bột đang cạnh tranh rất khốc liệt khi biên độ lợi nhuận của ngành hàng này đang được đánh giá là hết sức béo bở Theo số liệu từ Bộ Công Thương, năm 2012, thị trường Việt Nam tiêu thụ khoảng 65.000 tấn sữa bột, tương đương doanh số khoảng 2.300 tỉ đổng, trong đó, khoảng 70% là sữa ngoại nhập Các thương hiệu sữa bột từ các nhà sản xuất như Abbort, Mead Johnson, Dutch Lady, Nestlé, Dumex, XO… đang chiếm thế thượng phong với 70% thị phần, 30% còn lại từ các nhà sản xuất trong nước Vinamilk đóng góp 30% sản lượng nhưng chỉ chiếm 18% về giá trị Giá sữa bột trong năm năm qua đã tăng tới 30 lần và chưa biết khi nào dừng lại

Các đối thủ cạnh tranh như TH true milk, dù chỉ mới ra đời được 2 năm nhưng đã có những trang thiết bị hiện đại, đàn bò được nuôi theo tiêu chuẩn đặc biệt

TH Milk đã mạnh tay đầu tư 350 triệu đô la Mỹ để xây dựng trang trại bò sữa ở Nghệ An Đàn bò ở trang trại này hiện có 22.000 con, và với mục tiêu đứng đầu phân khúc sữa tươi, TH Milk có kế hoạch nâng đàn bò lên 100.000 con trong thời gian tới Gần đây TH true milk đã khánh thành nhà máy sữa tươi sạch tại Nghệ An, trong tương lai đây sẽ là một nhà máy chế biến sữa tươi lớn nhất và hiện đại nhất Đông Nam Á Theo đánh giá khái quát, năm 2012 sữa tươi sạch TH true MILK chiếm khoảng hơn 30% thị trường sữa tươi của Việt Nam Doanh thu thuần đạt mức 1.000 tỉ đồng vào năm 2011; năm 2012 là hơn 2.000 tỉ đồng; năm nay, ước tính đạt 3.700 tỉ đồng Dự kiến, năm 2015 sẽ đạt 15.000 tỉ đồng và năm 2017 sẽ tăng lên 23.000 tỉ đồng (trích từ bài viết “TH true milk và cuộc cách mạng trắng” trên diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam ra ngày 28/7/2013)

Trong những tháng đầu năm 2013 có nhiều thông tin đưa ra về hiện tượng

Trang 10

nhiễm độc sữa nhập ngoại, và nguồn nguyên liệu chế biến sữa của Vinamilk được nhâp khẩu từ các nước Mỹ, New Zealand Chính những thông tin về an toàn thực phẩm này cũng làm ảnh hưởng đến lòng tin người tiêu dùng, gây ra tâm lý hoang mang, không tin tưởng và dè chừng vào các sản phẩm sữa

Những yếu tố trên đã tạo ra một sức ép cạnh tranh lớn đối với công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Dù trong quá trình hình thành và phát triển đến bây giờ Vinamilk cũng có những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh như đổi mới công nghệ, đào tạo nhân viên chuyên nghiệp nhưng chưa có một nghiên cứu nào chuyên sâu về việc nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trong khoảng thời gian sau khi hội nhập Vì vậy để giữ vững vị thế và thương hiệu trên thị trường việc ra phương pháp nâng cao năng lực cạnh trạnh một cách phù hợp và hiệu quả là một vấn đề cấp thiết đối với công ty Cổ phần Sữa Việt Nam

Trong bối cảnh đó việc nghiên cứu luận văn “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam” là thực sự cần thiết

Luận văn nhằm đưa ra thực trạng phát triển của công ty và từ đó để tạo ra cơ

sở để đưa ra các giải pháp về nâng cao năng lực cạnh tranh Các giải pháp được đưa

ra từ sự nhìn nhận của cá nhân tác giả trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tại công ty

2.Tình hình nghiên cứu

Đứng trước tình hình cạnh tranh ngày càng khốc liệt , vấn đề trước hết là cần phải đánh giá được năng lực canh tranh của công ty để có những bước đi phù hợp Công ty cần xác định được vị thế cạnh tranh trên thương trường Để thấy rõ được thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cần nắm rõ được những điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình cạnh tranh, sự tác động của các yếu tố trong và ngoài của công ty Cạnh tranh là một chủ đề không phải là mới Nó được nhiều tổ chức nghiên cứu cả về những vấn đề chung, bao quát cho một quốc gia, cho đến một khu vực, một ngành, một doanh nghiệp cụ thể Tuy nhiên việc nghiên cứu này mỗi thời khác nhau lại có những đóng góp khác nhau và có ý nghĩa thực tiễn khác nhau Một số công trình nghiên cứu mà tác giả được biết:

Luận án tiến sĩ kinh tế: “Tăng cường năng lực cạnh tranh của tập đoàn Bưu

Trang 11

chính viễn thông Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới” của tiến sĩ Trần Thị Anh Thư năm 2012, đã chỉ ra mục tiêu phát triển của VNPT, quan điểm phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của VNPT trong giai đoạn 2011-2020 để từ đó đưa ra được để xuất, giải pháp mang tính khả thi

Luận văn “ Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho cafe Việt Nam” của TS Trần Ngọc Hưng năm 2003; Luận văn “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk” của tác giả Phạm Minh Tuấn năm

2005 Luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng cổ phần thương mại Việt Nam thời kỳ hậu WTO” của ThS Nguyễn Thị Phương Thảo năm 2008; Kết quả nghiên cứu của các luận văn này đều hướng tới đánh giá thực trạng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

Các tài liệu khác trong nước nghiên cứu về năng lực cạnh tranh có giá trị tham khảo như:

Bài viết “ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam đang thế nào?” của TS.Võ Trí Thành - Phó viện trưởng viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương trên tạp chí điện tử Kinh tế và Dự báo ngày 23/3/2013 Bài viết xem xét được những thách thức đối việc nâng cao giá trị gia tăng của doanh nghiệp trong bối cảnh Việt nam hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới và khu vực; khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Bài viết “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO” của GS, TS Chu Văn Cấp ( Học viện chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh) trên báo Phát triển và hội nhập Số 2(12) tháng 1-2/2012 Bài viết đã đưa ra được những quan điểm về cạnh tranh và tái cấu trúc Doanh nghiệp trong thời

kỳ hội nhập Về nhóm giải pháp bên ngoài Doanh nghiệp bao gồm: Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng; cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô; mở rộng phát huy dân chủ trong kinh tế Về nhóm giải pháp bên trong: lựa chọn chiến lược kinh doanh đúng đắn; tập trung nâng cao nguồn nhân lực

và công nghệ

Bài viết “Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh – cơ sở quan trọng để xây

dựng tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của TS.Bùi Xuân

Trang 12

Phong đăng trên báo Thông tin khoa học kỹ thuật và kinh tế bưu điện số 3/2007

Bài viết đưa ra cái nhìn tồng quan về các yếu tố cấu thành nên năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp từ đó đưa ra các tiêu chí đánh giá

Về mặt cơ sở lý luận có một số tài liệu tham khảo:

Cuốn sách “ Chiến lược cạnh tranh” Michael E Porter (2009) đã mang tới một khung phân tích chi tiết để hiểu những lực lượng ẩn giấu phía sau cạnh tranh trong các ngành, thể hiện trong “năm yếu tố”; Cuốn sách “ Lợi thế cạnh tranh”, Michael E Porter (2008) chỉ ra những nguồn gốc cơ bản của lợi thế cạnh tranh và tính bền vững của lợi thế đó và cách thức giúp các công ty tạo lập và duy trì lợi thế cạnh tranh

Sách tham khảo “Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” của TS Nguyễn Vĩnh Thanh, NXB Lao động - xã hội (2005), “Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” của TS Vũ Trọng Lâm, NXB Chính trị quốc gia (2006), “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa” của tác giả Trần Sửu, NXB Lao động (2006) là những công trình đã làm rõ một số lý luận về sức cạnh tranh của doanh nghiệp, doanh nghiệp thương mại trong nền kinh

tế thị trường, trình bày kinh nghiệm trong nước và quốc tế về nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, doanh nghiệp thương mại Việt nam trong thời gian qua trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp Việt Nam

Những tài liệu trên đã giúp tác giả có cơ sở lý luận để nghiên cứu về cạnh tranh về năng lực cạnh tranh, một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Thông qua các nghiên cứu và phân tích về năng lực cạnh tranh của công ty từ đó đưa ra các giải pháp mang tính hệ thống và khả thi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty, giúp công ty tạo nên được thế mạnh vững chắc và tận dụng được những điểm mạnh của mình để ngày một vươn

xa trên thị trường

Trang 13

Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh, cách thức

để nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty

Giới thiệu tổng quan về thị trường sữa của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam,

về tình hình cung cầu, giá cả, sản phẩm, môi trường cạnh tranh của công ty những năm gần đây Qua đấy có cái nhìn tổng quan hơn về điểm mạnh, điểm yếu, năng lực cạnh tranh của công ty với các các đối thủ cạnh tranh trên thị trường

Đưa ra giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu tác giả có sử dụng một số phương pháp sau:

Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu thứ cấp là những dữ liệu, thông tin đã có trong một tài liệu nào đó, đã được thu thập cho một mục đích khác Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp là quá trình thu thập thông tin từ những nguồn đã có khác như sách báo, truyền hình, internet, báo cáo nghiên cứu thương mại…Và để xác định tính chính xác của thông tin thì cần tìm những thông tin tương tự ở những nguồn khác để so sánh Phương pháp này có ưu điểm là tiết kiệm chi phí và thời gian thu thập nhanh Tuy nhiên, nó có điểm hạn chế là

dễ lạc hậu theo thời gian, không đáp ứng đúng nhu cầu, khó tiếp cận

- Các nguồn dữ liệu thứ cấp cơ bản:

Nguồn nội bộ: Các báo cáo chức năng khác nhau trong công ty (báo cáo về

chi phí, báo cáo về doanh thu, hoạt động phân phối chức năng…)

Nguồn bên ngoài: Cơ quan thống kê và quản lý nhà nước; Các tổ chức hiệp hội; Sách, tạp chí học thuật chuyên ngành; Luận văn, khóa luận, kết quả hội nghị;

Trang 14

các phương tiện truyền thông (internet, bách khoa mở…); các tổ chức thương mại

- Các phương pháp tìm kiếm dữ liệu thứ cấp

 Thư viện

 Các trung tâm tài liệu

 Các cơ sở dữ liệu: tập hợp những thông tin tóm tắt từ rất nhiều các tạp chí chuyên ngành khác nhau, sử dụng các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của công ty hay từ các nghiên cứu của các công ty chứng khoán

 Các danh bạ mạng: phân loại và sắp xếp các website theo các chủ đề lớn nhỏ, chính phụ, giúp người dung mạng dễ tìm kiếm hơn

Phương pháp xử lý dữ liệu

Các dữ liệu sau khi thu thập thì được tiến hành xử lý bằng các biện pháp thống kê đơn giản, phương pháp tổng hợp, dùng excel để so sánh và tính toán các chỉ số tài chính để làm cơ sở hoàn thành luận văn

Phương pháp so sánh là phương pháp lâu đời nhất và được áp dụng rộng rãi nhất So sánh trong phân tích kinh tế là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế

đã được lượng hóa có cùng một nội dung, một tính chất tương tự nhau Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Để tiến hành so sánh, phải giải quyết các vấn đề cơ bản như xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện để so sánh và xác định mục tiêu so sánh

* Các nguyên tắc khi áp dụng phương pháp so sánh:

+ Các chỉ tiêu hay kết quả tính toán phải tương đương nhau về nội dung phản ánh và cách xác định

+ Trong phân tích so sánh có thể so sánh: số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân

Số tuyệt đối là số tập hợp trực tiếp từ các yếu tố cấu thành hiện tượng kinh tế được phản ánh Ví dụ: tổng sản lượng, tổng lợi nhuận… Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy được quy mô của hiện tượng kinh tế Các số tuyệt đối được so sánh phải có cùng một nội dung phản ánh, cách tính toán xác định, phạm vi, kết cấu và đơn vị đo lường của hiện tượng

Trang 15

Số tương đối là số biểu thị dưới dạng số phần trăm, số tỷ lệ hoặc hệ số Sử dụng số tương đối có thể đánh giá được sự thay đổi kết cấu các hiện tượng kinh tế, đặc biệt cho phép liên kết các chỉ tiêu không tương đương để phân tích Trong nhiều trường hợp, khi so sánh cần kết hợp đồng thời cả số tuyệt đối lẫn số tương đối

Số bình quân là số phản ánh mặt chung nhất của hiện tượng bỏ qua sự phát triển không đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng kinh tế Sử dụng số bình quân cho phép nhận định tổng quát về hoạt động kinh tế của doanh nghiệp

Đồng thời còn sử dụng ma trận SWOT phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức để đề ra các chiến lược có thể chọn lựa cho công ty

6 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả của luận văn tốt nghiệp có thể giúp cho ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam thấy rõ tình hình năng lực cạnh tranh của công ty Qua đó, ban lãnh đạo Công ty có thể cân nhắc tính khả thi của các giải pháp được đề xuất trong luận văn này để áp dụng vào thực tế, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh

Canh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv

Đề cập tới cạnh tranh trong điền kiện kinh tế tư bản chủ nghĩa K Marx đã

đưa ra khái niệm như sau: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các

nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” [25] Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng

hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật

cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vân thu đựơc lợi nhuận

Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn Kinh

tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng “Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch

giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường”[45] Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo

(Perfect Competition)

Ở phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống mỹ thì Cạnh tranh đối với một quốc giá là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được

Trang 17

các đòi hỏi của thị trường Quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng đợc thu nhập thực

tế của người dân nứơc đó

Còn trong Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) “Cạnh tranh (trong kinh

doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất”[56]

Các tác giả trong cuốn "Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh

tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh, thuộc sự án VIE/97/016 thì cho: “Cạnh

tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một

số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt đựơc một mục tiêu kinh doanh cụ thể”[68], ví dụ như lợi nhuận,

doanh số hoặc thị phần Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua

Ở Việt nam khi đề cập đến “cạnh tranh” người ta thường đề cập đến giành lợi thế về giá cả, hàng hóa, dịch vụ mua bán và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế

Mặc dù có nhiều cách diễn đạt về khái niệm cạnh tranh song ta có thể rút ra

từ các định nghĩa, các cách hiểu khác nhau các điểm hội tụ chung sau đây:

Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh Cạnh tranh nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của những gười còn lại Và để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau:

Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể có cùng các mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tượng mà chủ thể cùng hướng đến chiếm đoạt Trong nền kinh tế, với chủ thể canh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tương tự có cùng mục đích phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia canh tranh đều có thể làm ra và được người mua chấp nhận Còn với các chủ thể cạnh tranh bên mua là giành giật mua được các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình

Trang 18

Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể,

đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ Các ràng buộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các doanh nghiệp chính là các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp và thông kệ kinh doanh ở trên thị trường Còn giữa người mua với người mua, hoặc giữa những người mua và người bán là các thoả thuận được thực hiện có lợi hơn cả đối với người mua

Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặc ngắn (từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh) Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng thời gian không nhất định hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phương, một nghành) hoặc rộng (một nước, giữa các nứơc)

1.1.2 Nguồn gốc, bản chất và ý nghĩa của cạnh tranh

Các học thuyết về kinh tế thị trường hiện đại đều khẳng định: cạnh tranh là động lực phát triển nội tại của nền kinh tế, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong điều kiện của kinh tế thị trường Người tiêu dùng và các doanh nghiệp tác động qua lại lẫn nhau trên thị trường để xác định ba vấn đề trọng tậm: Sản xuất cái gì? Như thế nào? Cho ai?Do đó, người tiêu dùng giữ vị trí trung tâm tron nền kinh tế và là đối tượng hướng tới của doanh nghiệp Dưới sự tác động của quy luật cung cầu và quy luật giá trị, các chủ thế kinh doanh cạnh tranh với nhau để cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng, tuy nhiên sản xuất không vượt quá khả năng kinh doanh Dưới tác động của quy luật cung cầu và quy luật giá trị, các chủ thể kinh doanh cạnh tranh với nhau để cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng, tuy nhiên sản xuất không vượt quá khả năng kinh doanh Dưới tác động của cạnh tranh, thị trường tự thân nó giải quyết mâu thuẫn giữa sở thích của người tiêu dùng và năng lực sản xuất hạn chế, do đó cạnh tranh là lực lượng điều tiết trong hệ thống thị trường Các áp lực liên tục của người tiêu dùng buộc các chủ thể kinh doanh phải phản ứng, phù hợp với các mong muốn thay đổi của người tiêu dùng Cạnh tranh thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển, nâng cao năng suất lao động, đẩy nhanh quá trình

Trang 19

tích tụ và tập trung trong các điều kiện các yếu tố của sản xuất đều và luôn thiếu hụt Cạnh tranh thực sự là một cuộc ganh đua, khi các chủ thể kinh doanh có lợi ích cơ bản là mâu thuẫn nhau Do vậy cạnh tranh chỉ xuất hiện trong điều kiện của kinh tế thị trường, nơi mà cung cầu là “cốt vật chất”, giá cả là “diện mạo”, cạnh tranh là

“linh hồn sống” của thị trường

Cạnh tranh là một quy luật của kinh tế thị trường trong những điều kiện của những tiền đề pháp lý cụ thể Đó là tự do thương mại mà theo đó tự do kinh doanh,

tự do khế ước và quyền tự chủ của cá nhân được hình thành và bảo đảm Cạnh tranh xuất hiện khi pháp luật thừa nhận và bảo vệ tính đa dạng của các loại hình sở hữu với tính cách là nguồn gốc của cạnh tranh Cạnh tranh hiện thân là động lực phát triển của xã hội; là nhân tố làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội khi Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của mọi thành phần kinh tế Nhìn từ phía các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng Trên quy

mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu,

do đó là động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển Cùng với mục đích tối

đa hoá lợi nhuận, cạnh tranh đã thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn diễn ra không đều ở các ngành, lĩnh vực kinh tế khác nhau Đây là tiền đề vật chất của các hình thái cạnh tranh

Cạnh tranh còn là môi trường đào thải các doanh nghiệp không thích nghi được với các điều kiện của thị trường Ở nghĩa này, cạnh tranh là nhân tố hiệu chỉnh bên trong của thị trường Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích vì lợi nhuận và chi phối thị trường Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức và uy tín của mỗi chủ thể kinh doanh Dưới tác động điều tiết vĩ mô, sự cạnh tranh ở mỗi nước còn có bản chất chính trị khác nhau

Tóm lại, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi có các điều kiện sau: một là, phải có ít nhất hai chủ thể cùng tham gia cạnh tranh và các chủ thể có cùng mục đích phải đạt được; hai là, việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia phải tuân thủ; ba là, cạnh tranh diễn ra trong khoảng thời gian không cố định, hoặc ngắn (từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt

Trang 20

quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh); bốn là, sự cạnh tranh diễn ra trong không gian xác định hoặc hẹp (một tổ chức, một ngành, một địa phương), hoặc rộng (một nước, giữa các nước)

1.1.3 Chức năng của cạnh tranh

Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một số chức năng quan trọng Tuy nhiên, tầm quan trọng của những chức năng có thể thay đổi theo từng thời kỳ Đó là:

Chức năng điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trường:

Khi hàng hóa trở nên khan hiếm trên thị trường nghĩa là cung hàng hóa đó thấp hơn cầu, giá cả tăng lên tạo nên lợi nhuận cao hơn mức bình quân trên thị trường, điều này sẽ dẫn tới giảm cầu Còn khi cung một loại hàng hóa lớn hơn cầu, thì những người bán sẽ cạnh tranh với nhau làm cho giá cả thị trường giảm xuống

Vì vậy cạnh tranh sẽ điều chỉnh cung cầu quanh vị trí cân bằng của nó

Chức năng điều tiết việc sử dụng các nhân tố sản xuất:

Các chủ thể kinh doanh luôn phải cân nhắc sử dụng nguồn lực về vật chất và nhân lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào cho hợp lý và hiệu quả cao nhất mà chi phí sản xuất thấp nhất để tối đa hóa lợi nhuận Chính đặc điểm này mà doanh nghiệp vận dụng các nguồn lực một cách hợp lý nhất để phát huy moi khả năng của nó cho ra năng suất cao T

Chức năng “xúc tác” tích cực làm cho sản xuất thích ứng với biến động của cầu và công nghệ sản xuất:

Điểm mấu chốt của kinh tế thị trường là quyền lựa chọn của người tiêu dùng Người tiêu dùng có quyền lựa chọn những sản phẩm tốt nhất Nếu một sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu thị trường, thì sự lựa chọn của người tiêu dùng và quy luật cạnh tranh sẽ buộc nó phải tự định hướng lại và hoàn thiện Do cạnh tranh, các chủ thể kinh doanh chủ động đổi mới công nghệ, áp dụng những kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và phương thức kinh doanh để thoả mãn yêu cầu thị trường, nâng cao vị thế của chủ thể cạnh tranh và sản phẩm

Chức năng phân phối và điều hoà thu nhập:

Trang 21

Tùy từng thời điểm nhất định, một sản phẩm nhất định sẽ chiếm được ưu thế trên thị trường, nhưng trong thời gian này nó sẽ luôn bị đe dọa bởi các sản phẩm cùng loại khác Cũng như vậy không một chủ thể kinh doanh nào có thể luôn thu được lợi nhuận cao và thống trị hệ thống phân phối trên thị trường Chủ thể kinh doanh này sẽ luôn bị các đói thủ cạnh tranh tìm các biện pháp để hạ bệ Nhờ có cạnh tranh, các nhà kinh doanh không thể lạm dụng ưu thế của mình, do đó cạnh tranh có tác động tích cực đến việc điều hòa và phân phối thu nhập

Chức năng động lực thúc đẩy đổi mới:

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có tiền năng, trình độ quản lý cao, có kiến thức về kỹ thuật tiên tiến hiện đại, có kinh nghiêm về thương trường sẽ tồn tại và phát triển mạnh mẽ Những doanh nghiệp nào ko tồn tại được sẽ bị đào thải Do đó cạnh tranh trở thành động lực phát triển không chỉ thôi thúc mỗi chủ thể kinh doanh mà còn là đông lực để phát triển nền kinh tế quốc gia

1.1.4 Phân loại cạnh tranh

1.1.4.1 Căn cứ vào các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trường

Cạnh tranh giữa người bán và người mua:

Là cuộc cạnh tranh giữa người bán và người mua diễn ra theo quy luật mua

rẻ bán đắt trên thị trường Người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, ngược lại người mua muốn mua với giá thấp nhất Giá cuối cùng là giá thống nhất giữa người mua và người bán sau một quá trình mặc cả với nhau mà theo đó hoạt động mua bán được thực hiện

Cạnh tranh giữa những người mua với nhau:

Là cuộc cạnh tranh xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu Khi lượng cung một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó quá thấp so với nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh giữa những người mua sẽ trở nên quyết liệt Lúc đó giá cả hàng hoá, dịch vụ sẽ tăng vọt nhưng do hàng hoá khan hiếm nên người mua vẫn sẵn sàng trả giá cao cho hàng hoá mình cần Kết qủa là người bán thu được lợi nhuận cao còn người mua thì bị thiệt Đây là cuộc cạnh tranh mà theo đó những người mua sẽ bị thiệt còn những người bán được lợi

Trang 22

Cạnh tranh giữa những người bán với nhau:

Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất, chiếm đa số trên thị trường Thực tế cho thấy khi sản xuất hàng hoá càng phát triển càng có nhiều người bán dẫn đến cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên nhiều phương diện và nhiều hình thức đa dạng khác nhau Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật một mặt tác động đến các nhà sản xuất, một mặt làm thay đổi nhu cầu của người mua, do đó nó dần làm biến đổi vị trí của các yếu tố cạnh tranh Một cách chung nhất cạnh tranh là sự ganh đua ở các giác độ : chât lượng, giá cả, nghệ thuật tổ chức tiêu thụ và thời gian Giá là yếu tố thứ nhất của cạnh tranh, đây là hình thức cạnh tranh được sử dụng nhiều nhất Khi nhu cầu con người phát triển cao hơn thì yếu tố chất lượng sản phẩm chiếm vị trí chính yếu Đến nay vào những năm cuối của thế kỷ 20 thì với các doanh nghiệp lớn họ có với nhau sự cân bằng về giá cả thì yếu tố thời gian và tổ chức tiêu thụ sản phẩm là quan trọng nhất

1.1.4.2 Căn cứ vào mức độ tính chất của cạnh tranh trên thị trường

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo:

Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi có một số lớn doanh nghiệp nhỏ sản xuất và bán ra một loại hàng hoá, dịch vụ giống hệt nhau và với số lượng của từng doanh nghiệp qúa nhỏ so với tổng số hàng hoá có trên thị trường Thị trường có đặc điểm

là rất nhiều người sản xuất và bán hàng hoá giống hệt nhau, song không ai có ưu thế trong việc cung ứng và mua sản phẩm để có thể làm thay đổi giá cả Người bán có thể bán toàn bộ hàng hoá của mình với giá thị trường Như vậy họ phải chấp nhận giá thị trường có sẵn và dù họ có tăng giảm lượng hàng hoá bán ra thì cũng không

có tác động gì đến giá cả thị trường Không có trở lực gì quan trọng ảnh hưởng đến việc gia nhập vào một thị trường hàng hoá, nói cách khác là không có sự cấm đoán

do luật lệ quy định hoặc do tính chất của sản phẩm đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật cao, mức đầu tư quá lớn Vì vậy, theo thị trường này mỗi doanh nghiệp chỉ là một phần tử trong tổng thể vì vậy các quyết định của doanh nghiệp không ảnh hưởng đến thị trường Mặt khác việc định giá của doanh nghiệp không cách nào khác hơn

Trang 23

là phải tự thích ứng với giá cả hiên cả hiện có trên thị trường Muốn có lãi doanh nghiệp phải giảm thấp chi phí sản xuất

Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo:

Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là tình trạng cạnh tranh bình thường vì

nó phổ biến trong điều kiện hiện nay Đây là thị trường mà phần lớn các sản phẩm là không đồng nhất Cùng sản phẩm có thể chia làm nhiều thứ loại, nhiều chất lượng Sản phẩm tương tự có thể được bán với nhiều nhãn hiệu khác nhau, mỗi nhãn hiệu đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau Mặc dù, sự khác biệt giữa các sản phẩm không đáng kể (sự khác biệt mang ý nghĩa quan niệm, tâm lý là chính): các điều kiện mua bán hàng hoá cũng là khác nhau Người bán có thể có uy tín độc đáo riêng biệt đối với người mua do nhiều lý do khác nhau: khách hàng quen, gây được lòng tin hay các cách thức quảng cáo cũng có thể ảnh hưởng tới người mua, làm người mua thích mua của một nhà cung ứng này hơn của một nhà cung ứng khác

Đường cầu của thị trường là đường không co dãn Việc mua và bán sản phẩm được thực hiện trong bầu không khí có tính chất giao thương rất lớn, điều này khác hẳn với thị trường cạnh tranh hoàn hảo Người bán có thể thu hút khách hàng bởi nhiều cách: quảng cáo, khuyến mại, phương thức bán hàng, cung cấp dịch vụ, tín dụng, hoặc có nhiều điều khoản ưu đãi Do đó, trong giá có sự phân biệt, xuất hiện hiện tượng nhiều giá Có thể nói giá cả nên xuấng thất thường tuỳ khu vực, tuỳ nguồn cung ứng, tùy người mua

Thị trường cạnh tranh độc quyền:

Thị trường độc quyền là thị trường mà ở đó chỉ có duy nhất một người mua (Độc quyền mua) hoặc một người bán (Độc quyền bán) Chính sách của thị trường này là định giá cao và sản lượng hàng hoá ít Tuy nhiên điều đó không đồng nghĩa với việc nhà độc quyền định giá bao nhiêu cũng được Tuỳ theo đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm và cơ chế quản lý giá của Nhà nước mà nhà độc quyền định giá cao hay thấp để thu được lợi nhuận tối đa Các nhà độc quyền cũng dùng hình thức cạnh tranh phi giá như quảng cáo để thu hút thêm khách hàng Nói chung độc quyền trong sản xuất kinh doanh là lợi thế lớn nhất đối vơi nhà độc quyền, song về mặt xã hội thì nó kìm hãm sự phát triển sản xuất, làm thiệt hại lợi ích người tiêu dùng

Trang 24

Trong thị trường cạnh tranh độc quyền, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau bằng việc bán sản phẩm phân biệt, các sản phẩm có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao nhưng không phải là thay thế hoàn hảo Nghĩa là độ co dãn của cầu là cao chứ không phải là vô cùng.Vì những lý do khác nhau (chất lượng, hình dáng, danh tiếng ) người tiêu dùng coi mặt hàng của mỗi doanh nghiệp khác với của các doanh nghiệp khác Do đó một số khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn cho sản phẩm mình thích, trong ngắn hạn khó ra nhập thị trường nhưng dài hạn thì có thể Nhà sản xuất định giá nhưng không thể tăng giá một cách bất hợp lý, về dài hạn thì không thể trở thành thị trường độc quyền được Cạnh tranh độc quyền sử dụng các hình thức cạnh tranh phi giá như quảng cáo, phân biệt sản phẩm

1.1.4.3 Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế

Cạnh tranh giữa các ngành:

Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu được lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đầu tư bỏ ra đầu tư vào ngành khác Trong quá trình cạnh tranh này, các chủ thể luôn say mê với những ngành đầu tư có lợi nhuận nên đã chuyển vốn kinh doanh từ những ngành ít thu được lợi nhuận sang những ngành có lợi nhuận cao hơn Sự điều chỉnh này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành sự phấn phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất Kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với

số vốn bằng nhau và chỉ thu được lợi nhuận như nhau Tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành

Cạnh tranh trong nội bộ ngành:

Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó Trong cuộc cạnh tranh này các doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau, doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường, doanh nghiệp thua sẽ sẽ thu hẹp phạm vi kinh doanh thậm chí phá sản

1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh

1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Hiện nay các thuật ngữ “ năng lực cạnh tranh”, “sức cạnh tranh” và “ khả năng cạnh tranh” được sử dụng nhiều ở Việt Nam, trong khi thông dụng trong tiếng

Trang 25

anh đều được sử dụng là “ Competitiveness”, cho nên chúng cùng một nghĩa và có thể thay thế cho nhau Một định nghĩa chính xác cho khái niệm này đến nay là vấn

đề gây nhiều tranh luận, dưới đây là một số định nghĩa về năng lực cạnh tranh:

Đối với các lãnh đạo doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh có nghĩa là sức cạnh

tranh trên thị trường thế giới nhờ áp dụng chiến lược toàn cầu mà có được

Trong từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “ Sức cạnh tranh là năng lực

của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế”[73]

Có thể nói năng lực cạnh tranh đó chính là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực có giới hạn như vật lực, nhân lực, trí lực… biết lợi dụng các điều kiện khách quan một cách có hiệu quả nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh để từ đó đảm bảo cho doanh nghiệp đứng vững, tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh Từ đó cho thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp càng lớn thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp ngày càng cao

Khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh người ta thường xem xét, phân biệt năng lực cạnh tranh theo 4 cấp độ: Năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh sản phẩm Trong khuôn khổ đề tài luận văn đối tượng nghiên cứu là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp muốn có vị trí vững chắc và thị trường ngày càng mở rộng thì cần có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị trường Đó chính là năng lực cạnh tranh của doanh nghệp

Do vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp năng lực nắm giữ

và nâng cao thị phần của chủ thể trong sản xuất kinh doanh hàng hoá, là trình độ sản xuất ra sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là năng lực tồn tại và phát triển mà không cần sự hỗ trợ của Nhà nước Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực cung cấp sản phẩm của chính doanh nghiệp trên các thị trường khác nhau với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ trong việc sản xuất và cung ứng, vừa tối đa hoá lợi ích của mình vừa thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng cho thấy năng lực

Trang 26

cạnh tranh được nâng cao

Nói một cách cụ thể hơn thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao

và phát triển bền vững

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, người ta dựa vào nhiều tiêu chí: thị phần, doanh thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, thu nhập bình quân, phương pháp quản lý, bảo vệ môi trường, uy tín của doanh nghiệp đối với xã hội, tài sản của doanh nghiệp nhất là tài sản vô hình, tỷ lệ công nhân lành nghề, tỷ lệ đội ngũ quản lý giỏi, nghiên cứu và sáng tạo Những yếu tố đó tạo cho doanh nghiệp

có lợi thế cạnh tranh, tức là tạo cho doanh nghiệp có khả năng triển khai các hoạt động với hiệu suất cao hơn các đối thủ cạnh tranh, tạo ra giá trị cho khách hàng dựa trên sự khác biệt hoá trong các yếu tố của chất lượng hoặc chi phí thấp, hoặc cả hai

1.2.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

có những con người làm việc có hiệu quả

Đánh giá nguồn nhân lực của doanh nghiệp thể hiện ở trình độ quản lý nguồn nhân lực, thể hiện ở trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo, trình độ chuyên môn của các nhân viên, trình độ tư tưởng văn hóa của các thành viên trong công ty, ý thức trách nhiệm của công nhân và trình độ tay nghề…Trình độ nhân lực cao sẽ tạo ra chất lượng chất xám cao

Trang 27

- Cán bộ lãnh đạo: Phải là người có trình độ, có khả năng nhận thức, nắm bắt được các quy luật khách quan và vận dụng các quy luật đó vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Có khả năng dẫn dắt tập thể lao động trong doanh nghiệp theo đúng pháp luật, tạo đủ công ăn việc làm và cuộc sống ổn định cho tập thể người lao động; Có thể chọn và tạo một ekip chỉ đạo, vận hành doanh nghiệp theo đúng dự kiến của mình Vì vậy khi đánh giá bộ máy lãnh đạo của một doanh nghiệp xây dựng, chủ đầu tư thường quan tâm đến các tiêu thức: kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ quản lý, các hoạt động của doanh nghiệp và các mối quan hệ; xa hơn nữa là tinh thần đoàn kết, đồng lòng của cán bộ, công nhân viên cũng như ekip lãnh đạo Điều này sẽ làm tăng sức cạnh tranh của chính doanh nghiệp và tạo ra uy tín đối với chủ đầu tư

- Cán bộ điều hành và quản lý kỹ thuật:

Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả đòi hỏi cán bộ điều hành và cần cán

bộ quản lý kỹ thuật phải có những phẩm chất sau: Hiểu rõ ý đồ của cấp trên để tự giác thực hiện nghiêm túc nhằm đạt được mục tiêu chung đã đề ra; Năng động, sáng tạo trong điều hành, thiết kế tổ chức thi công đã vạch ra; Có kinh nghiệm quản lý, điều hành thi công, nắm vững kỹ thuật

Cơ cấu về các chuyên ngành đào tạo phân theo trình độ sẽ cho biết khả năng chuyên môn hóa cũng như đa dạng hóa của doanh nghiệp Thông thường trong cơ cấu quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề có chuyên môn về lĩnh vực chính

mà doanh nghiệp đang kinh doanh phải chiếm ít nhất 60%, bởi điều này liên quan đến kỹ thuật và chất lượng công trình

- Cán bộ quản lý trung gian, đốc công và công nhân:

Đây là đội ngũ lao động trực tiếp tạo nên sức cạnh tranh tổng hợp của doanh nghiệp trên các khía cạnh: chất lượng công trình và tiến độ thi công công trình Người phụ trách đơn vị phải có trình độ quản lý (tổ chức điều phối lao động và thiết

bị hợp lý, tránh lãng phí, nhằm hạ thấp giá thành, tăng lợi nhuận nhưng phải đảm bảo chất lượng), am hiểu sâu rộng về công việc mà đơn vị đang thực hiện, biết chăm lo đến nguyện vọng, quyền lợi của người lao động… Có như vậy, nhà quản trị mới tạo ra được dự ủng hộ, lòng nhiệt thành từ phía người lao động

Trang 28

Tuy nhiên, lãnh đạo đơn vị giỏi cũng chưa đủ, còn cần đội ngũ lao động với trình độ tay nghề chuyên sâu, có khả năng sáng tạo, trung thực trong công việc Bởi đây chính là những người trực tiếp thực hiện những ý tưởng, chiến lược và chiến thuật kinh doanh của đội ngũ lãnh đạo cấp trên, những người tạo nên chất lượng công trình và sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Bên cạnh nguồn nhân lực, trình độ khả năng máy móc thiết bị, công nghệ thi công liên quan đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Máy móc, thiết bị là bộ phận quan trọng nhất trong tài sản cố định của doanh nghiệp xây dựng, nó đại diện cho trình độ kỹ thuật và khả năng sản xuất hiện có của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Mức độ

cơ giới hóa trong xây dựng được chủ đầu tư đánh giá cao bởi nó liên quan rất nhiều đến chất lượng và tiến độ thi công Khả năng cạnh tranh về máy móc thiết bị và công nghệ thể hiện thông qua các đặc tính sau:

- Tính hiện đại của thiết bị, công nghệ: biểu hiện ở các thông số như hãng sản xuất, năm sản xuất, công suất, giá trị còn lại,… của máy móc, thiết bị

- Tính đồng bộ: thiết bị hoạt động tốt phải đảm bảo sự phù hợp giữa thiết bị

và công nghệ với các điều kiện địa lý, khí hậu, thủy văn, phương pháp sản xuất và

sự phù hợp giữa chất lượng, độ phức tạp của sản phẩm với giá cả của sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra

- Tính hiệu quả: thể hiện về trình độ sử dụng máy móc, thiết bị của doanh nghiệp, từ đó tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng huy động tối

đa nguồn lực vật chất sẵn có, phục vụ cho mục đích cạnh tranh

- Tính đổi mới: là một trong những yếu tố tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Khả năng máy móc, thiết bị và trình độ công nghệ ảnh hưởng rất nhiều đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp Để có năng lực cạnh tranh cao thì cần phải đầu tư và công nghệ hiện đại Sử dụng công nghệ hiện đại giúp giảm thiểu chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động, nâng cao được chất lượng sản phẩm Vì vậy sử dụng yếu tố kỹ thuật này quyết định việc lựa chọn, tính toán các giải pháp hợp lý trong tổ chức thi công, bố trí con người và thiết bị một cách hài hòa nhằm đạt được

Trang 29

tiêu chuẩn về chất lượng, rút ngắn tiến độ thi công, tiết kiệm chi phí xây dựng, hạ giá thành công trình và tăng lợi thế cạnh tranh Do đó doanh nghiệp cần lựa chọn yếu tố kỹ thuật phù hợp, nắm bắt được chu trình sống của công nghệ, thời gian hoàn lại vốn ngắn, đào tạo đội ngũ sử dụng công nghệ thành thạo để phát huy được tối đa năng suất của công nghệ mà mình sử dụng Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần giữ bằng sáng chế, hoặc bí quyết riêng thì thị trường sản phẩm mới có tính độc quyền hợp pháp

Ngoài ra nhân tố thứ ba của nguồn lực là nhân tố tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khả năng tài chính thể hiện ở quy

mô nguồn vốn tự có, khả năng huy động các nguồn vốn khác cho sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó Mặt khác để đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp cần xem xét giữa vốn cố định và vốn lưu động với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ xây dựng Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là một doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, có như vậy mới đảm bảo được cho việc huy động vốn trong những trường hợp cần thiết và hợp lý, có kế hoạch sử dụng hiệu quả

để phát triển lợi nhuận của công ty Có nguồn vốn dồi dào thì doanh nghiệp mới có thể đầu tư mua sắm các trang thiết bị công nghệ hiện đại, có chi phí đào tạo nguồn nhân lực tại những nước phát triển, triển khai các công tác nghiên cứu sản phẩm, thực hiện các chương trình quản cáo, khuyến mại rầm rộ… Tất nhiên thực tế không

có một doanh nghiệp nào có một nguồn vốn hoàn hảo để thực hiện được tất cả các hoạt động trên, do đó doanh nghiệp cần phải có một kế hoạch cụ thể để sử dụng nguồn vốn của mình một cách hợp lý, cần đa dạng hóa các hình thức huy động vốn

1.2.2.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng bán sản phẩm đó trên thị trường được nhiều hay nhanh chóng trên thị trường có sản phẩm tương tự Nó bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như giá cả, chính sách hậu mãi, uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp bán sản phẩm… Khi lên một kế hoạch sản xuất sản phẩm, doanh nghiệp cần xác định mức độ của sản phẩm Doanh nghiệp chuẩn bị cho mình một sản phẩm mong đợi, tức là tập hợp những tiêu chí, mong muốn của người mua về sản phẩm đó

Trang 30

1.2.2.3 Khả năng liên kết với các doanh nghiệp khác và hội nhập quốc tế

Trong kinh doanh thường xuất hiện nhu cầu liên kết và hợp tác giữa các đối tượng khác nhau nhằm tăng khả năng cạnh tranh trong môi trường kinh doanh Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp được thể hiện ở chỗ nhận diện ra cơ hội kinh doanh mới, lựa chọn đúng đối tác liên kết và khả năng vận hành liên kết có hiệu quả, đạt được mục tiêu đã đề ra Khả năng liên kết và hợp tác cũng được thể hiện ở chỗ sự linh hoạt của doanh nghiệp biết chủ động nắm bắt các cơ hội kinh doanh trên thị trường Nếu doanh nghiệp không có hoặc ít có khả năng liên kết sẽ mất đi cơ hội kinh doanh và để rơi vào tay các doanh nghiệp khác Vô hình chung điều này trở thành nguy cơ với doanh nghiệp

1.2.2.4 Năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Năng suất có liên quan đến việc sử dụng toàn bộ nguyên vật liệu không chỉ bao gồm về số lượng, chất lượng, chi phí giao hàng, sự đầu tư về trang thiết bị, máy móc

1.2.2.5 Marketing

Hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp xây dựng không giống như các doanh nghiệp khác là đưa sản phẩm ra thị trường cho khách hàng mua Ngược lại, doanh nghiệp xây dựng phải dựa vào danh tiếng để khiến cho khách hàng tìm đến

và yêu cầu sản xuất sản phẩm cần thiết Do vậy, danh tiếng là nhân tố quyết định ưu thế cạnh tranh của từng doanh nghiệp xây dựng Danh tiếng, thành tích của doanh nghiệp có tác dụng rất lớn đến khả năng trúng thầu dự án, bởi các chủ đầu tư xây dựng những công trình lớn luôn quan tâm đến chất lượng và tiến độ công trình Do vậy, hoạt động quảng cáo sẽ tạo ra hình ảnh tốt đẹp, giúp doanh nghiệp mở rộng và khẳng định phạm vi ảnh hưởng của mình đến sự lựa chọn của các chủ đầu tư

1.2.2.6 Uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp

Uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp được hình thành trong một quá trình lâu dài Điều này được thể hiện qua chất lượng hệ thống quản lý, chất lượng sản phẩm hàng cung cấp cho thị trường Uy tín của doanh nghiệp còn được thể hiện qua những đóng góp của mình cho sự phát triển của nền kinh tế xã hội, mức độ tin cậy của doanh nghiệp Với những sản phẩm có thương hiệu, sẽ kích thích được

Trang 31

người tiêu dùng quyết định mua sắm nhanh chóng, điều này sẽ làm tăng doanh thu, thị phần của doanh nghiệp Nhưng đánh giá thương hiệu không qua số lượng hàng bán ra mà cần đánh giá qua khả năng phát triển thương hiệu Khả năng đó cho thấy

sự thành công của doanh nghiệp trong tương lai

1.2.2.7 Văn hóa doanh nghiệp

Mỗi doanh nghiệp đều có phong cách văn hóa trong hoạt động của mình, nó ảnh hưởng đến phương thức hoạt động kinh doanh thông qua quyết định của người lãnh đạo, quan điểm của họ đối với các chiến lược và điều kiện môi trường của doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các kinh nghiệm, cá tính, bầu không khí của doanh nghiệp mà khi liên kết với nhau tạo nên phương thức hoạt động, thực chất văn hóa tổ chức của doanh nghiệp là cơ chế doanh nghiệp tương tác với môi trường Văn hóa doanh nghiệp có thể là nhược điểm gây cản trở cho việc hoạch định và thực hiện chiến lược hay ngược lại là ưu điểm thúc đẩy các hoạt động

đó Các doanh nghiệp có văn hóa tổ chức tốt, tích cực có nhiều cơ hội để thành công hơn so với các doanh nghiệp có văn hóa tổ chức yếu kém, tiêu cực

1.2.3 Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp

Công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là tập hợp các yếu tố, các

kế hoạch, các chiến lược, các chính sách, các hành động mà doanh nghiệp sử dụng nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách hàng để thỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng Từ đó tiêu thụ được nhiều sản phẩm, thu được lợi nhuận cao, nghiên cứu các công cụ cạnh tranh cho phép các doanh nghiệp lựa chọn những công cụ cạnh tranh phù hợp với tình hình thực tế, với quy mô kinh doanh và thị trường của doanh nghiệp từ đó phát huy được hiệu quả sử dụng công vụ Việc lựa chọn công cụ cạnh tranh có tính chất linh hoạt và phù hợp không theo một khuôn mẫu cứng nhắc nào

1.2.3.1 Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng, lợi ích sản phẩm Nếu như trước kia giá cả được coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho tiêu chuẩn chất lượng sản

Trang 32

phẩm Khi có cùng một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thỏa mãn được nhu cầu của người tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn Nhất là trong nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của sản xuất, thu nhập của người người dân ngày càng được nâng cao, họ có đủ điều kiện để thỏa mãn nhu cầu của mình, cái mà họ cần là chất lượng và lợi ích sản phẩm đem lại Nếu nói rằng giá

cả là yếu tố mà khách hàng không cần quan tâm đến là hoàn toàn sai bởi giá cả cũng

là một trong những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho phù hợp với mức thu nhập của mình Điều mong muốn của khách hàng và của bất cứ ai có nhu cầu mua hay bán là đảm bảo được hài hòa giữa chất lượng và giá cả

Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở hiện tại

và trong tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần thiết Nâng cao chất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay đổi công nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu dùng Hay nói cách khác, nâng cao chất lượng sản phẩm là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu mã, bền hơn và tốt hơn Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu được ngày càng tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp, làm tăng lòng tin và sự trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp

Chất lượng sản phẩm dược coi là một vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải đương đầu đối với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam Một khi chất lượng hàng hóa dịch vụ không được đảm bảo thì có nghĩa là khách hàng sẽ đến với doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường dẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh Mặt khác chất lượng thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chất lượng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hóa bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp Do vậy cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều phải sử dụng nó

1.2.3.2 Cạnh tranh bằng giá cả

Trang 33

Giá cả được hiểu là số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cung ứng một số hàng hóa dịch vụ nào đó Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hóa để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khách hàng được tôn vinh là “Thượng đế”, họ có quyền lựa chọn những gì họ cho là tốt nhất, khi có cùng hàng hóa dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn để lợi ích

họ thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất Do vậy mà từ lâu giá cả đã trở thành một biến số chiến thuật phục vụ mục đích kinh doanh Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường là do sự khéo léo, tinh tế chiến thuật giá

cả Giá cả đã thể hiện như một vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định giá sản phẩm: định giá thấp hơn giá thị trường, định giá ngang bằng giá thị trường hay chính sách giá cao hơn giá thị trường

Một mức giá ngang bằng với giá thị trường sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm giá mà chất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo khi đó lượng tiêu thụ sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao và lợi sẽ thu được nhiều hơn

Với một mức giá thấp hơn mức giá thị trường thì chính sách này được áp dụng khi cơ sở sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hoá lớn, thu hồi vốn và lời nhanh Không ít doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính sách định giá thấp

Họ chấp nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến lúc có thể để sau này chiếm được cả thị trường rộng lớn, với khả năng tiêu thụ tiềm tàng Định giá thấp giúp doanh nghiệp ngay từ đầu có một chỗ đứng nhất định để định vị vị trí của mình từ đó thâu tóm khách hàng và mở rộng thị trường

Với chính sách định giá cao hơn giá thị trường: là ấn định giá bán sản phẩm cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trường hiện tại khi mà lần đầu tiên người tiêu dùng chưa biết chất lượng của nó nên chưa có cơ hội để so sánh, xác định mức giá của loại sản phẩm này là đắt hay rẻ chính là đánh vào tâm lý của người tiêu dùng rằng những hàng hoá giá cao thì có chất lượng cao hơn các hàng hoá khác Doanh nghiệp thường áp dụng chính sách này khi nhu cầu thị trường lớn hơn cung

Trang 34

hoặc khi doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền, hoặc khi bán những mặt hàng quý hiếm cao cấp ít có sự nhạy cảm về giá

Như vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và thành công khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ lưỡng xem mình đang ở tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất là nghiên cứu xu hướng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng cũng như cần phải xem xét các chiến lược các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng

1.2.3.3 Cạnh tranh bằng chính sách Marketing

Để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì chính sách Maketing đóng một vai trò rất quan trọng bởi khi bắt đầu thực hiện hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng đang có

xu hướng tiêu dùng những sản phẩm gì?, thu thập thông tin thông qua sự phân tích và đánh giá doanh nghiệp sẽ đi đến quyết định sản xuất những gì? kinh doanh những gì

mà khách hàng cần, khách hàng có nhu cầu Trong khi thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp thường sử dụng các chính sách xúc tiến bán hàng thông qua các hình thức quảng cáo, truyền bá sản phẩm đến người tiêu dùng Kết thúc quá trình bán hàng, để tạo được uy tín hơn nữa đối với khách hàng, doanh nghiệp cần thực hiện các hoạt động dịch vụ trước khi bán, trong khi bán và sau khi bán

Như vậy chính sách Maketing đã xuyên suốt vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó vừa có tác dụng chính và vừa có tác dụng phụ để hỗ trợ các chính sách khác Do vậy chính sách Maketing không thể thiếu được trong bất cứ hoạt động của doanh nghiệp

1.2.3.4 Các công cụ cạnh tranh khác

- Dịch vụ sau bán hàng

Hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp không dừng lại sau lúc bán hàng thu tiền của khách hàng mà để nâng cao uy tín và trách nhiệm đến cùng đối với người tiêu dùng về sản phẩm của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải làm tốt các dịch

vụ sau bán hàng

Nội dung của hoạt động dịch vụ sau bán hàng:

Trang 35

+ Cam kết thu lại sản phẩm và hoàn trả tiền cho khách hoặc đổi lại hàng nếu như sản phẩm không theo đúng yêu cầu ban đầu của khách hàng

+ Cam kết bảo hành trong thời gian nhất định

Qua các dịch vụ sau bán hàng, doanh nghiệp sẽ lắm bắt được sản phẩm của mình có đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng hay không

- Phương thức thanh toán

Đây cũng là một công cụ cạnh tranh được nhiều doanh nghiệp sử dụng, phương thức thanh toán gọn nhẹ, rườm rà hay nhanh chậm sẽ ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ

và do đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Các doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp như:

+ Đối với khách hàng ở xa thì có thể trả tiền hàng qua ngân hàng, vừa nhanh vừa đảm bảo an toàn cho cả khách hàng lẫn doanh nghiệp

+ Với một số trường hợp đặc biệt, các khách hàng có uy tín với doanh nghiệp hoặc khách hàng là người mua sản phẩm thường xuyên của doanh nghiệp thì có thể cho khách hàng trả chậm tiền hàng sau một thời gian nhất định

+ Giảm giá đối với khách hàng thanh toán tiền ngay hoặc mua với số lượng lớn

- Vận dụng yếu tố thời gian

Những thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ làm thay đổi nhanh cách nghĩ, cách làm việc của con người, tạo thời cơ cho mỗi người, mỗi đất nước tiến nhanh về phía trước Đối với các doanh nghiệp yếu tố quyết định trong chiến lược kinh doanh hiện đại là tốc độ chứ không phải là yếu tố cổ truyền như nguyên liệu lao động Muốn chiến thắng trong công cuộc cách mạng này, các doanh nghiệp phải biết tổ chức nắm bắt thông tin nhanh chóng, phải chớp lấy thời cơ, lựa chọn mặt hàng theo yêu cầu, triển khai sản xuất, nhanh chóng tiêu thụ để thu hồi vốn nhanh trước khi chu kỳ sản xuất sản phẩm kết thúc

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Có rất nhiều tiêu chí dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp Tuy nhiên, khi xem xét, nghiên cứu và phân tích cụ thể tình hình thực tế mỗi lĩnh vực hoạt động sẽ còn có thể sử dụng các tiêu chí khác mà phạm vi nghiên cứu chưa thể bao quát đầy đủ Dưới đây là một số yếu tố chủ yếu thường được xem

Trang 36

xét khi đánh giá về năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp

1.2.4.1 Thị phần của doanh nghiệp

Thị phần của doanh nghiệp so với các đối thủ khác nói lên sức mạnh mà doanh nghiệp có thể giành được trong cạnh tranh Để so sánh về mặt qui mô kinh doanh

và vị thế trên thị trường, thì việc so sánh thị phần các sản phẩm dịch vụ chính của doanh nghiệp là chỉ tiêu quan trọng mà doanh nghiệp cần phải so sánh, phân tích, đánh giá Thị phần của doanh nghiệp thường được xác định về mặt hiện vật (khối lượng sản phẩm) và về mặt giá trị (doanh thu)

Doanh thu mặt hàng i của công ty

x 100% = thị phần mặt hàng i

Doanh thu mặt hàng i của thị trường

Thị phần là chỉ tiêu tổng hợp nhất thể hiên sức đánh giá về năng lực cạnh tranh của doanh nghiêp Thị phần càng lớn thể hiện càng mạnh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để duy trì và phát triển tốt các năng lực cạnh tranh của mình, doanh nghiệp cần phải tìm cách mở rộng quy mô tiêu thụ sản phẩm, chiếm lĩnh về thị trường

1.2.4.2 Giá bán sản phẩm, dịch vụ

Giá bán sản phẩm, dịch vụ cũng là một chỉ tiêu dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt là doanh nghiệp biết hoạt động, biết tổ chức sản xuất kinh doanh tốt, giảm thiểu chi phí, do vậy giá bán sản phẩm, dịch vụ hạ mà vẫn có lãi Ngược lại, cũng trong điều kiện như vậy nếu doanh nghiệp tổ chức hoạt động không tốt, giá bán sản phẩm, dịch vụ cao sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Cần phải nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ Chất lượng sản phẩm, dịch

vụ của doanh nghiệp thể hiện ở hai khía cạnh: chất lượng về mặt vật lý, kỹ thuật của sản phẩm và chất lượng trong khâu phục vụ (ở các dịch vụ đi kèm: bán hàng và sau bán hàng) Để có thể tồn tại và đứng vững trong điều kiện cạnh tranh của cơ chế thị trường, chất lượng sản phẩm, dịch vụ là vấn đề luôn luôn được coi trọng Các

Trang 37

doanh nghiệp không những phải sản xuất ra những sản phẩm, dịch vụ đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng mà còn phải có những dịch vụ và tiện ích kèm theo nhằm tạo ra sự nổi bật, ưu thế riêng và phong cách riêng so với các đối thủ khác nhằm thu hút khách hàng

Đổi mới công nghệ và đổi mới sản phẩm, dịch vụ Mục tiêu của cạnh tranh là khẳng định mình và giành chỗ đứng vững chắc trên thị trường Đổi mới thiết bị, đổi mới công nghệ và luôn đổi mới sản phẩm, dịch vụ đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng sẽ tạo điều kiện cho việc tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, một doanh nghiệp biết ứng dụng công nghệ mới, kỹ thuật mới, thường xuyên cho ra thị trường những sản phẩm, dịch vụ mới, những tiện ích mới ngày càng có lợi hơn cho khách hàng sẽ là những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt và ngược lại

1.2.4.3 Thương hiệu và uy tín

Thương hiệu và uy tín sản phẩm chính là sự tổng hợp các thuộc tính của sản phẩm như chất lượng sản phẩm, lợi ích, mẫu mã và dịch vụ của sản phẩm Thương hiệu không những là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác, mà nó còn là tài sản rất có giá trị của doanh nghiệp, là uy tín và thể hiện niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm Một thương hiệu mạnh là một thương hiệu có uy tín cao và uy tín thương hiệu càng cao thì niềm tin và sự trung thành của người tiêu dùng đối với sản phẩm càng lớn Điều đó có nghĩa là nếu một sản phẩm nào đó có được uy tín và hình ảnh tốt đối với người tiêu dùng thì sản phẩm đó có một lợi thế cạnh tranh hơn hẳn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh

Ngày nay, phần lớn các hàng hóa xuất khẩu trên thị trường quốc tế đều có gắn với thương hiệu Thương hiệu của hàng hóa đã trở thành yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế hiện đại và người tiêu dùng sẵn sàng mua sản phẩm hàng hóa với số lượng cao hơn, thậm chí trả giá cao hơn, từ đó nâng cao được năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Các yếu tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh cho doanh nghiệp bao gồm:

Trang 38

1.2.4.4 Năng lực đầu tư nghiên cứu và phát triển

Nghiên cứu và phát triển đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và ứng dụng những công nghệ mới kịp thời, để tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường như: phát triển sản phẩm mới trước đối thủ cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến quy trình sản xuất để giảm chi phí… Hoạt động này có sự khác nhau giữa các doanh nghiệp, giữa các ngành đồng thời còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc trưng của sản phẩm, nguồn nhân lực, nguồn vốn, sự trợ giúp của Chính phủ…Các doanh nghiệp theo đuổi chiến lược phát triển sản phẩm mới rất quan tâm đến hoạt động R&D, họ còn hợp tác với các cơ quan nghiên cứu như các trường đại học để đưa các công trình nghiên cứu mới vào sản xuất

1.3 Các mô hình lý thuyết phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.3.1 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter

Michael Porter là một nhà tư tưởng chiến lược xuất sắc của thế giới, một trong những giáo sư lỗi lạc trong lịch sử của Đại học Harvard (Mỹ), được mệnh danh là “Cha đẻ chiến lược cạnh tranh” Những lý thuyết, mô hình về chiến lược và cạnh tranh của ông đã được giảng dạy ở khắp các trường kinh doanh trên thế giới Những cuốn sách kinh điển của ông như Lợi thế cạnh tranh, Lợi thế cạnh tranh quốc gia đã trở thành sách gối đầu giường của giới kinh doanh và các nhà hoạch định chính sách vĩ mô trong nhiều thập kỷ nay Ông cũng là Chủ tịch của bảng xếp hạng

"Năng lực cạnh tranh toàn cầu" (Global Competitiveness Report) đã trở thành thước đo quan trọng giúp các quốc gia trên thế giới biết được mình đang đứng ở đâu

và tự đánh giá về năng lực cạnh tranh của mình Năm 1979, trên tạp chí Harvard Business Review đã xuất bản mô hình Poter’s five forces với nội dung là tìm hiểu yếu tố tạo ra lợi nhuân trong kinh doanh Sau khi ra đời mô hình này được xem là công cụ hưu dụng và có hiệu quả trong việc tìm hiểu nguồn gốc lợi nhuận Nó cung cấp các chiến lược canh tranh trong kinh doanh để doanh nghiệp duy trì và gia tăng lợi nhuận

Theo Michael Porter sức cạnh tranh trong một ngành bất kỳ chịu sự tác động của năm lực lượng cạnh tranh bao gồm:

Trang 39

Ngành cung cấp do một vài công ty thống trị và có tính tập trung cao hơn ngành khách hàng Các nhà cung cấp bán hàng cho các khách hàng phân tán thường

sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến giá cả, chất lượng và các điều khoản khác

Không bị buộc phải cạnh tranh với những sản phẩm hay thế khác Sức mạnh của ngay cả các nhà cung cấp lớn cũng có thể bị kiềm chế nếu sản phẩm của chúng phải cạnh tranh với sản phẩm thay thế

Ngành mua hàng không phải là một khách hàng quan trọng của nhóm cung cấp Khi các nhà cung cấp bán hàng cho nhiều ngành và một ngành cụ thể không chiếm tỷ trọng lớn trong doanh số, các nhà cung cấp thường có xu hướng thể hiện quyền mặc cả

Quyền lực đàm phán

Đe dọa của các đối thủ tiềm ẩn

Thách thức của sản phẩm và

dịch vụ thay thế

Quyền lực đàm phán

Trang 40

Sản phẩm của các nhà cung cấp là một đầu vào quan trọng đối với các ngành khách hàng Đầu vào này quan trọng đối với chất lượng sản phẩm hay quy trình sản xuất của khách hàng Điều này làm tăng quyền lực của nhà cung cấp

Các sản phẩm của nhóm nhà cung cấp có đặc trưng khác biệt hoặc gây ra chi phí chuyển đổi Đặc trưng hóa khác biệt và chi phí chuyển đổi làm cho khách hàng mất đi lựa chọn buộc các nhà cung cấp phải cạnh tranh lẫn nhau

Những điều kiện quyết định sức mạnh của nhà cung cấp không chỉ có thể thay đổi mà thường cũng nằm ngoài khả năng kiểm soát của doanh nghiệp Tuy nhiên, cũng như sức mạnh của khách hàng, doanh nghiệp đôi khi có thẻ cải thiện tình thế của mình thông qua các chiến lược

1.3.1.2 Sức ép từ khách hàng

Khách hàng thể hiện sức mạnh của mình bằng cách mặc cả, ép giá xuống, hoặc đòi hỏi chất lượng sản phẩm, dịch vụ tốt hơn và buộc các đối thủ phải cạnh tranh với nhau Sức mạnh của mỗi nhóm khách hàng quan trọng trong ngành phụ thuộc vào nhiều đặc trưng của thị trường và vào tầm quan trọng tương đối của lượng mua từ ngành trong tổng thể hoạt động kinh doanh của chúng Một nhóm khách hàng sẽ có sức mạnh nếu thỏa mãn những điều kiện sau:

Mua số lượng lớn so với doanh số của người bán Nếu một tỷ lệ lớn doanh số được bán cho khách hàng, tầm quan trọng của khách hàng sẽ được nâng cao Những khách hàng mua số lượng lớn là một thế lực đặc biệt quan trọng nếu như ngành có chi phí cố định lớn, như ngành hóa chất chẳng hạn, và việc sản xuất ở công suất tối

đa có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Sản phẩm mua từ ngành có tỷ trọng lớn trong chi phí hay trong tổng thu mua của khách hàng Khi đó khách hàng thường bỏ nhiều nguồn lực cần thiết để mua hàng với mức giá có lợi và mua một cách có lựa chọn Khi sản phẩm chỉ chiếm một phần nhỏ trong chi phí của khách hàng, họ sẽ thường không nhạy cảm mấy với giá cả

Sản phẩm mua từ ngành chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí hy trong tổng thu mua của khách hàng Khi đó khách hàng thường bỏ nhiều nguồn lực cần thiết để mua hàng với mức giá có lợi và mua một cách có lựa chọn

Ngày đăng: 19/12/2015, 12:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Văn Cấp (2012), Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, báo Phát triển và hội nhập số 2 (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO
Tác giả: Chu Văn Cấp
Năm: 2012
2. Hoàng Văn Hải (2010), Quản trị chiến lược, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị chiến lược
Tác giả: Hoàng Văn Hải
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2010
3. Hà Văn Hội (2010), Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp, Nxb Bưu điện 4. Philip Kotler (2003), Quản trị marketing, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp, "Nxb Bưu điện 4. Philip Kotler (2003), "Quản trị marketing
Tác giả: Hà Văn Hội (2010), Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp, Nxb Bưu điện 4. Philip Kotler
Nhà XB: Nxb Bưu điện 4. Philip Kotler (2003)
Năm: 2003
5. Michael E. Porter (2008), Lợi thế cạnh tranh (bản dịch), Nxb trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi thế cạnh tranh
Tác giả: Michael E. Porter
Nhà XB: Nxb trẻ
Năm: 2008
6. Michael E. Porter (2009), Chiến lược cạnh tranh (bản dịch), Nxb trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cạnh tranh
Tác giả: Michael E. Porter
Nhà XB: Nxb trẻ
Năm: 2009
8. Bùi Xuân Phong, Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh – cơ sở quan trọng để xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, báo Thông tin khoa học kỹ thuật và kinh tế bưu điện số 3/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh – cơ sở quan trọng để xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
9.Trần Thị Anh Thư (2012), Tăng cường năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới, luận án tiến sỹ kinh tế - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới
Tác giả: Trần Thị Anh Thư
Năm: 2012
10.J.David Hunger & Thomas L.Wheelen, Essential of Strategic Management, NXK Prentice Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: Essential of Strategic Management
11.A.Rowwe & R.Mason & K.Dickel & R.Mockler, Strategic Management: A methodological Approach, NXB Addtion - Wesley Publishing.Các website tham khảo 12. www.cafef.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategic Management: A methodological Approach
Nhà XB: NXB Addtion - Wesley Publishing. Các website tham khảo 12. www.cafef.vn
13.www.dairyvietnam.com 14. www.vinamilk.com.vn 15. www.tapchitaichinh.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 2.1  Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Sữa - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa việt nam   luận văn ths  quản trị kinh doanh   60 34 05 pdf
1 Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Sữa (Trang 6)
1  Hình 1.1  Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter  32 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa việt nam   luận văn ths  quản trị kinh doanh   60 34 05 pdf
1 Hình 1.1 Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter 32 (Trang 7)
Hình 1.1. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa việt nam   luận văn ths  quản trị kinh doanh   60 34 05 pdf
Hình 1.1. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter (Trang 39)
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tổ chức và cơ cấu quản lý của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa việt nam   luận văn ths  quản trị kinh doanh   60 34 05 pdf
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tổ chức và cơ cấu quản lý của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Trang 49)
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa việt nam   luận văn ths  quản trị kinh doanh   60 34 05 pdf
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Trang 51)
Bảng 2.2. Cơ cấu lao động phân theo trình độ của Công ty - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa việt nam   luận văn ths  quản trị kinh doanh   60 34 05 pdf
Bảng 2.2. Cơ cấu lao động phân theo trình độ của Công ty (Trang 52)
Bảng 2.3. Bảng cân đối kế toán của công ty - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa việt nam   luận văn ths  quản trị kinh doanh   60 34 05 pdf
Bảng 2.3. Bảng cân đối kế toán của công ty (Trang 54)
Bảng 2.5. Dòng sản phẩm của các công ty sữa - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa việt nam   luận văn ths  quản trị kinh doanh   60 34 05 pdf
Bảng 2.5. Dòng sản phẩm của các công ty sữa (Trang 65)
Bảng 2.6. Phân tích điểm mạnh điểm yếu của một số đối thủ cạnh tranh - Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa việt nam   luận văn ths  quản trị kinh doanh   60 34 05 pdf
Bảng 2.6. Phân tích điểm mạnh điểm yếu của một số đối thủ cạnh tranh (Trang 66)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm