CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MẠNG LƯỚI PHÁT THANH, TRUYỀN 2.1 Mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ 2.1.1 Khái quát về mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở cá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ PHƯỚC
MẠNG LƯỚI PHÁT THANH, TRUYỀN THANH CƠ SỞ
Ở CÁC TỈNH MIỀN TÂY NAM BỘ
Trang 2MỤC LỤC
1.2.3 Vai trò của mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở 20 1.3 Phát thanh, truyền thanh cơ sở ở miền Tây Nam Bộ 20
1.3.1 Điều kiện kinh tế - xã hội ở miền Tây Nam Bộ 20
1.3.2 Văn hóa, trình độ và thói quen tiếp cận thông tin của cư dân miền Tây Nam Bộ25 1.3.3 Những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của phát thanh, truyền thanh cơ sở
Trang 3CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MẠNG LƯỚI PHÁT THANH, TRUYỀN
2.1 Mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ
2.1.1 Khái quát về mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây
2.1.2 Mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở Vĩnh Long 35
2.1.3 Mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở An Giang 39 2.2 Những đóng góp của phát thanh, truyền thanh cơ sở đối với các tỉnh
2.2.1 Phát thanh, truyền thanh cơ sở là mạng lưới chân rết của phát thanh các cấp,
là nguồn thông tin phong phú, là cầu nối giữa lãnh đạo và bà con địa phương 43
2.2.2 Phát thanh, truyền thanh cơ sở đã trở thành người bạn thân thiết, gắn bó của
2.2.3 Phát thanh, truyền thanh cơ sở góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần
2.3.4 Hạn chế của phương thức truyền thanh bằng mạng lưới loa công cộng 51 2.4 Nguyên nhân những hạn chế của phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các
2.4.3 Chú trọng tuyên truyền, chưa thực sự hiểu thính giả và chú trọng đáp ứng nhu
Trang 4CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN PHÁT THANH, TRUYỀN THANH CƠ SỞ Ở ĐỒNG BẰNG
3.1 Xu thế phát triển của báo chí và những vấn đề đặt ra đối với truyền thanh
3.1.1 Tốc độ thông tin tạo lợi thế hàng đầu trong quá trình cạnh tranh giữa các loại
3.1.2 Xu hướng đối tượng hóa của truyền thông đại chúng 62
3.1.3 Xu hướng tích hợp các loại hình truyền thông và tích hợp công nghệ 63 3.2 Một số khuyến nghị nhằm phát triển phát thanh cơ sở ở các tỉnh miền
3.2.1 Cần thống nhất nhận thức về vai trò của phát thanh cơ sở và yêu cầu tất yếu
3.2.2 Cần sự phối hợp hành động để nâng cao hiệu quả mạng lưới phát thanh, truyền
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính thời sự và lý do chọn đề tài
Từ năm 1956, một hệ thống phát thanh 4 cấp từ trung ương là Đài Tiếng nói Việt Nam đến các đài phát thanh cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và dưới đó là các đài trạm truyền thanh cấp huyện, cấp xã đã bắt đầu hình thành Số liệu công bố tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam tháng 8/2010 cho thấy, tính đến tháng 12/2009, cả nước có 600 đài cấp huyện, hàng nghìn trạm truyền thanh cấp xã
Dù cho đến nay chưa có một văn bản chính thức nào ghi nhận sự tồn tại của mạng lưới phát thanh 4 cấp, nhưng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, các đài, trạm phát thanh, truyền thanh cơ sở vẫn tiếp tục tồn tại và phát huy tác dụng của mình trong công cuộc xây dựng và phát triển địa phương Đài, trạm phát thanh, truyền thanh cơ sở không chỉ đơn thuần là một phương tiện thông tin tuyên truyền mà còn là công cụ điều hành, chỉ đạo đắc lực của cấp ủy, chính quyền các cấp, là diễn đàn để phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân với Đảng và Nhà nước Mạng lưới này là một phần của tổng thể mạng lưới phát thanh, giúp Nhà nước thống nhất về mặt chính trị, văn hóa và các phương diện khác trên phạm vi cả nước
Thế nhưng, trong thực tế phát triển, mạng lưới phát thanh, truyền thanh
cơ sở dần dần bộc lộ những yếu kém, thiếu chuyên nghiệp về nhiều mặt, khiến hoạt động kém hiệu quả
Trong thời gian qua, giữa các loại hình báo chí diễn ra sự cạnh tranh mạnh mẽ Trong khi truyền hình trở nên ngày càng phổ cập, báo trực tuyến được giới trẻ ưa chuộng, thì báo in và báo phát thanh chật vật hơn Sự kém ưu thế của báo phát thanh trong cuộc cạnh tranh khiến nhiều ý kiến chuyên môn
Trang 6nhận định rằng, báo phát thanh ở Việt Nam đang gần như đi đến điểm cực âm trong sơ đồ phát triển
Hiện trạng phát thanh ảm đạm đòi hỏi cấp thiết những giải pháp phát triển loại hình báo chí này Đài tiếng nói Việt Nam tổ chức hệ phát thanh có hình, lập kênh riêng chuyên về giao thông Trên website của Đài quốc gia và một số đài phát thanh tỉnh (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Vĩnh Long…), thính giả có thể nghe trực tuyến cùng lúc với chương trình được phát sóng thực tế Phương thức làm phát thanh trực tiếp được ứng dụng ngày càng rộng rãi ở nhiều đài
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, các đài cấp huyện phần lớn chỉ hoạt động đều đều, không ít đài chỉ duy trì công tác làm truyền thanh cầm chừng, ít vận động phát triển
Thực tế đó cho thấy cần có một khảo sát đầy đủ để nhìn nhận thực trạng mạng lưới phát thanh, truyền thanh ở cơ sở, từ đó đề xuất những khuyến nghị, giải pháp để phát triển và hoàn thiện mạng lưới phù hợp xu thế phát triển báo chí, góp phần vào sự phát triển chung của báo phát thanh Người nghiên cứu chọn địa bàn Tây Nam Bộ, nơi mà Tổng giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam Vũ Văn Hiền nhận xét “sự bắt gặp giữa đặc tính vùng miền và nhu cầu thông tin bằng loại hình báo chí phát thanh gần gũi hơn tất cả mọi vùng khác trên cả nước” để khảo sát thực hiện đề tài: “Phát thanh, truyền thanh cơ
sở ở miền Tây Nam Bộ - Thực trạng và giải pháp phát triển”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu “Phát thanh, truyền thanh cơ sở ở miền Tây Nam Bộ
- Thực trạng và giải pháp phát triển” nhắm đến mục tiêu khái quát được hiện trạng của mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở Tây Nam Bộ và đưa ra những giải pháp khả thi khắc phục những yếu kém hiện tại và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới Do đó, đề tài nghiên cứu là để phát triển, hoàn
Trang 7thiện mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở trên địa bàn nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương
Đề tài có nhiệm vụ tổng hợp thông tin về hiện trạng của mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở miền Tây Nam Bộ với những thành tựu, những tồn tại để đưa ra cái nhìn khái quát về mạng lưới truyền thanh cơ sở trong khu vực Những nguyên nhân gây hạn chế trong hoạt động của các đài, trạm sẽ được phân tích để từ đó đề xuất những giải pháp khả thi nâng cấp và hoàn thiện mạng lưới này
3 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có một số khóa luận tốt nghiệp đại học và sau đại học nghiên cứu về phát thanh, như tìm hiểu về những chương trình phát thanh cụ thể, những đài phát thanh cụ thể Nhưng cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu về mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở
Tại Đài Tiếng nói Việt Nam, năm 2004, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ phát thanh trực thuộc Đài đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ phát thanh trực tiếp vào hệ thống phát thanh truyền thanh
cơ sở’’ Mục tiêu của đề tài là nhằm chuyển giao công nghệ phát thanh trực tiếp cho hệ thống phát thanh truyền thanh cấp cơ sở ở Việt Nam để phát huy hiệu quả của công tác tuyên truyền, điều hành, chỉ đạo của cấp ủy chính quyền các cấp cơ sở ở Việt Nam Để thực hiện được mục tiêu đề ra, đề tài đề cập những vấn đề:
- Hiện trạng hoạt động của của các đài phát thanh truyền thanh cơ sở trong phạm vi cả nước tại thời điểm thực hiện đề tài
- Xây dựng các chỉ tiêu kỹ thuật cho studio cấp huyện, cẩm nang đào tạo
về phát thanh trực tiếp cho cấp cơ sở, mô hình về trang bị kỹ thuật phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng miền để thực hiện phát thanh trực tiếp
Trang 8- Các đề xuất kiến nghị nhằm ứng dụng phát thanh trực tiếp cho các đài
cơ sở
Hoạt động nghiên cứu này nằm trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ phát thanh địa phương Việt Nam” do tổ chức SIDA (Swedish International Development Cooperation Agency - Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển) tài trợ Dự án được thực hiện qua 3 giai đoạn: thử nghiệm (1993-1995), giai đoạn 1 (1997-1999), giai đoạn 2 (2000-2003), tổng cộng trong gần
10 năm để chuyển giao phương thức phát thanh hiện đại này đến 30 trong số
61 đài tỉnh, thành phố của Việt Nam
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam cũng đã biên soạn sách “Hướng dẫn nghiệp vụ phát thanh, truyền thanh địa phương nông thôn” Sách này đề cập những kiến thức tổng quát về phát thanh, truyền thanh địa phương nông thôn, hướng dẫn một số nghiệp vụ
về thực hiện chương trình cũng như tổ chức, quản lý phát thanh, truyền thanh địa phương nông thôn
Ở các tỉnh, trong đó có các tỉnh miền Tây Nam Bộ, nhiều tỉnh cũng thực hiện những nghiên cứu, đề án về xây dựng và phát triển mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở Ví dụ, đầu năm 2009, Sở Thông tin và Truyền thông An Giang đã xây dựng “Đề án phát triển hệ thống đài truyền thanh cơ
sở đến năm 2010 và một số định hướng đến năm 2015” Những nghiên cứu dạng này chỉ khoanh vùng trong phạm vi một tỉnh
Như vậy, chưa có đề tài nào đi sâu khảo sát, nghiên cứu về mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng mạng lưới đài phát thanh, truyền thanh cấp cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, dựa trên kết quả khảo sát lấy mẫu ở hai tỉnh Vĩnh Long, An Giang và những khuyến nghị nhằm phát triển, hoàn
Trang 9thiện mạng lưới này
Luận văn chú trọng khảo sát hiện trạng phát thanh, truyền thanh cơ sở ở Tây Nam Bộ tại thời điểm thực hiện đề tài Tuy nhiên, để có cái nhìn tổng quát, xuyên suốt, người nghiên cứu đã tìm hiểu thêm về sự vận động của mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở tại địa bàn trong thời gian trước đó
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận báo chí truyền thông, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sự nghiệp thông tin - báo chí, các tài liệu, giáo trình, sách tham khảo, báo và tạp chí trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát – miêu tả – tổng hợp
- Phương pháp điều tra xã hội học với phỏng vấn sâu, khảo sát với bảng hỏi điều tra thính giả
Người thực hiện luận văn thực hiện thu thập thông tin bằng bảng hỏi đối với 200 thính giả của các đài phát thanh, truyền thanh cơ sở được lựa chọn ngẫu nhiên ở những khu vực chọn lọc Để ghi nhận kết quả chính xác, trung thực, nhanh chóng thu được tất cả số phiếu phát ra, tác giả đã áp dụng hình thức hỏi trực tiếp những đối tượng chọn khảo sát và đánh dấu vào bảng hỏi Hình thức này rất hiệu quả khi áp dụng tại địa bàn nông thôn, nhiều người dân không quen với việc điền các bảng biểu Thông tin sau khi thu thập được xử
lý toán học đối với các thông tin định lượng, xử lý logic đối với thông tin định tính
Người thực hiện đề tài cũng đã thực hiện nhiều phỏng vấn sâu với những giám đốc đài phát thanh truyền hình tỉnh, trưởng đài truyền thanh huyện, cán bộ làm truyền thanh cơ sở, chuyên viên của Sở thông tin và truyền thông tỉnh… để thu thập thông tin, số liệu phục vụ việc phân tích, đánh giá
Trang 10Các phỏng vấn sâu này được đính kèm trong phần phụ lục luận văn
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Người nghiên cứu đã hình thành khung lý thuyết về mạng lưới truyền thanh
cơ sở, khái quát về thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển mạng lưới ở một khu vực phù hợp với lý luận báo chí truyền thông
Thực trạng mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở Tây Nam Bộ và những khuyến nghị để phát triển mạng lưới mà đề tài tổng kết sẽ hữu ích cho các đài, trạm phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ và những cơ quan liên quan trong việc nâng cấp, hoàn thiện mạng lưới Kết quả nghiên cứu của
đề tài cũng có thể ứng dụng cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý trong việc hoạch định chính sách hoàn thiện, phát triển mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở phục vụ nhiệm vụ chính trị
7 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Phát thanh cơ sở - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương này chứa đựng hệ thống kiến thức lý luận và thực tiễn để làm
cơ sở xem xét mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở dưới góc độ một phương tiện truyền thông đại chúng với những đặc trưng riêng phù hợp với địa bàn nông thôn ở Tây Nam Bộ
Sau khi giới thiệu các khái niệm phát thanh và đài phát thanh, truyền thanh và đài truyền thanh, chương 1 sẽ phác thảo mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở nói chung với những mắt lưới từ các cấp huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn đến tận các xã, ấp Phần tiếp theo của chương sẽ trình bày về những điều kiện kinh tế - xã hội, về văn hóa, trình độ và thói quen tiếp nhận thông tin của cư dân, từ đó đi sâu phân tích những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của phát thanh, truyền thanh cơ sở ở địa phương
Trang 11Chương 2: Thực trạng mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ
Với kết quả khảo sát lấy mẫu ở hai tỉnh Vĩnh Long và An Giang, kết hợp với những thông tin thu thập được về hoạt động phát thanh, truyền thanh
cơ sở ở các địa phương khác ở Tây Nam Bộ, chương 2 mô tả khái quát hiện trạng mạng lưới ở đồng bằng sông Cửu Long, tổng kết những đóng góp quan trọng về nhiều mặt (chính trị, kinh tế, văn hóa….) của mạng lưới tại địa phương Những hạn chế chủ yếu của phát thanh, truyền thanh cơ sở sẽ được nêu ra cùng các phân tích những nguyên nhân gây hạn chế
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và những khuyến nghị phát triển phát thanh, truyền thanh cơ sở ở đồng bằng sông Cửu Long
Từ bức tranh thực trạng phát thanh, truyền thanh cơ sở đã mô tả ở chương 2, theo xu thế phát triển của báo chí và những vấn đề đặt ra đối với truyền thanh cơ sở, chương này sẽ đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát triển phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ Các khuyến nghị kêu gọi sự thống nhất trong nhận thức, sự phối hợp đồng bộ các ban ngành liên quan để thực hiện những giải pháp phát triển phát thanh cơ sở từ xây dựng nguồn nhân lực, cải tiến nội dung và phương thức thực hiện chương trình đến chọn lựa giải pháp công nghệ phù hợp
Trang 12CHƯƠNG 1:
PHÁT THANH CƠ SỞ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Phát thanh và đài phát thanh
Theo giáo trình “Báo phát thanh” của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, khái niệm báo phát thanh được dùng từ việc mở rộng và phát triển khái niệm báo chí
Khái niệm báo chí khởi nguyên được dùng để chỉ kênh truyền thông đại chúng chuyển tải, phát tán thông điệp định kỳ bằng kỹ thuật in ấn trên vật liệu giấy và mực với ký hiệu ngôn tự Ngày nay, khái niệm báo chí được dùng để chỉ các kênh truyền thông đại chúng chuyên phản ánh các sự kiện và vấn đề thời sự được xuất bản định kỳ Do đó, báo chí nói chung bao gồm báo in, báo phát thanh, báo truyền hình và báo trực tuyến
“Báo phát thanh được hiểu như một kênh truyền thông, một loại hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng thế giới âm thanh phong phú và sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để chuyển tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, tác động vào thính giác của công chúng” [12, tr.51]
TS Phạm Thành Hưng trong cuốn “Thuật ngữ báo chí truyền thông” cũng đã định nghĩa phát thanh như sau:
“Phát thanh là một phương tiện truyền thông đại chúng dựa trên nguyên tắc kỹ thuật truyền âm thanh để chuyển tải các chương trình tin tức, tri thức, nghệ thuật tới đông đảo công chúng thính giả cũng như cho các nhóm thính giả đặc thù” [16, tr.132]
Trang 13Qua lịch sử tồn tại hơn một thế kỷ, phát thanh đã xác lập vị trí là một loại hình báo chí độc lập với những thế mạnh riêng - nhanh, rẻ, gần gũi và dễ tiếp nhận đối với mọi đối tượng, mọi lứa tuổi, mọi vùng miền Sự sinh động của lời nói, âm nhạc, tiếng động truyền qua làn sóng điện đã từng được thính giả đón nhận một cách nồng nhiệt, giúp phát thanh trải qua một thời hoàng kim khá dài ở vị trí loại hình truyền thông đại chúng hiệu quả nhất trước khi đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ của các loại hình xuất hiện sau
Hiện nay, khi các nguồn thông tin trở nên đa dạng hơn bao giờ hết, giữa các phương tiện thông tin đại chúng cũng xuất hiện sự cạnh tranh mạnh
mẽ Ở Việt Nam, trong khi truyền hình phủ sóng rộng khắp và được nhà nhà yêu thích, báo trực tuyến chiếm cảm tình của giới trẻ, báo in vẫn giữ được một lượng độc giả trung thành, thì phát thanh lâu nay đang mất dần vị thế của mình trong đời sống truyền thông Thói quen nghe phát thanh đang dần mất đi ngay trong “thị phần” truyền thống của phát thanh Việt Nam là người dân nông thôn
Trong xu thế cạnh tranh mạnh mẽ giữa các loại hình báo chí với nhau, loại hình nào cũng phải tìm lối đi riêng để hướng đến giới độc giả mục tiêu của mình Thực tế trên khiến việc xác định hướng đi của phát thanh có phần khó khăn hơn những loại hình khác Bên cạnh việc duy trì, phát huy những ưu thế vốn có như tính tiện lợi, kỹ thuật đơn giản, thiết bị gọn nhẹ và phương thức tiếp nhận thông tin linh hoạt, phát thanh đồng thời phải luôn tự điều chỉnh để hạn chế những nhược điểm nhằm thích ứng với bối cảnh của đời sống báo chí truyền thông hiện đại Những bước tiến trong lĩnh vực kỹ thuật công nghệ, đặc biệt là những tiến bộ về công nghệ thông tin đã tạo điều kiện
kỹ thuật cho sự phát triển của phát thanh
Trong hệ thống báo chí nước ta hiện nay, phát thanh cùng với truyền hình là hai loại hình báo chí quan trọng và được đầu tư nhiều nhất Phát thanh
Trang 14là phương tiện thông tin đại chúng thuận tiện, gần dân nhất, với mạng lưới phủ khắp quốc gia, vươn tới tận từng xóm làng, thôn bản
Các cơ quan hoạt động báo chí phát thanh được gọi là các đài phát thanh (radio station)
1.1.2 Truyền thanh và đài truyền thanh
Động từ truyền thanh được từ điển tiếng Việt định nghĩa là truyền âm thanh đi xa bằng sóng điện từ hoặc bằng đường dây (loa truyền thanh, đài truyền thanh)
Tài liệu chuyên môn “Nghề phát thanh” (Making radio) của Michael Kaye và Andrew Popperwell giải thích quá trình từ miệng nói của phát thanh viên đến tai nghe của thính giả như sau:
- Dây thanh đới của người nói rung lên để tạo ra sóng âm thanh trong không khí, sóng này lan truyền ra mọi hướng
- Lúc đó, micro biến đổi các sóng âm thanh đó thành dòng điện chạy vào dây dẫn đến…
- Bàn trộn, tại đó các âm thanh khác (từ micro khác, từ các đĩa hay băng ghi âm) cũng được truyền đến Từ bàn trộn này các âm thanh chạy theo các dây dẫn đến…
- Máy phát, là nơi biến đổi các tín hiệu dưới dạng dòng điện thành sóng radio và thoát ra ngoài qua một hệ thống trên không trung là ăng ten Máy phát có thể là loại sóng dài, sóng trung hay sóng ngắn (AM) hoặc sóng tần số rất cao (VHF, thường được biết đến là FM - điều chế tần số)
- Các sóng này thường truyền đi mọi hướng, và tới những khoảng cách khác nhau tùy thuộc vào công suất và vị trí đặt máy phát, cũng như tần số phát sóng và địa hình nơi phát sóng
Trang 15- Tiếp đó, ăng ten của máy thu thanh sẽ thu các sóng radio được phát ra
và các thiết bị điện tử trong máy thu sẽ biến đổi sóng đó thành tín hiệu âm thanh Loa và tai nghe lại chuyển các tín hiệu này thành sóng âm thanh
- Sóng này có thể nghe được và phân tích bởi tai và trí não của người nghe [33, tr.12]
Như vậy, sóng âm thanh không trực tiếp truyền đến tai người nghe mà phải được biến đổi thành bức xạ để có thể truyền đi trong không gian
Quá trình phát sóng phát thanh được bách khoa toàn thư mở Wikipedia
mô tả là quá trình truyền phát âm thanh dùng sóng cao tần (một dạng bức xạ điện từ) phát qua không khí, từ một máy phát tới một anten thu Các đài (trạm) phát thanh có thể được kết nối trong một mạng lưới phát thanh để phát các chương trình chung, bằng cách hoặc là tập trung chương trình về một đài
để phát, hoặc là các đài đồng thời phát và tiếp phát lại một chương trình, hoặc bằng cả hai hình thức trên Phát sóng phát thanh cũng có thể được thực hiện thông qua điều chế tần số FM trên đường truyền cáp, qua mạng đường dây truyền thanh cục bộ, qua vệ tinh và qua đường truyền internet.1
Do những giới hạn về công suất phát sóng của máy phát, tần số phát sóng và địa hình, sóng phát thanh luôn bị giới hạn trong một phạm vi phủ sóng nhất định Ở Việt Nam, để tiếp phát chương trình của đài quốc gia, đài tỉnh đến từng đơn vị hành chính nhỏ hơn, ở các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã hình thành mạng lưới những đài đóng vai trò chủ yếu là truyền thanh - tiếp sóng các đài phát thanh quốc gia hay tỉnh và phát lại cho cả vùng, được
1
Nguyên văn: Radio broadcasting is an audio (sound) broadcasting service, broadcast
through the air as radio waves (a form of electromagnetic radiation) from a transmitter to a receiving antenna Stations can be linked in radio networks to broadcast common programming, either in syndication or simulcast or both Audio broadcasting also can be done via cable FM, local wire networks, satellite and the Internet (http://en.wikipedia.org/wiki/Radio)
Trang 16gọi là đài truyền thanh hay trạm truyền thanh Các đài truyền thanh thuộc huyện, thị, thành phố (thuộc tỉnh) cũng sản xuất chương trình riêng nhưng chỉ
có thời lượng rất ngắn
Trước đây, các đài truyền thanh sử dụng mạng đường dây truyền thanh cục bộ Hiện nay, các đài thường sử dụng các máy phát công suất thấp với bán kính phủ sóng vài ki lô mét, các trạm thu phát FM trong khu dân cư sẽ thu tín hiệu và phát trên hệ thống loa công cộng
1.1.3 Phát thanh, truyền thanh cơ sở
Từ “cơ sở” được giải thích trong Từ điển tiếng Việt có khá nhiều nghĩa, trong đó có một nghĩa là “đơn vị ở cấp dưới cùng”
Trong phạm vi đề tài này, khái niệm phát thanh – truyền thanh cơ sở được dùng để chỉ chung cho mạng lưới đài, trạm truyền thanh từ cấp huyện trở xuống Trong đó, mỗi đài truyền thanh huyện là một mắt xích trong mạng lưới truyền thanh để đồng thời phát (chương trình của đài huyện nhà) và tiếp phát lại chương trình của những đài khác (chương trình Đài Tiếng nói Việt Nam, chương trình đài tỉnh nhà) Trong mỗi huyện lại có các trạm truyền thanh cấp xã chỉ thuần túy tiếp âm, tức là tiếp phát lại chương trình được phát sóng từ đài huyện, bao gồm chương trình truyền thanh huyện, tỉnh và quốc gia như đã liệt kê ở trên
Đó chính là những mắt lưới trong mạng lưới phát thanh, truyền thanh
cơ sở sẽ được phân tích ở mục tiếp theo
1.2 Mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở
Ở mỗi tỉnh, sự phân bố rộng khắp các đài truyền thanh cấp huyện và các trạm truyền thanh xã tạo thành một mạng lưới truyền thanh cơ sở Cả nước có 612 đài phát thanh, truyền thanh cấp huyện, trong đó có khoảng 288 đài phát sóng FM và 7916 đài truyền thanh cấp xã [55, tr.12]
Trang 17Quá trình hình thành và phát triển của mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở tùy theo tình hình thực tế của mỗi địa phương Có nơi chú trọng đầu tư xây dựng, phát triển có định hướng; nơi lại tự phát, manh mún
Phát thanh, truyền thanh cơ sở do vậy chỉ là một mạng lưới tuy rộng nhưng không đồng đều, vẫn còn có nhiều vùng lõm Cách tổ chức, quản lý mạng lưới này từng lúc, từng vùng cũng chưa thật sự thống nhất, chưa phải một hệ thống hoàn chỉnh với cấu trúc chặt chẽ
Mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở tỏa xuống từng thôn xóm, từng cụm dân cư, gồm có hai cấp:
1.2.1 Đài phát thanh, truyền thanh cấp huyện
Đài truyền thanh huyện, thành phố, thị xã là tiếng nói, là công cụ, phương tiện thông tin tuyên truyền của cấp ủy và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đến với nhân dân; và là kênh giao tiếp của công chúng địa phương với các cấp chính quyền cơ sở
Hiện nay, theo số liệu thống kê đơn vị hành chính có đến 31/12/2009 phân theo địa phương của Tổng cục Thống kê, nước ta có:
Theo tài liệu của Đài Tiếng nói Việt Nam “Ứng dụng phương thức phát thanh trực tiếp vào hoạt động phát thanh cơ sở ở Việt Nam”, nhiệm vụ trọng tâm của các đài huyện là:
Trang 18- Sản xuất và phát sóng hàng ngày các chương trình, bản tin, chuyên mục phản ánh các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của địa phương
- Tiếp âm bản tin thời sự của đài tỉnh và Đài Tiếng nói Việt Nam
- Phục vụ nhu cầu thông tin của địa phương từ thông tin về các văn bản, quy định, chỉ thị, thông báo đến định hướng, chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, dịch vụ của địa phương, giải đáp thắc mắc của cư dân địa phương
- Cộng tác tin bài cho đài phát thanh truyền hình tỉnh nhà
- Rao vặt, quảng cáo – rất ít thực hiện
- Ngoài ra, còn làm nhiệm vụ hỗ trợ các đài, trạm truyền thanh xã, phường, khóm, ấp trên địa bàn [42, tr.11]
Hệ thống đài huyện trong những năm qua được xây dựng và duy trì hoạt động từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau, từ ngân sách địa phương, chương trình mục tiêu của chính phủ, phần hỗ trợ của các dự án phát triển phát thanh Ở nhiều nơi còn có phần nhân dân tự đóng góp
Nhìn chung, nguồn ngân sách cho các đài huyện đều thấp hơn nhiều so với nhu cầu thực tế nên hoạt động nghiệp vụ rất khó khăn Không những vậy, các đài cấp huyện chưa được công nhận là một cơ quan báo chí2
nên ngoại trừ một số trưởng, phó đài, các phóng viên, biên tập viên được ngành dọc quản lý vẫn chưa được cấp thẻ nhà báo để có điều kiện thuận lợi hơn trong hoạt động
1.2.2 Đài truyền thanh cấp xã
Ở mỗi xã có lại có đài truyền thanh cấp xã Đài truyền thanh xã thực chất là mạng lưới những trạm truyền thanh nội bộ xã, là các điểm thu phát để tiếp âm chương trình phát thanh các đài phát thanh ba cấp phát trên hệ thống loa công cộng rải trong các khu dân cư
2
Thông tư liên tịch 06/1997/TTLT-BVHTT-TCBĐ giữa Bộ Văn hóa – Thông tin và Tổng cục bưu điện về việc hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước đối với các đài phát thanh, truyền hình ban hành năm 1997 xếp các đài phát thanh, truyền hình huyện, xã vào diện đối tượng “chưa được xếp loại cơ quan báo chí nhưng có hoạt động báo chí”
Trang 191.2.3 Vai trò của mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở
Mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở chuyển tải đến từng nhà tiếng nói các cấp từ trung ương đến địa phương Mỗi buổi tiếp âm, người dân đón nhận những tin bài chọn lọc phản ánh toàn diện tình hình thời sự quốc tế và trong nước (chương trình thời sự Đài Tiếng nói Việt Nam) – tỉnh nhà (chương trình thời sự đài phát thanh tỉnh) – huyện nhà (chương trình đài truyền thanh huyện) – xã nhà (những thông báo cần biết) Những chỉ đạo, những định hướng quan trọng của các cấp được thông tin xuyên suốt, rộng khắp đến từng
cư dân, chỉ duy nhất có mạng lưới truyền thanh cơ sở mới thực hiện được vai trò này
Những chương trình đài huyện sản xuất giới thiệu tin tức nổi bật trên địa bàn, chuyển tải chủ trương chính sách của địa phương, tâm tư nguyện vọng của bà con trên địa bàn Một số đài huyện tổ chức đối thoại trực tiếp giữa chính quyền và người dân, được nhiều thính giả quan tâm, hưởng ứng
Việc thực hiện hài hòa hai nhiệm vụ tiếng nói của chính quyền và diễn đàn của nhân dân địa phương khiến mạng lưới truyền thanh cơ sở trở thành nhịp cầu nối giữa chính quyền và bà con trên địa bàn Điều đó giúp truyền thanh cơ sở trở thành phương tiện hữu hiệu góp phần xây dựng dân chủ cơ sở
1.3 Phát thanh, truyền thanh cơ sở ở miền Tây Nam Bộ
1.3.1 Điều kiện kinh tế - xã hội ở miền Tây Nam Bộ
Do đặc điểm cấu tạo tự nhiên, Nam Bộ chia làm hai khu vực lớn:
- Khu vực thứ nhất là miền Đông Nam Bộ, là vùng phù sa cổ đệm giữa cao nguyên đất đỏ và châu thổ sông Cửu Long, rộng khoảng 26.000 km2, gồm các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh Địa hình nơi đây gồm những dải đất đỏ và xám xen kẽ giữa những ngọn núi
Trang 20thưa thớt, những triền đồi lượn sóng nhấp nhô, riêng phía Bắc tiếp giáp với cao nguyên – rừng rậm
Trong lịch sử khẩn hoang Nam Bộ, khu vực này là nơi dừng chân đầu tiên của nhiều đoàn lưu dân từ miền ngoài vào, trước khi di chuyển xa hơn về phía Nam
- Khu vực thứ hai thuộc châu thổ sông Cửu Long, diện tích 39.734km²,
có tên gọi quen thuộc là miền Tây Nam Bộ Đây là vùng bình nguyên bát ngát được tưới tắm bởi một hệ thống kênh rạch dày đặc mà khắp đất nước không nơi nào có thể bì được Nhìn chung, vùng này được khai phá muộn hơn
Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở khu vực đệm giữa hai miền
Bản đồ các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trang 21Phân theo đơn vị hành chính, miền Tây Nam Bộ gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc trung ƣơng:
thuộc tỉnh
Quận Thị xã Huyện Phường Thị
Bảng 1.1: Số đơn vị hành chính của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
(Số liệu của Tổng cục thống kê đến 31/12/2009)
Là tận cùng phía Đông Nam của lục địa châu Á, Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông Vùng này có vị trí nằm liền
kề với vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông Vùng đồng bằng sông Cửu Long của
Trang 22Việt Nam được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển
Đồng bằng sông Cửu Long cũng có một hệ thống sông như đồng bằng sông Hồng, nhưng sông rạch ở đây rất chằng chịt, gồm 2500 km sông rạch tự nhiên và 2500 km sông rạch đào Biển ở đồng bằng sông Cửu Long không chỉ tiếp giáp với đất liền ở phần đáy châu thổ như đồng bằng sông Hồng, mà bao quanh ba mặt Đông, Nam, Tây Nam với một chiều dài đến 600km Địa hình thể hiện rõ nét tính chất bán đảo của Việt Nam
Đây là vùng có khí hậu cận xích đạo, mưa nhiều, nắng nóng nên thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp, đặc biệt là phát triển trồng lúa nước và cây lương thực Lúa trồng nhiều nhất ở các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang Diện tích và sản lượng thu hoạch chiếm hơn 50% so với cả nước Bình quân lương thực đầu người gấp 3 lần so với lương thực trung bình cả nước Nhờ vậy nên Đồng bằng sông Cửu Long là nơi xuất khẩu gạo chủ lực của cả nước Nghề chăn nuôi cũng khá phát triển
Do có bờ biển dài và có sông Mê kông chia thành nhiều nhánh sông, khí hậu thuận lợi cho sinh vật dưới nước, kênh rạch chằng chịt, nhiều sông ngòi, lũ đem lại nguồn thủy sản và thức ăn cho cá, có nhiều nước ngọt và nước lợ nên vùng này thích hợp cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy sản
Các “miệt”, các tiểu vùng thiên nhiên với những đặc trưng địa lý thổ nhưỡng khác nhau quy định các loại hình và tính chất của những hoạt động sản xuất khác nhau: nghề ruộng, nghề sông, nghề biển Các dạng hoạt động sản xuất này quy định các dạng quần cư khác nhau, có cấu trúc phân bố không đều: mật độ dày đặc ở những vùng đất cũ là nơi tụ hội của các giao lộ đường sông và đường bộ (vùng giữa và ven sông Tiền, sông Hậu), mật độ
Trang 23phân tán ở những vùng mà lũ sông và triền biển vẫn còn giữ vai trò chi phối
hệ sinh thái (các vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, tây sông Hậu)
Công nghiệp vùng phát triển rất thấp, chỉ chiếm khoảng 20% GDP cả nước (2002)
Vùng đồng bằng rộng lớn, bằng phẳng, không vướng tầm mắt đến tận chân trời này đã trải qua 300 năm khẩn hoang của người Việt Từ thế kỷ thứ
17, người dân Việt với kinh nghiệm trồng lúa nước bắt đầu sự nghiệp khẩn hoang vùng đồng bằng sông Cửu Long Cư dân biến vùng đất này thành một thiên nhiên được chuyển hóa về chất, trù phú hơn, phục vụ cho đời sống con người trong vùng và cả nước
Tuy nhiên, đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn nhiều hạn chế Nhiều vùng đất còn hoang hóa, chưa thực sự làm chủ tài nguyên nước Còn nhiều trở ngại từ những yếu tố xã hội như tốc độ tăng dân số còn cao, cơ sở hạ tầng yếu kém, đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng và năng lực sản xuất của vùng
Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 17.178.871 người Thu nhập bình quân đầu người khá thấp, theo số liệu thống kê năm 2008 của Tổng cục thống kê chỉ có 940.000 đồng/người/tháng, thấp hơn bình quân đầu người trên phạm vi cả nước trong cùng năm (995.000 đồng/người/tháng)
Không giống với các miền khác, ở Nam Bộ các dân tộc ít người cùng sống chung, xen kẽ với người Việt trên đất đồng bằng: người Khmer, người Chăm, người Hoa, mỗi dân tộc một sắc thái văn hóa riêng cống hiến vào sự phong phú về văn hóa chung của đồng bằng sông Cửu Long
Trong ngôn ngữ miền Nam, phương ngữ Nam Bộ có nét đặc thù Cư dân vùng này có những đặc trưng nổi bật: vì nghĩa, mến nghĩa, trọng nghĩa khinh tài (theo Trịnh Hoài Đức); cởi mở, bộc trực, chân chất, dễ tin người, hào hiệp và mến khách, năng động và “dám làm ăn lớn” (theo Lê Quý Đôn)
Trang 24Tính cách con người và văn hóa vùng đất Nam Bộ được hình thành trong sự tác động qua lại giữa thiên nhiên, xã hội, con người trên nền tảng tính cách dân tộc Việt Nam, trong một khung cảnh lịch sử đòi hỏi con người phải vượt qua được thách thức của tự nhiên cũng như của chế độ phong kiến ngày trước
1.3.2 Văn hóa, trình độ và thói quen tiếp cận thông tin của cư dân miền Tây Nam Bộ
Hiện nay, tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ có nhiều dự án xây dựng những điểm sinh hoạt văn hóa, giải trí như khu vui chơi Núi Cấm (An Giang), trung tâm văn hóa Tây Đô (Cần Thơ) Nhiều dự án nghiên cứu, bảo tồn văn hóa vật thể, phi vật thể như nhạc lễ, múa dù kê, chợ nổi… được triển khai
Tuy nhiên, nhìn chung các hoạt động vui chơi, giải trí vẫn còn rất nghèo nàn, thiếu các tụ điểm sinh hoạt sôi nổi Các khu du lịch sinh thái miệt vườn nhàm chán, thiếu cái mới Hầu hết nhà văn hóa, công viên không thu hút được thanh thiếu niên vì hoạt động đơn điệu, không có diện tích lẫn nhân lực
để tổ chức sân chơi, mặt bằng đắc địa lại được đem cho thuê Thiếu sân chơi, nhiều thanh niên sa đà vào nhậu nhẹt
Ở vùng sâu vùng xa nơi giao thông chưa thuận tiện, người dân ít tiếp cận được với sách báo Mạng internet chỉ tập trung ở đô thị, cấp xã và vùng nông thôn tỷ lệ rất thấp
Mức sống và trình độ dân trí thấp của người dân cũng là trở ngại lớn cho việc tiếp cận, hưởng thụ văn hóa
Các hoạt động văn hóa mới đang bị khủng hoảng, các hoạt động văn hóa cổ truyền còn đậm tính tự phát, truyền thông đại chúng trở thành yếu tố chủ đạo trong những thành tố cấu thành đời sống văn hóa ở nông thôn Thực
tế, người dân đa phần hưởng thụ văn hóa trong khuôn viên gia đình, chủ yếu qua sóng truyền hình, phát thanh Đây chính là một đặc điểm quan trọng trong hưởng thụ văn hóa của người miền Tây Nam Bộ
Trang 25Vai trò và tác động của truyền thông đại chúng, đặc biệt là của báo truyền hình thể hiện ở các điểm:
- Làm thay đổi cơ cấu hoạt động rỗi của người dân nông thôn Nếu trước đây người dân lúc rảnh rỗi thường làm vườn hay sang chơi nhà hàng xóm cùng trà rượu chuyện trò thì hiện nay họ chủ yếu coi tivi, nghe đài ngay tại nhà mình
- Truyền thông đại chúng có tác động tích cực trong việc nâng cao dân trí ở nông thôn Đó là sự nâng cao nhận thức toàn diện cho mọi tầng lớp nhân dân ở nông thôn Thông qua những hình ảnh, ngôn từ sinh động, cụ thể và lặp
đi lặp lại của các thông tin từ hệ thống truyền thông đại chúng, người dân tích lũy kiến thức về các lĩnh vực họ quan tâm, đặc biệt là nông nghiệp, kinh tế, môi trường…
Kết quả khảo sát tại 26 xã đại diện 13 tỉnh thành trong khu vực do Viện Nghiên cứu phát triển đồng bằng sông Cửu Long thuộc Trường Đại học Cần Thơ tiến hành năm 2007 cho thấy, trong 17 hình thức và phương tiện truyền tải thông tin thì người dân nhận thông tin nhiều nhất là qua ti vi, qua người dân khác, loa phóng thanh địa phương, nghe phát thanh qua radio và các lớp tập huấn nông nghiệp Báo in chỉ đứng thứ 6, internet xếp thứ 13
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, người dân có nhu cầu tiếp nhận thông tin về kỹ thuật canh tác, giá cả nông sản, vệ sinh an toàn thực phẩm, thông tin văn hóa - xã hội…
Trong lời ăn tiếng nói, người Nam Bộ thích diễn đạt cụ thể, với đường nét rõ ràng, hình ảnh sinh động, thẳng tuột, không quanh co úp mở Nét văn hóa này là một điều kiện thuận lợi cho việc truyền thông qua làn sóng phát thanh, phù hợp với lối diễn đạt theo phong cách báo chí
Trang 261.3.3 Những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của phát thanh, truyền thanh cơ sở ở đồng bằng sông Cửu Long
Là vùng nông thôn, nhưng miền Tây Nam Bộ sớm tiếp cận, hòa nhập với lối sống hiện đại Vì vậy, từ lâu, ở những vùng ven đô thị và dọc quốc lộ, tỉnh lộ, đời sống đô thị đã thực sự hình thành Ở những vùng này, mức bình quân hưởng thụ văn hóa khá cao so với các xã xa lộ, xa thị trấn Những nhu cầu của một nền văn hóa mới và hiện đại như phát thanh, truyền hình, điện ảnh, ca nhạc… phát triển nhanh
Theo thống kê dân số năm 2009, Tây Nam Bộ chỉ có 3.930,8 nghìn cư dân sống ở thành thị, một con số quá khiêm tốn so với 13.282,6 nghìn người sống ở nông thôn Tính ra, tỉ lệ người sống ở nông thôn so với số người sống
ở thành thị nhiều hơn gấp 3,4 lần Đây chính là một trong những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của phát thanh nói chung và phát thanh cơ sở nói riêng Một thống kê về thính giả phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam cho thấy tỉ lệ nghe đài quốc gia trong nhóm những người ở nông thôn là 88%, so với tỉ lệ nghe đài hàng ngày ở các đô thị lớn là 43% ở Hà Nội, 42% ở Huế, 38% ở Tp Hồ Chí Minh [44, tr.120]
Năm 2009, mật độ dân số ở Tây Nam Bộ là 425 người/km2
(bình quân
cả nước 260 người/km2
) Dân số tập trung là một điều kiện thuận lợi cho việc phát sóng phát thanh, vốn hạn chế về vùng phủ sóng hay lắp đặt hệ thống loa công cộng
Một điều kiện quan trọng cho sự phát triển của phát thanh nói chung và mạng lưới phát thanh cơ sở nói riêng là tập quán sống cố định của cư dân nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Cuộc sống của họ gắn liền với ngôi nhà và công việc đồng áng, ít di chuyển, do vậy phương tiện báo chí phục vụ tận nơi như phát thanh cơ sở dễ dàng được hoan nghênh Họ có nhu cầu tiếp nhận từ tờ báo nói này những thông tin thiết thực, gần gũi cho đời
Trang 27sống Công việc đồng áng phải thức khuya dậy sớm làm việc chuyên cần, ít thời gian ngơi nghỉ, do vậy, phát thanh càng dễ được tiếp nhận vì nó không buộc con người phải sử dụng đến thời gian rảnh rỗi
1.3.4 Vấn đề đặt ra hiện nay
Là loại hình truyền thông ra đời sớm nhất, gắn với sự ra đời của nướcViệt Nam độc lập từ năm 1945, phát thanh Việt Nam đã gắn với từng bước thăng trầm của lịch sử dân tộc qua hơn 65 năm với rất nhiều biến động khốc liệt và hào hùng của lịch sử
Mạng lưới truyền thanh cơ sở chính là cánh tay vươn dài đến tận từng nhà dân để tiếp và phát sóng truyền thanh 4 cấp, góp phần làm mạnh thêm hệ thống phát thanh Việt Nam Ở thời điểm chỉ vài năm sau ngày thống nhất đất
nước, trong Thông tư 475-TTg ngày 28/09/1978 quy định về tổ chức ngành
phát thanh và truyền thanh ở cấp tỉnh và huyện đã có nhận định: “Mạng lưới phát thanh và truyền thanh đã hình thành xuống tận cơ sở và đang phát huy tác dụng tốt”
Tuy nhiên, sự phát triển của phát thanh nói chung và mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở nói riêng đang phải đối mặt với nhiều thách thức Cuộc cách mạng của công nghệ kỹ thuật số và sự bùng phát mạnh mẽ của mạng thông tin toàn cầu interrnet mang đến một môi trường truyền thông đa dạng, đa chiều, rộng lớn, phong phú với nhiều phương thức truyền tải và tiếp nhận thông tin hiệu quả, buộc người ta phải đặt ra những câu hỏi về sự tồn tại của các loại hình báo chí truyền thống như báo in, phát thanh và kể cả truyền hình Trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ trước và vào thập niên đầu tiên của thế kỷ này, phát thanh dần mất vị thế số một của mình Truyền hình lên ngôi, phát thanh trở thành một loại hình yếu thế, phát thanh ở các địa phương nghèo ngày càng trở nên teo tóp, mất dần thính giả
Trang 28Vậy, trong bối cảnh bùng nổ thông tin và các phương tiện truyền thông đại chúng như hiện nay, liệu mạng lưới đài phát thanh cơ sở còn có thể phát huy tác dụng nữa hay không?
Về phát thanh nói chung, bất chấp những dự đoán bi quan về tương lai của phát thanh trong thời đại kỹ thuật số, một số nhà nghiên cứu về báo chí phát thanh trên thế giới lại đưa ra những dự đoán sáng sủa Một trong những
cơ sở cho dự đoán của họ là, so với các báo khác trong cùng một điều kiện, thì thiết bị thu nhận thông tin phát thanh cực kỳ đơn giản, gọn nhẹ, mang lại
ưu thế nổi bật cho phát thanh Bên cạnh đó, cuộc sống càng bận rộn, con người càng ít thời gian rảnh rỗi - thời gian mà con người không sử dụng một cách trực tiếp cho các công việc và mục tiêu kiếm sống Đây chính là cơ hội của phát thanh, loại hình có thể được tiếp nhận mà không cần phải có thời gian rỗi Người ta có thể nghe làm việc trên đồng ruộng, lúc lái xe trên đường, khi làm bếp…
Vấn đề quan trọng là, bên cạnh việc nhận thức đúng, nắm vững thế mạnh và những hạn chế của việc thông tin bằng mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở, cần hiểu được nhu cầu đích thực của công chúng, để từ đó có phương thức tổ chức, quản lý tốt, giúp cho hệ thống này phát huy sức mạnh của nó, trở thành người bạn gần gũi của thính giả địa phương
Trang 29Tiểu kết chương 1
Để bảo đảm mỗi người dân đều nhận được đầy đủ những thông tin thiết yếu nhất qua phương tiện phát thanh, nước ta đã tổ chức một mạng lưới phát thanh, truyền thanh bốn cấp Cấp thứ nhất là đài quốc gia – Đài Tiếng nói Việt Nam Từ cấp thứ hai trở đi được tổ chức tại các tỉnh thành, trong đó, ngoài đài phát thanh (thường được tổ chức chung với truyền hình) tỉnh, thì mạng lưới các đài, trạm phát thanh, truyền thanh huyện, xã đóng vai trò chân rết lan tỏa xuống từng hộ gia đình, là chặng cuối cùng chuyên chở sóng phát thanh chuyển tải những thông tin thiết yếu đến từng người, từng nhà
Ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, trong điều kiện phần lớn diện tích trên địa bàn là nông thôn, hầu hết cư dân là người sống bằng nghề nông nghiệp, ít
có điều kiện tiếp xúc với báo viết, còn xa lạ với báo mạng điện tử, thì phát thanh cơ sở với sự tiện lợi và miễn phí giúp thỏa mãn nhu cầu thông tin của người dân Tổng giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam Vũ Văn Hiền nhận xét, ở miền Tây Nam Bộ, sự bắt gặp giữa đặc tính vùng miền và nhu cầu thông tin bằng loại hình báo chí phát thanh gần gũi hơn tất cả mọi vùng khác trên cả nước Đây chính là yếu tố quan trọng cho sự phát triển của phát thanh cơ sở ở miền Tây Nam Bộ
Trang 302 CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG MẠNG LƯỚI PHÁT THANH, TRUYỀN THANH CƠ SỞ Ở CÁC TỈNH MIỀN TÂY NAM BỘ
2.1 Mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam
cơ sở ở xã với cả hai phương thức truyền thanh có dây và không dây đã phủ sóng hầu khắp các địa phương, trừ một số vùng lõm như những vùng dân cư quá thưa thớt, những địa bàn ở các xã ven biển…
Xuất phát từ nhiệm vụ chính trị được giao, các đài truyền thanh huyện đều thực hiện việc sản xuất chương trình phát thanh hàng ngày, là những bản tin thời sự địa phương
Chương trình truyền thanh 3 cấp của đài huyện thường bao gồm:
- Chương trình thời sự đài huyện: có thời lượng 15-30 phút
- Tiếp âm chương trình thời sự đài tỉnh: 30 phút
- Tiếp âm chương trình thời sự đài tiếng nói Việt Nam
Nếu tính cả thời gian phát lại ít nhất 1 lần/ngày thì thời gian phát sóng của đài truyền thanh huyện vào khoảng 2-3 giờ/ngày, gồm cả tiếp âm các chương trình trung ương và chương trình đài tỉnh
Về mô hình tổ chức, phần lớn các đài huyện được chia thành các bộ phận như sau:
Trang 31- Bộ phận kỹ thuật
- Bộ phận biên tập
- Bộ phận hành chính (kiêm chức năng làm dịch vụ, nếu có)
Do nhân sự ít, thường dưới 10 người (những đài truyền thanh huyện có tiếp phát truyền hình và những đài truyền thanh của các thành phố trực thuộc tỉnh thì nhân sự nhiều hơn, có thể lên tới 20 người), nên bên cạnh những đài
có mô hình tổ chức rạch ròi và phân công chuyên biệt, ở nhiều đài huyện một người phải kiêm nhiệm nhiều việc trong số danh mục những công việc đài huyện phải thực hiện mỗi ngày: biên tập nội dung, làm phát thanh viên, cộng tác tin bài phát thanh về đài tỉnh, thực hiện tác phẩm truyền hình cộng tác với đài tỉnh, trực máy, sửa chữa thiết bị cho đài huyện và cho cả mạng truyền thanh cơ sở khi có yêu cầu, công việc hành chính…
Tên gọi của đài truyền thanh cấp huyện cũng không thống nhất, thường biến động trong cấu trúc:
Người phụ trách đài truyền thanh huyện được gọi là trưởng đài Về trình độ đội ngũ, do chưa có một quy định chung thống nhất nên tiêu chuẩn tuyển chọn và phân công nhân sự trong các đài truyền thanh tùy vào hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương Nhiều đài có cử nhân báo chí và kỹ sư chuyên ngành điện tử, nhưng với số lượng và cơ cấu tùy thuộc vào điều kiện
và sự quan tâm của từng địa phương Ở một số đài huyện trước đây từng trực thuộc đài tỉnh như ở Vĩnh Long, thì đội ngũ thường được đào tạo bài bản về
phát thanh phát thanh - truyền hình truyền thanh - truyền hình truyền thanh - phát lại truyền hình
huyện…
Trang 32nghiệp vụ chuyên môn Các đài trực thuộc huyện hoặc do phòng văn hóa thông tin huyện quản lý trực tiếp thì tỉ lệ cán bộ được đào tạo chính quy thấp
Số cán bộ làm việc tại các đài huyện đang có xu hướng trẻ hóa, trong
đó số tốt nghiệp đại học tăng nhanh chóng so với trước đây cán bộ hầu hết chỉ qua trường trung cấp hoặc thậm chí chưa qua đào tạo chuyên môn Về mặt đào tạo báo chí hay nghiệp vụ phát thanh, các khóa đào tạo của đài tỉnh, đài trung ương hay các dự án hợp tác quốc tế cũng được tổ chức nhưng không đồng đều ở các tỉnh và cũng không định kỳ Nhìn chung, đài nào cũng có một vài cán bộ có trình độ chuyên môn vững, thường xuyên cộng tác với báo đài trong và ngoài tỉnh Nhiều nơi đài tỉnh còn dành một thời lượng nhất định cho đài huyện phát chương trình riêng
Cùng với sự phát triển vượt bậc của ngành truyền hình, đáp ứng nhu cầu bức xúc xem truyền hình của bà con nhân dân ở các huyện, một số đài trạm truyền thanh ở những vùng xa, biên giới… có thêm nhiệm vụ tiếp sóng các chương trình truyền hình của trung ương và tỉnh Các đài huyện còn cộng tác tin, bài truyền hình cho đài tỉnh về hoạt động của địa phương Những tin bài này thường ở tình trạng còn thô, sẽ tiếp tục được biên tập viên, kỹ thuật viên của đài tỉnh gọt giũa về nội dung cũng như hình thức để đạt những tiêu chí của tác phẩm truyền hình trên đài tỉnh trước khi phát sóng
Hiện nay, hầu hết các đài huyện đã sử dụng công nghệ số trong các công đoạn, từ sản xuất chương trình phát thanh đến truyền dẫn, phát sóng So với kỹ thuật analog, kỹ thuật số có các ưu điểm rõ rệt như không méo tiếng, không xuyên âm, nhiều tín hiệu mạnh, ít khả năng hỏng, các bản sao bảo đảm chất lượng giống bản chính, chuyển tin hiệu từ nơi này đến nơi khác dễ hơn
và rẻ hơn, các phương pháp biên tập và pha âm mới… Thiết bị số cũng ngày càng rẻ hơn, hợp với mức kinh phí có thể đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật của đài cấp huyện
Trang 33Hàng năm, kinh phí hoạt động thường xuyên của đài huyện khá thấp Các đài phải tính toán kỹ về chi phí mới có thể đảm bảo thời lượng Chất lượng chương trình không còn là ưu tiên đầu tư, do đó trong thực tế cũng bộc
lộ nhiều hạn chế Nếu đài huyện lại phải lo cả phần kinh phí sửa chữa thiết bị cho hệ thống truyền thanh cơ sở thì càng eo hẹp
Về mạng lưới loa truyền thanh công cộng, do hệ thống loa có vùng nghe rõ khá hạn chế, nên mạng lưới loa công cộng được phân bố khá dày đặc trong các cụm dân cư để đảm bảo mọi người dân đều có cơ hội nghe phát thanh từ hệ thống chung này Ví dụ, với loại loa có công suất 25W, chỉ nghe
rõ trong phạm vi 200 m, do vậy các loa phải được bố trí cách nhau 500m Đối với loại loa thường được gọi với tên thông dụng là loa kèn có công suất 75W thì có thể truyền âm được xa hơn, trong vòng 1000 m
Chương trình phát thanh ba cấp của các đài, trạm truyền thanh thường vào ba buổi sáng - trưa - chiều hoặc sáng - chiều Đơn cử, chương trình truyền thanh hàng ngày của Đài truyền thanh huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long được phát vào 2 buổi:
- Buổi sáng:
5g – 5g30: chương trình đài huyện
5g30 – 6g: tiếp sóng thời sự đài tỉnh
6g-6g30: tiếp sóng thời sự Đài Tiếng nói Việt Nam
- Buổi chiều:
17g-17g30: tiếp sóng thời sự đài tỉnh
17g30-18g: chương trình đài huyện
18g-18g45: tiếp sóng thời sự Đài TNVN
Ở các xã, thỉnh thoảng vào những dịp có những thông báo mới của địa phương cần phổ biến đến bà con, nhân viên đài, trạm truyền thanh sẽ đọc trực tiếp lên sóng Nếu nội dung này cần được phát nhắc đi nhắc lại, đài xã có thể
Trang 34thu sẵn vào băng (tự thu hoặc nhờ đài huyện thu hộ) để phát lại Ở những đài
có người phụ trách trạm truyền thanh có nghiệp vụ làm báo phát thanh thì nội dung thông báo trước khi đọc lên sóng sẽ được biên tập cho ngắn gọn, dễ tiếp nhận theo hình thức của một tin phát thanh
2.1.2 Mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở Vĩnh Long
Hiện nay, toàn tỉnh Vĩnh Long có 8 đài truyền thanh huyện thị:
- Trưởng đài: phụ trách chung, biên tập và duyệt chương trình hàng ngày, viết những tin bài quan trọng, tham gia hội họp với lãnh đạo huyện, thị, các ban ngành
- Phó đài: phụ trách nội dung, biên tập hàng ngày hoặc kỹ thuật và quản
lý cộng tác viên, trực tiếp tham gia viết tin bài Thay trưởng đài điều hành công việc chuyên môn khi trưởng đài đi vắng
Trang 35
- Kỹ thuật tin học, kiêm phát thanh viên giọng nữ, kế toán và truyền dẫn, in thu chương trình hàng ngày
- Kỹ thuật điện tử, truyền dẫn phát sóng, sửa chữa và quản lý
sự nghiệp
- Phóng viên, kiêm phát thanh viên giọng nam
- Phóng viên quay và viết
- Phóng viên quay và viết
Đài thị xã thì gồm 10 lao động, với phân công công việc như đài huyện thị, nhưng số lượng phóng viên nhiều hơn
Lực lượng làm truyền thanh cơ sở cấp huyện được đào tạo nghiệp vụ chuyên môn khá tốt, hầu hết đều có bằng đại học hoặc đang theo học đại học, trong đó rất nhiều cán bộ, nhân viên có bằng đại học chuyên ngành báo chí (đối với phóng viên, biên tập viên) hoặc kỹ sư (đối với kỹ thuật viên) Nhìn chung, lực lượng có trình độ chuyên môn, tuy nhiên khá lớn tuổi
Cơ sở vật chất đủ điều kiện phục vụ cho chuyên môn Mỗi huyện thị đều xây dựng hệ thống sản xuất chương trình phát thanh kỹ thuật số từ khâu sản xuất, in thu, truyền dẫn đến phát sóng Mạng diện rộng cũng được xây dựng để truyền tải tín hiệu dưới dạng file văn bản, âm thanh hay hình ảnh từ đài huyện về đài tỉnh đạt chất lượng cao Mức đầu tư cho trang thiết bị của đài truyền thanh huyện thị trong thời gian qua khá lớn
Kinh phí hoạt động hàng năm cho hệ thống các đài truyền thanh huyện thị trên 4,68 tỉ đồng4 Mỗi huyện, thị bình quân kinh phí cho một năm hoạt động trên 585 triệu đồng Đài truyền thanh huyện thị đã đi vào hoạt động ổn định, chất lượng chương trình phát sóng ngày một nâng cao, thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền ở địa phương, góp phần nâng cao dân trí cho cộng
4
Số liệu do Đài PT-TH Vĩnh Long cung cấp
Trang 36đồng dân cư trên địa bàn Các đài huyện Long Hồ và Trà Ôn nhận được nhiều nhận xét tốt về chất lượng nội dung chương trình
Đơn cử chương trình truyền thanh của đài huyện Long Hồ, có thời lượng 30 phút, gồm có:
- Nhạc hiệu, đài hiệu
- Giới thiệu chương trình
2 Chuyên mục Kinh tế và nông nghiệp:
Phản ánh về lĩnh vực kinh tế, sản xuất nông nghiệp, thủy sản; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, du lịch Phát buổi chiều chủ nhật và sáng thứ hai
3 Chuyên mục Sức khỏe và đời sống:
Phản ánh về lĩnh vực công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Phổ biến các bài thuốc Nam chữa bệnh; công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, các biện pháp phòng và trị bệnh cho nhân dân Chuyên mục phát buổi chiều thứ
ba và sáng thứ tư
4 Chuyên mục An ninh và trật tự xã hội:
Phản ánh về tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Các biện pháp đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn, trấn áp các loại tội phạm Công tác phòng chống cháy nổ và an toàn giao thông Phát sóng vào chiều thứ tư và sáng thứ năm
Trang 375 Chuyên mục Xây dựng Đảng:
Phản ánh về công tác tổ chức, xây dựng Đảng ở địa phương Tuyên truyền phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đến tận quần chúng nhân dân Phát buổi chiều thứ năm và sáng thứ sáu
6 Chuyên mục Chính sách và pháp luật:
lời thư bạn nghe Đài Phát chiều thứ sáu và sáng thứ bảy
7 Chuyên mục Điểm tin trong tuần:
Điểm lại những sự kiện đã phát trong tuần Phát buổi chiều thứ bảy và sáng chủ nhật
Đài phát thanh truyền hình tỉnh Vĩnh Long còn đầu tư cho hệ thống trạm truyền thanh cơ sở ở 107 xã phường (gồm 7 phường, 6 thị trấn và 94 xã) Tính đến năm 2009, đài tỉnh đã lắp đặt 952 cụm loa truyền thanh không dây ở các khóm ấp5, nhằm phục vụ việc tiếp âm chương trình truyền thanh ba cấp cho bà con địa phương
Trong vòng 2-3 năm kể từ năm 2009 trở về trước, phát thanh tỉnh có chương trình “Tiếng nói từ huyện thị”, mỗi tháng một đài huyện làm 2 chương trình, mỗi chương trình 20 phút Tuy nhiên do nghèo tin bài, nên đài tỉnh đã không tiếp tục chương trình này
Mỗi đài huyện là một trạm cộng tác tin bài cho đài tỉnh Đài tỉnh có chế
độ nhuận bút ưu đãi riêng cho các đài huyện Sự cộng tác từ địa phương giúp đài tỉnh có thêm nguồn phát, với nội dung phong phú, sát với thực tế địa phương Trong các đài truyền thanh 7 huyện của tỉnh, Truyền thanh
Trang 38trung bình
2.1.3 Mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở An Giang
Tỉnh An Giang có một thành phố trực thuộc (Long Xuyên) và 2 thị xã Châu Đốc, Tân Châu cùng 8 huyện:
từ khoảng năm 1990, các đài huyện và trạm truyền thanh cơ sở bị xóa trắng Không huyện nào còn đài truyền thanh, gần 200 nhân sự của các đài huyện bị mất vị trí, phải chuyển công tác khác hoặc thất nghiệp Tuy nhiên, hệ thống trang thiết bị thì vẫn còn
Khoảng năm 1992, có một sự cố ở vùng biên giới khiến cho cư dân vùng biên giới chộn rộn, bất ổn Một số người thuộc đài truyền thanh thị xã Châu Đốc cũ hiện đã chuyển sang làm những vị trí khác quyết định tận dụng những thiết bị truyền thanh còn lại để thông báo tin tức, trấn an bà con, góp phần quan trọng vãn hồi trật tự
Trang 39Sự cố này và vai trò của truyền thanh trong việc thông tin tuyên truyền
đã khiến lãnh đạo nhận ra sai lầm của mình trong nhận thức về vai trò của công tác truyền thanh Ở Châu Đốc, “tổ truyền thanh Châu Đốc” được thành lập gồm 5 người, đứng đầu là người tổ trưởng, vốn là trưởng đài truyền thanh Châu Đốc trước kia Đến năm 1997, tỉnh An Giang có quyết định chính thức lập 5 đài truyền thanh ở các huyện, thị xã vùng biên giới là thị xã Tân Châu, thị xã Châu Đốc, các huyện An Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn
Ở các huyện còn lại, một số huyện vẫn có trạm truyền thanh, trực thuộc phòng Văn hóa thông tin huyện
Như vậy, mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở của tỉnh An Giang ban đầu được xây dựng khá tốt, nhưng chủ trương xóa trắng các đài truyền thanh đã làm mạng lưới này tê liệt một vài năm, trước khi dần dần được phục hồi nhưng không hoàn toàn, chỉ có đài truyền thanh ở các huyện biên giới Ở những huyện còn lại, chỉ có tổ truyền thanh trực thuộc phòng Văn hóa thông tin huyện
Nhận thức được vai trò quan trọng của công tác phát thanh cơ sở, gần đây, ngày 6/1/2009, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đã ban hành quyết định
số 18/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án phát triển hệ thống đài truyền thanh cơ sở đến 2010 và một số định hướng đến 2015 Đề án này trình bày cặn kẽ hiện trạng của hệ thống đài truyền thanh cơ sở từ cơ sở vật chất, tình trạng nhân lực, hoạt động của các đài đến những cơ chế chính sách chủ yếu, sau đó vạch ra 2 mục tiêu chính:
- Mục tiêu đến 2010: củng cố, phát triển hệ thống đài truyền thanh cơ
sở đảm bảo tỉ lệ phủ sóng các khu dân cư trên 85% Nâng cao chất lượng nội dung và chất lượng phủ sóng theo hướng hiện đại hóa
Trang 40- Mục tiêu đến 2015: nâng cấp, phát triển hệ thống đài truyền thanh cơ
sở đảm bảo tỉ lệ phủ sóng các khu dân cư trên 95% Hoàn thiện chất lượng chương trình, nội dung thông tin và chất lượng phủ sóng
Các xã biên giới, vùng dân tộc, các xã đặc biệt khó khăn được ưu tiên dàn phần ngân sách thích đáng để phát triển mạng lưới đài truyền thanh cơ sở Chủ trương xã hội hóa cho hoạt động truyền thanh cơ sở cũng được nhắc đến:
“Khuyến khích thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực này”
Các giải pháp từ phát triển nguồn nhân lực, vốn, quản lý đã được thực hiện đồng bộ, tính đến thời điểm này, đề án đã thu được nhiều kết quả khả thi
Tuy nhiên, đề án trên cũng nhấn mạnh: “Ngoài các đài phát thanh, truyền thanh cấp huyện đã thành lập trên địa bàn tỉnh, không khuyến khích thành lập mới đài truyền thanh cấp huyện, nếu cần thiết nên hình thành các Tổ phát sóng FM (Tổ truyền thanh cấp huyện) thuộc Trung tấm Văn hóa – Thông tin cấp huyện”
Ngày 27/8/2009, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang cũng đã ban hành Chỉ thị số 11/2009/CT-UBND, chỉ thị công tác của Sở Thông tin và Truyền thông,
Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Nội vụ, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Ủy ban nhân dân, phòng Văn hóa – Thông tin huyện, thị xã, thành phố và Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn trong việc củng cố, nâng cấp hệ thống đài truyền thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh, phục vụ ngày càng tốt công tác thông tin, tuyên truyền của địa phương
Hiện nay, Sở Thông tin và truyền thông tỉnh An Giang đang xây dựng một đề án về việc tái lập mạng lưới truyền thông ở An Giang Những huyện chỉ mới có các tổ truyền thanh trực thuộc phòng Văn hóa thông tin huyện sẽ
có cơ hội chính thức thành lập đài truyền thanh của huyện Điều này cho thấy, các cấp quản lý ở tỉnh An Giang đã nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác