Tuy vậy, do nhiều khó khăn chủ quan và khách quan, nên sản xuất nông nghiệp của tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là trong việc tiếp cận với khoa học kĩ thuật hiện đại, do đó tiềm năng c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
ỨNG DỤNG KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ
TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
ỨNG DỤNG KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ
TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Mai Thị Thanh Xuân
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Mai Thị Thanh Xuân Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2009
Tác giả luận văn
Trần Thị Thúy Hằng
Trang 4BẢNG QUY ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- KHKT&CN: Khoa học kỹ thuật và công nghệ
- NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP 10
1.1 Khoa học kỹ thuật, công nghệ và vai trò của nó đối với sự phát triển nông nghiệp 10
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.2 Nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực khoa học công nghệ 26
1.2.3 Hệ thống kết cấu hạ tầng 27
1.2.5 Chính sách của Nhà nước 29
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương về ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp 30
1.3.1 Kinh nghiệm của Hưng Yên: đẩy mạnh công tác chuyển giao, ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp 30
1.3.2 Kinh nghiệm của Nghệ An, Quảng Ngãi: hỗ trợ nông dân mua sắm máy móc nông nghiệp 32
1.3.3 Kinh nghiệm của Cần Thơ: liên kết với các trường, viện để chuyển giao công nghệ cho nông dân 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NAM ĐỊNH 36
2.1 Các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Nam Định ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp và ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp 36
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 36
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37
2.2 Thực trạng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp ở Tỉnh Nam Định từ năm 1996 đến nay 40
2.2.1 Chủ trương của Đảng uỷ và chính quyền địa phương về phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp 40
2.2.2 Thực tiễn ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp tỉnh Nam Định 43
2.3 Đánh giá thực trạng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp ở tỉnh Nam Định thời gian qua 63
Trang 62.3.1 Những thành tựu cơ bản 63 2.3.2 Những tồn tại chủ yếu 67
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG
KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở NAM ĐỊNH 72 3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển nông nghiệp và ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp tỉnh Nam Định 72
3.1.1 Định hướng phát triển nông nghiệp và ứng dụng khoa học kỳ thuật và công
nghệ của tỉnh Nam Định đến năm 2015 72 3.1.2 Mục tiêu cụ thể về ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông
nghiệp đến năm 2015 75
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng khoa học kỹ thuật và công
nghệ trong nông nghiệp ở Nam Định 75
3.2.1.Tổ chức lại hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật và công
nghệ vào sản xuất nông nghiệp 75 3.2.2 Nâng cao năng lực tiếp thu, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ của
nông dân 77 3.2.3 Thành lập nhiều hợp tác xã, tổ dịch vụ khoa học kỳ thuật 80 3.2.4 Đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ trong những khâu trọng yếu
nhất của quá trình sản xuất nông nghiệp 81 3.2.5 Sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hợp lý 88 3.2.6 Nhà nước cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho hoạt động nghiên cứu và ứng
dụng KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp 90
KẾT LUẬN 92
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông thôn luôn là vấn đề trọng yếu đối với mỗi quốc gia, kể
cả những nước đã đạt đến trình độ phát triển cao Với một đất nước có đến 74,1% dân số và hơn 57% lao động [29] sống dựa vào nghề nông như Việt Nam thì vai trò của nông nghiệp càng quan trọng hơn Xã hội có thể thiếu nhiều loại sản phẩm nhưng không thể thiếu lương thực, thực phẩm, mà nông nghiệp lại là lĩnh vực duy nhất có thể thoả mãn nhu cầu này Nền nông nghiệp càng hiện đại thì mức độ thỏa mãn nhu cầu lương thực, thực phẩm cho nhân dân càng cao Nhưng sự phát triển của nông nghiệp lại phụ thuộc rất lớn vào mức độ trang bị các phương tiện sản xuất tiên tiến và công nghệ hiện đại cho nó Nói cách khác,
sự phát triển của nông nghiệp phụ thuộc vào việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật nông nghiệp như cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa
và sinh học hóa sâu rộng đến mức nào Chính vì lẽ đó mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định một trong những nội dung cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước những năm trước mắt là phải “đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” [1, tr.299] Thực hiện đường lối đó, những năm gần đây, nông nghiệp được tập trung nguồn vốn để trang bị thêm nhiều phương tiện sản xuất hiện đại, nhờ đó đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả
về số lượng và chất lượng, trong đó nổi bật nhất là sự kiện Việt Nam từ một nước thiếu lương thực triền miên trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới Người nông dân Việt Nam đã từng bước làm quen với việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất, nâng cao khả năng
Trang 8cạnh tranh của hàng nông sản trên thị trường trong và ngoài nước Nam Định được coi là một trong những địa phương đi đầu trong tiến trình chung đó
Là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm khu vực đồng bằng sông Hồng, Nam Định có nhiều điều kiện thuận lợi cả về tự nhiên, kinh tế, xã hội để phát triển nền nông nghiệp theo hướng hội nhập, bền vững Tuy vậy, do nhiều khó khăn chủ quan và khách quan, nên sản xuất nông nghiệp của tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là trong việc tiếp cận với khoa học kĩ thuật hiện đại, do đó tiềm năng của một vùng đất nông nghiệp chưa được khai thác hiệu quả, mức độ hội nhập với các tỉnh và các nước còn thấp
Để tiếp tục đưa nông nghiệp tỉnh Nam Định tiến lên một nấc thang mới, đòi hỏi phải tìm được những giải pháp hữu hiệu hơn, phù hợp với bối cảnh nền kinh tế đất nước đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cho các cấp, các ngành ở địa phương (và cả trung ương), nhất là các nhà nghiên cứu, phải tìm được những giải pháp hữu hiệu
Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi đã chọn vấn đề “Ứng dụng khoa học kỹ
thuật và công nghệ trong nông nghiệp ở tỉnh Nam Định” làm đề tài luận văn
thạc sĩ kinh tế của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nông nghiệp là một vấn đề thuộc "tam nông" được Đảng cộng sản Việt Nam đặt lên bàn nghị sự nhằm tìm mọi giải pháp để đưa nông nghiệp lên nền sản xuất lớn, hiện đại Vì vậy, xung quanh vấn đề này đã có hàng trăm công trình nghiên cứu, trong đó liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn có các công trình chủ yếu như:
- “Khoa học đại chúng phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn” của các tác giả Vũ Tuyên Hoàng, Đoái Duy Ban, Hồ Huy
Trang 9Liêm, Lê Quang Long, Nhà xuất bản nông nghiệp, 2003 Trong công trình này, các tác giả đã phân tích vai trò nền tảng của khoa học kỹ thuật và công nghệ đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, từ đó ứng dụng vào thực tiễn để đem lại hiệu quả cao và bền vững
- “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động KH - CN phục vụ nông nghiệp ở Thanh
- Nghệ - Tĩnh” của Mai Thị Thanh Xuân, đăng trên tạp chí Kinh tế và dự báo, số
361, tháng 5 năm 2003 Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động KH - CN tại
3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, tác giả đề xuất 4 giải pháp thúc đẩy hoạt động này tốt hơn, bao gồm giải pháp về lựa chọn khâu ưu tiên trong ứng dụng
KH - CN; phát triển mạnh thành tựu KH - CN; đào tạo và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực KH - CN; và hoàn thiện hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý hoạt động KH - CN các cấp
- “Các giống lúa đặc sản, giống lúa chất lượng cao và kỹ thuật canh tác”
của Lê Vĩnh Thảo (chủ biên), Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2004 Công trình này chủ yếu trình bày các loại giống lúa và biện pháp canh tác cho phù hợp, cơ bản nhất là phải dựa trên tính chất của đất đai và yêu cầu chăm sóc của từng giống
- “Xây dựng cơ cấu sản xuất tiên tiến trong nông nghiệp” của Lê Hưng
Quốc, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2005 Cuốn sách đã giới thiệu những mô hình sản xuất nông nghiệp tiên tiến hiệu quả dựa trên kỹ thuật thâm canh và ứng dụng KHKT&CN vào quá trình sản xuất tại một số địa phương điển hình ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam
- “Phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở Việt Nam” của Mai Thị
Thanh Xuân và Ngô Đăng Thành, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2006 Cuốn sách đã phân tích vai trò của công nghiệp chế biến đối với sự phát triển nông nghiệp nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng; trên cơ sở phân
Trang 10tích thực trạng phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở Việt Nam qua 10 năm (1995 - 2005), các tác giả rút ra những vấn đề có tính cấp bách đặt ra đối với sự phát triển của công nghiệp chế biến nông sản hiện nay; đồng thời đề xuất các giải pháp phát triển công nghiệp chế biến nhằm nâng cao giá trị hàng nông sản Việt Nam hiện nay
Các công trình trên và nhiều công trình khác chưa nêu ở đây, nhìn chung
đã đề cập đến những khía cạnh của khoa học - công nghệ nông nghiệp trong phạm vi cả nước cùng với một số giải pháp, ứng dụng thiết thực, cụ thể
Liên quan đến đề tài luận văn còn có các công trình nghiên cứu về địa bàn tỉnh Nam Định Đó là:
- "Nghiên cứu quy hoạch vùng sản xuất khoai tây Hà Lan xuất khẩu từ
giống tạo bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật", năm 2002, đề tài
NCKH cấp tỉnh, do Hoàng Duy Khánh làm chủ nhiệm Nội dung đề tài là nghiên cứu xác định vùng phát triển khoai tây giống tạo từ phương pháp nuôi cấy mô thực vật phục vụ xuất khẩu, trên cơ sở đó đề xuất các phương án phát triển cây khoai tây Hà Lan xuất khẩu
- "Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất khoai tây Hà Lan chất lượng
cao sạch bệnh bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào cung cấp cho vùng khoai tây xuất khẩu của tỉnh Nam Định", 2002, đề tài do Hoàng Duy Khánh làm chủ
nhiệm Nội dung xây dựng hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống khoai tây sạch bệnh Hà Lan chất lượng cao cung cấp cho vùng sản xuất khoai tây xuất khẩu của Nam Định bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào trên cơ sở phân tích giống khoai tây Trung Quốc tuy có giá giống rất rẻ nhưng chất lượng kém, không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu
Trang 11- Đề tài "Nghiên cứu so sánh, khảo nghiệm, chọn lọc tập đoàn giống lúa ở
các vùng sinh thái tỉnh Nam Định" do Đào Viết Tâm là chủ nhiệm, năm 2001
Đề tài có nội dung là thu thập, nghiên cứu, khảo nghiệm tập đoàn giống lúa tại Nam Định, xác định nhanh các giống lúa mới có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh, có triển vọng để bổ sung vào cơ cấu giống lúa phù hợp với các vùng sinh thái tại Nam Định
Nói chung, các công trình nghiên cứu có liên quan tuy nhiều nhưng chủ yếu đề cập đến vấn đề công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, hoặc có xem xét thì cũng chỉ dừng ở một vài khía cạnh trong việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp chứ chưa có công trình nào nghiên cứu toàn bộ qua trình này một cách hệ thống, đầy đủ và toàn diện, nhất là tại địa bàn Nam Định và với tư cách là một luận văn thạc sỹ Kinh tế chính trị Vì vậy, việc nghiên cứu hoạt động ứng dụng khoa học kỹ thuật vào công nghệ trong nông nghiệp ở Nam Định nhằm thúc đẩy nông nghiệp của tỉnh phát triển mạnh hơn là điều cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của luận văn là: phân tích, đánh giá thực trạng ứng dụng khoa
học kỹ thuật và công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp ở tỉnh Nam Định, chỉ ra những tồn tại, hạn chế của quá trình này, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp
để nông nghiệp của tỉnh phát triển hiệu quả hơn
- Nhiệm vụ của luận văn là:
+ Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nông nghiệp; khoa học kỹ thuật
và công nghệ trong nông nghiệp; và kinh nghiệm của một số địa phương trong ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ để phát triển nông nghiệp
Trang 12+ Đánh giá thực trạng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Nam Định thời gian qua
+ Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Nam Định thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là nền sản xuất nông nghiệp và việc ứng dụng
khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: luận văn tập trung nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nam Định Tuy nhiên, luận văn cũng nghiên cứu vấn đề này trên phạm vi cả nước ở mức độ nhất định để so sánh và vận dụng bài học kinh nghiệm
+ Về thời gian: Từ năm 1996 đến nay và định hướng đến năm 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp của kinh
tế chính trị Mác-Lênin Ngoài ra luận văn cũng kết hợp sử dụng các phương pháp như phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh, logic - lịch sử
6 Đóng góp của luận văn
- Làm rõ thêm vai trò của khoa học kỹ thuật và công nghệ đối với sự phát triển sản xuất nông nghiệp
- Đánh giá về thực trạng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật
và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Nam Định
Trang 137 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về nông nghiệp và khoa học kỹ
thuật và công nghệ trong nông nghiệp
Chương 2: Thực trạng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong
nông nghiệp ở Nam Định 1996 cho đến nay
Chương 3: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ
thuật và công nghệ trong nông nghiệp ở tỉnh Nam Định
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC KỸ THUẬT
VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP
1.1 Khoa học kỹ thuật, công nghệ và vai trò của nó đối với sự phát triển nông nghiệp
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất cơ bản nhằm cung cấp các sản phẩm về lương thực và thực phẩm cho xã hội và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
Nông nghiệp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào qui luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm để thoả mãn các nhu cầu của mình Nông nghiệp thường được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp nông nghiệp chỉ bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, còn theo nghĩa rộng thì nông nghiệp còn bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp [1, tr.312]
Các hoạt động sản xuất nông nghiệp gồm việc sử dụng đất đai để trồng trọt, chăn nuôi; khai thác cây trồng và vật nuôi để tạo ra lương thực, thực phẩm
và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp có đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, quá trình tái sản xuất vật chất và khai thác kinh tế gắn phần lớn
với điều kiện tự nhiên (đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết) Thời gian lao động trong nông nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào và gần như trùng hợp với thời gian sản xuất
Thứ hai, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu Đó là một loại tư liệu sản
xuất đặc biệt, nếu biết sử dụng hợp lý, khoa học thì không những ruộng đất
Trang 15không bị bào mòn đi trong quá trình sản xuất mà ngược lại ngày càng màu mỡ hơn Hơn nữa, nếu ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ (KHKT&CN) hiện đại trong nông nghiệp sẽ khắc phục được phần nào tính hữu hạn của ruộng đất
Thứ ba, nguyên liệu ban đầu là cây trồng, vật nuôi, có chu kỳ sản xuất
tương đối dài, thời gian sản xuất không đi liền với thời gian thu hoạch [17]
Tóm lại, sản xuất nông nghiệp có nhiều đặc điểm khác với sản xuất công nghiệp và các ngành khác, trong đó khác biệt lớn nhất là tính giới hạn của đất đai
và quá trình sinh trưởng của cây trồng phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên Vì vậy,
để khắc phục tình trạng đó không gì khác hơn là phải tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào tất cả các khâu từ chọn giống đến gieo trồng, bảo
vệ thực vật, thu hoạch và sau thu hoạch
Căn cứ vào trình độ ứng dụng KHKT&CN vào sản xuất nông nghiệp, người ta chia các giai đoạn phát triển của nông nghiệp thành nông nghiệp truyền thống và nông nghiệp hiện đại Trong đó nông nghiệp truyền thống được hiểu là nền nông nghiệp mà quá trình sản xuất được thực hiện theo những kinh nghiệm
từ trước truyền lại Nền nông nghiệp truyền thống là nền nông nghiệp sử dụng sức lao động cơ bắp và công cụ thủ công, vì vậy phụ thuộc rất chặt vào điều kiện
tự nhiên, năng suất lao động thấp, sản phẩm làm ra đơn điệu và không đáp ứng
đủ nhu cầu của con người Còn nông nghiệp hiện đại là một nền nông nghiệp đã được CNH, tức là quá trình sản xuất nông nghiệp sử dụng những thành tựu của công nghiệp (máy móc, phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật, sản xuất theo qui trình kỹ thuật hiện đại ), tạo ra năng suất lao động cao, khối lượng nông sản hàng hoá lớn, chất lượng tốt Sản phẩm đầu ra của nông nghiệp hiện đại chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hoá bán ra trên thị trường hay xuất khẩu
Trang 16Nền nông nghiệp truyền thống chủ yếu sản xuất ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho vật nuôi thì trong nền nông nghiệp hiện đại, ngoài những thứ đó còn sản xuất ra các loại sản phẩm khác nữa như: sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mêtan, dầu sinh học ), da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hoá học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống (kể
cả các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như thuốc lá, côcain ) Thế kỉ XX đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là việc cơ giới hoá và sinh học hoá trong nông nghiệp Các sản phẩm sinh hoá nông nghiệp gồm các hoá chất để lai tạo, gây giống, các chất trừ sâu, diệt cỏ, diệt nấm, phân đạm
Ngày nay con người còn đang hướng tới không chỉ một hệ thống nông nghiệp với đầy đủ những đặc tính vốn có của nó với sự trợ giúp của máy móc, công nghệ mới mà còn là một hệ thống nông nghiệp hoàn chỉnh trên rất nhiều khía cạnh - hệ thống nông nghiệp công nghệ cao Trong đó, công nghệ cao là loại công nghệ có tác dụng nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành, tăng khả năng tiêu thụ nông sản Nông nghiệp công nghệ cao kết hợp ứng dụng cả 3 loại công nghệ trọng điểm của thời đại, đó là công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới và công nghệ sinh học Cụ thể công nghệ cao trong nông nghiệp bao gồm:
- Công nghệ giống ưu việt, cao cấp, sạch bệnh, tạo ra nông sản chất lượng cao, cao cấp, sạch và an toàn đạt 4 tiêu chuẩn: dinh dưỡng, thẩm mỹ, an toàn sinh thái và sức khoẻ con người, xuất khẩu cạnh tranh được
- Công nghệ canh tác, chăn nuôi tiên tiến bằng các phương pháp canh tác sạch bệnh, sạch côn trùng và ký sinh trùng (rau, hoa quả cao cấp và tôm cá )
Trang 17- Công nghệ điều khiển tự động bằng máy tính các quá trình sản xuất từ canh tác đến sơ chế, chọn lọc, bảo quản, đóng gói, chế biến, tưới tiết kiệm, điều khiển nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng…
- Công nghệ định lượng chính xác, điều chỉnh được nhiệt độ, cường độ ánh sáng, lượng và thành phần phân bón, thức ăn, nước uống, thời điểm ra hoa kết hạt hoặc thu hoạch được kế hoạch hoá cao độ
1.1.1.2 Khoa học, kỹ thuật và công nghệ
Khoa học, kỹ thuật và công nghệ là những khái niệm đi liền với nhau và
có mối quan hệ với nhau
Theo từ điển bách khoa Việt Nam, khoa học là hệ thống tri thức về tự
nhiên, xã hội và tư duy được tích luỹ trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết [16] Khoa học giúp cho con người ngày càng có khả năng chinh phục tự nhiên và xã hội Hệ thống khoa học được chia thành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật Khoa học kỹ thuật là tên gọi chung của những khoa học cụ thể được hình thành trên cơ sở ứng dụng tri thức lý thuyết của các khoa học cơ bản vào trong hoạt động thực tiễn, chủ yếu là sản xuất vật chất và dịch vụ bằng con đường tạo
ra những phương tiện kỹ thuật và phương pháp công nghệ thích hợp.Trong đó mỗi loại khoa học đều có phần cơ bản (KHCB) và phần ứng dụng (KHƯD) Nếu như khoa học cơ bản nghiên cứu nhận thức hiện thực khách quan như nó vốn có thì khoa học ứng dụng lại vạch ra những con đường, những biện pháp, thủ thuật, hình thức để ứng dụng tri thức khách quan vào thực tiễn, nhằm phục vụ lợi ích con người Sự khác nhau giữa KHCB và KHƯD là ở chỗ KHCB hướng tới việc loại bỏ hoàn toàn nhân tố chủ quan để nhận thức chính xác các qui luật khách quan của thế giới bên ngoài và những điều kiện tác động của chúng; còn KHƯD thì lại chú ý tới nhân tố chủ quan (đến mục đích và phương tiện đạt được mục
Trang 18đích) và việc hiện thực hoá nó trong cuộc sống Khoa học trong nông nghiệp dĩ nhiên cũng bao gồm cả KHCB và KHƯD
Kỹ thuật là kinh nghiệm, kỹ năng, các thao tác, các cơ cấu, các máy móc,
các hệ thống, các phương pháp và phương tiện quản lý, khai thác, bảo vệ, xử lý vật chất, năng lượng và thông tin được xây dựng nhằm phục vụ các nhu cầu trực tiếp của xã hội Kỹ thuật hiện đại gắn bó chặt chẽ với khoa học đặc biệt là trong điều kiện tiến bộ KHKT hiện nay, nó ngày càng trở thành lực lượng vật chất của tri thức, thể hiện ở tự động hoá, hoá học hoá và sinh học hoá nền sản xuất [16] Khoa học kỹ thuật hiện đại có đặc điểm cơ bản là tính biến đổi rất nhanh của nó,
do đó những người hoạt động trong lĩnh vực này không chỉ nắm vững các kĩ năng của công việc đang làm mà quan trọng hơn là phải có kiến thức sâu rộng mới có thể nắm bắt được những thành tựu mới của kỹ thuật
Công nghệ là tổng hợp các phương tiện, phương pháp, cách thức biến đổi
các yếu tố đầu vào để tạo ra các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ mong muốn Cụ thể, công nghệ là tổ hợp của 4 thành phần có tác động qua lại với nhau và cùng thực hiện quá trình sản xuất và dịch vụ:
- Thành phần trang thiết bị, bao gồm các thiết bị, máy móc, khí cụ, nhà xưởng
- Thành phần kĩ năng và tay nghề liên quan đến kinh nghiệm nghề nghiệp của từng người hoặc nhóm người
- Thành phần thông tin liên quan tới các bí quyết, các qui trình, các phương pháp, các dữ liệu, các bản thiết kế
- Thành phần tổ chức, thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp, điều phối, quản
lý và tiếp thị [15]
Trang 19Như vậy, công nghệ bao gồm cả phần cứng và phần mềm, trong đó các thiết bị, máy móc, khí cụ, nhà xưởng là công nghệ phần cứng; còn kỹ năng, tay nghề, thông tin, qui trình, phương pháp, tổ chức, quản lý, là công nghệ phần mềm Thuật ngữ công nghệ vì vậy thông thường được đặc trưng bởi các phát minh và cải tiến sử dụng các nguyên lý và qui trình đã được khoa học phát hiện
ra
Như vậy, khoa học và công nghệ khác nhau ở chỗ: thứ nhất khoa học thì
có mục tiêu là sự tiến bộ của nhận thức, còn công nghệ lại có mục tiêu là biến
đổi thực tại đã cho; thứ hai khoa học là hàng hoá công cộng còn công nghệ là
hàng hoá có thể đem bán với một giá nào đó Còn sự khác nhau giữa công nghệ
và kỹ thuật thì chỉ có tính tương đối, bởi kỹ thuật là một bộ phận của công nghệ (công nghệ phần cứng) Do đó, khi nói công nghệ thì đã bao hàm cả kỹ thuật rồi
1.1.1.3 Khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp
Khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp là hệ thống các ngành khoa học kỹ thuật liên quan đến sản xuất nông nghiệp, với đối tượng là cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật, điều kiện khí hậu, đất đai gắn với quá trình phát sinh
và phát triển của cây trồng, vật nuôi KHKT&CN trong nông nghiệp bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
Thuỷ lợi hoá:
Thuỷ lợi hoá là việc chinh phục và sử dụng nguồn nước vào sản xuất nông nghiệp nhằm hạn chế và tiến tới khắc phục nạn hạn hán, lũ lụt, khai thác các nguồn và cung cấp nước cho cây trồng vật nuôi theo yêu cầu kỹ thuật sản xuất nông nghiệp Nói cách khác, mục tiêu của công tác thuỷ lợi là nhằm đảm bảo chủ động tưới tiêu cho 100% diện tích, trên cơ sở đó để tăng năng suất cây trồng và năng suất đất đai Công tác thuỷ lợi gồm 3 vấn đề cơ bản: trị thuỷ các dòng sông lớn, xây dựng các công trình chứa nước, dẫn nước (tiêu và tưới), xây dựng và
Trang 20thực hiện các chế độ tưới tiêu theo yêu cầu sinh lý từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển cây trồng Thuỷ lợi hoá nông nghiệp còn góp phần thau chua, rửa mặn, cải tạo đất đai, nâng cao độ phì của đất, đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng nhanh
Cơ khí hoá:
Cơ khí hoá là quá trình đưa máy móc cơ khí vào sản xuất nông nghiệp, thay thế một phần hoặc toàn bộ công cụ thủ công dùng sức người và gia súc, nhằm tăng năng suất và giảm nhẹ cường độ lao động Cơ giới hoá nông nghiệp
có nhiều mức độ: cơ giới hoá từng phần (cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đập….) hay từng công đoạn (làm đất, thu hoạch, chế biến) đến cơ giới hoá liên hoàn đồng bộ qui trình sản xuất một cây trồng, vật nuôi, nông sản Trình độ cơ giới hoá có thể thấp (kết hợp sức máy với sức người và gia súc) hoặc cao (dùng máy)
Điện khí hoá:
Điện khí hoá là quá trình sử dụng rộng rãi điện năng vào sản xuất nông nghiệp Đây là một nội dung chủ yếu của cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghiệp hoá nền kinh tế Tầm quan trọng của điện khí hoá đã được Lênin (V.I.Lênin) khái quát thành:"chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xô Viết cộng với điện khí hoá toàn quốc” [48] Trong lĩnh vực điện khí hoá nông thôn sẽ thực hiện được những yếu tố tiến bộ kỹ thuật như: đảm bảo áp dụng năng lượng điện một cách rộng rãi vào ngành trồng trọt tưới nước, mở rộng việc sử dụng điện cho việc sưởi ấm các nhà kính, thắp sáng bổ sung để nuôi trồng các mầm non, áp dụng vào sản xuất nông nghiệp các phương pháp qui trình công nghệ điện tử - iôn và tác động trực tiếp năng lượng điện vào cơ thể gia súc và cây trồng,…
Sinh học hoá:
Công nghệ sinh học (CNSH) là một tập hợp những kỹ thuật được sử dụng
Trang 21triển các sản phẩm như thực phẩm, enzim, dược phẩm và vacxin [28] Những thành tựu của CNSH được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của sản xuất
và đời sống xã hội như: công nghiệp, nông nghiệp, y học, bảo vệ môi trường Trong nông nghiệp, CNSH được áp dụng để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, nâng cao sức chống chịu và đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ cho cây trồng, vật nuôi, giảm chi phí năng lượng trong quá trình sản xuất, tận dụng chất phế thải
Trong thời gian qua CNSH được sử dụng phổ biến là: kỹ thuật nhân giống
và lai giống chọn lọc các loài có quan hệ với nhau để tạo ra những sản phẩm có đặc điểm riêng biệt; kỹ thuật gien để biến đổi cây trồng, vật nuôi hoặc vi sinh vật bằng cách cấy hệ thống gien cấu trúc di truyền của chúng vào để tạo ra những đặc điểm mong đợi (thành tố sinh học), thậm chí kể cả gien của các loài không
có quan hệ Tuy nhiên, việc ứng dụng kỹ thuật này đòi hỏi phải mất nhiều thời gian chọn lọc qua nhiều thế hệ và tỷ lệ thành công thường đạt thấp so với mong muốn Còn kỹ thuật gien thì cho phép tạo ra các thực phẩm mới nhanh hơn và gia tăng hàng loạt những đặc điểm hiện có nhằm phát triển những giống cây mới Nhiều giống cây trồng sinh học được phát triển để chống lại sức phá hoại của sâu bệnh, lây truyền virut, kháng được những loại thuốc diệt cỏ nhất định, tăng sức chống chịu và nâng cao hàm lượng dinh dưỡng
Hiện nay, nhiều sản phẩm lương thực, thực phẩm do công nghệ sinh học tạo ra đã có mặt trên thị trường Những cây trồng chuyển gen vẫn là giống những cây trồng truyền thống nhưng chúng có thêm một số đặc điểm được cải thiện Chúng không những có lợi cho nông dân mà còn cho cả người tiêu dùng Người nông dân thì gặt hái được những vụ mùa bội thu, còn người tiêu dùng quanh năm lại có nhiều loại sản phẩm để lựa chọn Ngoài ra những giống mới được tạo ra bằng CNSH cũng còn có tiềm năng bảo vệ môi trường Trên thị truờng hiện nay,
Trang 22đã có một số loại sản phẩm của CNSH thực phẩm được cải tiến tính trạng và chất lượng như: chống chịu bệnh, tăng thành phần dinh dưỡng, tăng thời gian bảo quản
Ở Việt Nam hiện nay, trong sản xuất nông nghiệp đã áp dụng nhiều thành tựu của công nghệ sinh học, mang lại hiệu quả khá rõ nét như lúa lai, ngô lai, cá rôphi đơn tính, dứa cấy mô, các loại thuốc trừ sâu sinh học, các loại vacxin phòng bệnh gia súc, gia cầm…
Tin học hoá:
Khoảng hai thập kỉ gần đây, cuộc cách mạng tin học đã lan rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong lĩnh vực nông nghiệp, những thành tựu của công nghệ tin học ngày càng được ứng dụng nhiều hơn Nhờ công nghệ tin học, các hoạt động mua (các yếu tố đầu vào) - bán (các sản phẩm hàng hoá) trở nên thuận tiện hơn và hiệu quả hơn Hiện nay mạng Internert đã nối về tận các địa bàn nông thôn và hiện tượng nông dân sử dụng mạng trong kinh doanh đã trở nên khá phổ biến Chỉ thị 58 - CT/TW của Ban chấp hành Trung ương về đẩy mạnh và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã khẳng định: "Cần khẩn trương xây dựng các chương trình
Trang 23ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, kết hợp công nghệ thông tin với công nghệ sinh học để phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt xoá đói giảm nghèo và thúc đẩy phát triển vùng sâu, vùng xa", tiếp tục "đẩy mạnh việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin" [36]
1.1.2 Vai trò của khoa học kỹ thuật và công nghệ đối với sự phát triển nông nghiệp
1.1.2.1 Tăng hệ số sử dụng của đất đai
Khoa học công nghệ không chỉ có vai trò làm tăng năng suất và chất lượng nông sản phẩm mà còn có vai trò làm tăng hệ số sử dụng đất, nhờ đó cũng làm tăng sản lượng nông nghiệp Trước đây, khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển, sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên thì người nông dân chỉ gieo trồng 2 vụ/năm, thậm chí có nơi điều kiện thời tiết khắc nghiệt thì chỉ trồng được một vụ Nhưng khoảng 50 năm, đặc biệt là 30 năm gần đây, nhờ sự phát triển của KHCN và ứng dụng rộng rãi những thành tựu của chúng vào sản xuất
mà thời gian làm đất, thời gian sinh trưởng của cây được rút ngắn lại, nhờ đó người nông dân đã có thể gieo trồng đến 3 - 4 vụ, thậm chí là 5 - 6 vụ/ năm Theo đó sản lượng nông nghiệp cũng tăng lên tương ứng Chẳng hạn, tại Việt Nam vào những năm 1970 - 1980, đất nông nghiệp còn nhiều nhưng do trình độ KHKT trong nông nghiệp còn thấp, tình trạng khô hạn hoặc ngậo úng diễn ra thường xuyên, làm đất và thu hoạch diễn ra chậm, dẫn đến hệ số sử dụng đất chỉ hơn một lần Nhưng ngày nay, cùng với sự phát triển của KHKT trên thế giới, những thành tựu KHCN được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam ngày càng nhiều đã tăng hệ số sử dụng đất lên nhiều lần Như vậy, một khi tài nguyên đất nông nghiệp đang bị mất đi ngày càng nhiều do quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá thì việc ứng dụng KHCN rộng rãi trong nông nghiệp đã
Trang 24làm tăng diện tích canh tác một cách đáng kể nhờ tăng hệ số sử dụng của đất Bằng việc triển khai đồng loạt nhiều biện pháp như cải tiến giống ngắn ngày, hiện đại hoá hệ thống thuỷ lợi, có chế độ luân canh cây trồng hợp lý,… mà số vụ canh tác hiện nay đã tăng lên 5 - 6 vụ/năm Đối với trồng trọt, khi gia tăng được diện tích gieo trồng thì cũng có nghĩa là tăng hệ số sử dụng đất canh tác Bằng cách tăng canh, gối vụ, tăng số lần quay vòng đất mỗi năm, người nông dân có thể tăng diện tích canh tác lúa, hoa màu,… lên nhiều lần, nhờ đó thu nhập trên mỗi đơn vị sản xuất cũng cao hơn
1.1.2.2 Tăng năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão, khoa học và công nghệ đã quyết định trực tiếp đến năng suất và chất lượng sản phẩm, trong đó có sản phẩm nông nghiệp Việc nghiên cứu ứng dụng và triển khai trở thành nhân tố quan trọng đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Trong những năm qua, các tổ chức khoa học và công nghệ của trung ương và địa phương đã ứng dụng nhiều tiến bộ
kỹ thuật vào sản xuất có hiệu quả góp phần nâng cao năng suất, chất lượng vật nuôi và cây trồng
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến nay, tỷ lệ
cơ giới hoá trong khâu làm đất, tưới tiêu, thu hoạch và xay xát lúa đã đạt từ 70% đến 95%, giúp giảm sức lao động cho nông dân và tăng giá trị sản xuất nông nghiệp Trong giai đoạn 2000 - 2006, sản xuất nông nghiệp của các tỉnh miền Bắc đã đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 4%, đưa giá trị sản xuất nông nghiệp từ 41.300 tỷ đồng năm 2000 lên gần 51.900 tỷ đồng vào năm 2006
Nhờ áp dụng các tiến bộ trong lĩnh vực chọn, tạo giống mà nhiều cây trồng ở nước ta có năng suất, chất lượng chạm trần, tức là tương đương với cây trồng, vật nuôi cùng loại ở các nước có nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến Các giống cây trồng này hầu hết đều có phẩm chất tốt, được gieo trồng ở nhiều vùng
Trang 25sinh thái trong cả nước và cho năng suất cao hơn các giống cũ từ 10 đến 15%, góp phần đưa sản lượng nông nghiệp tăng cao Nhiều tiến bộ kỹ thuật sản xuất được áp dụng rộng rãi như kỹ thuật sạ hàng cho phép tiết kiệm được 40 - 60% số hạt giống; tổ chức bón phân theo bảng so màu, giúp tiết kiệm được 15 - 20% lượng phân đạm và hạn chế số lần phun thuốc bảo vệ thực vật, góp phần bảo vệ sức khoẻ người lao động Việc áp dụng tiến bộ của khoa học vào quy trình chăm bón - thu hoạch bảo quản, đặc biệt là chương trình phát triển công nghiệp chế biến cũng được thực hiện có hiệu quả Mặt khác do cải thiện được chất lượng nên giá bán nông sản ở thị trường trong nước và quốc tế cũng tăng đáng kể
Cũng nhờ áp dụng thành tựu KHCN, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi có xu hướng tăng với tốc độ cao Quá trình nghiên cứu, lai tạo giống tốt đã giúp đàn lợn tăng 6%/năm, đàn bò tăng 5,6%/năm Thành công trong nghiên cứu các công thức lai giữa bò nội và bò ngoại đã tạo ra con lai F1 có năng suất thịt cao hơn đàn bò vàng Việt Nam 20 - 50%, phát triển được đàn bò lai hướng thịt với các giống Charolais, Hereford,… đàn bò sữa tăng bình quân hơn 20%/năm Bên cạnh đó, các nhà khoa học nông nghiệp cũng đã nghiên cứu lai tạo và khảo nghiệm thành công các cặp lợn lai có tỷ lệ nạc từ 56 đến 60% Mặc dù trọng lượng thịt tăng lên nhưng lượng thức ăn cho 1 kg tăng trọng lại giảm từ 3,8 - 4,3
kg xuống 2,8 - 3kg
Lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản cũng có nhiều thành công nhờ các nghiên cứu sinh sản nhân tạo một số loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, không phụ thuộc vào tự nhiên như cá song chấm nâu, cá giò, cá tra, hay việc nâng cao chất lượng giống thông qua các giống có tốc độ sinh trưởng nhanh như giống tôm càng xanh toàn đực (đơn tính), giống ốc hương,…
Trang 261.1.2.3 Tạo giá trị gia tăng cho nông sản
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong hai năm 2006 - 2007, nhiều công trình nghiên cứu khoa học công nghệ và khoa học kỹ thuật đã được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp như tạo giống cây trồng, vật nuôi, bảo quản
và chế biến nông sản sau thu hoạch bằng công nghệ sinh học, bảo vệ đất trồng trọt bằng cách sử dụng vật liệu hữu cơ để che phủ, chế tạo máy gieo cấy, máy thu hoạch lúa Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp không chỉ làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng, vật nuôi mà còn tạo giá trị gia tăng cho nông phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế
Do KHCN trong nông nghiệp chưa phát triển nên nông sản Việt Nam có
vị thế yếu nhất trong cạnh tranh quốc tế Việc áp dụng thành tựu của KHCN trong nông nghiệp sẽ giảm được mức tiêu hao nguyên liệu và tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch đồng thời nâng cao chất lượng nông phẩm, nhờ đó tạo giá trị gia tăng cao Hoạt động nông nghiệp là một chuỗi mắt xích gồm nhiều khâu, từ sản xuất đến chế biến, bảo quản và tiêu thụ, trong đó sản xuất là khâu chính, là hoạt động
cơ bản nhưng giá trị thu được từ sản xuất rất ít so với tổng chuỗi giá trị Đó là vì, các khâu càng về cuối càng tạo ra giá trị gia tăng cao hơn.Ví dụ, giá cà phê nhân của Việt Nam trên thị trường thế giới niên vụ 2004 - 2005 chỉ có 1000$/tấn nhưng khi nó được xát vỏ thành cà phê nhân khô (sơ chế) thì giá trị của nó là 1.781$/tấn., tức cà phê đã được tăng thêm 781$/tấn; với cà phê nhân khô lại được chế biến thành cà phê hoà tan thì giá lên tới 2.700$/tấn (giá trị tăng lên 920$/tấn nữa so với cà phê nhân khô) Nhưng nếu cà phê khô được chế biến theo phương pháp rang xay thì giá trị của nó sẽ là 3.200$/tấn (giá trị tăng thêm là 1.420$/tấn và tổng giá tri tăng thêm là 2.200$/tấn) [26] Điều đó cho thấy vai trò của công nghệ chế biến, một thành tựu của KHCN trong nông nghiệp là vô cùng
Trang 27to lớn đối với việc gia tăng giá trị nông sản Vì vậy phát triển công nghệ sản xuất nông phẩm, thực phẩm an toàn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với việc tạo giá trị gia tăng cho nông phẩm của Việt Nam hiện nay Điều kiện để phát triển ngành công nghệ sản xuất nông nghiệp không gây ô nhiễm, an toàn ở Việt Nam rất tốt, đó là vì nước ta có nguồn lao động dồi dào với tố chất phù hợp Thêm vào đó chúng ta có nhiều vùng sinh thái có điều kiện môi trường tương đối trong lành Hơn nữa, việc đẩy mạnh phát triển ngành công nghệ nông phẩm, thực phẩm an toàn sản xuất theo công nghệ sạch sẽ kích thích các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các công ty xuyên quốc gia của các nước phát triển đầu tư vào nông nghiệp, một khu vực đang ít được đầu tư hiện nay Tuy nhiên đây lại là ngành công nghệ mới, phức tạp, xa lạ với thói quen của nông dân và sức ỳ của phương thức sản xuất tiểu nông, do đó, để thực thi nhiệm vụ này, đòi hỏi quyết tâm cao và có lộ trình phù hợp.
1.1.2.4 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi
Trên thực tế, việc công nhận và đưa vào ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ trên đồng ruộng, đã góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng
và sản xuất nông nghiệp theo hướng hiệu quả hơn trên một đơn vị diện tích Mặc
dù diện tích đất nông nghiệp càng ngày càng giảm nhưng nhờ thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi nên giá trị sản xuất nông nghiệp hàng năm vẫn tăng trưởng khá
Về cây trồng, các loại giống cũ, năng suất thấp, chất lượng kém đều được thay thế bằng các loại giống chất lượng cao, năng suất cao Ví dụ hiện nay, hầu hết các địa phương đều áp dụng các loại giống mới như lúa Khang Dân, Trung nông, Việt hương, cà chua Ấn Độ và Mỹ… Xu hướng hiện nay là trên cơ sở phát triển KHCN nông nghiệp, các nước đang phát triển đã và sẽ chuyển từ cách mạng xanh sang nền nông nghiệp mới có giá trị cao Về vật nuôi, các loại lợn
Trang 28siêu nạc, vịt siêu trứng, bò lai sind, cá rô phi đơn tính, các loại thuỷ sản, cũng được nuôi phổ biến khắp các vùng nông thôn Nhờ ứng dụng KHCN, cơ cấu giống được tuyển chọn, thay thế các loại giống cũ đã bị thoái hoá, năng suất thấp đồng thời giữ lại các giống lúa thuần có năng suất cao đã thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng hiệu quả Bên cạnh đó, nhiều diện tích ao đầm kém hiệu quả cũng được đầu tư chuyển đổi theo hướng có hiệu quả hơn Do đó, nhiều hộ nông dân đã có thể yên tâm làm giầu từ nông nghiệp do kết hợp được nhiều biện pháp KHKT
Nói tóm lại, KHCN tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng nhanh các sản phẩm có hàm lượng KHCN cao, nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản trên thị trường trong nước và quốc tế
1.1.2.5 Rút bớt lao động ra khỏi nông nghiệp
Việc ứng dụng những thành tựu KHCN vào sản xuất nông nghiệp để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp diễn ra đồng thời với việc một bộ phận lao động được rút khỏi nông nghiệp để chuyển sang các ngành công nghiệp và dịch vụ Cụ thể, việc cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp đã làm giảm nhu cầu lao động trong lĩnh vực này, đặc biệt là lao động chân tay Ví
dụ, trong khâu thu hoạch, nếu sử dụng lao động thủ công để hoàn thành 1 ha lúa (bao gồm từ cắt, gánh, tuốt lúa và vận chuyển) phải cần tới 20 người làm trong 1 ngày nhưng nếu sử dụng máy gặt đập liên hợp thì chỉ mất 4 - 5 người, rút bớt được 15 - 16 người/ha Trong việc phun thuốc trừ sâu, năng suất máy phun thuốc BL100L đạt 2 giờ/ ha, thay thế được 3 lao động thủ công; còn sử dụng máy xới tay BL120 với năng suất đạt 10giờ/ha, thay thế cho 10 lao động; không chỉ giải phóng lao động nông nghiệp, việc dùng máy trong quá trình sản xuất còn giảm được 50 - 60% chi phí làm đất trên 1 ha… [44] Việc giảm nhân lực ngành nông
Trang 29nghiệp đã tạo thuận lợi hơn cho sự phát triển của ngành phi nông nghiệp, thu hút hầu hết các lao động mới và một số người muốn rời khỏi ngành nông nghiệp Việc ứng dụng cơ giới hoá đã tạo điều kiện cho nông hộ mở rộng diện tích sản xuất, giảm tình trạng bỏ ruộng hoang, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, góp phần thực hiện chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp
1.2.1 Nguồn vốn
Bất cứ một hoạt động kinh tế nào nguồn vốn phát triển cũng đều có nhu cầu về vốn Nông nghiệp là một ngành sản xuất phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên nhưng điều đó không có nghĩa là không cần vốn, hay cần ít vốn Ngày nay, khi cuộc cách mạng KHCN trên thế giới đang phát triển với tốc
độ nhanh, việc ứng dụng những thành tựu của KHCN vào sản xuất nông nghiệp cũng đòi hỏi số lượng vốn ngày càng lớn Công nghệ càng hiện đại, chi phí cho việc ứng dụng công nghệ đó càng cao nhằm hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới, nông nghiệp đòi hỏi phải được đầu tư với một khối lượng vốn thoả đáng Vốn cho ứng dụng KHKT&CN trong nông nghiệp có thể hiểu được lấy từ nhiều nguồn: vốn ngân sách, vốn của các doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác; vốn nhàn rỗi trong dân, vốn nước ngoài,… trong đó nguồn vốn ngân sách
là cơ bản nhất Vậy nhưng, do nguồn vốn từ ngân sách hạn hẹp, vốn ngoài ngân sách huy động được ít nên đã hạn chế rất lớn đến việc đưa kỹ thuật mới vào phát triển sản xuất nông nghiệp Vì vậy, số máy móc được trang bị cho sản xuất cũng
ít dẫn đến tỷ lệ cơ giới hoá các khâu từ làm đất, tưới tiêu đến gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, vận chuyển đều thấp Kết quả là năng suất lao động và năng suất đất đai thấp, sản phẩm làm ra thiếu sức cạnh tranh
Trang 301.2.2 Nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực khoa học công nghệ
Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và ứng dụng KHKT&CN nông nghiệp nói riêng Nguồn nhân lực có trình
độ cao thì việc tiếp cận với công nghệ hiện đại sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn Ngược lại, nguồn nhân lực phổ thông khó tiếp thu các thành tựu mới của KHKT&CN Theo số liệu điều tra tại vùng đồng bằng sông Hồng, ảnh hưởng của trình độ học vấn đến mức độ áp dụng KHCN mới của hộ nông dân rất khác nhau, trong đó nhóm có trình độ văn hóa cao có tỷ lệ người áp dụng kỹ thuật mới cao hơn
Để chuyển giao công nghệ cho sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao, ngoài yếu tố nguồn nhân lực trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp (nông dân), thì đội ngũ cán bộ KHKT (gồm những người nghiên cứu KHCN, những người trong các trung tâm chuyển giao công nghệ, ) có vai trò đặc biệt quan trọng Đội ngũ cán bộ này có không chỉ nghiên cứu tìm ra công nghệ tiên tiến, hiện đại,
mà còn biết áp dụng nhiều hình thức chuyển giao có hiệu quả những thành tựu
đó đến tận người nông dân Đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của các mô hình khuyến nông hay là việc chuyển giao những tiến bộ KHKT&CN đến với nông dân Nếu đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở yếu về trình độ (chỉ đạt trình độ sơ cấp, trung cấp) thì việc chỉ đạo
mô hình, chuyển giao kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi sẽ khó sát với thực tế Bởi thế, mô hình khuyến nông được xây dựng sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế cao Ngược lại, nếu có trình độ, họ sẽ có phương pháp tiếp cận nông dân tốt hơn, thực sự là nòng cốt của hoạt động khuyến nông tại cơ sở Họ là lực lượng bám sát cơ sở, hiểu được tập quán canh tác của nông dân nên có thể hướng dẫn, tư vấn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao Hơn nữa, họ còn có thể tham mưu cho địa phương xây dựng các chương
Trang 31trình phát triển nông - lâm nghiệp có ý nghĩa thiết thực đối với tình hình kinh tế -
xã hội của địa phương Chính vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định "lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững" (Đại hội VIII)
1.2.3 Hệ thống kết cấu hạ tầng
Một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến đường đi của công nghệ xuống đồng ruộng là cơ sở hạ tầng, mà khi nói đến cơ sở hạ tầng nông nghiệp có nghĩa là nói tới các hạng mục công trình như: đường giao thông (liên đồng, liên thôn, liên xã, liên huyện…), hệ thống thuỷ lợi (các công trình thuỷ nông tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp), hệ thống điện, công nghệ thông tin,… Sự phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động ứng dụng KHKT&CN vào nông nghiệp Ở vùng có hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển, tức là đường liên thôn, liên xã nói chung, giao thông nội đồng nói riêng nhiều và tốt, đi lại được trong mọi điều kiện thời tiết thì việc đưa tiến bộ KHKT vào đồng ruộng thuận tiện hơn, có tốc độ nhanh hơn Điều đó giải thích tại sao, ở các vùng như Tây Nguyên, trung du miền núi phía bắc lại có tỷ lệ ứng dụng máy móc thấp hơn các vùng khác Lý do cơ bản nhất chính là do địa hình phức tạp, đi lại khó khăn Thêm vào đó, đặc thù về ruộng bậc thang tại vùng này cũng hạn chế không nhỏ đến việc áp dụng KHKT vào sản xuất nông nghiệp
1.2.4 Qui mô ruộng đất
Nguồn đất sản xuất nông nghiệp từ các nông hộ đều được Nhà nước cấp quyền hợp pháp ổn định lâu dài Quỹ đất đó bao gồm đất ruộng, đất màu, đất vườn, đất bãi, đất nông lâm kết hợp, đất mặt nước Đối với việc áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp trên quỹ đất của mỗi hộ thì qui mô ruộng đất có ảnh hưởng không nhỏ:
Trang 32Bảng 1.2.1 Ảnh hưởng của quỹ đất nông nghiệp trong nông hộ đến việc áp dụng kỹ thuật mới
Quỹ đất (m2/hộ) T/lệ nhóm ADKT
mới (%)
T/lệ nhóm không ADKT mới (%)
T/lệ nhóm ADKT mới hiệu quả (%)
Nguồn: Nguyễn Huy Trí (4/2007), “Nghiên cứu một số nhân tố ảnh
hưởng đến việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới của nông dân trong phát triển nông
nghiệp hàng hoá ở vùng đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, kỳ 1, tr.9
Từ kết quả của bảng cho thấy, quỹ đất của nông hộ càng cao thì khả năng
áp dụng kỹ thuật mới càng lớn Quỹ đất nông hộ dưới 410 m2 thì tỷ lệ áp dụng
kỹ thuật mới chỉ đạt 12,40% Khi quỹ đất tăng lên1700 m2/hộ thì khả năng áp đụng tiến bộ kỹ thuật mới đã tăng lên 55,20%, và cao nhất là 73,90% với qũy đất
từ 2161m2 - 3240m2 Nhóm nông hộ có quỹ đất từ 411m2 đến 1080 m2, tỷ lệ hiệu quả áp dụng kỹ thuật mới là 30% đến 55% Nhưng khi quỹ đất bình quân hộ từ
1081 m2 lên 3240 m2 thì tỷ lệ hiệu quả của áp dụng kỹ thuật mới đã tăng từ 55% lên 82% Như vậy, khi nền nông nghiệp đã bước vào giai đoạn sản xuất hàng hoá, người nông dân cần phải được tăng dần quỹ đất nông nghiệp của họ để tăng giá trị sản xuất nông sản Việc dồn điền đổi thửa đang diễn ra hiện nay trong nông nghiệp là thể hiện thực trạng của xu thế đó
Trang 331.2.5 Chính sách của Nhà nước
Vai trò Nhà nước có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự phát triển nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng Vai trò Nhà nước đối với phát triển nông nghiệp thể hiện trước hết ở việc đề ra và thực hiện các chính sách và thể chế phù hợp để phát huy tối đa các nguồn lực cho việc nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi các thành tựu KHCN vào sản xuất nông nghiệp Tại Việt Nam, những năm sau đổi mới vai trò của Nhà nước đối với phát triển nông nghiệp được thể hiện rõ trên nhiều mặt Chẳng hạn như chương trình hỗ trợ lãi suất cho nông dân vay mua máy nông nghiệp của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến nay đã được tiến hành tại hơn 30 tỉnh, với qui mô khác nhau, phụ thuộc vào ngân sách tỉnh và sự quan tâm đến vấn đề cơ giới hoá nông nghiệp Trong thời gian 1999 - 2008, theo hình thức trả góp, tỉnh hỗ trợ lãi suất, trên toàn quốc số máy nông nghiệp các loại đã tiêu thụ được là 12.735 chiếc và 4.140 máy nuôi tôm Quan trọng hơn, những người nông dân được hỗ trợ mua máy đều sử dụng có hiệu quả, trả nợ đúng hạn, không có trường hợp nào không trả được nợ [46] Điều này cho thấy rõ vai trò của Nhà nước với các chính sách, chương trình
hỗ trợ kịp thời đã giúp người nông dân đưa những tiến bộ KHKT&CN vào đồng ruộng của mình
Để đẩy nhanh tốc độ cơ giới hoá trong nông nghiệp, Thủ tướng Chính phủ
đã phê duyệt "Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới 2020" Theo đó, thiết bị, máy móc phục vụ nông nghiệp thuộc chương trình cơ khí trọng điểm được ưu tiên đầu tư, phấn đấu đến năm 2010 ngành cơ khí đáp ứng được 45 - 50% nhu cầu sản phẩm cơ khí của cả nước Ngoài ra, chính phủ còn cho phép các tỉnh, thành phố hỗ trợ nông dân mua sắm máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp bằng ngân sách của địa phương Nhưng trong thực
tế, việc cơ khí hoá nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn là do nguồn máy móc
Trang 34sản xuất trong nước còn hạn chế về số lượng, chất lượng, chủng loại và giá cả chưa hợp lý Hiện nay, cả nước có khoảng 1.300 doanh nghiệp, cơ sở chuyên sản xuất, kinh doanh các loại máy kéo, máy nông nghiệp và thiết bị cơ khí phục vụ nông nghiệp; 1.218 cơ sở chuyên sửa chữa, bảo dưỡng, bảo hành máy móc, thiết
bị cơ khí nhưng vẫn chưa thể đáp ứng được yêu cầu [47] Chính vì vậy, vấn đề quan trọng hiện nay là phải xác định cơ sở vững chắc cho việc xây dựng đường lối, chính sách và quy hoạch đối với từng lĩnh vực cơ giới hoá Vì cơ giới hoá nông nghiệp chỉ có thể phát triển đúng hướng, vững chắc và hiệu quả khi có định hướng đúng với đầy đủ cơ sở thực tiễn khoa học
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương về ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp
1.3.1 Kinh nghiệm của Hưng Yên: đẩy mạnh công tác chuyển giao, ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp
Tại Hưng Yên, hàng năm, sở KH&CN dành đến 60% đến 70% kinh phí cho các dự án nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, nhờ đó góp phần thu hẹp dần khoảng cách giữa tốc độ tăng giá trị sản xuất và giá trị gia tăng Với hàng vạn nông dân được tiếp cận công nghệ mới mỗi năm, KH&CN đang là đòn bẩy chủ lực tạo sự bứt phá sản xuất nông nghiệp, hình thành những mô hình sản xuất cho thu nhập cao Hưng Yên xác định điểm đột phá để tăng năng suất cho nông nghiệp là giống mới, vì vậy các dự án của tỉnh thuộc lĩnh vực nông nghiệp đều tập trung vào việc nghiên cứu đưa các cây, con giống mới phù hợp với điều kiện
cụ thể của từng địa phương để sản xuất tạo sản phẩm có giá trị cao Là một tỉnh thuần nông, diện tích đất canh tác nhỏ hẹp nên con đường phát triển nông nghiệp được tỉnh Hưng Yên xác định là tạo ra các vùng nông nghiệp công nghệ cao và đưa giống mới vào phát triển sản xuất trên những vùng đất khó canh tác để chuyển dịch cơ cấu kinh tế Để đạt mục tiêu nâng giá trị thu nhập bình quân 1 ha
Trang 35đất canh tác lên 45 triệu đồng và hình thành nhiều cánh đồng thu nhập cao, sở
KH&CN Hưng Yên đã tập trung thực hiện 3 giải pháp cơ bản: Thứ nhất, đẩy
mạnh công tác chuyển giao, ứng dụng công nghệ sinh học, cung ứng các loại giống lúa cao sản, đặc sản mới bổ sung cơ cấu mùa vụ, các loại cây ăn quả đặc sản như nhãn lồng, vải thiều, cam đường canh, rau màu, cây công nghiệp mới
đáp ứng nhu cầu thị trường; Thứ hai, tập trung đẩy mạnh chăn nuôi bò lai sind,
lợn hứơng nạc và đưa các giống thuỷ cầm có hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất
với qui mô lớn tạo sản phẩm hàng hoá; Thứ ba, nghiên cứu và xây dựng các
chính sách khuyến khích đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn
Thực hiện các giải pháp đó, tỉnh Hưng Yên đặc biệt chú trọng phát triển các trang trại nông nghiệp tổng hợp qui mô lớn và công nghệ tiên tiến, khuyến khích phát triển dịch vụ KH&CN nông nghiệp và từng bước hình thành các khu vực sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tạo ra vùng chuyên canh sản xuất giống, thâm canh sản xuất nông sản hàng hoá chất lượng cao, an toàn, qui hoạch
và xây dựng mô hình ứng dụng KH&CN khai thác kinh tế vùng đất bãi [33] Tỉnh đã đầu tư 1,7 tỷ đồng để tập trung nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu giống (lúa vẫn là cây chủ lực) nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp của địa phương Chẳng hạ, Dự án "Duy trì và nâng cao năng lực của hệ thống sản xuất hạt giống lúa của tỉnh giai đoạn 2005 - 2010" đã khảo nghiệm được 24 lượt giống lúa chất lượng cao, sản xuất 22 ha, trình diễn 40 ha, sản xuất hạt giống 204 ha Các diện tích này cho năng suất trên 60tạ/ha, cung cấp trên 1220 tấn giống chất lượng cao
để nhân rộng trên các diện tích khác Hay để khai thác hiệu quả vùng đất bãi, các
hộ được hướng dẫn trồng khảo nghiệm giống lạc xuân L14 bằng công nghệ che phủ nilông trên vùng đất bãi khó canh tác Năng suất lạc đạt 100 đến 120kg/sào, cao hơn so với giống lạc cũ của địa phương từ 30 đến 50 kg/sào, thu nhập ước
Trang 36tính đạt 750 đến 800.000đồng/sào Ngoài ra Hưng Yên còn triển khai các dự án
"Xây dựng mô hình ứng dụng KH&CN phát triển nhãn lồng Hưng Yên";
"Chuyển giao KH&CN, áp dụng kỹ thuật trồng thâm canh dâu lai F1 - VH9 và nuôi tằm giống mới"; "Xây dựng mô hình trồng rau an toàn"; "Chuyển giao công nghệ và áp dụng kỹ thuật tiến bộ trồng hoa chất lượng cao" Tất cả các dự án đang cho hiệu quả kinh tế khả quan, mở ra nhiều hướng mới cho nông dân trong việc ứng dụng KHCN mới vào sản xuất [33]
1.3.2 Kinh nghiệm của Nghệ An, Quảng Ngãi: hỗ trợ nông dân mua sắm máy móc nông nghiệp
Nghệ An là tỉnh miền Trung có diện tích đất sản xuất nông nghiệp tương đối lớn, bao gồm hơn 182 ngàn ha lúa, 67 ngàn ha ngô, 57 ngàn ha cây công nghiệp ngắn ngày và trên 40 ngàn ha diện tích cây công nghiệp lâu năm như chè,
cà phê, cao su… Với mục đích tăng năng suất, giảm lao động thủ công, đảm bảo bền vững cho sản xuất nông nghiệp, từ năm 2001, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích đầu tư, cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp nông thôn như: chính sách hỗ trợ máy cày đa chức năng loại nhỏ, hỗ trợ mua máy gặt, máy sấy nông sản, quy định chính sách hỗ trợ nông dân trang bị máy hái chè… Nhờ có chính sách kích cầu mà chương trình cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp đã thực sự mang lại hiệu quả, góp phần tích cực vào việc giải phóng sức lao động, tăng năng suất và thay đổi sản xuất trên đồng ruộng, vùng nông thôn… Những chiếc máy cày, máy gặt đập liên hoàn đã phát huy hiệu quả giúp bà con nông dân chạy đua với lịch thời vụ
Theo sở NN&PTNT Nghệ An, thông qua các chính sách hỗ trợ cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp từ năm 1999 đến nay đã hỗ trợ, cung ứng cho bà con nông dân toàn tỉnh được 2.761 máy cày đa chức năng (chiếm trên 50% lượng máy của toàn tỉnh), 71 máy gặt và 100 máy hái chè Cũng thông qua
Trang 37chương trình những kiến thức về tính năng máy móc, quy trình vận hành, quản
lý, sử dụng máy đạt hiệu quả cao trong nông nghiệp, đồng thời khuyến khích vận động nông dân trang bị máy móc thiết bị trong sản xuất, thu hoạch và sau thu hoạch trong sản xuất nông nghiệp
Tại Quảng Ngãi, để giúp nông dân có điều kiện mua máy hỗ trợ làm ăn, năm 2004, tỉnh đã ban hành quyết định về việc phê duyệt phương án hỗ trợ nông, ngư dân đầu tư cơ giới hoá sản xuất nông, ngư nghiệp giai đoạn 2004 -2008 Theo quyết định thì những đối tượng vay vốn được ngân hàng cho vay tối đa 75% của giá thành mua máy móc, thiết bị, được hỗ trợ vay vốn trong 3 năm (40%, 30%,30%); hỗ trợ 100% lãi suất vay đối với số vốn vay, với mức lãi suất
do ngân hàng qui định tại thời điểm cho vay Với chính sách ưu đãi, tạo điều kiện cho nông dân mua máy làm ăn, nên bà con nông dân trong tỉnh đã vay vốn mua 273 máy nông nghiệp Nhiều nông dân trong tỉnh đã tự mua thêm máy, góp phần đưa số lượng máy cơ giới làm đất các loại tăng đáng kể Theo thống kê của ngành nông nghiệp đến nay toàn tỉnh có 2.000 máy,với công suất 30.000CV, đảm bảo đất cho gần 40.000 ha đất nông nghiệp, chủ yếu là làm đất sản xuất lúa (hơn 80%) Thực tế so với ruộng đất hiện có thì máy móc vẫn còn ít nên tỉnh đã
có chủ trương quyết định kéo dài thời gian hỗ trợ nông, ngư dân mua máy cơ giới đến năm 2011, nhằm giúp nông dân có điều kiện mua sắm máy móc làm đất thu hoạch Việc sử dụng máy móc cơ giới hoá không những ở các huyện đồng bằng, mà nay đã đưa về các huyện miền núi, góp phần đáng kể trong việc tăng năng suất lao động cho nông dân [29]
1.3.3 Kinh nghiệm của Cần Thơ: liên kết với các trường, viện để chuyển giao công nghệ cho nông dân
Nông trường sông Hậu thuộc tỉnh Cần Thơ được coi là một điểm sáng về
áp dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng
Trang 38sông Cửu Long cũng như cả nước Nông trường đã kết hợp chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu khoa học đầu ngành của miền Nam như: Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Viện Khoa học nông nghiệp Miền Nam, Trường Đại học Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Cần Thơ,… nhờ đó đã nhanh chóng tiếp nhận được những thành tựu khoa học, công nghệ mới Năm 1998, Nông trường nhận được loại máy sạ hàng từ hợp đồng với Đại học Kỹ thuật thành phố
Hồ Chí Minh rồi cải tiến thành máy gieo hạt tự hành, nhân rộng và chuyển giao cho nông trường viên Bằng cách đó, đến năm 2000, nông trường sông Hậu dẫn đầu toàn Đồng bằng sông Cửu Long về áp dụng công nghệ sạ hàng, với diện tích
áp dụng trên 3000ha Từ đó đến nay, hàng năm nông trường đã cung ứng 1.000 tấn lúa giống cho các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn Cần Thơ, cùng hàng trăm ngàn cây và con giống các loại khác Nhờ phương thức chuyển giao công nghệ như vậy mà tính đến đầu năm 2004, Nông trường đã trang bị được một hệ thống cơ giới gồm 60 máy cày, 10 máy ủi, 1000 máy bơm, 400 máy tuốt lúa, 1.300 dụng cụ gieo sạ theo hàng, 12 máy cạp, 18 cần kabelco Nhờ trang bị được nhiều máy móc nông nghiệp đến nay tại nông trường đã có trên 100% diện được cơ giới hoá, điện khí hoá và thuỷ lợi hoá [23] Còn ở thành phố Cần Thơ, thực hiện thí điểm chương trình kỹ thuật canh tác 1 phải, 5 giảm (phải sử dụng giống xác nhận để gieo sạ, giảm phân, giống, thuốc bảo vệ thực vật, chi phí bơm tát và hao hụt sau thu hoạch) đã tăng được năng suất lúa bình quân và giảm được chi phí sản xuất Ví dụ vào vụ mùa đông - xuân 2005 - 2006 rầy nâu xuất hiện phá hại lúa nhiều nhưng cán bộ BVTV, khuyến nông hướng dẫn nông dân về kỹ thuật canh tác, phương pháp áp dụng chương trình 1 phải, 5 giảm vào sản xuất
đã hạn chế được đáng kể rầy nâu phá hại và việc phòng trị cũng có hiệu quả hơn, lúa không bị giảm năng suất Có chương trình này nông dân càng an tâm sản xuất lúa chất lượng cao, lúa thơm… Thực hiện biện pháp này, năng suất bình
Trang 39quân của các ruộng lúa thí điểm đạt khoảng 7 tấn/ ha, chi phí sản xuất giảm từ 1
- 1,2 triệu đồng/ha, nhờ đó tăng thêm lợi nhuận cho người sản xuất Từ hiệu quả thiết thực của chương trình1 phải, 5 giảm đem lại, nông dân đã nhận thức được của KHKT đối với phát triển nông nghiệp và đồng tình ủng hộ, tự nguyện làm theo [27] Hiện nay, chương trình đã được nhân rộng tại nhiều địa phương trong
và ngoài tỉnh góp phần đem lại lợi nhuận cao cho nông dân, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái ngày càng bền vững
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ
TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 Các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Nam Định ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp và ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp
Nam Định có diện tích tự nhiên 1649.9km2 bằng 0,5% diện tích cả nước
và 11,12% diện tích đồng bằng Bắc Bộ; đứng thứ 57 về diện tích trong số 61 tỉnh thành cả nước, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 115.174,2ha, chiếm tới 63,8%, đất phi nông nghiệp: 46.247,7ha, đất chưa sử dụng: 3.583,5ha [8, tr.10] Vùng đồng bằng của tỉnh Nam Định khá rộng là điều kiện thuận lợi để nông dân ứng dụng các thành tựu của KHCN vào sản xuất nông nghiệp, nhất là cơ giới hoá các khâu làm đất, thu hoạch, vận chuyển
Bờ biển của tỉnh dài 72km thuộc 3 huyện (Hải Hậu, Xuân Trường, Giao Thuỷ) Tốc độ bồi tụ bình quân trên 400 ha/năm Vùng đất ven biển phì nhiêu Đất nông nghiệp có tầng canh tác khá dầy, phì nhiêu màu mỡ, hàm lượng dinh dưỡng khá cao và còn nhiều khả năng mở rộng diện tích gieo trồng bằng tăng vụ,