1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thuế thu nhập cá nhân kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở việt nam luận văn ths kinh tế 60 31 01 pdf

116 416 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tùy theo chính sách thuế của mỗi nước mà nội dung, phương pháp xác định các khoản thu nhập phát sinh đều có khả năng xếp vào thu nhập chịu thuế theo nguyên tắc: Một là, về nguyên tắc, tấ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHÍ MẠNH HỒNG

HÀ NỘI – 2008

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: Thuế thu nhập cá nhân và kinh nghiệm quốc tế về thực thi thuế thu nhập cá nhân 9

1.1.Những vấn đề chung về thuế thu nhập cá nhân 9

1.1.1 Thu nhập cá nhân 9

1.1.2 Thuế thu nhập cá nhân 14

1.2 Thuế TNCN trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 24

1.2.1 Thuế thu nhập cá nhân và xu hướng cải cách thuế thu nhập cá nhân trên thế giới 24

1.2.2 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 35

Chương 2: Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam giai đoạn 1991 - 2007 37

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển thuế TNCN ở Việt Nam 37

2.2 Đánh giá tình hình thực thi thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam giai đoạn 1991 - 2007 42

2.2.1 Những thành tựu đạt được 42

2.2.2 Những hạn chế còn tồn tại 47

2.2.3 Nguyên nhân 64

2.3.Luật thuế thu nhập cá nhân 67

2.3.1 Những điểm mới và tính khả thi của Luật thuế TNCN 68

2.3.2 Những vấn đề đặt ra của Luật thuế thu nhập cá nhân 77

Chương 3: Một số quan điểm, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 81

3.1 Bối cảnh kinh tế nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với hiện trạng thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 81

Trang 3

3.2 Quan điểm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi của thuế thu nhập cá

nhân ở Việt Nam 83

3.2.1 Đáp ứng được yêu cầu về sự công bằng xã hội 83

3.2.2 Đảm bảo tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước 84

3.2.3 Đáp ứng được yêu cầu hiệu quả của chính sách 86

3.2.4 Cơ cấu chính sách thuế phải đơn giản 86

3.2.5 Đảm bảo yêu cầu cải cách hành chính và hiện đại hóa công tác quản lý thu thuế 87

3.2.6 Phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo cơ sở thuận lợi cho quá trình hội nhập 88

3.3 Một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 89

3.3.1 Hoàn thiện sắc thuế thu nhập cá nhân 89

3.3.2 Nâng cao hiệu quả quản lý thuế thu nhập cá nhân 94

3.3.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giải đáp chính sách thuế 104

Kết luận 105

Tài liệu tham khảo 107

MỞ ĐẦU

Trang 4

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời kỳ quá độ chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa chỉ huy, tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng được sử dụng như một công cụ kinh tế hữu hiệu của nhà nước để điều tiết các hoạt động kinh tế

và có vai trò rất quan trọng để phân phối lại thu nhập và đảm bảo công bằng

xã hội

Thuế thu nhập cá nhân ra đời rất lâu trong lịch sử thuế khóa và được coi là loại thuế quan trọng nhất để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội Cho đến nay, thuế thu nhập cá nhân đã trở thành một loại thuế cơ bản, giữ vai trò trung tâm trong hệ thống thuế của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển Bởi ngoài mục tiêu phân phối lại, thuế thu nhập cá nhân còn

là hình thức thuế có tỷ trọng đóng góp cao trong tổng nguồn thu ngân sách của nhà nước

Ở Việt Nam, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã được Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành từ năm 1991 - hình thức thuế thu nhập cá nhân có phạm vi áp dụng hẹp và đến nay đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung Qua một thời gian áp dụng Pháp lệnh, bên cạnh những mặt tích cực không thể phủ nhận, cũng nhận thấy những bất cập nhất định: thiếu công bằng, chưa hiệu quả… nên đã hạn chế vai trò rất quan trọng của thuế thu nhập

cá nhân Hơn thế nữa, sau hơn 20 năm đổi mới kinh tế, tình hình và điều kiện kinh tế Việt Nam đã có những biến đổi to lớn:

Thứ nhất, việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu,

bao cấp sang nền kinh tế thị trường cùng với việc hội nhập sâu rộng vào kinh

tế khu vực và thế giới đã tạo những điều kiện cũng như những tiền đề cần thiết để nâng cao mức thu nhập, mức sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội Bên cạnh đó, nó cũng tạo ra và làm giãn cách mức chênh lệch ngày càng

Trang 5

tăng trong thu nhập của các tầng lớp dân cư Việc duy trì chính sách thuế thu nhập cá nhân như cũ sẽ tạo nên sự bất bình đẳng ngày càng tăng trong phân phối thu nhập giữa các tầng lớp dân cư đồng thời tạo nên sự thất thu ngân sách khá lớn về thuế thu nhập cá nhân

Thứ hai, xây dựng Luật thuế thu nhập cá nhân là tiền đề để nhà nước

thực hiện việc quản lý các nguồn thu nhập trong xã hội, hạn chế những khoản thu nhập ngầm, thực hiện tốt vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế

Thứ ba, xây dựng Luật thuế thu nhập cá nhân còn là yêu cầu của quá

trình toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế quốc dân, làm cho chính sách thuế của Việt Nam phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho nuớc

ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới

Do vậy, việc tiếp tục hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân được đặt ra trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay là vấn đề thời sự cấp thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới cơ chế chính sách tài chính quốc gia nói chung và phục vụ thiết thực cho công cuộc cải cách thuế đạt kết quả cao Việc xây dựng Luật thuế thu nhập cá nhân đã được xác định tại các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và X, Chiến lược cải cách thuế đến 2010 đã được Bộ chính trị thông qua: “Áp dụng thuế thu nhập cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, đảm bảo công bằng xã hội, tạo động lực phát triển” Tháng 9/2006, Bộ tài chính và Tổng cục thuế đã ban hành Dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân Tháng 11/2007, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật thuế thu nhập cá nhân và sẽ chính thức có hiệu lực vào tháng 01/2009 Việc ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân là một bước tiến trong nỗ lực cải cách thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam nhưng việc thực thi Luật như thế nào để vừa phát huy tính hiệu quả vừa đảm bảo tính công bằng của thuế thu nhập cá nhân là một vấn đề gây nhiều tranh cãi trong các nhà kinh tế cũng như toàn xã hội

Trang 6

Vì những lý do trên, “Thuế thu nhập cá nhân: kinh nghiệm quốc tế và

việc thực thi ở Việt Nam” được chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế ra đời rất sớm trong lịch sử thuế khóa nhưng ở Việt Nam, nó mới chỉ được ban hành dưới dạng Pháp lệnh thuế thu nhập cho người có thu nhập cao từ năm 1991 Vì vậy, cho đến nay chưa

có nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt về vấn đề này Qua tìm hiểu, tác giả thấy có 2 công trình nổi bật nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân

- Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và định hướng hoàn thiện, Luận

án Phó tiến sỹ khoa học của tác giả Vũ Xuân Trường, 1995

- Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, tác giả PGS TS Lê Văn Ái, TS Đỗ Đức Minh, NXB Tài chính, 2002

Hai công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá tình hình thực thi Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao – phạm

vi áp dụng hẹp của thuế thu nhập cá nhân, chưa phân tích đầy đủ nội dung của sắc thuế thu nhập cá nhân và thời gian nghiên cứu từ năm 2001 trở về trước, trong tình hình hiện nay không còn phù hợp Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác nhưng chỉ ở dạng những bài báo đăng trên các báo tạp chí, những báo cáo trong hội thảo khoa học Những bài báo từ năm 2006 trở

về trước chỉ nghiên cứu về Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và sự cần thiết phải xây dựng Luật thuế thu nhập cá nhân Nhìn chung, các công trình này đã đề cập đến thuế thu nhập cá nhân nhưng do đã nghiên cứu trong thời gian trước, chưa phản ánh hết tác động của thuế thu nhập cá nhân đến nền kinh tế trong những biến đổi của điều kiện hoàn cảnh của nước

ta Những bài báo từ năm 2007 đến nay, chủ yếu phân tích những nội dung trong Luật thuế thu nhập cá nhân, chưa đề cập một cách hệ thống việc thực thi

Trang 7

Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam Hơn thế nữa, các công trình này chủ yếu xem xét thuế thu nhập cá nhân dưới góc độ phân tích chính sách tài chính của nhà nước

Bản thân tác giả có khóa luận tốt nghiệp về vấn đề này, song trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp, chưa thể phân tích hết và thấu đáo những nội dung của thuế thu nhập cá nhân Hơn thế nữa, tháng 09/2006, Bộ tài chính đã công bố Dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân nhằm thay thế cho Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành Việc Bộ Tài chính công bố dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân là một sự kiện thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội trong suốt thời gian qua bởi tính nhạy cảm đặc biệt của nó Tháng 11/2007, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

đã thông qua Luật thuế thu nhập cá nhân và chính thức được áp dụng vào tháng 01/2009 Đây là một bước tiến đáng khích lệ trong việc xây dựng một chính sách thuế thu nhập bảo đảm tính khoa học, công bằng, minh bạch, phù hợp với sự phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của nước ta Cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu và đánh giá đầy đủ

về Luật này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài đề ra các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong thời gian tới

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống hóa vấn đề cơ bản của thuế thu nhập cá nhân từ góc

độ lý luận và thực tiễn

- Phân tích xu hướng áp dụng và cải cách thuế thu nhập cá nhân

ở một số nước trên thế giới

- Thực trạng thực thi thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra

Trang 8

- Đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn

áp dụng thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam dưới góc độ kinh tế chính trị và kinh tế học công cộng, không nghiên cứu những vấn đề có tính chất tác nghiệp trong quá trình hành thu thuế thu nhập cá nhân

Phạm vi nghiên cứu: Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được vận dụng trong đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh… trong quá trình nghiên cứu

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Khái quát kinh nghiệm thực thi thuế thu nhập cá nhân ở một số quốc gia cũng như xu hướng cải cách thuế thu nhập cá nhân trên thế giới, trên cơ sở

đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- Phân tích thực trạng thực thi thuế thu nhập cá nhân ở nước ta kể từ khi Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được ban hành, chỉ ra những mặt đạt được, những mặt hạn chế cũng như những nguyên nhân của những hạn chế này

- Phân tích, đánh giá Luật thuế thu nhập cá nhân đã được Quốc hội thông qua trên cơ sở so sánh với những Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người

có thu nhập cao đã ban hành

Trang 9

- Đưa ra các quan điểm, các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong thời gian tới

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được trình bày thành 3 chương:

Chương 1: Thuế thu nhập cá nhân và kinh nghiệm quốc tế về thực thi thuế thu nhập cá nhân

Chương 2: Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam giai đoạn 1991 - 2007 Chương 3: Một số quan điểm, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1: THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

VỀ THỰC THI THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1.Những vấn đề chung về thuế thu nhập cá nhân

1.1.1 Thu nhập cá nhân

1.1.1.1 Khái niệm

Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa thu nhập trong các công trình nghiên cứu Mặc dù Joseph E Stiglitz cho rằng "quan

niệm thu nhập về lý thuyết dường như là là khá đơn giản" [13, tr.459] nhưng

đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất, đầy đủ và tổng quát về khái niệm thu nhập Tùy theo mục đích nghiên cứu, các nhà kinh tế học và các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm khác nhau về thu nhập

Hai nhà kinh tế học người Anh là R M Haig và H.C Simons vào đầu thế kỷ XX đã đưa ra khái niệm về thu nhập - Định nghĩa Haig - Simons: "Thu nhập là giá trị tiền tăng thực tế trong khả năng từng cá nhân để tiêu dùng trong suốt một khoảng thời gian nào đó" [1, tr.7] Đây được coi là một cách tính thu nhập lý tưởng và hoàn thiện Việc cộng thêm vào thu nhập được tính đến bởi vì chúng thể hiện sự tăng lên của khoản thu nhập tiềm tàng nhưng khó thực hiện được trong thực tế vì giá trị tăng thêm mới chỉ dừng lại dưới dạng tiềm năng và được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau

Nhà kinh tế học G S Chant cho rằng "thu nhập là một khả năng kinh tế

sẽ được bổ sung cho một người nào đó trong một khoảng thời gian nhất định, không kể khoản này có lặp lại hay không, được cấu thành như thế nào và anh

ta được tùy ý sử dụng" Như vậy, theo định nghĩa này, thu nhập là mọi khoản

Trang 11

thu nhập ròng từ các nguồn đã khấu trừ các chi phí để tạo ra thu nhập ròng Nhà kinh tế học người Mỹ Samuelson cũng đưa ra định nghĩa về thu nhập một cách đầy đủ hơn: "thu nhập là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định, (thường là 1 năm)" Trong các định nghĩa này, mặc dù chưa phản ánh đầy đủ các khía cạnh của thu nhập nhưng tổng hợp lại cho thấy thu nhập có một số đặc điểm chung: thu nhập thuộc về một chủ thể trong xã hội - tính sở hữu của thu nhập, được xác định trong một khoảng thời gian nhất định, được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và được hình thành thông qua quá trình phân phối và phân phối lại do thị trường và nhà nước thực hiện

Qua phân tích những đặc điểm trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thu nhập: "Thu nhập là tổng các giá trị nhận được, thu được trong một khoảng thời gian nhất định" Các giá trị ở đây được biểu hiện bằng tiền tệ, giá trị các hình thức vật chất, phi vật chất, không phân biệt nguồn hình thành thu nhập là từ lao động hay từ tài sản Từ khái niệm này có thể rút ra "thu nhập cá nhân là tổng các giá trị nhận được, thu được trong một khoảng thời gian (thường là 1 năm) của một cá nhân nào đó, không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập

Thu nhập cá nhân là một bộ phận rất quan trọng trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một quốc gia vì đại bộ phận thu nhập quốc dân sau quá trình phân phối và phân phối lại sẽ được phân chia cho các thành viên trong

xã hội dưới hình thức bằng tiền, bằng hiện vật hay các phúc lợi xã hội

Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và mục đích nghiên cứu mà thu nhập được chia thành nhiều loại khác nhau

Căn cứ vào nguồn tạo ra thu nhập có thể phân chia thành: thu nhập từ lao động (tiền công, tiền lương, tiền thưởng…) và thu nhập không từ lao động

Trang 12

(thu nhập từ tài sản, thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ đầu tư, thu nhập từ thừa kế, chuyển nhượng, thu nhập từ quyền sở hữu vốn, quà biếu, quà tặng…)

Căn cứ vào tính chất phát sinh thu nhập đều đặn hay không mà người ta phân chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên

Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ phát sinh thu nhập có thu nhập phát sinh trong nước và thu nhập phát sinh ở nước ngoài

Căn cứ vào tính pháp lý của thu nhập mà chúng ta có thể chia thành thu nhập hợp pháp và thu nhập không hợp pháp Thu nhập hợp pháp là thu nhập được tạo ra từ hoạt động hợp pháp và được nhà nước bảo vệ Thu nhập bất hợp pháp là thu nhập được tạo ra từ hoạt động bất hợp pháp nên nhà nước không thể kiểm soát được và do đó không được pháp luật bảo vệ

Mặc dù có nhiều loại thu nhập nhưng không phải thu nhập nào cũng là đối tượng điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân Phần thu nhập chịu thuế phụ thuộc vào chính sách thuế của mỗi quốc gia quy định

1.1.1.2 Sự bất bình đẳng về thu nhập

Trong xã hội mà nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường thì sự bất bình đẳng về thu nhập là một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến cần được nghiên cứu để nhà nước với chức năng tác động và điều chỉnh cần can thiệp ở mức độ hợp lý nhằm thiết lập công bằng xã hội

Sự bất bình đẳng về thu nhập là hiện tượng phổ biến và gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Một trong những cách tiếp cận mối quan

hệ giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế và sự bất bình đẳng về thu nhập được thể hiện trên đồ thị:

Trang 13

Hình 1.1 cho thấy trong giai đoạn đầu, nền kinh tế đang phát triển, đang trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, nền kinh tế bắt đầu có tăng trưởng, mục tiêu của nền kinh tế là gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, huy động mọi nguồn lực cho mục tiêu này Trong thời gian này, các quốc gia có thể chấp nhận sự bất bình đẳng và chưa thể phân phối lại, người nào sở hữu nhiều nguồn lực hơn sẽ có thu nhập cao hơn Vì vậy, sự bất bình đẳng về thu nhập

có thể ngày càng gia tăng do mục tiêu tăng trưởng kinh tế thường được ưu tiên đặt lên hàng đầu Nhưng khi nền kinh tế đã đạt đến một trình độ phát triển nhất định thì nền kinh tế càng phát triển, cơ hội gia tăng thu nhập cao hơn cho mọi người dân và nhà nước có điều kiện phân phối lại nhiều hơn nên mức độ bất bình đẳng về thu nhập sẽ giảm xuống

Sự bất bình đẳng về thu nhập trong nền kinh tế thị trường do nhiều nguyên nhân:

Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường thì mọi hoạt động phân phối đều

thông qua cơ chế tự điều tiết theo các quy luật kinh tế của thị trường Nói một cách cụ thể, trong điều kiện cơ chế thị trường, các yếu tố sản xuất thông qua thị trường (thuê, mua) để tham gia vào quá trình sản xuất, và rồi sau đó, các kết quả của quá trình sản xuất lại được phân phối cho các yếu tố sản xuất theo

Trang 14

mức độ mà chúng tham gia (năng suất biên hay sản phẩm biên của mỗi yếu tố sản xuất) trong kết quả đó Điều này nghĩa là tổng sản phẩm xã hội sẽ được phân phối theo mỗi loại yếu tố sản xuất như vốn, lao động, đất đai… tùy theo năng lực tham gia của chúng vào kết quả cuối cùng Phương thức phân phối này là động lực thúc đẩy người sở hữu cũng như sử dụng phải lựa chọn và phát huy hiệu quả tối ưu của mỗi yếu tố sản xuất - điều kiện bắt buộc để nền kinh tế thị trường có thể phát triển hiệu quả Song do nhiều điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và lịch sử khác nhau mà các thành viên trong xã hội không phải ai cũng có tình trạng như nhau về các yếu tố sản xuất Chẳng hạn, đối với yếu tố lao động, bản thân từng cá nhân có sự khác nhau đáng kể về khả năng nhận thức, thể lực, trình độ giáo dục, đào tạo, hoàn cảnh, năng lực, vị trí công tác… Thêm vào đó, mỗi cá nhân trong xã hội cũng rất khác nhau trong việc

sở hữu những của cải và tài sản sinh lợi Những khác nhau này cùng với nguyên tắc bình đẳng trong các giao dịch thị trường và phân phối kết quả hoạt động kinh tế đã đưa đến hệ quả là sự khác biệt trong thu nhập và sự bất bình đẳng giữa người này và người khác, tầng lớp xã hội này với tầng lớp xã hội khác

Thứ hai, những nhân tố có tính chất xã hội, khách quan tác động đến tất

cả người lao động và tài sản của họ cũng gây ra hiện tượng bất bình đẳng về thu nhập Trình độ phát triển chung của quốc gia, các biện pháp hành chính

mà nhà nước sử dụng để can thiệp vào việc phân phối thu nhập: chính sách trợ cấp xã hội, quy định mức lương tối thiểu… cũng ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của từng cá nhân trong xã hội

Nền kinh tế thị trường càng phát triển, nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng lớn và khoảng cách giàu nghèo trong xã hội càng sâu sắc, tác động tiêu cực đến sự phát triển của mỗi quốc gia Hình 1.1 cho thấy, đối với các quốc gia đang phát triển như

Trang 15

Việt Nam, hiện tượng bất bình đẳng về thu nhập sẽ ngày càng gia tăng cùng với tốc độ phát triển kinh tế Hiện tượng này chỉ giảm dần khi nền kinh tế đạt đến một trình độ phát triển cao nhất định trên hình 1.1 Khi đó, của cải vật chất được sản xuất ra đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người và những khuyết tật của thị trường cũng dần được giải quyết

Bất bình đẳng về thu nhập gây ra hiện tượng mất công bằng trong xã hội Theo quy luật độ thỏa dụng giảm dần, bất bình đẳng về thu nhập sẽ làm giảm lợi ích chung của toàn xã hội Mặt khác, bất bình đẳng về thu nhập vừa

là hậu quả song cũng là nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng về giáo dục và đào tạo, duy trì "chu kỳ nghèo khổ", cản trở sự phát triển của đất nước và gây mất ổn định xã hội Phân phối lại và giải quyết bất công sẽ góp phần nâng cao

độ thỏa dụng toàn xã hội

Tình hình nói trên khiến mỗi nhà nước cần thiết phải can thiệp vào nền kinh tế để giảm thiểu sự bình đẳng về thu nhập Một công cụ rất quan trọng và mang lại hiệu quả cao để giải quyết vấn đề này là thuế thu nhập cá nhân Các chính phủ sử dụng thuế thu nhập cá nhân để phân bổ gánh nặng thuế giữa các tầng lớp, nhóm dân cư khác nhau trong xã hội theo khả năng chi trả của họ để thiết lập sự bình đẳng về thu nhập và tạo nguồn để chính phủ thực hiện các chương trình công cộng khác

1.1.2 Thuế thu nhập cá nhân

1.1.2.1 Khái niệm

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi

cá nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định

Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ rất lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới Cho đến nay, trên thế giới đã có khoảng trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ áp dụng thuế thu nhập cá nhân Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế

Trang 16

có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và góp phần điều tiết nền kinh tế

Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của thuế thu nhập cá nhân do 3 nguyên nhân cơ bản:

Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo

sự công bằng trong phân phối thu nhập Điều này là thật sự cần thiết trong nền kinh tế thị trường bởi sự tồn tại phổ biến của sự bất bình đẳng về thu nhập ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế Mặt khác, việc áp dụng thuế gián thu mới chỉ đảm bảo sự công bằng theo chiều ngang Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế và điều tiết thu nhập của người nộp thuế theo khả năng của họ Vì thế, thuế thu nhập cá nhân còn đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc Hơn thế nữa, một trong những lý thuyết của Keynes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập cho rằng mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp Việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân sẽ giúp làm tăng phúc lợi xã hội bằng cách điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao và phân phối lại cho những người có thu nhập thấp hơn

Thứ hai, thuế thu nhập cá nhân ra đời còn bắt nguồn từ nhu cầu chi tiêu

ngày càng tăng của nhà nước cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng gia tăng của mỗi quốc gia Trước xu thế toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, sự giảm dần hàng rào thuế quan do yêu cầu của tự do hóa thương mại là một tất yếu, ảnh hưởng và làm giảm đáng kể nguồn thu ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu ngân sách cũng thay đổi theo hướng nguồn thu tích lũy từ trong nước tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước.Vì vậy, nguồn thu chủ yếu cho ngân sách quốc gia là từ thuế hàng hóa, thuế thu nhập doanh nghiệp

và thuế thu nhập cá nhân Trong đó, thuế thu nhập cá nhân là nguồn tài chính

Trang 17

lớn, góp phần nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu ngân sách nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

1.1.2.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân

Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân là một công cụ phân phối đảm bảo công bằng xã hội

Một trong những khuyết tật của kinh tế thị trường là sự phân phối không công bằng và đi cùng với nó là quá trình phân hóa giàu nghèo và sự bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập nhận được của các cá nhân Thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập của cá nhân sau khi đã trừ đi khoản thu nhập để bù đắp chi phí cần thiết để đủ nuôi sống bản thân và gia đình Phương pháp đánh thuế thu nhập cá nhân theo biểu thuế lũy tiến đảm bảo yếu

tố công bằng, khi thu nhập càng cao thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm Thông qua thuế thu nhập cá nhân, nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao, san bằng tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa các

cá nhân trong xã hội

Để thấy rõ vai trò của thuế thu nhập cá nhân tác động đến sự phân phối công bằng trong xã hội, có thể xem xét đường cong Lorenz:

Trang 18

Hình 1.2: Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng

trong phân phối thu nhập

Nguồn: Kinh tế học công cộng - Joeseph E Stiglitz - NXB Khoa học kỹ thuật,

1995

Trên đồ thị, đường cong Lorenz càng gần đường phân giác thì càng phản ánh sự công bằng trong phân phối thu nhập Thuế thu nhập cá nhân với phương pháp đánh thuế lũy tiến sẽ có vai trò điều tiết thu nhập của các cá nhân trong xã hội, đẩy đường cong phân phối thu nhập vào phía trong như hình 1.2, và do đó sẽ góp phần đảm bảo giảm bớt sự bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội

Hơn thế nữa, thông qua khoản thu từ thuế thu nhập cá nhân cho ngân sách nhà nước, các chính phủ còn thể hiện được chức năng đảm bảo công bằng trong xã hội bằng việc thực hiện chi ngân sách cho các công trình công cộng, bảo đảm an sinh xã hội, trợ cấp cho người có thu nhập thấp Hay nói cách khác, các chính phủ dùng nguồn thu từ thuế thu nhập của các cá nhân có thu nhập cao trong xã hội để thực hiện công bằng xã hội

GDP %

Dân cư %

Thu nhập được phân phối công bằng

Thu nhập trước thuế

Thu nhập sau thuế

Trang 19

Thứ hai, thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng của nhà nước

Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức tạo ra nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển Hiện nay, ở nhiều nước phát triển trên thế giới, thuế thu nhập cá nhân ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách của nhà nước:

Mỹ (52,2%), Nhật Bản (69,4%), Canada (53,68%), Australia

(62,05%)…(Nguồn: Báo cáo của tổng cục thuế năm 2006) Đối với các nước

đang phát triển, thuế thu nhập cá nhân chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với các nước phát triển nhưng cũng đang tăng dần lên cùng với sự phát triển của nền

kinh tế các quốc gia này: Thái Lan (32,4%), Trung Quốc (48,35%)… (Nguồn:

Báo cáo của tổng cục thuế năm 2006)

Ở Việt Nam, thuế thu nhập cá nhân hiện nay tuy chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu ngân sách nhà nước song trong điều kiện phát triển kinh tế nhanh, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ thì tỷ trọng của thuế thu nhập cá nhân trong tổng thu ngân sách nhà nước trong tương lai sẽ ngày càng gia tăng nhanh

1.1.2.3 Những yêu cầu của một hệ thống thuế thu nhập cá nhân

Một hệ thống thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng được đánh giá là tốt khi đạt được 5 thuộc tính:

Thứ nhất, tính hiệu quả kinh tế Hệ thống thuế thu nhập cá nhân có thể

tác động tiêu cực tới sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực Việc đánh thuế thu nhập với mức thu nhập tối thiểu chịu thuế quá thấp cộng thuế suất cao sẽ làm cho các cá nhân tìm kiếm cơ hội phân bổ nguồn lực sang làm các việc làm không chịu sự kiềm chế của thuế thu nhập Điều này càng dễ dàng xảy ra ở các nước đang phát triển, khi khu vực kinh tế phi chính thức rất phát triển và

Trang 20

chính phủ hầu như không thể kiểm soát được khu vực này Vì thế, một hệ thống thuế tốt phải là hệ thống ít gây ra tổn thất hiệu quả

Thứ hai, tính đơn giản về mặt hành chính Hệ thống thuế thu nhập cá

nhân phải đơn giản để dễ dàng quản lý và không tốn kém về mặt hành chính

Sự đơn giản ở đây là đối với cả người nộp thuế, người thu thuế và ít tốn kém chi phí Những chi phí được tính đến ở đây bao gồm cả chi phí trực tiếp (chi phí cho bộ máy quản lý) và chi phí gián tiếp (chi phí về thời gian và công sức

mà các cá nhân bỏ ra để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế) Trong một nền kinh tế

mà đa số các giao dịch được thực hiện bằng tiền mặt thì việc đánh thuế thu nhập gặp rất nhiều khó khăn và chi phí trực tiếp cũng như gián tiếp sẽ tương đối lớn Đặc biệt, khi năng lực tổ chức bộ máy và năng lực của cán bộ thu thuế không cao thì tính phức tạp sẽ tăng lên và theo đó, chi phí cũng lớn lên

Thứ ba, tính linh hoạt Hệ thống thuế phải có khả năng phản ứng dễ

dàng đối với những thay đổi trong hoàn cảnh kinh tế (mức tăng thu nhập, lạm phát…) Thuế thu nhập cá nhân thường có độ trễ so với thay đổi GNP của nền kinh tế, hệ thống thuế phải có khả năng thích ứng một cách dễ dàng, trong một số trường hợp phải tự động thích ứng với những thay đổi của nền kinh tế

Thứ tư, tính trách nhiệm về mặt chính trị Hệ thống thuế thu nhập cá

nhân cần phải được xây dựng để xác lập quan hệ quyền và trách nhiệm của giữa nhà nước và công dân một cách rõ ràng và minh bạch Hành vi thu - nộp thuế thu nhập cá nhân phản ánh mối quan hệ giữa công dân và nhà nước Thuế là công cụ để nhà nước thực thi vai trò điều tiết thu nhập giữa người giàu và người nghèo để tạo lập và duy trì công bằng xã hội Nhưng mặt khác, việc nộp thuế thu nhập còn là cách người nộp thuế thể hiện trách nhiệm công dân của mình Ngoài ra, bằng việc nộp thuế để nuôi sống nhà nước, người đóng thuế thể hiện quyền lực của mình đối với nhà nước: nhà nước do dân (dân bầu ra nhà nước), của dân (dân nuôi nhà nước) và vì thế phải phục vụ

Trang 21

dân (vì dân) Đóng thuế không đơn thuần là sự bắt buộc mà còn hàm nghĩa

"trách nhiệm" và "quyền lợi" của người dân Đóng thuế tức là khẳng định quyền của dân, là hành vi xác nhận tư cách công dân và trình độ dân chủ đích thực của người dân Ngược lại, khi hệ thống thuế thu nhập ra đời, cách thức chi tiêu ngân sách của chính phủ cũng cần phải công khai, minh bạch và thực

sự mang lại lợi ích cho đa số dân chúng Đây là thuộc tính rất quan trọng của

hệ thống thuế thu nhập cá nhân mà ở các nước đang phát triển chưa được hiểu đầy đủ, thậm chí bỏ qua

Thứ năm, tính công bằng Hệ thống thống thuế phải đối xử công bằng

với các cá nhân bao gồm cả công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc Nghĩa là những người có thu nhập như nhau phải nộp thuế như nhau, những người có thu nhập khác nhau phải nộp thuế khác nhau

1.1.2.4 Nguyên tắc đánh thuế thu nhập cá nhân

Thứ nhất, đánh thuế trên cơ sở thu nhập hiện hữu

Mặc dù mỗi cá nhân có nhiều nguồn thu nhập khác nhau, nhưng trên thực tế không phải toàn bộ thu nhập phát sinh đều là đối tượng điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập quy định cơ sở đánh thuế thu nhập Vì vậy, thu nhập chịu thuế được xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi miễn trừ một số khoản chi phí của người nộp thuế Tùy theo chính sách thuế của mỗi nước mà nội dung, phương pháp xác định các khoản thu nhập phát sinh đều có khả năng xếp vào thu nhập chịu thuế theo nguyên tắc:

Một là, về nguyên tắc, tất cả các khoản thu nhập phát sinh dù bằng tiền hay hiện vật không phân biệt từ nguồn sản xuất hay kinh doanh hay từ lao động, đầu tư đều có thể được xếp vào thu nhập chịu thuế sau khi loại bỏ đi những khoản thu nhập được pháp luật quy định không phải chịu thuế thu

Trang 22

nhập Nói cách khác, thu nhập chịu thuế phải gồm hầu hết các khoản thu nhập chủ yếu phát sinh, không phân biệt hình thái và nguồn gốc của chúng

Hai là, thu nhập chịu thuế phải là thu nhập ròng nghĩa là khoản thu nhập sau khi trừ đi các chi phí để tạo ra nó và các khoản thu nhập được giảm trừ

Ba là, việc xác định thu nhập chịu thuế phải đảm bảo tính khả thi cho công tác quản lý Một số nhà kinh tế đưa ra quan điểm cho rằng nên đánh thuế trên cơ sở thu nhập hoàn chỉnh: tức là thu nhập hiện hữu cộng lãi vốn dù là lãi

có thực hay mới chỉ là hứa hẹn Tuy nhiên, ý tưởng này có tính khả thi kém

do sự phức tạp và không chắc chắn của việc xác định thu nhập chịu thuế Do

đó, đa số các nhà hoạch định chính sách thuế đều nhất trí cho rằng thu nhập chịu thuế chỉ nên giới hạn trong phạm vi thu nhập hiện hữu

Ở hầu hết các nước thu nhập chịu thuế được xác định trong các trường hợp cụ thể sau:

- Thu nhập phát sinh từ những giao dịch trên thị trường dưới hình

thức tiền tệ

- Thu nhập phát sinh từ những giao dịch trên thị trường dưới hình thức tiền tệ sau khi trừ đi các khoản chi phí khách quan gắn liền với quá trình tạo ra thu nhập (cả chi phí sản xuất và chi phí khách quan khác) Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của từng nước mà các khoản chi phí miễn trừ này được quy định khác nhau

Thứ hai, đánh thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp lũy tiến

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, vì vậy, nó có vai trò điều tiết đảm bảo sự công bằng xã hội Muốn thực hiện vai trò đó, thuế thu nhập cá nhân phải được thiết kế theo phương pháp lũy tiến Phương pháp này một mặt

để bù lại tính lũy thoái của các loại thuế gián thu, mặt khác để hạn chế sự

Trang 23

phân hóa giàu nghèo và đảm bảo sự công bằng trong xã hội Đây cũng chính

là đặc trưng quan trọng nhất của thuế thu nhập cá nhân Thuế suất lũy tiến đảm bảo tỷ lệ nộp thuế so với thu nhập càng tăng khi mức thu nhập tăng lên Thuế suất lũy tiến được coi là phương pháp hiệu quả nhất để đánh thuế theo khả năng nộp thuế của cá nhân Tuy nhiên để tính được mức thuế cho phù hợp

là không đơn giản

Các nhà kinh tế học cuối thế kỷ XIX đều cho rằng khi thu nhập càng tăng thì độ thỏa dụng biên của thu nhập càng giảm Thuế thu nhập cá nhân và

sự phân phối lại thu nhập của nhà nước từ người giàu sang người nghèo làm tăng tổng thu nhập biên của xã hội

Tuy nhiên, xung quanh vấn đề áp dụng nguyên tắc lũy tiến đối với thuế thu nhập cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, tính lũy tiến của thuế thu nhập cũng cần có giới hạn với mức thuế suất hợp lý theo mô hình đường cong Laffer và khi áp dụng nguyên tắc lũy tiến cũng cần phân biệt nguồn gốc của các loại thu nhập để phát huy vai trò điều chỉnh của thuế thu nhập Nhưng cũng có quan điểm cho rằng làm như vậy sẽ gây phức tạp trong việc thiết kế thuế suất và mâu thuẫn với nguyên tắc công bằng theo chiều ngang Vì vậy, không nên dùng các loại thuế suất khác nhau cho thu nhập phát sinh từ các nguồn thu nhập khác nhau mà nên áp dụng các khoản miễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng của thuế thu nhập hoặc áp dụng thuế lũy tiến từng phần

Thứ ba, quy ước thời gian để xác định thu nhập chịu thuế

Việc tạo ra thu nhập có tính chất tương đối về mặt thời gian Những khoản thu nhập nhận được ở thời điểm hiện tại có thể là kết quả của các hoạt động lao động hoặc đầu tư trong quá khứ, nhưng cũng có thể là thu nhập ứng trước của các hoạt động hứa hẹn trong tương lai Mặt khác, thu nhập phát sinh tại những khoảng thời gian khác nhau có thể rất khác nhau Do vậy, để đảm

Trang 24

bảo tính khả thi và sự công bằng trong đánh thuế, một sự phân đoạn có tính quy ước về mặt thời gian cần phải được xác định thu nhập chịu thuế phát sinh trong khoảng thời gian đó Thông thường, thời gian tính thu nhập chịu thuế trùng hợp với năm ngân sách hoặc năm kế toán và được quy định là một năm làm cơ sở tính thuế Những khoản thu nhập phát sinh trong khoảng thời gian

đó được coi là đối tượng chịu thuế thu nhập Việc tính thuế thu nhập phát sinh theo năm thực chất chỉ được coi là hình thức tạm tính Số thuế chính thức phải nộp sẽ được xác định trên cơ sở số thu nhập phát sinh "bù trừ" trong khoảng thời gian quy ước đó (thường là một số năm nhất định)

Thứ tư, nguyên tắc trọng yếu khi xác định các căn cứ tính thuế và nghĩa

vụ thuế

Mỗi cá nhân có nhiều nguồn thu nhập khác nhau Có những khoản thu nhập có tính chất thường xuyên, phổ biến, có những thu nhập có tính cá biệt hoặc không thường xuyên Để đảm bảo tính đơn giản và thuận tiện cho công tác quản lý thuế, trong một số trường hợp nhất định, thuế thu nhập cá nhân có thể không cần điều chỉnh những khoản thu nhập nhỏ, lặt vặt có tính chất cá biệt, không phổ biến… mà vẫn không ảnh hưởng đến tính công bằng giữa các đối tượng nộp thuế Nguyên tắc trọng yếu có thể được áp dụng nhằm đảm bảo tính rõ ràng, đơn giản của chính sách và tiết kiệm chi phí hành thuế Theo nguyên tắc này, trong một số trường hợp, việc xác định thu nhập phát sinh hay các khoản chi phí được khấu trừ có thể được thực hiện bằng biện pháp

"khoán định mức" bằng tỷ lệ % thu nhập hay chi phí hoặc bằng một mức tuyệt đối được quy định trong Luật thuế

1.1.2.5 Phương pháp đánh thuế thu nhập cá nhân

Về lý thuyết, tồn tại 3 mô hình đánh thuế thu nhập cá nhân

Trang 25

Thứ nhất, đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập Đây là

phương pháp áp dụng một thuế suất tương ứng cho từng nguồn thu nhập phát sinh Tương ứng với mỗi nguồn thu nhập khác nhau, người ta tính các chi phí được trừ của từng loại thu nhập và gán cho mỗi loại thu nhập đó các mức thuế suất phân biệt Số thuế phải nộp là tổng hợp số thuế thu nhập mà người nộp thuế phải nộp theo từng nguồn Các nhà kinh tế học cho rằng, phương pháp này khó trốn thuế vì nó thu "theo sát từng nguồn thu nhập" Tuy nhiên, trên

thực tế, đánh thuế thu nhập theo phương pháp này gặp rất nhiều hạn chế Một

là, việc chia thu nhập cá nhân thành từng phần thu nhập để chịu các mức thuế

suất khác nhau là một công việc phức tạp, không đảm bảo nguyên nguyên tắc

công bằng theo chiều ngang Hai là, việc áp dụng thuế suất cho từng loại thu

nhập đòi hỏi phải phân loại thu nhập, gây khó khăn cho công tác quản lý và là

cơ sở để người nộp thuế dễ dàng trốn thuế Nếu ranh giới giữa các loại thu nhập không rõ ràng thì sẽ mất ý nghĩa công bằng của thuế thu nhập cá nhân Trong một chừng mực nào đó, cách đánh thuế này cũng không hiệu quả đối với xã hội vì người nộp thuế có thể lựa chọn các hoạt động phi hiệu quả để chịu mức thuế thấp nhất

Thứ hai, đánh thuế trên tổng thu nhập Phương pháp này tiến hành đánh

thuế trên tổng thu nhập, bao gồm tất các các khoản thu nhập nhận được mà không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập và chi phí tạo ra thu nhập Tổng thu nhập và tổng chi phí sẽ được xem xét một cách tổng thể và đánh thuế trên phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí Phương pháp này đã khắc phục được những hạn chế của phương pháp đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập Do ưu điểm đơn giản và dễ dàng áp dụng biểu thuế suất lũy tiền khi đánh thuế nên phương pháp này đang được áp rụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, nhất là ở các nước phát triển

Trang 26

Thứ ba, đánh thuế hỗn hợp Thuế thu nhập cá nhân có thể đánh theo

cách kết hợp cả hai phương pháp kể trên Ban đầu đánh thuế theo từng nguồn phát sinh thu nhập, sau đó tổng hợp tất cả các nguồn lại và đánh trùm lại tất cả lên tổng thu nhập một mức thuế nữa Phương pháp này cho phép áp dụng thuế suất lũy tiến ngoài thuế suất thông thường đánh trên từng loại thu nhập Cách đánh thuế này đảm bảo sự chính xác nhưng lại phức tạp khi tính toán nên chỉ

có ý nghĩa trên phương diện lý thuyết

Như vậy, mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng Việc

áp dụng một phương pháp thích hợp tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước, trình độ quản lý và yếu tố tâm lý, tập quán từng nước

1.2 Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.2.1 Thuế thu nhập cá nhân và xu hướng cải cách thuế thu nhập cá nhân trên thế giới

Trong lịch sử, thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ lâu trên thế giới Thuế thu nhập cá nhân đã ngày càng thể hiện rõ vai trò của nó trong nền kinh tế của các quốc gia và khẳng định những ưu thế của nó Thuế thu nhập

cá nhân đã và đang được thực thi khá thành công ở nhiều nước, không chỉ các nước phát triển mà cả ở những nước đang phát triển, và thực tiễn đó cung cấp những bài học kinh nghiệm quý cho việc xây dựng thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

1.2.1.1 Nội dung sắc thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân đã ra đời và được áp dụng từ rất lâu trong lịch

sử thuế khóa của các quốc gia, nhất là ở các nước có nền kinh tế phát triển Lần đầu tiên ở Anh năm 1799, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống

Trang 27

Pháp và được chính thức ban hành năm 1842 Sau đó thuế thu nhập cá nhân nhanh chóng lan truyền sang các nước công nghiệp khác như: Nhật Bản (1887), Mỹ (1913), Pháp (1914)… và sang các nước đang phát triển: Hàn Quốc (1948), Trung Quốc (1936), Thái Lan (1939)…Nội dung cơ bản của chính sách thuế thu nhập cá nhân hiện đang áp dụng ở trên thế giới được khái quát theo 5 nội dung chính:

a) Phương pháp đánh thuế

Như đã trình bày ở trên, về lý thuyết có 3 mô hình đánh thuế thu nhập

cá nhân chủ yếu: thuế đánh trên từng loại thu nhập, thuế đánh trên tổng thu nhập và đánh thuế hỗn hợp Mỗi mô hình đánh thuế đều có những ưu, nhược điểm riêng Cho đến nay, chỉ có nước Anh vẫn kiên trì theo đuổi mô hình đánh thuế trên từng loại thu nhập bởi tính chất "bảo thủ" của quốc gia này, nhưng sự phát triển kinh tế của Anh đã tạo điều kiện để thực hiện tốt chính sách thuế thu nhập cá nhân, giải quyết được nhược điểm phức tạp, khó quản

lý của mô hình đánh thuế này nhưng lại phát huy rất tốt ưu điểm công bằng và hiệu quả của thuế thu nhập cá nhân đánh trên từng loại thu nhập Trong thực

tế, đại đa số các nước đều chọn mô hình đánh thuế thu nhập cá nhân mang tính hỗn hợp nhưng có sự vận dụng cho phù hợp với điều kiện của từng nước Điều đó có nghĩa là, trong hệ thống thuế, ngoài các loại thu nhập được đánh theo cơ chế chung còn một số loại thu nhập, do bản chất được đánh thuế theo

cơ chế riêng (Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc…) Ở các quốc gia này, thông thường thu nhập từ tiền công, tiền lương được đánh thuế theo biểu thuế suất lũy tiến, các khoản thu nhập còn lại tùy theo tính chất, chính sách khuyến khích mà có biểu thuế suất riêng Một số nước tuy vẫn chọn mô hình đánh thuế trên tổng thu nhập nhưng cách xác định thu nhập ròng chịu thuế của từng loại thu nhập lại được áp dụng theo quy tắc riêng (Pháp, Mỹ…)

b) Đối tượng nộp thuế

Trang 28

Hiện nay, thuế thu nhập cá nhân của hầu hết các nước trên thế giới đều dựa vào hai nguyên tắc để xác định đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân: nguyên tắc đánh thuế theo đối tượng cư trú và nguyên tắc đánh thuế theo nguồn phát sinh thu nhập Dựa trên 2 nguyên tắc này, chính phủ các nước có thể đánh thuế đối với một cá nhân tại một nước trên toàn bộ thu nhập nhận được từ mọi nguồn hoặc có thể đánh thuế đối với một cá nhân chỉ trên phần thu nhập có nguồn gốc tại nước sở tại

Nguyên tắc đánh thuế dựa trên nguồn phát sinh thu nhập quy định một

cá nhân phải nộp thuế thu nhập cá nhân ở một nước với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nước đó

Đặc điểm cơ bản của nguyên tắc xác định nghĩa vụ của người nộp thuế thu nhập dựa vào nơi cư trú là một cá nhân cư trú (thường trú) tại một nước bị đánh thuế trên toàn bộ thu nhập của anh ta có nguồn gốc từ mọi nơi trên thế giới, không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập là trong nước hay nước ngoài (gọi là nghĩa vụ thuế không hạn chế, đánh trên thu nhập toàn cầu) và một cá nhân không cư trú (không thường trú) ở một nước chỉ bị đánh thuế thu nhập trên thu nhập của anh ta phát sinh tại nước đó

Nguyên tắc đánh thuế thu nhập cá nhân dựa theo nguyên tắc cư trú được hầu hết các nước áp dụng để đánh thuế đối với các đối tượng được coi là

cư trú tại nước đó Tuy nhiên, khái niệm "đối tượng cư trú" tại một nước lại được định nghĩa không giống nhau trong luật thuế thu nhập cá nhân của từng nước Đa số các nước quy định đối tượng cư trú là những người có thời gian sinh sống ở nước sở tại trên 182 hoặc 183 ngày trong năm tính thuế (có thể là năm dương lịch hoặc năm tài chính) hoặc trong khoảng thời gian 12 tháng liên tục Nếu không thỏa mãn điều kiện trên thì được coi là đối tượng không

cư trú Tuy nhiên, ngoài tiêu thức về thời gian nêu trên, ở một số quốc gia còn

có thêm những quy định khác Ở Pháp, một cá nhân không phân biệt quốc

Trang 29

tịch được coi là đối tượng cư trú tại Pháp nếu thỏa mãn một trong 3 tiêu thức:

có hộ gia đình tại Pháp, có thời gian sống chủ yếu ở Pháp, (từ 183 ngày trở lên), có hoạt động nghề nghiệp ở Pháp hoặc có trung tâm lợi ích kinh tế ở Pháp Nhật Bản lại quy định đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân được chia thành 3 loại: đối tượng cư trú thường xuyên (người có nhà ở thường trú tại Nhật Bản hoặc cư trú tại Nhật Bản liên tục trong thời gian trên 5 năm), đối tượng cư trú không thường xuyên (người không có ý định cư trú lâu dài tại Nhật Bản và chỉ ở Nhật Bản trong khoảng thời gian dưới 5 năm), đối tượng không cư trú là người không có nhà thường trú ở Nhật Bản hoặc cư trú ở Nhật Bản dưới 1 năm Mỹ quy định người nước ngoài được coi là cư trú tại Mỹ nếu

họ cư trú thường xuyên hợp pháp tại Mỹ(được cấp thẻ xanh) hoặc nếu họ có mặt tại Mỹ trong một khoảng thời gian đủ dài để được cấp một thẻ lưu trú Như vây, định nghĩa "đối tượng cư trú" hay "đối tượng không cư trú" ở từng nước là khác nhau và phụ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội, chính sách và trình độ quản lý của từng quốc gia

Nguyên tắc nguồn phát sinh thu nhập được hầu hết các nước áp dụng

để đánh thuế đối với các khoản thu nhập phát sinh tại nước đó của các đối tượng không cư trú

Một số nước chỉ áp dụng nguyên tắc đánh thuế theo nguồn phát sinh thu nhập (không phân biệt đối tượng cư trú hay không cư trú tại nước đó) Cách đánh thuế này chỉ thích hợp với những nước có nhiều người nước ngoài đến làm việc hoặc đầu tư, còn công dân nước đó ít đi làm hay đầu tư ở nước ngoài Điển hình của việc áp dụng nguyên tắc này là Hồng Kông: quốc gia này quy định mọi cá nhân, không phân biệt đối tượng cư trú hay không cư trú, chỉ phải nộp thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập phát sinh tại Hồng Kông

Trang 30

Một số nước quy định công dân nước sở tại và người nước ngoài đang

ở nước đó đều phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với mọi khoản thu nhập nhận được, không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập là ở trong nước hay nước ngoài Về đơn vị tính thuế - cơ sở để chịu thuế thu nhập chịu thuế của một đối tượng có ý nghĩa quan trọng về tính công bằng xã hội và có liên quan mật thiết với cơ cấu thuế suất Mặc dù mỗi nước sử dụng đơn vị tính thuế khác nhau song chủ yếu chỉ bao hàm : hộ gia đình hay cá nhân Khi áp dụng đơn vị tính thuế là hộ gia đình (như ở Pháp), trong hộ gia đình cần phân biệt

rõ người nộp thuế và người nuôi dưỡng Người nộp thuế là các cá nhân độc thân hoặc hộ gia đình chưa có con nhưng có thu nhập, người nuôi dưỡng là các con chưa đến tuổi thành niên, người tàn tật… Khi tính thuế theo hộ gia đình còn phải qui đổi từng thành viên trong hộ gia đình thành các suất thuế Ở Pháp, quy định:

- Người độc thân 1 suất

- Một cặp vợ chồng chưa có con: 2 suất

- Con thứ nhất (dưới 18 tuổi): 0,5 suất

- Con thứ hai (dưới 18 tuổi): 0,5 suất

- Từ con thứ 3 (dưới 18 tuổi): 1 suất/mỗi con

Nhìn bề ngoài thu thuế theo hộ gia đình có vẻ hợp lý Tuy nhiên muốn thực hiện được chế độ đó phải có điều kiện là gia đình ổn định và phải đưa ra được định nghĩa cụ thể về gia đình Nếu đơn vị tính thuế là cá nhân, thì trước hết người nộp thuế cũng được phép khấu trừ các chi phí cho bản thân, chi phí nuôi con, nuôi bố mẹ già, chi phí nuôi người tàn tật Trong thực tế ở nhiều nước, quy định này lại bị người nộp thuế lợi dụng việc khấu trừ cho con hoặc người phụ thuộc mà khấu trừ hai lần (nhất là trong trường hợp người phụ thuộc không ở cùng trong gia đình) Giải pháp khắc phục được nhiều nước áp dụng là mọi người thuộc diện kê khai khấu trừ phải kê mã số thuế cá nhân để

Trang 31

cơ quan thuế kiểm soát Mặc dù đơn vị tính thuế là cá nhân khó đạt được sự công bằng so với đơn vị tính thuế là gia đình song lại nhận được sử ủng hộ rộng rãi nhất, vì nó thích hợp với hệ thông thuế thu nhập chuẩn

c) Thu nhập chịu thuế

Vấn đề quan trọng khi xây dựng và thực thi luật thuế thu nhập cá nhân

là phải xác định đúng đắn thu nhập chịu thuế - cơ sở để đánh thuế thu nhập Các nhà làm chính sách phải cân nhắc đến nhiều yếu tố về kinh tế - chính trị

và xã hội khi đưa ra định nghĩa về thu nhập chịu thuế bởi nó thể hiện tính khả thi về mặt quản lý thuế, các yếu tố về chính trị xã hội, môi trường pháp lý và trình độ lý luận về thuế của một quốc gia Thu nhập chịu thuế thường được định nghĩa là tổng thu nhập trừ đi tổng các khoản giảm trừ của đối tượng đó trong kỳ tính thuế Như vậy, vấn đề xác định thu nhập chịu thuế gồm 3 yếu tố cấu thành: tổng thu nhập và các bộ phận hợp thành, thu nhập không chịu thuế

và các khoản được giảm trừ vào tổng thu nhập

Đa số các nước đều xác định thu nhập chịu thuế và phân loại chúng dựa theo nguồn hình thành và thường bao gồm các loại chủ yếu sau:

- Thu nhập từ lao động: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất tương tự như tiền lương, tiền công…

- Thu nhập từ kinh doanh (công thương nghiệp và dịch vụ) và thu nhập từ hành nghề độc lập (từ các dịch vụ cá nhân như luật sư, bác sỹ, kế toán, kiểm toán, tư vấn…)

- Thu nhập từ tài sản: thu nhập từ cho thuê tài sản, từ chuyển nhượng tài sản…

- Thu nhập từ đầu tư gián tiếp: thu nhập từ tiền lãi, cổ tức, thu nhập được chia từ các hoạt động góp vốn…

- Thu nhập khác

Trang 32

Tuy nhiên, tùy theo việc lựa chọn mô hình đánh thuế và chính sách của từng nước trong từng thời kỳ mà mức độ đánh thuế (ưu tiên) đối với từng loại thu nhập cũng không giống nhau (Thụy Điển, Trung Quốc) Nhưng nhìn chung, các quốc gia có xu hướng áp dụng hệ thống thuế với thuế suất lũy tiến

áp dụng chung cho tổng thu nhập nhận được của cá nhân từ các nguồn khác nhau Cách này khó quản lý hơn nhưng nó đảm bảo tính lũy tiến của sắc thuế, đồng thời có tính đến cả những hoàn cảnh cụ thể của mỗi đối tượng nộp thuế Ngày nay, tất cả các nước áp dụng thuế thu nhập cá nhân đều đánh thuế thu nhập từ lao động, còn các khoản thu nhập từ đầu tư thì chỉ có các nước phát triển áp dụng mạnh mẽ, còn các nước đang phát triển không áp dụng hoặc áp dụng ở mức thuế suất thấp Xu hướng cải cách thuế thu nhập cá nhân hiện nay trên thế giới là đưa vào diện đánh thuế cả các khoản lãi từ cổ phần, tiền lãi cho vay, hoa lợi từ chuyển nhượng tài sản, thu nhập bằng hiện vật… Xu hướng này đảm bảo tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước mặc dù thuế suất

có xu hướng ngày càng giảm

Thu nhập chịu thuế của các quốc gia còn khác nhau tùy thuộc vào mỗi chính sách thuế trong từng thời kỳ nhất định mà một loại thu nhập có thể nằm trong hay ngoài diện thu nhập chịu thuế Ở hầu hết các quốc gia, những thu nhập không chịu thuế thường dựa vào những tiêu thức sau:

- Thứ nhất, không chịu thuế vì các lý do xã hội: các khoản phúc lợi xã hội, học bổng, tiền bồi thường…

- Thứ hai, không chịu thuế theo quy định của các Hiệp định, hiệp ước, thỏa thuận quốc tế đã ký kết giữa các nước

- Thứ ba, không chịu thuế vì các lý do chính trị hoặc lý do quản

- Thứ tư, miễn thuế vì lý do chính sách muốn khuyến khích một hoạt động cụ thể nào đó, ví dụ: thu nhập từ quỹ lương hưu không chịu thuế

Trang 33

nhằm khuyến khích đóng góp bảo hiểm xã hội, thu nhập từ cổ phiếu, trái phiếu không chịu thuế nhằm khuyến khích các hoạt động đầu tư gián tiếp này…

d) Mức khởi điểm chịu thuế

Khởi điểm chịu thuế là phần thu nhập được trừ đi trước khi tính thuế trong thu nhập chịu thuế để phù hợp với hoàn cảnh của từng đối tượng nộp thuế, đồng thời phục vụ cho mục đích kinh tế - xã hội nói chung Nhìn chung

hệ thống thuế thu nhập của các nước đều công nhận nhu cầu cần thiết là phải miễn một phần thu nhập và loại ra khỏi diện chịu thuế Ở các nước công nghiệp phát triển, mức khởi điểm chịu thuế thường rất thấp vì các nước này

có chế độ phúc lợi xã hội tốt, số lượng các đối tượng nộp thuế lớn và bao trùm gần như toàn bộ dân số ở tuổi lao động Ngược lại, ở các nước đang và kém phát triển, nếu so sánh mức thu nhập khởi điểm chịu thuế và thu nhập bình quân đầu người thì tỷ lệ này khá cao và số đối tượng nộp thuế thu nhập

cá nhân chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số dân ở độ tuổi lao động Mỗi một quốc gia có cách tính toán và đưa ra những mức thu nhập khởi điểm chịu thuế khác nhau Tuy nhiên, nhiều ý kiến của các chuyên gia về thuế thu nhập

cá nhân cho rằng mức khởi điểm thu nhập chịu thuế gấp khoảng 2 đến 2,5 lần GDP/người của quốc gia đó là phù hợp Nhưng mức thu nhập khởi điểm chịu thuế được đưa ra cũng cần tính tới những biến động của nền kinh tế tác động trực tiếp đến thu nhập thực tế của người nộp thuế (lạm phát…) để đảm bảo sự

ổn định của hệ thống thuế

e) Thuế suất

Đối với thu nhập từ lao động, hầu hết các quốc gia đều áp dụng hệ thống đa thuế suất theo biểu thuế lũy tiến từng phần Số lượng thuế suất trong biểu thuế của các nước cũng khác nhau Có nước chỉ áp dụng 2 mức thuế suất như Thụy Điển (30% và 50%) nhưng phần lớn các nước đều áp dụng từ 3 - 6

Trang 34

mức thuế suất Có những nước áp dụng rất nhiều thuế suất và các mức thuế suất này chênh lệch rất ít với lý do: số lượng thuế suất càng nhiều, chênh lệch giữa các thuế suất càng ít thì càng đảm bảo tính công bằng của sắc thuế nhưng hạn chế là gây khó khăn cho công tác tính thuế và quản lý thuế Nước áp dụng nhiều mức thuế suất nhất hiện nay là Ai Cập với 23 thuế suất Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu hướng cải cách thuế thu nhập cá nhân là giảm

số lượng thuế suất Xu hướng này làm cho chính sách thuế thu nhập cá nhân của các quốc gia đơn giản hơn, mặc dù khoảng cách giữa các bậc thuế xa hơn

Mỹ là quốc gia giảm số bậc thuế mạnh mẽ nhất, từ 25 xuống còn 5 bậc, Hàn Quốc giảm từ 9 xuống còn 5 bậc, Pháp giảm từ 17 xuống còn 7 bậc…

Xét về mức thuế suất cụ thể, đa số các nước trên thế giới áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần với thuế suất cao nhất là 40% - 50%, một số ít các nước có khung thuế suất cao tối đa là 60% như ở Đan Mạch, Iran (75%)… Trong những năm gần đây, xu hướng giảm thuế suất tối đa từ các nước phát triển đã lan rộng sang các nước đang phát triển vì nó sẽ khuyến khích người lao động làm việc tốt hơn, nền kinh tế phát triển hơn và số thuế thu được sẽ tăng lên Hiện nay có rất nhiều quốc gia thực hiện cải cách chính sách thuế theo hướng này Điển hình của xu hướng này là Mỹ Trước năm 1985, biểu thuế suất của Mỹ gồm 25 bậc với mức thuế suất từ 14% dến 70%, nhưng đến nay giảm xuống chỉ còn từ 15% đến 39,6% Ở nước Anh - nước áp dụng thuế thu nhập cá nhân lâu nhất trong lịch sử, thuế suất cao nhất đã từng được áp dụng lên đến 83% và nay giảm xuống còn 40% Nhìn chung, mức thuế suất cao nhất phổ biến được áp dụng ở các quốc gia trên thế giới phổ biến ở mức

từ 30% đến 40% Đây là mức thuế suất hợp lý đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và không gây phản ứng quá gay gắt ở đối tượng nộp thuế

1.2.2.2 Quản lý thuế thu nhập cá nhân

Trang 35

Trong việc thực thi thuế thu nhập cá nhân, vấn đề quan trọng nhất là quản lý chính xác thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội Sự thành công của việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân trên thế giới là do các nước đã quản lý tốt thuế thu nhập cá nhân Để việc thu thuế thu nhập cá nhân có hiệu quả, trên thế giới hiện nay đã và đang áp dụng 2 phương pháp: phương pháp khấu trừ tại nguồn và phương pháp thu trực tiếp

Phương pháp khấu trừ tại nguồn nghĩa là người hoặc cơ quan chi trả thu nhập phải tiến hành khấu trừ trước số thuế phải nộp của cá nhân để nộp cho cơ quan thuế, sau đó mới tiến hành chi trả phần còn lại cho người được hưởng Cơ quan hoặc người được ủy nhiệm khấu trừ thông thường được trích lại một tỷ lệ thù lao nhất định song phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghĩa vụ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trước khi chi trả thu nhập Phương pháp này thường được áp dụng phổ biến đối với những nước có khả năng kiểm soát và tổng hợp thu nhập thấp (thường là các nước đang phát triển) Tuy chi phí hành thu thấp, quy trình quản lý thu đơn giản, nhưng mức độ công bằng lại kém hơn vì thông thường chỉ thu được thuế của những khoản thu nhập rõ ràng, chính thống, những khoản thu nhập khác dễ bị bỏ qua do không kiểm soát được

Phương pháp thu trực tiếp được thực hiện trên cơ sở người nộp thuế tự

kê khai thu nhập và gửi cho cơ quan thuế Cơ quan thuế xác định số thuế phải nộp dựa trên số liệu kê khai về thu nhập, về các khoản được phép khấu trừ, giảm trừ kết hợp với thẩm tra, kiểm soát của cơ quan thuế Phương pháp này tuy phức tạp nhưng đảm bảo tính chính xác vì khả năng tổng hợp nhiều nguồn thu nhập và gắn với hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế Tuy nhiên, phương pháp này chỉ đạt hiệu quả cao trong điều kiện người nộp thuế hiểu rõ nghĩa vụ và trách nhiệm nộp thuế của mình Nếu trình độ hiểu biết của người nộp thuế còn kém, tính tự giác chưa cao, hệ thống kế toán, kiểm soát thu nhập

Trang 36

của cá nhân kém hiệu quả, năng lực của cơ quan thuế còn yếu kém thì không thể vận dụng được phương pháp này trong hoạt động thực tiễn

Nhìn chung, đối với các nước có nền kinh tế phát triển, việc mở tài khoản cá nhân cũng như mọi việc thanh toán, chi tiêu thường được thực hiện chủ yếu thông qua các tài khoản cá nhân Hơn thế nữa, ý thức tự giác của của các đối tượng nộp thuế cao Do vậy, việc kiểm soát thu nhập để làm căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân đơn giản hơn Song đối với các nước có nền kinh

tế đang phát triển, việc sử dụng các tài khoản cá nhân chưa mang tính phổ cập chung trong đại đa số tầng lớp dân chúng thì kiểm soát thu nhập thực sự là một vấn đề khó khăn đối với các cơ quan thuế, nhất là các khoản thu nhập từ khu vực kinh tế phi chính thức

Ngoài ra, ở một số quốc gia, việc kiểm soát thu nhập còn được thực hiên thông qua việc kiểm soát hành vi sử dụng thu nhập của các cá nhân do có một số lĩnh vực khó có thể có căn cứ để kiểm soát thu nhập từ nguồn phát sinh Do đó, luật thuế của nhiều nước cho phép cơ quan quản lý thuế ấn định một mức thu nhập của người chịu thuế thông qua những biểu hiện bên ngoài

về mức sinh hoạt của cá nhân đó

Nhật Bản là quốc gia khá thành công trong việc thực thi luật thuế thu nhập cá nhân Bắt đầu từ năm 1947, Nhật Bản đã xác định thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế cần thiết, phải được giữ nguyên vị trí của nó trong hệ thống thuế quốc gia và tiến hành đổi mới phương pháp quản lý thuế thu nhập cá nhân, chuyển từ việc áp dụng cơ chế kê khai nộp thuế theo tính toán của cơ quan thuế thành cơ chế tự kê khai tính thuế Phương pháp này chuyển trách nhiệm tính thuế từ cơ quan thuế sang cho đối tượng nộp thuế, tránh gian lận trong kê khai và cơ quan thuế có trách nhiệm kiểm tra Nếu phát hiện sự gian lận trong kê khai, người nộp thuế vẫn phải nộp thuế theo tính toán của cơ quan thuế, đồng thời bị xử phạt đối với việc nộp chậm, thuế tiền lãi và thuế bổ

Trang 37

sung Giai đoạn đầu, mặc dù chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm hạn chế sự thất thu thuế thu nhập cá nhân nhưng sau 1 năm áp dụng cơ chế tự kê khai thuế, kết quả thu được chỉ đạt 11,4% tổng số thuế được tính toán Trước tình hình này, chính phủ Nhật Bản đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm giải quyết vấn đề: tính thuế dựa vào báo cáo kế toán của đối tượng nộp thuế, đơn giản hóa các thủ tục hành chính đối với người nộp thuế và cơ chế hành chính thuế, áp dụng hình thức kiểm tra chéo và công khai thu nhập của đối tượng có thu nhập cao, mở rộng hình thức tư vấn thuế, tăng cường hướng dẫn đối tượng nộp thuế, xử lý thật nghiêm khắc các vi phạm Đến nay, đã có khoảng 50% số người nộp thuế thực hiện kê khai thuế theo mẫu "mầu xanh", biểu hiện cá nhân nộp thuế có tín nhiệm và người nộp thuế cũng tự hào khi được nộp thuế theo chế độ này Thành công của Nhật Bản là đã nâng cao được công tác quản lý thuế, chống thất thu cho ngân sách nhà nước nhờ vào việc xây dựng được ý thức tự giác, tự nguyện của đối tượng nộp thuế và cải thiện được niềm tin của người dân vào chính phủ, cơ quan thuế Đây là bài học kinh nghiệm rất hữu ích cho Việt Nam khi xây dựng và thực thi Luật thuế thu nhập

cá nhân

1.2.2 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua nghiên cứu và phân tích thu nhập cá nhân ở một số nước trên thế giới, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng và thực thi thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam:

Thứ nhất, về phương pháp đánh thuế Việc lựa chọn phương pháp đánh

thuế phải đảm bảo đơn giản trong hành thu, nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu động viên hợp lý đối với từng nguồn thu nhập nhằm thực hiện chính sách khuyến khích của nhà nước với việc tạo ra thu nhập Trong điều kiện kinh tế -

xã hội hiện nay, Việt Nam có thể lựa chọn phương pháp đánh thuế hỗn hợp,

Trang 38

kết hợp cả hai hệ thống đánh thuế theo từng nguồn và đánh thuế trên tổng thu nhập Tức là trong tổng thu nhập sẽ quy định một số loại thu nhập được đánh thuế theo biểu thuế chung, còn một số loại thu nhập khác, do tính đặc thù có thể được xem xét để đánh thuế theo biểu thuế riêng Cách đánh thuế như vậy đòi hỏi phải quản lý và nắm bắt được từng nguồn thu nhập và xây dựng mức thuế hợp lý cho một số nguồn thu nhập có tính chất đặc thù Song điều này có khả năng thực thi ở Việt Nam vì trong thực tiễn nước ta hiện nay, nhiều hình thức thuế khác nhau đánh vào từng nguồn thu nhập cũng đang được áp dụng

Thứ hai, về đối tượng nộp thuế Việt Nam nên sử dụng tiêu chí "cư trú"

và "nguồn" để xác định đúng đắn đối tượng nộp thuế và thu nhập chịu thuế Cách xác định này vừa đơn giản trong thực hiện, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế Về đơn vị tính thuế thu nhập cá nhân nên lấy đơn vị tính là cá nhân

để vừa đảm bảo tính hiệu quả, vừa đơn giản lại dễ thực hiện

Thứ ba, về thu nhập chịu thuế Kinh nghiệm thế giới cho thấy cần phải

xác định một diện thu nhập chịu thuế thật rộng, tất cả các khoản thu nhập về mặt pháp lý thuộc sở hữu cá nhân phải đưa hết vào diện chịu thuế thu nhập cá nhân Việc phân loại thu nhập chịu thuế cần dựa trên tiêu thức nguồn phát sinh thu nhập chứ không nên dựa vào tính chất ổn định và đều đặn của thu nhập phát sinh, nghĩa là không nên phân chia thu nhập thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Thu nhập chịu thuế được xác định phải bao quát một cách tương đối toàn diện các khoản thu nhập có khả năng điều chỉnh, các nguồn thu nhập mà khi xác định mức thuế phải nộp có thể đem lại hiệu quả về mặt thực thi Đồng thời, phải hạn chế bớt những khoản miễn trừ Việc ban hành các khoản miễn trừ phải gắn liền với các chủ trương, chính sách của nhà nước

Thứ tư, về thuế suất Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, thuế suất càng cao,

thì tổn thất đối với xã hội càng lớn Vì vậy, biểu thuế suất nên áp dụng từ 4 - 6

Trang 39

bậc, vừa đơn giản, phù hợp với trình độ của người dân, đồng thời vừa đảm bảo sự phân phối công bằng

Thứ năm, về quản lý và thực thi thuế thu nhập cá nhân Tâm lý chung

của các đối tượng nộp thuế là thường tìm cách trốn thuế, vậy cần phải có các quy định mang tính pháp lý cao để thực hiện nghiêm túc việc kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân Kinh nghiệm của thế giới đã chỉ ra rằng trong việc quản lý thuế thu nhập cá nhân cần kết hợp cả hai phương pháp: khấu trừ tại nguồn và tự kê khai Tuy nhiên, vai trò quan trọng nhất của cơ quan quản lý thuế là tạo ra việc tuân thủ tự giác cho các đối tượng nộp thuế Nguyên tắc thực thi hiệu quả quản lý thuế thu nhập cá nhân cho thấy cần dành tính tự chủ cao cho người nộp thuế và có biện pháp xử phạt thật cao đối với các hành vi trốn, gian lận thuế thu nhập cá nhân

CHƯƠNG 2: THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1991 – 2007 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

Thuế thu nhập cá nhân đã xuất hiện trong lịch sử xã hội Việt Nam Ở Miền Nam, trước năm 1975, ngụy quyền Sài Gòn cũng đã từng áp dụng thuế lợi tức mang tính chất là một khoản thuế thu nhập cá nhân Chế độ thuế thu nhập cá nhân lúc đó tương đối phù hợp với chế độ thuế của các nước có nền

Trang 40

kinh tế vận động theo cơ chế thị trường do ảnh hưởng ách đô hộ của Mỹ Sau khi thống nhất đất nước, nhà nước ta bãi bỏ chế độ thuế thu nhập cá nhân của chính quyền Sài Gòn cũ, chỉ duy trì tiếp các sắc thuế đánh vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại, dịch vụ do cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, phân phối bằng hiện vật là phổ biến nên không có điều kiện để tính toán thuế thu nhập cá nhân

Thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986, nước ta bước vào thời kỳ đổi mới với nội dung cơ bản là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Do ảnh hưởng của cơ chế thị trường, thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội ngày càng có sự khác biệt, tạo nên

sự phân hóa, cách biệt rất xa về thu nhập, đời sống xã hội cần được giải quyết

Vì vậy, nhà nước đã ban hành chính sách thuế nhằm điều tiết thu nhập của các

cá nhân trong xã hội Hiện nay, chính sách thuế điều tiết thu nhập của cá nhân trong xã hội hiện đang tồn tại ở 3 sắc thuế

Thứ nhất, pháp lệnh về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

Pháp lệnh này được Hội đồng nhà nước thông qua ngày 27/12/1990 và Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành từ tháng 4/1991 Từ đó đến nay, Pháp lệnh này đã được sửa đổi bổ sung 6 lần vào các thời điểm khác nhau

Bảng 2.1: So sánh Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

giai đoạn 1991 - 2004

Năm

Đối tượng nộp

thuế

Thu nhập chịu thuế

Biểu thuế (thu nhập thường

xuyên) Khởi

điểm chịu thuế

Số bậc thuế

Thuế suất thấp

Thuế suất cao

Ngày đăng: 19/12/2015, 12:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Ái (2001), Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng hoàn thiện ở Việt Nam, NXB Bộ Tài chính, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng hoàn thiện ở Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Ái
Nhà XB: NXB Bộ Tài chính
Năm: 2001
2. Bộ Tài chính (2003), Chuyên đề thuế quốc tế, NXB Bộ tài chính, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề thuế quốc tế
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Bộ tài chính
Năm: 2003
3. Bộ Tài chính (2001), Tài chính công, NXB Bộ tài chính, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính công
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Bộ tài chính
Năm: 2001
4. Bộ Tài chính (2006), Hệ thống văn bản pháp luật về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: Đã sửa đổi, bổ sung, cập nhật văn bản đến tháng 06/2006, NXB Bộ tài chính, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản pháp luật về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: Đã sửa đổi, bổ sung, cập nhật văn bản đến tháng 06/2006
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Bộ tài chính
Năm: 2006
5. Bộ Tài chính (2004), Cẩm nang thông tin thuế, NXB Bộ tài chính, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang thông tin thuế
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Bộ tài chính
Năm: 2004
6. Hồng Châu (2002), “Có nên đánh thuế thu nhập cá nhân vào thu nhập do đầu tư vốn cá nhân”, Tạp chí đầu tư chứng khoán, Số 140, Tr 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có nên đánh thuế thu nhập cá nhân vào thu nhập do đầu tư vốn cá nhân”, "Tạp chí đầu tư chứng khoán
Tác giả: Hồng Châu
Năm: 2002
7. Nguyễn Chương (1994), “Cải cách thuế thu nhập cá nhân ở Pháp”, Thông tin khoa học tài chính, Số 2, Tr. 20-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thuế thu nhập cá nhân ở Pháp”, "Thông tin khoa học tài chính
Tác giả: Nguyễn Chương
Năm: 1994
8. Lý Phương Duyên (2002), “Thuế thu nhập đối với cá nhân có thu nhập biến động”, Tạp chí tài chính, Tháng 06/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế thu nhập đối với cá nhân có thu nhập biến động”, "Tạp chí tài chính
Tác giả: Lý Phương Duyên
Năm: 2002
9. Lý Phương Duyên (2005), “Quản lý các văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam”, Tạp chí thuế nhà nước, Số kỳ 2/11, Tr. 16-18, 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý các văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam”, "Tạp chí thuế nhà nước
Tác giả: Lý Phương Duyên
Năm: 2005
10. Nguyễn Vũ Thùy Dương (2004), “Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao với mục tiêu công bằng, hợp lý, vì lợi ích của người nộp thuế”, Thông tin tài chính, số 21, tháng 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao với mục tiêu công bằng, hợp lý, vì lợi ích của người nộp thuế”, "Thông tin tài chính
Tác giả: Nguyễn Vũ Thùy Dương
Năm: 2004
11. Nguyễn Hữu Đông (2001), “Về chính sách thuế thu nhập cá nhân ở nước ta hiện nay”, Tạp chí kinh tế và dự báo, Số 2, Tr. 18-19, 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách thuế thu nhập cá nhân ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí kinh tế và dự báo
Tác giả: Nguyễn Hữu Đông
Năm: 2001
12. Nguyễn Đức (2004), “Thanh toán không dùng tiền mặt”, Thời báo kinh tế Việt Nam, Số 29, ngày 20/02/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh toán không dùng tiền mặt”, "Thời báo kinh tế Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức
Năm: 2004
13. Joseph E. Stiglits (1995), Kinh tế học công cộng, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học công cộng
Tác giả: Joseph E. Stiglits
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1995
14. Nguyễn Thu Hà (2004), “Có nên tính thuế thu nhập cá nhân đối với lãi tiền gửi, tiền cho vay?”, Tạp chí thuế nhà nước, tháng 04/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có nên tính thuế thu nhập cá nhân đối với lãi tiền gửi, tiền cho vay?”, "Tạp chí thuế nhà nước
Tác giả: Nguyễn Thu Hà
Năm: 2004
15. Thanh Hải (2002), “Thiếu thống nhất trong ưu đãi”, Tạp chí đầu tư chứng khoán, Số 127, Tr. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiếu thống nhất trong ưu đãi”, "Tạp chí đầu tư chứng khoán
Tác giả: Thanh Hải
Năm: 2002
16. Lê Phú Hào (2006), “Góp phần hoàn thiện thuế thu vào thu nhập của cá nhân”, Tạp chí thương mại, Số 8, Tr. 16-16, 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần hoàn thiện thuế thu vào thu nhập của cá nhân”, "Tạp chí thương mại
Tác giả: Lê Phú Hào
Năm: 2006
17. Vương Thị Thu Hiền (2004), “Làm thế nào để kiểm soát được thuế thu nhập cá nhân”, Tạp chí thuế nhà nước, tháng 09/2004, Tr. 22-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm thế nào để kiểm soát được thuế thu nhập cá nhân”, "Tạp chí thuế nhà nước
Tác giả: Vương Thị Thu Hiền
Năm: 2004
18. Vương Thị Hiền (2006), “Thu hẹp khoảng cách giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân”, Tạp chí thuế nhà nước, Số 34, Tr.7- 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hẹp khoảng cách giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân”, "Tạp chí thuế nhà nước
Tác giả: Vương Thị Hiền
Năm: 2006
19. Nguyễn Văn Hiệu (2002), “Mối quan hệ giữa các sắc thuế thu nhập trong hệ thống thuế”, Tạp chí thuế nhà nước, tháng 02/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa các sắc thuế thu nhập trong hệ thống thuế”, "Tạp chí thuế nhà nước
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệu
Năm: 2002
20. Nguyễn Văn Hiệu (2006), “Thuế thu nhập cá nhân ở Thái Lan: kinh nghiệm quản lý cho Việt Nam”, Tạp chí thuế nhà nước, Số 20, Tr.7-9,17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế thu nhập cá nhân ở Thái Lan: kinh nghiệm quản lý cho Việt Nam”, "Tạp chí thuế nhà nước
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệu
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 cho thấy trong giai đoạn đầu, nền kinh tế đang phát triển, đang  trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, nền kinh tế bắt đầu có tăng trưởng,  mục tiêu của nền kinh tế là gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, huy động mọi  nguồn  lực  cho  mục   - Thuế thu nhập cá nhân  kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở việt nam   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Hình 1.1 cho thấy trong giai đoạn đầu, nền kinh tế đang phát triển, đang trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, nền kinh tế bắt đầu có tăng trưởng, mục tiêu của nền kinh tế là gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, huy động mọi nguồn lực cho mục (Trang 13)
Hình 1.2: Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng - Thuế thu nhập cá nhân  kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở việt nam   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Hình 1.2 Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng (Trang 18)
Bảng 2.1: So sánh Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao - Thuế thu nhập cá nhân  kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở việt nam   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Bảng 2.1 So sánh Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (Trang 40)
Bảng 2.2. Số thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trong - Thuế thu nhập cá nhân  kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở việt nam   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Bảng 2.2. Số thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trong (Trang 46)
Hình 2.1: Tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân trong tổng thu thuế - Thuế thu nhập cá nhân  kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở việt nam   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Hình 2.1 Tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân trong tổng thu thuế (Trang 47)
Bảng 2.3: Thu ngân sách nhà nước theo GDP bình quân đầu người - Thuế thu nhập cá nhân  kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở việt nam   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Bảng 2.3 Thu ngân sách nhà nước theo GDP bình quân đầu người (Trang 51)
Bảng 2.4: So sánh thuế suất trung bình và thuế suất biên áp dụng cho  thu nhập thường xuyên của người Việt Nam và người nước ngoài - Thuế thu nhập cá nhân  kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở việt nam   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Bảng 2.4 So sánh thuế suất trung bình và thuế suất biên áp dụng cho thu nhập thường xuyên của người Việt Nam và người nước ngoài (Trang 54)
Hình 2.2: So sánh mức thuế giữa người Việt Nam và người nước ngoài - Thuế thu nhập cá nhân  kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở việt nam   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Hình 2.2 So sánh mức thuế giữa người Việt Nam và người nước ngoài (Trang 55)
Bảng 2.5: Sự bất bình đẳng khi nộp thuế thu nhập - Thuế thu nhập cá nhân  kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở việt nam   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Bảng 2.5 Sự bất bình đẳng khi nộp thuế thu nhập (Trang 57)
Hình 2.3: So sánh mức động viên của thuế thu nhập doanh nghiệp và - Thuế thu nhập cá nhân  kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở việt nam   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Hình 2.3 So sánh mức động viên của thuế thu nhập doanh nghiệp và (Trang 58)
Bảng 2.6: So sánh mức khởi điểm chịu thuế của một số quốc gia - Thuế thu nhập cá nhân  kinh nghiệm quốc tế và việc thực thi ở việt nam   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Bảng 2.6 So sánh mức khởi điểm chịu thuế của một số quốc gia (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w