ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ THANH THÚY RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG CÁC NƯỚC THAM GIA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG TPP VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN H
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ THANH THÚY
RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG CÁC NƯỚC THAM GIA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNG HÓA
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ THANH THÚY
RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG CÁC NƯỚC THAM GIA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HÀNG HÓA XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HÀ VĂN HỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn
PGS.TS Hà Văn Hội cùng toàn thể các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Kinh
doanh quốc tế, trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn Bộ phận sau đại học, phòng đào tạo, các bạn chuyên viên văn phòng Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, các anh chị nghiên cứu viên Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản Cuối cùng, tác giả xin cám ơn gia đình và bạn
bè đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Thúy
Trang 4CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và kết quả của luận văn chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Thúy
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 3
4 Những đóng góp mới của đề tài 4
5 Kết cấu của luận văn: 4
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề “Rào cản phi thuế quan” 5
1.1.2 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đến kinh tế Việt Nam 9
1.1.3 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của TPP đến lĩnh vực xuất khẩu 13
1.1.4 Kết luận 16
1.2 Cơ sở lý luận về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế 17
1.2.1 Khái quát về rào cản kỹ thuật 17
1.2.2 Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế (TBT) 24
1.2.3 Khái quát về TPP và các rào cản kỹ thuật đối với thương mại 30
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Khung logic của vấn đề nghiên cứu 43
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 46
2.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp 46
2.2.2 Phương pháp kế thừa 48
2.2.3 Phương pháp so sánh 49
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (case - study) 50
Trang 6CHƯƠNG 3 CÁC RÀO CẢN KỸ THUẬT TẠI MỸ VÀ NHẬT BẢN 52
3.1 Các rào cản kỹ thuật của Mỹ 52
3.1.1 Các loại rào cản kỹ thuật của Mỹ 52
3.1.2 Đặc điểm rào cản kỹ thuật của Mỹ 66
3.2 Các rào cản kỹ thuật của Nhật Bản 67
3.2.1 Các loại cản kỹ thuật của Nhật Bản 67
3.2.2 Đặc điểm rào cản kỹ thuật của Nhật Bản 76
CHƯƠNG 4 NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỪ CÁC RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA MỸ, NHẬT BẢN ĐỐI VỚI HÀNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 77
4.1 Những ảnh hưởng từ các rào cản kỹ thuật của Nhật Bản và Mỹ đối với một số mặt hàng xuất khẩu Việt Nam 77
4.1.1 Đối với mặt hàng dệt may xuất khẩu 77
4.1.2 Đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu 88
4.2 Một số gợi ý chính sách cho Việt Nam 96
4.2.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 96
4.2.2 Đối với doanh nghiệp xuất khẩu dệt may và thủy sản 100
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Tên đầy đủ Nghĩa tiếng Việt
1 ASEAN Association of Southeast
Critical Control Points
Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn
5 EPA Economic - Partnership
10 SA8000 Social Accountability 8000 Tiêu chuẩn về trách
Hiệp định hợp tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương
Trang 814 VCCI Vietnam Chamber of
Commerce and Industry
Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam
Accredited Production
Tiêu chuẩn trách nhiệm sản xuất hàng dệt may toàn cầu
16 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại
thế giới
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1
Bảng tóm tắt các lĩnh vực và định hướng đàm phán tương ứng theo Bản khung sơ bộ đàm phán TPP tháng 11/2011
33
2 Bảng 3.1 Danh mục các chất kháng sinh cấm sử dụng 55
3 Bảng 3.2 Ý nghĩa phạm vi áp dụng của dấu chứng nhận
4 Bảng 4.1 Số lô hàng tôm và cá da trơn của Việt Nam bị
trả lại tại thị trường Mỹ (Số cảnh báo) 93
5 Bảng 4.2 Nguyên nhân chủ yếu của các lô hàng tôm và cá
da trơn bị cảnh báo tại thị trường Mỹ (Lô hàng) 93
Trang 109 Hình 4.9 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản xuất khẩu 89
10 Hình 4.10 Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu thủy sản
11 Hình 4.11 Thị trường xuất khẩu chính của thủy sản
12 Hình 4.12 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam
13 Hình 4.13 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
2 Sơ đồ 3.1 Áp dụng quy tắc xuất xứ không ƣu đãi của Hải quan Mỹ 65
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiệp định Hợp tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương Pacific Strategic Economic Partnership Agreement- TPP) là một Hiệp định Thương mại tự do nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương Hiệp định lúc đầu do 4 nước tham gia khởi xướng gồm Brunei, Chile, New Zealand và Singapore (hay gọi là P4), được ký kết ngày 3 tháng 6/2005, có hiệu lực từ 28/5/2006
(Trans-Từ năm 2010 đến nay, có thêm 8 nước tham gia đàm phán gồm: Mỹ, Australia, Peru, Canada, Mexico, Việt Nam, Nhật Bản và Malaysia Với 12 đối tác, trong đó có những nền kinh tế mạnh như Mỹ, Nhật Bản, Canada, Australia, TPP trở thành một khu vực kinh tế với thị trường hơn 790 triệu dân, tổng GDP là 27000 tỷ USD, đóng góp 40% GDP và chiếm khoảng 1/3 kim ngạch thương mại toàn cầu
Khác với các FTA khác, nội dung của TPP mở rộng hơn bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ (chưa bao gồm dịch vụ tài chính do được đàm phán sau), vệ sinh
an toàn thực phẩm (SPS), rào cản kỹ thuật (TBT), chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và minh bạch hóa Ngoài ra, cũng có một chương về hợp tác và 02 văn kiện đi kèm về Hợp tác nội dung của TPP mở rộng hơn bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ (chưa bao gồm dịch vụ tài chính do được đàm phán sau), vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), rào cản kỹ thuật (TBT), chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và minh bạch hóa Môi trường và Hợp tác Lao động Với phạm vi đa biên như vậy, các cam kết của TPP sâu rộng hơn và toàn diện hơn Nét mới trong đàm phán Hiệp định TPP so với các FTA truyền thống trước đây là sự tham gia của các
Trang 13đối tượng liên quan như doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức xã hội Do đó, các quy định quy tắc cụ thể của TPP sẽ mở rộng hơn quá trình quốc tế hóa, tác động trực tiếp tới các doanh nghiệp xuất khẩu
Việc cam kết thực hiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong các nước tham gia TPP sẽ tạo ra cơ hội và nâng cao lợi thế cạnh tranh đồng thời đặt ra những thách thức không nhỏ đặc biệt với các mặt hàng xuất khẩu Thời gian gần đây, các vụ kiện thương mại từ nước khác áp lên Việt Nam ngày càng tăng trong các ngành thủy sản, sơ, lốp xe, giày dép, túi nhựa, giấy… Liệu rằng ký kết tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhưng với những rào cản thương mại ngày càng dày đặc thì doanh nghiệp Việt Nam
sẽ bị ảnh hưởng thế nào? Những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực ra sao?
Từ tính thời sự và bối cảnh toàn cầu hóa như trên, việc tìm hiểu rõ, phân tích các rào cản kỹ thuật trong các nước tham gia hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) là rất cần thiết cho các mặt hàng xuất nhập khẩu Đồng thời đặt ra yêu cầu cần phải đánh giá những ảnh hưởng của các hàng rào kỹ thuật đối với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam Vì vậy, tác
giả lựa chọn đề tài “Rào cản kỹ thuật trong các nước tham gia Hiệp định
đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) và những ảnh hưởng đến hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Số lượng các nước tham gia Hiệp định TPP là 12 nước Do vậy, luận văn chỉ chọn ra hai nước điển hình có nền kinh tế lớn làm đối tượng nghiên cứu là các rào cản kỹ thuật của Mỹ, Nhật Bản và những ảnh hưởng đến hàng dệt may, thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
Trang 142.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung và phạm vi không gian:
Do phạm vi các nước tham gia Hiệp định TPP là tương đối rộng nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các rào cản kỹ thuật của hai quốc gia có nền kinh
tế phát triển mạnh, có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Nhật Bản và Mỹ Đồng thời, luận văn cũng không nghiên cứu ảnh hưởng từ các rào cản kỹ thuật của Nhật Bản và Mỹ tới tất cả các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam mà chỉ tập trung nghiên cứu các ảnh hưởng tới hai mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam là dệt may và thủy sản
Phạm vi thời gian:
Về thời gian, luận văn nghiên cứu những ảnh hưởng của các rào cản kỹ thuật tới một số mặt hàng chủ đạo của Việt Nam như dệt may, thủy sản từ năm 2010 đến nay Đây là khoảng thời gian Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định TPP
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc nghiên cứu các rào cản kỹ thuật
của Nhật Bản và Mỹ, luận văn chỉ rõ những ảnh hưởng các rào cản này tới hàng dệt may và thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, từ đó có những gợi ý đối với Việt Nam trong việc đối phó với các rào cản này, góp phần nâng cao hiệu quả cho hoạt động xuất khẩu
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ nội dung về rào cản kỹ thuật đang được áp dụng tại hai nước Nhật Bản và Mỹ
- Phân tích các ảnh hưởng của các rào cản kỹ thuật đối với mặt hàng dệt may và thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
Trang 154 Những đóng góp mới của đề tài
- Luận văn đã làm rõ các rào cản kỹ thuật hiện tại đang được áp dụng tại hai nước Mỹ và Nhật Bản đối với hai mặt hàng dệt may và thủy sản xuất khẩu của Việt Nam và chỉ ra các nội dung của các rào cản kỹ thuật trong Hiệp định
TPP mà các nước đang hướng tới
- Luận văn phân tích những ảnh hưởng của các rào cản kỹ thuật của Mỹ
và Nhật Bản tới hoạt động xuất khẩu hàng dệt may và thủy sản Việt Nam
- Trên cơ sở phân tích và làm rõ các ảnh hưởng của các rào cản kỹ thuật, luận văn đưa ra một vài gợi ý chính sách nhằm góp phần giúp các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may và thủy sản sang thị trường Mỹ và Nhật Bản
5 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày theo bốn
chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về rào cản
kỹ thuật trong thương mại quốc tế
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Các rào cản kỹ thuật tại Mỹ và Nhật Bản hiện nay
Chương 4 Những ảnh hưởng từ các rào cản kỹ thuật của Nhật Bản, Mỹ đối với hàng dệt may, thủy sản xuất khẩu Việt Nam và một số gợi ý chính sách
Trang 16CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Quan hệ thương mại quốc tế giữa các nước trên thế giới và trong khu vực ngày càng vượt qua biên giới quốc gia và “Thế giới phẳng” ngày càng hoàn thiện Toàn cầu hóa kinh tế tạo nên nhiều cơ hội và cũng xuất hiện nhiều thách thức cho các quốc gia khi tham gia thương mại quốc tế Các hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ cũng gây ra nhiều nguy cơ cho các nước nhập khẩu hàng hóa kém chất lượng nếu như không có các rào cản kỹ thuật để hạn chế
1.1.1 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề “Rào cản phi thuế quan”
Trong bài “Thuế quan hoá các biện pháp phi thuế quan - xu hướng bảo
hộ mới trong thương mại quốc tế” của Vũ Thị Ba ̣ch Tuyết, Học viện tài chính
(2010), đã viện dẫn một số trường hợp các quốc gia phát triển đã áp dụng các biện pháp bảo hộ ngành sản xuất nội địa thông qua việc áp dụng mức thuế rất cao - một biện pháp bị cấm trong thương mại quốc tế nhưng được WTO chấp thuận theo những qui tắc ngoa ̣i lệ Chẳng ha ̣n , vụ Mỹ áp dụng mức thuế chống bán phá giá đối với cá tra, cá basa và tôm của Việt Nam với lý do doanh nghiệp Việt Nam đã bán phá giá vào thị trường Mỹ Hoặc việc EU áp dụng biện pháp tự vệ thương ma ̣i đối với hàng dệt may của Trung Quốc với lý
Trang 17do mặt hàng dệt may của các quốc gia trong Liên minh Châu Âu (EU) không thể đứng vững trước sự “lộng hành” của hàng dệt may giá rẻ của Trung Quốc… Dựa vào việc phân tích những ví dụ trên, tác giả đã đưa ra những lưu
ý và cảnh tỉnh cho các doanh nghiệp Việt Nam về các biện pháp mà nước tiên tiến thường hay áp dụng và lý do các nước này đưa ra khi áp dụng các biện pháp bảo hộ hàng hóa nội địa Bài phân tích giúp các doanh nghiệp trẻ của Việt Nam có được những nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng trong việc tìm hiểu về luật chơi khi tham gia thị trường thương ma ̣i tự do để có thể chủ động bảo vệ doanh nghiệp mình khi có sự cố xảy ra
Cuốn sách “Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế” của TS Nguyễn Hữu Khải (2005) cũng đã tổng hợp và hệ thống hóa
những vấn đề mang tính lý thuyết liên quan tới các biện pháp phi thuế quan
và hàng rào phi thuế quan , đưa ra những định nghĩa và quan niệm của WTO
về các rào cản phi thuế quan Bên ca ̣nh đó, tác giả còn phân tích kinh nghiệm
sử dụng các biện pháp phi thuế quan của một số quốc gia lớn trên thế giới để
từ đó rút ra những đề xuất những biện pháp nhằm cải thiện hệ thống các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam và đưa ra những biện pháp cần áp dụng để bảo hộ các ngành sản xuất còn non kém trong nước
Cũng cùng vấn đề về hàng rào phi thuế quan, tác giả Nguyễn Thị Thu
Phương đã nghiên cứu đề tài “Hàng rào phi thuế quan - Các rào cản đối với thương mại quốc tế” (2000) Đề tài này tập trung tìm hiểu sâu hơn về các
hàng rào phi thuế quan và tác động của những rào cản này tới thương ma ̣i nói chung Tác giả tập trung phân tích các biện pháp phi thuế quan đã và đang được các nước áp dụng làm rào cản đối với thương ma ̣i quốc tế Từ đó, tác giả nêu bật vấn đề hàng rào phi thuế quan là một công cụ bảo hộ có tác động tiêu cực tới xu hướng tự do hóa thương ma ̣i , gây ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các nền kinh tế trên thế giới
Trang 18Tiếp đến, Tạp chí Khoa học 2012 số 23b trang 215-223 đăng tải bài báo
nghiên cứu về “Các rào cản kỹ thuật thương mại khi xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào thị trường Nhật” của tác giả Nguyễn Thị Phương Dung và Nguyễn
Thị Ngọc Hoa Bài báo đã phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào thị trường Nhật, đồng thời xác định các rào cản kỹ thuật nhằm giúp doanh nghiệp Việt Nam tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà nhập khẩu Nhật Bản Đề tài đã sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ báo cáo kết quả của tổng cục thủy sản, tổng cục thủy sản điều tra trên diện rộng cả nước Việt Nam ở các tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Vũng Tàu, TP
Hồ Chí Minh, và 13 tỉnh miền Nam Số liệu được thống kê từ các lô hàng xuất khẩu thủy hải sản Việt Nam sang thị trường Nhật từ năm 2008 đến 2010
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài đã sử dụng phương pháp so sánh số tuyệt đối, số tương đối, so sánh số bình quân để thấy sự thay đổi số liệu tăng giảm qua các năm Căn cứ trên số liệu này, nghiên cứu dựa vào tình hình thực tế của các doanh nghiệp xuất khẩu để tìm ra những rào cản kỹ thuật mà hàng hóa Việt Nam đang gặp phải Đồng thời nghiên cứu dựa trên các chính sách, hiệp định Việt Nam - Nhật Bản đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu thủy hải sản Việt Nam vào thị trường nước Nhật Nghiên cứu còn đề xuất một
số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng xuất khẩu vào thị trường nước này
Để giúp các doanh nghiệp Việt Nam vượt qua các rào cản thương mại quốc tế, báo Phát triển và Hội nhập, Số 4 - Tháng 4/2010 cho ra mắt nghiên
cứu của tác giả Trần Thanh Long về “Thực trạng và giải pháp để doanh nghiệp Việt Nam vượt qua rào cản thương mại quốc tế” Tác giả đã sử dụng
phương pháp thống kê dữ liệu thứ cấp để phân tích thực trạng của các doanh nghiệp Việt Nam trong thương mại quốc tế Bài báo kết luận “Trong quá trình thâm nhập thị trường nước ngoài, các doanh nghiê ̣p Việt Nam thường gặp các
Trang 19loại rào cản sau: thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vê ̣… bên cạnh đó là các rào cản kỹ thuật hoặc vệ sinh thực phẩm Những rào cản này
có ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu V iệt Nam cả về tích cực và tiêu cực Điều quan trọng là doanh nghiê ̣p , các cơ quan nhà nước , hiê ̣p hội ngành hàng xuất khẩu cần có những biê ̣n pháp đối phó hữu hiê ̣u với những rào cản này Đề tài phần nào đã đề cập đến mức độ nhất định thực tra ̣ng của rào cản thương ma ̣i đối với xuất khẩu của Việt Nam và những ảnh hưởng của nó Tuy nhiên, rào cản thương ma ̣i là một vấn đề rộng , trong khi đó thông tin , tư liê ̣u về vấn đề này không nhiều Do đó, đề tài chỉ làm rõ một phần nội dung cơ bản của vấn
đề Vì vậy, để nắm rõ về vấn đề phức ta ̣p này cần có những nghiên cứu
chuyên sâu cho từng thị trường và ngành hàng đề từ đó cung cấp cho các doanh nghiê ̣p các thông tin hữu ích hơn trong đối phó với rào cản thương ma ̣i
ở các thị trường nhập khẩu, góp phần thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam phát triển một cách ma ̣nh mẽ giai đoa ̣n sau gia nhập WTO.”
Song song với những nghiên cứu trong nước, cuốn sách “Các Rào cản đối với Thương mại Tự do; Các hàng rào phi thuế quan tại Liên minh Châu
Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ” của David Hanson, Phó Giáo sư ngành Kinh doanh
Quốc tế, Đại học Duquesne, Pittsburgh, Hoa Kỳ (2000) đã đưa ra khung lý thuyết cơ bản và các số liệu tổng hợp để phân tích tình thế lưỡng nan của thương mại tự do, các Hiệp định Quốc tế, khái quát chính sách thương mại, các vấn đề tranh chấp trong thực tiễn thương mại tại các thị trường Hoa Kỳ,
EU và Nhật Bản Từ đó ông cũng đưa ra các quan điểm so sánh và triển vọng cải tổ các vấn đề còn tồn tại và hạn chế
Trang 201.1.2 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đến kinh tế Việt Nam
Qua 19 phiên đàm phán, hiện nay trong nước đã có nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của TPP tới nền kinh tế Việt Nam nói chung và đến những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam nói riêng Các bài nghiên cứu đã chỉ ra những tiềm năng, lợi ích và những bất lợi, khó khăn, hi sinh khi các nước
tham gia TPP
Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 200, tháng 2 năm 2014 đã đăng bài viết
“Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Những
kỳ vọng và tác động đối với Việt Nam” của đồng tác giả Đỗ Đức Bình,
Nguyễn Tiến Long, Hồ Trung Thành Bài viết nhận định rõ TPP là một Hiệp định thương mại tự do tiêu chuẩn cao với phạm vi điều chỉnh rộng bao gồm tất cả các lĩnh vực như thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường, nguồn gốc xuất xứ, mua sắm chính phủ… Bằng phương pháp thu thập thống kê và xử lý số liệu, từ đó đưa ra phân tích,
dự đoán các tác giả đã chỉ ra những vọng TPP sẽ đem lại cho các quốc gia tham gia (trong đó có Việt Nam) đồng thời thúc đẩy nhanh hơn quá trình tự
do hoá toàn cầu, mức độ thoả thuận cam kết chủ yếu trong TPP, những kỳ vọng về tận dụng tốt cơ hội, tác động tích cực và hạn chế những thách thức, tiêu cực khi tham gia TPP đối với Việt Nam
Cũng trong cùng số 200 của Tạp chí Kinh tế và phát triển, tháng 2 năm
2014 đã đăng bài nghiên cứu “Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP): Những cơ hội và thách thức đặt ra đối với Việt Nam” của các tác giả Ngô Tuấn Anh và Đỗ Đức Trung Cùng với quan điểm của bài viết“Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Những kỳ vọng và tác động đối với Việt Nam” các tác giả đã phân tích
Trang 21rõ TPP chính là “Hiệp định của thế kỷ 21” hay còn gọi là “Hiệp định FTA chất lượng cao”, với tham vọng đi sâu liên kết kinh tế, phân công lao động giữa các quốc gia thành viên, cải cách và nhất thể hóa môi trường đầu tư, kinh doanh và thuận lợi hóa cho doanh nghiệp Từ đó các tác giả đánh giá, việc nhận diện những cơ hội, thách thức là cần thiết nhằm tránh những rủi ro trong dài hạn cũng như có những điều chỉnh phù hợp, tận dụng được những cơ hội
do TPP mang lại đối với sự phát triển kinh tế bền vững trong tương lai
Xét về tác động tới mối quan hệ thương mại giữa các nước trong TPP, đề tài cấp Viện của ThS Đỗ Vũ Hưng, Viện Nghiên cứu Châu Mỹ, Viện Hàn
lâm Khoa học Xã hội đã nghiên cứu về “Tác động của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương tới quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ” năm
2013 Để chứng minh các luận điểm khoa học, trên cơ sở các nguồn lực khả dụng, phương pháp nghiên cứu tài liệu kết hợp một số phương pháp phi thực nghiệm như phỏng vấn, hội nghị chuyên gia được vận dụng trong đề tài để phân tích và dự đoán các tác động tới thương mại quốc tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ Theo tác giả, “Về cơ bản, TPP sẽ có tác động tích cực đối thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa hai nước Về phía Việt Nam, nếu tận dụng tốt
cơ hội từ TPP đem lại, khả năng gia tăng giá trị và thị phần các sản phẩm xuất khẩu truyền thống như may mặc, da giầy, thủy sản tại thị trường Hoa Kỳ là hiện thực bởi hiện nay thị phần các sản phẩm này của Việt Nam còn nhỏ Về phía Hoa Kỳ, gia tăng giá trị xuất hàng hóa và dịch vụ cũng là một kỳ vọng lớn đặt lên TPP Hoa Kỳ chắc chắn có những phẩm hàng hóa, dịch vụ có sức cạnh tranh thực sự và có khả năng triển khai cung cấp tại Việt Nam một khi TPP được ký kết Đó là các sản phẩm nông nghiệp như ngũ cốc, thịt gia súc, gia cầm; các sản phẩm công nghiệp, hóa chất, điện tử kỹ thuật cao, hệ thống dây chuyền sản xuất công nghiệp ” Đồng thời, tác giả cũng cho rằng “TPP cũng sẽ gia tăng luồng FDI tới Việt Nam, không chỉ từ Hoa Kỳ Tham gia và
Trang 22nếu nỗ lực thực hiện đúng cam kết trong TPP cùng các điều kiện vĩ mô thuận lợi khác, môi trường kinh doanh của Việt Nam hoàn toàn có thể trở nên hấp dẫn hơn và sẽ có sức hút mới đối với luồng vốn FDI.” Trong chương cuối cùng của đề tài, tác giả cũng đưa ra một vài nhận xét, đánh giá những thuận lợi và khó khăn khi Việt Nam tham gia hiệp định TPP và đưa ra một vài kiến nghị về chính sách Việt Nam
Trên một khía cạnh khác, Nội san Thông tin Khoa học xã hội và Nhân văn Hải Phòng số 3 (47) năm 2013 đã giới thiệu bài viết của TS Nguyễn
Xuân Quang “Tác động của TPP với định hướng phát triển công nghiệp của Hải Phòng” Tác giả đã khái quát TPP là gì và phân tích tác động như thế nào
đối với kinh tế Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng, khi Việt Nam hoàn tất đàm phán vào TPP Theo ông Quang, trong số 12 quốc gia tham gia TPP, Việt Nam là nước kém phát triển nhất nhưng phải thực hiện các cam kết
bình đẳng, không phân biệt đối xử trên nguyên tắc “có đi, có lại” Muốn trở
thành đối tác TPP , Việt Nam buô ̣c phải thực hiện nhiều cải cách về quyền sở hữu trí tuệ, luật lao động, mua sắm công, nguồn gốc xuất xứ Ông cũng chỉ ra thách thức lớn nhất của Việt Nam khi tham gia hiệp định TPP là Việt Nam phải được các nước trong TPP công nhận có nền kinh tế thị trường Hiện tại
ba đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam là Mỹ, Canada và Mexico chưa công nhận điều này Bên cạnh việc phân tích những thách thức, ông Giang cũng đưa ra dự đoán về những lợi ích mà Việt Nam sẽ thu được như mở rộng thị trường, thu hút đầu tư nước ngoài từ các nước trong TPP, những rào cản
về xuất xứ hàng hoá, nhất là hai lĩnh vực dệt may và da giày cũng sẽ giúp cho ngành dệt, sản xuất dâu, tằm tơ, trồng bông của Việt Nam dần được khôi phục Đặc biệt, bài viết cũng chỉ ra những vấn đề đặt ra với định hướng phát triển công nghiệp cho thành phố Hải Phòng
Trang 23Bên cạnh những nghiên cứu trong nước, việc phân tích, đánh giá, dự báo tác động của TPP tới Việt Nam cũng đã thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ngoài nước Tác giả Peter A.Petri, Michael G.Plummer và Fan
Zhai đã công bố nghiên cứu tháng 4/2012 có tựa đề “The Trans-Pacific Partnership and Asia-Pacific Intergration: A Quantitative Assessment” Tác
giả đã phân tích và chỉ rõ TPP là một hiệp định tiềm năng và các đặc điểm của
nó Các đàm phán của TPP đang diễn ra trong bối cảnh các hiệp định thương mại khác cũng đang diễn ra tại Châu Á Nghiên cứu này đã phân tích sự tương tác giữa hai con đường đàm phán song hành này “con đường Xuyên Thái Bình Dương” và “con đường châu Á” mà trong vòng 15 năm tới, hai con đường này có thể sẽ tiến triển và đi đến cùng một điểm chung Theo tác giả,
so với những lợi ích nhất thời từ thương mại, các lợi ích đạt được từ TPP phụ thuộc nhiều hơn vào tác động của nó tới tương lai của hệ thống thương mại Châu Á-Thái Bình Dương, một mô hình hội nhập khu vực chất lượng cao Vì vậy, nghiên cứu cố gắng tìm hiểu những tác động của hiệp định này đến các động cơ của việc mở rộng và các khuôn mẫu sẽ được sử dụng trong các đàm phán sau này TPP bao gồm nhiều vấn đề khá mới mẻ đòi hỏi nhiều nỗ lực nghiên cứu để giải quyết các vấn đề này Tóm lại, theo kết quả nghiên cứu, cả hai con đường đàm phán nêu trên đều có tính khả thi và có tác động tương hỗ lẫn nhau trong quá trình hội nhập Châu Á-Thái Bình Dương Mỗi con đường cần đạt được những lợi ích quan trọng riêng; đồng thời chúng cũng sẽ kích thích sự phát triển lẫn nhau Hai con đường đàm phán sẽ có những xung đột lẫn nhau (chủ yếu là trong các mô hình đã được thông qua) nhưng chúng sẽ làm phát sinh những động lực cho sự hợp nhất thành một hiệp định lớn của khu vực Kết quả này thực sự rất quan trọng cho khu vực cũng như cho toàn
thế giới
Trang 24Tiếp theo, đến tháng 3/2013 Petri công bố một báo cáo khác: “The Trans-Pacific Partnership and its impact on Vietnam’s economy” Báo cáo
này đi sâu đánh giá tác động của TPP đối với riêng Việt Nam Trong báo cáo này, bối cảnh mới của thương mại thế giới được Petri phân tích đặt trọng tâm vào 3 hiệp định siêu quy mô: Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định Đối tác và Đầu tư thương mại xuyên Đại Tây Dương (TTIP) Theo tác giả, đây là các hiệp định mà toàn bộ các bên tham gia đều được hưởng lợi với trị giá lên tới hàng nghìn tỷ USD và TPP đối với Việt Nam là một hiệp định đặc biệt nhiều hứa hẹn Bằng phương pháp sử dụng mô hình DCGE (cân bằng tổng thể động), Peter A.Petri cùng các cộng sự đã dự đoán rằng khi TPP đi vào hiện thực Việt Nam hoàn toàn có thể là quốc gia thành viên được hưởng lợi nhiều nhất Theo đó đến năm 2025 Việt Nam sẽ tăng thu GDP thêm khoảng 26,2 tỷ USD và con số này sẽ là 35,7 tỷ USD nếu Nhật Bản gia nhập TPP trong năm 2013 Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi cho Việt Nam, tác giả cũng đặc biệt lưu ý tới quá trình đàm phán cam go vẫn còn ở phía trước với nhiều vấn đề khó thực hiện triệt để như sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, quy tắc xuất xứ
1.1.3 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của TPP đến lĩnh vực xuất khẩu
Ngoài các nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của TPP đến kinh tế Việt Nam còn có rất nhiều các nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của TPP đến lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
Một chuỗi các báo cáo “TPP - Hiệp định thương mại của thế kỷ 21”,
“Phân tích những lợi ích Việt nam có thể thu được từ TPP”, “Phân tích những bất lợi tiềm tàng của TPP đối với Việt Nam”, “Việt Nam và TPP-
Trang 25Những suy tính thiệt hơn”, “Cam kết về Đầu tư trong TPP có thể tác động tiêu cực đến môi trường?”, “Sự can dự của Hoa Kỳ vào TPP và lưu ý đối với Việt Nam”, “Những đối tác hiện tại và tương lai của TPP- Lưu ý đối với Việt Nam”….của Ủy ban Tư vấn về Chính sách Thương Mại Quốc tế thuộc VCCI
đã được đăng trong mục Đánh giá tác động của chuyên đề về TPP của website
Trung tâm WTO thuộc VCCI Các báo cáo ngắn gọn, xem xét một khía cạnh,
một lĩnh vực cụ thể nào đó trong TPP thể hiện được kết quả nghiên cứu thông qua phương pháp tổng hợp số liệu, phân tích và tổng hợp để hệ thống các vấn
đề nghiên cứu, từ đó làm rõ các lợi ích Việt Nam đạt được ở các ngành như dệt may, thủy hải sản, đồ gỗ, và các vấn đề về chính sách như thuế suất, đầu
tư, chi tiêu chính phủ, sở hữu trí tuệ, vấn đề môi trường Đồng thời các báo cáo cũng chỉ ra những vấn đề Việt Nam gặp phải sau khi gia nhập như: thị trường nội địa sẽ bị mất vào tay nước ngoài, sự bất cập của chính sách, sự mất tác dụng của các chính sách bảo hộ Trên cơ sở đó các báo cáo đề xuất phương hướng đàm phán cho Việt Nam và các giải pháp cấp thiết trước và sau khi gia nhập TPP
Một nghiên cứu rất gần với luận văn là nghiên cứu của tác giả Lê Thị Ánh Tuyết và Huỳnh Thế Nguyễn, Trường Cao đẳng Tài chính - Hải quan đăng trên báo Phát triển và Hội nhập, Số 15 (25), Tháng 03-04/2014 có tựa đề
“Cơ hội và thách thức cho hàng xuất khẩu của Việt Nam khi triển khai quy tắc xuất xứ theo Hiệp định TPP” Bài viết khái quát những cơ hội và thách
thức cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam khi triển khai Quy tắc xuất xứ theo Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Bằng phương pháp phân tích định tính, các tác giả đã chỉ rõ khái niệm về quy tắc xuất xứ theo TPP là gì và đưa ra điểm khác biệt của TPP đối với các hiệp định khác là quy định về hàm lượng giá trị khu vực; nghĩa là sản phẩm phải đạt tỷ
lệ nội địa hóa từ 55% tổng giá trị trở lên Doanh nghiệp chỉ được phép nhập
Trang 26tối đa 45% nguyên vật liệu từ các nước ngoài khối để sản xuất ra một sản phẩm, kể cả chi phí gia công Đây là một rào cản kỹ thuật mới đòi hỏi các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam cần đáp ứng và cũng trở thành một khó khăn đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam Vì thế, các tác giả cũng đã đưa ra giải pháp đột phá cho hàng xuất khẩu của VN khi tham gia áp dụng tiêu chuẩn xuất xứ TPP là lựa chọn ngành công nghiệp chủ lực và đầu tư ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp xuất khẩu chủ lực
Với hàng loạt những phân tích được và mất khi Việt Nam tham gia ký kết TPP, để quá trình đàm phán và hội nhập của Chính phủ gắn kết tốt hơn với lợi ích của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 9317/VPCP-QHQT ngày 24/12/2010 về việc giao Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) làm đầu mối tập hợp ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp về các đàm phán cam kết thương mại quốc tế, VCCI đã tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện để cộng đồng doanh nghiệp nâng cao nhận thức và chủ động có ý kiến đối với các đàm phán thương mại quốc tế mà Nhà nước đang hoặc sẽ tiến hành đàm phán trong tương lai Ủy ban Tư vấn Chính sách Thương mại Quốc tế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) dưới sự hỗ trợ vốn của Liên minh Châu Âu đã nghiên cứu và cho xuất
bản cuốn sách “Khuyến nghị phương án đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP)” Khuyến nghị thứ nhất về phương án đàm phán
chung liên quan đến TPP2 này là kết quả của việc tham khảo ý kiến cộng đồng, nghiên cứu của các chuyên gia Ủy ban Tư vấn Chính sách Thương mại Quốc tế VCCI và góp ý của các Hiệp hội doanh nghiệp ngành hàng Thông qua cuốn sách, VCCI cũng đã đánh giá phân tích những tác động từ TPP, những lợi ích và bất lợi đối với Việt Nam Cuốn sách đã phân tích lợi ích ở thị trường các nước đối tác TPP mà Việt Nam có thể tận dụng từ TPP thể hiện ở
Trang 272 hình thức chủ yếu: Thứ nhất là lợi ích thuế quan (đối với thương mại hàng hóa) với mức thuế suất bằng 0 Thứ hai là lợi ích tiếp cận thị trường (đối với thương mại dịch vụ và đầu tư) Về lý thuyết Việt Nam sẽ được tiếp cận thị trường dịch vụ của các nước đối tác thuận lợi hơn, với ít các rào cản và điều kiện hơn
1.1.4 Kết luận
Các nghiên cứu trong và ngoài nước bằng nhiều phương pháp khác nhau như định tính và định lượng cũng đã nêu lên được tầm quan trọng của các rào cản kỹ thuật trong hiệp định hợp tác song phương, đa phương nói chung và TPP nói riêng Bên cạnh đó cũng có rất nhiều các nghiên cứu đã chỉ ra được tác động của TPP đối với các nước tham gia nói chung và Việt Nam nói riêng
ở nhiều khía cạnh khác nhau: tác động tổng thể tới nền kinh tế, tác động đến thương mại quốc tế giữa các nước hay hẹp hơn là tác động của TPP đối với một ngành của Việt Nam Gần hơn nữa là các nghiên cứu cụ thể về các rào cản trong TPP như quy định về xuất xứ hàng hóa đã nêu ra cụ thể các khó khăn mà Việt Nam cần vượt qua Từ đó, các nghiên cứu đã đưa ra các khuyến nghị và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Mặc dù vậy, nội dung về các rào cản kỹ thuật đang được áp dụng tại các nước tham gia TPP là tương đối nhiều và có nhiều ảnh hưởng đến các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam là một vấn đề thời sự đang được quan tâm Vì vậy, nghiên cứu này sẽ tập trung khái quát, phân tích, làm rõ các rào cản kỹ thuật trong các nước TPP cụ thể là Mỹ và Nhật Bản bao gồm những gì và đánh giá những ảnh hưởng của nó tới các mặt hàng xuất khẩu chính (dệt may
và thủy sản) của Việt Nam Từ đó, bài nghiên cứu cũng xin đưa ra một vài gợi
ý chính sách cho Việt Nam
Trang 281.2 Cơ sở lý luận về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế
Hiện nay tự do hóa thương mại cùng tồn tại song song với bảo hộ và tạo thành xu hướng nổi bật trong thương mại quốc tế Các nước nhập khẩu đã đặt
ra các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho các mặt hàng nhập khẩu để bảo hộ nền sản xuất trong nước và đảm bảo chất lượng hàng hóa cho người tiêu dùng Do vậy, để đạt được mục đích này, các quốc gia trên thế giới bao gồm
cả Việt Nam đã tăng cường ký kết và tham gia các hiệp định về các biện pháp nhằm bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức khoẻ con người, môi trường,
an ninh; thực hiện cơ chế kiểm tra chất lượng tại cơ sở sản xuất của nước xuất khẩu hàng hóa khi có điều kiện; tham gia tích cực mạng lưới cảnh báo nhanh
về chất lượng hàng hóa giữa các nước
Một trong các rào cản hữu hiệu trong thương mại quốc tế là các biện pháp kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật và đánh giá khả năng đáp ứng của các mặt hàng nhập khẩu đang được sử dụng phổ biến để bảo hộ cho sản xuất trong nước, gây hạn chế việc nhập khẩu của các hàng hóa nước ngoài vào thị trường
nội địa nước nhập khẩu Vì vậy, chúng còn được gọi là “rào cản kỹ thuật đối với thương mại”
1.2.1 Khái quát về rào cản kỹ thuật
1.2.1.1 Khái niệm
Thuật ngữ rào cản đối với thương mại được đề cập lần đầu tiên và chính
thức trong Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Agreement on technical Barriers to trade) của Tổ chức Thương mại thế giới Tuy nhiên,
trong Hiệp định, thuật ngữ này cũng chưa được định danh mà mới chỉ được
thừa nhận như một thoả thuận: “Không một nước nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo cho chất lượng hàng hoá xuất khẩu của mình hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khoẻ con người, động vật và thực
Trang 29vật, bảo vệ môi trường hoặc ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở mức độ nước đó cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng, các biện pháp này không được tiến hành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc không thể biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau hoặc tạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, hay nói cách khác, phải phù hợp với các qui định của hiệp định này” Như vậy, có thể hiểu:
Các “Rào cản kỹ thuật đối với thương mại” (Technical Barriers to Trade) là
các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và/hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hoá nhập khẩu đối
với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó (còn được gọi chung là các biện pháp kỹ thuật - biện pháp TBT)
Các rào cản kỹ thuật này về nguyên tắc là cần thiết và hợp lý nhằm bảo
vệ những lợi ích quan trọng như sức khoẻ con người, môi trường, an ninh
Vì vậy, mỗi nước thành viên WTO đều thiết lập và duy trì một hệ thống các biện pháp kỹ thuật riêng đối với hàng hoá của mình và hàng hoá nhập khẩu [31]
Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại (gọi tắt là Hiệp định TBT)
là một trong 18 hiệp định của WTO được xây dựng và thực thi Theo Hiệp định TBT (Technological Barrier to Trade), hàng rào kỹ thuật được thể hiện dưới các hình thức như Tiêu chuẩn và Văn bản quy phạm pháp luật về kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật; quy trình đánh giá sự phù hợp Đây là hàng rào quy định về hệ thống quản trị chất lượng, môi trường, đạo đức kinh doanh, điểm kiểm soát tới hạn , đối với các doanh nghiệp khi thâm nhập vào thị trường Mục tiêu của Hiệp định:
- Thúc đẩy các mục tiêu của hiệp định chung về hàng rào thuế quan
Trang 30- Khẳng định vai trò quan trọng trong các tiêu chuẩn và các hệ thống quốc tế về đánh giá sự phù hợp trong quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh thương mại
- Bảo đảm các tiêu chuẩn, văn bản pháp quy kỹ thuật và các quy trình đánh giá sự phù hợp, không gây trở ngại cho thương mại quốc tế
- Không ngăn cản các nước áp dụng áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm chất lượng hàng xuất khẩu, bảo vệ sức khỏe, an toàn cuộc sống con người, động thực vật, bảo vệ môi trường, chống gian lận thương mại và đảm bảo an ninh quốc gia
Bên cạnh các “hàng rào kỹ thuật thương mại” (TBT), liên quan đến các yêu cầu về đặc tính sản phẩm, quy trình sản xuất, đóng gói…các nước còn duy trì nhóm các “rào cản vệ sinh và kiểm dịch động thực vật” (SPS) Giữa hai nhóm rào cản SPS và TBT có nhiều điểm giống nhau và được WTO quy định riêng cho mỗi nhóm tập trung ở hai Hiệp định khác nhau với các nguyên tắc khác nhau
Tiêu chí để phân biệt hai nhóm rào cản này là mục tiêu áp dụng của chúng:
Các rào cản SPS hướng tới mục tiêu cụ thể là bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ con người, vật nuôi, động thực vật thông qua việc đảm bảo vệ sinh thực phẩm và ngăn chặn các dịch bệnh;
Các rào cản TBT hướng tới nhiều mục tiêu chính sách khác nhau (an ninh quốc gia, môi trường, cạnh tranh lành mạnh…)
Một điểm khác biệt nữa giữa hai hiệp định này là: Mặc dù cả hai hiệp định này đều khuyến khích các nước sử dụng tiêu chuẩn quốc tế, nhưng theo hiệp định SPS, một quốc gia chỉ được phép áp dụng các tiêu chuẩn riêng khắt
Trang 31khe hơn các tiêu chuẩn quốc tế khi đưa ra được các bằng chứng mang tính khoa học dựa trên đánh giá những nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng đến sức khỏe Ngược lại, theo hiệp định TBT, chính phủ một nước có thể quyết định rằng tiêu chuẩn quốc tế đó không phù hợp vì những lí do khác, chẳng hạn như các
vì các vấn đề công nghệ cơ bản hay vì yếu tố địa lý Tương tự, các rào cản SPS chỉ có thể được áp dụng nhằm mục đích bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật dựa trên các thông tin khoa học, trong khi các rào cản TBT có thể được áp dụng khi một nước thấy cần phải thực hiện các mục tiêu như an ninh quốc gia hay ngăn cản các hành động gian lận
Việc phân biệt khi nào một rào cản là TBT hay SPS là rất quan trọng đối với doanh nghiệp bởi mỗi loại biện pháp sẽ chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc và quy định riêng của WTO; trên cơ sở đó, doanh nghiệp biết bảo vệ quyền lợi của mình bằng phương pháp nào thì thích hợp
1.2.1.2 Phân loại rào cản kỹ thuật
Theo khái niệm trên, bản thân nó cũng đã chỉ ra các loại rào cản kỹ thuật
mà các nước tham gia ký kết cần thực hiện
- Quy chuẩn kỹ thuật (technical regulations) là những yêu cầu kỹ thuật
có giá trị áp dụng bắt buộc (các doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ)
- Tiêu chuẩn kỹ thuật (technical standards) là các yêu cầu kỹ thuật được
một tổ chức được công nhận chấp thuận nhưng không có giá trị áp dụng bắt buộc
- Quy trình đánh giá sự phù hợp của một loại hàng hoá với các quy
định/tiêu chuẩn kỹ thuật (conformity assessment procedure)
Các loại rào cản kỹ thuật này được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
Trang 32- Các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, an toàn vệ sinh dịch tễ:
Cơ quan chức năng đặt ra các yêu cầu liên quan chủ yếu đến kích thước, hình dáng, thiết kế, độ dài và các chức năng của sản phẩm Theo đó, các tiêu chuẩn đối với sản phẩm cuối cùng, các phương pháp sản xuất và chế biến, các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng nhận và chấp nhận, những quy định và các phương pháp thống kê, thủ tục chọn mẫu và các phương pháp đánh giá rủi
ro liên quan, các yêu cầu về an toàn thực phẩm được áp dụng Mục đích của các tiêu chuẩn và quy định này là nhằm bảo vệ an toàn, vệ sinh, bảo vệ sức khoẻ, đời sống động, thực vật, bảo vệ môi trường, …
Các tiêu chuẩn thường được áp dụng trong thương mại là HACCP đối với thuỷ sản và thịt, SPS đối với các sản phẩm có nguồn gốc đa dạng sinh học
- Các tiêu chuẩn chế biến và sản xuất theo quy định môi trường:
Đây là các tiêu chuẩn quy định sản phẩm cần phải được sản xuất như thế nào, được sử dụng như thế nào, được vứt bỏ như thế nào, những quá trình này
có làm tổn hại đến môi trường hay không Các tiêu chuẩn này được áp dụng cho giai đoạn sản xuất với mục đích nhằm hạn chế chất thải gây ô nhiễm và lãng phí tài nguyên không tái tạo
- Các yêu cầu về nhãn mác:
Biện pháp này được quy định chặt chẽ bằng hệ thống văn bản pháp luật, theo đó các sản phẩm phải được ghi rõ tên sản phẩm, danh mục thành phần, trọng lượng, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, thời hạn bảo quản, xuất xứ, nước sản xuất, nơi bán, mã số mã vạch, hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn bảo quản … Quá trình xin cấp nhãn mác cũng như đăng ký thương hiệu kéo dài hàng tháng và rất tốn kém, nhất là ở Mỹ Đây là một rào cản thương mại được
sử dụng rất phổ biến trên thế giới, đặc biệt tại các nước phát triển
Trang 33- Các yêu cầu về đóng gói bao bì:
Gồm những quy định liên quan đến nguyên vật liệu dùng làm bao bì, những quy định về tái sinh, những quy định về xử lý và thu gom sau quá trình
sử dụng… Những tiêu chuẩn và quy định liên quan đến những đặc tính tự nhiên của sản phẩm và nguyên vật liệu dùng làm bao bì đòi hỏi việc đóng gói phải phù hợp với việc tái sinh hoặc tái sử dụng
Các yêu cầu về đóng gói bao bì cũng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm do sự khác nhau về tiêu chuẩn và quy định của mỗi nước, cũng như chi phí sản xuất bao bì, các nguyên vật liệu dùng làm bao
bì và khả năng tái chế ởmỗi nước là khác nhau
- Phí môi trường:
Phí môi trường thường được áp dụng nhằm 3 mục tiêu chính: thu lại các chi phí phải sử dụng cho môi trường, thay đổi cách ứng xử của cá nhân và tập thể đối với các hoạt động có liên quan đến môi trường và thu các quỹ cho các hoạt động bảo vệ môi trường Các loại phí môi trường thường gặp gồm có:
Phí sản phẩm: áp dụng cho các sản phẩm gây ô nhiễm, có chứa các hoá chất độc hại hoặc có một số thành phần cấu thành của sản phẩm gây khó khăn cho việc thải loại sau sử dụng
Phí khí thải: áp dụng đối với các chất gây ô nhiễm thoát vào không khí, nước và đất, hoặc gây tiếng ồn
Phí hành chính: áp dụng kết hợp với các quy định để trang trải các chi phí dịch vụ của chính phủ để bảo vệ môi trường
Phí môi trường có thể được thu từ nhà sản xuất hoặc người tiêu dùng hoặc cả nhà sản xuất và người tiêu dùng
- Nhãn sinh thái:
Trang 34Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng biết là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường Các tiêu chuẩn về dán nhãn sinh thái được xây dựng trên cơ sở phân tích chu kỳ sống của sản phẩm, từ giai đoạn tiền sản xuất, sản xuất, phân phối, tiêu thụ, thải loại sau sử dụng, qua đó đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với môi trường của sản phẩm ở các giai đoạn khác nhau trong toàn bộ chu kỳ sống của nó
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái, thường được gọi là “sản phẩm xanh”,
có khả năng cạnh tranh cao hơn so với sản phẩm cùng chủng loại nhưng không dán nhãn sinh thái do người tiêu dùng thường thích và an tâm khi sử dụng các “sản phẩm xanh” hơn Ví dụ, trên thị trường Mỹ, các loại thuỷ sản
có dán nhãn sinh thái thường có giá bán cao hơn, ít nhất 20%, có khi gấp 2-3 lần thuỷ sản thông thường cùng loại
1.2.1.3 Vai trò của rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế
Trong những năm gần đây, nhiều tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được các nước chấp nhận đã tăng lên đáng kể Chính sách tăng cường quản lý có thể được xem như là kết quả của mức sống cao hơn trên toàn cầu đã thúc đẩy nhu cầu của người tiêu dùng mong muốn có những sản phẩm chất lượng cao
và an toàn, và việc gia tăng về ô nhiễm nguồn nước, không khí và đất đã thúc đẩy các xã hội hiện đại tăng cuờng sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường Đôi khi các nước muốn bảo vệ nền sản xuất trong nước song lại yêu cầu các nước khác phải tự do thương mại cho hàng xuất khẩu của mình
1.2.1.4 Mục đích của việc hình thành các rào cản kỹ thuật
Trong thương mại tồn tại hàng rào thuế quan và phi thuế quan, hàng rào
kỹ thuật là hàng rào phi thuế quan Mỗi quốc gia đều cần thiết xây dựng và duy trì cho mình một hàng rào kỹ thuật hợp pháp để bảo vệ con người, vật nuôi, sức khỏe, môi trường…dẫn đến số lượng các quy chuẩn và tiêu chuẩn
Trang 35kỹ thuật rất nhiều Do trình độ và mức độ hội nhập của các quốc gia là khác nhau, mục đích sử dụng các loại rào cản trong thương mại cũng khác nhau (mục đích chính trị, an ninh quốc gia, bảo vệ việc làm, bảo vệ người tiêu dùng, khuyến khích lợi ích của quốc gia, để đáp lại các hành động thương mại không bình đẳng, để bảo vệ môi trường ) nên về cơ bản, các quốc gia vẫn sử dụng kết hợp cả hai loại rào cản trên Các loại rào cản có thể được áp dụng ở biên giới hay nội địa, có thể là biện pháp hành chính song cũng có thể là biện pháp kỹ thuật, là biện pháp bắt buộc phải thực hiện, hoặc có thể là những biện pháp tự nguyện Trước đây, các rào cản thương mại chỉ giới hạn trong phạm
vi của thương mại hàng hoá và chủ yếu là các biện pháp hành chính và thuế quan, thì hiện nay, nó đã phát triển ra cả lĩnh vực dịch vụ, thương mại đầu tư,
sở hữu trí tuệ và ở mức độ đa quốc gia
Chính các nội dung về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình đánh giá
sự phù hợp, các hiệp định hay thỏa thuận song phương và đa phương liên quan, các văn bản pháp luật liên quan… tạo thành nhóm các yếu tố có tính rào cản thương mại (nói cách khác các rào cản thương mại được hình thành từ nội dung của tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, pháp lý kỹ thuật…)
1.2.2 Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế (TBT)
Trong nhiều năm gần đây, ngày càng có nhiều quốc gia áp dụng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật trong các hoạt động thương mại quốc tế Điều
đó có tác dụng to lớn trong bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng về sự an toàn trong sử dụng, tiêu thụ sản phẩm thông qua chất lượng sản phẩm tiêu dùng được đảm bảo Xuất phát từ tác dụng to lớn này, các quốc gia đã và đang tăng cường xây dựng và thực hiện một chính sách bao gồm các quy định
và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng trong hoạt động thương mại trong nước cũng như thương mại quốc tế
Trang 361.2.2.1 Sự hình thành TBT
Khi một quốc gia muốn xuất khẩu sản phẩm của nước mình ra nước ngoài, ngoài việc sản phẩm đó đáp ứng được các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật trong nước còn phải phù hợp với các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật của các nước nhập khẩu Đây chính là yếu tố quyết định đến việc sản phẩm của quốc gia đó có xuất khẩu được hay không cũng như có thể được thị trường nước nhập khẩu chấp nhận hay không
Điều này đã làm nảy sinh yêu cầu cần có sự phù hợp, tương thích giữa các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật của các quốc gia khác nhau Nhưng sẽ đòi hỏi chi phí rất lớn như: Chi phí dịch thuật các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật của nước ngoài; chi phí thuê chuyên gia kỹ thuật nước ngoài để giải thích, giảng giải về các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật đó; chi phí điều chỉnh sản phẩm trong nước sao cho phù hợp với các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật nước ngoài…
Ngoài ra, nhà sản xuất còn phải chứng minh được sản phẩm của mình đáp ứng được yêu cầu của các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật Tất cả những chi phí, thủ tục trên đều đòi hỏi nhà sản xuất phải bỏ ra chi phí rất lớn cũng như tiêu tốn rất nhiều thời gian Thậm chí, những chi phí này còn tăng lên rất nhiều khi xuất khẩu sản phẩm sang nhiều nước nhập khẩu khác nhau do mỗi một quốc gia lại ban hành và áp dụng một bộ quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật riêng
Để giải quyết khó khăn này, cũng như mở rộng thêm mục đích áp dụng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật cần phải có một văn bản quốc tế chung về các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật Sau nhiều năm đàm phán (1973-1979), vòng đàm phán Tokyo cuối cùng năm 1979 của Hiệp định chung về thuế quan
và thương mại (GATT) đã đánh dấu sự ra đời của quy chế về tiêu chuẩn đối
Trang 37với hàng hóa - tiền thân của Hiệp định TBT TBT được hình thành trong vòng đàm phán Uruguay (1986-1994), tại vòng đàm phán này, nhiều nội dung đã được sửa đổi lại rõ hơn như: đưa ra các phương thức gia công sản xuất có ảnh hưởng đến các tính năng của sản phẩm Phạm vi của các thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn cũng được mở rộng, các quy tắc đánh giá cũng được đưa ra chi tiết hơn Các quy định về khai báo đối với chính phủ cũng như các tổ chức phi chính phủ của các thành viên WTO cũng được cụ thể hóa và Hiệp định TBT chính thức có hiệu lực vào 1/1/1995
Hiệp định TBT ra đời đã nâng cao hiệu quả trong xuất khẩu và áp dụng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như góp phần to lớn trong việc giải quyết những khó khăn do mâu thuẫn giữa các bộ quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật của các nước khác nhau Ngày nay, Hiệp định TBT cùng với Hiệp định
về việc Áp dụng các rào cản vệ sinh động vật và vệ sinh thực vật - được gọi tắt là Hiệp định SPS, điều chỉnh tất cả các vấn đề kỹ thuật của hàng hoá trên phạm vi toàn cầu, với các nguyên tắc chung của WTO và các nguyên tắc riêng đặc thù
1.2.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của TBT
Hiệp định TBT có 6 nguyên tắc cơ bản:
Nguyên tắc 1: Áp dụng cho các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật (quy định
của các nước thành viên không được tạo ra những rào cản không cần thiết cho thương mại quốc tế)
Các cản trở khi đưa ra phải phục vụ cho một mục đích chính đáng, nhằm bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ an ninh quốc gia hay bảo vệ môi trường Khi đưa ra các cản trở, quốc gia đó cũng phải xem xét đến sự khác biệt về thị hiếu, thu nhập, vị trí địa lý và các nhân tố khác giữa các quốc gia, từ đó lựa chọn sử dụng những cản trở có tác động đến hoạt động thương mại ít nhất
Trang 38Nguyên tắc này cũng áp dụng cho các thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn Theo đó, các thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn khi đưa ra không được quá khắt khe và tốn quá nhiều thời gian so với mức cần thiết để đánh giá một sản phẩm phù hợp với luật lệ trong nước và các quy định của nước nhập khẩu
Nguyên tắc 2: Không phân biệt đối xử Giống như các hiệp định khác
của WTO, nguyên tắc không phân biệt đối xử của hiệp định TBT được thể hiện qua hai nguyên tắc: Đãi ngộ tối huệ quốc - MFN (mỗi thành viên sẽ dành cho sản phẩm của một thành viên khác đối xử không kém ưu đãi hơn đối xử
mà thành viên đó dành cho sản phẩm của một nước thứ ba) và Đãi ngộ quốc gia - NT (mỗi thành viên sẽ không dành cho sản phẩm của công dân nước mình đối xử ưu đãi hơn so với sản phẩm của người nước ngoài) MFN và NT được áp dụng cho cả các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá
sự phù hợp
Nguyên tắc 3: Hài hòa hóa Được thể hiện cụ thể trên các mặt sau:
Khuyến khích các nước thành viên sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong thương mại, các tiêu chuẩn quốc gia (toàn bộ hoặc một phần) trừ khi việc sử dụng đó không phù hợp, làm mất tính hiệu quả trong thực hiện một mục đích nào đó
Khuyến khích các nước thành viên tham gia vào các Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế như ISO, IEC, ITU Là những tổ chức đã thiết lập những bộ tiêu chuẩn
kỹ thuật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi hoạt động của các tổ chức này
Ngoài ra còn đề cập đến những vấn đề đối xử đặc biệt và khác biệt với các thành viên WTO là các nước đang và chậm phát triển như:
- WTO yêu cầu các nước thành viên bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển Điều này thể hiện trong quá trình ban hành và áp dụng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và các thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn Các thành
Trang 39viên WTO phải tính đến trình độ phát triển và khả năng tài chính của các nước đang phát triển
- WTO cho phép có sự linh hoạt trong ban hành và áp dụng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và các thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn Theo đó, các nước đang phát triển không bắt buộc phải áp dụng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế không phù hợp với trình độ phát triển và khả năng tài chính của các nước này
Nguyên tắc 4: Tính tương đương: yêu cầu các thành viên chấp nhận các
QCKT khác với QCKT của chính quốc gia đó, miễn sao đáp ứng được cùng một mục tiêu chính sách
Khi các nước công nhận các biện pháp kỹ thuật của nhau sẽ giúp làm giảm chi phí điều chỉnh các tính năng của sản phẩm để phù hợp với tiêu chuẩn của các nước khác Hơn nữa, do khoảng cách về thời gian giữa thời điểm ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế với thời điểm tiến hành áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế đó vào hoạt động sản xuất của một quốc gia có thể diễn ra trong một khoảng thời gian khá dài sẽ tạo điều kiện cho nước áp dụng
có cơ hội từ chối không áp dụng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế Việc tuân thủ nguyên tắc tính tương đương sẽ góp phần làm cho các nhà sản xuất phải tuân thủ các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật chặt chẽ hơn
Nguyên tắc 5: Công nhận lẫn nhau
Khi các nước công nhận các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn của nhau thì nhà xuất khẩu, nhà sản xuất sẽ chỉ phải tiến hành kiểm tra, chứng nhận tiêu chuẩn kỹ thuật ở một nước; kết quả kiểm tra và chứng nhận tại quốc gia đó sẽ được các nước khác công nhận Nhờ đó
sẽ giảm được một phần chi phí
Trang 40Trong thực tế, các nước thành viên WTO đều công nhận kết quả của thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn của nước khác ngay cả khi thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn của các quốc gia không giống nhau
Ngoài ra, hiệp định TBT còn quy định khi kết quả của các tổ chức đánh giá sự hợp chuẩn tương thích với những chỉ dẫn liên quan do các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ban hành thì kết quả đó được xem là bằng chứng về một trình độ kỹ thuật hoàn chỉnh
Nguyên tắc 6: Minh bạch Nguyên tắc này được thể hiện trên các mặt:
- Bản thảo các quy định kỹ thuật của các nước thành viên WTO phải được gửi đến Ban thư ký WTO trước khi gửi bản chính thức 60 ngày để WTO xin ý kiến các nước thành viên WTO khác
- Ngay khi hiệp định TBT có hiệu lực, các nước tham gia phải thông báo cho các nước thành viên khác về các biện pháp thực hiện và quản lý các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật của nước mình, cũng như các thay đổi sau này của các biện pháp đó
- Khi các nước thành viên WTO tham gia ký kết các hiệp định song phương và đa phương với các quốc gia khác có lên quan đến các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn; nếu các hiệp định này
có ảnh hưởng về thương mại đến các nước thành viên khác thì phải thông qua Ban thư ký WTO thông báo về các sản phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định, kèm theo 1 bản mô tả vắn tắt hiệp định
Ngoài ra, theo nguyên tắc minh bạch, các nước thành viên WTO còn phải thành lập “Điểm trả lời các câu hỏi liên quan đến các quy định, tiêu chuẩn, thủ tục kiểm tra kỹ thuật”