1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế luận văn ths kinh tế 60 31 01 pdf

95 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của thị trường liên ngân hàng nói chung và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nói riêng trong quá trình đổi mới nền kinh tế ở Việt nam được thể hiện qua: nhu cầu vốn đầu tư của đ

Trang 2

Nguyễn Thị Khuyên

Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam trong

quá trình hội nhập quốc tế

Luận văn Thạc sĩ

Mã Số: 60 31 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Thị Mai Hoa

Hà nội - 2006

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường chủ động hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và thế giới, vì vậy việc sớm đưa các công cụ của nền kinh tế thị truờng vào vận hành có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng Vai trò của thị trường liên ngân hàng nói chung và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nói riêng trong quá trình đổi mới nền kinh tế ở Việt nam được thể hiện qua: nhu cầu vốn đầu tư của đất nước, hoạt động của các tổ chức tín dụng và thể hiện qua việc thực thi điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt nam

Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt nam được thành lập vào năm

1994 do Ngân hàng nhà nước quản lý và điều hành Đây là nơi gặp nhau của cung và cầu về ngoại tệ của các TCTD Sự ra đời này là một thành quả của Chính phủ trong việc quản lý ngoại hối Trong những năm qua, thị trường đã

có những bước chuyển đổi đáng kể Thông qua thị trường, NHNN đã theo dõi được các giao dịch về ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng, nắm bắt các diễn biến cung cầu và tham gia thị trường với vai trò là người tổ chức và điều hành thị trường, người mua bán cuối cùng để can thiệp khi cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Nhờ có sự hoạt động của TTNTLNH, đến nay các định chế tài chính có thể kinh doanh ngoại tệ nhằm thoả mãn các nhu cầu tiền tệ của khách hàng và cân bằng trạng thái ngoại hối của ngân hàng Thực tế từ năm 1997 đến nay, bên cạnh việc điều chỉnh linh hoạt tỷ giá, việc NHNN thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời trên thị trường đã phát huy tác dụng, tạo điều kiện cho các ngân hàng tháo gỡ khó khăn trong cân đối ngoại tệ, góp phần ổn định tỷ giá Tuy nhiên, TTNTLNH

Trang 4

của Việt nam còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm nên còn bộc lộ một số hạn chế như: Số lượng thành viên tham gia và khối lượng giao dịch còn nhỏ, phát triển chậm, tỷ trọng giao dịch trên TTNTLNH còn thấp nên chưa có vai trò chủ đạo trong thị trường ngoại hối tổng thể ở Việt nam, hệ thống tổ chức, cơ chế hoạt động, chính sách quản lý ngoại hối… cần phải tiếp tục được hoàn thiện và đổi mới Tác động của thị trường đối với việc thực hiện chính sách tiền tệ thông qua điều tiết của NHNN cũng còn những khó khăn Hơn nữa hệ thống ngân hàng Việt nam đã và đang phải đối mặt với những cơ hội và thách thức của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, thể hiện ở việc các ngân hàng Việt nam phải trực tiếp cạnh tranh với các ngân hàng đa quốc gia đầy tiềm lực ngay tại thi trường nội địa Trong những năm tới khi quá trình tự do hóa tài chính diễn ra mạnh mẽ, diễn biến luồng vốn phức tạp thì chúng sẽ đặt

ra những thách thức cho việc điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá của Việt Nam Điều đó có nghĩa là việc nâng cấp và hoàn thiện các thị trường

bộ phận đặc biệt là TTNTLNH ở Việt nam là rất cần thiết

Nhằm đưa ra một số giải pháp có tính đồng bộ, đặc biệt là đối với NHNN để hoàn thiện hơn nữa sự phát triển của TTNTLNH Việt nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, tôi chọn đề tài: “Thị trường ngoại

tệ liên ngân hàng Việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ” để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu

Sự hoạt động của TTNTLNH đã mang đến cho nền kinh tế nước ta những nguồn lực về tài chính dồi dào hơn, tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng có thể điều hòa, sử dụng nguồn vốn của mình một cách linh hoạt và hiệu quả Cùng với sự phát triển đi lên của

Trang 5

TTNTLNH là có sự đóng góp về mặt nghiên cứu của các tác giả Một số công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu có liên quan đến đề tài luận văn, gồm:

1 “Hoàn thiện cơ chế điêù hoà vốn trong thị trường liên ngân hàng” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành của Tiến sĩ Vũ Thị Lợi, đề tài được hoàn thành vào năm 2002 Tác giả của đề tài này đã tập trung vào việc phân tích thực trạng áp dụng cơ chế, chính sách quản lý tiền tệ của NHNN đối với các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh doanh tiền tệ có tham gia hoạt động trên thị trường liên ngân hàng Đề tài đã đóng góp một số giải pháp và kiến nghị đối với NHNN để có được một cơ chế hoàn thiện hơn , giúp cho việc điều hoà các nguồn vốn trở lên nhanh chóng và an toàn hơn, đáp ứng tốt các nhu cầu về vốn cho nền kinh tế Tuy nhiên kể từ năm 2002 cho đến nay, cùng với xu thế của hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nền kinh tế đã có nhiều chuyển biến cả về

lý luận và thực tiễn Do vậy nhũng định hướng và giải pháp mà tác giả đưa ra cho đến nay phần nào không còn mang tính thực tiễn, kịp thời

2 “Cẩm nang thị trường ngoại hối và các giao dịch kinh doanh ngoại hối” của PGS TS Nguyễn Văn Tiến Tác giả đã cung cấp cho độc giả những vấn đề, khái niệm cơ bản trong giao dịch ngoại hối, lý thuyết về kinh doanh ngoại hối, các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng Đó là những nền tảng

lý thuyết cơ bản Tuy nhiên, tác giả cũng chưa đề cập đến thực tế hoạt động thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt nam, cũng như về cơ chế, chính sách của NHNN đối với hoạt động của thị trường

3 “Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường liên ngân hàng ở Việt nam” Luận văn thạc sĩ của Lương Thu Trang năm 2004 – Học viện ngân hàng Trong luận văn tác giả đã trình bày tổng quan về thi trường liên ngân hàng, thực trạng thị trường liên ngân hàng (cả đồng nội tệ và ngoại tệ) Việt nam Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy thị trường liên ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn Tuy nhiên, theo tôi, luận văn chưa đi sâu

Trang 6

nghiên cứu về mặt chính sách đối với NHNN, các giải pháp đưa ra chưa đồng

bộ đối với các chủ thể tham gia TTNTLNH

4 “Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ với việc điều tiết vốn khả dụng”- Bài viết của Thạc sỹ Lê Thị Tuấn Nghĩa trên Tạp chí Ngân hàng số 3/2004 Tác giả đã nghiên cứu về việc quản lý vốn khả dụng của ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng thương mại thông qua việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để tác động vào khả năng thanh toán của các tổ chức tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia, các nghiệp vụ quản lý vốn khả dụng, nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ Bài viết đã cung cấp cho chúng ta kiến thức cơ bản liên quan đến TTNTLNH, tuy nhiên cũng chưa mở rộng và đề cập đến nhiều vấn đề khác như về hoạt động của TTNTLNH, vai trò điều tiết của NHNN…

Như vậy, liên quan đến đề tài đã có một số các công trình nghiên cứu, song các tác giả thường đề cập đến các mảng nghiệp vụ của thị trường liên ngân hàng, thực trạng hoạt động và một số giải pháp, nhưng các giải pháp chưa có tính đồng bộ và có những điểm không còn phù hợp với tình hình thực

tế hiện nay Do vậy tôi đã tiếp tục nghiên cứu vấn đề này, chủ yếu tập trung vào thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trong thời kỳ hội nhập và đưa một số giải pháp, đặc biệt đối với các chính sách của ngân hàng nhà nước nhằm thúc đẩy TTNTLNH Việt nam hoạt động có hiệu quả hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Đây là đề tài mà tôi đã quan tâm nghiên cứu từ lâu, nhằm nâng cao hơn nữa những kiến thức trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, thị trường ngoại hối cũng như thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, để có thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu công việc được giao và mong muốn sự nghiên cứu của mình có thể chia sẻ, trao đổi với độc giả- những người đã, đang và sẽ quan tâm đến đề tài này Hy vọng rằng bản thân tôi sẽ đóng góp một phần

Trang 7

nhỏ bé cho sự nghiệp phát triển ngành ngân hàng tài chính nói chung, và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt nam nói riêng

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Nghiên cứu thực trạng hoạt động của TTNTLNH tại Việt nam, từ đó đánh giá những thành công và hạn chế của thị trường trong đó có vai trò của NHNN và nguyên nhân tồn tại

+ Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện TTNTLNH Việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động của TTNTLNH trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học: Phép biện chứng duy vật, phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, kết hợp lý luận và thực tiễn, kết hợp sử dụng các bảng, hình và sơ đồ để minh hoạ

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

- Đánh giá thực trạng hoạt động của TTNTLNH Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện TTNTLNH Việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 9

7 Bố cục của luận văn:

Nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương

Chương 1: Những vấn đề chung về thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

Chương 2: Thực trạng hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt nam

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện TTNTLNH Việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI TỆ LIÊN NGÂN HÀNG

1.1 Khái niệm thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

1.1.1 Ngoại hối và thị trường ngoại hối

Theo thông lệ quốc tế, ngoại hối bao gồm các phương tiện tiền tệ được

sử dụng trong thanh toán quốc tế Đối với một quốc gia, ngoại hối bao gồm: Ngoại tệ: Là đồng tiền nước ngoài bao gồm cả đồng tiền chung của các nước khác và quyền rút vốn đặc biệt SDR Ngoại tệ có thể là tiền xu, tiền giấy, tiền trên tài khoản, séc du lịch, tiền điện tử và các phương tiện khác được xem như tiền; Các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ như: séc thương mại, chấp phiếu ngân hàng, kỳ phiếu, hối phiếu, trái phiếu, cổ phiếu và các giấy tờ có giá khác; Vàng tiêu chuẩn quốc tế: đây là vàng được sử dụng với vai trò là tiền trong thanh toán quốc tế; Đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ [12-15]

Ở Việt nam, theo Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ, ngoại hối là: Tiền nước ngoài như: tiền giấy, tiền kim loại; Công

cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài như: séc, thẻ thanh toán, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi bưu điện và các công cụ thanh toán khác; Các loại giấy tờ có giá bằng tiền nước ngoài như: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; Quyền rút vốn đặc biệt, đồng tiền chung Châu Âu, các đồng tiền chung khác dùng trong thanh toán quốc tế và khu vực; Vàng tiêu chuẩn quốc tế; Đồng tiền đang lưu hành của Việt nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt nam hoặc được sử dụng làm công cụ trong thanh toán quốc tế

Thị trường ngoại hối là nơi mà ở đó xảy ra việc mua và bán, trao đổi ngoại hối, trong đó chủ yếu là trao đổi, mua bán ngoại tệ và các phương tiện

Trang 11

thanh toán quốc tế Trên thị trường ngoại hối giá trị tương đối của các đồng tiền quốc gia được xác lập

Quá trình phát triển thị trường ngoại hối đã hình thành hai hệ thống được tổ chức khác nhau: Hệ thống Anh- Mỹ và hệ thống các nước Âu lục địa

+ Theo hệ thống Anh-Mỹ, thị trường ngoại hối có tính chất biểu tượng, chỉ giao dịch ngoại hối thường xuyên giữa một số ngân hàng và các nhà môi giới qua các phương tiện thông tin hiện đại, tức loại thị trường không qua quầy (over the counter - OTC) Thị trường ngoại hối thực chất không phải là một địa điểm cụ thể, không phải là một văn phòng nơi các nhà kinh doanh ngoại tệ gặp nhau, mà thực ra nó là một mạng lưới thông tin liên lạc liên ngân hàng nối mạng điện tử với nhau, liên kết những người mua bán ngoại tệ trực tiếp với nhau hoặc thông qua người môi giới ngoại hối

+ Theo hệ thống các nước Châu Âu lục địa (không gồm nước Anh), thị trường ngoại hối có địa điểm nhất định, hàng ngày những người mua bán ngoại hối có thể tới đó để giao dịch và ký kết hợp đồng, nhưng giao dịch được thực hiện chủ yếu qua điện thoại, telex, fax và hệ thống Reuters

1.1.2 Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

Thị trường liên ngân hàng (Interbank Market) là một bộ phận của thị trường tiền tệ mà ở đó các TCTD vay, gửi vốn lẫn nhau Nói cách khác, thi trường liên ngân hàng là thị trường biểu hiện mối quan hệ vay và cho vay ngắn hạn giữa các ngân hàng; Là thị trường tín dụng giữa các TCTD, NHTW, các nhà môi giới, mà một bên là ngân hàng bị thiếu vốn do cần bổ sung vốn khả dụng tạm thời bị thâm hụt với một bên là các ngân hàng có vốn dư thừa cần cho vay với yêu cầu là an toàn và có lãi

Căn cứ vào đồng tiền giao dịch trên thị trường mà phân chia thành thị trường nội tệ liên ngân hàng và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Hai thị trường này có mối quan hệ mật thiết với nhau, đều thực hiện trao đổi vốn

Trang 12

ngắn hạn giữa các ngân hàng Các chủ thể tham gia hai thị trường này đều nhằm mục đích tìm kiếm các nguồn vốn ngắn hạn bổ sung vốn khả dụng tạm thời thiếu hụt trong kinh doanh, hoặc tìm nơi điều chỉnh vốn dư thừa ngắn hạn mang lại thu nhập với chi phí thấp Trong hoạt động kinh doanh, một ngân hàng tại một thời điểm có thể thừa vốn ngoại tệ nhưng lại thiếu vốn nội tệ và ngược lại, có thể thiếu vốn ngoại tệ và thừa vốn nội tệ Điều này đã dẫn đến

sự trao đổi vốn lẫn nhau giữa các ngân hàng trên hai thị trường Sự phát triển của thị trường nội tệ đã tạo điều kiện cho thị trường ngoại tệ phát triển và ngược lại sự phát triển của thị trường ngoại tạo điều kiện cho sự phát triển của thị trường nội tệ

Quan hệ giữa hai thị trường này còn được thể hiện thông qua mối quan

hệ giữa lãi suất và tỷ giá, diễn biến của thị trường này sẽ ảnh hưởng đến thị trường kia Khi lãi suất thực của đồng nội tệ tăng lên, lợi tức dự tính đầu tư vào đồng nội tệ tăng, dẫn đến khả năng các ngân hàng di chuyển vốn từ ngoại

tệ sang nội tệ thông qua thị trường hối đoái giao ngay Ngược lại, nếu trên thị trường ngoại tệ đồng nội tệ có xu hướng giảm giá so với ngoại tệ, các nhà đầu

tư có xu hướng đầu tư vào ngoại tệ, xu hướng tiền gửi nội tệ tại các NHTM giảm, nhu cầu vay nội tệ tăng, để cân bằng các ngân hàng thường phải tăng lãi suất nội tệ Như vậy, một sự thay đổi về lãi suất nội tệ hoặc tỷ giá đều ảnh hưởng đến hoạt động của hai thị trường này

Sự chuyển hoá vốn giữa hai thị trường làm thay đổi cung, cầu ngoại tệ

và nội tệ Do vậy, hoạt động của hai thị trường luôn có mối quan hệ lẫn nhau

và chính mối quan hệ đó đã tạo điều kiện để hai thị trường hoạt động hiệu quả, thông suốt và đồng nhất Hai thị trường hoạt động với cơ chế hoạt động

do chính các thành viên tham gia hai thị trường quyết định

* Khái niệm TTNTLNH:

Trang 13

- Theo thông lệ quốc tế thị trường hối đoái liên ngân hàng (hoặc thị trường bán buôn) là một mạng lưới các quan hệ ngân hàng đại lý, trong đó các NHTM lớn mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại các ngân hàng khác- được gọi

là tài khoản ngân hàng đại lý Hệ thống tài khoản ngân hàng đại lý giúp thị trường hối đoái hoạt động hiệu quả Hầu hết các giao dịch mua và bán tiền tệ được chu chuyển qua kênh thị trường liên ngân hàng toàn cầu, một thị trường bán buôn mà trong đó các ngân hàng lớn chủ chốt giao dịch mua bán với nhau Nó là thị trường tài chính quốc tế lớn nhất thế giới, thị trường chu chuyển vốn tiền tệ, nhưng không phải tiền tệ của mọi quốc gia, mà bằng ngoại

tệ tự do chuyển đổi, thể hiện bằng các phương tiện tiền tệ của một quốc gia hay tiền tệ tập thể đa quốc gia đã được quốc tế hoá Thực chất, thị trường hối đoái liên ngân hàng là sự liên kết toàn cầu giữa các ngân hàng, các nhà buôn phi ngân hàng và những người môi giới tiền tệ Những người này liên kết với nhau thông qua mạng lưới điện thoại, telex, máy tính và các hệ thống truyền tin tự động để thực hiện các giao dịch mua bán các đồng tiền tự do chuyển đổi Thị trường hối đoái liên ngân hàng không tập trung đặt tại một quốc gia duy nhất, mà rải rác khắp các trung tâm tài chính của thế giới Các bên tham gia chủ yếu trên thị trường hối đoái liên ngân hàng là các NHTM lớn, người môi giới ngoại hối ở thi trường liên ngân hàng, các nhà kinh doanh ngoại hối lớn mà chủ yếu là các tập đoàn đa quốc gia, các NHTW của các quốc gia.[8-13,14,15]

- Theo quyết định số 101/1999/QĐ-NHNN13 ngày 26/03/1999 của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt nam, TTNTLNH do NHNN tổ chức, giám sát

và điều hành nhằm hình thành một thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các TCTD là thành viên TTNTLNH NHNN tham gia TTNTLNH với tư cách là người mua, người bán cuối cùng, thực hiện can thiệp khi cần thiết vì mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia

Trang 14

* Đặc điểm TTNTLNH[13-15,16]

- TTNTLNH là thị trường vốn ngắn hạn: Quan hệ mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng thực chất là luân chuyển vốn ngoại tệ ngắn hạn giữa các ngân hàng

- Xét trong phạm vi một quốc gia, TTNTLNH là thị trường có tổ chức vì nó chịu sự quản lý, điều tiết và giám sát của Nhà nước mà cụ thể là NHTW ở các nước khác nhau, mức độ điều tiết, giám sát của NHTW trên TTNTLNH khác nhau để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ của từng quốc gia

- Căn cứ vào giao dịch TTNTLNH gồm: thị trường giao ngay (The currency spot market), thị trường có kỳ hạn (The currency future market), thị trường quyền lựa chọn (The currency options market), thị trường hoán đổi ngoại tệ (Swaps market) Ngoài ra còn có thể phân tách thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Thị trường sơ cấp (thị trường cơ bản) là thị trường thực hiện các nghiệp vụ hối đoái giao ngay Thị trường thứ cấp (thị trường phái sinh) là thị trường bắt nguồn từ thị trường sơ cấp, thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh hối đoái có kỳ hạn, hoán đổi tiền tệ, quyền chọn tiền tệ, hợp đồng tương lai

- Địa điểm hoạt động của TTNTLNH: TTNTLNH là thị trường không có địa điểm về địa lý, do vậy, trên thế giới chỉ có một thị trường hối đoái duy nhất Các giao dịch hối đoái được tiến hành đồng thời ở tất cả các thị trường các nước, ví dụ: cùng một thời điểm có thể đồng thời giao dịch tại Paris, London, New York…

- Phương tiện thông tin sử dụng trong giao dịch: Xuất phát từ thị trường không có địa điểm cụ thể nên các thành viên thị trường khi giao dịch thường

sử dụng các phương tiện truyền tin hiện đại như: điện thoại, telex kèm theo các mạng thông tin chuyên ngành (Reuters, Telerate) thông qua hệ thống máy tính nối mạng để thực hiện nhanh chóng các giao dịch giữa các thành viên

Trang 15

- Thời gian giao dịch: Thị trường hoạt động không ngừng và diễn ra hầu khắp tất cả các châu lục, tỷ giá các loại ngoại tệ được yết 24/24 giờ trong các ngày làm việc trong tuần.Tóm lại, TTNTLNH là một bộ phận trung tâm của thị trường ngoại hối, là thị trường bán buôn, ở đó diễn ra sự lưu chuyển của các dòng vốn ngắn hạn Thị trường hối đoái bao gồm TTNTLNH và thị trường khách hàng (thị trường bán lẻ) là thị trường trong đó các ngân hàng giao dịch với khách hàng là các cá nhân, tổ chức, đơn vị kinh tế…; các giao dịch kinh doanh trên thị trường hối đoái gồm giao dịch vốn ngắn hạn và giao dịch vốn dài hạn

1.2 Hoạt động của TTNTLNH

Sự hình thành và phát triển TTNTLNH Khi các khách hàng có tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng khác nhau

mà có nhu cầu thanh toán với nhau thì xuất hiện quan hệ thanh toán giữa các ngân hàng Để thực hiện chức năng trung gian thanh toán, các ngân hàng phải thường xuyên giao dịch với các ngân hàng khác ở cả trong và ngoài nước Điều kiện cho giao dịch này là các ngân hàng phải duy trì tài khoản của mình

ở tại các ngân hàng có quan hệ Mối quan hệ giữa các ngân hàng được phát triển từ thấp đến cao, bằng nhiều hình thức, mới đầu chỉ là quan hệ tự phát và đơn giản, các ngân hàng tự thoả thuận mở tài khoản cho nhau để tập hợp tất

cả các khoản giao dịch thanh toán Cùng với sự phát triển của công nghệ ngân hàng, quan hệ thanh toán giữa các ngân hàng được thực hiện bởi công nghệ thanh toán ngày càng hiện đại, không còn đơn giản giữa hai ngân hàng mà có nhiều ngân hàng của các quốc gia khác nhau cùng tham gia Như vậy, TTNTLNH được ra đời và phát triển một cách khách quan, cùng với sự phát triển các nghiệp vụ kinh doanh của các ngân hàng trên thế giới

Khi quan hệ thương mại và đầu tư giữa các quốc gia phát triển thì việc chuyển đổi một đồng tiền nước này sang đồng tiền nước khác có ý nghĩa quan

Trang 16

trọng đặc biệt Do trên toàn thế giới có hàng trăm đơn vị tiền tệ của các quốc gia, cho nên phải có thị trường hối đoái liên ngân hàng để trao đổi giữa đồng tiền này với đồng tiền khác cho các hoạt động mua và bán với nước ngoài Trước đây, trong giao dịch hối đoái thực hiện chủ yếu bằng điện thoại trực tiếp giữa phòng giao dịch của ngân hàng ở các nước khác nhau Sau đó, Fax, Telex cũng thường xuyên được sử dụng, đặc biệt là trong các giao dịch liên ngân hàng, giao dịch qua hệ thống giao dịch Reuter Dealing System, sau đó được nhận bằng văn bản, hoặc điện tín Trên thực tế, thoả thuận mua bán bằng điện thoại giữa các giao dịch viên của ngân hàng vẫn được thực hiện Các cuộc thương lượng đó phần lớn được ghi âm để kiểm tra lại chi tiết, chủ yếu là tỷ giá, số tiền, kỳ hạn Trách nhiệm của các giao dịch viên là thay mặt ngân hàng để quyết định mua bán với đối tác trên TTNTLNH với quyền hạn đã được xác định

Hiện nay, kỹ thuật viễn thông hiện đại tạo ra các giao dịch hoàn hảo nhất Mạng Reuter Dealing System được nối giữa các trung tâm hối đoái, các ngân hàng thương mại trên thế giới bằng cáp quang quốc tế Các giao dịch viên giao dịch trên màn hình vi tính thay cho đàm thoại bằng điện thoại, Telex

và Fax Giá cả, lượng tiền, ngày giá trị sẽ được thoả thuận bằng cách sử dụng bàn phím vi tính và sẽ hiện lên màn hình mà không cần dùng lời nói như trước Sau đó, người ta cũng có thể xác nhận lại với nhau bằng telex về tính chính xác của các thoả thuận

Các giao dịch hối đoái được thực hiện 24/24 giờ trên toàn thế giới Tuy nhiên, TTNTLNH không tập trung đặt địa điểm tại một quốc gia duy nhất, mà rải rác khắp các trung tâm tài chính của thế giới Thị trường hối đoái quốc tế bao gồm ba khu vực chính là: Á - Úc, Bắc Mỹ, Châu Âu Khu vực Á- Úc bao gồm: Sydney, Tokyo, Hongkong, Singapore và Bahrain Khu vực Châu Âu bao gồm: Zurich, Frankfurt, Paris, Brussels, Amsterdam và London Khu vực Bắc Mỹ gồm có NewYork, Montreal, Toronto, San Fransico và Los Angeles

Trang 17

Hầu hết các phòng giao dịch mở cửa từ 9 giờ đến 12 giờ một ngày, tuy nhiên

đã có một vài ngân hàng hoạt động mỗi ngày ba ca, mỗi ca 8 tiến Hoạt động kinh doanh hối đoái được vận hành liên tục: khi thị trường Á- Úc đóng cửa cũng là lúc thị trường Châu Âu hoạt động, khi thị trường Châu Âu ngưng làm việc thì thị trường Bắc Mỹ bắt đầu mở cửa hoạt động

Các nghiệp vụ mua bán trên TTNTLNH giữa các ngân hàng, các công

ty môi giới, NHTW đều được thực hiện bằng chuyển khoản Hiện nay, số lượng mua bán các đồng tiền tự do chuyển đổi trung bình của một giao dịch trên thị trường hối đoái quốc tế giữa các ngân hàng lớn với giá trị tối thiểu là

1 triệu USD (giá trị tương đương)

Như vậy, có thể thấy rằng cùng với sự phát triển kinh tế, công nghệ… trên toàn thế giới TTNTLNH cũng được phát triển không ngừng về doanh số mua bán, phương thức và phương tiện giao dịch ngày càng hiện đại Ước tính doanh số mua bán hàng ngày hiện nay giữa các ngân hàng trên toàn thế giới lên tới hàng tỷ đô la Mỹ

Vai trò của TTNTLNH

* Đối với hoạt động thương mại quốc tế

Trong điều kiện nền kinh tế mở, hàng ngày xuất hiện rất nhiều chu chuyển kinh tế, làm nảy sinh các hoạt động thanh toán đối ngoại Các hoạt động thanh toán đối ngoại đều được thực hiện thông qua ngân hàng, trong đó

ít nhất có hai ngân hàng tham gia: một ngân hàng nằm ở nước người thụ hưởng và một ngân hàng thuộc nước người thanh toán Các ngân hàng của người hưởng chuyển các phương tiện thanh toán cho các ngân hàng ở nước có người mắc nợ, sau đó ghi vào tài khoản Nostro của mình ở ngân hàng đó Do

có ngoại tệ trên tài khoản mở ở ngân hàng đồng nghiệp tại nước ngoài, các ngân hàng ở nước này bán các phương tiện thanh toán ghi bằng ngoại tệ đó cho các thể nhân và pháp nhân nào đó cần ngoại tệ thanh toán cho việc nhập

Trang 18

khẩu hàng hoá, chi phí về vận tải, bảo hiểm và cho việc trả nợ và lợi tức của mình ở nước đó Nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng thực hiện bằng cách chuyển một số tiền từ tài khoản của ngân hàng uỷ thác vào tài khoản của ngân hàng nhận uỷ thác Sau đó số tiền này được ghi vào tài khoản của người hưởng lợi qui định trên các phương tiện thanh toán đó Hiện nay, tất cả các việc thanh toán giữa các nước chủ yếu được tiến hành thông qua ngân hàng

TTNTLNH là thị trường tài chính quốc tế lớn nhất thế giới, là nơi tập trung tư bản tài chính toàn cầu, có nguồn gốc lịch sử hình thành từ các giao lưu thương mại và phi thương mại cùng các hoạt động đầu tư, hợp tác kinh tế quốc tế khác giữa các chủ thể kinh tế của các nước

Thị trường ngoại hối nói chung và TTNTLNH nói riêng có vai trò bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK của nền kinh tế Đối với những nhà xuất khẩu nhận được ngoại tệ từ xuất khẩu hàng hoá cho nước ngoài, thường phải bán lại số ngoại tệ cho các NHTM để nhận nội tệ, sau đó dùng số nội tệ thu được để trang trải các chi phí đầu vào cho xuất khẩu và hạch toán lãi kinh doanh Tương tự, đối với những nhà nhập khẩu để có ngoại tệ thanh toán hàng nhập khẩu, họ phải mua ngoại tệ từ các NHTM để thanh toán cho nhà xuất khẩu nước ngoài Một khi thị trường ngoại hối có tính thanh khoản cao, hoạt động hiệu quả và thông suốt sẽ kích thích hoạt động XNK phát triển

* Đối với các NHTM

TTNTLNH là nơi cung cấp các nguồn ngoại tệ kinh doanh cho các NHTM, là nơi các ngân hàng thực hiện trao đổi mua bán ngoại tệ thiếu hoặc thừa với nhau, đây chính là kênh điều hoà vốn giữa các ngân hàng Thông qua các giao dịch trên TTNTLNH các ngân hàng còn nhằm mục đích thu lợi nhận khi tỷ giá thay đổi Lợi nhuận ngân hàng thu được từ mức chênh lệch giữa giá mua và giá bán, các khoản thu phí và hoa hồng, hoặc từ chênh lệch giữa thời gian khách hàng giao vốn cho ngân hàng để thực hiện giao dịch hối đoái cho

Trang 19

họ và thời gian ngân hàng giao vốn cho người mua đồng tiền đó Đôi khi ngân hàng giữ các khoản tiền đối ứng từ một đến hai ngày trước khi chuyển vào tài khoản của khách hàng Như vậy, ngân hàng cũng có thể sử dụng số vốn trên trong vòng hai ngày này

Thông qua hoạt động trên TTNTLNH, các NHTM sẽ thực hiện giao dịch cần thiết để thay đổi trạng thái hối đoái có lợi cho bản thân ngân hàng TTNTLNH giúp cho các ngân hàng thực hiện cân bằng vốn trong kinh doanh, đảm bảo khả năng thanh toán và uy tín của ngân hàng trong nền kinh tế

* Đối với NHTW

NHTW không chỉ chịu trách nhiệm phát hành đồng tiền của nước mình

và quản lý cung ứng tiền tệ, mà còn có nhiệm vụ bảo vệ sự ổn định tỷ giá giữa đồng bản tệ với các đồng tiền khác Điều này hoàn toàn phù hợp với hệ thống

“tỷ giá hối đoái cố định”, nhưng ngay cả trong hệ thống tỷ giá thả nổi, NHTW cũng thường xuyên buộc phải can thiệp vào thị trường hối đoái nhằm duy trì trật tự của thị trường TTNTLNH được NHTW sử dụng để thực hiện các công

cụ điều tiết tỷ giá, ổn định tiền trong nước nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Ở hầu hết các quốc gia, NHTW đều can thiệp vào TTNTLNH, song với mức độ khác nhau phụ thuộc vào loại hình kinh tế, mức độ thị trường, chế độ

tỷ giá áp dụng và thái độ của Chính phủ trong việc kiểm soát tỷ giá Trong chế độ tỷ giá cố định, NHTW phải thực hiện việc can thiệp khi tỷ giá dao động có khả năng vượt quá mức cố định, nhằm duy trì tỷ giá trong biên độ nhất định NHTW tiến hành mua ngoại tệ vào khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và tiến hành bán ngoại tệ ra khi cầu lớn hơn cung, nhờ đó tỷ giá được duy trì cố định hoặc duy trì tỷ giá biến động xung quanh tỷ giá cố định Sự

Trang 20

can thiệp của NHTW thường tác động có tính quyết định và nhiều khi còn ấn định mức độ tỷ giá hối đoái

Các chủ thể tham gia TTNTLNH

* Các NHTM

NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán

NHTM là thành viên đông đảo và quan trọng nhất trên TTNTLNH, là thành phần chủ yếu tạo ra thị trường mua bán ngoại tệ Các NHTM phải có tài khoản ngoại tệ ở các NHTM khác nhau, ngoại tệ dự trữ và thực hiện mua bán ngoại tệ thường xuyên trên TTNTLNH để có nguồn ngoại tệ phục vụ cho các nhu cầu của các khách hàng như: mở thư tín dụng, thanh toán hàng xuất khẩu, chuyển tiền ra nước ngoài,… và khi khách hàng xuất khẩu, có nguồn thu ngoại

tệ thì NHTM sẽ chuyển đổi ra nội tệ Trong phạm vi một quốc gia thì việc mua bán giữa các ngân hàng trên TTNTLNH có thể được tiến hành giữa ngoại tệ với nội tệ hoặc giữa các loại ngoại tệ với nhau Còn trên phạm vi quốc tế thì các ngân hàng chỉ thực hiện mua bán giữa các loại ngoại tệ với nhau (chủ yếu các đồng tiền mạnh, tự do chuyển đổi) Tỷ giá mà các ngân hàng tính với nhau được xem là tỷ giá liên ngân hàng hay là tỷ giá bán buôn giữa các ngân hàng

Tại các NHTM lớn đều có phòng kinh doanh ngoại tệ gồm các nhà kinh doanh giỏi và chuyên mua bán một loại tiền tệ Các ngân hàng thực hiện chuyên môn hoá nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ bằng cách kinh doanh những loại tiền khu vực hoặc tiền tệ của các quốc gia đang phát triển

* Các nhà môi giới (Broker)

Nhà môi giới là người giới thiệu hai bên giao dịch với nhau Ở nhiều nước, các nhà kinh doanh ngoại hối của NHTM thực hiện giao dịch ngoại hối phải thông qua nhà môi giới, khi đó nguồn gốc của các bên giao dịch sẽ được

Trang 21

giữ kín cho tới khi giao dịch kết thúc Các nhà môi giới có thể góp phần mở rộng thị trường Theo đánh giá của các thành viên tham gia thị trường, doanh

số hoạt động thông qua các nhà hoạt động môi giới chiếm đến 50% tổng doanh số kinh doanh ngoại hối

Khi thực hiện cung cấp dịch vụ, nhà môi giới đóng vai trò là người nhận thông tin yết giá và các điều kiện của người mua, người bán cung cấp và đưa người có nhu cầu mua gặp người có nhu cầu bán, họ không mua vào hoặc bán ngoại tệ ra cho chính mình và cũng không chịu trách nhiệm về tiến trình giao dịch giữa hai ngân hàng mà đơn thuần chỉ cung cấp dịch vụ trên thị trường liên ngân hàng Nhà môi giới cũng có thể đóng vai trò kinh doanh ngoại tệ bằng cách mua ngoại tệ của người chào bán và bán ngoại tệ cho người chào mua

* Các nhà kinh doanh ngoại tệ (Foreign Exchange Traders)

Các nhà kinh doanh ngoại tệ là những người chuyên mua bán ngoại tệ trên TTNTLNH Họ mua ngoại tệ là để bán lại với mục đích kiếm lời từ việc mua thấp bán cao Đôi khi họ cũng phải chịu lỗ khi tỷ giá hối đoái biến động theo chiều ngược lại (mua cao, bán thấp) Các nhà kinh doanh ngoại tệ hoạt động trên TTNTLNH với tư cách là người môi giới trung gian giữa người mua và người bán trên thị trường Họ mua ngoại tệ với dự tính tỷ giá sắp tăng

và án một ngoại tệ khi xác định được xu hướng giảm tỷ giá của ngoại tệ này

Các nhà kinh doanh ngoại tệ đóng một vai trò quan trọng trên TTNTLNH bởi vì người cần bán ngoại tệ thường bán cho họ và người cần mua cũng mú của họ Trong khi các chủ thể khác chỉ bán hoặc mua khi có nhu cầu

* Ngân hàng trung ương (Central Bank)

NHTW tham gia TTNTLNH với tư cách là người quản lý thị trường NHTW sẽ can thiệp khi tỷ giá biến động vượt quá sự kiểm soát của mình

Trang 22

bằng việc mua hoặc bán ngoại tệ để điều tiết tỷ giá nhằm đạt được mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia

Nhìn chung, các NHTW thường xuyên kiểm soát sự biến động của tỷ giá đối với đồng tiền do mình phát hành Do vậy, trong hệ thống tỷ giá thả nổi, các NHTW vẫn thường xuyên can thiệp trên thị trường nhằm ảnh hưởng lên tỷ giá theo hướng mà NHTW cho là có lợi Trong hệ thống tỷ giá cố định, NHTW phải giữ tỷ giá của đồng bản tệ dao động trong biên độ hẹp, do đó nếu giá trị của đồng bản tệ giảm xuống dưới mức cho phép, thì NHTW buộc phải can thiệp vào để chống lại xu hướng trên của thị trường

NHTW can thiệp vào thị trường bằng các phương thức sau:

+ Trực tiếp với các ngân hàng

+ Thông qua nhà môi giới

+ Thông qua các thị trường giao dịch tương lai

+ Thông qua các NHTW khác

NHTW mua ngoại tệ trên thị trường làm tăng lượng tiền trung ương(MB), bán ngoại tệ trên thị trường làm giảm MB, sự thay đổi đó còn ảnh hưởng đến lãi suất thị trường và từ đó tác động vào nền kinh tế Ngoài ra, thông qua can thiệp nhằm duy trì trật tự của thị trường hoặc điều chỉnh thị trường theo mục tiêu mong muốn bằng khối lượng can thiệp, phương pháp can thiệp tác động vào trạng thái của thị trường mà NHTW xác định được hiệu quả can thiệp Vai trò can thiệp của NHTW còn gây ảnh hưởng về mặt tâm lý đối với thành viên tham gia thị trường, nhiều khi yếu tố tâm lý ảnh hưởng nhiều hơn là can thiệp về qui mô, vì thế NHTW phải hết sức thận trọng khi đưa quyết định can thiệp thị trường

Các nghiệp vụ chủ yếu trên TTNTLNH

* Giao dịch hối đoái giao ngay (Spot)

Trang 23

Giao dịch ngoại hối giao ngay là việc mua bán các đồng tiền khác nhau giữa các bên mua bán tiến hành thanh toán ngay sau khi thoả thuận Việc thanh toán thường từ một đến hai ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng

Tỷ giá giao dịch được xác định theo quy luật cung cầu trên TTNTLNH Thị trường ngoại hối giao ngay là thị trường phi tập trung (không giao dịch trên sở giao dịch), trong đó các NHTM lớn, nhà môi giới liên hệ với nhau bằng điện thoại, telex, và hệ thống SWIFT Thông qua SWIFT các NHTM, nhà môi giới ở tất cả các trung tâm tài chính liên kết với nhau để mua bán, trao đổi ngoại hối, các trung tâm tài chính lớn hầu như hoạt động 24 giờ/ngày Đây là thị trường hoạt động sôi động, với tốc độ nhanh nhằm tận dụng những cơ hội chênh lệch tỷ giá dù rất nhỏ nên là thị trường hoạt động có hiệu quả Tại hầu hết các nước, thị trường ngoại hối giao ngay có hai cấp, đó là: Thị trường liên ngân hàng trực tiếp giữa các ngân hàng và thị trường liên ngân hàng gián tiếp thông qua nhà môi giới

+ Trên thị trường liên ngân hàng trực tiếp, các ngân hàng giao dịch trực tiếp với nhau không thông qua môi giới Điều này có nghĩa là, trên TTNTLNH ngân hàng này yết giá mua vào và bán ra trực tiếp cho ngân hàng kia và ngược lại Vì giao dịch giữa các ngân hàng trên TTNTLNH không diễn ra trên sở giao dịch và các giao dịch được thực hiện một cách liên tục, nên thị trường này được biết đến như là thị trường: Phi tập trung, liên tục, đấu giá

mở, và giao dịch hai chiều

+ Trên thị truờng liên ngân hàng gián tiếp, các ngân hàng đặt lệnh giới hạn (limit orders) một chiều cho các nhà môi giới Trong giao dịch, nhà môi giới

sẽ đưa ra tỷ giá tốt nhất cho khách hàng, tỷ giá này gọi là tỷ giá tay trong (inside spread) Người môi giới sẽ được hưởng hoa hồng do người mua và người bán trả Thị trường qua người môi giới là thị trường bán tập trung, đặt lệnh có giới hạn và thông qua phương thức đấu gía một chiều

Trang 24

Ưu điểm của giao dịch thông qua môi giới:

+ Các lệnh đặt mua và bán được chuyển nhanh và rộng khắp

+ Tỷ giá được yết một chiều hoặc mua, hoặc bán

+ Cho phép ngân hàng yết giá không phải xưng danh mình là ai, như vậy, họ

sẽ giữ được bí mật ý định giao dịch

+ Tạo cho thị trường có độ thanh khoản cao

+ Được nhà môi giới cung cấp giá tốt nhất

Thủ tục giao dịch hối đoái giao ngay là khi thực hiện mua hoặc bán ngoại tệ thì thời hạn thực hiện giao dịch vốn là sau hai ngày làm việc kể từ khi

ký hợp đồng Nếu ta gọi J là ngày giao dịch (ngày ký hợp đồng) thì việc trả tiền được thực hiện vào ngày J+2 tức là tại ngày này, tiền sẽ được giao dịch theo giá đã thoả thuận Nghiệp vụ hối đoái giao ngay thực chất là mua một số ngoại tệ A đối ứng với việc bán một số lượng ngoại tệ B với một tỷ giá cho biết cần phải trả bao nhiêu ngoại tệ B để có một lượng ngoại tệ A Nhưng việc thực hiện thanh toán tiền là sau 2 ngày làm việc kể từ khi ký hợp đồng Sở dĩ

có thời gian thanh toán tiền sau 48 giờ là vì khoảng thời gian đó để cho các bên mua bán ngoại tệ hoàn tất các thủ tục hành chính trên các tài khoản giao dịch thực hiện đúng theo qui định của hợp đồng

* Giao dịch hối đoái có kỳ hạn (Forward Exchange)

Giao dịch hối đoái có kỳ hạn: Là nghiệp vụ kinh doanh mua hoặc bán đồng tiền này lấy đồng tiền khác mà thời hạn trả tiền được xác định vào ngày

cụ thể trong tương lai đã được thoả thuận trước trong hợp đồng Hay nói cách khác, giao dịch có kỳ hạn nghĩa là hai bên ký hợp đồng mua (hoặc bán) ngoại

tệ vào ngày J và đồng thời họ phải thoả thuận với nhau việc giao ngoại tệ và trả tiền vào ngày (J+n) nhưng tỷ giá đã được xác định tại thời điểm ký hợp đồng (J) còn n là thời gian đã được thoả thuận có thể là 5,7,10 ngày hoặc 1,2,3,…tháng Loại giao dịch này mặc dù thanh toán tiền vào một thời gian đã

Trang 25

xác định nhưng phải thực hiện tỷ giá tại thời điểm tiến hành ký hợp đồng mà không được áp dụng tỷ giá tại thời điểm thanh toán tiền Để tránh thiệt hại trong giao dịch có kỳ hạn thì việc xác định tỷ giá thanh toán khi tiến hành ký hợp đồng tại ngày (J) được các thành viên giao dịch dựa vào tỷ giá thực tế tại ngày (J) và chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền trao đổi với nhau trên số ngày của kỳ hạn kể từ ngày (J) đến ngày (J+n) Nếu lãi suất của đồng tiền định giá lớn hơn lãi suất của đồng tiền yết giá, khoản chênh lệch này sẽ là số dương, khi đó tỷ giá kỳ hạn lớn hơn tỷ giá giao ngay và được gọi là có điểm gia tăng- Premium Nếu lãi suất của đồng tiền định gía nhỏ hơn lãi suất của đồng tiền yết giá, khoản chênh lệch sẽ là số âm, khi đó tỷ giá kỳ hạn nhỏ hơn

tỷ giá giao ngay, gọi là có điểm khấu trừ – Discount ở thị trường ngoại hối, điểm gia tăng và điểm khấu trừ được gọi chung là điểm SWAP

Công thức tính tỷ giá kỳ hạn như sau:

Tỷ giá kỳ hạn = Tỷ giá giao ngay + Điểm SWAP

Điểm SWAP được tính theo công thức sau: 2.-227

Tỷ lệ SWAP phản ánh chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay (trong nghiệp vụ kỳ hạn, tỷ lệ SWAP được gọi là điểm kỳ hạn)

Điểm kỳ hạn dương (+) gọi là điểm gia tăng, còn nếu điểm kỳ hạn âm (-) gọi

là điểm khấu trừ

Vậy một điểm gia tăng kỳ hạn sẽ làm đồng ngoại tệ có giá hơn trên thị trường kỳ hạn so với đồng nội tệ và ngược lại, một điểm khấu trừ sẽ làm đồng nội tệ có giá hơn trên thị trường kỳ hạn so với đồng ngoại tệ Tại TTNTLNH,

Điểm SWAP

=

Tỷ giá giao ngay*Chênh lệch lãi suất tiền gửi*Số ngày kỳ hạn

360 ngày

Trang 26

các điểm gia tăng hay khấu trừ đều được tính sẵn trong bảng Barem được dựa trên cơ sở lãi suất của các đồng tiền giao dịch

Tỷ giá trên thị trường có kỳ hạn được xác định căn cứ trên cung và cầu ngoại tệ, trái với tỷ giá hối đoái giao ngay, không có sự định giá chính thức như giao dịch có kỳ hạn và cũng không có công bố tỷ giá chỉ đạo trên báo chí Các giá giới hạn được các NHTW ấn định nhằm can thiệp vào thị trường hối đoái giao ngay không được áp dụng trên thị trường hối đoái có kỳ hạn

- Tác động của các giao dịch có kỳ hạn đối với các giao dịch giao ngay:

+ Khi có sự mất cân đối trên thị trường hối đoái có kỳ hạn, việc các ngân hàng sử dụng mua bán ngoại tệ giao ngay có thể dẫn tới sự mất cân đối cho thị trường hối đoái giao ngay Vì vậy, NHTW có thể can thiệp vào thị trường hối đoái giao ngay nhằm hạn chế hoặc tránh những biến động về tỷ giá

+ Trong điều kiện bình thường, tỷ giá hối đoái giao ngay, tỷ lệ lãi suất và tỷ giá hối đoái có kỳ hạn thường liên hệ chặt chẽ với nhau Tỷ giá có kỳ hạn được hình thành từ tỷ lệ lãi suất và tỷ giá hối đoái giao ngay Ngược lại, khi

có nhiều giao dịch kỳ hạn trên thị trường sẽ ảnh hưởng trở lại đối với tỷ giá giao ngay thậm chí đối với cả tỷ lệ lãi suất

+ Trên thực tế, có mối quan hệ tương quan giữa giá trị của một đồng tiền và

tỷ giá kỳ hạn của đồng tiền ấy, bởi vì thường thấy các đồng tiền mạnh ở những nước có tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ lãi suất ở mức độ đIều hoà hợp lý và kết quả là có sự tăng tỷ giá hối đoái kỳ hạn

* Giao dịch hối đoái hoán đổi là giao dịch đồng thời mua và bán cùng một lượng ngoại tệ (chỉ có hai đồng tiền được sử dụng trong một giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch là khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký hợp đồng

Kinh doanh Swap là hợp đồng tại thời điểm(t) hai ngân hàng cam kết cho nhau vay một lượng ngoại tệ sau đó đến ngày(t+n) đã được thoả thuận sẽ

Trang 27

trả lại cho nhau Sự cam kết này giúp cho cả hai ngân hàng cùng có lợi vì qua quan hệ vay mượn lẫn nhau, họ sẽ tránh được rủi ro không trả được nợ Thực chất ở đây chỉ có sự hoán đổi đồng tiền chứ không phải là khoản vay hay cho vay Swap giúp cho ngân hàng mua và ngân hàng bán chủ động giải quyết nhu cầu ngoại tệ vì chỉ hoán đổi quyền sử dụng ngoại tệ trong một thời gian, sau đó ngân hàng mua và ngân hàng bán lại được sử dụng ngoại tệ mà mình

đã mua hoặc mình đã bán Sự trao đổi này mang lại lợi ích đầy đủ cho cả hai bên tham gia giao dịch, họ đều đạt được mục đích về mặt tài chính Giao dịch này mang lại hiệu quả cao hơn rất nhiều so với việc họ tiến hành giao dịch riêng lẻ trên thị trường tiêng gửi Vì giao dịch trên thị trường tiền gửi phải diễn ra nghiệp vụ mua bán riêng rẽ tách rời và có khoảng cách về mặt thời gian, do đó, sẽ dẫn đến khả năng xảy ra rủi ro hối đoái cộng với chi phí giao dịch hai lần cũng là vấn đề phức tạp cho các thành viên giao dịch Thực chất giao dịch Swap là nghiệp vụ hối đoái kép, một mặt là giao dịch giao ngay, một mặt là giao dịch có kỳ hạn vì đồng thời xảy ra mua, bán cùng ngoại tệ với cùng một thành viên và một thời gian sau việc mua, bán lại thực hiện ngược chiều

- Ưu điểm của giao dịch Swap:

+ Giao dịch là một sự cam kết song phương nên đã cho phép các thành viên giao dịch bỏ qua những thủ tục xem xét về khả năng vay và trả nợ Ở đây, vốn thanh toán được đảm bảo bằng đồng tiền được hoán đổi trong giao dịch, vì vậy, các nhà kinh doanh ngoại hối thông qua Swap để tìm cách kiếm lời từ chênh lệch lãi suất

+ Khi thực hiện nghiệp vụ Swap, người ta không buộc phải giữ một trạng thái hối đoái mới, bởi vì nó diễn ra đồng thời cùng một lúc việc mua và bán với tỷ

Trang 28

giá xác định bằng một giao dịch hối đoái giao ngay và một giao dịch hối đoái

có kỳ hạn

+ Khi cho vay các khoản ngoại tệ dư thừa cũng như đi vay các khoản ngoại

tệ có nhu cầu thì chỉ phải giao dịch với một khách hàng nên hạn chế được rủi

ro và đơn giản thủ tục tìm hiểu bạn hàng trong kinh doanh

+ Hoạt động giao dịch Swap không xuất hiện các khoản lãi suất tồn đọng Vì khác với quan hệ vay mượn thông thường, khi thực hiện các hợp đồng vay và cho vay thì sẽ phát sinh các khoản lãi suất phải trả của người đi vay và lãi suất người cho vay nhận được, nhưng khoản lãi suất đó không được tính vào các khoản vốn cho vay với khách hàng tức là trong hợp đồng bao gồm tiền gốc vay riêng và lãi phải trả riêng nên đến khi hợp đồng tín dụng hết hạn khách hàng có thể trả gốc, còn lãi chưa phải trả hết ngay Tuy nhiên, giao dịch Swap

đã giải quyết được những khó khăn trong việc tính toán lãi suất nêu trên Chi phí của giao dịch Swap dựa vào chênh lệch lãi suất được tính theo số ngày hoán đổi và tỷ giá giao ngay có sẵn theo qui ước tính điểm gia tăng hoặc điểm khấu trừ, do đó, trong hợp đồng hoán đổi không tách bạch vốn gốc và lãi mà chỉ thanh toán một lần toàn bộ số tiền ghi trong hợp đồng vào ngày hết hạn

* Giao dịch quyền lựa chọn tiền tệ là một giao dịch giữa bên mua quyền và bên bán quyền, trong đó bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua hoặc bán một lượng ngoại tệ xác định ở một mức tỷ giá xác định trong một khoảng thời gian thoả thuận trước Nếu bên mua quyền lựa chọn thực hiện quyền của mình, bên bán quyền có nghĩa vụ bán hoặc mua lượng ngoại tệ trong hợp đồng theo tỷ giá đã thoả thuận trước

Hợp đồng quyền lựa chọn tiền tệ (Currency Option Contract) là một công cụ tài chính, cho phép người mua hợp đồng có quyền (không phải nghĩa vụ) mua hoặc bán một đồng tiền này với một đồng tiền khác tại tỷ giá cố định

đã thoả thuận trước, trong một khoảng thời gian nhất định Như vậy, hợp

Trang 29

đồng quyền lựa chọn tiền tệ cho phép người quản lý có quyền lựa chọn không phải thực hiện hợp đồng nếu thấy tỷ giá không có lợi cho họ khi hợp đồng đến hạn Nó tạo điều kiện cho người quản lý ngân quĩ chốt được mức trần và mức sàn về giá ngoại tệ tương tự như với hợp đồng tương lai hoặc hợp đồng kỳ hạn Khác với hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn, hai hợp đồng này thể hiện nghĩa vụ phải mua hoặc bán theo giá hợp đồng đã được thoả thuận Còn nghiệp vụ Option là quyền là quyền lựa chọn mua hay bán theo giá thực hiện

- Có hai loại hợp đồng quyền lựa chọn:

+ Quyền lựa chọn mua (Call Option) là quyền mua một ngoại tệ với tỷ giá xác định trong một thời hạn nhất định, thời hạn của quyền lựa chọn thường ngắn dưới 270 ngày Người mua quyền lựa chọn phải mất một khoản phí gọi là đIểm gia tăng (Premium)

+ Quyền lựa chọn bán (Put Option) là quyền bán một ngoại tệ với tỷ giá xác định trong một thời gian xác định Người mua quyền lựa chọn bán phải trả một khoản phí gọi là đIểm khấu trừ (Discount)

Trong thời hạn của quyền lựa chọn, người mua Option có thể mua hoặc bán ngoại tệ nếu tỷ giá trong hợp đồng có lợi, nếu không có lợi họ sẽ không thực hiện hợp đồng cho đến khi quyền lựa chọn hết hạn và khi đó người mua quyền lựa chọn phải mất khoản chi phí đã ứng trước Sau khi trả phí, thì người mua hợp đồng quyền lựa chọn không có nghĩa vụ tài chính Do đó, người mua không cần phải ký quĩ tại sở giao dịch Vì người bán hợp đồng thu được phí nên phải luôn sẵn sàng giao dịch nếu người mua yêu cầu Do đó nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng thì người bán hợp đồng phải ký quĩ tại sở giao dịch Phương thức giao dịch này được các nhà giao dịch cũng như các nhà quản lý sử dụng phổ biến vì tính linh hoạt của nó đã giúp cho họ tránh rủi

ro và mang lại lợi nhuận

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI TỆ LIÊN NGÂN HÀNG VIỆT NAM

2.1 Sự hình thành thị trường ngoại hối và TTNTLNH Việt nam 2.1.1 Sự hình thành thị trường ngoại hối, thời kỳ trước năm 1994 Ngày 16/8/1991 Thống đốc NHNN đã ra Quyết định số 107-NH/QĐ

về việc ban hành Qui chế hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ Trên

cơ sở đó, hai Trung tâm giao dịch ngoại tệ đã được thành lập và đi vào hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 8/1991 và tại Hà Nội từ tháng 11/1991

Trong giai đoạn này, Chính phủ đã thành lập “Quĩ điều hoà ngoại tệ” tại NHNN để tập trung đáp ứng nhu cầu thiết yếu về ngoại tệ của nền kinh tế trong những giai đoạn đầu còn khó khăn về ngoại tệ và can thiệp thị trường ngoại hối thông qua hoạt động của hai trung tâm giao dịch ngoại tệ nhằm ổn định tỷ giá trên thị trường có tổ chức

* Hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ:

- Mục đích hoạt động: Nhằm hình thành một thị trường ngoại tệ có tổ chức ở Việt nam, thông qua các phiên giao dịch ở hai trung tâm xác định một tỷ giá hợp lý phản ánh đúng sức mua thực tế của VNĐ, mua bán ngoại tệ theo yêu cầu của Nhà nước, tăng quĩ dự trữ quốc tế, can thiệp thị trường và là bước đệm để hình thành TTNTLNH

- Thành viên tham gia Trung tâm: Các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ; Các tổ chức XNK kinh doanh trực tiếp với nước ngoài; Các tổ chức, đơn vị kinh doanh dịch vụ thu ngoại tệ và NHNN Mỗi trung tâm đều có một Ban điều hành lãnh đạo, bao gồm ba đại diện của NHNN, bốn đại diện của các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ Chủ tịch Ban điều hành là đại

Trang 32

diện của NHNN Ban điều hành chịu trách nhiệm giám sát, tổ chức thực hiện phiên giao dịch thông qua Tổ nghiệp vụ thị trường

- Cấu trúc hoạt động của Trung tâm: Trung tâm có cấu trúc hoạt động theo hai phương thức giao dịch, đều xuất phát điểm là người mua, bán ngoại tệ có thể giao dịch gián tiếp thông qua NHTM, NHTM giao dịch với Trung tâm, Trung tâm giao dịch với NHNN Hoặc người mua, bán ngoại tệ giao dịch trực tiếp với Trung tâm, Trung tâm thực hiện giao dịch với NHNN như sơ đồ 2.1 Đồng tiền giao dịch tại Trung tâm là Đôla Mỹ và Đồng Việt Nam Số lượng ngoại tệ tối thiểu cho mỗi lần giao dịch là 10.000 USD Các thành viên bán ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu VNĐ và mua ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu ngoại

tệ thanh toán cho nước ngoài trong vòng 7 ngày kể từ ngày mua ngoại tệ Các thành viên sau khi được trung tâm xác nhận việc mua bán ngoại tệ phải thực hiện việc thanh toán không quá hai ngày làm việc sau ngày giao dịch Bên mua ngoại tệ phải trả phí giao dịch: 0.01% trên doanh số giao dịch, nhưng tối

đa không quá 100 USD Cách thức giao dịch mua bán ngoại tệ tại hai Trung tâm theo phương thức đấu giá

Trang 33

Sơ đồ 2.1: MỐI QUAN HỆ MUA BÁN NGOẠI TỆ GIỮA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ VÀ NGÂN

HÀNG (trong giai đoạn có Trung tâm giao dịch ngoại tệ)

- Cơ chế tỷ giá: Thông qua hoạt động mua bán tại 2 Trung tâm, NHNN đã kịp thời nắm bắt cung cầu ngoại tệ trên thị trường để ấn định tỷ giá vào cuối mỗi phiên giao dịch khi đạt được sự cân bằng cung cầu về ngoại tệ (khi cung lớn hơn cầu, tỷ giá giảm và ngược lại) Các NHTM mua bán ngoại tệ trên cơ sở tỷ giá chính thức vào cuối mỗi phiên giao dịch gần nhất (tỷ giá mua vào không được vượt quá 0.5% so với tỷ giá ấn định tại phiên giao dịch trước)

- Thành công của hai Trung tâm:

+ Trung tâm là nơi các nhà cung cầu ngoại tệ có thể giải quyết được yêu cầu của mình thông qua việc bán hoặc mua ngoại tệ trực tiếp với Trung tâm hoặc gián tiếp với các NHTM Các NHTM và các TCKT có hoạt động ngoại tệ lớn tại hai Trung tâm là bước tập dượt đầu tiên trong giao dịch mua bán ngoại tệ theo cơ chế thị trường Tỷ giá VNĐ/USD bước đầu được hình thành dựa trên

Người mua và

bán trực tiếp

Trung tâm giao dịch ngoại tệ

Ngân hàng nhà nước Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại

Người mua ngoại tệ gián

tiếp

Người mua ngoại tệ gián tiếp

Trang 34

quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, rút ngắn được khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do Có thể nói thị trường ngoại hối có tổ chức đã từng bước nắm vai trò chủ đạo, chi phối và khống chế được thị trường ngaọi tệ tự do

+ Trong thời kỳ đầu, cung ngoại tệ còn thấp hơn cầu ngoại tệ khá lớn, nếu để

tỷ giá hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu tại Trung tâm, thì tỷ giá sẽ biến động rất mạnh, điều này sẽ gây tác động tiêu cực đến hệ thống giá cả, hạot động XNK và đầu tư Vì vậy, sự can thiệp của NHNN bằng cách bán ngoại tệ từ quĩ điều hoà ngoại tệ tại Trung tâm đã làm tỷ giá chỉ biến động với một mức độ hợp lý, sự biến động vẫn phản ánh tương quan cung cầu, nhưng không gây ra những biến động lớn về tỷ giá Điều này tạo tâm lý ổn định cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng như dân chúng yên tâm đầu tư và gửi tiền tiết kiệm để phát triển kinh tế

Kể từ khi thành lập vào tháng 8 năm 1991 cho đến khi chấm dứt hoạt động vào tháng 12/1994, tổng số phiên giao dịch qua hai Trung tâm là 692, với tổng doanh số mua bán qua hai Trung tâm là 660,5 triệu USD Lượng ngoại tệ bình quân được mua bán qua hai Trung tâm trong các năm từ 1991 đến 1994 như sau:

Trang 35

Từ bảng trên cho thấy doanh số hoạt động trong năm 1993 là cao nhất với doanh số giao dịch bình quân phiên gần 1,5 triệu USD Sang năm 1994, doanh số giao dịch tại hai Trung tâm đã giảm hẳn (doanh số giao dịch bình quân chỉ đạt 640.000 USD) Nguyên nhân là do các NHTM lớn đã tham gia vào TTNTLNH, qua đó các NHTM đã được thực hiện mua bán ngoại tệ trực tiếp với nhau, tốc độ luân chuyển vốn tăng lên, thanh toán mua bán ngoại tệ nhanh và tăng được tính thanh khoản của thị trường

Thông qua hoạt động của hai Trung tâm đã tạo ra tập quán, kiến thức kinh doanh ngoại hối cho NHNN, các NHTM và các TCKT Hình thành một đội ngũ cán bộ điều hành thị trường ngoại hối và là tiền đề cho việc thành lập TTNTLNH sau này

- Những hạn chế của hai Trung tâm:

+ Trung tâm chỉ có vai trò lịch sử trong thời gian ngắn Tính thiết thực của nó đối với những người tham gia không cao, các phiên giao dịch không diễn ra hàng ngày, thủ tục rườm rà (phải đăng ký mua bán ngoại tệ vào buổi sáng và buổi chiều phải đến giao dịch trực tiếp tại Trung tâm)

+ Cung cầu ngoại tệ tại hai Trung tâm chưa phản ánh cung cầu ngoại tệ của toàn bộ nền kinh tế, do hai Trung tâm chỉ thể hiện cung cầu ngoại tệ của hai Thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh là chủ yếu

+ Cơ chế thanh toán không khuyến khích các NHTM bán ngoại tệ tại Trung tâm, bởi vì người bán phải chờ từ hai đến ba ngày làm việc mới được thanh toán VNĐ

+ Về mặt điều hành tỷ giá: do hai Trung tâm hoạt động tách biệt nhau và đại diện riêng cho từng khu vực nên đôi khi điều hành tỷ giá còn bị chi phối bởi chính quyền địa phương và đã gây khó khăn trong việc thống nhất điều hành

tỷ giá theo chỉ đạo của NHNN

Trang 36

Với những hạn chế trên, hai Trung tâm đã không đáp ứng được nhu cầu giao dịch ngoại tệ của toàn quốc gia, cũng như tính nhanh nhạy kịp thời trong giao dịch và thanh toán của cơ chế thị trường ngày càng sôi động Ngày 20/9/1994, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 203/QĐ-NH9 về việc thành lập Thị trường ngoại tệ Liên ngân hàng và Quyết định số 203/QĐ-

NH13 ngày 20/9/1994 về việc ban hành Qui chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH

Sau thời gian hoạt động từ tháng 10/1994, trước những thay đổi về tổ chức và hoạt động ngân hàng nói chung, đặc biệt là khi Luật NHNN và Luật các TCTD được ban hành vào tháng 12/1997, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển TTNTLNH ở trình độ cao hơn, chặt chẽ hơn, Thống đốc NHNN đã ra Quyết định số 101/1999/QĐ-NHNN13, ngày 26/3/1999 về Qui chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH thay thế cho Quyết định số 203 nói trên

2.1.2 Sự hình thành TTNTLNH

2.1.2.1 Qui chế hoạt động của TTNTLNH

* Mục đích của TTNTLNH:

TTNTLNH do NHNN tổ chức, giám sát và điều hành nhằm hình thành một thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các TCTD là thành viên thị trường

NHNN tham gia TTNTLNH với tư cách là người mua, người bán cuối cùng, thực hiện can thiệp khi cần thiết vì mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia

* Điều kiện tham gia TTNTLNH

- Có giấy phép hoạt động ngoại hối

- Có quá trình kinh doanh ngoại tệ tốt, không vi phạm các qui định về quản lý ngoại hối hiện hành

- Có hệ thống máy móc, thiết bị đảm bảo nối mạng thông suốt, an toàn trong

giao dịch với các thành viên TTNTLNH khác và với NHNN

Trang 37

- Có đội ngũ cán bộ được đào tạo và thông thạo nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ

* Thủ tục gia nhập TTNTLNH

- Các TCTD phải làm đơn xin gia nhập TTNTLNH gửi NHNN

- Sau 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ xin gia nhập TTNTLNH của TCTD, nếu được chấp thuận, NHNN sẽ cấp giấy chứng nhận thành viên, mã số (CODE) giao dịch cho TCTD cũng như mã số (CODE) giao dịch và danh sách các giao dịch viên của các TCTD thành viên khác Trường hợp không được chấp thuận, NHNN sẽ thông báo bằng văn bản cho TCTD đó biết lý do không được chấp thuận

* Quyền lợi và trách nhiệm của thành viên

- Các thành viên tham gia TTNTLNH được quyền mua, bán ngoại tệ qua TTNTLNH theo các qui định hiện hành của NHNN

- Các thành viên có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh Qui chế tổ chức và hoạt động TTNTLNH, nội qui giao dịch và các qui định khác khi tiến hành giao dịch trên thị trường

- Các thành viên có trách nhiệm gửi cho NHNN:

+ Văn bản chính thức phân công những người có trách nhiệm điều khiển các hoạt động của “phòng giao dịch thị trường” của TCTD

+ Qui chế giao dịch hối đoái của TCTD

+ Danh sách giao dịch viên và hạn mức giao dịch cho từng giao dịch viên + Số hoặc code của các phương tiện sẽ dùng trong giao dịch (Telex, điện thoại, hệ thống Dealing)

+ Chịu trách nhiệm về khả năng chuyên môn của các giao dịch viên và chấp hành chế độ báo cáo tình hình giao dịch theo qui định của NHNN

2.1.2.2 Cơ chế giao dịch trên TTNTLNH

Trang 38

Các giao dịch trên TTNTLNH được phép tiến hành giữa ngoại tệ với Đồng Việt Nam hoặc giữa ngoại tệ với ngoại tệ được NHNN cho phép giao dịch trên TTNTLNH trong từng thời kỳ

Căn cứ vào tình hình thực tế, Tổng giám đốc (Giám đốc) các TCTD

là thành viên TTNTLNH được phép qui định các loại ngoại tệ thuộc đối tượng kinh doanh của đơn vị mình trong khuôn khổ các ngoại tệ được NHNN cho phép Các thành viên được phép tiến hành các giao dịch giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi và từ tháng 12/2004 được tiến hành giao dịch quyền lựa chọn

Số lượng ngoại tệ của mỗi lần giao dịch tối thiểu là 50.000 USD hoặc các loại ngoại tệ khâc có giá trị tương đương Tỷ giá giao dịch giữa USD và VNĐ trên thị trường giữa các thành viên được thoả thuận trên cơ sở cung cầu

về ngoại tệ, trong phạm vi qui định về tỷ giá và biên độ giao dịch của Thống đốc NHNN trong từng thời kỳ Còn đối với các giao dịch giữa các ngoại tệ chuyển đổi khác (không phải là USD) với VNĐ, các thành viên được phép tính chéo trên cơ sở tỷ giá USD với VNĐ và tỷ giá USD với các ngoại tệ khác trên thị trường quốc tế tại ngày giao dịch Như vậy, tỷ giá giao dịch giữa các ngoại tệ với nhau do Tổng Giám đốc (Giám đốc) các TCTD thành viên tự quyết định trên cơ sở tỷ giá thị trường quốc tế tại ngày giao dịch

Phương tiện giao dịch giữa các thành viên của TTNTLNH được thực hiện thông qua hệ thống giao dịch tiền đồng (VDS) của hãng Telerate, Dealing 2000 của Reuters, bằng Telex hay mạng SWIFT

*Nguyên tắc giao dịch:

- Chỉ những giao dịch viên đã được TCTD đăng ký trong đơn xin gia nhập TTNTLNH mới được phép giao dịch Trường hợp TCTD thành viên thay đổi giao dịch viên phải báo cho NHNN biết bằng văn bản

- Các giao dịch trên các phương tiện giao dịch được coi là cam kết không được phép thay đổi

Trang 39

- Sau khi cam kết bằng các phương tiện giao dịch, trước 4 giờ chiều cùng ngày các bên mua bán phải xác nhận lại với nhau bằng một trong các phương tiện thông tin sau: Telex, fax hoặc qua mạng SWIFT Nếu mua, bán với NHNN, xác nhận trên được gửi đến Sở giao dịch NHNN Trường hợp xác nhận bằng fax, bản gốc phải được gửi đi bằng đường bưu điện cùng ngày

* Thời hạn thanh toán:

- Đối với những giao dịch mua, bán ngoại tệ giao ngay thời hạn thanh toán là

2 ngày làm việc sau ngày giao dịch (không tính ngày nghỉ)

- Đối với những giao dịch mua, bán ngoại tệ có kỳ hạn, thời hạn thanh toán là thời hạn do hai bên thoả thuận được ghi trong hợp đồng Nếu ngày giá trị thanh toán cho nghiệp vụ này trùng vào ngày nghỉ thì thanh toán được lùi sang ngày giao dịch tiếp theo

- Việc mua, bán ngoại tệ giao ngay hoặc có kỳ hạn đều phải được thanh toán đầy đủ, đúng thời hạn cam kết Trường hợp thanh toán chậm phải chịu phạt Nếu bằng ngoại tệ, mức phạt bằng 150% lãi suất LIBOR một tuần của đồng tiền thanh toán tính trên số ngày và số tiền chậm trả Nếu bằng VNĐ, mức phạt bằng 150% lãi suất cho vay tái cấp vốn của NHNN tính trên số tiền và số ngày chậm trả

Trang 40

2.1.2.3 Số lượng thành viên tham gia TTNTLNH

Khi mới thành lập TTNTLNH có 24 thành viên tham gia Trong quá trình hoạt động số thành viên ngày càng tăng Năm 1997 có 40 thành viên, đến năm

2001 có 57 thành viên Đến năm 2004, do có sự sắp xếp lại cơ cấu hoạt động của các NHTM cổ phần và nước ngoài, một số NHTM cổ phần giải thể, sáp nhập, một số ngân hàng nước ngoài đóng cửa hoạt động ở Việt Nam nên số lượng thành viên giảm xuống chỉ còn 54 Nhưng đến năm 2005 con số này đã tăng lên thành 72 thành viên do quá trình cổ phần hoá được đẩy mạnh và sự tham gia của một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Thành viên tham gia trên TTNTLNH bao gồm: NHTM Nhà nước, Ngân hàng chính sách xã hội, NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh NH nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và một số công ty bảo hiểm

HÌNH 2.1: SỐ LƯỢNG THÀNH VIÊN THAM GIA TTNTLNH

Ngày đăng: 19/12/2015, 11:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH 2.1: SỐ LƯỢNG THÀNH VIÊN THAM GIA TTNTLNH - Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế   luận văn ths kinh tế  60 31 01 pdf
HÌNH 2.1 SỐ LƯỢNG THÀNH VIÊN THAM GIA TTNTLNH (Trang 40)
BẢNG 2.2: CƠ CẤU THÀNH VIÊN CỦA TTNTLNH ĐẾN CUỐI NĂM 2005 - Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế   luận văn ths kinh tế  60 31 01 pdf
BẢNG 2.2 CƠ CẤU THÀNH VIÊN CỦA TTNTLNH ĐẾN CUỐI NĂM 2005 (Trang 41)
Bảng 2.3: DOANH SỐ GIAO DỊCH TRÊN TTNTLNH (TỪ 1999 ĐẾN - Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế   luận văn ths kinh tế  60 31 01 pdf
Bảng 2.3 DOANH SỐ GIAO DỊCH TRÊN TTNTLNH (TỪ 1999 ĐẾN (Trang 42)
BẢNG 2.4: TÌNH HÌNH GIAO DỊCH GIAO NGAY CỦA CÁC NHTM - Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế   luận văn ths kinh tế  60 31 01 pdf
BẢNG 2.4 TÌNH HÌNH GIAO DỊCH GIAO NGAY CỦA CÁC NHTM (Trang 44)
HÌNH 2.4: MỨC ĐỘ ĐÔ LA HOÁ CỦA VIỆT NAM - Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế   luận văn ths kinh tế  60 31 01 pdf
HÌNH 2.4 MỨC ĐỘ ĐÔ LA HOÁ CỦA VIỆT NAM (Trang 72)
BẢNG 2.6: MỨC THÂM HỤT CỦA CÁN CÂN VÃNG LAI - Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế   luận văn ths kinh tế  60 31 01 pdf
BẢNG 2.6 MỨC THÂM HỤT CỦA CÁN CÂN VÃNG LAI (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w