1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình luận văn ths kinh doanh và quả

125 285 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sản xuất tại các làng nghề đã tạo ra nhiều mặt hàng có giá trị kinh tế cao; nhiều cơ sở sản xuất tại một số làng nghề đã phát triển vươn ra khỏi địa giới của một làng, một xã; bước đầu k

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

-*** -

Nguyễn Tiến Mạnh

MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH

Chuyên ngành : Quản trị Kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học:

TS VŨ ĐỨC THANH

HÀ NỘI - 2006

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết luận nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận văn

NGUYỄN TIẾN MẠNH

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC: 2

DANH MỤC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ 6

LỜI MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ 11

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 11

1.1.1 KHÁI NIỆM LÀNG NGHỀ 11

1.1.2 ĐẶC ĐIỂM LÀNG NGHỀ 13

1.1.3 VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ VÀ CÁC YÊU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC LÀNG NGHỀ 17

1.2 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ 23

1.2.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 23

1.2.2 CÁC LOẠI TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ 25

1.2.3 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ 27

1.3 MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC LÀNG NGHỀ VÀ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG 29

1.3.1 QUAN NIỆM VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ 29

1.3.2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ SỰ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ 30

1.3.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1: 42

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH 43

Trang 4

2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KHÔI PHỤC, PHÁT TRIỂN

VÀ VỐN ĐẦU TƯ TRONG CÁC LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH 43

PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TẠI TỈNH THÁI BÌNH 64

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TẠI TỈNH THÁI BÌNH

70

HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH 702.3.2 NHỮNG TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN 76KẾT LUẬN CHƯƠNG 2: 81

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHỤC VỤ CHO

PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH 83

3.1 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH 83

THÁI BÌNH 833.1.2 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN

DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH 883.1.3 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN

HÀNG PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH THỜI GIAN TỚI 89

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH 91

Trang 5

3.2.1 XÁC LẬP KẾ HOẠCH HUY ĐỘNG VỐN PHÙ HỢP VỚI

ĐẶC ĐIỂM KHÁCH HÀNG LÀNG NGHỀ 92

3.2.2 GIẢI PHÁP VỀ SỬ DỤNG VỐN 94

3.2.3 TRIỂN KHAI ÁP DỤNG PHƯƠNG THỨC TÀI TRỢ TÍN DỤNG BẰNG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH PHỤC VỤ CHO CÁC LÀNG NGHỀ VÀ KẾT HỢP VỚI MỞ RỘNG DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG 106

3.2.4 GIẢI PHÁP VỀ KHÁCH HÀNG 108

3.2.5 MỞ RỘNG CÁC HOẠT ĐỘNG MARKETING TỚI CÁC LÀNG NGHỀ 112

3.2.6 TẠO SỰ LIÊN KẾT CÓ HIỆU QUẢ GIỮA CÂC DOANH NGHIỆP LỚN VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ, VỚI HỘ GIA ĐÌNH Ở CÁC LÀNG NGHỀ TRONG CÁC MỐI QUAN HỆ BÌNH ĐẲNG CÙNG CÓ LỢI 114

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 116

3.3.1 NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO MÔI TRƯỜNG KINH TẾ VĨ MÔ ỔN ĐỊNH 116

3.3.2 NHÀ NƯỚC HOÀN THIỆN MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ 117

3.3.3 NHÀ NƯỚC CẦN CÓ SỰ ƯU TIÊN VẦ LÃI SUẤT CHO MỘT SỐ LĨNH VỰC ĐẦU TƯ PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 117

3.3.4 NÂNG CAO NĂNG LỰC TIẾP NHẬN CÁC NGUỒN VỐN VAY TỪ NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG 118

3.3.5 THÀNH LẬP QUỸ RỦI RO TÍN DỤNG 118

3.3.6 HOÀN THIỆN MẠNG LƯỚI TIN HỌC 119

3.3.7 TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC QUỐC TẾ ĐỂ KHAI THÁC VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM LÀNG NGHỀ 119

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 120

KẾT LUẬN : 121

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

CCKT : Cơ cấu kinh tế

CBTD : Cán bộ tín dụng

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước

DNTN : Doanh nghiệp tư nhân

DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ

NHCT : Ngân hàng công thương

NHĐT&PT : Ngân hàng Đầu tư và phát triển

NHNN : Ngân hàng Nhà nước

NHNo&PTNT : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

NHTM : Ngân hàng thương mại

SXCN : Sản xuất công nghiệp

SXKD : Sản xuất kinh doanh

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ

SỐ BẢNG,

Sơ đồ 1.1 Các yếu tố tác động đến việc hình thành lãi suất cho vay 39

Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu làng nghề các huyện thành phố

Bảng 2.2 Giá trị sản xuất công nghiệp của các làng nghề tỉnh Thái

Bảng 2.3 Số lượng doanh nghiệp trong khu vực SXCN-TTCN

Bảng 2.5 Số lượng lao động, số hộ và thu nhập của người lao động

Bảng 2.6 Vốn đầu tư của một số ngành nghề ở Thái Bình năm 2005 56

Bảng 2.7 Vốn đầu tư ban đầu và suất đầu tư cho một chỗ làm việc

Bảng 2.8 Tổng vốn huy động của các TCTD trên địa bàn tỉnh 61

Bảng 2.9 Dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh Thái Bình 63

Bảng 2.10 Dư nợ tín dụng đối với làngnghề của NHNo &PTNT tỉnh

Bảng 2.11

Tỷ trọng dư nợ của các NHTM đối với làng nghề trong tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Thái Bình

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử phát triển nền văn hoá cũng như lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam, luôn gắn liền với lịch sử phát triển của các làng nghề Bởi những sản phẩm của các làng nghề không chỉ là những vật phẩm văn hoá hay vật phẩm kinh tế thuần tuý cho sinh hoạt bình thường hàng ngày, mà nó chính là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng của nền văn hoá xã hội, mức độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc điểm nhân văn dân tộc Đồng thời, các làng nghề không chỉ đơn thuần sản xuất ra những sản phẩm hàng hoá như trong một cái công xưởng Làng nghề là cả một môi trường văn hoá - kinh tế - xã hội và công nghệ truyền thống lâu đời Nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền đời này sang đời khác, chung đúc ở các thế hệ nghệ nhân tài năng, với những sản phẩm có bản sắc riêng của mình, nhưng lại tiêu biểu và độc đáo của cả dân tộc Việt Nam Môi trường văn hoá làng nghề cũng chính

là khung cảnh làng quê, với cây đa bến nước, đình chùa, đền miếu, các hoạt động

lễ hội và hoạt động phường hội, phong tục tập quán, nếp sống đậm nét dân gian và chứa đựng tính nhân văn sâu sắc Truyền thống đó từ lâu đã trở thành một bộ phận không thể thiếu và làm phong phú thêm truyền thống văn hoá Việt Nam

Thái Bình là một tỉnh nằm ở đồng bằng ven biển phía nam Châu thổ sông

Hồng, được biết đến không chỉ là “vựa lúa” của miền Bắc Việt Nam mà còn là tỉnh

có nhiều làng nghề được hình thành và phát triển từ nhiều đời nay Trải qua hàng ngàn năm, nghề và làng nghề đã tồn tại và phát triển ở Thái Bình như một phần không thể tách rời lịch sử mỗi làng quê, thôn xóm của vùng đất này Trong những năm gần đây, sự phát triển làng nghề và các làng nghề ở Thái Bình đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trong giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ nông thôn và góp phần giải quyết việc làm cho nhiều người lao động Sản xuất tại các làng nghề đã tạo ra nhiều mặt hàng có giá trị kinh tế cao; nhiều cơ sở sản xuất tại một số làng nghề đã phát triển vươn ra khỏi địa giới của một làng, một xã; bước đầu khẳng định được uy tín chất lượng và thương hiệu hàng hoá của mình đối với khách hàng trong nước và quốc tế

Trang 9

Mặc dù có tiềm năng lớn như vậy, nhưng cùng với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, khu vực làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Công nghệ sản xuất lạc hậu, mặt bằng sản xuất chật hẹp và xen kẽ trong dân cư, gây ô nhiễm môi trường, không những ảnh hưởng đến đời sống mà còn hạn chế ngay chính việc mở rộng sản xuất, phát triển làng nghề, các hoạt động văn hoá - xã hội không tương xứng với tăng trưởng kinh tế, thậm chí còn rất lạc hậu, nhiều loại sản phẩm không kiểm soát được chất lượng, tình trạng sản xuất "hàng nhái", vi phạm bản quyền thường xuyên xảy ra, ; Và một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thực trạng trên là thiếu vốn cho đầu tư phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh

Để các làng nghề truyền thống có tuổi thọ vài trăm tuổi với những sản phẩm tinh xảo, độc đáo tiếp tục phát triển và đem lại giá trị kinh tế cao, trong những năm qua cùng với sự quan tâm của Nhà nước, Chính quyền địa phương, thì hoạt động tín dụng ngân hàng tỉnh Thái Bình đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của các làng nghề trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, việc mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề mới chỉ dừng lại ở mức độ tự phát, theo yêu cầu tối thiểu của nền sản xuất còn thủ công, manh mún và mang tính chất nghề phụ tại các làng nghề; việc đầu tư nhỏ giọt, cầm chừng chưa thể là điều kiện để các làng nghề vươn lên phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường và đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm ngày càng cao của xã hội

Với lý do đó, tác giả chọn đề tài “Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho

phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình” làm luận văn thạc sỹ kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu

Liên quan đến đề tài này đã có một số đề tài, một số sách báo, tạp chí đề cập đến như :

- Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình

công nghiệp hóa ở nông thôn Hà Tây, Luận văn Thạc sỹ của Đỗ Quang Dũng, 1997

- Huy động và phát triển vốn cho phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp ,

dịch vụ ở đồng bằng Sông Hồng, Đề tài cấp Bộ, Chủ nhiệm đề tài GS.TS Nguyễn

Đình Hương

Trang 10

- “Một số giải pháp phát triển ngành nghề, làng nghề ở huyện Kiến Xương“,

TS Mai Văn Bưu, Tạp chí Kinh tế dự báo

- “Một số ý kiến về chính sách tín dụng phục vụ CNH-HĐH Nông nghiệp nông

thôn ở Việt Nam những năm đổi mới“, TS Đàm văn Thắng, Tạp chí Ngân hàng

Tuy nhiên, chưa có đề tài cụ thể về việc mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn một tỉnh Do đó mà tác giả chọn đề tài này làm mục tiêu nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số giải pháp mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình

Để đạt được mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hoá lý luận về việc mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển các làng nghề trong nền kinh tế thị trường

- Phân tích, đánh giá thực trạng làng nghề và mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình thời gian qua; Từ đó,

đề xuất các giải pháp và kiến nghị về mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Làng nghề và mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ

cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình; những vấn đề về lý luận và thực tiễn có liên quan

- Phạm vi nghiên cứu: Làng nghề và mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ

cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong những năm gần đây

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu như: tiếp cận hệ thống; thống kê và điều tra chọn mẫu; khảo nghiệm và tổng kết thực tiễn

6 Đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống hoá một số lý luận cơ bản về làng nghề, mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề, những đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân

Trang 11

hàng đối với làng nghề, trên cơ sở đó nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề của các tổ chức tín dụng

- Đánh giá, phân tích hoạt động mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Thái Bình

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, sơ đồ, các bảng và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Một số vấn đề lý luận về làng nghề và mở rộng tín dụng ngân

hàng đối với làng nghề

Chương II: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề trên địa bàn

tỉnh Thái Bình

Chương III: Giải pháp mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển

làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình

Trang 12

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ

VÀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1.1 Khái niệm làng nghề

Một trong những nét đặc sắc của tổ chức kinh doanh ở nông thôn Việt Nam

là việc hình thành các làng nghề Theo giáo sư Trần Quốc Vượng thì "làng nghề là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi (lợn, gà ) cũng có một số nghề phụ khác (đan lát, làm tương, làm đậu phụ ) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, đã chuyên tâm, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài"[ 9, tr 38,39]

Trên thực tế, “làng nghề” là một tập từ kép gồm 2 yếu tố cấu thành là "làng"

và "nghề", thể hiện một không gian vùng quê nông thôn, ở đó có những hộ thuộc một số dòng tộc nhất định sinh sống, ngoài sản xuất nông nghiệp, họ còn một số ngành nghề phi nông nghiệp Trong các làng nghề này, tồn tại đan xen nhiều mối quan hệ kinh tế, xã hội phong phú và phức tạp

Ngày nay làng nghề được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ bó hẹp trong phạm vi chính của một làng mà gồm một hoặc một số làng trên cùng một tiểu vùng địa lý kinh tế, cùng sản xuất một số chủng loại mặt hàng truyền thống hoặc cùng kinh doanh một ngành nghề phi nông nghiệp và có quan hệ mật thiết với nhau về kinh tế, xã hội Mặt khác có những xã tất cả các làng trong xã đều là làng nghề, trong trường hợp này, người ta gọi là xã nghề hoặc rộng hơn gọi là vùng nghề

Như vậy, làng nghề là những làng ở nông thôn có những nghề phi nông

nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với nghề nông [ 30, tr7]

Trang 13

Về tiêu chí làng nghề, hiện nay, tuy việc xây dựng và xác định tiêu chí làng nghề chưa thật sự thống nhất, ở mỗi nơi có làng nghề đều dựa vào đặc điểm kinh tế làng nghề của mình để đưa ra những tiêu chí riêng, nhưng tổng hợp lại có thể đưa ra

4 tiêu chí cơ bản sau :

Thứ nhất, số hộ, lao động làm nghề phi nông nghiệp ở làng đạt ít nhất từ

50% trở lên trong tổng số hộ và lao động của làng; thời gian làm nghề phi nông nghiệp chiếm trên 50% tổng số thời gian lao động của số lao động này

Thứ hai, giá trị sản lượng sản xuất và thu nhập từ các ngành nghề phi nông

nghiệp ở làng đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm

Thứ ba, có tổ chức phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương (hội, câu lạc

bộ, ban quản trị hợp tác xã, ) mang tính tự quản, được pháp luật thừa nhận Dù tổ chức dưới hình thức nào cũng cần có địa điểm nhất định phục vụ sinh hoạt kinh tế, văn hoá, xã hội liên quan đến hoạt động của làng nghề

Thứ tư, tên làng nghề: nếu là làng nghề truyền thống còn tồn tại và phát triển,

nghề nào nổi tiếng thì lấy nghề đó đặt tên làng Nếu trong làng có nhiều nghề không phải là truyền thống hay chưa có sản phẩm nào nổi tiếng thì tên làng sẽ căn cứ vào nghề nào có giá trị sản xuất và thu nhập cao nhất để đặt tên làng nghề

Hiện nay, khi nói đến làng nghề thường bao gồm cả làng nghề truyền thống

và làng nghề mới Làng nghề truyền thống là loại làng nghề được hình thành từ lâu

đời, trải qua thử thách của thời gian vẫn duy trì, phát triển và được lưu truyền từ đời này sang đời khác Từ lâu, ở nước ta đã có các làng nghề truyền thống, gắn liền với

sự xuất hiện của các ngành nghề phi nông nghiệp Theo sử sách, ngành nghề được xuất hiện từ thế kỷ I trước công nguyên, bên cạnh sản xuất nông nghiệp đã xuất hiện và phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp Các ngành nghề này chủ yếu sản xuất các công cụ và vật dụng bằng sắt, đồng, giấy, thuỷ tinh, mộc, Sản phẩm của các làng nghề truyền thống được tạo ra bởi các bí quyết sản xuất và đòi hỏi kỹ năng,

kỹ xảo cao, được truyền nghề từ đời này sang đời khác, trước hết là sự truyền nghề

ở trong nội bộ dòng tộc Sự hình thành và phát triển các làng nghề truyền thống gắn liền với các địa danh và sản phẩm nổi tiếng; sản phẩm của các làng nghề truyền

Trang 14

thống không chỉ phục vụ cho tiêu dùng trong nước mà con được đem trao đổi với các thương nhân nước ngoài

Làng nghề mới là những làng nghề có ngành nghề phát triển trong những năm gần đây, chủ yếu do lan toả từ làng nghề truyền thống, hoặc do sự du nhập trong quá trình hội nhập giữa các vùng và giữa các nước

Trong quá trình công nghiệp hóa và chuyển sang nền kinh tế thị trường hiện nay, khái niệm làng nghề không chỉ bó hẹp ở những làng chỉ có những người chuyên làm các ngành nghề thủ công nghiệp và cũng không có một làng nào chỉ là những làng buôn bán đơn thuần như cách phân chia trước đây Trong các làng nghề, các công nghệ sản xuất của nhiều nghề không còn hoàn toàn là kỹ thuật thủ công,

mà có rất nhiều nghề, nhiều công đoạn sản xuất, công nghệ - kỹ thuật cơ khí hiện đại và bán cơ khí đã được sử dụng Đồng thời, trong các làng nghề đó đã xuất hiện nhiều hộ, nhiều người, nhiều cơ sở chuyên làm dịch vụ đầu ra và đầu vào cho các

cơ sở, các hộ chuyên làm nghề Nên cách phân loại làng nghề cũng chỉ mang ý nghĩa nghiên cứu Chẳng hạn, giữa làng nghề mới và làng nghề truyền thống, trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển như ngày nay, sự đan xen giữa nghề truyền thống và nghề mới do tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra tác động, chi phối lẫn nhau cùng phát triển

1.1.2 Đặc điểm làng nghề

Một là, đặc điểm nổi bật nhất của các làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn

bó chặt chẽ với nông nghiệp Các làng nghề xuất hiện và tồn tại trong từng làng - xã

ở nông thôn Các ngành nghề thủ công nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp nhưng không rời khỏi nông thôn Sản xuất nông nghiệp và sản xuất - kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau Người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân Các gia đình nông dân vừa làm ruộng vừa làm nghề thủ công nghiệp Sự ra đời của các làng nghề đầu tiên là do nhu cầu giải quyết lao động phụ, lao động dư thừa nhàn rỗi giữa các mùa vụ và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của từng gia đình và của từng làng - xã Trong các làng nghề, người nông dân thường tự sản xuất, tự sửa chữa nhằm đáp ứng phần lớn nhu cầu ít ỏi về hàng tiêu dùng của mình Về sau, khi xuất hiện những hộ chuyên làm các ngành nghề thủ công nghiệp

Trang 15

thì sản phẩm của họ chủ yếu cũng phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp và nhu cầu tiêu dùng của những người nông dân trước hết ở trong làng - xã mình và ở các làng - xã lân cận trong vùng Mặt khác, ở trong các làng nghề, đại bộ phận các hộ chuyên làm nghề thủ công nghiệp vẫn còn tham gia sản xuất nông nghiệp ở mức độ nhất định và đặc biệt là hầu hết các hộ đều giữ đất nông nghiệp để tự mình trồng trọt hoặc thuê mướn người làm nông nghiệp cho mình Hầu hết các làng nghề vẫn còn một bộ phận ruộng đất và kinh tế nông nghiệp, đó là đặc trưng phổ biến của các làng nghề truyền thống Làng nghề là một đặc điểm đặc trưng của nông thôn châu

Á, của phương thức sản xuất châu Á - theo cách nói của Mác

Hai là, công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt

là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công

là chủ yếu Công cụ lao động sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là công cụ thủ

công, mang tính đơn chiếc Nhiều loại sản phẩm có công nghệ - kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ Có một số nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ mà chính bản thân người thợ trong các làng nghề có thể tự sản xuất ra được Mặc dầu hiện nay đã có sự cơ khí hóa và điện khí hóa từng bước trong công nghệ - kỹ thuật sản xuất ở các làng nghề Song, cho tới nay, cũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hóa được một số công đoạn trong sản xuất sản phẩm

Ba là, đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại chỗ Hầu

hết các làng nghề được hình thành xuất phát từ có sẵn nguồn nguyên liệu tại chỗ, trên địa bàn địa phương Đặc biệt, các nghề truyền thống sản xuất những sản phẩm tiêu dùng như đan lát mây, tre (mũ, rổ, rá, bồ, sọt, cót ) hay chế biến lương thực thực phẩm (làm bún, làm bánh, xay xát gạo, làm tương, làm mắm ), sản xuất vật liệu xây dựng nguyên liệu thường có tại chỗ, trên địa bàn địa phương Một số ngành nghề còn có thể tận dụng cả những phế liệu, phế phẩm, phế thải trong công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt để làm nguyên liệu sản xuất, nên chúng lại càng sẵn có trên địa bàn Thậm chí, đối với một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ, sơn mài, chạm khắc gỗ, đá, vàng bạc cũng có thể khai thác được các nguồn nguyên liệu tại chỗ, địa phương trong nước Cũng có thể có một số nguyên vật liệu phải nhập khẩu

từ nước ngoài như một số loại chỉ thêu, thuốc nhuộm song không nhiều

Trang 16

Bốn là, phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ

vào kỹ thuật kéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và đầy tính sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân Phương pháp dạy nghề chủ yếu được thực

hiện theo phương thức truyền nghề Lao động trong các làng nghề chủ yếu là lao động thủ công, trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là lao động thủ công, giản đơn Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất làng nghề, đã giảm bớt lực lượng lao động thủ công giản đơn Tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công, tinh xảo Hầu hết các làng nghề truyền thống dù hình thành bằng con đường nào đi chăng nữa thì chúng đều phải có các nghệ nhân làm nòng cốt và là người thầy hướng dẫn để phát triển các làng nghề Vai trò nghệ nhân rất quan trọng đối với các làng nghề Mỗi làng nghề đều có một tổ nghề chính là người thầy đầu tiên dạy nghề, truyền nghề, đem bí quyết nghề nghiệp ở nơi khác về truyền cho làng mình

Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đình từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng Các nghề thường được bảo tồn trong từng gia đình, ít được phổ biến ra bên ngoài, thậm chí có những

bí quyết nghề nghiệp không được truyền cho con gái nhằm để giữ bí quyết nghề nghiệp chỉ khuôn lại trog từng làng và từng gia đình, phường hội Vì vậy, các nghề chỉ được lưu truyền trong phạm vi từng làng nghề Sau hòa bình lập lại, nhiều cơ sở quốc doanh và hợp tác xã làm các nghề thủ công truyền thống ra đời, làm cho phương thức truyền nghề và dạy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú hơn Một số cơ sở sản xuất - kinh doanh hàng thủ công truyền thống của quốc doanh và tập thể đã tổ chức các lớp dạy nghề tập trung đã làm cho các bí quyết nghề nghiệp không còn được giữ bí mật như trước nữa Trong những năm đổi mới với việc phát triển mạnh kinh tế tư nhân và hộ gia đình cá thể trong các làng nghề

đã phục hồi phương thức dạy nghề theo lối truyền nghề, kèm cặp của người thợ cả đối với thợ phụ và thợ học việc Ngay như trong các cơ sở đào tạo nghề tập trung thì phương thức dạy nghề theo lối kết hợp vừa học vừa làm là chủ yếu Cho nên, phương thức đào tạo nghề trong các làng nghề theo lối truyền nghề kèm cặp mang tính chủ đạo

Trang 17

Năm là, sản phẩm làng nghề thường là mang tính đơn chiếc, có tính mỹ

thuật cao Thông thường các sản phẩm làng nghề, nhất là sản phẩm truyền thống

vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục

vụ nhu cầu tiêu dùng vừa là vật trang trí trong nhà, đền, chùa, công sở nhà nước Các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật Các hàng thủ công truyền thống thường mang tính cá biệt và có sắc thái riêng của mỗi một làng nghề

Sáu là, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính

địa phương, tại chỗ, nhỏ hẹp Sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt đối với các làng

nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phương Ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề Cho đến nay, thị trường của các làng nghề về cơ bản vẫn là thị trường địa phương, là tỉnh hay liên tỉnh Thói quen chỉ thích hàng tiểu - thủ công nghiệp (TTCN) ở một vùng nhất định, theo một mùa vụ nhất định đã hạn chế sức tiêu thụ hàng TTCN ở nông thôn Làng nghề thủ công nghiệp trong một thời gian dài đã phát triển theo một lối mòn là đáp ứng thị hiếu quen thuộc vì nhỏ hẹp Yếu tố cạnh tranh hầu như không có Vì vậy, khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, các làng nghề, nhất là các làng nghề truyền thống, đã đứng trước những khó khăn không nhỏ và nhiều làng nghề đã lâm vào thời kỳ điêu đứng Tuy nhiên, các sản phẩm thuộc nhóm hàng thủ công mỹ nghệ có thị trường tiêu thụ phong phú, đa dạng và rộng lớn hơn Sản phẩm của các làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân địa phương, trong nước, vừa để xuất khẩu, trong đó nhu cầu để xuất khẩu và bán cho khách tham quan du lịch thường chiếm tỷ trọng lớn

Bảy là, hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu ở quy mô hộ

gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và DNTN Trong lịch sử

cũng như hiện nay, hình thức tổ chức sản xuất- kinh doanh phổ biến trong các làng nghề là hộ gia đình Với hình thức này, hầu như tất cả các thành viên trong hộ đều được huy động vào làm những công việc khác nhau của quá trình sản xuất - kinh doanh Người chủ gia đình thường đồng thời là người thợ cả, mà trong số họ có

Trang 18

không ít nghệ nhân Tuỳ theo nhu cầu công việc, hộ gia đình có thể thuê mướn theo lao động thường xuyên hoặc thời vụ Tổ chức sản xuất - kinh doanh theo hộ gia đình đảm bảo được sự gắn bó giữa quyền lợi và trách nhiệm, huy động được mọi lực lượng có khả năng lao động tham gia sản xuất - kinh doanh, tận dụng được thời gian và nhu cầu đầu tư thấp (sử dụng ngay nhà ở làm nơi sản xuất) Đây là hình thức

tổ chức thích hợp với quy mô sản xuất nhỏ Tuy nhiên, mô hình này hạn chế rất nhiều đến khả năng phát triển sản xuất - kinh doanh Mỗi gia đình không đủ sức nhận hợp đồng lớn, không mạnh dạn cải tiến sản phẩm, không đủ tầm nhìn để định hướng nghề nghiệp hoặc vạch ra chiến lược kinh doanh

1.1.3 Vai trò của làng nghề và các yêu tố tác động đến sự phát triển của

các làng nghề

1.1.3.1 Vai trò của các làng nghề đối với sự phát triển kinh tế nông thôn và

quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Sự phát triển của các làng nghề có một số vai trò chủ yếu sau:

Một là, giúp giải quyết việc làm, sử dụng hợp lý nguồn lao động nông thôn

Xuất phát từ thực tế đất nước ta là một nước nông nghiệp, có bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người thấp, tỷ lệ thất nghiệp và bán thất nghiệp ở khu vực nông thôn còn chiếm tỷ lệ cao (Khoảng 30-35% lao động nông thôn)

Các làng nghề ở nước ta với nhiều ngành nghề phi nông nghiệp, không đòi hỏi nhiều vốn, yêu cầu kỹ thuật không cao chủ yếu là tận dụng lao động và có khả năng làm việc phân tán trong từng hộ gia đình Hơn nữa lao động sống trong giá thành sản phẩm chiếm tỷ lệ cao (Khoảng 40- 60%) do vậy nếu các làng nghề phát triển mạnh mẽ sẽ thu hút được nhiều lao động nông thôn

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp để giải quyết việc làm cho người lao động như đẩy mạnh hợp tác lao động quốc tế, mở rộng và khuyến khích đầu tư, liên doanh với nước ngoài, đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới và đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, phát triển trồng trọt và chăn nuôi Những biện pháp đó bước đầu đã giải quyết được một số lao động có công ăn việc làm Nhưng do điều kiện đất chật người đông, do đó sản xuất nông nghiệp bản thân

nó không giải quyết hết số lao động dư thừa hiện nay ở nông thôn

Trang 19

Phát triển làng nghề là điều kiện thuận lợi giúp cho số lao động trong nông thôn không có khả năng sản xuất nông nghiệp mà lại có tay nghề, kỹ thuật, các đối tượng là lao động thanh niên tạm thời nhàn rỗi chuyển sang hoạt động ở những nghề mà họ có ưu thế hơn Đây là một vấn đề hết sức quan trọng làm cho kinh tế nông thôn phát triển tổng hợp, phong phú và đa dạng (ai giỏi nghề gì, làm nghề đó) Điều đó, giúp cho sản xuất nông nghiệp đẩy nhanh được nhịp độ tập trung hóa, chuyên môn hóa và thâm canh hóa sản xuất có như vậy mới giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và tăng thu nhập cho họ.Theo một số kết quả điều tra, nghiên cứu mỗi cơ sở chuyên ngành nghề ở các làng ngề tạo việc làm ổn định cho

27 lao động, mỗi hộ ngành nghề cho 4-6 lao động Ngoài lao động thường xuyên các hộ, các cơ sở ngành nghề ở các làng nghề còn thu hút lao động nhàn rỗi trong nông thôn (Bình quân 2-5 người/hộ và 8-10 người/ cơ sở) nhiều làng nghề đã thu hút trên 60% số lao động vào các hoạt động ngành nghề [1, tr 6]

Hai là, tạo thu nhập cho người lao động Theo kết quả điều tra đánh giá của

Cục chế biến và Ngành nghề nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) thu nhập bình quân của lao động của các cơ sở chuyên ngành nghề phi nông nghiệp

là 430.000đ/tháng, ở hộ chuyên là 236.000đ/tháng, ở hộ kiêm là 186.000đ/tháng, bằng 1.7 – 3.9 lần so với thu nhập bình quân của lao động nông nghiệp Thu nhập từ các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp ngày càng đóng vai trò chủ yếu trong lao động của các hộ kiêm Ở các làng nghề số hộ đói hầu như không còn, số hộ nghèo chiếm tỷ lệ nhỏ, số hộ giàu ngày càng tăng Trên cơ sở tạo việc làm, tăng thêm thu nhập, các làng nghề được coi là nhân tố chủ lực làm chuyển dịch cơ cấu xã hội nông thôn theo hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, nâng cao phúc lợi cho người dân

Ba là, tăng giá trị tổng sản phẩm hàng hoá cho nền kinh tế Hiện nay làng

nghề được phân bố rộng khắp ở các vùng, miền Do đó, làng nghề có khả năng sử dụng tốt hơn các nguồn lực sẵn có ở nông thôn như: các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn nguyên liệu, phế liệu, phụ phẩm của nông nghiệp sản xuất ra, cũng như khai thác có hiệu quả nguồn vốn trong dân cư, cơ sở vật chất kỹ thuật và những

kỹ năng, kỹ năng của người lao động để đẩy mạnh sản xuất nhằm tạo ra ngày càng

Trang 20

nhiều hàng hóa có chất lượng cao, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và nhu cầu xuất khẩu

Bốn là, thực hiện các yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Việc

phát triển các làng nghề, các ngành nghề phi nông nghiệp đã góp phần sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của cơ sở, hộ, vùng, nhất là sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai, lao động, vốn Ngày nay, làng nghề đã được mở rộng và phát triển nó tạo ra những tiền đề vật chất để tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là hệ thống công cụ sản xuất, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống giao thông, điện, nước, phục vụ cho sản xuất và đời sống Nói cách khác, nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của làng nghề, từ đó có điều kiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và nó lại tác động trở lại thúc đẩy kinh tế làng nghề phát triển Khi cơ sở vật chất kỹ thuật được phát triển, trình độ văn hóa của nhân dân được nâng cao, củng cố khối đoàn kết công nông, xoá bỏ dần sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng với nhau, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH-HĐH

Năm là, thu hút vốn nhàn rỗi Hiện nay nguồn vốn nhãn rỗi trong dân cư

tương đối nhiều, đây là một trong những điều kiện thuận lợi để có thể huy động để tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển làng nghề, có như vậy mới tạo được việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và tránh được tình trạng vốn bị ứ đọng hoặc không mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người lao động

Sáu là, bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc Các làng nghề luôn gắn liền với

lịch sử phát triển nền văn hoá Việt Nam Do đặc điểm của sản phẩm làng nghề có tính chất lâu đời, mang tính kỹ thuật và tính mỹ thuật cao, do đó mà những sản phẩm của những vùng, miền khác nhau có đặc điểm khác nhau, đại diện cho cả vùng miền đó Vì vậy, cần duy trì và phát triển làng nghề nhất là trong công cuộc CNH-HĐH đất nước

1.1.3.2 Các yếu tố quyết định sự phát triển của làng nghề

Sự phát triển của các làng nghề chịu sự tác động của các yếu tố cơ bản sau:

Thứ nhất, vốn và tín dụng Sự phát triển của ngành nghề phi nông nghiệp ở

các làng nghề thực chất cũng là một bước, một hình thức của công nghiệp hoá nông

Trang 21

thôn Quá trình đó đòi hỏi một lượng vốn rất lớn, trong khi đó phần lớn các hộ, các

cơ sở kinh doanh ở các làng nghề còn ít vốn, đây là yếu tố quan trọng tác động và cản trở đến sự phát triển của các làng nghề theo cả chiều rộng và chiều sâu Vốn có tác động trực tiếp đến sự phát triển ngành nghề, làng nghề ở nông thôn của các hộ gia đình và làng nghề Theo các kết quả điều tra, có tới 70% số hộ, cơ sở mong muốn vay vốn để phát triển sản xuất, nhưng chỉ có12-15% số hộ ; 32,4% số cơ sở kinh doanh được vay từ ngân hàng [1, tr 9] Nguyên nhân chính từ sự không tiếp cận từ nguồn vốn của ngân hàng là chính sách và cơ chế cho vay vốn còn chưa thật sát với điều kiện hiện nay của các làng nghề vì thế vốn vay ngắn hạn, lượng vốn cho vay ít so với yêu cầu của các làng nghề, thủ tục cho vay còn chưa thuận tiện và kịp thời nhất là các điều kiện về thế chấp nên nhiều hộ, cơ sở phải đi vay tư nhân với lãi suất cao hơn, làm hạn chế hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ cơ

sở Do vậy, Nhà nước cần bổ sung chính sách nhằm hỗ trợ hơn nữa về vốn cho các

hộ gia đình và các làng nghề có điều kiện tồn tại và phát triển

Thứ hai, tổ chức sản xuất và quy mô sản xuất Mặc dù đại đa số các cơ sở

kinh doanh và các hàng hoá ở các làng nghề có quy mô nhỏ, vốn đầu tư không đòi hỏi lớn, nhưng giá trị làm ra không nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh Trong số các

hộ và các cơ sở ngành nghề phi nông nghiệp ở các làng nghề có tới trên 90% là hộ chuyên, chỉ có dưới 10% là các cơ sở (hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân…) nên rất hạn chế trong CNH nông thôn, do hạn chế về vốn, mặt bằng sản xuất, công nghệ thiết bị và khả năng tiếp cận thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu

Thứ ba, hạ tầng cơ sở nông thôn và kết cấu hạ tầng các làng nghề Hạ tầng

cơ sở nông thôn nhất là kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội ở các làng nghề, vùng nghề tác động không nhỏ đến sự phát triển của các làng nghề Hạ tầng cơ sở nông thôn nói chung, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở các làng nghề nói riêng còn rất nghèo,

là một cản trở lớn cho sự phát triển của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề ở các vùng có địa hình phức tạp, vùng sâu, vùng xa Nhìn chung, hệ thống giao thông, cung cấp điện, nước sạch, thông tin liên lạc ở các làng nghề, các vùng nghề còn thấp kém, chất lượng thấp

Trang 22

Thứ tư, trình độ kỹ thuật và công nghệ được sử dụng tại các làng nghề Đây

là yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển và hiệu quả hoạt động của các hộ, cơ

sở kinh doanh tại các làng nghề Trên thực tế, phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng trong các cơ sở ở các làng nghề là lạc hậu, năng xuất thấp, cùng với sự hạn chế về nhà xưởng, công nghệ, máy móc thiết bị như hiện nay, các ngành nghề, làng nghề ở nông thôn hiện nay gặp nhiều khó khăn Đây là một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao, làm giảm sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của công nghiệp thành thị và hàng ngoại nhập nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường

Từ những thực tế trên cho thấy, muốn phát triển làng nghề ở nông thôn theo hướng CNH- HĐH thì việc áp dụng công nghệ cho các làng nghề phải tính đến yếu

tố thích ứng của kỹ thuật, nhằm sử dụng đầy đủ và thực hiện hiệu quả lao động nông thôn, hơn là áp dụng kỹ thuật hiện đại theo hướng vốn đầu tư lớn mà sử dụng ít lao động, có vậy mới mang lại hiệu quả kinh tế cao cho khu vực làng nghề

Thứ năm, thị trường tiêu thụ Mặc dù có một lợi thế về thị trường tiềm năng

trong nước với khoảng hơn 80 triệu dân, thị trường du lịch và thị trường xuất khẩu cũng có tiềm năng lớn, nhất là hàng thủ công mỹ nghệ và hàng chế biến nông sản nhiệt đới, nhưng thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề còn nhiều hạn chế Hiện nay, các sản phẩm của làng nghề sản xuất ra thì có 90% tiêu thụ ở trong nước Nhìn chung, sản phẩm của làng nghề ở nông thôn còn quá đơn điệu, chất lượng chưa cao, chưa theo kịp với tốc độ phát triển của đời sống xã hội trong nước và chưa đáp ứng được thị hiếu của người nước ngoài Nếu trong thời gian tới tình trạng này không được khắc phục thì các làng nghề rất khó phát triển, một số làng nghề khi sản phẩm làm ra không đáp ứng được thị trường sẽ bị mai một và có xu hướng mất dần đi Đây là một trong những vấn đề mà các ngành, các cấp quan tâm và tạo điều kiện cho các làng nghề tồn tại và phát triển

Thứ sáu, yếu tố nguyên vật liệu Các làng nghề sẽ không thể tiếp tục quá

trình sản xuất sản phẩm nếu thiếu, hoặc không có đủ nguyên vật liệu do đó nó có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của làng nghề Nguyên liệu chủ yếu được khai thác tại các địa phương trong nước và hầu hết là lấy trực tiếp từ thiên nhiên,

Trang 23

nguyên liệu nhập ngoại chiếm tỷ trọng rất nhỏ Tuy nhiên, việc tổ chức khai thác, cung ứng của một số nguyên liệu cho sản xuất chưa tốt Các hộ gia đình, các làng nghề phải mua lại từ nhiều nguồn, chủ yếu là nguồn cung ứng gián tiếp, thậm chí từ nguồn cung ứng bất hợp pháp nên phải mua với giá cao làm tăng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Hầu hết các nguyên liệu thường do các hộ gia đình, các làng nghề tự làm với

kỹ thuật thủ công hoặc các loại máy móc thiết bị tự chế rất lạc hậu, do đó không thực hiện được việc tiêu chuẩn hoá chất lượng nguyên liệu, không chủ động được chất lượng sản phẩm Điều này ảnh hưởng nhiều đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của làng nghề và nó có tác động trực tiếp đến thu nhập của người lao động và các làng nghề

Thứ bảy, vấn đề môi trường Tuy các làng nghề ở nước ta mới được khôi

phục và phát triển bước đầu khoảng 20 năm qua, nhưng qua một số kết quả nghiên cứu của Cục chế biến và ngành nghề nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thì có tới 50% số hộ, số cơ sở hoạt động sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp làm ảnh hưởng xấu đến môi trường Ở các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, thuộc da, nhuộm vải, sản xuất giấy, đang gặp rất nhiều khó khăn về nước thải chưa được xử lý Ở các làng nghề sản xuất gạch, vôi, đồ gốm sứ, đúc đồng nhôm, đang gặp rất nhiều khó khăn về ô nhiễm không khí Tình trạng này đã làm

ô nhiễm môi trường sinh thái, ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng

Hiện nay và trong thời kỳ tới, các nước nhập khẩu các sản phẩm làng nghề của Việt Nam sẽ dần dần siết chặt tiêu chuẩn, quy định về môi trường đối với sản phẩm nhập khẩu (nhất là EU, Nhật Bản, ), nếu không đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường của các nước nhập khẩu, sản phẩm của các làng nghề sẽ không thể xuất khẩu được, sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của các làng nghề của Việt Nam Đây cũng chính là một trong những khó khăn, thách thức trong phát triển các làng nghề Việt Nam thời kỳ tới

Thứ tám, pháp luật, chính sách của nhà nước, cơ chế quản lý của chính

quyền địa phương về làng nghề Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu nhằm tạo môi

trường kinh doanh cũng như tạo động lực phát triển lâu dài của các làng nghề

Trang 24

Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành một số luật pháp, chính sách, cơ chế quản lý kinh tế, tạo điều kiện tương đối thuận lợi cho phát triển hoạt động kinh doanh của các làng nghề như chính sách về lãi suất, ưu tiên đầu tư vào làng nghề,

ưu đãi về thuế, thị trường tiêu thụ…, tuy nhiên chưa đầy đủ, đồng bộ và thủ tục hành chính, thực hiện các chính sách còn phức tạp hoặc chưa có sự hướng dẫn cụ thể của các địa phương, mặt khác, đa số các hộ, các cơ sở kinh doanh ở các làng nghề chưa được cung cấp đầy đủ các thông tin và chưa hiểu biết về các thủ tục cần thiết để được hưởng các chính sách khuyến khích Vì thế, chưa tạo được môi trường kinh doanh đầy đủ và tạo động lực phát triển nhanh của các làng nghề, khai thức và phát huy hết tiềm năng phát triển của các làng nghề

Do đó giữa các nhóm nhân tố trên có tác động lẫn nhau và tạo ra các cơ hội

để làng nghề tồn tại và phát triển nhất là trong điều kiện hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và thế giới, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế chung của đất nước

1.2 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT

TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ

1.2.1 Tín dụng ngân hàng và đặc trưng của tín dụng ngân hàng đối với

phát triển làng nghề

1.2.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng chỉ ra đời và tồn tại trong điều kiện lịch sử nhất định, khi mà ở đó

có những hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan xuất hiện và tồn tại Trải qua quá trình hình thành và phát triển đó tín dụng ngân hàng ra đời

Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa các ngân hàng với các tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân khác trong một thời hạn nhất định Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó, ngân hàng giao cho các cá nhân và tổ chức có nhu cầu một khoản tiền để sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Đây là một nghiệp vụ về tài sản có của ngân hàng được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ và là nguồn thu lãi chủ yếu của các ngân hàng thương mại

Trang 25

1.2.1.2 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng đối với phát triển làng nghề

Tín dụng ngân hàng đối với làng nghề ngoài những đặc điểm chung như đặc trưng của tín dụng ngân hàng vốn có, nó còn mang những đặc trưng riêng của tín dụng đối với làng nghề (tín dụng ngân hàng đối với làng nghề, là tín dụng ngân hàng đối với các khách hàng làm nghề ở các làng nghề) Những đặc trưng chủ yếu này được thể hiện:

Một là, tín dụng ngân hàng phải gắn với đặc điểm hoạt động của làng nghề

Khi đầu tư tín dụng đối với các đối tượng ở làng nghề ở nông thôn còn phải bao quát đặc điểm: ngành nghề ở nông thôn rất đa dạng, có hàng trăm nghề, việc phân loại nhóm nghề thường căn cứ vào nguyên liệu đầu vào hoặc công nghệ sản xuất Hiện nay, ở nước ta nghề nông thôn có thể chia thành 3 nhóm ngành chính: chế biến nông, lâm, thuỷ sản; công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng; dịch vụ Ngoài ra còn phải chú trọng một số đặc điểm chủ yếu của ngành nghề nông thôn là về lao động

và sử dụng lao động; nhà xưởng và máy móc thiết bị; vốn và quan hệ tín dụng với ngân hàng; nguyên liệu và thị trường;

Hai là, đặc trưng quan hệ cung cầu vốn đối với các cơ sở làm nghề của làng

nghề thường là hộ kinh doanh vừa là hộ chuyên, vừa là hộ kiêm mang tính thời vụ, hoạt động kinh doanh chủ yếu trên địa bàn nông thôn Đặc trưng này tác động tới

nhu cầu tín dụng thường có tính thời vụ rõ rệt, gắn với hoạt động kinh tế nông nghiệp nông thôn Hơn nữa do thị trường tài chính nông thôn chưa phát triển và hạn chế về khả năng tích luỹ cũng như hạn chế về khả năng khai thác các nguồn tài chính khác, nên những hộ hoạt động kinh doanh trong ngành nghề phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng

Ba là, các điều kiện vay vốn so với các qui định hiện nay thường không đầy

đủ Số lượng khách hàng và các món vay nhiều, phân tán trên nhiều địa bàn nhưng

giá trị từng món vay lại nhỏ và cơ chế cho vay đối với ngành nghề chưa có, hiện nay chủ yếu vận dụng theo cơ chế cho vay đối với hộ sản xuất Từ đó dẫn đến quan

hệ tín dụng với ngân hàng gặp nhiều khó khăn

Bốn là, là loại tín dụng đa dạng Đa dạng về đối tượng vay vốn ở mỗi ngành

nghề, mỗi vùng khác nhau là khác nhau Nhu cầu vốn, thời hạn cho vay, thu nợ

Trang 26

ngay cùng một ngành nghề cũng có khi khác nhau, nó tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên từng vùng, điều kiện kinh tế của từng hộ khác nhau Đa dạng hoá về hình thức chuyển tải vốn: Trực tiếp, gián tiếp, qua tổ vay vốn, đoàn thể, cả bằng tiền mặt, chuyển khoản, cả bằng hiện vật Đa dạng về hình thức trả nợ, Ngoài ra, thực hiện qui trình tín dụng chủ yếu đơn giản, như: Thẩm định dự án đầu tư vốn chỉ là những phương án sản xuất kinh doanh đơn giản, chu kỳ sản xuất kinh doanh do tự nhiên định sẵn, nơi sinh sống của các khách hàng vay vốn chủ yếu là sống cố định tại một địa phương, tài sản đảm bảo nợ vay thường có tính cha truyền con nối, đồng

sở hữu trong gia đình,

Năm là, vừa mang tính thương mại vừa mang tính chính sách nhằm phục vụ

các chương trình phát triển kinh tế của Nhà nước thuộc khu vực kinh tế nông nghiệp nông thôn Sự ảnh hưởng bởi yếu tố chính sách đặc biệt rõ ở những nơi mà chưa tách được đối tượng thuộc ngân hàng chính sách xã hội Trong những trường hợp này việc tính toán hiệu quả tín dụng sẽ trở nên rất khó khăn do không chỉ căn cứ vào lợi nhuận của ngân hàng mà còn phải tính toán đến lợi ích lâu dài, lợi ích toàn

xã hội, phải căn cứ vào các định hướng phát triển kinh tế từng vùng trong từng thời

kỳ

Sáu là, tín dụng đối với làng nghề thường là bên đi vay thường ít hiểu biết về

sản phẩm dịch vụ ngân hàng Do đó, để khắc phục phải cần nhiều biện pháp tổng

hợp nắm giữ khách hàng, đi sâu giúp đỡ và hướng dẫn khách hàng là điều cần thiết

để mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với đầu tư tín dụng cho làng nghề

1.2.2 Các loại tín dụng ngân hàng đối với làng nghề

Hiện nay có nhiều loại tín dụng khác nhau, được phân theo những tiêu thức khác nhau, dựa vào trình độ phát triển và biểu hiện vật chất của tín dụng Xuất phát

từ những đặc trưng của tín dụng ngân hàng đối với làng nghề mà có cách vận dụng các hình thức tín dụng cho phù hợp như:

- Căn cứ vào thời hạn tín dụng có: Tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và dài hạn

- Căn cứ vào đối tượng tín dụng có: Tín dụng vốn lưu động và tín dụng vốn

cố định

Trang 27

- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng có: Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín dụng tiêu dùng

- Căn cứ vào chủ thể tín dụng bao gồm tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước

Việc đa dạng các loại hình tín dụng đối với việc phát triển làng nghề trong nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho việc mở rộng và thúc đẩy các hoạt động tín dụng đối với mọi lĩnh vực của làng nghề trong đời sống kinh tế - xã hội Việc đa dạng này cũng đặt ra yêu cầu cần phải tăng cường các thể chế tín dụng để điều tiết các hoạt động tín dụng, đảm bảo cho các loại hình tín dụng có quan hệ chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ nhau trên thị trường tín dụng

Mỗi khu vực làng nghề thường có những đặc trưng nhất định, như đặc trưng

về các loại trang thiết bị, nguyên liệu, chu kỳ lưu chuyển của sản phẩm Những đặc điểm này là một trong những căn cứ để các tổ chức tín dụng lựa chọn các hình thức và quy trình cho vay phù hợp với sự phát triển nghề, làng nghề như : Căn cứ phương thức cho vay, do hình thức tổ chức của SXKD đối với các nghề đa số hộ kinh doanh với quy mô vay nhỏ, ngay cả các cơ sở thì mức vay cũng không quá cao

so với khả năng đáp ứng của ngân hàng, nên các ngân hàng không phải hợp vốn để cho vay Các phương thức cho vay thích hợp và chủ yếu thường là:

- Cho vay từng lần: Tuỳ theo quy mô và hoạt động của từng loại ngành nghề,

làng nghề mà mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng làm thủ tục vay cần thiết

và ký kết hợp đồng tín dụng Số tiền cho vay bằng tổng nhu cầu vốn của dự án hoặc phương án trừ đi vốn chủ sở hữu hoặc vốn tự có và vốn khác tham gia (nếu có) Mỗi hợp đồng tín dụng có thể phát tiền vay một lần hay nhiều lần phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế của khách hàng

- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là hình thức cho vay theo đó khách

hàng và ngân hàng căn cứ vào các dự án, phương án, kế hoạch SXKD để tính toán

và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định (3 tháng, 6 tháng, 12 tháng) hoặc theo chu kỳ SXKD, cho vay không được vượt quá hạn mức tín dụng đã ký kết Loại cho vay này thích hợp với các khách hàng có quan hệ tín dụng thường xuyên với ngân hàng

Trang 28

- Cho vay theo dự án đầu tư: Theo cách thức cho vay này ngân hàng cho

khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống Phương thức này thường áp dụng đối với cho vay trung hạn, dài hạn Số tiền cho vay bằng tổng mức đầu tư của dự án sau khi loại trừ phần vốn lưu động dự kiến ban đầu cho sản xuất dự án, vốn chủ sở hữu hoặc vốn tự có tham gia và nguồn vốn huy động khác từ bên ngoài

- Cho vay theo uỷ thác: Do tầm quan trọng của việc phát triển ngành nghề,

làng nghề nên Chính phủ hay các tổ chức và cá nhân có thể uỷ thác cho các ngân hàng đầu tư cho vay đối tượng này Khi ngân hàng nhận được một khoản tiền nhất định sẽ tiến hành cho vay và hưởng phí uỷ thác trên cơ sở đảm bảo bù đắp đủ chi phí, rủi ro và có lãi

Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể chỉ định các ngân hàng cho vay đối với làng

nghề với lãi suất ưu đãi Trong trường hợp phát sinh tổn thất từ các khoản cho vay

này theo những nguyên nhân khách quan thì ngân hàng có thể yêu cầu Chính phủ,

NHNN và các bộ ngành liên quan có các biện pháp thích hợp nhằm đảm bảo quyền lợi thích đáng cho ngân hàng Cho vay không cần thực hiện bảo đảm bằng tài sản là cho vay tín chấp dựa trên sự tin tưởng vào tư cách, năng lực, khả năng SXKD của khách hàng hoặc tin tưởng vào uy tín của một tổ chức, cá nhân đứng ra bảo lãnh mà chỉ cần một dạng hứa phiếu trong đó cam kết là sẽ trả nợ cho ngân hàng

1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển các làng nghề

Ngày nay, tín dụng ngân hàng ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển các làng nghề Điều này được thể hiện thông qua một số vai trò chủ yếu sau:

Thứ nhất, tín dụng ngân hàng tài trợ cho sự thiếu hụt vốn tạm thời của làng

nghề Trên thực tế, quá trình sản xuất ở làng nghề trải qua nhiều giai đoạn khác

nhau, phụ thuộc nhiều vào tính thất thường của nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ Vì vậy các cơ sở sản xuất ở làng nghề có lúc có vốn nhàn rỗi, có lúc lại thiếu vốn để sản xuất kinh doanh, đặc biệt là khi nhận được thêm đơn đặt hàng hoặc có nguồn nguyên liệu mới Việc cho vay, bổ xung vốn lưu động sẽ bù đắp sự thiếu hụt tạm thời về vốn này và giúp cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục

Trang 29

Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của

làng nghề Các hộ và cơ sở khi vay vốn của ngân hàng đều phải trả lãi, họ bị thúc ép

về nghĩa vụ tài chính đối nên phải làm ăn hiệu quả và tính toán cẩn thận Mỗi đồng vốn vay của ngân hàng phải đem lại lợi ích kinh tế cao vì họ phải trả chi phí cho những đồng vốn vay này Doanh thu thu được phải đảm bảo bù đắp đủ chi phí sản xuất, lãi ngân hàng, thuế mà vẫn có lãi (lãi dòng) Do vậy, thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng buộc khu vực này phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thông qua hiệu quả kinh doanh như: Nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, nâng cao trình độ tổ chức và quản lý doanh nghiệp

Thứ ba, tín dụng ngân hàng tham gia vào quá trình hình thành một số làng

nghề mới và thúc đẩy các làng nghề hiện tại phát triển Hiện nay, các làng làm nghề

phục vụ cho các nhu cầu trong nước xuất hiện ngày một nhiều Tuy nhiên, mới ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, để có thể trở thành làng nghề cần có sự mạnh dạn đầu tư về vốn, trang thiết bị công nghệ cũng như có sự hỗ trợ của Chính phủ Tín dụng ngân hàng tác động vào nhu cầu về vốn sẽ giúp cho các làng này có khả năng phát triển thành các làng nghề mới Với các làng nghề đang tồn tại thì tín dụng ngân hàng cung ứng vốn để duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, qua

đó giúp các làng nghề này ngày một phát triển

Thứ tư, tín dụng ngân hàng góp phần thay đối bộ mặt làng nghề theo hướng nền kinh tế thị trường: Ngay từ khi mới bắt đầu vào sản xuất kinh doanh, các

hộ và cơ sở làng nghề đã cần nhà xưởng, đất đai để người lao động có nơi sản xuất Nguồn vốn tự có không đủ họ phải vay ngân hàng Một khi hoạt động phát triển, hệ thống các cơ sở sản xuất, khu nhà xưởng sẽ mở rộng thêm, mức độ tập trung hoá lao động được tăng cường Thông qua việc gián tiếp thúc đẩy tập trung hoá lao động nông thôn, tín dụng ngân hàng đã góp phần thay đổi theo phát triển kinh tế làng nghề theo cơ chế kinh tế thị trường ở các làng nghề Đồng thời, việc giúp làng nghề phát triển sẽ tạo điều kiện phát triển các khu công nghiệp mà làng nghề làm vệ tinh

Thứ năm, tín dụng ngân hàng không những mang lại lợi ích kinh tế cao mà

còn mang lại lợi ích chính trị, xã hội cho làng nghề Tín dụng ngân hàng không

những đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp có thể thấy được qua thực tế sản xuất kinh

Trang 30

doanh, mà nó gián tiếp mang lại các lợi ích chính trị và xã hội khác như tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, khắc phục thời gian nông nhàn, hạn chế các tệ nạn xã hội, qua đó có cơ sở củng cố tiềm lực kinh tế - quốc phòng tại địa phương

Nhờ sự trợ giúp về vốn của ngân hàng mà những hộ biết làm ăn mạnh dạn đầu tư vốn mở rộng quy mô, cải tiến kỹ thuật khiến cho sản xuất phát triển và đời sống người dân ngày càng được nâng cao Đối với các hộ nghèo, thông qua việc mở rộng sản xuất kinh doanh của các hộ cơ sở khác mà có công ăn việc làm trong thời gian nông nhàn, có thêm thu nhập

Tín dụng ngân hàng không chỉ đầu tư vào các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh

ở làng nghề mà còn đầu tư vào cơ sở hạ tầng, xây dựng lưới điện, đường xá, cầu cống làm thay đổi bộ mặt nông thôn, cải thiện đời sống kinh tế, văn hoá, tinh thần của người dân làng nghề, qua đó rút ngắn khoảng cách về giàu nghèo, về mức sống giữa nông thôn và thành thị [14]

1.3 MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA

CÁC LÀNG NGHỀ VÀ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

1.3.1 Quan niệm về mở rộng tín dụng đối với làng nghề

Mở rộng tín dụng ngân hàng đới với làng nghề là tăng qui mô cả khối lượng

và chất lượng và thực hiện mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận tăng, đảm bảo ngân hàng phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường Mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề của các tổ chức tín dụng được thể hiện:

Một là, mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề mà không gắn liền

với sự tăng trưởng của nền kinh tế thì sự mở rộng đó sẽ là phiến diện Do đó, trong bất kỳ trường hợp nào, đã là mở rộng tín dụng ngân hàng cũng phải góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, phù hợp với định hướng, mục tiêu của Nhà nước Tuy nhiên, mở rộng đầu tư tín dụng ngân hàng không thể tham gia vào quá trình sản xuất- kinh doanh với bất kỳ giá nào; ngân hàng không thể cho vay thiếu sự tính toán, cân nhắc trên cơ sở các dự án có tính khả thi Mở rộng tín dụng phải được xác định cả về định lượng và định tính gắn liền với chất lượng và hiệu quả đầu tư tín dụng

Hai là, mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề còn phải đảm bảo thực

hiện mục tiêu của nguồn vốn huy động Chẳng hạn, mục tiêu của nguồn vốn huy

Trang 31

động là để cho vay xoá đói giảm nghèo, có hoàn trả, không hoàn trả, có lãi suất, không lãi suất, thời hạn dài hay ngắn, thì không thể lấy nguồn vốn này mà cho vay xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy móc thiết bị, tuỳ theo tính chất của từng nguồn vốn mà đầu tư

Ba là, mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề còn phải thực hiện có

hiệu quả các cơ chế về đầu tư tín dụng

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự mở rộng tín dụng đối với làng nghề

Mở rộng tín dụng ngân hàng nói chung, mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề nói riêng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó thể hiện sức mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để phát triển Có nhiều chỉ tiêu dùng để đánh giá việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề, gồm cả các chỉ tiêu định tính và định lượng Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ nêu những chỉ tiêu định tính chủ yếu xác định mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề

* Tổng dư nợ Là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền cấp cho làng nghề

tại một thời điểm Tổng dư nợ bao gồm cho vay ngắn, trung và dài hạn, cho vay uỷ thác Tổng dư nợ thấp chứng tỏ ngân hàng không có khả năng mở rộng được mạng lưới khách hàng, hoạt động tín dụng ngân hàng yếu kém, khả năng tiếp thị khách hàng yếu kém Tuy vậy, không có nghĩa là tỷ lệ này thấp không có nghĩa là khả năng mở rộng tín dụng ngân hàng yếu kém, vì mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề còn lệ thuộc vào nhiều yếu tố khác

Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu định lượng cơ bản và quan trọng nhất để xem xét đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Tỷ lệ nợ quá hạn

Trang 32

thấp biểu hiện chất lượng tín dụng tại ngân hàng có độ an toàn cao (mức độ rủi ro thấp)

Trên thực tế để đánh giá một cách chính xác chất lượng hoạt động tín dụng của một ngân hàng thì người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn ra làm hai loại:

Tỷ lệ NQH có khả năng thu hồi = NQH cã kh¶ n¨ng thu håi

Qua chỉ tiêu này, giúp cho ngân hàng đánh giá có nên mở rộng tín dụng nữa hay không Bởi vì, giữa mở rộng tín dụng với nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau Mặc dù trong thực tế khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng còn (có nguồn vốn, làng nghề có nhu cầu vay vốn, ), nhưng chất lượng tín dụng, hiệu quả thấp thì ngân hàng cũng không thể mở rộng tín dụng ngân hàng

- Thời hạn hoàn vốn và vòng quay vốn tín dụng

Thời hạn hoàn vốn: Là khoảng thời gian được tính từ lúc cho vay đến khi ngân hàng thu hết nợ Nếu thời gian cho vay ngắn thì sẽ tạo ra áp lực về thời gian đối với khách hàng dẫn đến khách hàng không thể trả được nợ Vì vậy, ngân hàng phải xác định chính xác thời gian cho vay

Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ

Dư nợ bình quân Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển vốn nhanh hay chậm, số vòng quay càng lớn thì tốc độ luân chuyển vốn càng được đánh giá tốt Song nếu quá nhanh lại thể hiện cơ cấu tín dụng chưa hợp lý Chỉ tiêu này, càng có ý nghĩa với việc đầu tư tín dụng ngân hàng vào làng nghề Nếu tính toán đúng sát với nhu cầu vay vốn, trả

nợ của khách hàng sẽ tạo điều kiện mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề tốt và ngược lại

Trang 33

- Doanh số cho vay Đây là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân

hàng đối với làng nghề là chỉ tiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về hoạt động cho vay trong một thời gian dài, thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua các năm

Do đó, nếu kết hợp doanh số cho vay của các thời kỳ liên tiếp thì có thể thấy được hướng hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với làng nghề

- Thu nhập từ hoạt động cho vay

- Tổng dư nợ / Nguồn vốn huy động: Chỉ số này xác định hiệu quả hoạt động

cho vay của một đồng vốn huy động Nó giúp nhà quản lý so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với vốn huy động Đây cũng là một chỉ tiêu xác định mở rộng tín dụng đối với làng nghề

- Tổng dư nợ / Tổng tài sản Có: Chỉ số này tính toán hiệu quả hoạt động

cho vay của một đồng tài sản Có Ngoài ra chỉ số này còn xác định quy mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng Là một loại chỉ tiêu liện quan rực tiếp đến mở rộng tín dụng

- Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ vốn cho vay

trong tổng nguồn vốn huy động Nó xem xét, đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng, đáp ứng về vốn của bản thân ngân hàng cũng như của nền kinh tế hay chưa Chỉ tiêu này được biểu thị bằng công thức:

Hiệu suất sử dụng vốn = Tổng dư nợ/ Tổng vốn huy động

Tỉ lệ này trên thực tế giao động từ 30% đến 100% Thông thường vào khoảng trên 80% là tốt, còn nếu dưới hoặc trên mức đó, thậm chí xấp xỉ 100% có thể gây ảnh hưởng không tốt cho ngân hàng Lúc đó tính thanh khoản của ngân hàng sẽ bị đe doạ do khối lượng dự trữ không được đảm bảo Tuy vậy, để xác định

Trang 34

một tỉ lệ thế nào là phù hợp còn phụ thuộc vào kết cấu của vốn huy động, lĩnh vực ngân hàng tập trung tài trợ và nhiều nhân tố khác Hiệu suất sử dụng tín dụng tốt sẽ

là điều kiện thuận lợi để mở rộng tín dụng

* Chỉ tiêu các thông số quy định Ngoài các chỉ tiêu trên thì mở rộng tín

dụng còn được đánh giá thông qua việc đảm bảo các quy chế và thể lệ tín dụng như:

+ Giới hạn cho vay một khách hàng: Để đảm bảo khả năng thanh toán của

mình, bất cứ một NHTM nào cũng chỉ được cấp tín dụng cho một khách hàng không quá một tỷ lệ nhất định so với vốn tự có

+ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: Tỷ lệ này cho biết một đồng vốn tự có bảo vệ

cho bao nhiêu đồng tài sản có rủi ro của NHTM, thường là 8% trở lên Nó được tính bằng công thức:

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu = Vốn tự có / Tài sản có rủi ro quy đổi

+ Dư nợ của một khách hàng không quá một tỷ lệ nhất định so với vốn điều

lệ và các quỹ của NHTM

Trên đây là những chỉ tiêu thường được dùng để đánh giá mở rộng tín dụng của một ngân hàng Để thực sự góp phần mở rộng tín dụng ngân hàng đối làng nghề, ngoài các chỉ tiêu để xác định chủ yếu nêu trên, còn phải quan tâm đến những nhân tố ảnh hưởng đến nó

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với

việc phát triển làng nghề

Để mở rộng tín dụng đối với đối tượng khách hàng làm nghề truyền thống, ngân hàng phải xem xét tổng hợp cả ba nhóm nhân tố:

Thứ nhất, nhóm nhân tố thuộc về kinh tế, xã hội, pháp lý, môi trường tự nhiên,

- Nhân tố kinh tế: Điều kiện kinh tế của khu vực mà ngân hàng phục vụ ảnh hưởng lớn tới mở rộng hoạt động tín dụng Một nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các khoản tín dụng có chất lượng cao và mở rộng được chúng, còn nền kinh tế không ổn định thì các yếu tố lạm phát, khủng hoảng, sẽ làm cho khả năng tín dụng và khả năng trả nợ vay biến động lớn làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu nợ khi cho vay của ngân hàng

Giới hạn của mở rộng qui mô tín dụng có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Nếu mở tín dụng quá giới hạn cho phép sẽ làm cho giá cả tăng quá mức, xảy

Trang 35

ra lạm phát tốc độ cao, các ngân hàng thương mại sẽ chịu thiệt hại lớn do đồng tiền mất giá, chất lượng tín dụng bị giảm thấp Ngoài ra, chính sách kinh tế của Nhà nước điều tiết để ưu tiên hay hạn chế sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực nào

đó để đảm bảo sự cân đối trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng tới mở rộng tín dụng

Chính sách lãi suất cũng ảnh hưởng tới mở rộng hoạt động tín dụng của Ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường lãi suất luôn biến động Trong những trường hợp lãi suất cho vay giảm, song lãi suất tiền gửi lại giữ nguyên làm cho chênh lệch đầu ra và đầu vào giảm dẫn đến chi phí nguồn vốn lớn chi phí sử dụng vốn không bù đắp nổi Đồng thời mức độ phù hợp giữa lãi suất ngân hàng với lợi nhuận của các doanh nghiệp cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng Lợi tức ngân hàng thu được từ hoạt động tín dụng bị giới hạn bởi lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sử dụng vốn vay ngân hàng Vì vậy, với mức lãi suất cao hơn mức lợi nhuận các doanh nghiệp vay vốn thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ không có khả năng trả nợ ngân hàng, ảnh hưởng tới quá trình sản xuất của doanh nghiệp nói riêng và tình hình phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung (trừ các doanh nghiệp có lợi nhuận siêu ngạch hoặc lợi nhuận độc quyền) hoạt động tín dụng này không còn là đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất phát triển và theo đó chất lượng tín dụng cũng bị ảnh hưởng

- Nhân tố xã hội: Quan hệ tín dụng là sự kết hợp giữa ba nhân tố: Khách hàng, ngân hàng và sự tín nhiệm, trong đó sự tín nhiệm là cầu nối mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng Ngân hàng có tín nhiệm càng cao thì thu hút được khách hàng càng lớn Khách hàng có tín nhiệm đối với ngân hàng thường được vay vốn dễ dàng và có thể được vay với lãi suất thấp hơn so với các đối tượng khác Tín nhiệm

là tiền đề, điều kiện để không ngừng cải tiến chất lượng hoạt động tín dụng

Ngoài những yếu tố trên, còn có những yếu tố ảnh hưởng tới mở rộng tín dụng như: Đạo đức xã hội có liên quan tới rủi ro trong tín dụng, trong trường hợp lợi dụng lòng tin để lừa đảo, hoặc do trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết dẫn tới hiểu chưa đúng bản chất hoạt động ngân hàng nói chung cũng như hoạt động tín dụng nói riêng, làm ăn kém hiệu quả, không phát huy tốt các chức năng, các phương tiện tín dụng Bên cạnh đó sự biến động của tình hình kinh tế, chính trị xã hội ở

Trang 36

nước ngoài cũng có ảnh hưởng tới mở rộng hoạt động tín dụng Ngoài ra mở rộng hoạt động tín dụng còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố môi trường như: thời tiết, dịch bệnh, bão, lũ lụt Và các biện pháp tích cực trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái

- Nhân tố pháp lý: Khi Đảng và Nhà nước có chủ trương phát triển làng nghề thì trước sau gì cũng sẽ có phương hướng và biện pháp cụ thể để thực hiện chủ trương đó Vấn đề là việc thực hiện tiến hành như thế nào và đến đâu Với tư cách là một đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng, các ngân hàng cần nắm bắt được những xu hướng sẽ diễn biến trong tương lai, qua đó mà có những chính sách tín dụng phù hợp Bởi vì muốn phát triển một khu vực, một đối tượng nào đó thì Nhà nước không thể không đầu tư cho khu vực ấy Đầu tư thì phải có vốn mà

NH chính là kênh phân phối vốn lớn và hiệu quả nhất cho nhiều đối tượng khách hàng Một khi đã đầu tư thì hệ thống cơ sở hạ tầng, nguyên liệu, thị trường đều phát triển, đến lượt nó lại tác động trở lại làm cho các làng nghề phát triển, các làng nghề càng phát triển bao nhiêu thì nhu cầu vay vốn để đầu tư mới, để mở rộng càng lớn bấy nhiêu

Thêm vào đó, mỗi địa phương có các đặc điểm và điều kiện ứng dụng khác nhau nên các ngân hàng còn phải căn cứ vào phương hướng phát triển kinh tế của địa phương mình để có biện pháp thích nghi phù hợp Ngoài việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ cần có biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu và hàng lưu niệm, coi trọng phát triển làng nghề là cơ sở phát triển kinh tế nông thôn Phương hướng và biện pháp mở rộng tín dụng làng nghề phải nằm trong quỹ đạo phát triển chung mà các chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương đã vạch ra

Môi trường pháp lý cũng là một nhân tố quan trọng, việc làng nghề được thừa nhận địa vị pháp lý và tạo khung pháp lý rõ ràng và thuận lợi cho các sản phẩm của làng nghề sẽ tạo điều kiện cho những người có vốn yên tâm và mạnh dạn đầu

tư, bản thân ngân hàng cũng có nhiều niềm tin và căn cứ hơn để quyết định cho vay

- Nhân tố môi trường tự nhiên: Đây là nhân tố gián tiếp ảnh hưởng đến mở rộng hoạt động tín dụng của ngân hàng

Trang 37

Việt Nam là đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thiên tai hoả hoạn bệnh dịch thường xuyên xảy ra Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến một số ngành, đặc biệt là những ngành có liên quan đến nông nghiệp, thuỷ sản, hàng hải

Vì thế, việc đầu tư vào những ngành này có thể dẫn đến những rủi ro do môi trường

tự nhiên gây ra, làm ảnh hưởng xấu đến mở rộng hoạt động tín dụng của ngân hàng

Thứ hai, nhóm nhân tố từ phía làng nghề Trên thực tế, cho vay làng nghề

hiện nay phụ thuộc nhiều vào các nhân tố từ phía làng nghề Ngân hàng sẽ muốn

mở rộng tín dụng đối với làng nghề nếu xét thấy làng nghề có nhu cầu Tuy nhiên, cho dù các dù làng nghề có nhu cầu và bản thân ngân hàng rất muốn mở rộng tín dụng đối với khu vực này thì một vấn đề còn quan trọng hơn là liệu các khách hàng

ở làng nghề có đáp ứng đủ tiêu chuẩn để ngân hàng cho vay hay chưa Khi quyết định cho vay đối với làng nghề, ngân hàng thường xem xét các vấn đề sau:

+ Nhu cầu vay vốn: Thông thường, ngân hàng chỉ cho vay khi xét thấy nhu cầu tín dụng của khách hàng là thiết yếu Nhu cầu tín dụng thiết yếu là nhu cầu vay vốn để sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, nhằm duy trì và phát triển sản xuất Nhu cầu này có quy mô tuỳ thuộc và ngành nghề hoạt động, muốn vốn tự có và quy mô mở rộng sản xuất kinh doanh của khách hàng ở làng nghề trong từng giai đoạn cụ thể, bao gồm:

- Nhu cầu tín dụng ngắn hạn: Chu kỳ sản xuất kinh doanh của làng nghề thường không dài như các hoạt động xây dựng cơ bản Thông thường chỉ trong một vài ngày hoặc vài tháng là đã cho ra đời được các sản phẩm làng nghề do vậy, chỉ trong một vài tháng là đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất kinh doanh, thu hồi đủ vốn và có lãi Do vậy, các hộ và cơ sở thường vay ngắn hạn trong vài tháng (thường

là 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng) để tài trợ cho nhu cầu về nguyên liệu: chi phí hoạt động như điện, nước, nhiên liệu, hàng dự trữ cho mùa sản xuất sau: sửa chữa máy móc, các máy móc đơn giản, chi phí thấp hay đôi khi là thuế

- Nhu cầu tín dụng trung và dài hạn: vay để mua sắm tài sản cố định như máy móc, trang thiết bị, và bất động sản thường có quy mô lớn so với nguồn vốn

tự có của khách hàng Các nguồn thu trong một hay vài chu kỳ chưa đủ để trả hết nợ

Trang 38

gốc và lãi vay ngân hàng trong một vài tháng hay năm được Từ đó xuất hiện nhu cầu tín dụng trung hạn (từ 3 đến 5 năm) và dài hạn (trên 5 năm)

Nhu cầu tín dụng của các cơ sở sản xuất kinh doanh thường lớn hơn của hộ

và tỷ lệ vay cũng cao hơn so với hộ Điều này là do các cơ sở có tư cách pháp nhân, vốn lớn hơn nên dễ ký kết các hợp đồng về nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm, dễ kiểm soát hoạt động hơn và trình độ hiểu biết cũng cao hơn

Nhu cầu vay vốn của các khách hàng phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề, đối tượng tài trợ, giai đoạn sản xuất kinh doanh và điều kiện của người vay Do vậy nhu cầu của các khách hàng khác nhau thì khác nhau về quy mô, thời hạn và phương thức vay Khi mở rộng tín dụng cho các khách hàng này, ngân hàng phải xem xét kỹ xem nhu cầu đến đâu cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu này cho khách hàng làng nghề là đến đâu

+ Yếu tố con người: Kinh nghiệm của nhiều cán bộ tín dụng cho thấy tư cách đạo đức, tính cách và năng lực quản lý của khách hàng quyết định rất nhiều đến nhu cầu, mục đích vay vốn của họ cũng như mức độ thành công món vay Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản thường được tiến hành khi ngân hàng đã tin chắc vào tư cách và năng lực của khách hàng

+ Tình trạng tài chính: ngân hàng thường quyết định cho vay những hộ và cơ

sở chứng minh được khả năng tài chính lành mạnh và phát triển Việc tìm hiểu tài chính được thực hiện qua bảng tổng kết tài sản Khả năng trả nợ, được thể hiện:

- Hồ sơ hoạt động sản xuất kinh doanh trước đây, thông thường là báo cáo thu nhập hàng năm

- Phương án sản xuất kinh doanh trong tương lai, dự toán các luồng tiền: đây

là thông tin quan trọng, liên quan đến khả năng trả nợ, thậm chí còn quan trọng hơn

cả lợi nhuận mà khách hàng có thể đạt được vì nó xác định số tiền dùng để trả nợ vì một khách hàng có thể có lợi nhuận nhưng vẫn "thiếu tiền" để trả nợ trong tương lai

Các khách hàng vay vốn lần đầu ở các làng nghề hoặc các khách hàng có thay đổi lớn như mở rộng, liên kết kinh doanh thường là các cán bộ tín dụng ít tích cực so số liệu về thu nhập và chi phí trước đó không còn tỏ ra phù hợp với thực

Trang 39

tế Khách hàng phải thể hiện được khả năng trả nợ, theo kế hoạch trả nợ do hai bên cùng thoả thuận, bao gồm: nguồn đảm bảo trả nợ, số lượng dự tính của mỗi nguồn và mỗi nguồn trả cho nợ cho khoản nợ nào, ngày dự định thanh toán của mỗi khoản nợ

+ Đảm bảo tín dụng: Các khách hàng có tài sản đảm bảo bao giờ cũng tạo ra

ấn tượng an toàn hơn cho các ngân hàng, nó làm giảm thiểu rủi ro tín dụng Thông thường cho vay làng nghề đòi hỏi tài sản đảm bảo do những biến động về thị trường tiêu thụ và nguyên liệu Tài sản đảm bảo của các hộ và cơ sở phải dễ xác định, có giá trị và tuổi thọ tương đối dài, dễ bán, có thị trường hiện tại của nó và ngân hàng

có khả năng bình giá phù hợp giá trị tài sản Các tài sản đảm bảo với hộ thường là nhà đất, máy móc thiết bị, vì các loại động sản và các loại tài sản khác ở các hộ khó kiểm soát Với doanh nghiệp tài sản đảm bảo thường là hàng tồn kho, các khoản phải thu, máy móc thiết bị và động sản khác, vì ngân hàng có khả năng kiểm soát được chặt chẽ và không để các chủ nợ khác dành quyền đảm bảo từ các tài sản đó Thế chấp bằng bất động sản và quyền sở hữu của các phương tiện vận tải của doanh nghiệp có thể gây nhiều rủi ro khi tranh chấp Chính vì vậy, ngân hàng luôn từ chối tín dụng đối với làng nghề

Để vay không có đảm bảo tài sản khách hàng phải đáp ứng được các nhu cầu sau: tư cách và năng lực được ngân hàng tin tưởng một cách chắc chắn, bảng tổng kết tài sản chỉ rõ khả năng tài chính rồi rào, có khả năng trả nợ hơn mức bình thường đủ để trả nợ trong những tình huống bất lợi nhất

Về lý thuyết thì tài sản đảm bảo đầy đủ là tài sản trong điều kiện xấu nhất nếu bán số lượng tài sản đó đi thì vẫn đủ tiền để trả nợ ngân hàng Tài sản đảm bảo luôn được coi là một công cụ để hạn chế rủi ro khi mở rộng tín dụng

Thứ ba, nhóm nhân tố từ phía ngân hàng Nhóm yếu tố này có thể nêu ra là:

- Mục tiêu của ngân hàng: Khi quyết định cho vay đối với một đối tượng

khách hàng mới hay mở rộng tín dụng đối với một nhóm khách hàng, ngân hàng

phải căn cứ vào mục tiêu, chiến lược kinh doanh của mình trong giai đoạn nhất định, căn cứ vào chính sách tín dụng hiện tại để sửa đổi hay xây dựng chính sách tín

dụng mới trong tương lai Các mục tiêu của ngân hàng có ảnh hưởng đến chính sách

mở rộng tín dụng bao gồm:

Trang 40

+ Tăng tài sản bằng cách tăng tổng dư nợ

+ Tăng lợi nhuận (% lợi nhuận/ tổng tài sản)

+ Hạn chế tập trung vốn vào một khách hàng để phân tán rủi ro

+ Tăng dịch vụ tư vấn tài chính cho ngân hàng

+ Phục vụ tốt hơn lợi ích của xã hội

+ Tuân thủ các quy định của các cơ quan có thẩm quyền

Thông thường, ngân hàng tiếp cận khách hàng mục tiêu thông qua việc huy

động các nguồn lực để mở rộng quan hệ tín dụng, qua chính sách lãi suất thuận lợi

và thực hiện các nguyên tắc an toàn tín dụng một cách phù hợp

- Lãi suất cho vay: Do trên địa bàn thường có nhiều TCTD, có thể tạo điều

kiện cho vay nên họ thường chọn vay ở những nơi nào mà lãi suất cho vay thấp

nhất Điều này ảnh hưởng rất nhiều tới khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng

Lãi suất thực chất là giá của khoản cho vay, được thể hiện bằng tỷ lệ % giữa giá trị lãi của khoản vay và khoản vay trong một thời gian nhất định Để hình thành nên lãi suất cho vay một đối tượng phải cân nhắc Lãi suất ghi trên các hồ sơ tín dụng khi cho vay

là lãi suất danh nghĩa, còn lãi suất mà ngân hàng thực thu được thường nhỏ hơn:

- Chênh lệch lãi suất ngân hàng được hưởng = lãi suất cho vay - lãi suất huy động vốn - tỷ lệ lạm phát

Lãi suất thực tế phải dương thì hoạt động cho vay của ngân hàng mới có thể

Chi phí quản lý

ngân hàng

Chi phí điều hành khoản cho vay

Lãi suất cho vay

Ngày đăng: 19/12/2015, 11:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Các yếu tố tác động đến việc hình thành lãi suất cho vay. - Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình   luận văn ths kinh doanh và quả
Sơ đồ 1.1 Các yếu tố tác động đến việc hình thành lãi suất cho vay (Trang 40)
Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu làng nghề các huyện thành phố trong tỉnh - Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình   luận văn ths kinh doanh và quả
Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu làng nghề các huyện thành phố trong tỉnh (Trang 45)
Bảng số 2.3: Số lƣợng doanh nghiệp trong khu vực SXCN-TTCN ngoài - Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình   luận văn ths kinh doanh và quả
Bảng s ố 2.3: Số lƣợng doanh nghiệp trong khu vực SXCN-TTCN ngoài (Trang 49)
Bảng 2.4: Số hộ, lao động sản xuất TTCN  tại Thái Bình  STT  Huyện  Số hộ cá thể  Lao động (người) - Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình   luận văn ths kinh doanh và quả
Bảng 2.4 Số hộ, lao động sản xuất TTCN tại Thái Bình STT Huyện Số hộ cá thể Lao động (người) (Trang 50)
Bảng số 2.5: Số lượng lao động, số hộ và thu nhập của người lao động - Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình   luận văn ths kinh doanh và quả
Bảng s ố 2.5: Số lượng lao động, số hộ và thu nhập của người lao động (Trang 51)
Bảng số 2.6: Vốn đầu tƣ của một số ngành nghề ở Thái Bình năm 2005 - Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình   luận văn ths kinh doanh và quả
Bảng s ố 2.6: Vốn đầu tƣ của một số ngành nghề ở Thái Bình năm 2005 (Trang 57)
Bảng số 2.7: Vốn đầu tƣ ban đầu và suất đầu tƣ cho một chỗ làm việc - Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình   luận văn ths kinh doanh và quả
Bảng s ố 2.7: Vốn đầu tƣ ban đầu và suất đầu tƣ cho một chỗ làm việc (Trang 58)
Bảng số 2.8: Tổng vốn huy động của các TCTD trên địa bàn tỉnh - Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình   luận văn ths kinh doanh và quả
Bảng s ố 2.8: Tổng vốn huy động của các TCTD trên địa bàn tỉnh (Trang 62)
Bảng số 2.9: Dƣ nợ của các TCTD trên địa bàn tỉnh Thái Bình - Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình   luận văn ths kinh doanh và quả
Bảng s ố 2.9: Dƣ nợ của các TCTD trên địa bàn tỉnh Thái Bình (Trang 64)
Bảng 2.10: Dƣ nợ tín dụng đối với  làng nghề của NHN o &PTNT tỉnh Thái Bình - Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình   luận văn ths kinh doanh và quả
Bảng 2.10 Dƣ nợ tín dụng đối với làng nghề của NHN o &PTNT tỉnh Thái Bình (Trang 68)
Bảng 2.11: Tỷ trọng dƣ nợ của các NHTM đối với làng nghề trong tổng - Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình   luận văn ths kinh doanh và quả
Bảng 2.11 Tỷ trọng dƣ nợ của các NHTM đối với làng nghề trong tổng (Trang 71)
Bảng 2.12: Thu nhập của NNo &PTNT tỉnh Thái Bình từ năm 2003-2005 - Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình   luận văn ths kinh doanh và quả
Bảng 2.12 Thu nhập của NNo &PTNT tỉnh Thái Bình từ năm 2003-2005 (Trang 72)
Bảng 2.13: Hiệu suất sử dụng vốn tại  NN o &PTNT tỉnh Thái Bình 2003-2005 - Mở rộng tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình   luận văn ths kinh doanh và quả
Bảng 2.13 Hiệu suất sử dụng vốn tại NN o &PTNT tỉnh Thái Bình 2003-2005 (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm