Do đó, nhiều khi một mẫu câu được thể hiện trong giao tiếp lại bị nhiều người phê phán rằng: Người Việt chả ai nói thế bao giờ” hoặc “Câu này hơi thiếu tự nhiên”… Vì thế, việc truyền đạt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BÙI BỘI THU
KHẢO SÁT VIỆC PHÂN BỐ VÀ XỬ LÝ CÁC CẤU TRÚC
CÚ PHÁP CƠ BẢN TRONG CÁC GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT
CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI BẬC NÂNG CAO
(TRÊN CƠ SỞ NGỮ LIỆU CÁC GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT
BẬC NÂNG CAO TỪ NĂM 1980 ĐẾN NĂM 2008)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI – 2011
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC ……… 1
PHẦN MỞ ĐẦU ………5
1 Lời mở đầu ……… 5
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 6
2.1 Đối tượng nghiên cứu……….……… 6
2.2 Phạm vi nghiên cứu….……….6
3 Mục tiêu của đề tài……….……….……… 6
4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu……… ……… 7
4.1 Phương pháp nghiên cứu……… 7
4.2 Tư liệu……… 7
5 Bố cục của luận văn……… 8
NỘI DUNG……… 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN……… 9
1.1 Cấu trúc cú pháp ……….……….9
1.2 Các thành phần câu 11
1.3 Phân loại câu theo cấu trúc - ngữ nghĩa 13
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT SỰ PHÂN BỐ VÀ XỬ LÝ CÁC CẤU TRÚC CÚ PHÁP CƠ BẢN TRONG CÁC GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI BẬC NÂNG CAO TỪ NĂM 1980 ĐẾN 2008 27
2.1 Phân loại các cấu trúc cú pháp cơ bản trong các giáo trình
dạy tiếng Việt cho người nước ngoài bậc nâng cao từ năm 1980 đến năm 2008………27
2 2 Sự phân bố cấu trúc cú pháp……… 34
2.2 Sự phân bố cấu trúc cú pháp trong các giáo trình……… 34
2.2.2 Sự phân bố các cấu trúc cú pháp ở từng bài trong mỗi giáo trình ………38
2.2.3 Một vài nét về sự phân bố và xử lý các cấu trúc biến thể……… 44
Trang 32.2.4 Một vài nét về các cấu trúc xuất hiện trong giáo trình
nhưng không được giải thích……….47
2.3 Việc xử lý các cấu trúc cú pháp trong bài………54
2.3.1 Cách giải thích cấu trúc cú pháp trong các giáo trình……… 54
2.3.2 Cách luyện cấu trúc cú pháp trong các giáo trình nâng cao……… 64
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TỐI ƯU TRONG VIỆC ĐƯA
VÀ XỬ LÝ NGỮ LIỆU CÁC CẤU TRÚC CÚ PHÁP CƠ BẢN TRONG VIỆC XÂY DỰNG GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT NÂNG CAO……….80
3.1 Vai trò của việc dạy cấu trúc cú pháp trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài………80
3.2 Nhận xét về việc xử lý cấu trúc cú pháp trong các giáo trình
dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở bậc nâng cao……… 83
3.3 Giải pháp……… 86
KẾT LUẬN……… 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 92 PHỤ LỤC
Trang 5MỘT SỐ QUY ƢỚC
Các số La Mã đánh dấu số thứ tự của các giáo trình cũng sẽ là những ký hiệu viết
tắt tên giáo trình Ví dụ: I là giáo trình tiếng Việt thực hành, tập II của tập thể tác giả Trường Đại học Tổng hợp; II là giáo trình Tiếng Việt (Vietnamese) Intermediate 3 của
tác giả Phan Văn Giưỡng
I Giáo trình tiếng Việt thực hành, tập II, Trường Đại học Tổng hợp, Khoa tiếng Việt, Nhà in Bộ Tham mưu, 1980
II Tiếng Việt (Vietnamese) Intermediate 3, Phan Văn Giưỡng, NXB trẻ, 1994 III Tiếng Việt (Vietnamese) Intermediate 4, Bửu Khải - Phan Văn Giưỡng, NXB trẻ, 1998
IV Tiếng Việt nâng cao (Intermediate Vietnamese), Nguyễn Thiện Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998
V Thực hành tiếng Việt, trình độ B, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), NXB Thế giới,
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lời mở đầu
Những năm gần đây, do nhu cầu giao lưu kinh tế, thương mại, văn hóa giữa các nước ngày càng tăng, số lượng người nước ngoài đến Việt Nam ngày càng nhiều Để mọi hoạt động giao lưu đó đạt kết quả, tiếng Việt tất yếu trở thành phương tiện giao tiếp hữu hiệu Chính vì để đáp ứng nhu cầu đó mà nhiều trung tâm dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đã ra đời Đặc biệt là nhiều hội nghị khoa học bàn về vấn đề dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ đã được tổ chức trên các quy mô trong và ngoài nước
Bên cạnh đó, số lượng giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài rất phong phú và đa dạng: Có giáo trình phục vụ cho đào tạo hệ cử nhân tiếng Việt và văn hoá Việt Nam, có giáo trình phục vụ cho du lịch, có giáo trình tiếng Việt dạy riêng cho người Nhật, người Hàn hoặc cho những người mà ngôn ngữ thứ nhất của họ là tiếng Anh…
Nhìn chung, số lượng giáo trình dạy tiếng Việt rất nhiều nhưng hiện nay chúng
ta vẫn chưa có một giáo trình nào được coi là chuẩn mà chỉ có những giáo trình được
sử dụng phổ biến và những giáo trình ít được sử dụng Mỗi giáo trình đều được viết theo quan điểm riêng, độ dài, số lượng bài không giống nhau Đồng thời, việc nghiên cứu, biên soạn những cuốn giáo trình dạy tiếng Việt thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc quảng bá và giảng dạy tiếng Việt Vì vậy, khảo sát các giáo trình dạy tiếng Việt là một việc làm cần thiết và hữu ích, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ đi sâu vào
khảo sát việc phân bố và xử lý các cấu trúc cú pháp cơ bản trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài bậc nâng cao (Trên cơ sở ngữ liệu các giáo trình tiếng Việt bậc nâng cao từ năm 1980 đến năm 2008)
Trang 7Mặt khác, chúng tôi lựa chọn đề tài này để nghiên cứu cũng là vì tiếng Việt là ngôn ngữ giàu bản sắc văn hóa và hết sức đa dạng trong cách sử dụng ngôn từ Do đó, nhiều khi một mẫu câu được thể hiện trong giao tiếp lại bị nhiều người phê phán rằng: Người Việt chả ai nói thế bao giờ” hoặc “Câu này hơi thiếu tự nhiên”… Vì thế, việc truyền đạt, thể hiện các các cấu trúc của câu trong một giáo trình không phải là việc đơn giản, đòi hỏi giáo viên và đặc biệt người viết giáo trình phải có một kiến thức ngữ pháp chắc chắn Hơn nữa, chúng tôi thiết nghĩ, cấu trúc cú pháp cũng là vấn đề rất quan trọng đối với việc học của các học viên nước ngoài Dựa trên những cấu trúc cú pháp, người học có thể vận dụng trong việc xây dựng nên đơn vị cơ bản (câu) để góp phần hoàn thiện khả năng giao tiếng bằng tiếng Việt của mình
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào nghiên cứu và khảo sát sự phân bố,
xử lý các cấu trúc cú pháp được thể hiện trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài ở bậc nâng cao Những giáo trình này đã và đang được sử dụng, giảng dạy
ở các trường, các trung tâm dạy tiếng, được xuất bản trong nước từ năm 1980 đến năm
2008 Chúng tôi sẽ tập trung khảo sát ở các phần bài hội thoại, bài đọc, bài tập, bài luyện
Trang 8Như vậy, hầu hết các phần trong giáo trình chúng tôi đều khảo sát với mong muốn đem lại một kết quả khả quan trong việc nghiên cứu các cấu trúc cú pháp cơ bản
3 Mục tiêu của đề tài
- Khảo sát và xác định được các cấu trúc cú pháp cơ bản trong các giáo trình tiếng Việt nâng cao
- Khảo sát sự phân bố các cấu trúc cú pháp cơ bản trong giáo trình tiếng Việt bậc nâng cao thể hiện trong các bài của giáo trình
- Khảo sát việc xử lý các cấu trúc cú pháp cơ bản trong các giáo trình ở bài hội thoại, bài đọc, ghi chú ngữ pháp, luyện tập và bài tập
- Khảo sát xem trong các giáo trình đó việc đưa các cấu trúc vào bài học có phức tạp hay không, mức độ dễ, khó như thế nào, có hợp lý hay không
- Trên cơ sở khảo sát, đề xuất một số giải pháp tối ưu trong việc đưa và xử lý các cấu trúc cú pháp cơ bản trong việc biên soạn giáo trình tiếng Việt bậc nâng cao
Với những mục tiêu đề ra như trên, chúng tôi mong muốn góp phần cải tiến chất lượng trong việc biên soạn các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài như một ngoại ngữ, cũng như góp phần vào hoàn thiện vấn đề lý thuyết, phương pháp dạy tiếng nói chung và vấn đề lý thuyết cú pháp nói riêng
4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn là:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, miêu tả
- Phương pháp quy nạp, diễn dịch
Trang 94.2 Tư liệu
Trong phần khảo sát, chúng tôi chỉ tập trung vào khảo sát giáo trình bậc nâng cao (không khảo sát giáo trình chuyên ngành, hoặc những giáo trình phục vụ cho những đối tượng riêng biệt) Dưới đây là một số giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài mà chúng tôi sẽ khảo sát trong luận văn:
1 Trường Đại học Tổng hợp, Khoa tiếng Việt, Giáo trình tiếng Việt thực hành, tập
II, Nhà in Bộ Tham mưu, 1980
2 Phan Văn Giưỡng, Tiếng Việt (Vietnamese) Intermediate 3, NXB trẻ, 1994
3 Bửu Khải - Phan Văn Giưỡng, Tiếng Việt (Vietnamese) Intermediate 4, NXB trẻ,
6 Trịnh Đức Hiển (chủ biên), Tiếng Việt cho người nước ngoài, trình độ nâng cao,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004
7 Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), Giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, tập 3, NXB Giáo dục, Tp HCM, 2004
8 Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), Giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, tập 4, NXB Giáo dục, Tp HCM, 2004
5 Bố cục của luận văn
Phần mở đầu
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Khảo sát sự phân bố và xử lý các cấu trúc cú pháp cơ bản trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài bậc nâng cao từ năm 1980 đến năm 2008 Chương 3: Giải pháp tối ưu trong việc đưa và xử lý ngữ liệu các cấu trúc cú pháp
cơ bản trong việc xây dựng giáo trình tiếng Việt nâng cao
Kết luận
Trang 10Có hai cách hiểu mô hình cấu trúc câu:
Cách hiểu thứ nhất: “Cấu trúc câu là cấu trúc không khai triển và có tính hoàn chỉnh ngữ pháp Tất cả các yếu tố dùng khai triển câu đều ở ngoài phạm vi mô hình Như vậy mô hình câu là mẫu khái quát gồm một hoặc vài hình thức ngôn ngữ thường trực biểu diễn quan hệ cú pháp và như một đơn vị vị ngữ đủ về mặt ngữ pháp” [31; 21] Trung tâm mô hình là vị ngữ
Cách hiểu thứ 2: Mô hình là cấu trúc có đầy đủ các yếu tố ngữ pháp và thông báo
Người ta có thể xây dựng nhiều mô hình cấu trúc khác nhau, nhưng mô hình C –
V là kết cấu cú pháp nhỏ nhất Một số tác giả cho rằng chủ ngữ (C) và vị ngữ (V) làm thành nòng cốt của câu đơn tiếng Việt, trong đó vị ngữ là cốt lõi, có chức năng quan trọng về mặt thông báo Tuy nhiên, không phải bất cứ câu nào viết ra cũng chỉ có một
mô hình nhất định mà nó còn có nhiều biến thể Biến thể trong phạm vi của mô hình cấu trúc câu trước hết gắn liền với sự có mặt của các yếu tố mở rộng mô hình Nhiều khi những yếu tố mở rộng mô hình này lại rất quan trọng, nó bổ sung nghĩa cho câu, hay nói cách khác nó làm cho câu hoàn chỉnh về mặt thông báo, làm dấu hiệu để khu biệt với các mô hình khác [33]
Theo Hoàng Trọng Phiến thì việc xác định, miêu tả, xây dựng mô hình cấu trúc
cú pháp có thể đi từ hai hướng:
Trang 11+ Mở rộng kết hợp với chuyển đổi tất cả các vị trí trong mô hình trừ vị trí của động từ vị ngữ
+ Thu gọn bằng cách bỏ bớt các yếu tố biên, trước hết là các yếu tố tuỳ tiện Trong quá trình nghiên cứu về câu tiếng Việt, Hoàng Trọng Phiến cũng đưa ra một số mô hình cơ bản của câu đơn và mô hình của câu ghép
Mô hình cơ sở của câu đơn: C – V
Mô hình tổng quát: P – C – V - B
Mô hình suy diễn: Px - Cx - Vx - Bx
(Trong đó C: chủ ngữ, V: vị ngữ, B: bổ ngữ, P: thành phần phụ của câu, x: tượng trưng cho quá trình khai triển cấu trúc của các thành phần câu)
Trong mỗi mô hình này lại có những biến thể khác
Câu ghép có từ nối có mô hình tiêu biểu là: XA + YB
(X,Y là những cặp từ nối; A, B là các mệnh đề mà mỗi vế đều có tính vị ngữ riêng của mình.) [33]
Ngoài ra, Nguyễn Cao Đàm trong luận án Phó Tiến sĩ nghiên cứu về câu đơn hai thành phần, cũng đưa ra hai nhóm mô hình của câu đơn:
Nhóm A: mô hình C – V, C- V – Tr, C - V/(cụm từ cố định/thành ngữ)
C – V
Nhóm B: mô hình C - V – B, C – V- B – GB, C – V – B1- B2, C – V – B - Tr (Trong đó: C: chủ ngữ, V: vị ngữ, B: bổ ngữ, GB: Bổ ngữ gián tiếp, Tr: trạng ngữ)
Và trong mỗi nhóm này lại có những biến thể khác nhau
Như vậy, cấu trúc cú pháp được hiểu một cách ngắn gọn là cách tổ chức sắp xếp của các kiểu câu khác nhau trong một ngôn ngữ cụ thể, trong đó có sự tham gia của các thành phần câu, mỗi thành phần đều thực hiện một chức năng nào đó
Trang 121.2 Các thành phần câu
Theo Hoàng Trọng Phiến thì “Câu là một đơn vị giao tế hai mặt Một mặt, nó là cấu trúc ngữ pháp, phản ánh các phạm trù ngữ pháp của riêng mình Mặt khác nó mang lượng thông tin nhất định Chính cái sức chuyển vận giao tế này của câu có ảnh hưởng tích cực đến cấu trúc ngữ pháp của nó, đặc biệt tạo điều kiện xuất hiện các thành phần câu và trật tự phân bố các thành phần câu.” [33; 106]
Theo nguyên tắc vị trí và cấu tạo câu thì thành phần câu được chia thành hai loại: thành phần chính và thành phần thứ Dựa vào nguyên tắc tính chất mối liên hệ cú pháp và các ý nghĩa cơ bản của các thành phần câu, các thành phần chính lại chia ra chủ ngữ và vị ngữ; còn trong thành phần thứ có bổ ngữ, trạng ngữ, định ngữ, vị ngữ thứ yếu và một số thành phần khác như: thành phần chuyển tiếp, thành phần khởi ý…
Riêng tác giả Đào Thanh Lan cho rằng có bảy thành phần câu tiếng Việt: đề ngữ, thuyết ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, chu ngữ, minh xác ngữ, định ngữ
Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Minh thuyết lại cho rằng tiếng Việt có các thành phần câu: vị ngữ, chủ ngữ, bổ ngữ, khởi ngữ, tình thái ngữ, định ngữ, trạng ngữ Trong
đó vị ngữ, chủ ngữ và bổ ngữ là thành phần chính của câu, còn các thành phần khác là thành phần phụ
* Chủ ngữ: chủ ngữ có ý nghĩa biểu thị đối tượng Đối tượng này có quan hệ với
vị ngữ về phương diện của chủ thể hành động, chủ thể sở hữu, chủ thể tiếp nhận, chủ thể phẩm chất…Chủ ngữ có yếu tố như một chủ tố – yếu tố trung tâm thu hút yếu tố biên để làm thành nhóm chủ ngữ Chủ ngữ có thể được cấu tạo bằng một từ, một tiếng, một cụm từ, một kết cấu…
* Vị ngữ là thành phần chính tác động đến toàn bộ câu, nó có liên đới đến nhiều thành phần khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Về ý nghĩa, vị ngữ biểu thị sự hoạt động, tính chất, trạng thái của con người, hiện tượng, sự vật được nêu lên ở chủ ngữ
* Bổ ngữ là thành phần phụ của câu Nó có ý nghĩa chỉ ở trong mối liên hệ, chịu chi phối của động từ làm vị ngữ Bổ ngữ có chức năng ngữ nghĩa như sau:
- Chức năng biểu thị đối tượng hay công cụ của hành động
Trang 13- Chức năng chi tiết hoá, chính xác hoá hành động hay phẩm chất về mặt số lượng
Bổ ngữ là thành phần phụ nhưng lại có tác động đến toàn cấu trúc câu Bổ ngữ cần thiết để biểu hiện ý nghĩa hoàn chỉnh của câu
Việc xếp bổ ngữ vào thành phần chính hay thành phần phụ của câu gây ra nhiều tranh luận Có người cho rằng đây là thành phần chính của câu như Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Minh Thuyết, lại có người cho rằng đây là thành phần phụ như các tác giả Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Cao Đàm
* Trạng ngữ là một trong những thành phần thứ yếu của câu Nó thường mang ý nghĩa đặc điểm không gian, thời gian, nguyên nhân, mục đích… Tuy nhiên, cần phải chú ý đến sự khác nhau giữa trạng ngữ và trạng tố Tác giả Hoàng Trọng Phiến phân biệt hai thành phần này dựa vào các đặc điểm sau:
- Trạng ngữ là thành phần của câu, còn trạng tố là yếu tố của nhóm động từ hoặc tính từ đi sau các yếu tố đó xác minh cho từ trung tâm của nhóm
- Về vị trí: Trạng ngữ thường đứng đầu câu, trạng tố tương đối cố định sau động
từ vị ngữ
Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn “Thành phần câu tiếng Việt” đưa ra một số tiêu chí để phân biệt trạng ngữ và trạng tố:
- Quan hệ phụ thuộc với nòng cốt
- Khả năng cải biến vị trí mà không làm thay đổi quan hệ giữa các thành tố còn lại trong câu [42]
Đào Thanh Lan lại phân biệt hai thành phần này lại dựa vào vị trí: Thành phần trạng tố thường đứng cuối hoặc giữa câu và bổ sung ý nghĩa cho vị từ, thành phần trạng ngữ của câu thường đứng đầu câu và bổ sung nghĩa cho cả câu [31]
* Về định ngữ, theo Nguyễn Cao Đàm thì định ngữ không được coi là thành phần câu thực thụ mà nó chỉ là thành phần phụ mở rộng của tất cả các thành phần câu Còn Hoàng Trọng Phiến cho đây là thành phần phụ thuộc trong tổ chức câu Định ngữ bao giờ cũng đứng sau yếu tố mà nó thuyết minh
Trang 14Ngoài ra còn có một số thành phần phụ khác khác như thành phần chuyển tiếp, khởi ý…
1.3 Phân loại câu theo cấu trúc - ngữ nghĩa
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều chia câu thành hai loại câu đơn và câu ghép Tuy nhiên trong nội bộ các câu này lại có sự phân chia khác nhau
1.3.1 Quan niệm của Hoàng Trọng Phiến trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt – câu”
- Câu đơn:
Câu đơn phần lớn ứng với kết cấu hạt nhân C - V (chủ - vị), ngoài ra, nó còn được xây dựng bằng những đơn vị khác như: tiếng, từ, đoản ngữ hoặc một kết cấu cố định…Về tổ chức, câu đơn bao giờ cũng biểu hiện một vị tính hoặc có thể biểu hiện bằng một vị ngữ hoặc không Về chức năng, câu đơn mang thông tin ngữ nghĩa tự thân
Dựa vào thành phần cấu tạo câu đơn được chia thành hai loại:
* Câu đơn không đầy đủ thành phần
- Câu đơn một thành phần: Thường là câu không có chủ ngữ hoặc câu có chủ ngữ zêrô
- Câu do một từ, hoặc ngữ tạo nên
* Câu đơn hai thành phần nòng cốt
- Câu ghép
“Câu ghép là một tổ hợp các đơn vị vị ngữ hoặc các tương đương văn cảnh được
xây dựng theo các sơ đồ cấu trúc cú pháp nhất định để truyền đi thông báo như một đơn vị giao tế.” [33; 209]
Dựa vào mối quan hệ cấu trúc và ý nghĩa cũng như các phương tiện biểu diễn
mà câu ghép được chia thành hai loại lớn: câu ghép qua lại và câu ghép đẳng lập Trong nội bộ mỗi loại chia nhỏ theo quan hệ ý nghĩa do câu ghép biểu thị
Trang 15- Câu ghép qua lại gồm: câu ghép có quan hệ thời gian, câu ghép có quan hệ nhân - quả, câu ghép có quan hệ điều kiện, câu ghép có quan hệ nhượng bộ - tăng tiến, câu ghép có quan hệ mục đích, câu ghép có quan hệ so sánh
- Câu ghép đẳng lập gồm câu ghép biểu thị quan hệ lựa chọn; câu ghép liên hợp gồm câu ghép có quan hệ đồng loại, câu ghép có quan hệ tương phản, câu ghép có quan hệ gộp
Do kết quả của quá trình phức tạp hoá câu ghép, GS Hoàng Trọng Phiến còn nhắc tới một loại câu ghép: câu ghép bao hàm
Ngoài hai loại câu đơn và câu ghép, tác giả còn đưa ra một loại câu là câu trung gian là câu có bề ngoài giống câu ghép nhưng thực chất là câu do kết quả phức tạp hoá câu đơn mà thành
1.3.2 Quan điểm của Diệp Quang Ban trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”
Diệp Quang Ban cũng chia câu thành hai loại câu đơn và câu ghép:
Câu đơn “là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị
tố, và được dùng để diễn đạt một sự thể.” [1; 17]
Theo cấu trúc cú pháp - nghĩa biểu hiện tác giả chia câu đơn thành 12 kiểu câu
cơ bản: câu chứa vị tố động từ tính, vị tố tính từ tính, vị tố danh từ tính; câu chứa vị tố
là từ chỉ quan hệ không dùng độc lập; câu chứa chủ ngữ nguyên nhân; câu khiển động; câu có chủ ngữ chỉ phương tiện; câu có cấu tạo thuận – nghịch; câu chứa quan hệ chỉnh thể – bộ phận; câu có đề ngữ; câu bị động; câu không có chủ ngữ: câu tồn tại; câu không có chủ ngữ: câu gọi - đáp; “câu cảm thán” là phát ngôn đặc biệt
- “Câu ghép (hay hợp thể câu) là một cấu tạo gồm từ hai dạng câu trở lên, mỗi dạng câu trong đó có tính tự lập tương đối, giữa chúng có những kiểu quan hệ nhất định Mỗi câu trong câu ghép là một vế câu, hay một “dạng câu” không bị bao” [1; 292]
Trang 16Dựa vào các kiểu quan hệ ngữ pháp khái quát giữa các vế trong các câu lẫn các dấu hiện hình thức là các quan hệ từ, hay các phó từ có tác dụng nối kết các vế câu, câu ghép được chia thành:
- Câu ghép chính phụ gồm:
+ Câu ghép nhân – quả
+ Câu ghép nhượng bộ – tăng tiến + Câu ghép mục đích
- Câu ghép đẳng lập : căn cứ vào cách nối kết giữa các vế câu, có thể chia thành:
+ Câu ghép liên hợp + Câu ghép tương liên + Câu ghép tiếp liên Ngoài ra, tác giả còn nói tới hiện tượng câu ghép nhiều bậc
1.3.3 Quan điểm của Đào Thanh Lan trong cuốn “Cơ sở tiếng Việt”
Tác giả Đào Thanh Lan cũng chia câu thành hai loại câu đơn và câu ghép
* Câu đơn
+ Câu đơn được phân chia theo cấu trúc đề - thuyết
+ Câu đơn đặc biệt
* Câu ghép
“Câu ghép là câu có cấu tạo là nòng cốt ghép bao gồm hai vế, mỗi vế là một nòng cốt đơn, chúng được ghép lại với nhau bằng kết từ (từ nối) hoặc không có kết từ
để biểu thị một suy lí của lôgic.” [13; 151]
Căn cứ vào mối quan hệ giữa các vế câu, tác giả Đào Thanh Lan chia câu ghép thành: câu ghép chính phụ và câu ghép đẳng lập
Về cơ bản thì việc chia các loại câu ghép này thành những loại nhỏ hơn không khác với quan niệm của Hoàng Trọng Phiến Tuy nhiên, ở câu ghép chính phụ tác giả Đào Thanh Lan không có loại câu ghép biểu thị quan hệ thời gian
Trang 17Ngoài hai câu ghép chính phụ và đẳng lập thì Đào Thanh Lan còn có câu ghép phát triển Đây là “loại câu mà mỗi vế câu ghép lại do một nòng cốt ghép đảm nhiệm.”
1.3.4 Quan điểm của Nguyễn Hữu Quỳnh trong cuốn “ngữ pháp tiếng Việt”
Nguyễn Hữu Quỳnh chia câu thành ba loại: câu đơn, câu trung gian, câu phức hợp
* Câu đơn
Tiêu chí phân loại: căn cứ vào cấu tạo ngữ pháp có thể phân thành:
- “Câu đơn một thành phần là câu chỉ có một từ hay một cụm từ làm thành phần nòng cốt của câu.” [37; 220]
- “Câu đơn hai thành phần là câu đơn gồm một đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ - vị làm nòng cốt tức là một đơn vị nòng cốt gồm hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ Đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ - vị (gọi tắt là C - V) có thể có cấu tạo khác nhau.” [37; 209]
Sau đó căn cứ vào ý nghĩa của các nòng cốt C – V khác nhau tác giả lại chia ra hai loại câu gồm: câu tả và câu luận
Ngoài câu đơn, tác giả còn nêu lên 2 loại câu khác là câu trung gian và câu phức hợp:
* Câu trung gian: là câu có hai đơn vị tính vị ngữ nhưng một đơn vị phụ thuộc vào một yếu tố của đơn vị khác [37]
* Câu phức hợp: bao gồm hai đơn vị tính vị ngữ trở lên, các đơn vị đó là các thành phần của câu liên hợp Riêng loại câu liên hợp lại có thể chia thành các tiểu loại:
Trang 18* Câu đơn bao gồm mỗi câu một “nòng cốt đơn”, bình thường nhất là trường hợp nòng cốt đơn có phần đề với phần thuyết
Trong câu đơn có các loại: câu tả, câu luận và câu đơn đặc biệt
* Câu ghép:
- Về ý nghĩa: câu ghép biểu thị một phán đoán phức hợp, một suy lí
- Về ngữ pháp: câu ghép bao gồm bộ phận chủ yếu là một nòng cốt ghép, được tạo nên bởi ít nhất hai vế và mỗi vế thường bao gồm một nòng cốt đơn
- Tiêu chí phân loại: Căn cứ vào một số đặc điểm về ngữ nghĩa, ngữ pháp, sự xuất hiện của kết từ hay thậm chí cả ngữ điệu mà các tác giả chia ra hai loại câu ghép
Đó là câu ghép qua lại và câu ghép song song Trong đó câu ghép song song: gồm một
số trường hợp sau:
+ Giữa các vế, có quan hệ liệt kê
+ Giữa các vế, có quan hệ nối tiếp
+ Giữa các vế, có quan hệ lựa chọn
+ Giữa các vế, có quan hệ đối xứng
+ Giữa các vế, có quan hệ bổ sung [43]
Trang 19
đa số các quan niệm trên (trừ quan niệm 1.3.4) đều chia thành ba loại câu ghép: ghép chính phụ (qua lại), đẳng lập (song song), hỗn hợp (nhiều bậc, phát triển) Nói chung, vấn đề phân loại câu ghép chính phụ và đẳng lập của tác giả khá giống nhau, chỉ có
Trang 20Hoàng Trọng Phiến coi câu biểu thị quan hệ thời gian (khi….thì) là câu ghép chính
phụ Trong khi đó Diệp Quang Ban hay các tác giả khác không coi đó là câu ghép mà lại coi nó là câu đơn
1.3.7 Sự lựa chọn :
Từ những quan điểm trên của các nhà ngôn ngữ học đã cho thấy vấn đề cú pháp cũng như phân loại câu khá phức tạp, ngay cả các quan niệm về các thành phần câu cũng không đơn giản Hơn nữa, chúng tôi nhận thấy trong hầu hết các cách giáo trình dạy tiếng Việt, các tác giả đều lựa chọn các mô hình cấu trúc theo phương châm ngắn gọn, đơn giản, rõ ràng và hiệu quả
mẫu câu theo cấu trúc, đó là những mẫu câu đơn song phần, các mẫu câu ghép cơ bản, các mẫu câu hỏi cơ bản, các mẫu câu phủ định cơ bản, các mẫu câu cảm thán cơ bản và những mẫu câu mang tính thực dụng Những mẫu câu mang tính thực dụng là những mẫu câu được thể hiện bằng các kết cấu cụ thể, trong thực tế được sử dụng nhiều và có khả năng ứng dụng cao trong quá trình giao tiếp
a Các mẫu câu song phần
Câu song phần là loại câu phổ biến nhất, bao gồm hai bộ phận chủ yếu chủ ngữ
là vị ngữ Câu song phần tiếng Việt có thể mô hình hóa:
(C: Chủ ngữ, V: Vị ngữ) Tuy nhiên, thành phần chủ ngữ, vị ngữ lại được cấu tạo một cách khác nhau, do vậy đã tạo nên nhiều dạng cấu trúc của câu song phần Các kiểu câu song phần này có thể được liệt kê dưới một số dạng cấu trúc như sau:
C - V
Trang 22Tuy nhiên, với một số kiểu câu, chúng tôi cho đó là kiểu câu song phần nhưng
có những tác giả lại quan niệm đó là câu phức, chẳng hạn như:
- Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc
- Cô ấy hạnh phúc là anh vui
- Thằng này đầu to, bụng ỏng
- Cái bàn này chân gãy
Những kiểu câu đơn đặc biệt chỉ gồm một từ hoặc một cụm từ kiểu như: Gió Mưa Não nùng…, chúng tôi không coi đó là một cấu trúc câu cơ bản, mà chỉ coi đó là một loại câu đặc biệt, chỉ để miêu tả một trạng thái, tình cảm nhất định
b Các mẫu câu ghép cơ bản:
Câu ghép là câu có cấu tạo là nòng cốt ghép bao gồm hai vế, mỗi vế là một nòng cốt đơn, chúng được ghép lại với nhau bằng kết từ (từ nối) hoặc không có kết từ
Dưới đây là một số mẫu câu ghép cơ bản:
1) Các mẫu câu ghép cơ bản chỉ quan hệ nguyên nhân – kết quả
Trang 23Căn bản là nó không nói nên tôi không biết
2) Các mẫu câu ghép cơ bản chỉ quan hệ điều kiện – giả thiết
Ví dụ: Anh có học giỏi thì bố mẹ mới vui
3) Các mẫu câu ghép cơ bản chỉ quan hệ nhượng bộ
- Tuy C1 - V1 nhưng C2 - V2
Ví dụ: Tuy anh ấy không nói ra nhưng tôi có thể hiểu
- Dù/ Mặc dù/ Dầu/Mặc dầu C1 - V1 nhưng C2 - V2
Ví dụ: Dù anh ấy nghèo nhưng chị ấy vẫn yêu anh ấy
4) Các mẫu câu ghép cơ bản chỉ quan hệ tăng tiến
- C1 – V1 bao nhiêu, C2 – V2 bấy nhiêu
Ví dụ: Ông bố làm ra bao nhiêu, thằng con phá bấy nhiêu
c Các mẫu câu phủ định cơ bản
Trang 24Câu phủ định là câu có chứa những từ ngữ phủ định như: không, chẳng, chưa, chẳng phải, đâu có…Câu phủ định thường được dùng để xác nhận không có sự vật, sự
việc, tính chất, quan hệ nào đó hoặc để phản bác một ý kiến, một nhận định
Các mẫu câu phủ định cơ bản:
Không/chẳng/chưa bao giờ + đt
Ví dụ: Tôi chưa bao giờ gặp anh ấy
Trang 25Ví dụ: Tôi đâu có nói
d Các mẫu câu hỏi cơ bản
Câu hỏi là những câu thường sử dụng các từ để hỏi như: khi nào, ai, hả, có
…phải không, chưa, à, có … không, phải chăng… Những từ để hỏi này có thể đứng đầu câu hoặc cuối câu (nhưng thường ở cuối câu) Trật tự từ trong câu hỏi tiếng Việt
có cấu trúc như một câu tường thuật (chủ ngữ + vị ngữ), ít có hiện tượng đảo ngữ, sử dụng các hình thức tu từ để hình thành câu hỏi và rất ít sử dụng đến ngữ điệu
Một số mẫu câu hỏi cơ bản như sau:
- C - V
(đã) + đt + chưa?
Ví dụ: Chị (đã) làm bài tập toán chưa?
- C - V
đã bao giờ + đt + chưa?
Ví dụ: Cô đã bao giờ đi Huế chưa?
Ví dụ: Em là bạn của Hòa phải không?
- Phải chăng - C - V? Ví dụ: Phải chăng anh ấy nói dối tôi?
- C - V - gì/nào/ai/đâu/à/hả/chứ/nhỉ/
thế nào?
Ví dụ: Hôm qua anh đã làm gì?
- C - V – nào? Ví dụ: Anh thích ăn món nào?
Trang 26- C - V – chứ? Ví dụ: Chị ấy vui chứ?
- C - V – nhỉ? Ví dụ: Món này ngon nhỉ?
- C - V – thế nào? Ví dụ: Món ăn Việt Nam thế nào?
- Khi nào/bao giờ/lúc nào - C – V? Ví dụ: Khi nào Lan về nước?
- C – V - khi nào/bao giờ/lúc nào? Ví dụ: Lan về nước khi nào?
- Tại sao/sao - C - V? Ví dụ: Tại sao anh không muốn nói
chuyện với em ấy?
- Dt + nào/gì/đâu – V? Ví dụ: Món ăn nào ngon?
- C – V1 hay V2? Ví dụ: Chị thích cà phê hay trà đá?
d Các mẫu câu cảm thán cơ bản
- C - V
tt + làm sao/sao
Ví dụ: Bức tranh này mới đẹp làm sao
- C - V + biết bao/xiết bao/biết chừng
nào
Ví dụ: Đất nước mình giàu tài nguyên
biết bao
- Sao mà C - V + thế! Ví dụ: Sao mà chị ấy đẹp thế!
Thông thường trong các câu cảm thán, thành phần nòng cốt sẽ có một tính từ hoặc động từ biểu thị cảm xúc xuất hiện và có đi kèm với các yếu tố cảm thán
Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi cũng khảo sát những cấu trúc mẫu câu mang tính thực dụng, đồng thời chúng tôi cũng chấp nhận của chúng như là những mẫu câu cơ bản Chẳng hạn như cấu trúc:
- đã + lượng từ chỉ thời gian
Ví dụ: Chúng tôi sống ở Việt Nam đã 6 năm rồi
- Những + lượng từ
Ví dụ: Chị ấy đi du lịch những 1 tháng
Trang 27- Ngay cả A còn B nữa là C
Ví dụ: Ngay cả bố mẹ nó còn không khuyên được nữa là chị
- Ngoài A ra, còn B
Ví dụ: Ngoài tiếng Anh ra, tôi còn biết tiếng Nga
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi cũng chấp nhận các cách biểu thị cấu trúc
khác, ví dụ: không những A mà còn B thay cho không những C1 – V1 mà còn C2 – V2
Với những cấu trúc khác nhau nhưng cùng biểu thị một ý nghĩa, đó là một biến thể của một cấu trúc – ngữ nghĩa Tuy nhiên, trong một số giáo trình, các cấu trúc này tách ra
và phân bố ở những bài khác nhau Vì vậy, chúng tôi coi cấu trúc đó ở mỗi bài là một cấu trúc cơ bản
Ví dụ:
Không những A mà còn B Ví dụ: Nó không những thông minh mà
còn chăm chỉ
Không chỉ A mà còn B Ví dụ: Anh Nam không chỉ biết tiếng
Anh mà còn biết cả tiếng Nga
Đã A lại còn B Ví dụ: Nó đã dốt lại còn lười
Chẳng riêng gì A mà B Ví dụ: Chẳng riêng gì chị biết tiếng Anh
mà ở đây nhiều người biết
Về việc cách thể hiện cấu trúc: Thực tế có nhiều cấu trúc mang tính thực dụng trong quá trình sử dụng có thể được biểu hiện theo nhiều trật tự khác nhau Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi chỉ trình bày trật tự của cấu trúc theo cách phổ biến nhất
mà người Việt thường dùng hoặc theo một cách khái quát nhất
Trang 28CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT SỰ PHÂN BỐ VÀ XỬ LÝ CÁC CẤU TRÚC
CÚ PHÁP CƠ BẢN TRONG CÁC GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT
CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI BẬC NÂNG CAO TỪ NĂM 1980 ĐẾN 2008 2.1 Phân loại các cấu trúc cú pháp cơ bản trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài bậc nâng cao từ năm 1980 đến năm 2008
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi phân cấu trúc cú pháp thành ba loại: Loại cấu trúc cú pháp một kết từ cố định, 2: cấu trúc cú pháp
kết từ có tính cơ động, 3: cấu trúc cú pháp có chứa những trợ từ Kết quả khảo sát cho thấy có tổng số 376 cấu trúc, trong đó loại 3 có 249 cấu trúc chiếm số lượng nhiều nhất 66,2% tổng số cấu trúc, tiếp đến là loại 1 có 93 cấu trúc, chiếm 24,7%, cuối cùng là loại 2 có 34 cấu trúc, chiếm 9,1%
Bảng 2.1: Bảng thống kê số lượng 3 loại cấu trúc cú pháp trong 8 giáo trình:
1 Giáo trình tiếng Việt thực hành
(Trường Đại học Tổng hợp, Khoa
Trang 29Loại 2 2
3 Tiếng Việt (Vietnamese)
intermediate 4 (Bửu Khải - Phan
6 Tiếng Việt cho người nước ngoài,
trình độ nâng cao, (Trịnh Đức Hiển)
7 Giáo trình dạy tiếng Việt cho người
nước ngoài, tập 3, (Nguyễn Văn
Huệ)
8 Giáo trình dạy tiếng Việt cho người
nước ngoài, tập 4, (Nguyễn Văn
Huệ)
2.1.1 Loại 1: Loại cấu trúc cú pháp được cấu tạo bằng kết từ cố định
Đây là loại cấu trúc cú pháp được cấu tạo bằng một hoặc nhiều cặp từ, chẳng
hạn như: cấu trúc nào… cũng, ai … cũng, gì cũng, đâu … cũng, …
Nếu thiếu một từ nào đó trong các cặp từ đó thì khó có thể tạo thành một câu có
ý nghĩa đầy đủ, vốn dĩ những cặp từ này luôn đi với nhau khi tham gia cấu tạo câu Nói cách khác, cấu trúc cú pháp kiểu này bắt buộc phải có các từ đó Loại cấu trúc cú pháp
Trang 30như vậy chiếm số lượng không nhỏ (93 cấu trúc) trong các giáo trình mà chúng tôi khảo sát
(Dt nào CN + cũng + đt
CN + nào/gì/ai/đâu + cũng + dt) Đây cũng là cấu trúc xuất hiện trong hai giáo trình của Đoàn Thiện Thuật và Nguyễn Thiện Nam, được các tác giả khái quát hóa thành cấu trúc cụ thể để học viên
có thể dễ nắm bắt Với hầu hết các kết cấu như thế này người viết sách luôn chú ý thể hiện bằng các cặp từ đi cùng nhau
Tuy nhiên, có một số soạn giả lại không thể hiện cấu trúc bằng các cặp từ đi cùng nhau trong phần chú thích ngữ pháp mà chỉ biểu hiện bằng một từ và khi giải thích thì mới nói đến những từ mà bản thân từ này luôn đi kèm trước hoặc sau từ đó
Ví dụ: Làm sao (mà) … được trong giáo trình của Trịnh Đức Hiển lại chỉ được
đưa ra cấu trúc khái quát là “làm sao mà” chứ không được giới thiệu là “làm sao …
được”, trong khi đó với cấu trúc như thế này không thể không xuất hiện từ đuợc Nếu
Từ để hỏi + cũng (bao giờ … cũng, ai … cũng, ở đâu … cũng)
Trang 31chỉ sử dụng “làm sao mà” mà không có được thì không thể tạo thành một câu Chẳng hạn như: trong câu “Làm sao (mà) chị ấy lái ô tô được” [V; 26], có thể nói “Chị ấy làm sao (mà) lái ô tô được” hay “Chị ấy lái ô tô làm sao được” hầu như không thể nói:
“Làm sao mà chị ấy lái ô tô” Vì vậy, khi giới thiệu mô hình các cấu trúc như thế trong
phần chú thích ngữ pháp, soạn giả nên chú ý đến việc thể hiện tất cả các yếu tố Vì chúng đều là những thành phần quan trọng, thiết yếu để tạo nên câu Trong khi đó giáo trình do Đoàn Thiện Thuật chủ biên và giáo trình tập 3 do Nguyễn Văn Huệ chủ biên
lại thể hiện đầy đủ cấu trúc làm sao (mà)… được Điều này cũng cần thiết vì đôi khi
trong tiếng Việt lại có những cấu trúc khá giống nhau nhưng nghĩa và cách sử dụng lại
hoàn toàn khác nhau Chẳng hạn như, cấu trúc làm sao (mà)… dùng trong câu hỏi, với
ý nghi ngờ hoặc phủ định, có nghĩa như “tại sao (mà)…”, “vì lẽ gì (mà)…” và cấu trúc
làm sao mà … được biểu thị khả năng không thể làm được việc gì, nhìn thoáng qua thì
có vẻ hơi giống nhau, làm cho người học có thể dễ nhầm lẫn Vì vậy, đôi khi việc xác nhận tên gọi cấu trúc là rất cần thiết
Với cấu trúc không xuể, không…nổi cũng vậy Giáo trình của Đoàn Thiện
Thuật và giáo trình 3 của Nguyễn Văn Huệ khi giới thiệu trong phần chú thích ngữ
pháp, các soạn giả viết là không … xuể, không … nổi, nhưng trong giáo trình của Đại học Tổng hợp thì chỉ lại nói là xuể, nổi Trong khi đó, nếu không có từ không thì không thể được vì đây là cấu trúc có ý nghĩa phủ định, luôn đi cùng với không
Hơn nữa, có thể thấy rằng, trong một số giáo trình, tác giả mô hình hoá bằng cấu trúc cụ thể có đầy đủ các thành phần: chủ ngữ, vị ngữ, động từ, tính từ như giáo trình của giáo trình của Đại học Tổng hợp, của Đoàn Thiện Thuật Ví dụ:
* Trong giáo trình của Đại học Tổng hợp, Khoa tiếng Việt, 1980:
- Có … thì
C có V1 thì V2
- Kiểu câu kể có vị ngữ chỉ nguyên nhân
Trang 32Chủ ngữ Vị ngữ
Là / vì (bởi, bởi vì, do)/mệnh đề
Ví dụ: Hôm qua tôi không đến nhà anh được là vì trời mưa
* Trong giáo trình của Đoàn Thiện Thuật:
Nguyễn Văn Huệ (chủ biên): Bao giờ…cũng: kết cấu biểu thị ý nghĩa luôn luôn là như vậy, không thay đổi Có thể nói bao giờ cũng…Giáo trình của Trịnh Đức Hiển cũng
vậy: càng …càng (the more…the more) biểu thị mức độ cùng tăng thêm như nhau
2.1.2 Loại 2: Cấu trúc cú pháp được cấu tạo bằng kết từ có tính cơ động (hai
hoặc nhiều từ nhưng một trong các từ đó có thể không cần xuất hiện trong cấu trúc) Chẳng hạn như: nếu … thì, vì … nên, tuy … nhưng, dù … nhưng, mặc dù … nhưng, sở
dĩ …là vì v.v
Giả sử trong cấu trúc tuy … nhưng, nếu bỏ một trong các từ “tuy” hoặc “nhưng”
thì câu đó vẫn có thể chấp nhận được (nhưng với loại này, cần chú ý đến vị trí của các mệnh đề trong câu) Xét ví dụ:
Trang 331 Tuy tôi rất bận nhưng tôi vẫn cố gắng học ngoại ngữ
[V; 34]
Có thể nói: Tôi vẫn cố gắng học ngoại ngữ tuy tôi rất bận
2 Sở dĩ anh ấy biết nhiều thứ tiếng là do anh ấy cần cù và có năng khiếu về ngoại ngữ
[IV; 159]
Từ cấu trúc này, có thể nói:
Anh ấy biết nhiều thứ tiếng là do anh ấy cần cù và có năng khiếu về ngoại ngữ
3 Vì nó lười học nên nó thi trượt [IV; 159]
Có thể nói: - Nó thi trượt vì nó lười học
- Nó lười học nên nó thi trượt
4 Cứ trời mưa là anh ấy nghỉ học
Trong câu trên, nếu bỏ cứ hoặc là đi thì vẫn có thể chấp nhận được: “Trời mưa
là anh ấy nghỉ học” hoặc “Cứ trời mưa, anh ấy nghỉ học”
[VI; 20]
Những cấu trúc như thế này không đòi hỏi các cặp từ này buộc phải luôn có mặt trong cấu trúc mà chỉ cần sự xuất hiện của một trong những từ đó Nếu cặp từ đó tham gia vào cấu trúc một cách đầy đủ thì ý nghĩa ngữ pháp được nhấn mạnh hơn
Tuy nhiên, chính vì đặc điểm của loại cấu trúc này là không nhất thiết luôn phải
là một cặp từ nên nhiều khi có soạn giả lại có những cách thể hiện trong phần chú thích
ngữ pháp khác nhau, như trong giáo trình của Trịnh Đức Hiển khi giới thiệu cấu trúc
cứ … thì thì chỉ viết bằng một từ cứ, không cần viết các từ sau thì/là nhưng trong giáo trình của Đoàn Thiện Thuật lại viết là cứ … thì/là Song, với những kiểu cấu trúc như
thế thì luôn có một từ được coi là quan trọng hơn sẽ được nhắc đến khi soạn giả giới
thiệu trong phần ngữ pháp nhiều hơn Chẳng hạn như cấu trúc hễ… là/thì thì hễ sẽ là từ
được lấy làm tên gọi cho cấu trúc này nhiều hơn Vì thế, đôi khi các soạn giả đưa ra
vấn đề ngữ pháp thì chỉ gọi là hễ
Trang 34Tuy nhiên, tùy từng cấu trúc mà soạn giả giới thiệu bằng những mẫu câu hoặc
cấu trúc khác nhau Với cấu trúc hình như … thì phải có một số tác giả viết trong phần ngữ pháp là hình như, một số khác là thì phải Nhưng khi giải thích thì hầu hết soạn
giả đều nói đến những dạng biểu hiện khác của cấu trúc
2.1.3 Loại 3: Cấu trúc cú pháp có chứa những trợ từ.
Chủ yếu người viết sẽ giải thích chứ ít khi mô hình hóa thành cấu trúc, tuy nhiên
có giải thích vị trí của chúng như: đứng trước danh từ, động từ, tính từ hay đứng đầu câu, cuối câu …
Ví dụ: Đoàn Thiện Thuật khi giải thích chứ:
“Chứ đứng cuối câu, trong khẩu ngữ, được người nói dùng để minh hoạ hay
giải thích cho ý kiến đã nói trước đó Nó có ý nghĩa tương tự như “tất nhiên” hoặc
“chắc chắn”
Ví dụ: - Anh có đi không?
- Tôi đi chứ! (= Chắc chắn tôi sẽ đi) Đôi khi từ này vừa dùng để phủ định ý kiến của người đối thoại, vừa để khẳng định ý kiến của mình
Ví dụ: - Hôm nay ngày 5 tháng 6 là sinh nhật chị Bình
- Không, mồng 6 tháng 5 chứ!”
Hay Nguyễn Thiện Nam giải thích phải:
“Phải cũng thường đứng trước số từ khi người nói ước đoán một số lượng
nhiều
Trang 35Ví dụ: Hôm nay phải đến 500 người dự mít tinh.”
Tuy nhiên, đôi khi có tác giả lại không giải thích vị trí của những trợ từ như thế này trong câu mà chỉ giải thích ý nghĩa và cách sử dụng của chúng Chẳng hạn như,
Nguyễn Thiện Nam giải thích mới: với ý nghĩa điều kiện, mới biểu thị hành động hoặc
trạng thái B chỉ xảy ra khi có điều kiện A Cụ thể:
a Điều kiện về thời gian: Nhấn mạnh ý: sự việc, hành động chỉ xảy ra ở một thời điểm muộn
b Điều kiện khác: Nhấn mạnh ý: sự việc, hành động xảy ra chỉ khi có điều kiện nêu ở trước
Hoặc có giải thích vị trí của chúng nhưng chỉ giải thích một cách chung chung, không rõ ràng
Ví dụ: khi giải thích đối với, Trịnh Đức Hiển chỉ giải thích: Đối với đứng trước
từ hoặc nhóm từ chỉ người hoặc điều được nói đến
Hoặc cách giải thích cứ cũng vậy, cứ đứng trước nhóm từ chỉ điều kiện cho
hiện tượng, hoạt động sắp diễn ra
Nhìn chung, với những loại cấu trúc như thế này, khó có thể mô hình hóa thành một cấu trúc khái quát lớn ngay mà chỉ có thể mô hình hóa thành những cấu trúc đoản ngữ (với những thành phần đi trước hoặc sau nó) để từ đó khái quát quát hóa thành những cấu trúc lớn hơn
2 2 Sự phân bố cấu trúc cú pháp
2.2.1 Sự phân bố cấu trúc cú pháp trong các giáo trình
Chúng tôi đã khảo sát sự phân bố các cấu trúc cú pháp cơ bản trong 8 giáo trình tiếng Việt nâng cao Kết quả khảo sát cho thấy sự xuất hiện của các cấu trúc cú pháp trong các giáo trình có sự phân bố không đồng đều Có giáo trình rất nhiều, có giáo trình lại rất ít Có bài xuất hiện nhiều cấu trúc, có bài lại chỉ xuất hiện 1 hoặc 2 cấu trúc Hơn nữa, tổng số các cấu trúc cú pháp mà chúng tôi thống kê được là 376 cấu
Trang 36trúc Trong đó, số cấu trúc cú pháp của giáo trình Đại học Tổng hợp chiếm số lượng nhiếu nhất (85 cấu trúc), ít nhất là giáo trình tập 3 của Phan Văn Giưỡng (14 cấu trúc)
Mỗi giáo trình lại đưa ra một hệ thống cấu trúc riêng Chúng được phân bố trong các giáo trình như sau:
Bảng 2.1: Bảng thống kê các cấu trúc trong giáo trình
1 Giáo trình tiếng Việt thực
3 Tiếng Việt (Vietnamese)
intermediate 4 (Bửu Khải -
Phan Văn Giưỡng)
6 Tiếng Việt cho người nước
ngoài, trình độ nâng cao,
(Trịnh Đức Hiển)
7 Giáo trình dạy tiếng Việt cho
người nước ngoài, tập 3,
(Nguyễn Văn Huệ)
8 Giáo trình dạy tiếng Việt cho
người nước ngoài, tập 4,
Trang 37(Nguyễn Văn Huệ)
Như vậy, qua quá trình thống kê và khảo sát 8 giáo trình tiếng Việt nâng cao, chúng tôi thấy, hầu hết trong mỗi giáo trình trung bình một bài có 4 hoặc 5 cấu trúc, đôi khi là 6 cấu trúc, ít nhất là 1 cấu trúc, nhiều nhất là 7 (bài 14, bài 15 trong giáo trình do Đoàn Thiện Thuật chủ biên) Tuy nhiên, có một số giáo trình số lượng cấu trúc rất ít Đó là giáo trình của Bửu Khải và Phan Văn Giưỡng, mỗi bài chỉ có khoảng
1 hoặc 2 cấu trúc Nhìn lại toàn bộ các giáo trình thì giáo trình của Đại học Tổng hợp
có số luợng cấu trúc nhiều nhất (85 cấu trúc, chiếm 22,6% so với tổng số cấu trúc trong 8 giáo trình) Đứng ở vị trí thứ hai là giáo trình của Trịnh Đức Hiển: 78 cấu trúc, chiếm 20,1% Tiếp theo là giáo trình của Đoàn Thiện Thuật: 74 cấu trúc, chiếm 19,7% Sau đó là giáo trình của Nguyễn Thiện Nam: 42 cấu trúc, chiếm 11,2% Đứng ở vị trí thứ 5, 6 là giáo trình của Nguyễn Văn Huệ - tập 3 và tập 4 lần lượt là: 37 cấu trúc, 31 cấu trúc, chiếm 9,8% và 8,2% Ít nhất là giáo trình 3 của Phan Văn Giưỡng và giáo trình 4 của Bửu Khải - Phan Văn Giưỡng: 14 cấu trúc chiếm 3,7% và 15 cấu trúc chiếm 3,9%
Từ bảng số liệu trên cũng đã cho chúng ta thấy rằng, số lượng các cấu trúc cú pháp trong mỗi giáo trình tiếng Việt bậc nâng cao là hoàn toàn khác nhau, không đồng đều, cùng là một cấu trúc, nhưng có những cấu trúc xuất hiện ở đầu giáo trình, có những cấu trúc lại xuất hiện ở giữa, lại có khi ở cuối giáo trình Chẳng hạn: cấu trúc
từng … một xuất hiện trong giáo trình của Trường Đại học Tổng hợp, 1980, giáo trình
của Đoàn Thiện Thuật, giáo trình của Trịnh Đức Hiển Tuy nhiên với mỗi giáo trình, cấu trúc này lại được phân bố ở những bài khác nhau: trong giáo trình của trường Đại học Tổng hợp, 1980 xuất hiện ở bài thứ 2; giáo trình của Đoàn Thiện Thuật xuất hiện ở gần cuối, bài 18; giáo trình của Trịnh Đức Hiển xuất hiện ở giữa, bài 13 Có giáo trình đưa cấu trúc cú pháp này, nhưng lại có giáo trình không đưa Ví dụ: giáo trình của Đại học Tổng hợp 1980, giáo trình 4 của Nguyễn Văn Huệ, giáo trình của Trịnh Đức Hiển,
Trang 38của Nguyễn Thiện Nam có đưa cấu trúc sở dĩ … là vì vào phần giải thích, còn lại 4
giáo trình khác không được đưa vào giải thích
Hơn nữa, qua khảo sát chúng tôi cũng thấy rằng không có một cấu trúc nào xuất hiện ở tất cả 8 giáo trình Điều đó chứng tỏ việc đưa cấu trúc cú pháp vào các giáo trình của mỗi tác giả đều có những quan điểm khác nhau
Sở dĩ có sự khác nhau như vậy, phải chăng có những soạn giả cho rằng đây là bậc nâng cao, trước đó người học đã nắm vững được một khối kiến thức nhất định nên khi học đến trình độ nâng cao thì không cần phải chú ý quá nhiều đến việc lựa chọn dạy cái gì nữa mà chỉ cần những yếu tố mà trình độ A chưa trang bị Vì vậy, các soạn giả có thể chọn lựa đưa những cấu trúc mà theo chủ quan cho rằng đó là những cấu trúc mà người học ở bậc nâng cao cần học Điều đó tạo ra sự khác nhau trong việc đưa các cấu trúc cú pháp vào mỗi giáo trình Thậm chí, nhiều khi chúng tôi thấy có những cấu trúc nên dạy ở trình độ A hoặc đã dạy ở trình độ A rồi nhưng vẫn được dạy lại ở
trình độ B chẳng hạn như: CN + có + danh từ (Tôi có hai cái bút.) vẫn được dạy ở giáo trình của Đại học Tổng hợp, 1980 (bài cuối - bài 60) hay cấu trúc từ… đến (Giờ
học bắt đầu từ 8h đến 11h) trong bài 3 của Trịnh Đức Hiển,…
Thông thường, những vấn đề ngữ pháp xuất hiện ở phần cuối giáo trình được coi
là khó hơn Tuy nhiên, qua khảo sát chúng tôi thấy có cấu trúc không khó lắm nhưng
lại được đưa vào phần cuối bài: chẳng hạn cấu trúc có + danh từ, hay /hoặc/ hay là/hoặc là trong giáo trình của Đại học Tổng hợp Đây là cấu trúc được sử dụng rất
phổ biến, các học viên khi bắt đầu học đã phải nắm vững những cấu trúc này khá thành thạo rồi
Những điều đó càng chứng tỏ thêm sự thiếu thống nhất trong việc giải thích cấu trúc cú pháp ở các giáo trình dạy tiếng hiện nay Đây cũng là một trong những vấn đề cần được quan tâm khi xem xét hệ thống ngữ pháp trong các tài liệu dạy tiếng
Để có thể nắm rõ hơn vấn đề phân bố cấu trúc cú pháp trong các giáo trình, chúng tôi đã thống kê và phân chia sự xuất hiện các cấu trúc ở 8 giáo trình theo các cấp
độ và tỉ lệ phần trăm trong tổng số 376 cấu trúc:
Trang 39Cấu trúc xuất hiện ở cả 8 giáo trình: 0 cấu trúc, chiếm 0%
Cấu trúc xuất hiện ở 7 giáo trình: 1 cấu trúc, chiếm 0,02%
Cấu trúc xuất hiện ở 6 giáo trình: 3 cấu trúc, chiếm 0,08%
Cấu trúc xuất hiện ở 5 giáo trình: 4 cấu trúc, chiếm 1,06%
Cấu trúc xuất hiện trong 4 giáo trình: 4 cấu trúc, chiếm 1,1%
Cấu trúc xuất hiện ở 2, 3 giáo trình: 67 cấu trúc (trong đó xuất hện ở 2 giáo trình
là 56 cấu trúc, xuất hiện ở 3 giáo trình là: 18 cấu trúc) chiếm 17,8%
Cấu trúc xuất hiện ở 1 giáo trình: 298 cấu trúc, chiếm 79,2%
Khi khảo sát, chúng tôi thấy các cấu trúc cú pháp hoàn toàn không được phân bố một cách có trình tự trong mỗi bài Hầu hết các cấu trúc này được phân bố nhiều nhất trong bài hội thoại và bài đọc Tuy nhiên, chủ yếu nhất vẫn là ở phần hội thoại Và hầu hết những cấu trúc cú pháp được giải thích trong phần chú thích ngữ pháp đều xuất hiện ít nhất là một lần trong bài hội thoại, nhiều nhất cũng chỉ 2, 3 lần Còn trong bài đọc thì lại chỉ 1 lần, thậm chí có những cấu trúc được dạy trong phần chú thích nhưng lại không được giới thiệu trong phần bài đọc Sở dĩ như vậy là vì bài đọc thường được soạn giả sưu tầm, chọn lựa từ các tài liệu khác nhau hoặc đôi khi người viết tự xây dựng nên nhưng vì mỗi bài đều phải theo một nội dung nhất định và có trật tự lôgic nhất định có thể không phù hợp với cấu trúc ngữ pháp đưa ra của bài Do đó, các cấu trúc cú pháp có ở phần giải thích không phải lúc nào cũng dễ dàng xuất hiện trong các bài đọc, dẫn đến tần số xuất hiện của các cấu trúc được giải thích trong bài đọc cũng ít hơn
Còn trong bài tập, sự phân bố là phổ biến vì đây là phần quan trọng để học viên vận dụng, thực hành và luyện tập nhiều
2.2.2 Sự phân bố các cấu trúc cú pháp ở từng bài trong mỗi giáo trình
Khi khảo sát các cấu trúc cú pháp, chúng tôi thấy số lượng các bài trong mỗi giáo trình khác nhau, không đồng đều: giáo trình của Đại học tổng hợp: 30 bài; Phan Văn Giưỡng (tập 3): 12 bài; Bửu Khải – Phan Văn Giưỡng (tập 4): 12 bài; Nguyễn
Trang 40Thiện Nam: 10 bài; Đoàn Thiện Thuật: 16 bài; Trịnh Đức Hiển: 25 bài, Giáo trình 3 của Nguyễn Văn Huệ: 20 bài; giáo trình 4 của Nguyễn Văn Huệ: 10 bài Do đó, việc phân bố cấu trúc cú pháp trong các bài cũng khác nhau Thông thường, mỗi giáo trình
sẽ đưa khoảng 4, 5 cấu trúc trong một bài Tuy nhiên, thỉnh thoảng là 6, 7 cấu trúc cú pháp (giáo trình của Đại học Tổng hợp, 1980 một bài lại có khoảng 6, 7 cấu trúc), có giáo trình một số bài lại chỉ có 1 hoặc 2 cấu trúc Đặc biệt là giáo trình của Phan Văn Giưỡng (tập 3) và của Bửu Khải - Phan Văn Giưỡng (tập 4) số lượng cấu trúc phân bố trong một bài là rất ít chỉ 1 hoặc 2 cấu trúc Hơn nữa, qua khảo sát, chúng tôi cũng thấy trong hai giáo trình này hầu hết các cấu trúc cú pháp chỉ xuất hiện trong phần bài luyện; bài đọc cũng có nhưng những cấu trúc mà soạn giả đưa vào bài với mục đích luyện tập cho học viên lại rất ít Hai tác giả dường như không chú trọng đến cấu trúc
cú pháp lắm Họ không dành riêng một phần để chú thích các cấu trúc cú pháp mà áp dụng luôn vào bài tập để học viên luyện Với những giáo trình như thế này phải cần nhiều sự hỗ trợ của giáo viên và bản thân học viên không thể tự học được Ngoài ra, giáo trình do Nguyễn Văn Huệ chủ biên cũng có sự chênh lệch số lượng cấu trúc ở mỗi bài, có bài 5 cấu trúc, nhưng có bài chỉ có 2 cấu trúc
Bảng 2.2: Bảng thông kê số lượng cấu trúc cú pháp trong từng bài của mỗi