Nghiên cứu này mong muốn tìm hiểu những đóng góp về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa… của các tầng lớp người Thanh Hóa – một bộ phận dân cư không nhỏ và có vai trò quan trọng ở Thăng Lon
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NGƯỜI THANH HÓA RA THĂNG LONG TRƯỚC THẾ KỶ XVII VÀ BỐI CẢNH ĐÀNG NGOÀI THẾ KỶ XVII-XVIII 10
1.1 Người Thanh Hóa ra Thăng Long trước thế kỷ XVII 10
1.2 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII 15
Chương 2: CÁC THÀNH PHẦN DÂN CƯ THANH HÓA Ở THĂNG LONG THỜI LÊ – TRỊNH 29
2.1 Chúa Trịnh 29
2.2 Vua Lê 34
2.3 Tướng lĩnh, binh lính, quan lại 36
2.3.1 Quê quán của một số tướng lĩnh, quan lại người Thanh Hóa 39
2.3.2 Chức tước của một số tướng lĩnh, quan lại người Thanh Hóa 41
2.3.3 Một số nhân vật tiêu biểu 44
2.4 Các thành phần dân cư khác 49
2.4.1 Thợ thủ công 49
2.4.2 Một số thành phần dân cư khác 53
Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI THANH HÓA ĐỐI VỚI THĂNG LONG THỜI LÊ – TRỊNH 59
3.1 Về chính trị 59
3.2 Về kinh tế 64
3.3 Về văn hóa 67
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 94
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình lịch sử Thăng Long – Hà Nội là một quá trình hội tụ tinh hoa của cả đất nước Tính chất “hội tụ” này có ý nghĩa cả về mặt thời gian và không gian Về mặt thời gian, trải qua các thời kỳ Lý, Trần, Lê, Mạc là kinh
đô của đất nước, Thăng Long kết tinh trong mình nó những tinh hoa được hun đúc qua mỗi triều đại Về mặt không gian là sức hút của vùng đất trung tâm này đối với các khu vực lân cận thuộc châu thổ sông Hồng và thậm chí cả ngoài khu vực châu thổ Dân cư của các vùng đất này luôn có xu hướng chuyển cư về khu vực Thăng Long, và sự hội tụ của nhiều lớp cư dân đã khiến cho Thăng Long có được những tinh hoa mà các vùng đất đó đem lại
Thấy được sự hội tụ, kết tinh đó, nhưng để hiểu rõ xem nó thực chất được hình thành từ những gì, hình thành như thế nào thì lại là một vấn đề chưa có nghiên cứu cụ thể Với mong muốn đóng góp một góc nhìn nhỏ trong
vấn đề lớn lao và ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài Người Thanh Hóa ở Thăng Long
thời Lê – Trịnh (thế kỷ XVII – XVIII) để làm luận văn tốt nghiệp Nghiên cứu
này mong muốn tìm hiểu những đóng góp về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa… của các tầng lớp người Thanh Hóa – một bộ phận dân cư không nhỏ và có vai trò quan trọng ở Thăng Long thời Lê – Trịnh – đối với sự tồn tại, phát triển của Thăng Long thời kỳ này
Thanh Hóa vốn là một vùng đất có vị trí và vai trò đặc biệt trong lịch sử Việt Nam Về địa lý, đây là vùng đất trung gian nối miền Bắc với miền Nam của đất nước Về văn hóa, Thanh Hóa là nơi chứng kiến sự giao lưu tiếp xúc văn hóa vùng miền Bắc – Nam, là vùng đất tiếp nối những ảnh hưởng chính trị từ kinh đô Thăng Long lan truyền vào những vùng đất phía Nam của tổ quốc, và ngược lại Ngoài ra, đây còn là đất “thang mộc” của cả hai triều đại:
Lê sơ và Lê – Trịnh trong lịch sử và luôn là vùng đất “căn bản” của các vương triều ấy về nhân lực, vật lực
Trang 5Với vai trò đó, sự chuyển cư của người Thanh Hóa tới các vùng đất khác có một ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu lịch sử Trên thực tế, sự chuyển cư này đã đem lại cho các vùng đất mà người Thanh Hóa di cư đến những đóng góp quan trọng về nhiều mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội Người Thanh Hóa không chỉ “ tiến ra Bắc ” ra Thăng Long với nhiều thế hệ Nho sinh, quan lại, được người đời đặt cho tên gọi “vùng đất học” mà họ còn có một quá trình “Nam tiến” quy mô, đặc biệt là đợt di cư theo Nguyễn Hoàng vào khai mở đất Đàng Trong giữa thế kỷ XVI
Việc lựa chọn thời kỳ Lê – Trịnh để nghiên cứu giúp tôi có nhiều thuận lợi Đây là thời kỳ đặc biệt trong lịch sử dân tộc Thanh Hóa thời kỳ là vùng đất
“thang mộc” của cả hai dòng họ cùng trị vì đất nước trên 200 năm Trong cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều, binh lực Nam triều (binh lực của chính quyền Lê- Trịnh) chủ yếu là người Thanh – Nghệ Binh lính Thanh – Nghệ cũng là chủ lực của ưu binh bảo vệ hoàng thành Các quan lại là người Thanh Hóa có tiếng nói quan trọng trong các vấn đề triều chính thời kỳ này Do vậy, trong thời kỳ này, việc chuyển cư của người Thanh Hóa ra Thăng Long ắt hẳn phải mang những đặc tính khác biệt so với di cư của các vùng miền khác và ở thời kỳ khác
Một lý do quan trọng khác đã thúc đẩy tôi quyết định chọn đề tài này là bởi tôi là một người con của đất Thanh Hóa Từ lâu, trong quá trình học tập
và nghiên cứu, tôi đã nhận thấy người Thanh Hóa đã có những đóng góp, vị trí nhất định trong lịch sử dân tộc nói chung và trong lịch sử Thăng Long nói riêng Trong một số đề tài tập sự nghiên cứu khoa học, tôi đã chọn Thanh Hóa
là đối tượng để nghiên cứu Những hiểu biết ban đầu thú vị về Thanh Hóa và con người Thanh Hóa trong lịch sử đã thúc đẩy tôi tiếp tục chọn đề tài này cho luận văn Thạc sỹ Việc tìm hiểu những đóng góp cụ thể của người Thanh Hóa trong thời Lê – Trịnh đối với sự phát triển của Thăng Long không những giúp tôi hiểu hơn về lịch sử quê hương mình mà còn hiểu thêm về mảnh đất kinh đô – nơi tôi đang sống và làm việc
Trang 62 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, những nghiên cứu về Thăng Long đã có nhiều song những nghiên cứu cụ thể về sự đóng góp của cư dân các vùng đất đối với Thăng Long thì hầu như vắng bóng
Nghiên cứu về vùng đất Thanh Hóa phải kể đến một số công trình địa
chí do các địa phương xuất bản như: Địa chí Thanh Hóa, Địa chí văn hóa
Hoằng Hóa, Địa chí Hậu Lộc, Hoằng Lộc đất hiếu học… Trong các cuốn địa
chí này, có nhắc đến một số nhân vật người Thanh Hóa nổi tiếng trong lịch
sử, họ ra làm quan và sinh sống ở đất Thăng Long, qua đó cho thấy được những đóng góp của họ đối với đất nước và cả Thăng Long Tuy nhiên, những thông tin đó rất ít ỏi và cũng chỉ là những thông tin gián tiếp, sơ lược
Nghiên cứu về thời kỳ Lê – Trịnh có không ít công trình Trước hết
phải kể đến Hội thảo khoa học Chúa Trịnh – vị trí và vai trò lịch sử được in
thành kỷ yếu do Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa ấn hành năm 1995 Trong Hội thảo này, nhiều vấn đề về các chúa Trịnh cũng như về thời kỳ Lê – Trịnh đã được nghiên cứu và bàn luận khá kỹ lưỡng Qua Hội thảo này, vai trò của họ Trịnh trong lịch sử đã được ghi nhận, song những đóng góp của họ Trịnh và con cháu, với vai trò là những người gốc Thanh Hóa đối với kinh đô Thăng Long lại gần như chưa được chú ý tới Tác giả
Trịnh Bỉnh Di với bài viết Một số danh sư lương y người quê Thanh Hóa dưới
thời Lê Trung hưng đã đề cập đến đóng góp của những người quê Thanh Hóa
trong thời kỳ này song cũng chỉ giới hạn là những danh sư và những đóng góp chỉ là trong lĩnh vực y học
Ngoài ra, Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa còn còn tổ
chức một hội thảo khoa học về Thanh Hóa thời Lê với kỷ yếu hội thảo xuất
bản năm 1998 Trong Hội thảo này, nhiều vấn đề về vùng đất Thanh Hóa thời
Lê đã được nghiên cứu, song chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về những đóng góp của người Thanh Hóa đối với Thăng Long thời Lê Trung hưng
Trang 7Ngoài ra, nghiên cứu về họ Trịnh còn phải kể đến luận án tiến sĩ Cải
cách của Trịnh Cương của Nguyễn Đức Nhuệ Luận án này cung cấp cho ta
cái nhìn đầy đủ về cuộc cải cách của chúa Trịnh Cương, từ đó thấy được những đóng góp của Trịnh Cương – một người gốc Thanh Hóa – đối với đất nước nói chung và với Thăng Long nói riêng
Một số cuốn sách như Họ Trịnh và Thăng Long của Trịnh Bỉnh Di, Quang Vũ xuất bản năm 2000, Họ Nguyễn Gia Miêu của Nguyễn Văn Thành
thuộc tủ sách của Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam… cũng giúp hiểu được phần nào đóng góp của các dòng họ phát tích từ Thanh Hóa với Thăng Long về một số mặt Song đây chỉ là nghiên cứu về dòng họ, lại chỉ là một cuốn sách mỏng với những thông tin khá sơ lược
Những nghiên cứu về sự chuyển cư trong lịch sử trung đại lại chủ yếu tập trung vào hướng chuyển cư “Nam tiến” Sự chuyển cư ra Bắc, đặc biệt là
ra Thăng Long thì hầu như chưa thấy có một công trình chuyên khảo nào
Trước tiên phải kể đến công trình Việt sử xứ Đàng Trong: 1558-1777
Lịch sử cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam của Phan Khoang xuất bản năm
1969 Đây gần như là công trình nghiên cứu đầu tiên về lịch sử di dân trung đại
ở Việt Nam Song ở công trình này, tác giả Phan Khoang chỉ tập trung vào quá trình Nam tiến của dân tộc Việt Nam khi đi khai mở vùng đất Đàng Trong
Năm 1987, tập thể tác giả do Huỳnh Lứa chủ biên đã xuất bản công
trình Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ Tác phẩm này cũng tập trung chủ
yếu vào nghiên cứu công cuộc Nam tiến của đất nước
Năm 1994, tập thể tác giả của Trung tâm nghiên cứu Dân số và Phát triển, thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, đứng đầu là
Giáo sư Đặng Thu đã thực hiện công trình Di dân của người Việt từ thế kỷ X
đến giữa thế kỷ XIX Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện
quá trình di dân của dân tộc Việt Nam từ quá khứ tới cận đại, từ Bắc vào Nam
Trang 8và cả di dân nội tại giữa các vùng miền Tuy nhiên, công trình này cũng chỉ tập trung nghiên cứu sự di dân mở mang đất đai, không chỉ là công cuộc Nam tiến mà còn là quá trình khai hoang mở đất lấn biển của cư dân vùng ven biển Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ; sự di dân và hòa nhập giữa những tù binh người Chăm và dân tộc Việt; sự chuyển cư từ nông thôn tới thành thị… Như vậy là,
ở công trình này, quá trình di cư của người Việt được nghiên cứu từ nhiều chiều hơn, đề cập đến nhiều khía cạnh của di cư hơn Tuy nhiên, trong công trình này, sự di cư mang tính “hội tụ” ở khu vực Thăng Long lại hầu như chưa được đề cập tới
Năm 1999, tác giả Li Tana đã thực hiện đề tài luận án tiến sĩ về xứ
Đàng Trong và xuất bản công trình với tên gọi Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh
tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII Công trình này không trực tiếp
nghiên cứu tới vấn đề di dân nhưng trên thực tế, lịch sử xứ Đàng Trong là lịch
sử của quá trình di dân, khai mở đất dần dần từ Bắc tới Nam, từ Đông sang Tây Do đó, trong công trình nghiên cứu này, tác giả Li Tana có gián tiếp đến
đề cập tới một số vấn đề di cư Nam tiến, sự hòa nhập cuộc sống xã hội giữa người Việt và người Thượng…
Như vậy, chúng tôi chưa tìm thấy một nghiên cứu chuyên biệt nào về vấn đề sự đóng góp của người Thanh Hóa đối với Thăng Long thời Lê – Trịnh Có chăng chỉ là những thông tin rải rác nằm trong các chuyên khảo về các lĩnh vực khác Với nghiên cứu nhỏ này, tôi mong muốn góp một góc nhìn
cụ thể đối với quá trình chuyển cư của một bộ phận dân cư đã góp phần làm nên diện mạo của Thăng Long – người Thanh Hóa, tìm hiểu những đóng góp
cụ thể của bộ phận dân cư đó đối với sự tồn tại, phát triển của Thăng Long
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài này là người Thanh Hóa Người Thanh Hóa từ trước thời kỳ Lê – Trịnh đã trở thành một bộ phận dân
Trang 9cư không nhỏ và có những đóng góp nhất định vào quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Thăng Long văn hiến Đến thời Lê – Trịnh, sự chuyển
cư của người Thanh Hóa ra Thăng Long đã trở thành một xu hướng chuyển
cư nổi trội và có nhiều nét đặc biệt Thanh Hóa là vùng đất phát tích của cả vua Lê và chúa Trịnh, lại là vùng đất căn cứ của nhà Lê trong sự nghiệp trung hưng, vì thế, thời kỳ này, Thanh Hóa trở thành vùng đất căn bản, đặc biệt quan trọng của cả triều đình vua Lê lẫn chúa Trịnh Các công thần, tướng lĩnh, quan lại, binh lính người Thanh Hóa cùng gia quyến, thân tộc chuyển cư
ra Thăng Long với các vua Lê và chúa Trịnh thời kỳ này chiếm số lượng đông đảo Họ cũng để lại nhiều dấu ấn và có những đóng góp không nhỏ đối với sự
tồn tại và phát triển của Thăng Long thời kỳ này
Về mặt thời gian, thời Lê – Trịnh (thế kỷ XVII – XVIII) là một thời kỳ đặc biệt trong tiến trình lịch sử Việt Nam Nó đặc biệt không chỉ bởi “thể chế lưỡng đầu” vua Lê – chúa Trịnh người Thanh Hóa cùng nắm quyền cai trị đất nước mà còn bởi nhiều yếu tố chính trị, xã hội khác Trong giai đoạn này, người Thanh Hóa giữ vai trò đặc biệt trong hệ thống chính quyền Cả vua Lê
và chúa Trịnh đều có xu hướng muốn sử dụng những người thân cận bên mình là những người đồng tộc, đồng hương Ưu binh có nhiệm vụ bảo vệ hoàng thành, hoàng tộc đều là những người tuyển chọn từ Thanh Hóa và Nghệ An Cả vua Lê và chúa Trịnh đều cho xây lăng của mình ở đất “thang mộc” Thanh Hóa… Còn rất nhiều yếu tố khác cho thấy sự quan trọng của Thanh Hóa trong thời kỳ này
Từ thực tế trên, đề tài này mong muốn tìm hiểu sự chuyển cư của từng
bộ phận dân cư có gốc gác Thanh Hóa ở Thăng Long thế kỷ XVII – XVIII
Đó là họ hàng thân tộc vua Lê, chúa Trịnh, là các quan lại, tướng lĩnh, binh lính trong hệ thống chính quyền đương thời, là các bộ phận dân cư khác như thợ thủ công, người đi học, người buôn bán… Tất cả những bộ phận dân cư
Trang 10đó đều góp phần làm nên quá trình chuyển cư nổi trội của người Thanh Hóa đến Thăng Long, họ đều có những đóng góp đáng kể vào quá trình tồn tại và phát triển của Thăng Long thời kỳ này
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu chúng tôi sử dụng chủ yếu trong luận văn này trước hết
là các bộ chính sử như: Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương
mục Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các tác phẩm của các tác giả thời phong
kiến như: Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục và Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Lịch triều tạp kỷ của
Ngô Cao Lãng… Từ những tài liệu này, chúng tôi đã có được những thông tin, những nguồn sử liệu quý báu, chân thực về những con người Thanh Hóa
và cả bối cảnh xã hội thời Lê – Trịnh
Nguồn tài liệu quan trọng nữa mà chúng tôi sử dụng là các tài liệu sử địa phương, tư liệu gia phả của các dòng họ… Những nguồn tài liệu này cung cấp nhiều thông tin quan trọng về các dòng họ, về các nhân vật Thanh Hóa đã
di cư ra Thăng Long trước và trong thời Lê – Trịnh, từ đó, bổ khuyết cho những thiếu sót của nguồn tài liệu chính sử
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng nguồn tài liệu tổng hợp được trong quá trình điền dã thực địa, tại các địa điểm, thôn làng ở Thăng Long đã từng có người Thanh Hóa di cư đến sinh sống Nguồn tài liệu này đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin chân thực, góp cho nghiên cứu của chúng tôi toàn diện hơn
Để sử dụng những nguồn tài liệu này vào trong nghiên cứu, chúng tôi
đã tiến hành các phương pháp thống kê, phân loại Từ đó, có được những thông tin, những lập luận và những nhận xét xác đáng từ nguồn tư liệu thu thập được
Trang 115 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chúng tôi chia luận văn thành 3 chương chính như sau:
Chương 1: Người Thanh Hóa ra Thăng Long trước thế kỷ XVII và
bối cảnh Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII
Chương 2: Các thành phần dân cư Thanh Hóa ở Thăng Long thời
Lê – Trịnh
Chương 3: Tác động của người Thanh Hóa đối với Thăng Long thời
Lê – Trịnh
Trang 12Chương 1:
NGƯỜI THANH HÓA RA THĂNG LONG TRƯỚC THẾ KỶ XVII VÀ BỐI CẢNH ĐÀNG NGOÀI
THẾ KỶ XVII-XVIII
1.1 Người Thanh Hóa ra Thăng Long trước thế kỷ XVII
Thanh Hóa và Nghệ An từ lâu đã là vùng đất trọng yếu ở miền Trung của đất nước Từ trước thế kỷ XVII, khi đất nước ta còn chưa trải dài tới cực Nam là mũi Cà Mau như ngày nay, Thanh Nghệ là vùng đất phên dậu ở phía Nam đất nước Và sau này, khi đất nước đã mở rộng và dài, Thanh – Nghệ là
“khúc ruột” miền Trung tiếp nối giữa miền Bắc và miền Nam tổ quốc Sự tiếp nối này không chỉ mang tính chất địa lý mà còn mang tính lịch sử, văn hóa Các triều đại phong kiến, từ thời Lê sơ trở về trước đều xem Thanh Nghệ nói chung và Thanh Hóa nói riêng như vùng đất căn bản đối với sự hưng vong của đất nước, của triều đại
Từ đời Trần,triều đình đặt ra Kinh Trạng nguyên và Trại Trạng nguyên
là có ý phân biệt Thanh – Nghệ với các vùng đất khác Đây là một minh chứng cho thấy việc học hành, thi cử, đỗ đạt của những Nho sinh vùng Thanh Nghệ đã trở thành một xu hướng quan trọng khiến triều đình phải quan tâm, định rõ chính sách Truyền thống đỗ đạt này của học trò Thanh – Nghệ trên thực tế còn được tiếp nối mạnh mẽ trong các giai đoạn sau Và đây cũng chính là một luồng di cư quan trọng của người Thanh Hóa ra Thăng Long, di
cư với mục đích học hành, khoa cử
Từ thời Lý, Trần một số nhân vật người Thanh Hóa cũng đã được sử sách ghi chép lại những công lao đóng góp đối với đất nước như Đào Cam Mộc – một công thần có công lớn trong việc lên ngôi của Lý Công Uẩn [54],
Lê Phụng Hiểu với công lao phò vua trong “loạn Tam vương” được Lý Thái
Trang 13công trình Đại Việt sử ký… Những nhân vật này ra làm quan và ở kinh thành
Thăng Long, vậy nên những đóng góp của họ đối với đất nước ít nhiều cũng
để lại những dấu ấn trên đất Thăng Long văn vật
Sau khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427), luồng chuyển cư của người Thanh Hóa ra Thăng Long trở nên rõ nét hơn với việc nhà Lê được thành lập
và định đô tại Thăng Long Cùng với Lê Lợi ra định cư ở Thăng Long, một bộ
phận đông đảo các công thần, tướng lĩnh, thân tộc, binh lính Đại Việt sử ký
toàn thư ghi: tháng 2 năm 1428, “định mức khen thưởng cho những hỏa thủ
và quân nhân của quân Thiết đột có công lao siêng năng khó nhọc ở Lũng Nhai gồm 121 người:
Công hạng nhất, được ban quốc tính là bọn Lê Vấn, Lê Quy, Lê Dịch,
Lê Ê 52 người làm Vinh lộc đại phu, tả Kim ngô vệ đại tướng quân, tước Thượng trí tự
Công hạng hai, được ban quốc tính là bọn Lê Bồ, Lê Liệt, Lê Khảo 72 người, làm Trung lượng đại phu, Tả Phụng thần Vệ tướng quân, tước Đại trí tự
Công hạng ba, được ban quốc tính là bọn Lê Lễ… 94 người, làm Trung
vũ đại phu Câu kiềm vệ tướng quân, tước Trí tự” [28, tr.93]
Tháng 5 năm 1429, vua lại “ban hiển ngạch công thần cho 93 viên…
Ra lệnh chỉ rằng những văn võ hào kiệt nào còn bị bỏ sót, hoặc bị chìm đắm chưa có chức tước gì, không được ai tiến cử, hoặc vì thù hằn mà bị đè nén, vùi dập, thì đến ngay chỗ Thiếu phó Lê Văn Linh mà tự tiến” [28, tr.95]
Những công thần mà sử chép lại chỉ là con số rất ít trong tất cả những người đã có công phò Lê Lợi giành chiến thắng trong khởi nghĩa Lam Sơn Chắc chắn, với những công trạng ấy, một bộ phận không nhỏ trong số họ đã theo Lê Thái Tổ chuyển cư ra Thăng Long
Ngoài ra còn hàng vạn binh lính Thanh – Nghệ đã trung thành chiến đấu cùng nghĩa quân trong suốt cuộc kháng chiến Sách Lịch triều hiến
Trang 14chương loại chí, mục Bính chế chí ghi: “Thời Lê sơ, Thái Tổ khởi nghĩa, tuyển đinh tráng ở các xứ Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa làm binh, nhà nào có 3 người thì 1 người làm quân, thuế khóa giao dịch đều miễn trong 3 năm Sau khi dẹp giặc Minh mới tuyển dân các lộ sung quân” [6,
tr.336] Khi Lê Lợi lên ngôi, một bộ phận những binh lính này đã trở thành
chỗ dựa cho triều đình và chuyển cư cùng gia đình ra sinh sống tại Thăng Long Sự chuyển cư này hầu như không được sử sách ghi chép song chắc chắn nó chiếm số lượng đáng kể và có những đóng góp nhất định đối với sự phát triển của Thăng Long lúc bấy giờ
Sau khi đã định đô tại Thăng Long, vùng đất “thang mộc” Thanh Hóa
luôn được các vua Lê chú trọng Thống kê từ Đại Việt sử ký toàn thư cho
thấy, số lần vua về bái yết Sơn Lăng không ít và các vua Lê sau khi mất cũng được đưa về an táng tại Thanh Hóa
Bảng1.1: Vua Lê với Thanh Hóa thời Lê sơ
Stt Năm Nội dung sự kiện
1 1429 Vua về Tây Đô bái yết Sơn Lăng
2 1433 Rước vua Lê Thái Tổ về táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn Các quan theo
về Lam Kinh, dựng điện ở Lam Kinh
3 1434 Sai Hữu bộc xạ Lê Nhữ Lãm đến Lam Kinh dựng miếu thờ Thái mẫu
4 1438 Sai dân chúng 4 đạo đào các kênh Trường Yên, Thanh Hóa, Nghệ An
5 1442 Táng vua Lê Thái Tông ở phía bên tả Vĩnh Lăng ở Lam Sơn gọi là
Hựu Lăng
6 1448 Vua ngự về Lam Kinh, Thái hậu và các vươn đều đi theo
7 1448 Sai Thái úy Lê Khả đốc suất xây dựng miếu điện ở Lam Kinh
8 1456 Vua ngự về Lam Kinh
9 1459 Táng vua Lê Nhân Tông vào Mục Lăng ở Lam Sơn
Trang 1510 1461 Vua ngự về Lam Kinh bái Sơn Lăng
11 1464 Vua ngự về Tây Kinh bái yết Sơn Lăng
12 1467 Vua ngự về Tây Kinh, khi trở về tập trận ở sông Thiên Phái
13 1467 Mở rộng kênh sen ở Thuận Hóa và các kênh ở Thanh Hóa, Nghệ An
14 1468 Các quan theo hầu vua về Lam Kinh
15 1470 Vua ngự về Tây Kinh
16 1471 Trên đường đi đánh Chiêm Thành về, vua đến sông Phi Lai (xã Phi
Lai, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa) rồi cùng Hoàng thái hậu và Thái tử
về hành điện ở Thiên Phái Dâng thủ cấp của chúa Chiêm Thành là Trà Toàn ở Lam Kinh
17 1473 Vua ngự về Tây Kinh bái yết lăng miếu
18 1476 Vua ngự về Lam Kinh Sau đó đi thuyền nhẹ ra cửa Linh Trường (nay
là cửa Lạch Trường), làm thơ Linh Trường hải khẩu và bài tự
19 1482 Vua ngự về Tây Kinh
20 1492 Vua vốn thích thơ văn, ngự thuyền đến Lam Sơn làm thơ nhớ lại cơ
23 1501 Vua ngự về Tây Kinh
24 1504 Vua ngự về Tây Kinh, sau ngự về Lam Kinh
25 1504 Táng vua Lê Hiến Tông ở Dụ Lăng
26 1505 Táng vua Lê Túc Tông ở Kính Lăng
27 1511 Vua đi bái yết Lam Kinh
(Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội, 1993)
Trang 16Như vậy, dưới thời Lê sơ, từ khi Lê Thái Tổ lên ngôi (1428) đến khi Mạc Đăng Dung chiếm ngôi (1527) trải qua 100 năm, có ít nhất 27 lần được chép đến các Lê chính thức về Thanh Hóa, bái yết, xây lăng miếu, được táng hoặc chỉ là đi vãn cảnh Cứ vài năm nhà vua lại ngự về đất “thang mộc” một lần Điều này cho thấy sự quan tâm thường trực của các vua Lê đối với vùng đất trọng yếu này
Thời Lê sơ, người Thanh Hóa ra Thăng Long không chỉ bằng con đường hoạn lộ, binh nghiệp mà còn bởi mục đích học hành, thi cử Theo thống kê, có tới 46 tiến sĩ là người Thanh Hóa thời Lê sơ trong tổng số 1005 tiến sĩ cả nước thời kỳ này, chiếm gần 4,6% Con số này không phải là nhỏ so với 7 tiến sĩ người Thanh Hóa thời Trần và 7 thời Mạc Người Thanh Hóa cùng người Nghệ
An từ lâu đã được xem là những con người chăm chỉ học hành và đỗ đạt cao trong các khoa thi Bởi thế mà dân gian vẫn gọi đây là “vùng đất học” Một số nhân vật khoa bảng đất Thanh Hóa nổi tiếng phải kể đến như Phò mã Trịnh Thiết Trường đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị danh khoa Mậu Thìn năm
1468 đời Lê Nhân Tông, Lương Đắc Bằng đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị danh khoa Kỷ Mùi năm 1499 đời Lê Hiến Tông…
Một luồng chuyển cư khác cũng cần được quan tâm là luồng chuyển cư của các cá nhân, kéo theo sự phát sinh của cả một dòng họ gốc Thanh Hóa trên đất Thăng Long Gia phả họ Bùi ở Định Công, Thanh Trì, Hà Nội [77][78] cho biết, dòng họ này có gốc từ làng Cát Xuyên, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa di cư tới làng này từ thời Hồ Dòng họ Trương ở Như Quỳnh, Gia Lâm, Hà Nội còn lưu giữ gia phả [79] cho biết dòng họ này có ông tổ là Trương Lôi – một khai quốc công thần thời Lê Thái Tổ Ngoài ra còn một số dòng họ khác ở khu vực Thăng Long vẫn còn lưu giữ gia phả cho biết nguồn gốc chuyển cư từ Thanh Hóa [xem bảng 3 và 4 phần Phụ lục] Như vậy, các tài liệu gia phả này cho biết, nguồn gốc di cư của nhiều dòng họ vùng Thăng
Trang 17Long bắt nguồn từ Thanh Hóa, di cư ra Thăng Long từ trước thời Lê – Trịnh Những dòng họ này đến Thăng Long trước thời Lê – Trịnh và tới thời Lê – Trịnh thì đã có một quá trình định cư tại Thăng Long lâu dài, chắc chắn họ cũng có những đóng góp nhất định đối với sự phát triển và hưng thịnh của mảnh đất mà họ sinh sống
Như vậy, đến trước thế kỷ XVII, sự chuyển cư của người Thanh Hóa ra Thăng Long đã chiếm một số lượng đáng kể Sự chuyển cư này đặc biệt tăng
về số lượng sau cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi Thành phần chuyển cư không chỉ là các công thần, tướng lĩnh, binh lính mà còn là các quan lại chuyển cư theo con đường học hành khoa cử, và chắc chắn không thể thiếu các tầng lớp bình dân đã tạo lập thành các dòng họ định cư đông đúc ở Thăng Long – họ mới chính là thành phần đông đảo, góp phần quan trọng tạo nên diện mạo của Thăng Long thời Lê – Trịnh
1.2 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII
Thế kỷ XVII, XVIII chứng kiến sự biến động sâu sắc và phức tạp của lịch sử dân tộc, đặc biệt là ở Đàng Ngoài Bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội ở Đàng Ngoài thời kỳ này có ảnh hưởng lớn tới sự chuyển cư của người từ Thanh Hóa ra Thăng Long
Vào những năm cuối của thế kỷ XVI, cuộc chiến giành lại kinh thành giữa nhà Mạc – Bắc triều và nhà Lê trung hưng – Nam triều với sự phò giúp của họ Trịnh đã đi vào giai đoạn cuối cùng Năm 1592, quân Nam triều đã
mở cuộc tiến công quyết định vào thành Thăng Long và giành thắng lợi Con cháu nhà Mạc chạy lên Cao Bằng lập căn cứ, tiếp tục hoạt động chống lại nhà Lê cho đến năm 1677 mới chấm dứt hoàn toàn Họ Trịnh cùng các tướng lĩnh phò vua Lê trở về kinh thành Thăng Long Trịnh Tùng lên ngôi vương và dựng vương phủ ngay bên ngoài cung vua Từ đây, lịch sử Việt Nam chứng kiến sự hình thành một cục diện chính trị đặc biệt: “thể chế
Trang 18lưỡng đầu”, vua Lê – chúa Trịnh cùng nắm quyền bính nhưng thực chất quyền quyết định thuộc về phủ Chúa Năm 1599, vua Lê Thế Tôn sai đem kim sách phong Trịnh Tùng làm Đô nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An Vương Từ đây, trong gần 2 thế kỷ (XVII và XVIII), vua Lê – chúa Trịnh cùng nắm quyền cai quản Đàng Ngoài, trải 12 đời vua Lê và 10 đời chúa Trịnh:
1 Lê Thế tông (1537-1599) 1 Bình An vương Trịnh Tùng
4 Lê Chân tông (1643-1649)
5 Lê Huyền tông (1663-1671) 3 Tây vương Trịnh Tạc
(1657-1682)
6 Lê Gia tông (1672-1675)
7 Lê Hy tông (1679-1705) 4 Định vương Trịnh Căn
9 Điện Đô vương Trịnh Cán (1782)
10 Đoan Nam vương Trịnh Khải (1782-1786)
Trang 19Sự di dời từ Thanh Hóa ra Thăng Long của triều đình Lê – Trịnh sau khi đánh thắng nhà Mạc đã khiến cho diện mạo của luồng chuyển cư từ Thanh Hóa
ra Thăng Long có nhiều nét khác biệt so với các thời kỳ khác Từ đây, sự chuyển cư từ Thanh Hóa ra Thăng Long không chỉ có dòng họ của vua Lê mà còn có cả dòng họ của chúa Trịnh Điều này có nghĩa là, luồng di cư của người Thanh Hóa ra Thăng Long thời kỳ này đã mạnh mẽ hơn, đông đảo hơn, bao gồm nhiều thành phần dân cư hơn Nếu như trước đây chỉ là những tướng lĩnh, công thần có công với nhà vua di cư theo vua ra Thăng Long thì đến thời kỳ này, cùng hộ giá vua Lê hồi Kinh không chỉ là những công thần, tướng lĩnh mà còn thân tộc của nhà vua, thân thích, họ tộc của họ Trịnh cũng di cư theo
Tuy nhiên, quyền lợi của hai thế lực: vua Lê và chúa Trịnh vẫn không thể tách rời Cả hai vẫn phải tập trung đối đầu với nhiều thử thách Một mặt, vua Lê – chúa Trịnh phải đối phó với Đàng Trong – dưới sự trị vì của các chúa Nguyễn đã ngày càng lớn mạnh và trở thành lực lượng đối đầu với chính quyền Đàng Ngoài Một mặt, triều đình này còn phải tập trung tiêu diệt hết đồ đảng của nhà Mạc còn hoạt động khá mạnh ở vùng núi phía Bắc Bên cạnh
đó, nhiều cuộc nổi dậy, khởi nghĩa của nông dân đã diễn ra liên tiếp trong thời
kỳ này khiến cho chính quyền Lê – Trịnh phải nhiều phen lao đao, đáng kể phải kể đến khởi nghĩa Lê Duy Mật (1738-1770), khởi nghĩa Hoàng Công Chất (1739-1769), khởi nghĩa Nguyễn Danh Phương (1740-1751), khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu (1741-1751)…
Những biến động về chính trị còn dẫn tới hệ lụy đối với đời sống xã hội thời kỳ này Thế kỷ XV là thế kỷ chứng kiến sự hưng khởi của hệ tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam Sang đến thế kỷ XVII – XVIII, chính quyền Lê – Trịnh vẫn tiếp tục sử dụng và đề cao hệ tư tưởng Nho giáo để gây dựng lòng
“trung”, dùng Nho học để tuyền lựa người trong bộ máy chính quyền Song,
sự suy yếu của chính quyền trung ương, sự đấu tranh của các phe phái chính
Trang 20trị liên miên vào nửa cuối thế kỷ XVIII đã tác động xấu tới ảnh hưởng của hệ
tư tưởng này trong xã hội, mà rõ rệt nhất được phản ánh trong thực trạng giáo dục, khoa cử thời kỳ này
Trên thực tế, chính quyền Lê – Trịnh cũng như những chính quyền phong kiến khác đều chú trọng, chăm lo tới việc giáo dục, khoa cử, bởi đây là một trong những con đường chính để tuyển người phục vụ cho bộ máy hành chính của triều đình Tuy nhiên, sự tác động của những khủng hoảng về chính trị, suy yếu về kinh tế, đã làm cho giáo dục, khoa cử thời Lê – Trịnh, đặc biệt
từ nửa sau thế kỷ XVIII trở nên hỗn loạn và biến dạng Mục đích ban đầu của giáo dục và khoa cử là giáo dục con người, tuyển chọn người hiền tài đã bị lợi dụng để trở thành công cụ tiến thân, mua bán trao đổi của không ít quan lại, dân thường Tình hình khoa cử trở nên hỗn loạn cực điểm khi triều đình định
lệ thi khảo hạch năm 1750 Theo lệ thi này, để qua được kỳ thi khảo hạch, vào thẳng kỳ thi hương thì chỉ cần nộp đủ 3 quan tiền, gọi là “tiền thông kinh”
Năm 1750, “tháng 11, mùa đông Bắt đầu thu tiền thông kinh (…) Đến nay,
vì dùng quân đánh dẹp, chi phí mất nhiều, tài dụng trong nước không đủ Năm nào gặp khoa thi hương, thì hạ lệnh cho mỗi người nộp 3 quan tiền, sẽ miễn phải khảo hạch và đều cho đi thi” [46, tr.605] Nếu trước đây, việc gửi
gắm tiền bạc để lọt qua các vòng thi là chuyện làm không hề công khai thì nay đã được triều đình cho phép làm một cách ngang nhiên, thành lệ Đến mức, dân gian thời ấy gọi là “sinh đồ ba quan”, là những sinh đồ do có tiền
mà mua được chứ không phải do học hành Sự sa sút của chất lượng giáo dục, khoa cử thời kỳ này là một phản ánh đồng thời cũng là một nguyên nhân dẫn tới sự suy yếu, lỏng lẻo của bộ máy quan lại của chính quyền Lê – Trịnh
Trong tình hình chính trị rối ren đó, kinh tế Đàng Ngoài ở hai thế kỷ XVII, XVIII chịu ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt Trong đó, kinh tế nông nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ những biến động chính trị này
Trang 21Nhìn chung, kinh tế nông nghiệp Đàng Ngoài thời kỳ này là một bức tranh ảm đạm Sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ của ruộng đất tư hữu đã khiến cho chính quyền Lê – Trịnh không kiểm soát nổi và dần đi vào thế chấp nhận Ruộng đất ngày càng tập trung vào tay một số ít người Thời kỳ này đã ghi nhận những trường hợp sở hữu đất tư với diện tích cực lớn, như trường hợp
bà Bổi ở Tứ Kỳ, Hải Dương, năm 1720 đã sở hữu tới 1000 mẫu ruộng [34, tr.142] Quá trình tập trung ruộng đất đã dẫn tới sự hình thành các trang trại phong kiến tư nhân Sự phát triển của ruộng đất tư hữu nhanh chóng tới mức, năm 1722, chúa Trịnh Cương đã cho ban hành luật thuế mới Trong luật thuế này, ruộng tư cũng bị đánh thuế Song sự rệu rã của bộ máy hành chính đã khiến cho luật pháp không ngăn cản nội sự chiếm ruộng đất diễn ra tràn lan
Sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất đó đã dẫn tới những ảnh hưởng lớn đối với xã hội Ruộng đất tập trung vào tay một số ít người, khiến cho ruộng đất công ngày càng ít ỏi Sự phân hóa trong sở hữu ruộng đất ngày càng lớn Những người nông dân nghèo hèn ngày càng có ít ruộng hơn
để canh tác Họ phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ để canh tác Hoa lợi họ thu được phần lớn thuộc về địa chủ, trong khi đó, họ còn phải chịu sưu thuế đóng cho nhà nước Cộng thêm nạn cường hào lý dịch của các làng xã thời bấy giờ, cuối cùng những gì người nông dân nhận được từ canh tác là vô cùng ít ỏi Và đối với nhiều người, con đường cuối cùng của họ là phải bỏ làng, bỏ xóm đi tới nơi khác kiếm ăn Như vậy, một cách gián tiếp, sự phát triển của chế độ ruộng đất tư hữu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự di cư, rời bỏ làng quê của không ít dân cư, trong đó có nông dân ở miền trung Thanh – Nghệ
Trong chiến tranh, vùng đất Thanh Nghệ là đất căn bản của nhà Lê – Trịnh nên sự huy động sức người, sức của chủ yếu từ đây Do đó, đây cũng là vùng đất chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc chiến tranh Dân nghèo xiêu
Trang 22tán từ vùng Thanh – Nghệ với số lượng lớn là điều dễ hiểu Khâm định Việt
sử thông giám cương mục đã ghi chép lại rất nhiều lần cảnh đói nghèo, xiêu
tán của những người dân khốn cùng vùng Thanh – Nghệ cũng như cả nước trong cuộc nội chiến kéo dài liên miên suốt thời Lê – Trịnh
Bảng1.2: Thống kê thiên tai, nạn đói ở Thanh Hóa thời Lê – Trịnh
Stt Năm Hiện tượng Hậu quả
1 1592 Thủy tai lớn Thanh Hoa mất mùa, miền Tây và Nam
phần nhiều đói kém
2 1595 Mất mùa Dân đói to, phát sinh chứng dịch, thây chết
chồng chất với nhau, trộm cướp nổi lên từng đám, cướp của giết người, nhân dân không được yên nghiệp làm ăn
3 1595 Đại hạn
4 1595 Không mưa Lúa má bị chết khô, dân bị đói
5 1596 Đại hạn Lúa má chết khô, trộm giặc nổi lên nhiều,
nhân dân phần nhiều phải phiêu tán
6 1597 Đại hạn Cây cối chết khô
Lúa đang chin bị ngập nước mặn, dân gần biển phần nhiều bị hại
Trang 23Nhân dân Thanh Hoa bị nạn đói, phần nhiều phiêu tán
23 1703 Đại hạn Dân bị đói
24 1712 Không mưa Dân bị đói to
25 1713 Nước lớn, vỡ đê Các trấn Sơn Tây, Thanh Hoa, Sơn Nam
mấy vạn nhà bị nước cuốn đi mất, nhân dân
Trang 2428 1741 Dân bị đói to
29 1742 Dân Thanh Hoa bị đói
30 1748 Mưa to Lúa thóc thối nát
31 1749 Có thủy tai lớn Đê bị vỡ, nước tràn ngập
32 1757 Có thủy tai lớn
33 1759 Hạn hán, phát sinh
hoàng trùng
Thanh Hoa và Nghệ An bị đói
34 1760 Thanh Hoa bị thủy
tai
35 1764 Hạn hán
36 1765 Hạn hán Phát sinh chứng dịch
37 1768 Hạn hán Dân bị đói to
38 1769 Thanh Hoa có thủy
(Nguồn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb Giáo dục, HN, 1998)
Theo bảng thống kê trên, trung bình cứ 4.5 năm lại có một thiên tai, mất mùa hoặc nạn đói xảy ra Đặc biệt, có những năm cả hạn hán và thủy tai cùng xảy ra hoặc thiên tai xảy ra nhiều lần trong một năm như năm 1595 với
1 lần mất mùa và 2 lần hạn hán, năm 1598 có 2 lần hạn hán, năm 1773 vừa xảy ra thủy tai đã đến nạn hạn hán; hay có những năm, hạn hán, thủy tai, mất
Trang 25mùa, đói kém xảy ra liên tục nhiều năm liền như từ năm 1595, 1596, 1597,
1598, 1600 Những năm này lại là những năm ngay sau chiến tranh Nam – Bắc triều giữa vua Lê và nhà Mạc nên chắc chắn, tình hình đói kém, xiêu tán của nhân dân lại càng nặng nề
Là vùng đất miền Trung, nằm giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài nên về mặt địa lý, có hai sự lựa chọn cho sự chuyển cư của người Thanh Hóa: một là Nam tiến vào Đàng Trong với chúa Nguyễn đi khai phá những vùng đất mới đầy tiềm năng; hai là Bắc tiến ra Đàng Ngoài với chúa Trịnh làm quan, hay làm dân ngụ cư ở những xóm làng đồng bằng Bắc Bộ trù phú Đến nay vẫn chưa có sự thống kê nào đầy đủ cho thấy xu hướng di cư nào mạnh hơn, song
từ thực tế lịch sử cho thấy, luồng di cư vào Nam là rất lớn với hàng loạt làng xóm được lập nên trong thời kỳ này có nguồn gốc từ Thanh – Nghệ vào; trong khi đó, luồng di cư ra Bắc với vua Lê chúa Trịnh nổi bật hơn cả vẫn là để học hành, tiến thân theo con đường hoạn lộ
Bảng 1.3: Số lượng người Thanh Hóa đỗ Tiến sĩ so với cả nước qua
các thời kỳ
Triều đại Số người đỗ Tiến sĩ
Thanh Hóa Cả nước Tỷ lệ (%)
Lê trung hưng 108 774 14
(Nguồn: Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919), Nxb Văn học, 2006)
Ở bảng trên, có thể thấy thời Trần và thời Lê trung hưng, số người đỗ Tiến sĩ của Thanh Hóa chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn so với các thời kỳ khác Qua bảng này, phần nào chúng ta cũng thấy được mối liên hệ nào đó giữa các con
Trang 26số và các triều đại Chỉ vào thời Mạc – khi triều đại trị vì không có nguồn gốc
từ Thanh Hóa và vào thời kỳ có sự phân tranh giữa nhà Lê và nhà Mạc thì sự
đỗ đạt của người Thanh Hóa trong các kỳ thi của nhà Mạc ít hơn hẳn so với các thời kỳ khác Điều này phần nào phản ánh sự chuyển cư ra Thăng Long theo con đường học hành của người Thanh Hóa trong thời kỳ này đã phần nào
bị gián đoạn Còn lại vào các thời kỳ khác đều cho thấy một số lượng đáng kể những người Thanh Hóa đỗ đạt Đây mới chỉ là con số chỉ những người đỗ đạt cao nhất song cũng có thể là đại diện cho đông đảo những con người hiếu học đất Thanh Hóa tại Thăng Long, đại diện cho truyền thống học hành của người Thanh Hóa Một cách tương đối (bên cạnh những yếu tố chi phối như:
số năm tồn tại của triều đại, số lần mở khoa thi…) thì những con số này cho ta thấy một luồng chuyển cư đáng kể của người Thanh Hóa ra Thăng Long Trên thực tế, những người học hành này, khi đã đỗ đạt, đặc biệt là đỗ đầu (Tiến sĩ)
và ra làm quan, họ thường ở lại kinh thành, đem theo gia quyến, họ hàng thân thích định cư tại Thăng Long Và đây chính là một thành phần chuyển cư người Thanh Hóa đáng kể, để lại những dấu ấn sâu sắc trong quá trình chuyển
cư của người Thanh Hóa ra Thăng Long
Với luồng chuyển cư từ Thanh Hóa ra Thăng Long, ngoài nguyên nhân sâu xa từ lịch sử, văn hóa của vùng đất, còn có một nguyên nhân quan trọng nữa không thể bỏ qua là sức hút của kinh thành Thăng Long đối với những người dân các địa phương Nếu như Đàng Trong thu hút di cư bởi những đầm lầy phì nhiêu chưa được khai phá thì Đàng Ngoài, đặc biệt là Thăng Long thu hút di cư bởi nhiều lý do có từ trong lịch sử vùng đất
Từ trước khi Thăng Long trở thành kinh đô của cả nước năm 1010 thì vùng đất Thăng Long nói riêng và Đồng bằng Châu thổ sông Hồng đã là một vùng thu hút sự tập trung dân cư Sự trù phú của đất đai, sự ôn hòa của thời tiết, sự thuận tiện của vị trí địa lý đã biến Đồng bằng sông Hồng trở thành nơi
Trang 27thu hút các luồng di cư của cư dân Lạc Việt Sự định đô của các đời vua trước
Lý ở Cổ Loa, Tống Bình cũng là một nguyên nhân thu hút dân cư của vùng đồng bằng này Từ thời kỳ này, nền văn minh sông Hồng, văn minh lúa nước
đã chứng tỏ sự lớn mạnh, đông đúc của cộng đồng cư dân nơi đây
Sang đến thế kỷ XI, khi Lý Thái Tổ định đô tại Thăng Long, thì nơi đây thực sự trở thành một trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của cả nước Sang
đến các đời Trần, Lê, Thăng Long vẫn tiếp nối lịch sử là một “kinh đô của
muôn đời” Đến thời Lê – Trịnh, Thăng Long vẫn tiếp tục là kinh đô của cả
nước, tiếp tục đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và có sức thu hút mạnh mẽ đối với cư dân các địa phương khác Sức hút đối với cư dân của vùng đất Thăng Long lúc này, trước hết là bởi vị thế trung tâm, kinh đô của nó Song, ngoài nguyên nhân đó, Thăng Long thu hút dân cư còn bởi những điều kiện tự nhiên thuận lợi của bản thân vùng đất như: vị trí địa lý, khí hậu, đất đai…
Sức hút dân cư của Thăng Long thể hiện ở nhiều chiều hướng Đó là sự thu hút đối với cư dân Đồng bằng sông Hồng và các vùng ven đô Đây là lượng dân cư lớn di cư đến nội và ngoại thành Thăng Long, bao gồm nhiều thành phần Đó là di cư của các cá nhân làm quan lại, di cư của các dòng họ,
di cư của các làng nghề lập nên các phố nghề ở Thăng Long…
Sức hút của Thăng Long còn lan tỏa tới vùng Thanh – Nghệ Đây vốn
là vùng đất có vị trí địa lý, lịch sử đặc biệt của đất nước, là vùng đất gạch nối giữa miền Bắc và miền Nam của Đại Việt về cả địa lý và văn hóa Từ lâu đời, người dân Thanh Nghệ, do nhiều nguyên nhân lịch sử, địa lý, văn hóa, kinh tế
mà có được truyền thống hiếu học và đỗ đạt Và theo lẽ tự nhiên, những con người của vùng đất học này sẽ bị thu hút bởi vùng đất kinh đô – trung tâm chính trị của cả nước – là điều tất yếu
Đặc biệt, trong thời Lê – Trịnh, Thanh Hóa lại là vùng đất phát tích của
cả vua Lê và chúa Trịnh, do đó, truyền thống học hành, đỗ đạt của con người
Trang 28xứ Thanh lại càng được phát huy Hơn nữa, sự ổn định và phát triển của đất nước trong thời kỳ này cũng là một động lực khiến cho Thăng Long càng có sức hút hơn đối với cư dân các vùng miền Sự di cư của các quan lại người Thanh Hóa trong thời kỳ này chiếm một số lượng đáng kể Song song với quá trình chuyển cư của các quan lại là sự di cư của các thành phần dân cư khác như người đi học, thợ thủ công, người buôn bán… ra Thăng Long Sự di cư này có thể là hệ quả, hoặc tồn tại độc lập với sự di cư của quan lại, song cũng đóng góp nhiều đối với quá trình di cư của người dân Thanh Hóa ra Thăng Long thời Lê – Trịnh
* Tiểu kết
1 Trên thực tế, từ trước thế kỷ XVII, người Thanh Hóa ra Thăng Long
đã chiếm số lương đáng kể Từ thời Lý, Trần, Thanh Hóa đã được biết đến với một số tên tuổi nổi bật như Đào Cam Mộc, Lê Phục Hiểu, Lê Văn Hưu… Vai trò của vùng đất Thanh Nghệ trong chính sách của chính quyền trung ương luôn được đề cao, tới mức năm 1256, nhà Trần cho phân chia Kinh Trạng nguyên và Trại Trạng nguyên càng chứng tỏ sự quan tâm của triều đình tới các vùng đất trọng yếu này
Tới thời Lê sơ, vai trò của đất Thanh Hóa càng nổi bật hơn nữa với vai trò
là vùng đất phát tích của cả nhà Hồ và nhà Lê Đặc biệt, sau khởi nghĩa Lam Sơn, sự chuyển cư của người Thanh Hóa ra Thăng Long mang tính chất đặc biệt
và có phần nổi trội hơn Với vị thế của những người chiến thắng, giải phóng đất nước, những người Thanh Hóa gồm các công thần, tướng lĩnh, thân tộc, binh lính cùng gia quyến đã theo chân vua Lê ra định cư tại Thăng Long Làn sóng chuyển cư này chắc chắn có số lượng lớn hơn hẳn sự chuyển cư của người Thanh Hóa các thời kỳ trước và có ảnh hưởng tới Thăng Long rõ rệt hơn
2 Tình hình chính trị đầy biến động là một trong những đặc điểm nổi bật của xã hội Đàng Ngoài thế kỷ XVII Những cuộc nội chiến, khởi nghĩa
Trang 29diễn ra liên miên đã làm ảnh hưởng đến nhiều mặt của xã hội Bản thân chính quyền phong kiến Lê – Trịnh thời kỳ này, tự bản thân nó cũng bộc lộ những hạn chế, yếu kém trong việc trị vì Cùng với những ảnh hưởng của biến động
xã hội, sự tranh giành ảnh hưởng của những phe phái chính trị đã làm cho bộ máy cai trị của triều Lê – Trịnh ngày càng suy yếu Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình kinh tế, xã hội
Kinh tế nông nghiệp thời kỳ này chứng kiến sự trỗi dậy không thể ngăn cản của chế độ tư hữu ruộng đất Việc ruộng đất tập trung chủ yếu vào tay một số ít người đã khiến cho đại bộ phận nông dân không có đất canh tác Những cuộc chiến tranh liên miên, nạn cường hào ác bá lại đẩy thêm họ vào cảnh bần cùng Nạn xiêu tán của dân nghèo diễn ra hầu như khắp nơi Đối với dân nghèo vùng Thanh Nghệ, họ có hai hướng di cư để lựa chọn: Nam tiến hoặc Bắc tiến Và cả hai luồng di cư này đã nhận được sự hưởng ứng của không ít dân cư Tuy nhiên mỗi luồng di cư lại có những tính chất nhất định Luồng di cư vào Đàng Trong chủ yếu là những người dân nghèo cùng khổ, trong khi đó, luồng di cư ra Bắc chủ yếu là những người theo con đường học hành khoa cử, đỗ đạt làm quan lại
Đồng bằng sông Hồng nói chung và Thăng Long nói riêng vốn đã có sức hút đối với dân cư trong quá trình lịch sử Từ khi Thăng Long trở thành kinh đô của cả nước, sức hút này lại càng trở nên mạnh mẽ và rộng lớn Sức hút này không chỉ đối với cư dân vùng Đồng bằng sông Hồng mà còn lan tỏa tới cư dân vùng Thanh Nghệ và nhiều vùng miền khác trong cả nước
Vùng Thanh Nghệ, đặc biệt là Thanh Hóa có một vai trò lịch sử đặc biệt trong thời kỳ này Đây là vùng đất phát tích của cả ba triều vua: nhà Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới chiều hướng di cư của nhân dân vùng này Có lẽ, với cả ba, mà thực chất là hai triều đình này, thì người Thanh Hóa luôn có hai sự lựa chọn
Trang 30vùng đất để chuyển cư với hai tính chất khác nhau Di cư vào Nam là một con đường mới, một sự lựa chọn vùng đất hoàn toàn mới đối với tư duy truyền thống của người nông dân Vì thế mà có lẽ phải những người thực sự khốn cùng hoặc có trí phiêu lưu mới lựa chọn vùng đất mới này để lập nghiệp
Còn con đường di cư truyền thống là Bắc tiến, chủ yếu theo con đường hoạn lộ, học hành thi cử làm quan thì lại là một sự lựa chọn có vẻ như an toàn trong cách tư duy của người nông dân Do đó, lịch sử thời kỳ này đã chứng kiến sự chuyển cư khá lớn của những người Thanh Hóa ra học hành, làm quan tại Thăng Long Bên cạnh đó, sự di cư từ Thanh Hóa ra Thăng Long còn có nhiều nguyên nhân khác như di cư theo nghề (làm binh lính, các ngành nghề thủ công), di cư do xiêu tán… Dù với hình thức di cư nào thì thế kỷ XVII, XVIII cũng là hai thế kỷ chứng kiến một luồng di cư khá lớn từ Thanh Hóa ra Thăng Long
Trang 31Chương 2:
CÁC THÀNH PHẦN DÂN CƯ THANH HÓA
Ở THĂNG LONG THỜI LÊ – TRỊNH
Trên thực tế, một quá trình chuyển cư thường bao gồm nhiều thành phần dân cư, di cư vì nhiều lý do Để nghiên cứu được đầy đủ về quá trình di
cư đó, cần có nhiều nguồn từ liệu phong phú Song, đối với sự nghiên cứu di dân trong lịch sử trung đại, ở thời kỳ cách nay đã hàng trăm năm thì nguồn tư liệu lại khá khan hiếm Đối với tầng lớp làm quan, lại, tướng lĩnh, nguồn tư liệu có vẻ khả quan hơn bởi chính sử, nguồn tư sử cũng có ghi chép ít nhiều Song đối với tầng lớp bình dân thì nguồn tư liệu lại ít ỏi hơn Mà trên thực tế thì, lịch sử của một quá trình chuyển cư, tính chất, đặc điểm của nó phần lớn lại được tạo nên bởi những con người bình dân, những người chiếm số đông của cuộc chuyển cư đó Trong luận văn này, chúng tôi mong muốn dựng lên được bức tranh về toàn bộ cuộc chuyển cư của các tầng lớp dân cư, từ vua chúa, đến quan lại, đến các tầng lớp bình dân là người Thanh Hóa đến Thăng Long vào thời kỳ Lê – Trịnh Tuy nhiên, từ thực tế tư liệu, mong muốn này của chúng tôi bị hạn chế rất nhiều và những gì làm được chắc hẳn mới chỉ là những phác họa ban đầu Trong luận văn này, những thống kê, phân tích tư liệu của chúng tôi chủ yếu được lượm lặt từ những bộ chính sử, những cuốn
tư sử ít ỏi, những tư liệu rải rác trong dân gian như: gia phả, văn bia… ắt không tránh khỏi sự phiến diện Nhưng trong điều kiện tư liệu hiện có, chúng tôi đã cố gắng để có được một cái nhìn chung nhất và khách quan về xu hướng di cư nói chung của người Thanh Hóa ra Thăng Long thời Lê – Trịnh
và những đóng góp của nó đối với sự tồn tại và phát triển của kinh đô này
2.1 Chúa Trịnh
Từ năm 1593, Trịnh Tùng đã đưa vua Lê cùng hoàng tộc trở lại Thăng Long trong thế đại thắng quân Mạc Với vị thế phò vua Lê, chiếm lại được
Trang 32Thăng Long, thế lực của họ Trịnh ngày càng lấn át nhà Lê Lúc này, vua Lê chỉ còn là bù nhìn và hoàng tộc nhà Lê cũng chỉ có danh mà không có thực
Họ Trịnh chính thức giành quyền bính trong tay, nắm thực quyền quyết định mọi việc trọng đại của đất nước Trịnh Tùng xưng Vương, xây dựng Vương phủ (phủ Chúa) ngay bên ngoài cung vua, tạo thành một khu vực biệt lập dành riêng cho các chúa Trịnh
Trịnh Tùng là con thứ hai của Trịnh Kiểm1
“Bấy giờ vua Anh Tôn dời
về Đông Sơn, phong cho Trịnh Tùng làm Tả Thừa tướng Tiết chế mọi dinh tướng sĩ, để chống với quân Mạc, Trịnh Tùng sai các tướng giữ các nơi hiểm yếu, rất là chắc chắn… Đến năm Quý Mùi (1583), Trịnh Tùng xem thế mình
đã mạnh, mới cử binh mã ra đánh Sơn Nam (Nam Định) lấy được nhiều lương thực… Trịnh Tùng bèn nhất quyết cử đại binh ra đánh Thăng Long”
[48, tr.22-24] Dòng họ Trịnh chính thức khởi nghiệp “phò Lê” từ Trịnh Kiểm
ở đất Thanh Hóa, đến đời Trịnh Tùng đã tiến ra Bắc, chiếm lại kinh thành Thăng Long từ tay nhà Mạc Như vậy, chính thức từ đời Trịnh Tùng, dòng họ Trịnh đã tiến vào Thăng Long với tư cách của người chiến thắng, của một dòng họ trị vì mới
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: năm 1592, “Trịnh Tùng lập đàn, tế cáo trời đất và các vua Thái tổ, Thái tông nhà Lê, thể xin diệt giặc để phục thù Khi đại quân kéo đến bờ phía tây Ninh Giang, Tùng ra
ba điều buộc quân lính phải tuân giữ: 1 Không được tự tiện vào nhà nhân dân mà hái rau, kiếm củi 2 Không được cướp của cải, đồ vật và đẵn cây cối
3 Không được hiếp phụ nữa và giết người vì thù riêng Kẻ nào vi phạm những điều cấm trên đây sẽ trị theo quân luật Ba quân nghe theo lệnh,
phân tri, bỏ Biện Thượng lại về Sào Sơn, thường nhật vẫn chăn trâu thuê trong khu núi Lệ Sơn… Lúc bấy giờ đức Hưng Quốc công Nguyễn Kim tôn phù nhà Lê đóng đồn ở đất Mường Sùng xứ Ai Lao đang toan tính khôi phục cơ đồ nhà Lê, thấy Trịnh Kiểm có dũng lược Nguyễn Kim mới tâu cho làm Tri mã cơ Dục nghĩa hầu, ông lại gả con gái là Ngọc Bảo cho để cùng gia sức phù Lê… Trước khi chết, Nguyễn Kim giao cả binh quyền cho con rể là Trịnh Kiểm Trịnh Kiểm được gia phong làm Đô úy tướng Tiết chế thủy bộ mọi dinh gồm chúa Ngoại
Trang 33nghiêm chỉnh đội ngũ trẩy đi Quân trẩy đến đâu, nhân dân vẫn an cư ở đó
Họ tranh nhau đem rượu và trâu bò đến đón quan quân Tùng đốc thúc quân lính sang sông Khi tùng trẩy đến chùa Thiên Xuân, chúa mạc là Mậu Hợp cả
sợ, bỏ thành Thăng Long, qua sông Nhị, đóng ở xã Thổ Khối, để các đại tướng ở lại chia nhau đóng giữ các cửa thành Thăng Long… Bấy giờ, uy thế binh lực của quan quân vang dậy lẫy lừng Nhân dân phía tây nam đều như làn cỏ lướt theo chiều gió Hễ trẩy đến đâu là đấy hàng phục Nhị Hà trở về tây lại là đất của triều đình nhà Lê”[46, tr.188] Đến năm 1593, Trịnh Tùng
cùng quan quân rước xa giá vua Lê ra Thăng Long “Trịnh Tùng diệt nhà Mạc
rồi, tu tạo cung điện ở Thăng Long, một tháng hoàn thành, bèn sai các đại thần văn võ sắm sửa nghi trượng đi đón xa giá” [46, tr.200] Như vậy, bắt
đầu từ Trịnh Tùng, họ Trịnh cùng hàng loạt tướng lĩnh, binh lính đã cùng vua
Lê cùng chuyển cư ra Thăng Long
Cùng ra Thăng Long với chúa Trịnh, vua Lê lần này, chắc chắn có rất nhiều tướng lĩnh, binh lính, quan lại Riêng dòng họ chúa Trịnh, từ đây bắt đầu nhiều luồng di cư lớn và rộng khắp khu vực trung tâm và ven Thăng Long [8, tr.49-59] Sau đây là một số nhánh của dòng họ chúa Trịnh lập cư xung quanh và nội vùng Thăng Long mà chúng tôi thống kê được:
Người con thứ 6 của Trịnh Tùng là Dũng Lễ công Trịnh Giai (tức Trịnh Khải), được lập ấp Bảo Đà nay là thôn Bình Đà, xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội, tạo thành một nhánh họ Trịnh ở vùng này, hiện nay tại đây còn nhà thờ tổ và đông đảo con cháu họ Trịnh
Một nhánh khác của họ Trịnh thuộc dòng dõi chúa là dòng Trịnh Kiều (con
cả chúa Trịnh Tráng) chuyển đến làng Đại Tráng, thuộc Bắc Ninh ngày nay
Một nhánh nữa thuộc hậu duệ chúa Trịnh Tráng là dòng Trịnh Trượng (con thứ ba chúa Trịnh Tráng) đến định cư ở làng Lâm Hộ, thôn Yên Vinh, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 34Một dòng của Dương nghĩa công Trịnh Đỗ dời về làng Yên Phú (gần thị trấn Bần, Yên Nhân, Hưng Yên ngày nay)
Con thứ hai của chúa Trịnh Căn là Trịnh Ruyên (còn gọi là Trịnh Bách) lập cư ở huyện Thạch Thất, Hà Nội
Con thứ ba của chúa Trịnh Căn là Đề quận công Trịnh Lan (còn gọi là Trịnh Triệu) lập cư ở làng Đôn Thư, nay là thôn Đôn Thư, xã Kim Thư, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Một con chúa Trịnh Căn cũng dời đến định cư ở làng Đông Mai, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Một tướng của chúa Trịnh là Trịnh Phúc Khang đã dời đến lập cư tại làng Phù Lỗ, nay là huyện Sóc Sơn, Hà Nội Dòng họ này về sau phát đạt về
võ nghiệp
Đông đảo con cháu của Trịnh Liêu lập cư xung quanh khu vực phía Bắc và phía Tây Thăng Long Trịnh Liêu là con thứ ba Lương mục vương Trịnh Vịnh và là con rể vua Lê Hy Tông Hiện nay hậu duệ của ông sinh sống đông đảo ở các làng Phí Xá, Định Mỗ, Cao Thọ và vùng lân cận huyện Gia Lương, Bắc Ninh; ở các làng Cống Xuyên, Liễu Viên và vùng lân cận thuộc huyện Thường Tín; ở làng Đặng Xá và vùng lân cận thuộc huyện Ứng Hòa; ở các làng Yên Lộ, Yên Định xã Yên Nghĩa và vùng lân cận thuộc huyện Hoài Đức, làng Thịnh Bài thuộc huyện Ba Vì
Di duệ của chúa Trịnh Khải là Thái tử Trịnh Vân được một vị quan họ
Lê đưa về sinh sống tại làng Hưng Giáo, huyện Thanh Oai, Hà Nội và chuyển sang họ Lê để tránh sự truy sát của triều đại sau
Hậu duệ của Huy quận công Trịnh Tập (con thứ ba chúa Trịnh Cương) sinh sống ở các làng Chúc Sơn và Chúc Lý thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Nội
Hậu duệ của Khang quận công Trịnh Kiều (con thứ tư chúa Trịnh Cương) sinh sống ở các làng Đồng Hoàng, Đồng Mai, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Trang 35Hậu duệ của Thọ quận công Trịnh Đang (con thứ năm của chúa Trịnh Cương) sinh sống ở làng Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, Hà Tây (cũ)
Hậu duệ của Thụy quận công Trịnh Lệ (con thứ hai chúa Trịnh Doanh) sinh sống ở Nễ Châu, xã Hồng Nam, Thị xã Hưng Yên và Tiên Hội, Đông Anh
Hậu duệ của chúa Trịnh Bồng ở huyện Chương Đức – đây là nơi chúa lánh nạn khi quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long Ngoài ra, hậu duệ của chúa còn
có ở vùng Kinh Bắc – là quê của bà vợ cả chúa, cũng là nơi chúa về lánh nạn
Trên đây mới chỉ là những thống kê sơ lược các chi nhánh thuộc dòng dõi các chúa Trịnh sinh sống ở vùng Thăng Long và vùng ven Thăng Long Trên thực tế, có nhiều hậu duệ khác của các chúa Trịnh đã chuyển cư sinh sống ở nhiều nơi trên đất nước, song khu vực Thăng Long và ven Thăng Long vẫn là nơi tập trung nhiều nhất con cháu dòng chúa Trịnh
Như vậy, bắt đầu từ Trịnh Tùng, dòng dõi chúa Trịnh chuyển ra Thăng Long định cư và nhanh chóng lan tỏa ra các khu vực lân cận, bao bọc lấy kinh thành Con cháu họ Trịnh ngày càng đông đúc và chắc chắn đã để lại những dấu ấn trên mảnh đất kinh thành Thăng Long thời bấy giờ
Trang 362.2 Vua Lê
Nếu mối quan hệ của các chúa Trịnh với Thăng Long được sử sách ghi chép đậm nét thì mối quan hệ của các vua Lê với Thăng Long thời Lê trung hưng có phần nhạt nhòa trong các tư liệu sử Có chăng chỉ là mối quan hệ với quê hương Thanh Hóa được ghi chép lại ít nhiều qua những lần an táng sau khi vua mất Điều này cũng dễ lý giải bởi lẽ, nhân vật chính trên chính trường lúc này là các chúa Trịnh chứ không phải là các vua Lê Hình ảnh của họ trong triều chính cũng đã nhạt nhòa như quyền lực thực tế của họ vậy Các chính sách trong mối quan hệ với vùng đất khởi nghiệp Thanh Hóa cũng chủ yếu do các chúa Trịnh quyết định Mối quan hệ với đất “thang mộc” của các vua Lê lúc này chủ yếu là các hoạt động mang tính chất lễ nghi bắt buộc Dưới đây là những thống kê các sự kiện chứng tỏ mối quan hệ của các vua Lê
với quê hương Thanh Hóa thời Lê – Trịnh được chép trong sách Khâm định
Việt sử thông giám cương mục:
Bảng 2.1: Vua Lê với Thanh Hóa thời Lê – Trịnh
1 1599 Vua mất, miếu hiệu là Thế Tông, táng ở lăng Hoa Nhạc (thuộc
địa phận xã Đông Sơn, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa)
2 1600 Kế Quận công Phan Ngạn,… làm phản, nhà vua đi Thanh Hoa
3 1619 Vua mất, táng ở lăng Bố Vệ, sau tôn miếu hiệu là Kính Tông
4 1623 Trịnh Tráng rước nhà vua đi Thanh Hoa
5 1649 Vua mất, miếu hiệu là Chân Tông, táng ở lăng Hoa Phố
6 1671 Vua mất, miếu hiệu là Huyền Tông, táng ở lăng Quả Thịnh (xã
Quả Nhuệ, huyện Lôi Dương, Thanh Hóa)
7 1675 Vua mất, miếu hiệu là Gia Tông, táng ở lăng Phúc An (xã Phúc
Lộc, huyện Thụy Nguyên, Thanh Hóa)
Trang 378 1716 Thái thượng hoàng mất, miếu hiệu là Hy Tông, táng ở Phú Lăng
(xã Phú Lâm, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa)
9 1731 Thái Thượng hoàng mất, miếu hiệu là Dụ Tông, táng ở lăng Cổ
Đô (xã Cổ Đô, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa, sau dời đi táng ở lăng Kim Thạch, huyện Lôi Dương)
10 1735 Vua mất, miếu hiệu là Thuần Tông, táng ở lăng Bình Ngô (thôn
Bình Ngô, huyện Thụy Nguyên, Thanh Hóa)
11 1786 Vua mất, miếu hiệu là Hiển Tông, táng ở lăng Bàn Thạch
(huyện Lôi Dương, Thanh Hóa)
(Nguồn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội)
Qua bảng trên có thể thấy rõ, các hoạt động liên quan tới Thanh Hóa của các vua Lê chủ yếu là các hoạt động mang tính chất nghi lễ Nếu như ở thời Lê sơ, khi triều chính vẫn còn nằm trong quyền kiểm soát của các vua Lê, hoạt động của các vua Lê ở vùng đất Thanh Hóa là những lần bái yết Lam Kinh, tu sửa đền miếu, vãn cảnh quê hương… thì ở giai đoạn này, các hoạt động đó gần như vắng bóng Có thể thấy là trong 11 lần sử sách ghi chép, chỉ
có 2 lần vua đi Thanh Hóa là vì lý do chạy loạn (năm 1600 và 1623) Đây là
những lần kinh thành bị uy hiếp bởi các phiến quân nổi loạn Năm 1600, “bọn
Kế quận công Phan Ngạn, Tráng quận công Ngô Đình Nga và Mỹ quận công Bùi Văn Khuê làm phản… Tùng bèn rước nhà vua về Thanh Hoa để cho nơi căn bản được vững vàng” [46, tr.227] Năm 1623 vua đi Thanh Hoa cũng vì
cớ chạy loạn: “Vì cớ con là Xuân nổi loạn, Tùng phải chạy vạy ở bên ngoài,
bệnh nặng, mất ở chùa Thanh Xuân Con là Tráng kế tiếp nối chính quyền Lúc ấy, đồ đảng của Xuân nhiều người trốn thoát, lòng người nôn nao Nhân đấy, Tráng rước nhà vua đi Thanh Hoa, để lo toan việc yên ninh sum họp”
[46, tr.242] Còn lại các sự kiện khác, chủ yếu là những lần vua băng hà và được táng tại các lăng thuộc địa phận Thanh Hóa
Trang 38Như vậy là có thể thấy, giai đoạn Lê trung hưng, mối liên hệ của các vua
Lê với quê hương Thanh Hóa có phần mờ nhạt hơn giai đoạn trước, tuy nhiên,
nó vẫn được duy trì ở mức độ nhất định Các sự kiện có liên quan tới Thanh Hóa của các vua Lê chủ yếu là những hoạt động bắt buộc, như mất thì chôn tại đất “thang mộc”, hay khi có biến thì chạy loạn về đất căn bản Còn lại các hoạt động khác như bái yết Sơn Lăng – một hoạt động gần như có tính chất lễ nghi bắt buộc của các đời vua Lê trước thì hầu như không thấy được ghi chép trong thời kỳ trung hưng này Tóm lại, lúc này, các hoạt động chính trị, kể cả những hoạt động liên quan tới quê hương của các vua Lê đã bị hạn chế rất nhiều so với thời kỳ trước Song mối quan hệ với quê hương Thanh Hóa vẫn được giữ ở
một mức độ nhất định, là nơi “trở về” của các vua Lê sau khi mất
2.3 Tướng lĩnh, binh lính, quan lại
Sự chuyển cư của người Thanh Hóa ra Thăng Long bao gồm nhiều thành phần dân cư và với nhiều nguyên do khác nhau Từ thời trung hưng, sự chuyển cư này lại mang một đặc tính mới, đó là sự góp mặt đông đảo của tầng tướng lĩnh, binh lính, quan lại
Trong lần tiến đánh lớn ra Bắc, Trịnh Tùng huy động tới 5 vạn quân Đội quân này đã theo Trịnh Tùng tiến ra đánh chiếm Thăng Long theo các mũi tiến công
Trịnh gia chính phả cho biết: Năm Tân Mão (1591), “Trịnh Tùng bèn chia năm vạn quân ra làm năm đạo, giao cho Thái phó Nguyễn Hữu Liêu, Thái úy Hoàng Đình Ái, Lân quận công Hà Thế (Thọ) Lộc, Thế quận công Ngô Cảnh Hựu mỗi người lĩnh một đạo, còn mình tự thân chính làm tướng đem hai vạn quân thẳng của Thiên Quan (Ninh Bình) tiến đánh nhà Mạc”
[48, tr.24-25] Như vậy, dẫn đầu các đạo quân là các tướng chỉ huy giỏi nhất của Trịnh Tùng: Nguyễn Hữu Liêu, Hoàng Đình Ái, Hà Thọ Lộc, Ngô Cảnh Hựu Và theo các tướng lĩnh này, trong đó có Trịnh Tùng, có tới 5 vạn quân cùng tiến đánh quân Mạc
Trang 39Tháng Giêng năm 1592, Trịnh Tùng dàn bày thế trận chuẩn bị tiến
đánh Thăng Long, Trịnh gia chính phả cho biết các mũi tiến công như sau:
“Nguyễn Hữu Liêu và Trịnh Ninh làm tả dực cầm một vạn quân và voi đánh lấy cầu Gia Kiều (nay là Thịnh Quang)”
“Hoàng Đình Ái và Trịnh Đồng làm hữu dực có 10.500 quân và voi, đánh nhau với Nguyễn Quyện mặt nam thành Thăng Long: cửa Triều Kiều (Bạch Mai) và cửa Nam Giao”
“Tiền quân và trung quân có Trịnh Đỗ đốc suất”
“Trịnh Tùng làm hậu tập có 25.000 quân”
“Thụy trang hầu cầm 1.200 quân nghe hiệu lệnh phải đánh tiên phong, lấy cầu Mộng Kiều và cửa Mộng Kiều ở mặt nam thành Thăng Long” [48, tr.27]
Trong đợt tiến công trực tiếp vào thành Thăng Long này, tổng cộng ít nhất có gần 3 vạn quân Và các đội quân này, sau khi Trịnh Tùng chiếm được thành Thăng Long, chắc chắn sẽ theo xa giá vua Lê và chúa ra định cư tại Thăng Long
Sách Lịch triều hiến chương loại chí cho biết rõ hơn về binh chế thời trung hưng: “Buổi đầu đời Trung hưng đặt ngạch quân đại khái theo quy chế
cũ… Bấy giờ chỉ lấy quân ở hai xứ Thanh Hoa, Nghệ An, khi có việc thì gọi hết các đinh tráng có tên trong sổ… Đến đời Quang Hưng (2) , sau khi thu phục đất nước, duyệt tất cả các quân thủy, bộ, cộng 12 vạn”[6, tr.321] Như vậy,
trước khi trở về kinh thành Thăng Long, quân đội của nhà Lê tổng cộng có khoảng 12 vạn, gồm đinh tráng ở hai xứ Thanh Hoa và Nghệ An
Năm 1721, tháng 12, “Trịnh Cương hạ lệnh nói: Triều ta lúc bắt đầu
mở nước sắp xếp ngạch lính, đặt từng vệ, từng sở, lựa chọn dân đinh để bổ dụng vào quân ngũ Từ lúc trung hưng, dùng binh lính Thanh Nghệ diệt hết
(2) Quang Hưng: Niên hiệu Lê Thế Tông (1588 - 1600)
Trang 40giặc Mạc, khôi phục được đất nước, rồi giữ luôn binh kính ấy đóng ở kinh đô
để đủ số lính chầu chực và bảo vệ hoàng thành; còn binh lính ở bốn trấn, chỉ giữ có ngạch không, lúc có việc mới bắt tập họp để phân phối, xong việc lại cho trở về làm ruộng” [46, tr.428] Như vậy, sau khi trung hưng, trở về định
đô tại Thăng Long, toàn bộ số quân tuyển được từ Thanh Hóa và Nghệ An gồm 12 vạn đã chuyển cư ra Thăng Long cùng xa giá vua Lê Luồng chuyển
cư của người Thanh Hóa ra Thăng Long lúc này tiếp nhận thêm một bộ phận đông đảo binh lính Đây là một con số dân cư lớn, chắc chắn đã có những đóng góp không nhỏ vào việc hình thành diện mạo của kinh thành Thăng Long thời Lê trung hưng Ngoài ra, trong các lần tổ chức võ cử thời Lê trung hưng, có tới 44/199 Tiến sĩ võ (Tạo sĩ) là người Thanh Hóa (tính cả những người trong Tôn thất họ Trịnh), chiếm hơn 22% tổng số Tạo sĩ cả nước thời
Lê trung hưng Đây cũng là con số không nhỏ cho thấy nhiều người Thanh Hóa theo nghiệp võ cử và đã đỗ đạt (Xem bảng 2 phần Phụ lục)
Năm 1740, “tuyển thêm ưu binh Từ lúc trung hưng trở về sau, huyện
lấy lính ở Thanh – Nghệ sung vào việc bảo vệ, gọi là “ưu binh” Về ngạch lính: cứ 3 suất định lấy 1 lính Năm 1721, định lại chế độ binh lính, cứ 5 suất đinh lấy 1 lính Đến nay tuyển thêm lính, lại theo ngạch cũ 3 suất định lấy 1 lính Người nào đã tuyển được thì phân phối đưa đi luyện tập, sau dẫn vào phủ đường thi khảo, rồi bổ thuộc các đội ngũ” [46, tr.517] Như vậy, đinh
tráng người Thanh – Nghệ là nguồn bổ sung chủ yếu và thường xuyên vào đội ngũ binh lính chuyên bảo vệ triều đình và hoàng thành, được gọi là ưu binh Những ưu binh này được sử sách ghi chép lại với nhiều công trạng nhưng cũng lắm thói nhiễu nhương Họ được ưu ái nhiều đến mức sau này, vào cuối thời trung hưng đã sinh ra nạn kiêu binh
Bên cạnh đông đảo các tướng lĩnh, binh lính chuyển cư cùng vua Lê, chúa Trịnh ra kinh thành Thăng Long, người Thanh Hóa ở Thăng Long thời