1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV AIDS thông qua đồng đẳng viên ( nghiên cứu trường hợp tại huy

121 504 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình hoạt động của các nhóm đồng đẳng viên về chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS tại huyện Đông Triều.. Dự án "Mạng lưới chăm sóc và hỗ trợ cho người sống chung với HIV/

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐINH THỊ GẤM

TÌM HIỂU MÔ HÌNH CHĂM SÓC, HỖ TRỢ TẠI NHÀ CHO NGƯỜI CÓ HIV/AIDS THÔNG QUA ĐỒNG ĐẲNG VIÊN (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI HUYỆN ĐÔNG

TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐINH THỊ GẤM

TÌM HIỂU MÔ HÌNH CHĂM SÓC, HỖ TRỢ TẠI NHÀ CHO NGƯỜI CÓ HIV/AIDS THÔNG QUA ĐỒNG ĐẲNG VIÊN (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI HUYỆN ĐÔNG

TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH)

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Nguyên Anh

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đặng Nguyên Anh

Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, tháng 4 năm 2015 Tác giả luận văn

Đinh Thị Gấm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Nguyên Anh, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và đóng góp ý kiến quý báu trong suốt thời gian tôi tiến hành nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo và đặc biệt là các thầy cô giáo trong bộ môn Công tác xã hội, Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong học tập và hoàn thành luận văn này

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC - 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT - i

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU - ii

MỞ ĐẦU - 1

1 Lý do lựa chọn đề tài - 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu - 3

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài - 3

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước - 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - 10

3.1 Mục đích nghiên cứu - 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu - 10

4 Ý nghĩa của nghiên cứu - 11

4.1 Ý nghĩa khoa học - 11

4.2 Ý nghĩa chính sách và thực tiễn - 11

5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu - 12

5.1 Đối tượng nghiên cứu - 12

5.2 Khách thể nghiên cứu - 12

6 Phạm vi nghiên cứu - 12

6.1 Giới hạn về không gian: - 12

6.2 Giới hạn về thời gian - 12

6.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu - 12

7 Câu hỏi nghiên cứu - 12

8 Giả thuyết nghiên cứu - 13

9 Phương pháp nghiên cứu - 13

10 Bố cục luận văn - 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU - 16

1.1 Một số khái niệm liên quan - 16

Trang 6

1.1.1 HIV - 16

1.1.2 AIDS - 16

1.1.3 Người có HIV/AIDS - 17

1.1.4 Đồng đẳng viên - 17

1.1.5 Chăm sóc tại nhà - 18

1.1.6 Vai trò - 20

1.1.7 Vai trò trong chăm sóc tại nhà - 20

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu - 22

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu - 23

1.3.1 Khái quát về tỉnh Quảng Ninh - 23

1.3.2 Khái quát về huyện Đông Triều - 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIV/AIDS VÀ NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC ĐỒNG ĐẲNG VIÊN TRONG CHĂM SÓC, HỖ TRỢ TẠI NHÀ CHO NGƯỜI CÓ HIV/AIDS TẠI ĐÔNG TRIỀU, QUẢNG NINH - 28

2.1 Thực trạng về HIV/AIDS tại tỉnh Quảng Ninh và Đông Triều - 28

2.1.1 Tình hình nhiễm HIV/AIDS - 28

2.1.2 Kết quả hoạt động và tồn tại - 28

2.2 Thực trạng về người có HIV/AIDS tại gia đình và cộng đồng ở huyện Đông Triều 30 2.2.1 Nhu cầu của người có HIV/AIDS trong chăm sóc, hỗ trợ tại nhà - 30

2.2.2 Kết quả hoạt động và tồn tại về chăm sóc tại nhà cho người có HIV/AIDS tại huyện Đông Triều - 34

2.3 Tình hình hoạt động của các nhóm đồng đẳng viên về chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS tại huyện Đông Triều - 35

2.3.1 Tổ chức và phương thức hoạt động - 35

2.3.2 Năng lực chăm sóc, hỗ trợ tại nhà tại cộng đồng - 38

2.3.3 Thuận lợi và thách thức - 40

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH CHĂM SÓC, HỖ TRỢ TẠI NHÀ CHO NGƯỜI CÓ HIV/AIDS THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG ĐỒNG ĐẲNG VIÊN -

Trang 7

- 45

3.1 Trong hoạt động chăm sóc sức khỏe thể chất - 45

3.1.1 Chăm sóc triệu chứng và hướng dẫn vệ sinh - 47

3.1.2 Hướng dẫn, hỗ trợ tuân thủ, điều trị thuốc kháng Retro vi rút ARV - 53

3.1.3 Tư vấn dinh dưỡng (Hỗ trợ/hướng dẫn về thực phẩm và dinh dưỡng: cung cấp thực phẩm bổ xung, tư vấn dinh dưỡng hợp lý …) - 57

3.1.4 Giới thiệu khách hàng chuyển tuyến, tiếp cận điều trị ARV khi cần thiết 62

3.2 Trong hoạt động dự phòng lây nhiễm - 66

3.2.1 Hướng dẫn và khuyến khích tình dục an toàn, tiêm chích an toàn - 67

3.2.2 Tư vấn và hỗ trợ tiết lộ tình trạng HIV, giới thiệu dịch vụ xét nghiệm VCT 71

3.2.3 Giáo dục thông tin về dự phòng lây truyền từ mẹ sang con - 75

3.3 Trong hoạt động hỗ trợ về tâm lý, tâm linh tinh thần - 77

3.3.1 Gần gũi, chia sẻ, động viên người có HIV+ - 77

3.3.2 Vận động các nhà sư tham gia thực hiện chăm sóc về tinh thần, niềm tin, tín ngưỡng và tôn giáo cho người có HIV+ - 81

3.4 Hiệu quả hoạt động của nhóm ĐĐV chăm sóc tại nhà - 85

KẾT LUẬN - 93

KHUYẾN NGHỊ - 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 99 PHẦN PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Các đối tượng được phỏng vấn sâu

Biểu 1.1: Mô hình chăm sóc toàn diện và liên tục cho người có HIV/AIDS Bảng 2.1: Các nhu cầu cơ bản về chăm sóc hỗ trợ tại nhà cho người có HIV+ Biểu 2.2: Tổng số PLHIV và số người bị ảnh hưởng bởi HIV được tiếp cận và chăm sóc trong chương trình dưới sự cộng tác của các ĐĐV là PLHIV

Biểu 3.1: Vòng luẩn quẩn giữa thiếu vi chất dinh dưỡng và sinh bệnh học HIV Biểu 3.2: Tổng số khách hàng được nhận hỗ trợ lương thực thực phẩm

Biểu 3.3: Tổng số được hỗ trợ chuyển gửi đăng ký điều trị ARV và điều trị NTCH

Bảng 3.6: Nội dung của các chương trình tập huấn mà các ĐĐV được tham dự Bảng 4: Tỷ lệ nhận các loại chăm sóc hỗ trợ cho PLHIV và đánh giá về hiệu quả

Trang 10

HIV/AIDS đã trở thành đại dịch của thế giới, tác động và đe dọa đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội Đại dịch HIV/AIDS còn từng bước lan ra các nhóm dân cư trong cộng đồng, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự

và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước Đến nay, hơn 20 năm

đã qua kể từ khi Việt Nam đương đầu và ứng phó với HIV/AIDS, đến cuối năm

2013 cả nước có 216.254 người nhiễm HIV đang còn sống, trong đó có 66.533 người ở giai đoạn AIDS và kể từ đầu vụ dịch đến nay đã có 68.977 người tử vong

do HIV/AIDS So sánh số trường hợp được xét nghiệm phát hiện và báo cáo nhiễm HIV 11 tháng đầu năm 2013 so với cùng kỳ năm 2012: số trường hợp nhiễm HIV giảm 15% (2062 trường hợp), số bệnh nhân AIDS giảm 16% (1064 trường hợp), tử vong do AIDS giảm 2% (40 trường hợp), 16 tỉnh có số người nhiễm HIV được mới xét nghiệm phát hiện tăng hơn so với cùng kỳ năm 2012 và 47 tỉnh có số người nhiễm HIV được xét nghiệm phát hiện giảm Trung bình mỗi tháng trong năm 2013

có 1.100 người nhiễm HIV phát hiện mới Qua các số liệu giám sát cho thấy dịch HIV/AIDS đã xuất hiện ở 100% tỉnh, thành phố từ năm 1998 đến nay, 97,9% số quận, huyện và trên 75,23%, số xã, phường có người nhiễm HIV/AIDS được báo cáo [3, tr.4,5]

Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện nguyên tắc 03 thống nhất

do Liên Hợp Quốc khởi xướng phát động Năm 2013, Việt Nam đã khống chế tỷ lệ nhiễm HIV dưới 0,3% trong cộng đồng dân cư Chương trình can thiệp giảm tác hại

Trang 11

và phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS được duy trì từ nhiều năm nay và đã đạt được những kết quả đáng kể Để có được những kết quả đó, không thể không nhắc tới vai trò tích cực đội ngũ tuyên truyền viên đồng đẳng đã góp phần nâng cao nhận thức

xã hội trong việc tự bảo vệ mình, bảo vệ cộng đồng trước căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS [1]

Quảng Ninh là tỉnh đứng trong tốp đầu của cả nước về tỷ lệ nhiễm HIV (chiếm khoảng 1% dân số toàn tỉnh) Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2013, toàn tỉnh có 5.079 người nhiễm HIV/AIDS còn sống và 4.864 trường hợp tử vong do HIV/AIDS; số người nhiễm HIV mới phát hiện trong năm 2013 là 306 người; số trường hợp chuyển AIDS 298 người; số trường hợp tử vong năm 2013 là 146 người; 164/186 xã, phường có người nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh [26]

Đông Triều là một huyện lớn của tỉnh Quảng Ninh với diện tích khoảng 500 km2 và khoảng 154.000 nghìn dân Trường hợp đầu tiên nhiễm HIV được phát hiện

ở Đông Triều vào năm 1997 Tính đến cuối năm 2013, toàn bộ 21/21 xã/thị trấn trên địa bàn huyện đều có người nhiễm HIV, với con số lên đến 804 người trong đó số trường hợp chuyển sang AIDS là 618 người, số trường hợp tử vong là 456 người, đặc biệt đã phát hiện 19 trẻ em bị nhiễm HIV Tại thời điểm này, các hoạt động về HIV/AIDS tại huyện Đông Triều chủ yếu tập trung vào tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS, tư vấn xét nghiệm miễn phí (VCT), điều trị kháng virus (ARV), các hoạt động thuộc mảng chăm sóc sức khỏe cho người có HIV, sống chung với HIV (PLHIV) tại nhà/cộng đồng hầu như chưa được thực hiện hoặc còn ở mức độ hạn chế, đặc biệt các hoạt động chăm sóc và điều trị cho PLHIV chủ yếu được tập trung trách nhiệm và thực hiện bởi các đơn vị thuộc ngành y tế Bên cạnh đó, năng lực của PLHIV và gia đình họ trong việc thực hiện tự chăm sóc tại nhà còn rất thấp và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân Việc tham gia của PLHIV trong các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại địa phương ở mức độ ít và chủ yếu trong vai trò người hưởng lợi Ngoài ra, sự tham gia của các ban ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội tại địa phương trong các hoạt động chăm sóc và hỗ trợ cho PLHIV tại cộng đồng còn nhiều hạn chế và mang tính kỳ cuộc Hơn thế nữa, tình trạng kỳ thị, phân biệt

Trang 12

đối xử với PLHIV và gia đình họ còn tồn tại trong cộng đồng Điều này dẫn đến việc PLHIV che dấu tình trạng HIV của mình, đây là một rào cản chính đối với việc PLHIV tiếp cận các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ, đồng thời cũng là thách thức trong việc cung cấp các dịch vụ này cho họ [20], [21], [22]

Dự án "Mạng lưới chăm sóc và hỗ trợ cho người sống chung với HIV/AIDS tại cộng đồng" là một mô hình can thiệp giảm hại sử dụng chính người có HIV+ tại

địa phương làm Nhân viên chăm sóc tại nhà có được hưởng phụ cấp hàng tháng và thụ hưởng các chế độ khác trong chương trình như những đối tượng thụ hưởng là người có HIV/AIDS Các nhân viên chăm sóc tại nhà này đã được chương trình đào tạo về kiến thức, kỹ năng, tập huấn nâng cao năng lực thường xuyên để tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ của dự án cho đối tượng là người có HIV và thân nhân của họ cũng như các hoạt động khác của dự án trong suốt quá trình triển khai đến khi kết thúc

Nhằm tìm hiểu các hoạt động của các ĐĐV trong chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS có được nhìn nhận ở cộng đồng, ở các đối tượng hưởng

lợi, tác giả đã chọn đề tài “Tìm hiểu mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua đồng đẳng viên" - nghiên cứu trường hợp tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành công tác xã hội

(CTXH) của mình

Qua nghiên cứu này, tác giả mong muốn góp một phần nhỏ bé cùng với các cấp, ban ngành, đoàn thể, các tổ chức trong nỗ lực chung phòng chống giảm thiểu tác hại của HIV/AIDS, qua đó có một cái nhìn khách quan và thực tế hơn về

sự tham gia của ĐĐV trong quá trình tham gia dự phòng, can thiệp, chữa trị và phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng cho các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội nói chung

và nhóm người có HIV/AIDS nói riêng

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Nhiều nghiên cứu quốc gia và quốc tế đã chỉ ra rằng, kỳ thị và phân biệt đối

xử là một trong những nguyên nhân chủ yếu đưa đến tình hình trên Kỳ thị và phân

Trang 13

biệt đối xử với người nhiễm HIV không chỉ vi phạm về quyền con người, mà còn làm cho nỗ lực ứng phó với đại dịch đều khó thành công Theo một nghiên cứu, các chiến dịch xóa bỏ “tệ nạn xã hội” ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam có xu hướng làm cho người tiêm chích và người bán dâm sợ hãi, xa lánh các chương trình tiếp cận cộng đồng và có thể vô hình chung làm tăng các hành vi nguy cơ [28]

Hoạt động chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS đang được coi là một hướng tiếp cận mới, trọng tâm của chương trình phòng, chống AIDS Chăm sóc, hỗ trợ, điều trị làm giảm đau đớn về thể chất, tinh thần, giúp kéo dài cuộc sống và tăng cường chất lượng cuộc sống cho người nhiễm HIV/AIDS Zawmbia là một trong những nước Châu Phi đầu tiên thực hiện dịch vụ chăm sóc HIV tại nhà Dịch vụ này đã được quốc tế công nhận vì đạt chất lượng cao Kinh nghiệm phòng, chống AIDS tại một số nước như Braxi, Ấn Độ, Thái Lan và nhiều nước khác cũng cho thấy: Tăng cường chăm sóc, hỗ trợ, điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS là biện pháp tốt nhất để khống chế, đẩy lùi dại dịch HIV/AIDS thông qua giảm bớt sự sợ hãi, kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS, góp phần làm tăng số người đến xét nghiệm tự nguyện, tư vấn và tiếp cận với điều trị HIV [2], [13], [15], [30], [31]

Trong bối cảnh đó, quyền tham gia của những người sống chung với HIV được tôn trọng có ý nghĩa rất lớn Điều này không chỉ tạo điều kiện cho họ tiếp cận tốt hơn các dịch vụ chăm sóc và điều trị, mà còn còn giúp họ có nhận thức đầy đủ hơn về quyền và nghĩa vụ; có thể bày tỏ những mong muốn với tư cách là nhóm xã hội dễ bị tổn thương; đồng thời đề xuất những chính sách liên quan đến lợi ích của

họ và cộng đồng, vì chính họ là người hiểu rõ hơn ai hết những nhu cầu, lợi ích và hiệu quả của các nỗ lực Lợi ích của việc thu hút sự tham gia của người có HIV trong cuộc chiến chống căn bệnh thế kỷ ngày càng được nhận thức rõ và trở thành cam kết chính trị và đạo đức trên quy mô toàn cầu [34]

Thuật ngữ GIPA là cụm từ viết tắt tiếng Anh - Greater Involvement of People Living with HIV/AIDS (Tăng cường/ thúc đẩy sự tham gia của người nhiễm

HIV/AIDS) là một nguyên tắc cốt lõi của tất cả các chương trình quốc tế nhằm ứng

Trang 14

phó với đại dịch HIV/AIDS Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở những kinh nghiệm/bài học thành công và thất bại của các quốc gia trong đối phó với đại dịch, thông qua việc thu hút sự tham gia của người nhiễm HIV trong tất cả các lĩnh vực phòng, chống, chăm sóc và điều trị

Năm 1999, UNAIDS đã mô hình hóa sự tham gia của người có HIV/AIDS, người sống chung với HIV dưới dạng hình tháp sáu tầng, trong đó đỉnh tháp (Tầng 6) thể hiện mức độ cao nhất khi áp dụng nguyên tắc GIPA [28]

trình dành cho người nhiễm HIV, tức họ là người tiếp nhận dịch vụ và có thể cung cấp phản hồi về việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện các dịch vụ này

phòng ngừa Họ trực tiếp tham gia các hoạt động tuyên truyền, giáo dục công cộng về HIV/AIDS Người sống chung với HIV đóng vai trò chủ động hơn trong sự tham gia

chọn để trở thành những người tham gia các chiến dịch tuyên truyền thay đổi hành

vi, hoặc được dự các cuộc hội nghị để “chia sẻ quan điểm” về HIV/AIDS - chỉ tham gia với vai trò “danh dự” chứ không phải với vai trò “thành viên chính thức” - mục đích là nhận rõ sự cần thiết phải lôi cuốn người sống chung với HIV tham gia

chương trình, như chương trình giáo dục đồng đẳng, giảm thiểu tác hại, chăm sóc điều trị

chuyên môn Họ được nhìn nhận là người tư vấn quan trọng về thông tin, tri thức và

kỹ năng trong thiết kế, điều chỉnh và đánh giá can thiệp

quyết định và hoạch định chính sách

Năm 2000, tại Mỹ, trong một báo về kết quả hoạt động Dự án Horizons trong chương trình hành động của Hội đồng Dân số Mỹ (2000) đã đưa ra tính cấp thiết, tầm quan trọng và hiệu quả của giáo dục đồng đẳng và HIV/AIDS Báo cáo này

Trang 15

trình bày kết quả về một dự án được thiết kế để xác định các thành phần và nguyên tắc ảnh hưởng của giáo dục đồng đẳng trong HIV/AIDS đến chất lượng và hiệu quả chương trình, cũng như xác định các khoảng cách và các cưu tiên cho hoạt động nghiên cứu Dự án nhằm phân tích những điểm mạnh và hạn chế của giáo dục đồng đẳng Báo cáo kết luận rằng quá trình tiến hành đánh giá nhu cầu để xác định chủ đề quan tâm đối với các nhà quản lý chương trình và đồng đẳng viên là cần thiết cho việc phát triển các chương trình tư vấn về giáo dục đồng đẳng HIV/AIDS Giáo dục đồng đẳng là rất cần thiết trong việc kiểm soát dịch bệnh HIV/AIDS cũng như giảm nhẹ tác động của nó [29]

Một số báo cáo về kết quả hoạt động phòng chống, giảm tác hại của HIV/AIDS ở châu Á cũng chỉ ra rằng giáo dục đồng đẳng là quan trọng và cần thiết

Ở hầu hết các quốc gia, các ứng phó với AIDS đều bắt rễ trong cộng đồng, do chính những người sống chung với HIV, những người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS (bà con bạn bè thân thích của họ, những người chăm sóc họ) và những nhà hoạt động xã hội khởi xướng Giờ đây, sự tham gia của ĐĐV cộng đồng được công nhận rộng rãi như là một phần quan trọng trong việc thực thi các chương trình và cung cấp các dịch vụ về HIV/AIDS Đáng tiếc là ở châu Á, sự tham gia này không đồng đều và ở nhiều nơi chỉ mang tính hình thức Mặc dù vậy, một số quốc gia châu Á đã chú ý đến cách tiếp cận GDĐĐ thông qua những sáng kiến thử nghiệm trong cộng đồng Trong một cuộc nghiên cứu 6.000 người hành nghề mại dâm ở bang Andhra Pradesh của Ấn Độ, những người tham gia vào nhóm hỗ trợ người hành nghề mại dâm có xu hướng dùng bao cao Dường như quy mô nhỏ hơn khiến các tổ chức dân

sự linh hoạt hơn và ít quan liêu hơn so với các đối tác trong Chính phủ trong việc đối phó với những phát sinh Các chương trình thí điểm do các tổ chức xã hội dân

sự thực hiện có thể được xem xét và mở rộng ra phạm vi toàn quốc Ví dụ, ở Trung Quốc, những người có quan hệ đồng giới đã thiết lập các đường dây nóng để hỗ trợ, cung cấp thông tin về HIV và về các vấn đề khác và trong năm 2007, mạng lưới này

đã nhận được sự hỗ trợ của Chính phủ Trung Quốc cho các hoạt động của họ

Trang 16

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam các văn bản pháp luật tạo nền tảng vững chắc cho sự đối phó với đại dịch Luật phòng, chống HIV/AIDS đã bảo vệ các quyền của người nhiễm HIV, chống kỳ thị phân biệt đối xử qui định rõ trách nhiệm của Chính phủ và các ban, ngành tham gia thực hiện phòng, chống HIV/AIDS

Trên cơ sở đó, các hoạt động thực tế được triển khai ngay từ năm 1993 khi

mô hình can thiệp giảm tác hại (CTGTH) đầu tiên đã được thực hiện thí điểm tại Quận Đống Đa - Hà Nội và Quận 1 - thành phố Hồ Chí Minh với hoạt động chính là giáo dục đồng đẳng (GDĐĐ), khuyến khích sử dụng bao cao su (BCS) và truyền thông thay đổi hành vi Cho đến nay, một số mô hình CTGTH cho nhóm có hành vi nguy cơ cao, tập trung chủ yếu vào nhóm nghiện chích ma túy, người bán dâm và những người có HIV/AIDS đã được triển khai tại nhiều tỉnh trong cả nước và đã thu

được một số kết quả nhất định

Để những người có HIV có thể tham gia một cách bình đẳng, điều quan trọng là họ phải có những kỹ năng cần thiết phù hợp với cấp độ mà họ tham gia Mặc dù nhiều người có khả năng và sẵn sàng tham gia, nhưng trình độ học vấn thấp

và việc xét nghiệm HIV thường khiến cho họ mặc cảm, và ngại ngùng tham gia vào chương trình Để khắc phục điều này, những người có HIV phải được đào tạo để có những kỹ năng thích hợp Đồng thời cộng đồng và những người liên quan cũng cần được giáo dục về việc tôn trọng quyền riêng tư, bí mật thông tin về người có HIV Trong một vài năm trở lại đây, các ĐĐV tại cộng đồng đã được Trung tâm phòng chống AIDS cung cấp thẻ ĐĐV - một loại thẻ chung cho các tiếp cận viên cộng đồng Điều này mang lại ý nghĩa vô cùng to lớn thể hiện sự tin cậy, tôn trọng, không phân biệt đối xử, vai trò, quyền lợi và vị thế của những ĐĐV tại cộng đồng Với thẻ tiếp cận cộng đồng này, các ĐĐV sẽ thuận lợi hơn rất nhiều trong việc tiếp cận, hỗ trợ những người cùng cảnh ngộ Còn về phía những đối tượng hưởng lợi sẽ an tâm hơn trong việc tìm đến các dịch vụ, nguồn lực trợ giúp tại cộng đồng

Trong báo cáo hoạt động của mình, Ngân hàng Thế giới (WB) đã có những nhận xét tích cực về sự tham gia và lợi ích của việc sử dụng các ĐĐV trong dự án

Trang 17

"Giáo dục viên đồng đẳng góp phần giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm nguy cơ cao" đã đề cập tới lợi ích của việc sử dung các ĐĐV Cụ thể là [32]:

- WB cho biết các hoạt động của GDĐĐ và đã bổ sung thêm một cấu phần trong các dự án phòng chống HIV/AID bằng cách thành lập những nhóm GDĐĐ bởi vì WB cho rằng việc trao đổi và tuyên truyền trực tiếp, mà đặc biệt thông qua những đồng đẳng viên là phương pháp giáo dục hiệu quả nhất và là phương pháp chính trong việc tuyên truyền các thông điệp liên quan tới HIV, nhất là khi tiếp cận với nhóm nguy cơ lây nhiễm cao Bên cạnh đó nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động của GDĐĐ, Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ một diễn đàn được tổ chức hai năm một lần để các GDVĐĐ có cơ hội gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm trong việc tiếp cận khách hàng, chuyển giao kinh nghiệm

biện pháp khác nhau nhằm giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV, phương pháp GDĐĐ là một phương pháp hiệu quả nhất Hiện toàn quốc có hơn 5.000 GDVĐĐ đã đăng ký (có thẻ tên đồng đẳng viên về phòng chống, can thiệp giảm tác hại của ma túy, mại dâm, HIV/AIDS) Tất cả các GDVĐĐ này đều đã được đào tạo và hiện nay đang tham gia tuyên truyền và phổ biến cho cộng đồng về những nguy cơ liên quan tới mại dâm và tiêm chích ma túy Nhờ những nỗ lực không ngừng của nhóm GDVĐĐ,

tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm những người nghiện hút ma túy đã giảm từ mức 30% trong năm 2000 xuống còn 18% trong năm trước Con số này cho thấy hàng nghìn đối tượng nghiện hút ma đã tránh được nguy cơ lây nhiễm HIV

Lâm Đồng chia sẻ, “Các hoạt động của GDVĐĐ đóng vai trò quan trọng vì chính những hoạt động này đã góp phần phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS Các GDVĐĐ

là những người có cùng cảnh ngộ với khách hàng của mình, vì vậy họ có thể hiểu và

có thể chia sẻ với nhau những biện pháp tốt nhất mà những người khác không thể Với những gì GDVĐĐ đã làm, cả xã hội hiểu và trân trọng công việc của họ Tất cả GDVĐĐ đều là những người rất nhiệt tình và trách nhiệm Mọi người đều nghĩ rằng công việc của GDVĐĐ sẽ giúp được những người cùng cảnh ngộ với mình, và

Trang 18

cùng đóng góp vào nỗ lực phòng chống HIV của toàn xã hội, và rằng công việc của GDVĐĐ là một công việc đấy nghĩa cử nhân đạo.”

Theo báo cáo đánh giá đầu vào của Dự án: Mạng lưới chăm sóc và hỗ trợ cho người sống chung với HIV/AIDS và trẻ em mồ côi hoặc bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại cộng đồng" cho biết sự tham gia của người nhiễm tại Quảng Ninh ở

nhiều mức độ, mức độ thấp nhất người nhiễm là đối tượng thụ hưởng các chính sách dành cho người nhiễm và có thể cung cấp phản hồi về việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện các dịch vụ này Một số người có HIV đã trực tiếp tham gia các hoạt động tuyên truyền, giáo dục cộng đồng về HIV/AIDS trong các chiến dịch tuyên truyền thay đổi hành vi Một số ít người tham gia thực hiện các chương trình, như chương trình giáo dục đồng đẳng, giảm thiểu tác hại, chăm sóc hỗ trợ điều trị

tại viện và tại cộng đồng Trong những năm gần đây, công tác phòng chống

HIV/AIDS ở tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt là về điều trị, đã có những thay đổi và đạt được những kết quả đáng kể Người có HIV và bệnh nhân AIDS đã có cơ hội để tiếp cận với các chương trình điều trị ARV cũng như điều trị nhiễm trùng cơ hội một cách rộng rãi và dễ dàng hơn rất nhiều

Tuy vậy, trên thực tế, có một “lỗ hổng” vẫn chưa được lấp đầy Như đã đề

cập ở trên, các chương trình dự án tuy đã tập trung can thiệp và đạt những kết quả thiết thực trong việc phát hiện, tư vấn và điều trị cho người có HIV, song vẫn còn thiếu vắng các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ trong đời sống của họ tại gia đình và cộng đồng Mà đây lại là một nhu cầu vô cùng quan trọng đối với người sống chung với HIV/AIDS Những số liệu từ đánh giá nhu cầu khi triển khai dự án cho thấy đại

bộ phận người có HIV mong muốn được tiếp cận với các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ tại cộng đồng cả về thể chất và tinh thần Họ hy vọng rằng đó sẽ là sự hỗ trợ thiết thực và là động lực thúc đẩy họ có thể vượt qua khó khăn, hướng tới một cuộc sống có ý nghĩa với bản thân, có thể tiếp cận và tuân thủ điều trị để ổn định sức khỏe [20]

Bài tham luận của Trương Thị Yến - Bộ môn Công tác xã hội, Khoa Lịch sử, Trường ĐHKH Huế gửi về Ban biên tập của chương trình Kỷ yếu hội thảo ngày

Trang 19

công tác xã hội thế giới năm 2013 với chủ đề: Giáo dục đồng đẳng - mô hình trợ giúp hiệu quả trong thực hành công tác xã hội với người có HIV/AIDS cũng đã nêu

lên tầm quan trọng và hữu ích của phương pháp GDĐĐ - một phương pháp đã được

áp dụng rất nhiều trong các chương trình/dự án phát triển xã hội ở một số nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Tính hiệu quả về việc sử dụng ĐĐV trong các chương trình, hoạt động về HIV/AIDS đã thể hiện trong những thành công mà các chương trình/dự án đó mang lại Bài viết cũng bày tỏ quan điểm vận dụng phương pháp GDĐĐ để hình thành nên các nhóm đồng đẳng trong các thân chủ của công tác xã hội là điều hết sức cần thiết và nên hướng đến trong thực hành công tác

xã hội tại Việt Nam Tuy nhiên bài viết chưa đưa ra được nhiều các căn cứ cụ thể, thực tế về vai trò, hiệu quả của GDĐĐ mà chỉ có nhận định chung chung [17]

Điểm mới của luận văn chính là ở chỗ từ chính quan điểm của người trong cuộc đi sâu khám phá, tìm hiểu mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua đồng đẳng viên trong thời gian tham gia trực tiếp với dự án Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần nâng cao năng lực chăm sóc,

hỗ trợ tại nhà của các ĐĐV một cách cụ thể, thiết thực, khi tận dụng họ như một nguồn lực cộng đồng trong các dự án, chương trình hành động phòng chống HIV/AIDS

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu các nhận định, đánh giá về mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua đồng đẳng viên qua đó đưa ra các bài học kinh nghiệm nhằm thúc đẩy phát triển GDĐĐ, hướng đến sự phát triển bền

vững tại cộng đồng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

nhà cho người có HIV/AIDS;

thông qua ĐĐV;

Trang 20

- Tìm hiểu hoat động dự phòng lây nhiễm cho người có HIV/AIDS thông qua ĐĐV;

có HIV/AIDS thông qua ĐĐV;

ĐĐV

viên xã hội có biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ĐĐV tại cộng đồng

4 Ý nghĩa của nghiên cứu

4.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ một số lý thuyết Xã hội học và CTXH như: thuyết nhu cầu, thuyết vai trò, thuyết trao đổi xã hội, thuyết trao quyền…là cơ sở để phát triển các hướng nghiên cứu hay xây dựng chính sách, thiết kế, thực hiện các mô hình can thiệp có sử dụng đồng đẳng viêm làm nhân viên tương tác trong các lĩnh vực liên quan;

Luận văn là một trong số ít các công trình nghiên cứu trong công tác xã hội về tìm hiểu mô hình chăm sóc, hỗ trợ cho người có HIV tại cộng đồng thông qua đồng đẳng viên Những phát hiện của luận văn góp phần bổ sung tri thức về chăm sóc tại nhà nói riêng và hòa nhập xã hội nói chung cho người có HIV/AIDS Luận văn còn làm sáng tỏ

ý nghĩa của CTXH về GDĐĐ trong các chương trình, dự án hành động tại cộng đồng và góp phần thúc đẩy phát triển các nhóm ĐĐV tại Việt Nam nói chung cũng như tại Đông Triều - Quảng Ninh nói riêng

4.2 Ý nghĩa chính sách và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ nhu cầu của người có HIV đối với ĐĐV ở cộng đồng, nhất là khi đại dịch AIDS vẫn chưa được ngăn chặn thực sự hiệu quả Nghiên cứu sẽ đưa ra các nhận định, đánh giá về vai trò của ĐĐV trong việc chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để các cơ sở, tổ chức xã hội xây dựng các chính sách, chương trình hành động

Trang 21

phù hợp nhằm đào tạo, bồi dưỡng cho các nhóm đồng đẳng viên tại cộng đồng để từ đó

có sự tham gia một cách tích cực, chủ động và nhiệt tình hơn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, cơ sở mình trong việc trợ giúp các đối tượng thân chủ;

Luận văn góp phần nâng cao sự nhận thức, hiểu biết và ủng hộ các nhóm đồng đẳng, qua đó có những biện pháp sử dụng sự hỗ trợ của họ trong các hoạt động liên quan khác của địa phương, cộng đồng mình khi các dự án, chương trình hành động đã rút lui/kết thúc một cách thiết thực, hiệu quả;

5 Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua đồng đẳng viên

6.1 Giới hạn về không gian:

Huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Đây là một trong những địa bàn trọng điểm về HIV/AIDS của tỉnh Quảng Ninh, và có các dự án, chương trình hành động

về phòng, chống, giảm tác hại của HIV/AIDS có sử dụng các ĐĐV

6.2 Giới hạn về thời gian

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 7 năm 2014

6.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu các nhận định, đánh giá về mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua đồng đẳng viên nhằm xác định tính bền vững của phương pháp GDĐĐ trong các dự án, chương trình hành động tại địa phương

7 Câu hỏi nghiên cứu

Mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua đồng đẳng viên là thiết thực và được cộng đồng nhìn nhận? Dựa vào câu hỏi chính này là các câu hỏi cụ thể sau:

Trang 22

- Thứ nhất, nhu cầu của người dân về chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có

HIV/AIDS như thế nào?

nhà cho người có HIV/AIDS thông qua ĐĐV?

và làm gia tăng cơ hội sử dụng các nguồn lực tại địa phương?

8 Giả thuyết nghiên cứu

rất cao;

người có HIV/AIDS thông qua các ĐĐV;

các ĐĐV có thể được tiếp diễn và mở rộng bằng nguồn lực của cộng đồng sau khi kết thúc chương trình;

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phương pháp luận

Đề tài nghiên cứu được tiếp cận từ góc độ của Công tác xã hội và Giáo dục đồng đẳng làm cơ sở phương pháp luận Theo cái nhìn của Công tác xã hội, trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua ĐĐV tác giả tiếp cận từ các góc độ khác nhau như: góc độ cá nhân, góc độ nhóm và góc độ cộng đồng Cả ba góc độ công tác xã hội này luôn được xem xét một cách toàn diện - cả về phương diện khách quan cũng như khía cạnh chủ quan; đặt vấn đề trong một bối cảnh không gian, thời gian cụ thể và có mối quan hệ liên đới nhau từ cá nhân - nhóm - cộng đồng Với góc độ của Giáo dục đồng đẳng, các khía cạnh của mô hình cũng được nhìn nhận trong những mối tương đồng với nhau, hỗ trợ cho nhau Vai trò của đồng đẳng viên cũng được xem xét trong cách nhìn động của sự phát triển, theo đó năng lực chăm sóc, hỗ trợ tại nhà

của họ sẽ được nâng cao khi có những chính sách phù hợp

Trang 23

9.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp

Trong nghiên cứu này, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về lĩnh vực liên quan đến dự án, các chương trình hành động giảm tác hại tại cộng đồng có

sử dụng nhóm GDĐĐ được tham khảo Những nguồn tài liệu này là cơ sở để xem xét vai trò của các đồng đẳng viên trong trong chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS Bên cạnh đó, để có số liệu cụ thể gắn với địa bàn khảo sát, các báo cáo của các cơ quan huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể quần chúng liên quan được tham khảo sử dụng trong quá trình nghiên cứu

9.3 Phỏng vấn bán cấu trúc

Mục đích của nghiên cứu là nhằm tìm hiểu mô hình chăm sóc tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua đồng đẳng viên Với mục đích này, chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích trong nghiên cứu định tính Dựa trên những nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu phỏng vấn sâu 27 mẫu thuộc các nhóm đối tượng khác nhau (chi tiết được thống kê tại bảng 1) Đối với từng đối tượng cụ thể, nội dung phỏng vấn được hướng vào các chủ đề riêng biệt nhằm khai thác các thông tin thích hợp

Bảng 1 Các đối tượng được phỏng vấn sâu

Nhóm đối tượng Số người được phỏng vấn

Trang 24

9.4 Thảo luận nhóm tập trung

Mục đích của thảo luận nhóm nhằm thu thập thông tin, ý kiến, quan điểm từ các đồng đẳng viên, những người đóng vai trò then chốt trong khách thể nghiên cứu

về các vấn đề liên quan đến công việc của họ, mà trọng tâm là: vai trò, nhiệm vụ, trách nhiệm, cách thức thực hiện và kết quả công việc của họ, những thuận lợi và khó khăn mà họ gặp phải, những ý kiến đóng góp của họ Qua đó nhằm phân tích sâu thêm 02 chủ đề: 1/ Như thế nào là một ĐĐV tại cộng đồng?; 2/ Nhìn nhận về các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS của các ĐĐV?

9.5 Phương pháp quan sát không tham dự

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, phương pháp quan sát thực trạng đời sống kinh tế xã hội; kiến thức, thái độ, hành vi của đồng đẳng viên từ đó để đánh giá một cách khách quan về vai trò của họ trong chăm sóc tại nhà cho người có HIV/AIDS Những quan sát này góp phần làm sáng tỏ, củng cố thêm những kết quả nghiên cứu định tính đã thu thập được trong đề tài luận văn

9.6 Phương pháp xử lý dữ liệu

Các file ghi âm được ghi chép lại thành dạng văn bản để thuận tiện cho việc phân tích thông tin Toàn bộ nội dung phỏng vấn và các bản ghi chép đều được đảm bảo về nguyên tắc khuyết danh của người trả lời Ngoài ra, để có thể rút ra được xu hướng , trong quá trình xử lý số liệu, chúng tôi tiến hành lượng hóa các dữ liệu định tính bằng cách lọc các ý kiến trả lời giống nhau Cách tổ chức thông tin này giúp cho quá trình sử dụng thông tin vào việc phân tích kết quả nghiên cứu

10 Bố cục luận văn

Bố cục của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị thì nội dung nghiên cứu chính được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của ngiên cứu

Chương 2: Thực trạng HIV/AIDS và nhận diện hoạt động của các đồng đẳng viên trong chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS tại Đông Triều, Quảng Ninh

Chương 3: Đánh giá mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua việc sử dụng đồng đẳng viên

Trang 25

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 HIV

HIV (Human Immunodeficiency Virus): nghĩa là vi rút gây ra hội chứng suy

giảm miễn dịch ở người

Có 2 loại vi rút là HIV1 và HIV2, cả 2 đều gây bệnh cho người Người mang HIV trong máu thì gọi là người nhiễm HIV

Virút này tấn công hệ thống bảo vệ của cơ thể và làm hệ thống này suy giảm Một người được xác định là nhiễm HIV khi có mẫu huyết thanh dương tính cả 3 lần xét nghiệm kháng thể bằng 3 loại sinh phẩm khác nhau với nguyên lý phản ứng và

phương pháp chuẩn bị kháng nguyên khác nhau

1.1.2 AIDS

AIDS: là chữ viết tắt của từ tiếng Anh là Acquired Immune Deficiency

Syndrome; là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, là bệnh liệt kháng; là giai đoạn cuối của nhiễm HIV - Cơ thể rất dễ bị nhiễm các nhiễm trùng cơ hội do không

có khả năng chống đỡ như lao, phổi…mà người nhiễm HIV gặp phải do hệ miễn dịch của cơ thể bị tổn thương hoặc bị phá hoại nặng nề Các bệnh này gọi chung là bệnh nhiễm trùng cơ hội AIDS được coi là gai đoạn cuối của HIV Tuy nhiên, mỗi người khi bị AIDS thì có những triệu chứng khác nhau, tuỳ loại nhiễm trùng cơ hội

mà người đó mắc phải, và khả năng chống đỡ của người đó

- Hội chứng suy giảm hệ miễn dịch mắc phải:

Hội chứng: Nhóm các biểu hiện (triệu chứng) như sốt, tiêu chảy, lao, phổi,

viêm não, các bệnh về da…do căn bệnh nào đó gây ra cho cơ thể

Trang 26

Suy giảm hệ miễn dịch: Hệ miễn dịch là hệ thống phòng ngự bảo vệ cơ thể

bảo vệ các mầm bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể, suy giảm miễn dịch là là tình trạng hệ miễn dịch trở nên yếu, giảm hoặc không có khả năng chống lại sự tấn công của tác nhân gây bệnh - Khi đó gọi là các bệnh nhiễm trùng cơ hội

Nhiễm trùng cơ hội: Là các nhiễm trùng chỉ xảy ra khi hệ miễn dịch bị suy

yếu - Giai đoạn AIDS Các mầm bệnh gây NTCH là vi khuẩn, vi rút, nấm, kí sinh trùng… sẵn có trong môi trường, có thể sống chung và ít gây bệnh cho người có hệ

được xác định nhiễm HIV

1.1.4 Đồng đẳng viên

Đồng đẳng viên là những người có cùng lứa tuổi, hoàn cảnh với đối tượng tiếp cận Họ được huấn luyện, đào tạo kiến thức, kỹ năng hoạt động về một lĩnh vực nào đó để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm sống với những đồng đẳng của họ một cách tự giác, bình đẳng và không ép buộc

Theo Luật phòng, chống HIV/AIDS thì: “Nhóm giáo dục đồng đẳng là những người tự nguyện tập hợp thành một nhóm để thực hiện công tác tuyên truyền, vận động và giúp đỡ những người có cùng cảnh ngộ”

Các đồng đẳng viên tham gia làm nhân viên trong chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS là những người có HIV+, những người sống chung với HIV sau khi được chương trình/dự án đào tạo về kiến thức, kỹ năng, hỗ trợ, cung cấp các vật dụng cần thiết quay lại cộng đồng tham gia vào giáo dục, chăm sóc, hỗ trợ cho những người khác bị nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Theo dõi và phản ảnh nhu cầu thực tế của họ và những người thân, những trẻ bị ảnh hưởng bởi

Trang 27

HIV/AIDS tại địa phương, đóng góp ý kiến để các hoạt động chương trình/dự án đáp ứng đúng các nhu cầu đó Tham gia các hoạt động đào tạo nâng cao năng lực để

có đủ khả năng thực hiện hiệu quả các hoạt động chăm sóc tại nhà tại cộng đồng

Có nhiều cách hiểu về giáo dục đồng đẳng Giáo dục đồng đẳng là một hoạt động giáo dục, trong đó các thành viên của một cộng đồng hoặc nhóm người giáo dục và cung cấp thông tin cho những đồng đẳng viên ( những người cùng lứa tuổi, cùng địa vị xã hội , cùng môi trường ) nhằm giúp đỡ đưa ra quyết định cũng như tiếp nhận hành vi mới, góp phần ngăn ngừa các vần đề cụ thể về sức khoẻ hay xã hội, như những vấn đề về sức khoẻ sinh sản, HIV/AIDS, sử dụng ma túy Giáo dục đồng đẳng liên quan đến việc chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng giữa những người có cùng tình trạng xã hội, nhằm hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau [35]

Theo ông Chu Quốc Ân, Phó Cục trưởng Cục Phòng chống HIV/AIDS Việt Nam cho biết: các tuyên tryền viên đồng đẳng (TTVĐD) là những người được các chương trình, dự án tuyển chọn, đào tạo để quay trở lại tiếp cận những người nghiện chích ma túy, người bán dâm, để tuyên truyền cho họ về phòng, chống HIV/AIDS;

hỗ trợ, cung cấp cho họ phương tiện thực hiện các hành vi an toàn (bơm kim tiêm, BCS ) Đồng thời vận động họ đến tiếp cận các dịch vụ, cao hơn nữa vận động họ

từ bỏ ma túy, từ bỏ hành vi bán dâm của mình Hiện dịch HIV/AIDS ở nước ta vẫn đang trong giai đoạn tập trung trong nhóm người nghiện chích ma túy, người bán dâm, nên công việc của các TTVĐĐ lại càng quan trọng hơn bao giờ hết Họ được coi là một trong những lực lượng chủ lực để "tấn công" vào HIV/AIDS

1.1.5 Chăm sóc tại nhà

Là việc gia đình, bạn bè, hàng xóm, các tình nguyện viên, nhân viên y tế, nhân viên xã hội trực tiếp chăm sóc và hỗ trợ người có HIV tại nhà của họ

Là một biện pháp tích cực, thực tế và hiệu quả không chỉ cho bản thân người

có HIV, gia đình của họ mà còn có lợi ích trong cả ngành y tế, trong xã hội Hầu hết các bệnh nhân HIV/AIDS đều muốn được chăm sóc và điều trị tại nhà vì hợp với tâm lý người bệnh hơn, đỡ tốn kém và cũng đỡ quá tải cho bệnh viện Tuy nhiên nó không thể thay thế được sự chăm sóc của y tế, bệnh viện Cần có sự phối hợp chặt

Trang 28

chẽ giữa chăm sóc tại nhà với sự hỗ trợ của cộng đồng, nhân viên xã hội, nhân viên

y tế, chuyên gia tư vấn và chăm sóc tại bệnh viện

Chăm sóc tại nhà mang lại nhiều lợi ích trong việc giảm thiểu tác hại của HIV/AIDS trong cộng đồng:

 Lợi ích cho người có HIV

tâm lý

­ Người có HIV cảm thấy vui hơn, nhiều hy vọng vào cuộc sống và thấy mình có ích đối với gia đình

 Lợi ích cho gia đình người có HIV

cộng đồng (nhất là trong việc dự phòng lây nhiễm HIV)

làm việc tạo thu nhập và các công việc khác của gia đình

 Lợi ích cho ngành y tế, xã hội

bệnh nhân của các bệnh viện

­ Hạn chế được các nguy cơ lây nhiễm chéo chủng vi rút trong bệnh viện

dựa trên các nhu cầu của họ về: Sức khỏe - thể chất; Tâm lý - cảm xúc; Xã hội; Tâm linh; Phòng lây nhiễm Chăm sóc tại nhà lấy việc chăm sóc người nhiễm làm trung tâm, người thân trong gia đình, họ hàng, láng giềng, các tổ chức dựa vào cộng đồng (NGOs, Hội từ thiện của nhà chùa, nhà thờ, nhóm bạn giúp bạn ), các nhóm đồng đẳng, nhân viên y tế trong đó các cơ sở y tế sẽ đóng vai trò nòng cốt trong việc

Trang 29

hướng dẫn chăm sóc và tư vấn Bệnh viện các tuyến sẽ là mạng lưới trung chuyển hoặc điều trị những trường hợp nặng [20]

1.1.6 Vai trò

Vai trò là những khuân mẫu ứng xử xã hội khác nhau do xã hội áp đặt cho mỗi chức vị của con người trong xã hội đó Ví dụ: bố phải thương con, mẹ phải hiền, vợ phải đảm đang, con cái phải nghe lời bố mẹ, trò phải chăm chỉ, thầy phải nghiêm túc

Có hai loại vai trò: vai trò hiện và vai trò ẩn Vai trò hiện là vai trò bên ngoài mọi người đều có thể thấy được Vai trò ẩn là vai trò không biểu lộ ra bên ngoài mà

có khi chính người đóng vai trò đó cũng không biết, thí dụ: trong những gia đình không hạnh phúc, bố mẹ thường hay bất hòa nhiều khi đứa con nhỏ được huấn luyện để đóng vai người trung gian hòa giải mà chính nó và cha mẹ nó không biết Một người có thể có nhiều vai trò tùy thuộc vào vị thế xã hội mà người đó có

1.1.7 Vai trò trong chăm sóc tại nhà

Vai trò của chăm sóc tại nhà là cung cấp dịch vụ và tăng cường sự liên kết trong chăm sóc, hỗ trợ toàn diện cho người có HIV/AIDS tại cộng đồng Bao gồm [19]:

 Cung cấp dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ tại nhà/cộng đồng

 Tăng cường, củng cố các liên kết cộng đồng trong chăm sóc và hỗ trợ cho người có HIV/AIDS

 Nâng cao năng lực điều phối cung cấp các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ, điều trị tại địa phương

 Nâng cao năng lực và đẩy mạnh sự tham của người có HIV/ AIDS

 Tác động làm giảm sự kỳ thị và phân biệt đối xử

Trang 30

Biểu 1.1: Mô hình chăm sóc toàn diện và liên tục cho người có HIV/AIDS [20]

Vai trò chính của các ĐĐV (nhân viên chăm sóc tại nhà) là tiếp cận thân chủ, gần gũi họ, hiểu các nhu cầu của họ và hỗ trợ dựa trên chu cầu Vai trò có tính bổ sung cho các dịch vụ khác Vai trò kết nối thân chủ với các dịch vụ khác mà thân chủ cần Là người quản lý ca tin cậy của thân chủ, biết sử sụng tối đa nguồn lực cộng đồng

Đồng đẳng viên chăm sóc tại nhà vừa cung cấp vừa giám sát các dịch vụ được cung cấp cho người có HIV/AIDS Thông qua giám sát, ĐĐV chăm sóc tại nhà đánh giá liên tục các dịch vụ đã cung cấp, xác định những hạn chế của dịch vụ, dựa trên đó để góp ý với cơ quan, tổ chức đưa ra những điều chỉnh để cải thiện dịch

vụ Thông qua giám sát, nhà quản lý ca có thể xác định những thay đổi của đối tượng Để hoàn thiện sự giám sát, nhà quản lý ca tiến hành lượng giá thường xuyên



Người sống chung với HIV/AID

S

Tổ chức phi chính phủ Nhà thờ

Tổ chức, nhóm thanh niên Tình nguyện viên Tình nguyện viên

Trạm y tế

Cơ sở y học

cổ truyền Nơi chăm sóc trẻ mồ côi

Bênh viện huyện và phòng khám chuyên khoa

về HIV/AIDS

Hỗ trợ pháp

lý - xã hội Nơi chăm sóc bệnh nhân

tinh thần

Tự chăm sóc Các cơ sở

chăm sóc đặc biệt

Chăm sóc sức khỏa

ban đầu

Chăm sóc tại cộng

đồng

Chăm sóc tại nhà

II

Trang 31

những mục tiêu, hoạt động của các cá nhân và các dịch vụ mà đối tượng có được, để

xem xét sự tiến bộ và rút kinh nghiệm

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

Trước đây thuật ngữ “đồng đẳng” được dùng để nói về một người hay nhóm người thuộc cùng nhóm tuổi, địa vị xã hội hoặc môi trường sống Gần đây, thuật ngữ này được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Giáo dục đồng đẳng hiện nay được nhìn nhận là một chiến lược hiệu quả nhằm làm thay đổi hành vi, và được xây dựng trên cơ sở một số lý thuyết nổi tiếng về hành vi như Thuyết Nhận thức xã hội, Thuyết hành động có lý trí và Thuyết truyền bá tư tưởng và Đổi mới Mục đích

cơ bản của các hoạt dộng giáo dục đồng đẳng là sử dụng tình nguyện viên đã qua đào tạo để giáo dục, xúc tiến và duy trì kiến thức, quan điểm cũng như hành vi mới qua các hoạt động bằng cách giao tiếp với đồng đẳng viên thông qua các hoạt động trực tiếp hoặc các hoạt động nhóm nhỏ Sở dĩ phải sử dụng giáo dục viên đồng đẳng bởi những người có cùng hoàn cảnh thường cảm thấy tin tưởng và dễ hòa nhập, chia

sẻ với nhau hơn là những người khác hoàn cảnh Đồng đẳng viên là nguồn thông tin, kiểu mẫu cho các hành vi mới, họ chia sẻ những quan điểm giống nhau và đồng cảm với các thành viên khác Hơn hết, đồng đẳng viên là người có thể đến được với những đối tượng khó tiếp cận, những người có nguy cơ, bị cô lập, có thể hiểu rõ tâm

tư, nguyện vọng cũng như hoàn cảnh của những người đồng cảnh ngộ Do đó mang lại hiệu quả tương tác là khá cao ở những nhóm dễ bị tổn thương có sử dụng đồng đẳng viên

Vận dụng theo các góc nhìn về đồng đẳng viên và giáo dục đồng đẳng trong

mô hình "chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua đồng đẳng viên" chính là việc chia sẻ vai trò, nhiệm vụ, quyền lực và trách nhiệm cho cộng đồng Cụ thể là chính bản thân người có HIV/AIDS - những người trên tinh thần tự nguyện, tự giác, có trách nhiệm và tâm huyết sau khi được tập huấn, đào tạo từ chương trình và được ủy thác họ quay trở lại cộng đồng làm nhiệm vụ tiếp cận, tuyên truyền, tư vấn, hỗ trợ, chăm sóc tại nhà, cung cấp kiến thức, kĩ năng sống chung với HIV/AIDS, dự phòng lây nhiễm cho những người có HIV và gia đình họ;

Trang 32

hay kết nối nhóm đối tượng đích tới các loại hình dịch vụ xã hội Đây là một cách tận dụng nguồn lực hiệu quả của các chương trình can thiệp giảm tác hại về HIV/AIDS, ma túy, mại dâm, vì họ chính là những người trong cuộc, hơn ai hết họ hiểu chính bản thân mình cần gì, làm được gì từ đó dễ tiếp cận được với những người cùng cảnh ngộ khác Đồng thời, cũng thể hiện được giá trị của những nhóm người yếu thế trong xã hội, họ thấy được mình cũng có ích, có lòng tự trọng, có giá trị, có quyền, có nghĩa vụ và có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Khái quát về tỉnh Quảng Ninh

Về vị trí địa lý, Quảng Ninh là tỉnh miền núi - duyên hải Hơn 80% đất đai

là đồi núi Hơn hai nghìn hòn đảo nổi trên mặt biển cũng đều là các quả núi Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh tính đến ngày 01-10-1998 là 611.081,3 ha Trong đó đất nông nghiệp 243.833,2 ha, đất chuyên dùng 36.513 ha, đất ở 6.815,9

ha, đất chưa sử dụng 268.158,3 ha Có 14 đơn vị hành chính gồm 4 thành phố (Hạ long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí), 01 thị xã (Quảng Yên), 10 huyện trong đó có

02 huyện đảo (Cô Tô và Vân Đồn)

Về kinh tế, Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh

tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Kinh

tế Quảng Ninh phát triển mạnh về công nghiệp khai thác than (Về trữ lượng than trên toàn Việt Nam thì riêng Quảng Ninh đã chiếm tới 90%.), cảng biển; là một trọng điểm kinh tế; một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo Quảng Ninh có nhiều Khu kinh tế, Trung tâm thương mại Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc và các nước trong khu vực Quảng Ninh xếp thứ 5 cả nước về thu ngân sách nhà nước (2012) sau thành phố Hồ Chí Minh, thủ đô Hà Nội, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và thành phố Hải Phòng Tính đến hết năm 2012 GDP đầu người đạt hơn 2700 USD/năm (đạt 7,4% - là mức tăng khá

so với bình quân chung của cả nước trong đó: Hạ Long 3821 USD/năm, Móng Cái

Trang 33

3864 USD/năm, Cẩm Phả 3814 USD/năm, Uông Bí 3352 USD/năm, Đông Triều

1959 USD/năm) Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 29.880 tỷ đồng, đạt 102% kê hoạch và 101% so với cùng kỳ là sự cố gắng lớn của toàn tỉnh trong điều kiện kinh tế khó khăn chung của cả nước Lương bình quân của lao động trong tỉnh

ở các ngành chủ lực như than, điện, cảng và du lịch đều ở mức cao (năm 2011 điện 8,6 triệu đồng, than 7,7 triệu đồng, du lịch - dịch vụ 9,2 triệu đồng) Năm 2013, Quảng Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 4 ở Việt Nam [25]

Về dân số, tính đến năm 2012, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh đạt gần

1.177.200 người, mật độ dân số đạt 193 người/km², trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 620.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 557.000 người Dân số nam đạt 607.350 người, trong khi đó nữ đạt 569.850 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân

số phân theo địa phương tăng 11,5 ‰

Theo thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Quảng Ninh có 34 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống Trong đó, người Kinh đông nhất với 1.011.794 người, tiếp sau đó là người Dao đông thứ nhì với 59.156 người, người Tày 35.010 người, Sán Dìu có 17.946 người, người Sán Chay có 13.786 người, người Hoa có 4.375 người Ngoài ra còn

có các dân tộc ít người như người Nùng, người Mường, người Thái

Trung bình hàng năm, Quảng Ninh có 2,5 - 3 triệu lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch Thường xuyên có 30.000 - 40.000 lao động tạm trú sống và làm nghề, kèm theo đó là sự du nhập lối sống không lành mạnh như: tệ nạn

ma túy, mại dâm và một số dịch bệnh phát triển như HIV/AIDS Năm 2012, toàn tỉnh có 4.022 hộ thoát nghèo, giải quyết việc làm mới cho 2,83 vạn lao động, vượt

kế hoạch đề ra, trong đó: lĩnh vực nông, lâm, thủy sản 4.000 lao động; công nghiệp xây dựng 13.200 lao động, thương mại du lịch 9.150 lao động

Về y tế, Quảng Ninh có hệ thống cơ sở vật chất của ngành y tế được đầu tư

đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân và các du khách trong và ngoài nước Tính đến năm 2010, toàn tỉnh Quảng Ninh có 15 bệnh viện, 09 phòng khám

Trang 34

đa khoa khu vực, 10 trung tâm y tế tuyến tỉnh, 14 trung tâm y tế tuyến huyện, 186 trạm y tế xã, phường Trong đó, đội ngũ bác sỹ, y sỹ rất chuyên nghiệp với 02 tiến

sỹ y học, 53 thạc sỹ y học, 24 bác sỹ chuyên khoa II, 218 bác sỹ chuyên khoa I, 437 bác sỹ, 478 y sỹ, 109 kỹ thuật viên, 960 điều dưỡng viên, 225 nữ hộ sinh, 43 dược

sỹ đại học, 99 dược sỹ trung học và 982 cán bộ chuyên môn khác đạt tỷ lệ 30 giường bệnh trên 10.000 dân, đạt tỷ lệ 8 bác sỹ trên 10.000 dân Hiện tại Quảng Ninh có 02 phòng xét nghiệm được Bộ Y tế cho phép xét nghiệm khẳng định HIV (phòng xét nghiệm tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh và tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí); 09 phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện; 12 phòng khám ngoại trú OPC (trong đó có 01 phòng khám ngoại trú dành cho trẻ em) tại 9 huyện thị/thành phố về chăm sóc, điều trị cho người có HIV/AIDS như: Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn, Móng Cái, Hoành Bồ, Yên Hưng, Tiên Yên, Uông Bí, Đông Triều; 04 máy đếm tế bào CD4 (tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí, Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện Lao và Phổi, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh) phục vụ xét nghiệm, chuẩn đoán cho bệnh nhân AIDS; 08 điểm cung cấp thuốc điều trị dự phòng Lây truyền HIV từ mẹ sang con (tại các Bệnh viện đa khoa: tỉnh, Cẩm Phả, Tiên Yên, Vân Đồn, Móng Cái, Đông Triều, Quảng Yên, và Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí), các đơn vị còn lại chỉ thực hiện tư vấn, xét nghiệm HIV cho bà mẹ có thai để chuyển tuyến Đây là một lợi thế cho người có HIV có thể tiếp cận các dịch vụ y tế một cách nhanh chóng, tiện lợi [26]

1.3.2 Khái quát về huyện Đông Triều

Về vị trí địa lý, huyện Đông Triều cách Hà Nội khoảng 90 km, cách Hạ Long

60 km, là cửa ngõ phía tây của tỉnh Quảng Ninh Phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang; phía nam và phía tây giáp Hải Phòng, Hải Dương, phía đông giáp thị xã Uông Bí Huyện Đông Triều gồm 2 Thị Trấn (Đông Triều và Mạo Khê) và 19 xã

Về kinh tế, huyện Đông Triều có khá nhiều thuận lợi cho phát triển tổng hợp

các ngành kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và khai thác khoáng sản (than atraxit) Từ những quy hoạch ban đầu, Đông Triều đã hình thành nhiều cụm công nghiệp tập trung, cụm vùng nghề, cụm bến bãi thuỷ nội địa với diện tích trên 250 ha

Trang 35

gồm các xã: Bình Dương, Thuỷ An, Hồng Phong, Đức Chính, Xuân Sơn, Mạo Khê, Yên Thọ, Hoàng Quế Đến hết năm 2006, huyện đã thu hút gần 80 dự án đến đăng

ký đầu tư với tổng số vốn là 3.190 tỷ đồng và hiện (2011) đã có 30 dự án đi vào sản xuất, giải quyết việc làm cho trên 3.150 lao động Kinh tế của Đông Triều có mô hình công - lâm - nông nghiệp Sản lượng lương thực chiếm 1/4 sản lượng lương thực toàn tỉnh Hiện nay, huyện đang tập trung đưa những giống cây có hiệu quả kinh tế cao về trồng như vải thiều, dâu (nuôi tằm) Công nghiệp khai thác than, nghề gốm nổi tiếng từ lâu đời Tính đến cuối năm 2013, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 14,7%, tổng thu ngân sách trên địa bàn 278,1 tỷ đồng, vượt 50,2 % kế hoạch tỉnh giao, trong đó thu cấp quyền sử dụng đất đạt 140 tỷ đồng, bằng 233% kế hoạch tỉnh giao Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ chiếm 88,4%; nông - lâm - ngư nghiệp 11,6% Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 1.759,8 USD (tăng 356,8 USD so với năm 2012) Các doanh nghiệp Nhà nước từng bước thực hiện cổ phần hóa, tiếp tục sắp xếp lại đồng thời đầu tư nâng cao dây chuyền công nghệ, mở rộng sản xuất [24]

Về dân số, Đông Triều có diện tích 397,7 km², dân số là 179.902 người (năm

2012) Dân cư sống ở Đông Triều chủ yếu là dân tộc Việt (Kinh) chiếm khoảng 98% dân số toàn huyện; 2% còn lại là dân số của các dân tộc Hoa, Tày, Sán Dìu, Dao Công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội được quan tâm chỉ đạo đạt kết quả và chuyển biến tích cực Trong năm 2013 đã giải quyết việc làm cho 2.508 lao động, vượt mục tiêu đề ra Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 1,91% năm 2012

xuống còn 1,13%

Về y tế, Đông Triều có một bệnh viện đa khoa huyện với 135 giường bệnh,

01 trung tâm y tế than khu vực Mạo Khê (thuộc Tập đoàn CN than và khoáng sản VN) với 130 giường bệnh, 1 phòng khám đa khoa khu vực Mạo Khê, trung tâm y

tế, trung tâm dân số, 21 trạm y tế xã, thị trấn Ngoài ra, địa bàn huyện còn có 3 phòng khám đa khoa tư nhân và trên 100 cơ sở hành nghề Y, dược, y học cổ truyền

tư nhân Đến hết năm 2013 đã có 18/21 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế, 17/21 trạm y tế xã có Bác sỹ làm việc, đến năm 2014 có 19/21 trạm y tế xã có bác

Trang 36

sỹ làm việc và dự kiến đến năm 2016 tất cả các trạm y tế xã có bác sỹ làm việc (cao nhất trong toàn tỉnh) Bình quân số giường bệnh trên địa bàn huyện là 2,66 giường/1000 dân Đông Triều có 01 phòng khám ngoại trú chăm sóc và điều trị cho người có HIV/AIDS, 01 điểm tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV và 01 điểm cung cấp thuốc điều trị dự phòng lây truyền từ mẹ sang con Các trạm y tế tuyến dưới là điểm khám chữa ban đầu và cung cấp các thuốc và vật dụng thiết yếu hỗ trợ cho người có HIV/AIDS trong chương trình như: các thuốc hạ sốt thông thường, thuốc

bổ, thuốc điều trị các nhiễm trùng cơ hội nhẹ, thuốc điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục, thuốc sát trùng sát khuẩn, găng tay, bơm kim tiêm sạch, bao cao su Đội ngũ y bác sỹ nhiệt tình, có tâm huyết và thường xuyên được tập huấn bổ sung kiến thức, nâng cao năng lực về chăm sóc, điều trị cho người có HIV/AIDS [26]

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIV/AIDS VÀ NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC ĐỒNG ĐẲNG VIÊN TRONG CHĂM SÓC, HỖ TRỢ TẠI NHÀ CHO NGƯỜI CÓ HIV/AIDS TẠI ĐÔNG TRIỀU, QUẢNG NINH

2.1 Thực trạng về HIV/AIDS tại tỉnh Quảng Ninh và Đông Triều

2.1.1 Tình hình nhiễm HIV/AIDS

Ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại Quảng Ninh vào năm 1994 ở gái mại dâm (là trường hợp ngoại tỉnh) Đến năm 1997 có sự bùng nổ dịch HIV trong những người nghiện chích ma túy đặc biệt là nam giới Hiện quảng Ninh là một trong số các tỉnh đứng đầu trong cả nước về tỷ lệ nhiễm HIV (chiếm khoảng 1% dân số toàn tỉnh) Tính đến ngày 31/12/2013 toàn tỉnh đã có 9.976 trường hợp nhiễm HIV được xác định từ đầu vụ dịch; 7.013 người nhiễm chuyển sang AIDS và 4.874 bệnh nhân đã tử vong do HIV/AIDS; 14/14 huyện/thị; 164/18 xã/phường trong toàn tỉnh có người nhiễm Trong đó tập trung ở Hạ Long (3.568 người), Cẩm Phả (2.381 người), Đông Triều (483 người), Quảng Yên (732 người), Uông Bí (680 người), Vân Đồn (596 người), Móng Cái (457 người), Tiên Yên (60 người) Lứa tuổi phát hiện nhiễm HIV tập trung chủ yếu trong nhóm từ 20 - 39 tuổi, năm 2006 chiếm 86,9%, năm 2010 chiếm 83,9%, năm 2013 chiếm 86,6% [26]

Huyện Đông Triều là một địa phương của tỉnh Quảng Ninh với diện tích khoảng 397,7 km², dân số là 179.902 người Huyện Đông Triều phát hiện trường hợp đầu tiên nhiễm HIV vào năm 1997 Tính đến ngày 31/12/2013 thì 21/21 xã/thị trấn trên địa bàn huyện đều có người nhiễm HIV, số người đang sống chung với HIV hay còn gọi là người có HIV+ (PLHIV) được xác định đã lên đến 804 người trong đó số chuyển sang AIDS là 618 người, số tử vong là 456 người, đặc biệt đã phát hiện 19 trẻ em bị nhiễm HIV (11 người trong số họ đang sống trong cộng

đồng) [26]

2.1.2 Kết quả hoạt động và tồn tại

Trong những năm qua, Quảng Ninh đã có nhiều cố gắng trong phòng chống HIV/AIDS thông qua các hoạt động truyền thông, các hoạt động của ngành y tế và một số hoạt động can thiệp giảm tác hại như giáo dục đồng đẳng trong những người

Trang 38

nghiện chích ma túy, chương trình 100% BCS cho gái mại dâm, tư vấn và xét nghiệm tự nguyện HIV Được sự quan tâm lãnh đạo của các cấp chính quyền, sự phối hợp của các ban ngành đoàn thể, sự hỗ trợ của các tổ chức Quốc tế, sự tham gia của cả cộng đồng, Quảng Ninh đang triển khai toàn diện Chương tình phòng, chống HIV/AIDS Quốc gia: Truyền thông thay đổi hành vi; can thiệp giảm tác hại: phân phát bơm kim tiêm, bao cao su, điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, chăm sóc điều trị cho các bệnh nhân AIDS tại các phòng khám ngoại trú, tại nhà và cộng đồng, chương trình dự phòng lây truyền từ mẹ sang con, khám và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục, chương trình Lao/HIV, an toàn truyền máu, theo dõi, giám sát dịch, nâng cao năng lực trong công tác phòng, chống HIV/AIDS Theo số liệu giám sát của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, số người phát hiện nhiễm mới giảm dần hàng năm, tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong các nhóm đối tượng có nguy cơ cao cũng giảm dần

Đánh giá chung về tình hình dịch HIV/AIDS tại tỉnh Quảng Ninh nói chung

và huyện Đông Triều nói riêng cho thấy dịch HIV/AIDS không tăng nhanh như trước những năm 2005, về cơ bản đã khống chế tình hình dịch HIV/AIDS ở đa số địa phương và các nhóm dễ bị cảm nhiễm HIV/AIDS, số người nhiễm HIV/AIDS mới phát hiện đã giảm liên tục trong 3 năm gần đây, phần lớn người nhiễm mới phát hiện tập trung ở nhóm nguy cơ cao như người nghiện chích ma túy, người mua bán dâm Tuy nhiên dịch HIV/AIDS vẫn còn diễn biến phức tạp, hành vi nguy cơ lây nhiễm trong nhóm dễ bị cảm nhiễm HIV vẫn ở mức cao, gia tăng sự lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục, gia tăng số người nhiễm HIV vốn được coi là những người ít

có nguy cơ Số người nhiễm HIV phát hiện được giảm liên tiếp 3 năm gần đây, nhưng chưa đủ thời gian đảm bảo bền vững Bên cạnh đó một số bộ phận dân cư vẫn chưa có nhận thức đúng đắn về HIV/AIDS

Người dân vẫn cho rằng các hoạt động can thiệp phòng chống HIV/AIDS là trách nhiệm của ngành y tế, chưa có sự tham gia tích cực chủ động của cộng đồng Thái độ của cộng đồng với những người nghiện chích ma túy và nhiễm HIV vẫn là

xa lánh, kỳ thị, phân biệt đối xử, không có sự hợp tác giúp đỡ Mặt khác các chương

Trang 39

trình, dự án can thiệp (nếu có) cũng thường tập trung chủ yếu vào một số nhóm có hành vi nguy cơ cao như nghiện chích ma túy, gái mại dâm mà ít có chương trình,

dự án can thiệp cộng đồng nào tác động lên tất cả các đối tượng đặc biệt là đối tượng người có HIV/AIDS Vấn đề duy trì các chương trình, dự án cho người có HIV khi dự án kết thúc là một điều khó khăn Điều đó có nghĩa là, mặc dù chúng ta

đã làm giảm được tốc độ lây lan của HIV, nhưng dịch HIV vẫn diễn biến khó lường

và tiềm ẩn các yếu tố có thể gây bùng phát dịch nếu chúng ta không có những biện pháp toàn diện và quyết liệt hơn [26]

2.2 Thực trạng về người có HIV/AIDS tại gia đình và cộng đồng ở huyện Đông Triều

2.2.1 Nhu cầu của người có HIV/AIDS trong chăm sóc, hỗ trợ tại nhà

Người có HIV+ luôn có tình trạng khủng hoảng, sợ bị phân biệt đối xử, lo lắng buồn rầu, chối bỏ, đổ lỗi, muốn tự tử, hoặc có phản ứng tiêu cực làm lây nhiễm HIV Khi nhiễm HIV/AIDS đòi hỏi phải được chăm sóc toàn diện và luôn xuất hiện các nhu cầu sau:

 Nhu cầu tinh thần và tình cảm:

Trang 40

- Tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

kháng virus)

 Nhu cầu xã hội:

tư vấn là rất quan trọng Hầu hết các bệnh nhân HIV/AIDS đều muốn được chăm sóc và điều trị tại nhà vì phù hợp với tâm lý người bệnh hơn, đỡ tốn kém và cũng đỡ quá tải cho bệnh viện Khi ở tại nhà, tại cộng đồng người nhiễm HIV/AIDS cần những chăm sóc sau - theo báo cáo đánh giá nhu cầu đầu vào của chương trình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS [20]:

Bảng 2.1: Các nhu cầu cơ bản về chăm sóc hỗ trợ tại nhà cho người có HIV+ [20]

Phát hiện và thực hiện chăm

sóc triệu chứng như: ho, sốt,

tiêu chảy, loét miệng,

triệu chứng chứ không có chức năng chuẩn đoán và điều trị bệnh

tiên sử dụng các biện pháp chăm sóc không liên quan đến thuốc

Ngày đăng: 19/12/2015, 10:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bùi Thị Xuân Mai (2012), Giáo trình nhập môn công tác xã hội, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2012
6. Đặng Thị Thanh Thủy (2013), Thái độ của Nhân viên xã hội đối với nghề Công tác xã hội (Nghiên cứu tại một sô cơ sở, tổ chức xã hội tỉnh Lâm Đồng), luận văn thạc sỹ Công tác xã hội, trường đại học Khoa học xã hội & Nhân văn Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái độ của Nhân viên xã hội đối với nghề Công tác xã hội (Nghiên cứu tại một sô cơ sở, tổ chức xã hội tỉnh Lâm Đồng)
Tác giả: Đặng Thị Thanh Thủy
Năm: 2013
7. Đỗ Văn Toản (2013), Tác động của tài chính vi mô đối với phát triển năng lực cộng đồng. Nghiên cứu tại xã Bình Thành, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, luận văn thạc sỹ Công tác xã hội, trường đại học Khoa học xã hội & Nhân văn Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của tài chính vi mô đối với phát triển năng lực cộng đồng. Nghiên cứu tại xã Bình Thành, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Đỗ Văn Toản
Năm: 2013
8. Lê Chí An (1999), Nhập môn Công tác xã hội cá nhân, Đại học Mở Bán công, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Công tác xã hội cá nhân
Tác giả: Lê Chí An
Năm: 1999
9. Lê Văn An & Hoàng Văn Ngoạn (2008), Điều dưỡng nội tập II 10. Lê Văn Phú (2004), Công tác xã hội, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng nội tập II "10. Lê Văn Phú (2004), "Công tác xã hội
Tác giả: Lê Văn An & Hoàng Văn Ngoạn (2008), Điều dưỡng nội tập II 10. Lê Văn Phú
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
11. Mai Kim Thanh (2010), Nhập môn Công tác xã hội, Nxb Giáo dục, Hà Nội 12. Nguyễn Duy Nhiên (2008), Nhập môn Công tác xã hội, Nxb Lao động xã hội,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Công tác xã hội, "Nxb Giáo dục, Hà Nội 12. Nguyễn Duy Nhiên (2008), "Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Mai Kim Thanh (2010), Nhập môn Công tác xã hội, Nxb Giáo dục, Hà Nội 12. Nguyễn Duy Nhiên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
14. Phạm Văn Quyết, Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
15. Tạ Thị Hồng Hạnh (2005), Mô tả thực trạng chăm sóc người nhiễm HVAIDS và một số yếu tố liên quan tại quân Đống Đa - Hà Nội tháng 4/2005, Luận văn thạc sỹ Y tế công cộng, trường đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả thực trạng chăm sóc người nhiễm HVAIDS và một số yếu tố liên quan tại quân Đống Đa - Hà Nội tháng 4/2005
Tác giả: Tạ Thị Hồng Hạnh
Năm: 2005
16. Trần Đình Tuấn (2010), Công tác xã hội lý thuyết và thực hành, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội lý thuyết và thực hành
Tác giả: Trần Đình Tuấn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2010
17. Trương Thị Yến, Giáo dục đồng đẳng - Mô hình trợ giúp hiệu quả trong thực hành công tác xã hội với người có HIV/AIDS, Bộ môn CTXH - Khoa lịch sử - Trường ĐHKH Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đồng đẳng - Mô hình trợ giúp hiệu quả trong thực hành công tác xã hội với người có HIV/AIDS
18. Tổ chức HESDI - Pact Viet Nam, Giáo trình tập huấn Phương pháp nghiên cứu định tính - Dự án Chăm sóc và hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS, năm tài khóa 2010 - 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tập huấn Phương pháp nghiên cứu định tính - Dự án Chăm sóc và hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS
27. Vũ Cao Đàm (2005), Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà NộiTài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2005
29. Washington, D.C., Population Council, Horizons Project, 2000 May. v, 33, [12] p. (USAID Contract No. HRN-A-00-97-00012-00) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Population Council, Horizons Project, 2000 May. v, 33, [12]
31. USAIDS & WHO (2009), 2009 AIDS epidemic update, pp 1-37. Tài liệu website Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2009 AIDS epidemic update, pp 1-37
Tác giả: USAIDS & WHO
Năm: 2009
32. Website: http://go.worldbank.org/KJA0LPAPI0, Việt Nam - Giáo dục viên đồng đẳng góp phần giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm nguy cơ cao Link
34. Website: http://hiv.thuathienhue.gov.vn/?gd=1&cn=28&newsid=5-12-984, Ngày cập nhật 07/01/2014 Link
38. Website: http://vietbao.vn/Xa-hoi/Tuyen-truyen-vien-dong-dang-dong-gop-cho-su-thanh-cong-cua-Chuong-trinh-phong-chong-HIVAIDS/65152804/157/ Link
39. Website: http://quangninhpac.vn/index.php/tin-tuc/tin-trong-nuoc/930-tin-tuc/931-tin-trong-nuoc/616-hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-phong-chong-hiv-aids-nam2013-trien-khai-ke-hoach-nam-2014 Link
1. Bộ y tế - cơ quan Thường trực phòng, chống HIV/AIDS (2011), Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 (bản dự thảo lần 5) Khác
2. Bộ y tế (2007), Quyết định số 07/2007/QĐ-BYT ngày 19/01/2007 về việc phê duyệt chương trình hành động Quốc gia về chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV đến năm 2010, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các đối tượng được phỏng vấn sâu. - Tìm hiểu mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV AIDS thông qua đồng đẳng viên ( nghiên cứu trường hợp tại huy
Bảng 1. Các đối tượng được phỏng vấn sâu (Trang 23)
Hình ảnh hoạt động hỗ trợ tâm linh cho người có HIV và thân nhân gia đình họ thông  qua hoạt động Lễ cầu an nhân dịp Tết Nguyên đán và Lễ cầu siêu dịp Rằm tháng Bảy - Tìm hiểu mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV AIDS thông qua đồng đẳng viên ( nghiên cứu trường hợp tại huy
nh ảnh hoạt động hỗ trợ tâm linh cho người có HIV và thân nhân gia đình họ thông qua hoạt động Lễ cầu an nhân dịp Tết Nguyên đán và Lễ cầu siêu dịp Rằm tháng Bảy (Trang 94)
Bảng 4: Tỷ lệ nhận các loại chăm sóc hỗ trợ cho PLHIV và đánh giá về hiệu quả [22] - Tìm hiểu mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV AIDS thông qua đồng đẳng viên ( nghiên cứu trường hợp tại huy
Bảng 4 Tỷ lệ nhận các loại chăm sóc hỗ trợ cho PLHIV và đánh giá về hiệu quả [22] (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w