Với sự nỗ lực, quyết tâm cao trong những năm vừa qua, ngành giáo dục và đào tạo Quảng Ninh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, quy mô trường, lớp, số người đi học ở các cấp học, ngà
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
LÊ THỊ THU HIỀN
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỈNH QUẢNG NINH
(2001- 2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
LÊ THỊ THU HIỀN
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỈNH QUẢNG NINH
(2001- 2010)
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trương Thị Tiến
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tay của riêng tôi Tất cả những kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, tháng 7 năm 2014
Học viên
Lê Thị Thu Hiền
Trang 4Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Trương Thị Tiến người đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Các thầy cô giáo ban chủ nhiệm khoa Lịch sử, thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Hà Nội đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi hoàn thành đề tài luận văn
Cảm ơn Sở giáo dục đào tạo tỉnh Quảng Ninh và nhân dân đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài luận văn này
Hà Nội, tháng 06 năm 2014
Xin cảm ơn!
Tác giả
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 6MỤC LỤC
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 5
5.1 Phương pháp nghiên cứu 5
5.2 Nguồn tài liệu 5
6 Đóng góp của luận văn 5
Chương 1 Giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm 2001-2005 7
1.1 Yếu tố tác động đến hoạt động giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm 1986-2000 7
1.1.1 Khái quát về tỉnh Quảng Ninh 7
1.1.2 Thực trạng giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm 1986-2000 11
1.2 Định hướng phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng, Nhà nước và chủ trương của tỉnh Quảng Ninh 18
1.3 Hoạt động của hệ thống giáo dục phổ thông giai đoạn 2001-2005 21
1.3.1 Xây dựng mạng lưới giáo dục, đảm bảo hiệu quả đào tạo 21
1.3.1.1 Xây dựng mạng lưới giáo dục 21
1.3.1.2 Đảm bảo chất lượng đào tạo 30
1.3.2 Đảm bảo các điều kiện dạy và học 42
1.3.2.1 Về cơ sở vật chất 42
1.3.2.2 Về đội ngũ giáo viên 47
1.3.3 Công tác quản lý Nhà nước về giáo dục 50
1.3.4 Công tác xã hội hóa giáo dục 51
Chương 2 Giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm 2006-2010 56
Trang 72.1 Định hướng tiếp tục phát triển giáo dục – đào tạo của Đảng và Nhà
nước và nhiệm vụ của hệ thống về giáo dục phổ thông Quảng Ninh 56
2.1.1 Định hướng tiếp tục phát triển giáo dục – đào tạo của Đảng và Nhà nước 56
2.1.2 Nhiệm vụ, mục tiêu của hệ thống giáo dục phổ thông Quảng Ninh 59
2.2 Hoạt động của hệ thống giáo dục phổ thông Quảng Ninh 62
2.2.1 Tiếp tục mở rộng quy mô giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo 62
2.2.1.1 Mở rộng quy mô giáo dục 62
2.2.1.2 Nâng cao chất lượng đào tạo 69
2.2.2 Đẩy mạnh hoạt động phổ cập giáo dục 75
2.2.3 Tăng cường điều kiện dạy học, đổi mới công tác quản lý giáo dục 78
2.2.3.1 Tăng cường cơ sở vật chất cho giáo dục 78
2.2.3.2 Chăm lo đầu tư phát triển đội ngũ giáo viên 81
2.2.3.3 Tích cực thực hiện đổi mới công tác quản lý Nhà nước về giáo dục84 2.2.4 Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục 85
Chương 3 Một số nhận xét, đánh giá 90
3.1 Giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục trong điều kiện có những thuận lợi - khó khăn mang tính đặc thù 90
3.2 Trong 10 năm phát triển giáo dục (2001-2010), giáo dục Quảng Ninh đã đạt được một số thành tựu quan trọng 95
3.3 Tuy nhiên, hoạt động giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh còn có những hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đào tạo 104
3.4 Thách thức lớn nhất đối với giáo dục phổ thông Quảng Ninh là mức độ chênh lệch về giáo dục giữa các vùng miền 110
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 8Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Quảng Ninh là một tỉnh miền núi có biên giới quốc gia trên đất liền và trên biển giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Tỉnh có nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng trong nước và thế giới với nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú Địa mạo Quảng Ninh rất đa dạng: 2/3 là diện tích đồi núi, rừng và đất rừng, dải đồng bằng nhỏ hẹp, tỉnh có vùng biển rộng nhất trong phần Vịnh Bắc Bộ Tính đa dạng và đặc biệt của địa hình, địa mạo là điều kiện cho phát triển một nền kinh tế năng động, đa dạng nhiều ngành Trong những năm đổi mới, thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, tỉnh đã chủ động hợp tác trên nhiều lĩnh vực với các địa phương, doanh nghiệp của nước láng giềng Trung Quốc, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế của tỉnh phát triển trên tất cả các lĩnh vực: công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ Quảng Ninh lại là tỉnh nằm trong tam giác phát triển kinh tế trọng điểm phía bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh nên có vị trí đầu mối hết sức quan trọng, góp phần thúc đẩy kinh tế cho các tỉnh Bắc Bộ
Tuy nhiên, muốn phát huy tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội, Quảng Ninh đặc biệt phải chú ý đến yếu tố con người, chú ý phát triển nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo một cách toàn diện để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH, HĐH) Với sự nỗ lực, quyết tâm cao trong những năm vừa qua, ngành giáo dục và đào tạo Quảng Ninh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, quy mô trường, lớp, số người đi học ở các cấp học, ngành học đều tăng, đội ngũ giáo viên được tăng cường, công tác xã hội hóa giáo dục (XHHGD) phát triển, chất lượng đào tạo đã có những bước tiến đáng kể và ổn định Song ngành cũng đang gặp nhiều khó khăn, nổi bật là: sự chênh lệch về nhu cầu cũng như điều kiện phát triển giáo dục và đào tạo giữa các vùng miền,
sự mất cân đối cơ cấu đội ngũ giáo viên cho từng môn học, kinh phí chi cho mua sắm thiết bị dạy học hạn chế không đáp ứng nhu cầu dạy và học… Do vậy,
Trang 9trước cơ hội và thách thức trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, nếu giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh không có những bước đột phá về quy mô phát triển, hiệu quả đào tạo và chất lượng giáo dục thì sẽ không thể tạo động lực cho kinh
tế - xã hội của tỉnh phát triển ổn định trong thời gian sắp tới
Năm 2001, tại Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng khẳng định: Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố
cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Ngày 28 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 201/2001/QĐ về việc phê duyệt "Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010" đã đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử phát triển giáo dục, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, tiếp tục khẳng định sự nghiệp giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là phục vụ đắc lực cho sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước
Việc nghiên cứu giáo dục tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần tổng kết thực tiễn, đúc kết kinh nghiệm, đưa ra những kiến nghị giải pháp để tiếp tục phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo ở Quảng Ninh đặc biệt là giáo dục phổ thông Đó là chiếc cầu nối cơ bản, là cấp học mang tính nền tảng trong hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia
Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn đó, tôi đã chọn đề tài: “Giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh 2001-2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ lịch sử
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ vai trò đặc biệt quan trọng của nền giáo dục trong sự nghiệp phát triển của đất nước nên đề tài về giáo dục là đề tài nhận được sự quan tâm, chú ý của nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác
nhau
Các công trình đề cập đến vấn đề giáo dục nói chung như: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Giáo dục thẩm mỹ cho thế hệ trẻ” của Nguyễn Chương Nhiếp,
Trang 10Nguyễn Ngọc Thu, Trần Thuý (Nxb Khoa học xã hội, 1996) “Những vấn đề về chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá giáo dục trung học phổ thông” của Đặng Bá Lãm, Vũ Quốc Anh, Lê Khanh (Nxb Giáo dục, 1998) Suy nghĩ về văn hoá giáo dục Việt Nam” của Dương Thiệu Tống (Nxb Trẻ, 2000) “Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục” của Lê Văn Giang (Nxb Chính trị Quốc gia, 2001) “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI” của Phạm Minh Hạc (Nxb Chính trị Quốc gia, 2002)
“Giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển hiện đại hoá” của Vũ Ngọc Hải, Đặng
Bá Lâm, Trần Khánh Đức (Nxb Giáo dục, 2007) “Giáo dục Việt Nam 1945 – 2010” của Đặng Bá Lãm, Bùi Đức Thiệp (Nxb Giáo dục, 2010)
Đối với giáo dục phổ thông cũng đã có một số công trình: “Mối quan hệ đặc trưng giữa sự gia tăng dân số và quy mô phát triển giáo dục phổ thông ở Việt Nam” của Đinh Thị Minh Tuyết (Luận án tiến sỹ Giáo dục Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội năm 2001) “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với Giáo dục phổ thông ở Hà Nội” của Nguyễn Duy Phong (Luận án tiến sỹ Kinh tế năm 2003) “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin quản lý Giáo dục phổ thông” của Vương Thanh Hương (Luận án tiến sỹ giáo dục học năm 2003) “Một số biện pháp sử dụng nguồn lực tài chính nhằm phát triển Giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay” của Lê Xuân Trường (Luận
án tiến sỹ Giáo dục học năm 2004) Các công trình trên nghiên cứu về giáo dục
và đào tạo trong phạm vi cả nước, đã cung cấp cho chúng tôi những hiểu biết chung về đặc điểm, tình hình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay
Riêng về giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Ninh, thời gian gần đây đã được
đề cập tới trong một số luận văn thạc sĩ như: “Những biện pháp quản lí giáo dục nhằm nâng cao trình độ học vấn cho người hưởng lợi trong dự án phát triển cộng đồng: Nghiên cứu trường hợp của dự án tỉnh Quảng Ninh” (Luận văn thạc sỹ giáo dục học, năm 2005) của Vũ thị cẩm Tú “Giải pháp xây dựng đội ngũ cán
bộ quản lý trường THCS Huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay” (Luận văn thạc sỹ Giáo dục học năm 2009) của Hà thị thanh Thủy
Trang 11“Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 1996 – 2006” (Luận văn thạc sỹ năm 2009) của Ngô Thị Thu Hà…
Các công trình nghiên cứu trực tiếp về giáo dục tỉnh Quảng Ninh cũng đã giúp chúng tôi tìm hiểu một cách khái quát về tình hình giáo dục Quảng Ninh, nhưng các công trình này lại chủ yếu thuộc mã ngành giáo dục học Công trình của Ngô Thị Thu Hà lại thuộc mã ngành lịch sử Đảng và mốc thời gian nghiên cứu cũng chỉ dừng lại đến năm 2006 Cho đến nay chưa có công trình nào thuộc
mã ngành lịch sử Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống về giáo dục phổ thông ở tỉnh Quảng Ninh từ 2001 đến 2010
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phục dựng một cách có hệ thống những hoạt động chủ yếu của hệ thống giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh từ 2001 đến 2010, từ đó rút ra một số nhận xét nhằm cung cấp thêm căn cứ khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách đối với giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm tiếp theo
3.2 Nhiệm vụ
- Tập hợp các tư liệu về giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh từ 2001 - 2010
- Trình bày khái quát những chủ trương của Đảng, chính phủ đối với sự nghiệp Giáo dục - đào tạo và sự vận dụng của tỉnh Quảng Ninh trong quá trình thực hiện những chủ trương trên
- Phục dựng lại những hoạt động chủ yếu của giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh 2001-2010
- Phân tích những thành tựu và những yếu kém của giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động của hệ thống giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh 2001 – 2010, bao gồm: giáo dục tiểu học, trung học
cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung: luận văn tập trung trình bày những hoạt động của hệ thống giáo dục phổ thông nhằm: mở rộng quy mô giáo dục; nâng cao chất lượng đào tạo; tăng cường điều kiện dạy và học; đẩy mạnh công tác phổ cập giáo dục, công tác XHHGD
Về mặt thời gian: phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong thời gian từ năm 2001 đến năm 2010 Năm 2001 cũng là năm chính phủ đề ra chiến lược 10 năm phát triển giáo dục 2001 - 2010 nhằm tiếp tục đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH Quảng Ninh Năm 2010 là năm hoàn thành những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển giáo dục này
Về không gian: luận văn nghiên cứu giáo dục phổ thông trên địa bàn của tỉnh Quảng Ninh
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hai phương pháp chính trong nghiên cứu là: phương pháp lịch sử, phương pháp logic; ngoài ra trong một số trường hợp còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp, mô tả…
5.2 Nguồn tài liệu
Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo
Các kết quả điều tra, khảo sát về KT-XH, văn hóa xã hội của Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Ninh, cổng thông tin điện tử Quảng Ninh
Các báo cáo tổng kết của Sở giáo dục tỉnh Quảng Ninh
Một số công trình nghiên cứu của các cá nhân, tập thể về vấn đề giáo dục
6 Đóng góp của luận văn
- Trên cơ sở phân tích, tổng hợp tài liệu, luận văn góp phần phục dựng những hoạt động chủ yếu của giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh (2001–2010)
Trang 13- Qua đó luận văn phân tích những thành tựu, hạn chế của tỉnh Quảng Ninh trong 10 năm thực hiện chiến lược phát triển giáo dục
- Rút ra một số nhận xét về quá trình phát triển giáo dục phổ thông và sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh Quảng Ninh; cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển giáo dục và đào tạo của Quảng Ninh trong những năm tiếp theo
Trang 14CHƯƠNG 1 GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỈNH QUẢNG NINH TRONG
NHỮNG NĂM 2001 – 2005
1.1 Yếu tố tác động đến hoạt động giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm 1986-2000
1.1.1 Khái quát về tỉnh Quảng Ninh
Điều kiện tự nhiên
Nhìn trên bản đồ Việt Nam giống như hình chữ S, điểm khởi đầu của hình chữ S đó chính là tỉnh Quảng Ninh Do điều kiện địa lý, đặc điểm về tự nhiên, kinh tế và những biến cố lịch sử mà vùng đất phía đông bắc tổ quốc đã trải qua nhiều lần quy hoạch địa giới với các tên gọi khác nhau Năm 1963 tỉnh Quảng Ninh được thành lập với nền tảng là khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, tên của tỉnh được ghép từ hai tỉnh Quảng Yên và Hải Ninh cũ Quảng Ninh là
một tỉnh miền núi nằm trong giải hành lang Đông Bắc Việt Nam trên bờ vịnh
tích đất liền là 5.938 km2, địa giới trải rộng, ngoài phần đất liền dài 168 km,
Quảng Ninh có biên giới quốc gia trên đất liền và trên biển giáp với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Phía tây giáp tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang, phía đông giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và Thành phố Hải Phòng, phía bắc giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) với cửa khẩu Móng Cái và Trinh Tường Đường biên giới với Trung Quốc dài 132,8km
Một số hòn đảo thuộc tỉnh Quảng Ninh là: đảo Trần và quần đảo Cô Tô (thuộc huyện Cô Tô) Vùng nội thuỷ từ bắc xuống nam có những đảo chính như: đảo Vĩnh Thực, đảo Miễu, đảo Cái Chiên, đảo Thoi Xanh, đảo Vạn Vược, đảo
1 Chiếm 2/3 số đảo cả nước (2.078/2.779), trong đó có 1.030 đảo có tên Tổng diện tích các đảo là 619,913 km²
Trang 15Thoi Đây, đảo Sậu Nam, đảo Cái Bầu, đảo Trà Ngọ, đảo Cao Lô, đảo Trà Bàn, đảo Chén, đảo Thẻ Vàng, đảo Cảnh Cước, đảo Vạn Cảnh, đảo Cống Tây, đảo Phượng Hoàng, đảo Nấc Đất, đảo Thượng Mai và đảo Hạ Mai cùng vô số những đảo nhỏ trong vịnh Bái Tử Long và Hạ Long Duyên hải Quảng Ninh chạy dài gần 200 hải lí từ lãnh hải Trung Quốc ở phía đông đến địa giới thành phố Hải Phòng Tỉnh có nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng trong nước và thế giới, nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú
Không chỉ có vậy, địa mạo Quảng Ninh rất đa dạng, diện tích đất tự nhiên
hẹp, tỉnh có vùng biển rộng nhất trong phần Vịnh Bắc Bộ Tính đa dạng và đặc biệt của địa hình, địa mạo là điều kiện để tỉnh phát triển một nền kinh tế đa dạng, nhiều ngành nghề
, đồi núi chiếm trên 80% diện tích của tỉnh Do địa hình phức tạp, đồi núi dốc, đi lại khó khăn, dân cư chủ yếu tập trung ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền trở thành thách thức lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế, giáo dục đi lên của tỉnh đặc biệt là vùng miền núi, biên giới, hải đảo trình độ phát triển còn thấp Trong 14 huyện, thị xã, thành phố có 8 huyện (thị xã), 112 xã, phường, thị trấn là xã miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo, với 54 xã khó khăn, trong đó có
24 xã đặc biệt khó khăn [14, tr 1]
Truyền thống văn hóa - lịch sử
Quảng Ninh là một tỉnh có bề dày về truyền thống lịch sử - văn hóa, cái nôi
cư trú của người Việt Cổ, có ba nền văn hóa: văn hoá Soi Nhụ, văn hoá Cái Bèo, văn hoá Hạ Long Hàng ngàn hiện vật tìm thấy trong các hang động của tỉnh đã chứng minh từ hàng nghìn năm trước, trên đất Quảng Ninh này đã tồn tại một nền văn hoá ở "cửa ngõ" của nền văn minh Việt cổ Trải qua hàng ngàn năm lao động không ngừng, lớp người cổ trên vùng đất Trung du và đồng bằng Bắc Bộ
đã biết đến nghề trồng trọt và chăn nuôi
Trang 16Trong hơn 1000 năm của thời kỳ Bắc thuộc, Quảng Ninh lần lượt mang tên các châu quận: An Định, châu Hoàng, châu Lục, Ninh Hải, Ngọc Sơn Dưới ách thống trị của người phương Bắc, dân bản địa phải xuống biển mò trai lấy ngọc, lên rừng săn voi bẫy thú cống nạp, phải lao động cực nhọc, chịu sự thống trị của xâm lược song không ngừng đấu tranh chống ách đô hộ, chống đồng hoá: giữ tiếng Việt, duy trì các phong tục truyền thống của ông cha Dưới ách cai trị, nhiều tấm gương yêu nước xuất hiện như: Chu Sĩ chống ách cai trị của Thái Thú
Tô Định vào những năm 30 của thế kỷ 1, nữ tướng Lê Chân chống lại ách thống trị Đông Hán, nữ tướng Thánh Thiện tấn công Mã Viện Ngoài những nữ tướng nói trên, vùng đất Quảng Ninh còn nhiều tấm gương oanh liệt chống giặc ngoại xâm như: chị em Nguyệt Thai, Nguyệt Độ chiến đấu dũng cảm và hy sinh ở vùng Yên Tử vào thời Trần; ba anh em họ Trương lập công xuất sắc và hy sinh
ở huyện Đông Triều sau được thờ ở chùa Bắc Mã, dân gian gọi ba anh em là: Đức Cả, Đức Hai, Đức Ba
Ngày 12/3/1883, thực dân Pháp đổ quân vào Bãi Cháy, chính thức chiếm đóng vùng đất Quảng Ninh Trong suốt thời kỳ đô hộ, thực dân Pháp luôn phải đối mặt với các phong trào cách mạng của nhân dân các dân tộc Quảng Ninh Ngày 8/6/1945, Chiến khu Đông Triều Trần Hưng Đạo được thành lập, sau chuyển thành khu giải phóng tiến về giải phóng Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Hòn Gai, Cẩm Phả, Tiên Yên, Đầm Hà, Móng Cái
Trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Quảng Ninh đã đánh thắng ngay trận đầu, bắn rơi 3 máy bay phản lực, bắt sống phi công Mỹ đầu tiên… Quảng Ninh còn không ngừng góp công, góp của, góp người cho tiền tuyến Miền Nam, góp phần thắng lợi vào công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
Tình hình kinh tế - xã hội
đồng bằng và 8 huyện miền núi hải đảo cùng 186 xã, phường, thị trấn Theo kết quả điều tra 01/04/2009 dân số tỉnh là 1.144.381 người, với 48,6% dân số sống ở
Trang 17thành thị Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2010 là 1.159.463 người trong
đó nữ là 566,184 người có tỉ lệ dân số sống ở thành thị cao thứ 3 Việt Nam (sau thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng), dân số thành thị là 667.862 người (chiếm
tỉ lệ 58,1%) Quảng Ninh thuộc diện tỉnh có số dân trung bình trong cả nước Tỷ
lệ tăng dân số bình quân từ năm 1999 đến 2009 là 1,3% (trung bình cả nước là
thành phố trực thuộc tỉnh
Trong những năm đổi mới, thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, tỉnh đã chủ động hợp tác trên nhiều lĩnh vực với các địa phương, doanh nghiệp của nước láng giềng Trung Quốc, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế của tỉnh phát triển trên tất cả các lĩnh vực: công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ Tỉnh còn có nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản, nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu, đặc biệt về trữ lượng than của cả nước thì riêng Quảng Ninh
đã chiếm tới 90%, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Ninh Với vị trí nằm trong tam giác phát triển kinh tế trọng điểm phía bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là vị trí đầu mối quan trọng, góp phần thúc đẩy kinh tế cho các tỉnh Bắc Bộ Cùng với đó, 3 khu kinh tế: Vân Đồn, Trung tâm thương mại Hạ Long, Móng Cái trở thành đầu mối giao thương quan trọng giữa Việt Nam - Trung Quốc và các nước trong khu vực Năm 2010, Quảng Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 7 ở Việt Nam Quảng Ninh xếp thứ 5 cả nước về thu ngân sách nhà nước sau thành phố
Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bà Rịa Vũng Tàu và Hải Phòng Tính đến hết năm 2010
Quảng Ninh là một địa danh giàu tiềm năng du lịch, là một đỉnh của tam giác tăng trưởng du lịch miền Bắc Việt Nam, Quảng Ninh có danh thắng nổi
2 GDP của Hạ Long là: 3.063 USD/năm, Móng Cái 2.984 USD/năm, Cẩm Phả 2644 USD/năm, Uông Bí 1.460 USD/năm
Trang 18tiếng là vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và gần đây nhất đã được vinh dự công nhận là một trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giớ bởi giá trị địa chất địa mạo, trở thành địa điểm du lịch lý tưởng của du khách trên toàn thế giới
Trong những năm trở lại đây, các ngành kinh tế của tỉnh đều đã có những bước phát triển vững chắc; sự nghiệp CNH, HĐH từng bước được đẩy mạnh, cơ
sở hạ tầng KT-XH được tăng cường; công tác giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao được củng cố, xây dựng, năng lực và hiệu quả giáo dục và đào tạo, khoa học - công nghệ được nâng cao, nhân tố con người được được phát huy coi trọng; tài nguyên, môi trường sinh thái, di sản Vịnh Hạ Long và các di tích văn hoá, lịch sử được quan tâm bảo vệ và phát huy có hiệu quả; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện, các nhu cầu thiết yếu được đáp ứng ngày càng tốt hơn Tình hình chính trị ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững tạo môi trường cho KT-XH của tỉnh phát triển ngày càng cao
Mặc dù kinh tế của tỉnh đã có những bước phát triển, nhưng chưa thật sự vững chắc Lĩnh vực sản xuất, kinh doanh vẫn còn nhiều khó khăn cần phải tiếp tục tháo gỡ, còn 6/24 chỉ tiêu dự báo chưa hoàn thành kế hoạch; dẫn đến một số chỉ tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII đề ra khó đạt được Tiến độ thực hiện lập quy hoạch, xây dựng chiến lược và ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ còn chậm so với yêu cầu Hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông và
hạ tầng phát triển du lịch vẫn là nút thắt cơ bản chưa được kịp thời tháo gỡ căn
cơ và bài bản Vì vậy, để KT-XH có thể phát triển một cách bền vững thì giáo dục luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng
1.1.2 Thực trạng giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm 1986-2000
Từ năm 1986 tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng đã chủ trương: “Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành vả phát triển toàn diện nhân cách
trường phổ thông phải dạy kiến thức phổ thông cơ bản, lao động kĩ thuật tổng
Trang 19hợp, hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông” [2, tr 95] Thực hiện chủ trương của Đảng Hội nghị sở giáo dục toàn quốc năm 1987 xác định: khôi phục, giữ vững, củng cố, phát triển, khắc phục những quan điểm và cách làm cũ thời bao cấp về giáo dục
Sau 5 năm thực hiện, do mạng lưới giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh còn mỏng và thiếu vững chắc ở vùng khó khăn và vùng xa xôi hẻo lánh, tình trạng trẻ em đi học muộn so với độ tuổi, tình trạng bỏ học giữa chừng, ở lại lớp còn khá phổ biến, cơ sở vật chất chưa đáp ứng chương trình giảng dạy khiến cho hiệu quả đào tạo không cao Số lượng trường học, phòng học, chỗ ngồi, tỉ
lệ tốt nghiệp tuy có cao hơn trước nhưng không đáng kể:
Giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm 1986-2000
Nguồn: Niên giám thống kê năm 1990
Điều đáng lo ngại là tình trạng giáo viên bỏ nghề, học sinh bỏ học tăng nhanh Từ năm 1985-1991 số lượng giáo viên giảm 622 người, học sinh giảm 4.700 em
Nguyên nhân của tình trạng này là do kinh tế khó khăn, tỉnh không có điều kiện tập trung nguồn lực đầu tư cho giáo dục Trong khi đó nguồn đào tạo giáo viên lại bị hạn chế, đôi khi phải tuyển giáo viên qua hình thức đào tạo cấp tốc, một số trường hợp khác chưa đủ điều kiện lại được ưu tiên tuyển thẳng Vì vậy đội ngũ giáo viên vừa yếu về chất lượng, vừa thiếu về số lượng Tình trạng
bỏ trường, bỏ lớp ngày một tăng Về phía gia đình cũng không có điều kiện
Trang 20chăm lo đầu tư việc học tập cho con em, mà phó mặc cho nhà trường, để con em
đi học muộn hoặc đi học rồi lại nghỉ học Các bậc phụ huynh còn mang nặng tâm lý học xong rồi cũng chỉ đi ra làm lao động chân tay nên không tạo động lực học tập, học sinh bỏ học giữ chừng khá phổ biến Đây cũng là tình trạng chung của cả nước
Trước tình hình đó, đại hội Đảng lần thứ VII, năm 1991 đã nhấn mạnh nhiệm vụ của giáo dục phải: “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”, đặc biệt giáo dục con người phải đặt nên hàng đầu và là nhiệm vụ quan trọng nhất, đồng thời nhấn mạnh: “Khoa học giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến trên thế giới”[2, tr 285]
Để thực hiện chủ trương: “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”, ban chấp hành TW Đảng lần thứ VII đã ra nghị quyết 04-NQ/HNTW
(1/1994) về giáo dục và đào tạo, nghị quyết nhấn mạnh: giáo dục đào tạo phải
được xem là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển Đó là một sự khẳng định hết sức đúng đắn xuất phát từ lợi
ích của nhân dân ta, phù hợp xu thế thế giới, một lần nữa cho thấy tầm quan trọng của sự nghiệp đổi mới giáo dục, vai trò của nhân tố con người Qua đó cũng cho thấy vai trò giáo dục phổ thông: giúp học sinh phát triển một cách toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất và các kỹ năng cơ bản khác để xây dựng và bảo
vệ đất nước Từ đó, coi đầu tư giáo dục và đào tạo là một hướng chính cho đầu
tư và phát triển
Nghị quyết hội nghị lần thứ IV, Ban chấp hành TW Đảng khóa VII ra đời trong hoàn cảnh công cuộc đổi mới của đất nước, đã đạt được những thành tựu
to lớn, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển văn hóa - giáo dục Do đó, từ năm
1994 trở đi nền giáo dục trong cả nước nói chung, Quảng Ninh nói riêng khắc phục được những yếu kém của giai đoạn trước và chất lượng dần dần được nâng
Trang 21lên, tình trạng giáo viên và học sinh phổ thông bỏ trường, bỏ lớp đã được khắc phục
Tình hình giáo dục phổ thông cả nước và tỉnh Quảng Ninh
Nguồn: niên giám thống kê năm 1995
*Sau 15 năm đổi mới mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, giáo dục phổ thông của tỉnh đã có những thay đổi đáng kể cả về nội dung, chất lượng dạy và học theo đúng xu hướng đổi mới - hiện đại hóa
Đối với giáo dục tiểu học: thực hiện chỉ đạo của ngành giáo dục xây dựng
một nền tiểu học phát triển có chất lượng cao, làm nền móng cho sự nghiệp giáo dục quốc dân Năm học 1999-2000 toàn tỉnh có 4.579 lớp, 122.600 học sinh (giảm 741 học sinh so với năm học trước) Như vậy, quy mô học sinh tiểu học
đã đạt mức ổn định, số giảm hàng năm không nhiều tỷ lệ trẻ 6 tuổi đi học đạt
duy trì sĩ số được đảm bảo có 463 học sinh bỏ học và chuyển trường (chiếm 0,36%) Số lượng lưu ban 623 học sinh (chiếm 0,51%), nhiều nơi làm tốt công tác duy trì sĩ số và phát triển mạng lưới trường lớp theo hướng tích cực và đạt hiệu quả cao là: Quảng Hà, Móng Cái, Tiên Yên
Đối với những vùng chưa đạt chuẩn phổ cập giáo dục, công tác xóa mù chữ được tiến hành quyết liệt Các cấp đã chỉ đạo những chủ trương, biện pháp tích cực thích ứng với từng địa phương của mình như: huy động 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; tiếp tục mở các lớp xóa mù chữ; hạn chế học sinh bỏ học Với quyết tâm đó giáo dục tiểu học của tỉnh đã đạt nhiều thành tựu to lớn Năm 1997 tỉnh được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học - chống mù chữ Đây là
Trang 22thành quả lớn lao, là mốc xác định mặt bằng dân trí của tỉnh mà toàn thể nhân dân Quảng Ninh bền bỉ phấn đấu suốt 45 năm qua Với việc không ngừng cố gắng để phát huy thành quả trên đến tháng 7/2000 toàn tỉnh chỉ còn 3 xã chưa đủ tiêu chuẩn công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học – chống mù chữ là:
Hà Lâu (Tiên Yên), Đôn Đạc và Đạp Thanh (Ba Chẽ); phổ cập tiểu học đúng độ tuổi nhiều khu vực đạt khá cao: Cẩm Phả (16/16 xã), Hạ Long (17/18 xã), Đông Triều (19/21 xã), Yên Hưng (18/20 xã)
Đặc biệt năm học 1999-2000, tỉnh đã có 10 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia thuộc 8 huyện, thị xã, thành phố: Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Đông Triều, Yên Hưng, Hoành Bồ, Quảng Hà và Ba Chẽ Tuy nhiên đối với miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng còn gặp nhiều khó khăn như: Cô Tô, Vân Đồn, Tiên Yên, Ba Chẽ, Bình Liêu do trình độ giáo viên còn hạn chế, điều kiện phục vụ cho giảng dạy và học tập còn thiếu thốn nên chưa có trường nào đạt chuẩn Dù còn nhiều hạn chế nhưng nhìn chung giáo dục tiểu học đã có những chuyển biến khá vững chắc và tương đối đồng đều
Đối với giáo dục THCS, THPT: để nâng cao chất lượng dạy và học, các
trường tập trung đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt, học tốt; coi trọng giáo dục toàn diện; đẩy mạnh các hoạt động ủng hộ giúp đỡ học sinh nghèo vượt khó đến trường bằng nguồn của Hội phụ huynh và Hội khuyến học các cấp… Đăc biệt sau khi tiến hành thực hiện chương trình hành động nghị quyết TW II của Tỉnh
ủy, năm học 1997 - 1998, 12 trường chuyên THCS của tỉnh đã chuyển thành các trường THCS bình thường, tiếp tục phát triển giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng giảng dạy Tất cả các trường THPT thực hiện sắp xếp học sinh theo nguyên tắc: “Phân bố đều trình độ học sinh” Bằng sự cố gắng không ngừng qua các năm số lượng học sinh lưu ban, bỏ học giảm đảng kể, số lượng học sinh theo học ngày càng tăng
Để nâng cao chất lượng giáo dục tạo hành trang và nền móng cơ bản cho học sinh sau khi tốt nghiệp, tỉnh đã chú trọng công tác giáo dục hướng nghiệp dạy nghề Đây là một nét đổi mới so với thời gian trước đó, các trường phổ
Trang 23thông tổ chức cho học sinh học nghề, học các môn bổ trợ thiết thực như: tin học, ngoại ngữ Sở giáo dục Quảng Ninh quyết định ban hành cộng điểm tốt nghiệp đối với học sinh cuối cấp đã có bằng nghề, hoạt động hướng nghiệp dạy nghề được quản lý chặt chẽ Vì vậy tỷ lệ học sinh tham gia học nghề ngày càng tăng: năm học 1999 – 2000 tỷ lệ học sinh tham gia học nghề ở THCS là 14%, THPT
là 20% Tỉnh có 29,27% học sinh được tham gia học nghề, số học sinh thi nghề
Một minh chứng cho kết quả của sự nỗ lực đó là năm 1998, tỉnh Quảng Ninh đã có học sinh Vi Anh Tuấn – trường THPT Cẩm Phả đạt huy chương bạc tại kỳ thi Olympic Hóa học quốc tế Australia Cùng với đó, tỷ lệ tốt nghiệp đạt kết quả cao Đặc biệt năm học 1999 - 2000, ở bậc tiểu học là 98,84%, THCS: 85,65; THPT: 89,78%, trong đó có 66 học sinh đủ điều kiện tỷ lệ tốt nghiệp vào thẳng đại học, nhiều học sinh thi đỗ vào các trường CĐ, ĐH và trung học
Có được những thành quả trên là sự nỗ lực của toàn tỉnh thực hiện nhiệm
vụ phát triển giáo dục và đào tạo Một yếu tố quan trọng tạo nền tảng cho giáo dục đó là quá trình phát triển nhanh chóng KT-XH của tỉnh, và truyền thống hiếu học đã được nhân dân phát huy, góp phần đưa sự nghiệp giáo dục tỉnh thêm khởi sắc
Cùng với những thành quả đã đạt được, giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, nhiều thách thức to lớn:
- Đội ngũ giáo viên còn thiếu và mất cân đối về cơ cấu cho từng môn Thiếu và thừa cục bộ, vùng thành thị chiếm đa số còn vùng núi, vùng cao và vùng hải đảo giáo viên còn thiếu khá nhiều, chưa thực sự yêu nghề
- Cơ sở vật chất tuy đã được tăng cường nhưng so với yêu cầu thực tế còn thiếu nhiều, chưa được đầu tư đúng mức, tốc độ cao tầng hóa các trường chậm
so với kế hoạch Kinh phí cấp cho ngành chủ yếu là để chi trả tiền lương nên kinh phí chi cho mua sắm trang thiết bị dạy và học và các hoạt động khác rất hạn hẹp
Trang 24- Địa bàn tỉnh Quảng Ninh phức tạp: vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo cách xa đất liền, giao thông đi lại khó khăn, cách xa trung tâm, nhiều vùng chưa có đường giao thông lại cách sông nên điều kiện đi lại, học tập của nhiều học sinh gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt ở các huyện: Vân Đồn, Tiên Yên, Ba Chẽ, Hải Hà, Đầm Hà
- Những vi phạm quy chế chuyên môn như: soạn giảng, thi cử, tổ chức dạy thêm, học thêm ở một số cá nhân cán bộ giáo viên đã làm ảnh hưởng uy tín của ngành và uy tín nhà giáo
- Công tác XHHGD vẫn còn chậm trễ về tổ chức Đại hội giáo dục cấp huyện, tỉnh; Hội đồng giáo dục huyện (TP,TX), tỉnh và hội khuyến học chưa được thành lập, làm hạn chế công tác XHHGD
- Chất lượng giáo dục tuy đã được nâng cao nhưng công tác giáo dục tư tưởng đạo đức chính trị cho học sinh THPT còn yếu, nhiều em học sinh chưa ý thức được mục đích của việc học của mình: học để làm gì? học như thế nào? nên
số lượng bỏ học vẫn còn cao, nhất là ở vùng dân tộc ít người, vùng hải đảo làm ảnh hưởng lớn đến công tác phổ cập giáo dục
Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó: do Quảng Ninh là 1 tỉnh có sự
chênh lệch vùng miền, đặc biệt khu vực hải đảo vùng xa xôi hẻo lánh, đời sống nhân dân rất khó khăn Các cấp chính quyền, cơ quan đoàn thể - xã hội và nhân dân vẫn chưa đánh giá hết được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển nền KT-XH của tỉnh Chủ trương, chính sách phát triển - đầu tư quá chú trọng vào kinh tế - phát triển du lịch, còn lĩnh vực giáo dục chưa được quan tâm đúng với vị trí của nó Cùng với đó, tuy kinh phí cho giáo dục tăng nhưng
do đội ngũ giáo viên vào biên chế ngày càng lớn, phần chi trực tiếp cho đội ngũ chiếm tỉ lệ quá cao nên nguồn kinh khí còn hạn hẹp
Có thể nhận thấy từ đầu những năm đổi mới đến năm 2000, bên cạnh những thành tựu đáng kể đã đạt được, ngành giáo dục đào tạo tỉnh Quảng Ninh cũng đang gặp khá nhiều khó khăn cần phải khắc phục Vì vậy để giáo dục Quảng Ninh phát triển hơn nữa trở thành nền tảng, động lực thúc đẩy phát triển
Trang 25KT-XH, đòi hỏi giáo dục của tỉnh phải có những chủ trương, biện pháp phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, từ đó vừa có thể khắc phục được khó khăn, vừa phát huy được lợi thế của tỉnh
1.2 Định hướng phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng, Nhà nước và chủ trương của tỉnh Quảng Ninh
Định hướng phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng, Nhà nước
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Luật Giáo dục (1998), Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng (2001) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010, đã chỉ rõ những quan điểm phát triển giáo dục Việt Nam: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Tại đại hội IX, Đảng tiếp tục khẳng định mục tiêu tổng quát của “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010”: đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa Để đi tắt đón đầu từ một đất nước kém phát triển, thì vai trò của giáo dục và khoa học công nghệ lại càng có tính quyết định
Riêng đối với giáo dục phổ thông, cần thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ Cung cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp; tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực Xây dựng thái độ học tập đúng đắn; phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống Đảng cũng nhấn mạnh: Giáo dục phổ thông luôn đóng một vai trò quan trọng quyết định đến chất lượng nhân tài, nguồn lực của các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trong cả nước vì vậy việc cấp bách là cần phải giải quyết triệt việc tăng cường ngân sách Nhà nước cho giáo dục theo nhịp độ tăng trưởng kinh tế, thực hiện công tác XHHGD, tạo điều hiện cho người nghèo có
Trang 26cơ hội học tập, đặc biệt đối với những học sinh có năng khiếu, hoàn cảnh khó khăn, diện chính sách Đồng thời tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học; phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh; coi trọng công tác hướng nghiệp dạy nghề và phân luồng cho học sinh trung học; chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Để hoàn thành được mục tiêu trên, “Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010” khẳng định cần phải khắc phục tình trạng bất cập trong nhiều lĩnh vực, tiếp tục đổi mới một cách có hệ thống và đồng bộ, tạo cơ sở nâng cao
rõ rệt chất lượng và hiệu quả giáo dục, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chấn hưng đất nước Đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, sánh vai với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới
Chiến lược được chia làm 2 giai đoạn tương ứng với 2 kế hoạch 5 năm cụ thể Giai đoạn 1: từ năm 2001 đến 2005, trọng tâm của giai đoạn này là tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục, xây dựng đội ngũ nhà giáo, đổi mới quản lý giáo dục, đẩy mạnh xã hội hóa, tạo cơ sở chắc chắn cho việc đạt tới các mục tiêu chiến lược trong giai đoạn hai Trong đó đối với giáo dục phổ thông xác định mục tiêu: “Tăng tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường từ 95% năm 2000 lên 97% năm2005 và 99% năm 2010 Tăng tỷ lệ học sinh trung học cơ sở trong
độ tuổi từ 74% năm 2000 lên 80%vào năm 2005 và 90% vào năm 2010 Tăng tỷ
lệ học sinh trong độ tuổi vào trung học phổ thông từ 38% năm 2000 lên 45%vào
Thực hiện các chủ trương đặt ra là hết sức cần thiết, cấp bách, góp phần chấn chỉnh và đổi mới công tác quản lý giáo dục, ngăn chặn và đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực, lập lại kỷ cương nề nếp, tạo môi trường giáo dục lành mạnh, hoàn thành các mục tiêu quan trọng trong xây dựng và bảo vệ đất nước
Trang 27Chủ trương của tỉnh Quảng Ninh
Thực hiện chủ trương của Đảng, Bộ giáo dục và nhiệm vụ chiến lược 10 năm phát triển giáo dục, UBND tỉnh Quảng Ninh cùng sở giáo dục đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể đối với từng cấp học:
Cậc Tiểu học: Bảo đảm cho trẻ em trong độ tuổi tiểu học phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, có lòng ham học và có những kỹ năng cơ bản đầu tiên để học tập suốt đời Củng cố và nâng cao thành quả phổ cập; tăng tỉ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường
Cấp THCS: Tiếp tục thực hiện giáo dục toàn diện, giúp học sinh có trình
độ học vấn và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học tập hoặc đi vào cuộc sống lao động, đẩy nhanh tiến độ phổ cập và phát triển quy mô THCS thỏa mãn 100% nhu cầu học tập của học sinh, hoàn thành phổ cập vào cuối năm 2005 Tích cực đầu tư, chuẩn bị mọi điều kiện để có trường THCS đạt chuẩn quốc gia
Cấp THPT: Tiếp tục nâng cao giáo dục toàn diện, hoàn thành việc cung cấp kiến thức cho học sinh theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực và sở trường của học sinh ở mức độ nhất định, giúp học sinh có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi khi vào đời hoặc chọn ngành học tiếp theo khi tốt nghiệp cấp học
Giải quyết cơ bản về thủ tục và định hướng đầu tư để thực hiện mục tiêu:
“Cao tầng hóa 100% trường THPT và 40% trường Tiểu học, THCS; tiếp tục kiên cố hóa trường học ở vùng cao”
Ngày 17/9/2001 ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh quyết định số 3525/QĐ-UBND thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở, xây dựng lộ trình thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đạt chuẩn vào năm 2005 Xác định đặc thù của tỉnh với những thuận lợi và khó khăn, tỉnh và ngành giáo dục đào tạo đã triển khai nhiều giải pháp, nhất là việc đổi mới chương trình và phương pháp giáo dục, kiên trì vận động học sinh ra lớp, tham mưu hỗ trợ học sinh học các lớp bổ túc văn hóa nhằm đạt các mục tiêu phổ cập, linh hoạt trong
Trang 28việc tăng cường kiểm tra đánh chất lượng dạy và học, đảm bảo đúng quy chế vừa phù hợp với đặc điểm, đặc thù các địa phương trong tỉnh
1.3 Hoạt động của hệ thống giáo dục phổ thông giai đoạn 2001-2005
1.3.1 Xây dựng mạng lưới giáo dục, đảm bảo hiệu quả đào tạo
1.3.1.1 Xây dựng mạng lưới giáo dục
Để đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân, vấn đề xây dựng, mở rộng mạng lưới giáo dục là hết sức cần thiết Chiến lược giáo dục đã đề ra nhiệm
vụ cụ thể, cần phải tiếp tục xây dựng mở rộng mạng lưới các cấp bậc học và trình độ đào tạo, phù hợp với cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền của nhân lực Sau 15 năm đổi mới nhìn chung cơ cấu hệ thống giáo dục Quảng Ninh ngày càng phát triển, quy mô phát triển bậc học phổ thông đã đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân trên toàn tỉnh Tuy nhiên do đặc thù tỉnh
là trung du miền núi, dân cư còn thưa thớt, điều kiện kinh tế và địa hình đi lại khó khăn, do vậy trước hết Quảng Ninh cần phải tạo ra một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh, đồng đều giữa các vùng miền, tạo cơ hội học tập ngày càng tốt hơn cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ở các vùng còn nhiều khó khăn, phục vụ yêu cầu phát triển theo hướng CNH, HĐH đất nước
phổ thông, tuy nhiên số trường liên cấp còn nhiều chiếm 79 trường, trong đó PTCS (liên cấp 1-2): 69 trường, THPT (liên cấp 2-3): 10 trường Các trường ngoài công lập chiếm số lượng ít (toàn tỉnh có 7 trường), xu thế phát triển trường ngoài công lập ở khu vực điều kiện thuận lợi chưa tương xứng
Xuất phát từ thực tế đó và để đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của tỉnh trong thời kỳ mới, toàn tỉnh đã tập trung mọi nguồn lực mở rộng quy mô giáo dục trên cơ sở đảm bảo chất lượng và cơ cấu hợp lý giữa các cấp học, bậc học, giữa các vùng miền, tích cực tách trường liên cấp ở những vùng thuận lợi
Được chính quyền và đoàn thể nhân dân quan tâm, hỗ trợ phát triển, cùng
sự cố gắng của ngành giáo dục ngay trong năm học 2001 – 2002, toàn tỉnh có
236 trường phổ thông, trong đó: Bậc tiểu học có 143 trường (tăng 3 trường),
Trang 29THCS có 102 trường (tăng 12 trường), bậc PTCS có 74 trường (tăng 5 trường),
5 trường liên cấp 2-3, 33 trường THPT (cấp 2 + cấp 3) còn 7 trường tách được 3 trường, THPT (cấp 3) có 29 trường (trong đó có 7 trường THPT dân lập tăng 1
tộc nội trú và các lớp bán trú dân nuôi được củng cố và mở rộng diện tuyển sinh vào lớp 10
Đến năm học 2002-2003, hệ thống giáo dục tỉnh tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng đầy đủ với: trường phổ thông dân tộc nội trú, trường bán trú, dân nuôi cụm xã ở các địa phương khó khăn Các trung tâm hướng nghiệp - giáo dục thường xuyên cấp tỉnh và cấp huyện, hệ thống giáo dục chuyên nghiệp phát triển mạnh Đáng chú ý là bên cạnh các trường lớp công lập, cuối năm
2003, Quảng Ninh đã có 7 trường THPT dân lập với 7.314 học sinh Hệ bán công, ngoài công lập được mở rộng đã thoả mãn nhu cầu học tập cao của con em nhân dân Tỷ lệ trẻ em 6 tuổi được huy động vào lớp 1 tăng lên hàng năm, năm học 2002-2003 đạt 98,75% Học sinh tốt nghiệp THCS hầu hết được tuyển vào THPT hoặc trung học bổ túc, tỷ lệ tuyển sinh vào lớp 10, năm 2002 là 89,76%
Năm học 2004-2005, quy mô giáo dục phổ thông tiếp tục được mở rộng, toàn tỉnh có 100% số xã (phường, thị trấn) có cơ sở giáo dục tiểu học So với năm 2001 quy mô giáo dục có nhiều thay đổi, toàn tỉnh có: 154 trường tiểu học (tăng 14 trường), 63 trường PTCS (tách thêm 16 trường); 33 trường THPT (tăng
3 trường)
Nhìn chung mạng lưới trường lớp được kiện toàn và hoàn chỉnh dần, mạng lưới trường lớp cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân Tuy nhiên, nhiều vùng do những khó khăn đặc biệt vẫn tồn tại hạn chế:
Việc triển khai dự án trường tiểu học vùng khó ở một số địa phương vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo còn chậm và ít hiệu quả như: Ba Chẽ, Bình Liêu, Tiên Yên
Số lượng trường THPT ở các huyện này cũng chưa đủ để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến trường Về chất lượng cấp THPT chưa có trường đạt chuẩn quốc
Trang 30gia, cấp THCS chưa công nhận thêm trường nào Số trường đạt chuẩn quốc gia THCS vẫn chỉ có 2 trường là quá ít và chậm phát triển
Tỉnh vẫn còn 63 trường PTCS, ghép chung 2 cấp học khác nhau, gây khó khăn trong quản lý, triển khai các hoạt động dạy và học, xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị dạy học, xây dựng trường chuẩn đạt quốc gia
Quy mô học sinh – lớp học
1.967 76.290
756
275
36.137 13.083
4.637 115.618
2.104 79.369
794
284
36.217 13.816
4.575 109.618
2.204 83.081
814
262
36.660 12.425
4.486 104.595
2.305 85.167
845
239
37.835 11.390
4.332 97.651
2.359 87.337
916
269
40.815 12.517
Nguồn: Phòng tư liệu Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Ninh
Bảng thống kê cho thấy việc huy động học sinh ở các bậc học, ngành học
so với độ tuổi cần huy động đều đảm bảo hoàn thành, đạt tỷ lệ khá cao và năm học sau tăng so với năm học trước Số học sinh THCS, THPT đều tăng, riêng số học sinh tiểu học và vào lớp 6 có giảm so với những năm học trước Quy mô lớp học, học sinh là tương đối ổn định, ngoại trừ học sinh tiểu học có xu hướng giảm
Trang 31Học sinh tiểu học giảm là do kết quả của công tác kế hoạch hóa gia đình được thực hiện từ nhiều năm trước đây Từ năm học 2001-2005 số học sinh tiểu học liên tục giảm So với năm học trước, năm học 2001-2002 số học sinh tiểu học giảm 3,8% (4.594 học sinh), năm 2002-2003 giảm 5,2% (6.059 học sinh), đến năm học 2003-2004: giảm 4,8% (5.073 học sinh) Đặc biệt đến năm học 2004-2005 số học sinh tiểu học giảm mạnh chỉ còn 97.651 học sinh: giảm 5,92% (6.140 học sinh)
Nhìn chung quy mô giáo dục, mạng lưới trường lớp được kiện toàn và hoàn chỉnh dần: tiêu chuẩn số học sinh trên lớp được đảm bảo Tiểu học: 23,41
Bên cạnh các trường công lập, hệ thống các trường ngoài công lập được hình thành từ năm học 1999, đến năm học 2004-2005 trải qua hơn 5 năm hình thành và phát triển tỉnh đã xây dựng được 7 trường THPT dân lập với 221 lớp và 9.933 em học sinh, đồng thời giải quyết được những tồn tại, vướng mắc của trường THPT dân lập Lê Thánh Tông, tạo điều kiện cho trường tồn tại và phát triển Tuy nhiên tỉnh chưa có trường dân lập bậc tiểu học và THCS, việc hướng dẫn chỉ đạo các trường ngoài công lập còn lúng túng và chưa theo kịp sự phát triển của tỉnh
Cùng với việc xây dựng mở rộng quy mô trường lớp thì vấn đề xây dựng trường chuẩn quốc gia cũng rất được quan tâm, đặc biệt sau quyết định số 27/2001 của Bộ giáo dục và đào tạo công nhận trường trung học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010, và quyết định số 32/2005 của Bộ giáo dục và đào tạo về việc ban hành quy chế công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia Theo đó các trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia phải đạt 5 tiêu chuẩn
3 Năm tiêu chuẩn của trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia: Tổ chức và quản lý; đội ngũ và giáo viên; cơ sở vật chất - thiết bị trường học; thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục; hoạt động giáo dục và chất lượng giáo dục
Trang 32Việc xây dựng trường chuẩn quốc gia rất cần thiết đối với ngành giáo dục tỉnh, vì thực tế Quảng Ninh tình trạng tồn tại phòng cấp 4, học tạm, học nhờ cao,
tỷ lệ phòng học đạt kiên cố hóa trở lên còn thấp Vì vậy việc phải xây dựng hệ thống trường chuẩn quốc gia đáp ứng sự phát triển của giáo dục phổ thông trong thời kỳ mới, cũng như sự nghiệp CNH, HĐH đất nước là rất quan trọng
Sau quyết định số 27/2001 của Bộ giáo dục và đào tạo, trong những năm
2001 – 2005, Quảng Ninh không ngừng đầu tư kinh phí để nâng cấp phòng học, phòng chức năng, bổ sung trang thiết bị Số trường đạt chuẩn quốc gia ngày càng nhiều, đã thực sự góp phần nâng cao chất lượng toàn diện, đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng cao của học sinh và mục tiêu đào tạo, được cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân quan tâm
Số lượng trường chuẩn quốc gia 2001-2015
Nguồn: Phòng tư liệu Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Ninh
Nhìn chung, số trường đạt chuẩn quốc gia tăng lên nhanh chóng Tính riêng năm học 2001 - 2002: 19 trường tiểu học được công nhận đạt chuẩn quốc gia nâng tổng số trường đạt chuẩn lên 45 trường (bằng 30% số trường tiểu học trong tỉnh, đến năm 2005 con số này đã đạt 73 trường gấp gần 3 lần so với năm
trường THCS Mạo Khê II – Đông Triều là 2 trường THCS đầu tiên của tỉnh được công nhận trường chuẩn quốc gia Điều này cho thấy số trường đạt chuẩn quốc gia THCS có 2 trường là khiêm tốn, chứng tỏ công tác chủ động khai thác
Trang 33nguồn kinh phí từ xã hội hóa để xây dựng cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia của các địa phương, các nhà trường còn chậm, cấp THPT vẫn chưa có trường đạt chuẩn quốc gia nào[4]
Giáo dục vùng dân tộc, vùng khó khăn
Theo thống kê năm 2010, trong số 186 đơn vị hành chính cấp xã của toàn
tỉnh thì có tới 113 xã miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo Đồng thời, do tỷ lệ
đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 11% trong tổng số dân, kinh tế chủ yếu gắn với nghề nông, đời sống lại gặp nhiều khó khăn nên đã gây trở ngại không nhỏ đối với việc phát triển sự nghiệp giáo dục Để giáo dục phát triển một cách toàn diện, không còn sự chênh lệch giữa các vùng miền, ngày 29/11/2001, Tỉnh uỷ Quảng Ninh ban hành Nghị quyết số 07/NQ-TU về tăng cường đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội miền núi, hải đảo giai đoạn 2001-2005, ban hành các chính sách đối với giáo dục: miễn giảm học phí cho các đối tượng học sinh nghèo, dân tộc thiểu số ở xã đặc biệt khó khăn, chính sách ưu đãi và bồi dưỡng giáo viên miền núi, vùng cao
Sau 5 năm quy mô các trường lớp miền núi được mở rộng, nâng cao hơn Toàn tỉnh có 5 trường phổ thông Dân tộc nội trú cấp huyện: phổ thông Dân tộc nội trú Ba Chẽ, phổ thông Dân tộc nội trú Hoành Bồ, phổ thông Dân tộc nội trú Bình Liêu, phổ thông Dân tộc nội trú Tiên Yên, phổ thông Dân tộc nội trú Hải
Hà và 1 trường phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh
Để nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu học tập cho con em vùng dân tộc còn nhiều khó khăn, từ năm 2003 tỉnh đã triển khai dự án giáo dục tiểu học vùng khó, tăng cường các lớp tiền tiểu học để chuẩn bị cho trẻ em có thêm vốn tiếng Việt vào học lớp 1, huy động tối đa trẻ em đến tuổi ở các thôn bản miền núi ra lớp đạt tỷ lệ trên 90% Những thôn bản chưa đủ quy mô mở lớp, các địa phương tiếp tục mở lớp ghép để học sinh đi học đúng độ tuổi Với sự
4 Các trường trung học đạt chuẩn quốc gia cần đạt 5 tiêu chuẩn: Tổ chức nhà trường; cán bộ quản lý; giáo viên
và nhân viên; chất lượng giáo dục; cơ sở vật chất, thiết bị và công tác xã hội hóa giáo dục
Trang 34quyết tâm trên, kết thúc năm học 2003-2004: học sinh dân tộc nội trú cấp THCS của tỉnh có 942 học sinh, cấp THPT có 210 học sinh Chỉ tính 6 tháng đầu năm
2003 học sinh Dân tộc nội trú cấp THPT có 192 học sinh[5] Năm học 2004 -
2005, có 37 trường THCS và PTCS vùng sâu, vùng khó khăn có lớp nội trú dân nuôi với gần 1.700 học sinh, cũng trong năm học này các huyện Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, Móng Cái và Hoành Bồ đã bắt đầu được đầu tư xây dựng trường
dự án giáo dục tiểu học vùng khó
Tuy nhiên việc triển khai dự án tiểu học vùng khó ở một số địa phương còn diễn ra chậm và ít hiệu quả như huyện Ba chẽ, do huyện tồn tại nhiều khó khăn: 80% học sinh là dân tộc thiểu số nên khả năng giao tiếp và tiếp thu rất hạn
chế Cơ cấu kinh tế là lâm - nông - tiểu thủ công nghiệp, sản xuất chủ yếu là tự cung, tự cấp dẫn đến nhiều trẻ em tuổi còn rất nhỏ đã phải tham gia lao động
cùng với gia đình như: chăn trâu, lấy củi, làm nương rẫy nên việc tạo cơ hội cho trẻ đến trường và chăm sóc trẻ chưa được quan tâm đúng mức Vẫn còn tình trạng trẻ em chưa được tới trường hoặc đến trường nhưng chưa chuyên cần
Mặc dù đã được huyện quan tâm, nhưng cơ sở vật chất của các trường, nhất là bậc tiểu học vẫn còn thiếu thốn Các điểm trường hầu như không có nhà
vệ sinh và công trình nước sạch đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác y tế học đường: 100% các điểm trường lẻ không đạt mức chất lượng tối thiểu, nhiều điểm trường đã xuống cấp, phòng học chật hẹp, điều kiện dạy và học lạc hậu, do vậy không thu hút được học sinh đến trường, tỷ lệ học sinh ra lớp thấp, hàng năm vẫn còn tình trạng học sinh bỏ học Một số huyện còn chưa có trường nội trú như huyện Đầm Hà
Xây dựng hệ hống giáo dục thường xuyên và dạy nghề
Trong hệ thống giáo dục thì GDTX đóng vai trò quan trọng giúp hoàn thiện nhân cách, nâng cao trình độ học vấn để tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội Hệ thống giáo dục thương xuyên bao gồm xóa mù chữ, bổ túc văn
5 Trong đó lớp 10: 70 học sinh, lớp 11: 68 học sinh, lớp 12: 59 học sinh
Trang 35hoá, phục vụ các nhu cầu đa dạng của mọi đối tượng trong xã hội ở tất các cấp học, bậc học theo phương thức không chính quy nhằm giúp mọi người vừa học vừa làm, học liên tục, học suốt đời
Nhìn chung, hệ thống GDTX của tỉnh chưa đáp ứng đủ nhu cầu học tập cho mọi đối tượng Trước năm 2001, trên địa bàn tỉnh mới chỉ có một vài trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp làm nhiệm vụ dạy nghề - hướng nghiệp
Để phù hợp với điều kiện thực tế, giảm sự chồng chéo cồng kềnh trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các trung tâm GDTX, tỉnh chủ trương thành lập thêm các trung tâm GDTX, nhằm khắc phục những khó khăn trong công tác chống mù chữ cho toàn cộng đồng, đẩy mạnh công tác bổ túc văn hóa thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục trong toàn tỉnh
Sở giáo dục căn cứ vào tình hình thực tiễn của địa phương để phát triển mạng lưới cơ sở các trung tâm làm nhiệm vụ GDTX và mở các lớp Bổ túc văn hóa, tạo cơ hội cho người lao động học tập Năm học 2001 - 2002 chương trình
Bổ túc văn hóa được mở ở 17 đơn vị gồm 6 trung tâm và 11 trường THPT Số học viên bổ túc văn hóa tăng do nhu cầu của xã hội, số học viên bổ túc THCS (từ giữa năm 2001 đến tháng 3/2002) là 2.176 tăng 1.291 học viên, số học viên
Chỉ tính năm 2002, số người được học các chương trình GDTX đào tạo phi chính quy trung học chuyên nghiệp (do TW và tỉnh quản lý) là 1.734 người,
bổ túc văn hoá tiểu học có 334 người, bổ túc THCS có 8.936 người, bổ túc THPT có 5.988 người, học ngoại ngữ 1.580 người, học tin học 382 người Để tiếp tục phát triển mạng lưới cơ sở ở các trung tâm làm nhiệm vụ GDTX và các trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường trong năm học 2004 -2005 Sở giáo dục và đào tạo đã kiên trì chỉ đạo có hiệu quả chương trình kế hoạch hành động thập kỷ chống mù chữ năm 2003-2010, tổ chức các lớp sau xóa mù chữ và bổ túc THCS, THPT thực hiện phổ cập giáo dục trên địa bàn toàn tỉnh
Với sự nỗ lực không ngừng đó hệ thống giáo dục thường xuyên và dạy nghề được mở rộng, số người biết chữ đạt tỷ lệ ngày càng cao
Trang 36Quy mô hệ thống giáo dục thường xuyên và dạy nghề
Đơn vị: trường, lớp
Nguồn: Phòng tư liệu Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Ninh
Đến năm 2002 số trung tâm GDTX của tỉnh là 6, trung tâm ngoại ngữ là
12, trung tâm tin học là 8 và trung tâm học tập cộng đồng là 3 Hiện tại số người biết chữ trên tổng số dân trong độ tuổi của tỉnh Quảng Ninh đạt tỷ lệ khá cao Từ
6 tuổi trở lên: 873.247/938.975 người (đạt tỷ lệ 93%), từ 16 đến 35 tuổi: 314.254/316.881 người (đạt tỷ lệ 99,17%), trên 36 tuổi: 327.764/356.265 người (đạt tỷ lệ 92,00%)[10, tr 2]
Năm 2005 toàn tỉnh có 1 trung tâm hướng nghiệp - giáo dục thường xuyên cấp tỉnh, 5 trung tâm hướng nghiệp - giáo dục thường xuyên cấp huyện: Cẩm Phả, Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên và Móng Cái Với 37 trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường, 21 cơ sở bổ túc văn hóa, 15 cơ sở ngoại ngữ, 8 cơ
sở tin học với 95,7%, số người biết chữ 15-35 tuổi biết chữ đạt 96,45%, số
Tuy nhiên hệ thống các trung tâm GDTX chưa phát triển, số lượng trung tâm còn ít, học viên theo học các lớp bổ túc chủ yếu là những người lớn tuổi, vừa học vừa làm, số lượng người trẻ chưa cao Bên cạnh đó số người tái mù chữ trong độ tuổi 15-35 còn cao: 1.842 người Các lớp dạy tin học tư nhân mở ra
Trang 37tràn lan chưa được kiểm tra, quản lý Mạng lưới bổ túc văn hóa cấp THCS còn
ít, vì vậy để đạt hiệu quả cao hơn nữa tỉnh cần có kế hoạch cụ thể để đẩy mạnh
phục vụ cho công tác phổ cập THPT
Công tác hoạt động dạy nghề: Công tác hướng nghiệp dạy nghề là một
nội dung của chương trình giáo dục phổ thông Ngành giáo dục tỉnh luôn quan tâm, xây dựng và kiểm tra đôn đốc việc dạy nghề phổ thông tại các trung tâm hướng nghiệp, dạy nghề Năm 2001, Quảng Ninh đã có 6 trung tâm hướng nghiệp dạy nghề: Hòn Gai, Uông Bí, Yên Hưng, Đông Triều, Móng Cái, Cẩm Phả Số học sinh được học nghề phổ thông tại các trung tâm trong các năm học
2002 - 2003 tại 6 trung tâm có 11.923 học sinh, trong đó THCS có 6.792 học
sinh, THPT có 5.194 học sinh (lớp 12)
Đặc biệt từ năm học 2004-2005 Trung tâm hướng nghiệp - giáo dục thường xuyên tỉnh đã tăng cường mở rộng liên kết với các trường đại học, cao đẳng, THCN, dạy nghề, các cơ sở có nghề truyền thống để dạy nghề cho thanh, thiếu niên với nhiều ngành nghề tiêu biểu: Cắt may, mộc, tiện kim loại, đan len, thêu, nguội, điện dân dụng, gò hàn, rèn mở rộng đào tạo tin học, ngoại ngữ Cùng với đó, Trung tâm đã mạnh dạn tổ chức giảng dạy các lớp bổ túc văn hoá THPT; phối hợp với các phòng giáo dục và đào tạo thực hiện tốt nhiệm vụ hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông cho học sinh THCS và THPT
Công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông tỉnh Quảng Ninh đã góp phần bồi dưỡng, hướng dẫn học sinh chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của tỉnh và xã hội, đồng thời phù hợp với thể lực và năng khiếu của cá nhân Thực hiện công tác hướng nghiệp là một yêu cầu cần thiết góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lý sau khi học sinh tốt nghiệp
1.3.1.2 Đảm bảo chất lƣợng đào tạo
Là một tỉnh có nhiều đặc điểm mang tính đặc thù, có sự chênh lệch nhu cầu phát triển giáo dục - đào tạo giữa các vùng miền Giữa miền núi, hải đảo và các làng chài lênh đênh trên biển với các vùng đô thị, đồng bằng phát triển có
Trang 38khoảng cách khá xa về mức sống, trình độ dân trí Để đáp ứng được yêu cầu của
sự nghiệp CNH, HĐH, xóa bớt khoảng cách giữa các vùng miền thì việc nâng cao chất lượng giáo dục trở thành vấn đề cấp thiết mũi nhọn của giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh
Nhận thức được tầm quan trọng đó, căn cứ vào chỉ thị số BGD&ĐT ngày 27/5/2000 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT “Về những nhiệm vụ trung tâm của toàn ngành trong năm hoạc 2000-2001”, Chỉ thị số 23/2000/CT –
29/2000/CT-UB ngày 10/8/2000 của Ủy ban nhân dân tỉnh “Về việc tăng cường chỉ đạo công tác giáo dục năm học 2000-2001” và từ thực trạng giáo dục trong những năm qua, tỉnh đã chủ trương đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh, nâng cao chất lượng giáo dục một cách toàn diện:
- Đẩy mạnh chất lượng giáo dục toàn diện, tăng cường giáo dục chính trị -
tư tưởng, đạo đức cho học sinh Đặc biệt kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc rèn luyện nhân cách cho học sinh nhất là những địa bàn nền kinh tế phát triển: Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái, Uông Bí
- Quan tâm xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cốt cán các môn học
ở trường phổ thông; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý
- Đối với khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn như huyện: Tiên Yên, Ba Chẽ, Hải Hà tỉnh cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị cho các trường phổ thông và trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú theo hướng đồng
bộ Thực hiện có hiệu quả việc dạy học tiếng dân tộc thiểu số, cung cấp miễn phí hoặc ưu đãi sách giáo khoa, đồ dùng học tập cho học sinh vùng còn nhiều khó khăn
Để thực hiện chủ trương đó, từ năm 2001 trở đi, ngành đã chỉ đạo 100%
dạy tiếng anh trong trường phổ thông) với thời lượng 3 tiết/tuần, 100% các trường đều coi trọng bồi dưỡng học sinh giỏi trên cơ sở chuẩn hóa kiến thức,
Trang 39nâng cao chất lượng mũi nhọn trên cơ sở chất lượng đại trà, 100% học sinh
Để đánh giá đúng được chất lượng nền giáo dục tỉnh thì học lực và hạnh kiểm là 2 mặt quan trọng nhất, phản ánh được thực chất chất lượng giáo dục Với quyết tâm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ngay đầu năm học 2000-
2001 công tác đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng “phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh”, giảm tải chương trình đã được các nhà trường thực hiện nghiêm túc hiệu quả, đạt nhiều tiến bộ Kết thúc năm học
tỷ lệ học lực loại giỏi so với năm học trước tăng lên, bậc tiểu học đạt 12,04% (tăng 1,5%), THCS đạt 6,4% (tăng 1,5%), THPT đạt 8,4% (tăng 0,9%)
Tỷ lệ học lực loại yếu giảm đáng kể, bậc tiểu học còn 4,6%, THCS còn 4,7%, THPT còn 2,3% Khi học lực có những thay đổi tích cực, mặt hạnh kiểm giáo dục phổ thông của tỉnh so với năm học trước cũng có sự thay đổi ở cả 3 cấp học Tỷ lệ hạnh kiếm loại yếu chiếm tỷ lệ khá ít, cấp tiểu học loại yếu 1,53%
Mặc dù chất lượng giáo dục của tỉnh so với năm học trước có nhiều tiến
bộ, tuy nhiên do một bộ phận học sinh chưa chăm ngoan, kết quả học tập rèn luyện còn yếu, kém, một số giáo viên năng lực giảng dạy còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu mới nên tỷ lệ học sinh học lực đạt loại giỏi còn ít, số học sinh hạnh kiểm tốt đạt tỷ lệ dưới 50%
Nhận thức được điều đó Sở giáo dục tỉnh đã chủ trương tăng cường bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, nâng cao trình độ tay nghề và phẩm chất đạo đức đáp ứng tình hình mới đang thay đổi ngày càng mạnh mẽ của giáo dục Tăng cường đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống đẹp cho học sinh, tích cực phòng chống và khắc phục các tệ nạn xã hội đang xâm nhập vào nhà trường Đến cuối năm học
2005, chất lượng giáo dục tỉnh nâng cao về mọi mặt
6 6 trường THCS học tiếng Trung Quốc là: Móng Cái, Ninh Dương, Hòa Lạc, Ka Long, Hải Xuân và Bãi Cháy
Trang 40Bậc tiểu học do tích cực chỉ đạo đổi mới chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy và học với 8 chuyên đề cấp tỉnh, 37 chuyên đề cấp huyện và 120 chuyên đề cấp trường, từ năm 2000 đưa chương trình dạy tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số Do đó chất lượng 2 mặt giáo dục so với năm học 2000-2001 được nâng lên, hạnh kiểm tốt tăng 3,5%, học lực giỏi tăng 4,2%, tỷ lệ yếu về học lực giảm 1,15% Một số địa phương có chất lượng đào tạo cao như Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái, Hoành Bồ, Đông Triều, Hải Hà, Đầm Hà Chất lượng đào tạo ở các lớp học 2 buổi/ngày đạt yêu cầu khá cao (xếp học lực giỏi đạt trên 50%, không có học lực yếu)
Bậc THCS tỷ lệ học lực và hạnh kiểm yếu chiếm rất nhỏ dưới 1% (0,86%
Giáo dục mũi nhọn: Để chất lượng giáo dục phổ thông được nâng lên một
cách toàn diện, vấn đề học sinh giỏi đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhà trường và ngành giáo dục tỉnh, bởi đây là một thước đo để kiểm định chất lượng mũi nhọn của giáo dục, cũng như tìm ra những nhân tài thực sự phục vụ cho
công cuộc CNH, HĐH
Vì vậy, ngoài việc tạo điều kiện tốt nhất cho các em trong đội tuyển ôn thi, tỉnh đã quan tâm bồi dưỡng chuyên môn giáo viên dạy đội tuyển học sinh giỏi với chủ trương: “Da ̣y học sinh giỏi là phải thật kỹ , thâ ̣t nhuyễn, dạy phong tỏa toàn bộ kiến thức” như lời của cố thủ tướng Ph ạm Văn Đồng đã nói: Phải