Đây là các tác phẩm truyện ngắn hiện đại trong đó có nhiều đoạn hội thoại với những bối cảnh giao tiếp khác nhau, với các vai giao tiếp khác nhau… sẽ cung cấp cho luận văn khối tư liệu p
Trang 1Đại học quốc gia hà nội Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
Phạm Thị Thu Trang
Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong các diễn ngôn hội thoại (khảo sát trên tư liệu một số
truyện ngắn hiện đại)
Trang 2Mục lục
1.1 Một số vấn đề về “diễn ngôn” và “phân tích diễn ngôn” 9 1.1.1 Mối quan hệ giữa “diễn ngôn” và “văn bản” 9 1.1.2 Mối quan hệ giữa “phân tích diễn ngôn” và “phân tích văn bản” 12 1.2 Một số vấn đề cơ bản về “diễn ngôn hội thoại” và phân tích “diễn ngôn hội
thoại”
15
1.2.3 Một số vấn đề về phân tích “diễn ngôn hội thoại” 22
1.2.3.3 Các nguyên lý giao tiếp (lịch sự - cộng tác) 27 1.3 Một số vấn đề về “phân tích diễn ngôn phê phán” 32 1.4 Vấn đề “quyền thế” trong diễn ngôn phê phán 35
Chương 2 Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong diễn ngôn hội thoại
trên một số phương tiện từ vựng
Trang 32.1.3.1 Một số nét về quan hệ giữa các vai giao tiếp với ngôi thứ ba trong hội thoại 57 2.1.3.2 Quan hệ quyền thế biểu hiện qua việc tạo lập/không tạo lập quan hệ với ngôi thứ ba
2.2.2.1 Tiểu từ tình thái mang sắc thái khiêm nhường, mềm mỏng 68 2.2.2.2 Tiểu từ tình thái mang sắc thái mạnh mẽ, dứt khoát 72
3.1.2 Biểu hiện của quan hệ quyền thế thông qua các kiểu câu chủ động/bị động,
3.2 Biểu hiện của quan hệ quyền thế trên phương diện cách thức tổ chức hội thoại
90 3.2.1 Biểu hiện của quan hệ quyền thế thông qua sự xuất hiện các lối nói chêm xen,
3.2.2 Biểu hiện của quan hệ quyền thế thông qua việc tuân thủ các nguyên lý hội
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình lịch sử của mình, ngôn ngữ học đã chứng kiến sự hình thành và phát triển của rất nhiều trường phái cũng như các đường hướng nghiên cứu mới, đó là một nhu cầu tất yếu đảm bảo cho dòng chảy ngôn ngữ học luôn tràn đầy sức sống Với tiền đề ấy, phân tích diễn ngôn phê phán (critical discourse analysis - CDA) là một đường hướng nghiên cứu tuy ra đời khá muộn, vào những năm 70 của thế kỷ XX, song nó đã chứng tỏ sức hút mạnh mẽ của mình với đông đảo giới nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới Mục đích của đường hướng nghiên cứu mới mẻ này không chỉ dừng lại ở việc miêu tả mà còn đưa ra những lý giải về quá trình kiến tạo, tồn tại và hoạt động của diễn ngôn; trên cơ sở đó nó thừa nhận vai trò của ngôn ngữ trong việc tổ chức mạng lưới quan hệ quyền thế xã hội Nói như vậy cũng có nghĩa là, trong phân tích diễn ngôn phê phán, một khái niệm tối quan trọng không thể bỏ qua là “quyền thế” (power); có thể hiểu “quyền thế” là vấn đề cốt lõi trong đường hướng phân tích này
ở Việt Nam, cho đến nay vẫn còn khá ít những công trình nghiên cứu quan tâm đến vấn đề quyền thế trong các diễn ngôn (đặc biệt là trong các diễn ngôn hội thoại) theo hướng tiếp cận của phân tích diễn ngôn phê phán Mặt khác, phần lớn những công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng các tiền
đề có tính lý luận, chưa đưa ra được những biểu hiện sinh động trên phương diện ngôn ngữ của mối quan hệ quyền thế vốn rất phức tạp giữa các nhân vật giao tiếp trong thực tế xã hội Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài
“Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong các diễn ngôn hội thoại” (khảo sát
Trang 5trên tư liệu một số truyện ngắn hiện đại) trên cơ sở vận dụng lý thuyết phân
tích diễn ngôn phê phán làm đối tượng nghiên cứu của luận văn
2 Nhiệm vụ của luận văn
Với lý do lựa chọn đề tài như trên, nhiệm vụ chính của luận văn là lần lượt
mô tả những biểu hiện sinh động của mối quan hệ quyền thế giữa các nhân vật giao tiếp trên ba phương diện ngôn ngữ cơ bản Đó là phương diện từ vựng, ngữ pháp và cách thức tổ chức hội thoại Trên cơ sở kết quả tư liệu thu nhận được, luận văn sẽ đánh giá áp lực quyền thế giữa các vai giao tiếp chi phối việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ hội thoại của các bên tham gia, đồng thời khẳng định
sự tồn tại cũng như ảnh hưởng mạnh mẽ của mối quan hệ quyền thế đặc biệt này trong giao tiếp xã hội nói chung
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các cuộc hội thoại thực tế được rút
ra từ một số tác phẩm văn học hiện đại Phạm vi nghiên cứu của công trình này
là đặc điểm các vai giao tiếp, những biểu hiện của mối quan hệ quyền thế giữa các nhân vật tham gia cuộc thoại thông qua các phương tiện ngôn ngữ cụ thể Còn những biểu hiện của mối quan hệ trên thông qua các phương tiện phi ngôn ngữ cử chỉ, giọng điệu, ánh mắt… không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng tư liệu khảo sát chủ yếu trên những nguồn sau:
- Truyện ngắn Tường thành, Võ Thị Xuân Hà, NXB Hội nhà văn, 2004
- Truyện ngắn Mùa hè vội vã, Nguyễn Đình Chính, NXB Hà Nội, 2004
- Tập truyện ngắn Hồi ức tuổi mười ba, Hữu Đạt, NXB Hà Nội, 2004
- Tập truyện ngắn Thiếu phụ đồng trinh, Phan Cao Toại, NXB Hà Nội, 2002
Trang 6- Tập truyện ngắn 5 cây bút nữ, Nhiều tác giả, NXB Hội nhà văn, 2004
- Tập truyện ngắn Cô giúp việc kén chồng, Đỗ Thị Hồng Vân, NXB Hà Nội,
2008
Đây là các tác phẩm truyện ngắn hiện đại trong đó có nhiều đoạn hội thoại với những bối cảnh giao tiếp khác nhau, với các vai giao tiếp khác nhau… sẽ cung cấp cho luận văn khối tư liệu phong phú, đa chiều về mối quan hệ quyền thế giữa các nhân vật giao tiếp biểu hiện thông qua các phương tiện ngôn ngữ
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong công trình này, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu
là phương pháp phân tích miêu tả Bên cạnh đó, luận văn cũng vận dụng một số thủ pháp nghiên cứu truyền thống khác như thống kê, so sánh, đối chiếu… nhằm phục vụ hiệu quả cho mục đích nghiên cứu của mình
5 Đóng góp của luận văn
Với đề tài “Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong các diễn ngôn hội thoại” (khảo sát trên tư liệu một số truyện ngắn hiện đại), luận văn mang lại
một số ý nghĩa lý luận và thực tiễn cơ bản sau:
5.1 ý nghĩa lý luận
Bằng việc khảo sát các cuộc thoại được rút ra từ một số tác phẩm truyện ngắn hiện đại, luận văn là sự thể nghiệm việc vận dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn phê phán khi nghiên cứu về vấn đề quyền thế Thông qua kết quả nghiên cứu, luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn một số khái niệm cơ bản có tính lý luận của đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán khi áp dụng vào thực tế phân tích diễn ngôn hội thoại nói riêng, trong phân tích diễn ngôn nói chung
Trang 75.2 ý nghĩa thực tiễn
Tính thực tiễn của luận văn thể hiện ở việc vận dụng kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra những kiến giải cũng như những đề xuất, định hướng trong việc tạo lập và nhận hiểu các diễn ngôn hội thoại trong các tác phẩm văn học hiện đại nói riêng, trong diễn ngôn hội thoại nói chung Cũng trên cơ sở đó, người tham gia giao tiếp có thể lựa chọn được những chiến lược sử dụng ngôn ngữ hiệu quả nhất
để xác lập hay thay đổi mối quan hệ quyền thế với người đối thoại, từ đó duy trì
và điều khiển cuộc thoại để đạt tới đích giao tiếp cuối cùng
Mặt khác, do đối tượng nghiên cứu của luận văn là những đoạn hội thoại được rút từ các tác phẩm văn học hiện đại của nhiều tác giả khác nhau, nên luận văn cũng nêu lên một số nhận xét về phong cách tác giả, về dụng ý của nhà văn khi khắc họa hình tượng nhân vật, mô tả mạng lưới quan hệ giữa các nhân vật trong tác phẩm thông qua ngôn ngữ đối thoại Điều này sẽ giúp độc giả có cơ sở tiếp cận tác phẩm cũng như các nhân vật một cách mới mẻ và toàn diện hơn
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được
bố cục gồm ba chương cụ thể như sau:
Chương 1 Cơ sở lý thuyết
Chương 2 Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong diễn ngôn hội thoại trên
một số phương diện từ vựng
Chương 3 Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong diễn ngôn hội thoại trên
một số phương diện ngữ pháp và cách thức tổ chức hội thoại
Trang 8Chương 1
Cơ sở lý thuyết
1.1 Một số vấn đề về “diễn ngôn” và “phân tích diễn ngôn”
1.1.1 Mối quan hệ giữa “diễn ngôn” và “văn bản”
Cho đến nay đã có khá nhiều định nghĩa được đưa ra cho khái niệm “diễn ngôn” song vẫn chưa thực sự có một định nghĩa hoàn chỉnh nhất Người nghiên cứu do đó phải tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, góc độ tiếp cận… mà lựa chọn một định nghĩa có tính chất làm việc Tuy nhiên trước hết cần nói đến người đầu tiên đề xướng ra khái niệm này Z Harris (1952) trong công trình “Discourse analysio - Phân tích diễn ngôn” đã đưa
ra khái niệm “diễn ngôn” với cách hiểu là văn bản liên kết, ở bậc cao hơn câu (Z Harris, 1952, trích theo Nguyễn Hoà, 2003) Có thể nói, với việc đề ra khái niệm này, Harris đã góp phần quan trọng giúp ngôn ngữ học văn bản còn non trẻ xác định được nền móng phát triển của mình là hướng vào nghiên cứu chức năng của ngôn ngữ “Diễn ngôn” và “văn bản” là hai khái niệm không thể bỏ qua trong nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản nói chung, trong phân tích diễn ngôn nói riêng Tuy nhiên trên thực tế để phân định rạch ròi hai khái niệm này lại không
hề đơn giản Có khi chúng được coi là hai khái niệm có cấu trúc xác định tách biệt hoàn toàn, thuộc hai quá trình, có khi khái niệm này là sự biểu hiện cụ thể, là bộ phận của khái niệm kia; cũng có khi chúng lại được dùng thay thế cho nhau như hai khái niệm đồng nghĩa hoàn toàn Chúng ta có thể nhìn lại quan điểm của một vài tác giả tiêu biểu để có cơ sở phân định rõ hơn
về hai khái niệm này
Trước hết, hai tác giả Brown & Yule quan niệm rằng “văn bản như là thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp”, hay “văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn” Còn khi xử lý diễn ngôn như là “sản phẩm” hay “tiến trình” thì các tác giả lại khẳng định: “diễn ngôn - như - một tiến trình” Trong khi đó, David Nunan về cơ bản cũng có khuynh hướng phân biệt rạch ròi hai khái niệm này nhưng lại diễn đạt cụ thể hơn Theo ông, thuật ngữ “văn bản” được dùng để chỉ bất kỳ cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp; sự kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói (một cuộc hội thoại, một bài thuyết
Trang 9giáo) hoặc ngôn ngữ viết (một bài thơ, một mẩu truyện) Còn về thuật ngữ “diễn ngôn”, ông cho rằng nó được dùng để giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh
Một tác giả khác là Crystal thì lại phân biệt “diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể” Tác giả này đồng thời cũng nhận định “văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng vì những mục đích phân tích Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như
một cuộc thoại, một tờ áp phích” (dẫn theo David Nunan, Dẫn nhập phân tích diễn ngôn,
1997) Như vậy, ở đây mặc dù tác giả không đồng nhất hai khái niệm trên song dường như cũng không có sự phân định rành mạch ranh giới giữa chúng, văn bản trở thành sản phẩm của diễn ngôn và trong nhiều trường hợp thậm chí có thể thay thế được cho nhau
ở Việt Nam cũng có khá nhiều tác giả quan tâm đến vấn đề này và lẽ tất yếu cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, hoặc có khi là sự thay đổi về quan điểm của cùng một tác giả trong những giai đoạn khác nhau Tiêu biểu là tác giả Diệp Quang Ban trong các công trình nghiên cứu của mình đã nhận định mối quan hệ giữa hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” qua các giai đoạn như sau: (1) Văn bản được dùng để chỉ chung các sản phẩm của ngôn ngữ (product) viết và ngôn ngữ nói có mạch lạc và liên kết; (2) Có sự đối lập giữa diễn ngôn và văn bản: sử dụng văn bản để chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết và diễn ngôn chỉ ngôn ngữ nói; (3) Diễn ngôn được dùng như văn bản ở ý nghĩa (1) (trích theo Nguyễn Hoà, 2003)
Còn tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong một công trình mới đây, sau khi điểm qua một
số quan điểm khác nhau về hai khái niệm này thì lại bày tỏ quan điểm cá nhân: “thuật ngữ diễn ngôn (discours) và văn bản (text) thường được coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm của ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, trong đó, diễn ngôn thường được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn” (Nguyễn Thiện Giáp, 2004: 169) Có thể thấy, tác giả một mặt đồng nhất hai khái niệm trên song mặt khác ngay sau đó lại có tỏ ra lúng túng khi nhấn mạnh sự phân biệt tương đối giữa chúng
Trang 10Một trong số các tác giả khác ở Việt Nam cũng dành nhiều sự quan tâm cho vấn đề này
là tác giả Nguyễn Hoà Trong công trình nghiên cứu của mình, ông tỏ ra nhấn mạnh sự phân biệt hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” Theo ông, “văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp
xã hội cụ thể”; trong khi đó “diễn ngôn như là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” Mặc dù đã đưa ra sự phân biệt hai khái niệm như trên song tác giả cũng thừa nhận rằng trong thực tế sự phân biệt này chỉ mang tính tương đối vì theo cách hiểu đó, trong văn bản sẽ xuất hiện một vài đặc trưng của diễn ngôn và ngược lại trong diễn ngôn cũng nhiều khi tồn tại các thuộc tính của văn bản Theo ông, thực chất đây không phải là hai thực thể độc lập, hoàn toàn tách biệt nhau mà chỉ là một thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chức trong bối cảnh giao tiếp cụ thể Nói cách khác, tuỳ theo quan điểm của người nghiên cứu mà ngôn ngữ sẽ được coi là “văn bản” khi được xem xét từ góc độ hình thức, và được coi là “diễn ngôn” khi xem xét dưới góc độ hành chức
Trong khá nhiều quan điểm đã trình bày ở trên cũng như các quan điểm khác hiện có, chúng tôi nhận thấy mỗi quan điểm đều có những nhân tố hợp lý trong cách diễn giải của mình Tuy nhiên, trong công trình này, để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu phù hợp với đối tượng
và mục đích nghiên cứu đã đặt ra, chúng tôi chủ trương theo quan điểm của tác giả Nguyễn Hoà với tư cách như một định nghĩa có tính chất làm việc Điều này cũng không có nghĩa chúng tôi phủ nhận các quan điểm khác, vì ngay bản thân mỗi tác giả trong các luận điểm của mình cũng đều có sự dung hoà tương đối với các quan điểm khác
1.1.2 Mối quan hệ giữa “phân tích diễn ngôn” và “phân tích văn bản”
Như trên chúng ta đã thấy, sự phân biệt giữa hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” tưởng như đơn giản song lại khá phức tạp, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề cần tranh luận thêm Mặc dầu vậy, sự phân biệt này vẫn là cần thiết trong quá trình nghiên cứu sâu thuộc địa hạt diễn ngôn; mặt khác nó cũng tất yếu dẫn tới hệ quả là sự phân biệt giữa hai khái niệm
“phân tích diễn ngôn” và “phân tích văn bản” mà thiết nghĩ chúng ta không thể không bàn đến
ở đây
Trang 11Trước tiên, với việc xác định “diễn ngôn như một tiến trình”, hai tác giả Brown & Yule khẳng định quan điểm rằng nhà phân tích diễn ngôn cần quan tâm đến chức năng hay mục dích của một mẩu dữ liệu ngôn ngữ và cách thức dữ liệu đó được người phát cũng như người nhận xử lý Biện luận sâu hơn, hai tác giả cho rằng, nhà phân tích sẽ phải nghiên cứu từng từ, từng câu xuất hiện trong dữ liệu thành văn của diễn ngôn, để tìm cho được bằng chứng về sự
nỗ lực của người phát (người nói/người viết) trong việc chuyển giao thông điệp đến người nhận (người nghe/người đọc) Đồng thời chúng ta cũng cần tìm hiểu bằng cơ chế nào, lý do tại sao mà người nhận có thể hiểu được chính xác thông điệp chuyển giao tới trong một ngữ cảnh
cụ thể; đồng thời các yêu cầu trở lại của người nhận trong một ngữ cảnh cụ thể bằng cách nào
có thể chuyển giao trở lại người phát, để từ đó ảnh hưởng đến kết cấu của diễn ngôn tiếp theo của người phát Như vậy, có thể thấy rõ ràng là phương hướng nghiên cứu này chủ trương lấy chức năng giao tiếp của ngôn ngữ làm đối tượng nghiên cứu chính, và vì thế nó mô tả các hình thức ngôn ngữ không ở dạng tĩnh mà như các phương tiện động nhằm thể hiện ý nghĩa (Dẫn theo Brown & Yule, 2002:48)
Một tác giả khác - David Nunan với việc xác định hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” như đã trình bày ở trên, cũng đồng thời xác nhận phân tích diễn ngôn liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (ngôn ngữ hành chức) - khác với phân tích văn bản là thiên về nghiên cứu các thuộc tính cấu trúc của ngôn ngữ, bị tách khỏi các chức năng giao tiếp của chúng Tác giả cũng biện luận thêm rằng, cũng giống như các nhà ngữ âm học, ngữ pháp học, nhà phân tích diễn ngôn cũng cần quan tâm đến việc nhận diện những cái đều đặn và những khuôn mẫu trong ngôn ngữ Tuy nhiên, không chỉ có vậy, nhà phân tích diễn ngôn còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn cả là đạt đến mục đích cuối cùng của công việc phân tích: vừa chỉ ra, vừa giải thuyết mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa và những mục đích được diễn đạt qua diễn ngôn Như vậy, ở đây tác giả đã căn
cứ vào đối tượng của nhà phân tích là ngôn ngữ xét về mặt cấu trúc hình thức thuần tuý (phân tích văn bản) và ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (phân tích diễn ngôn) để phân biệt hai khái niệm trên
Trong thực tế điều này không hề đơn giản như vậy Ngay bản thân tác giả trong khi đối chiếu những đặc trưng của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cũng đã thừa nhận không có sự
Trang 12khác biệt tuyệt đối giữa hai hình thức nói và viết vì những đặc điểm có xu hướng gắn với ngôn ngữ nói đôi khi có thể xuất hiện trong ngôn ngữ viết và ngược lại Điều này cũng có thể hiểu rằng, trong quá trình ta tiến hành phân tích văn bản (ngôn ngữ viết) thì không thể chỉ căn cứ đơn thuần vào những đặc điểm hình thức mà còn phải xem xét đến cả những đặc trưng của nó trong hành chức; và cũng tương tự như vậy đối với phân tích diễn ngôn (Dẫn theo David Nunan, 1998: 21)
Trong khi đó, tác giả Đỗ Hữu Châu, một người nghiên cứu khá nhiều về dụng học cũng quan tâm đến mối quan hệ văn bản - diễn ngôn thì cho rằng: “Diễn ngôn là lời của từng người nói ra trong một cuộc giao tiếp”; “ Tuỳ theo đường kênh, hay tuỳ theo dạng ngôn ngữ được sử dụng mà chúng ta có diễn ngôn nói hay diễn ngôn viết Chúng tôi sẽ gọi diễn ngôn viết là các văn bản” Tác giả cũng cho rằng, diễn ngôn có cả hình thức và nội dung nhưng cả hai đều chịu tác động của ngữ cảnh Do vậy, phân tích diễn ngôn là phân tích cả các yếu tố hình thức của diễn ngôn, bao gồm các yếu tố ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng, các quy tắc kết học, các hành vi ngôn ngữ tạo nên diễn ngôn Các yếu tố kèm lời và phi lời, theo tác giả, cũng được xem là các yếu tố thuộc hình thức của phát ngôn Về nội dung, tác giả cho rằng diễn ngôn bao gồm nội dung thông tin và nội dung miêu tả Hai thành tố nội dung này có thể hiện diện tường minh qua các yếu tố ngôn ngữ hình thức của diễn ngôn, hoặc tồn tại khiếm diện trong đích giao tiếp của đối phương Như vậy, phân tích diễn ngôn một cách đầy đủ, toàn diện cần xét đến cả hai mặt hình thức và nội dung của diễn ngôn
Bên cạnh đó, trên cơ sở phân tích quan điểm của tác giả David Nunan, tác giả Nguyễn Hoà lại cho rằng, mối quan hệ giữa phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản cũng có sự tương đồng như mối quan hệ giữa diễn ngôn và văn bản Bởi theo ông, không nên nhìn nhận đây là hai bộ môn riêng biệt mà về thực chất chỉ nên xem xét đó là hai mặt của quá trình phân tích ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội Với việc xác định như vậy, tác giả chủ trương quy các yếu tố như liên kết, cấu trúc đề thuyết, cấu trúc thông tin, cấu trúc diễn ngôn… thuộc về địa hạt phân tích văn bản; đồng thời những yếu tố như mạch lạc, các hành động ngôn
từ, vận dụng tri thức nền, cách thức xử lý từ trên xuống hay từ dưới lên… sẽ thuộc địa hạt của phân tích diễn ngôn (Dẫn theo Nguyễn Hoà, 2003: 35)
Trang 131.2 Một số vấn đề cơ bản về “diễn ngôn hội thoại” và “phân tích diễn ngôn hội thoại”
1.2.1 Thế nào là “diễn ngôn hội thoại”?
Trong thực tế đời sống, chúng ta hàng ngày không ngừng tạo ra vô vàn các cuộc hội thoại khi tiến hành giao tiếp Bởi vậy, có thể nói hội thoại là hoạt động giao tiếp phổ biến nhất,
cơ bản nhất của con người; đồng thời hội thoại cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Khi giao tiếp hai chiều cũng tức là chúng ta đã tạo ra một hội thoại trên cơ sở tương tác qua lại giữa một bên là người nói và một bên là người nghe, kết hợp với sự luân phiên lượt lời, thay đổi vai trò trong suốt quá trình giao tiếp Hội thoại khi được thực hiện bởi hai bên là song thoại; khi được thực hiện bởi ba bên là tam thoại; thậm chí có hội thoại gồm rất nhiều vai giao tiếp, ta có đa thoại Tuy nhiên, song thoại được coi là hình thức hội thoại cơ bản và phổ biến nhất, mang đậm những đặc trưng của một cuộc hội thoại Do đó ở đây chủ yếu bàn đến một số vấn đề chính yếu của song thoại, trên cơ sở đó có thể hình dung bức tranh khái quát nhất về các đặc trưng của “diễn ngôn hội thoại”
Trước khi đưa ra được cách hiểu đầy đủ nhất về “phân tích diễn ngôn hội thoại” thì chúng ta không thể bỏ qua một khái niệm cơ bản của bất kỳ một hội thoại nào, đó là “cuộc thoại” Để tham gia một cuộc thoại, người tham gia giao tiếp phải tuân thủ hai nguyên tắc cơ bản nhất là nguyên tắc luân phiên lượi lời và nguyên tắc liên kết Điều đó có nghĩa là, trong khi người này nói thì người kia nghe rồi mới phản hồi trở lại, không cùng nói đồng thời Hai bên tham gia phải luân phiên nói một cách uyển chuyển, nhịp nhàng Mặt khác, các lượt lời tham gia phải đảm bảo sự liên kết với nhau để cùng tạo ra tính liên kết của cả cuộc thoại Mặc
dù trên thực tế không có sự quy định hay xác định một cách chặt chẽ từ trước thứ tự người nói
và cách thức luân phiên lượt lời hay cách thức liên kết lượt lời, song việc tuân thủ hai nguyên tắc này dựa trên sự tự nguyện của các bên tham gia giao tiếp là điều kiện tiên quyết tạo nên một cuộc thoại
Ngoài hai đặc điểm trên, cuộc thoại còn luôn bao gồm tính có mục đích, một hay nhiều chủ đề khác nhau Đích của cuộc thoại có thể được thể hiện tại lời, cũng có thể nằm ngoài lời Mỗi bên tham gia giao tiếp có thể nhằm tới một đích khác nhau, hoặc cùng hướng về một đích
nhất định, nhưng dù thế nào thì cũng tồn tại tính có mục đích trong cuộc thoại đó Bên cạnh đó,
Trang 14để cuộc thoại thành công thì người nghe và người nói còn phải tôn trọng các nguyên lý hội thoại, đó là nguyên lý cộng tác và nguyên lý lịch sự (sẽ bàn đến trong phần sau)
Để nghiên cứu cuộc thoại, bên cạnh các đặc điểm nội tại của cuộc thoại như đã giới thiệu ở trên, chúng ta cũng cần lưu ý tới một số đặc điểm bên ngoài của cuộc thoại, đó là số lượng người tham dự, quan hệ giữa những người tham dự, và chu cảnh (không gian, thời gian diễn ra cuộc thoại) Khi xác định được những yếu tố này có thể dễ dàng hơn trong việc phân tích các đặc trưng cuộc thoại Ví như số lượng người tham dự nếu quá đông có thể tạo ra các cuộc thoại chính và thoại phụ, hoặc chi phối số lượng chủ đề, mục đích của cuộc thoại Hoặc giả các bên tham gia giao tiếp nếu không có quan hệ cá nhân từ trước sẽ xác định một quan hệ bình đẳng khi giao tiếp, từ đó chi phối các đặc điểm cuộc thoại; điều này khác rất nhiều so với khi hai bên tham gia giao tiếp đã bị ràng buộc từ trước bởi quan hệ cá nhân nào đó
Một vấn đề nữa là thời gian và không gian diễn ra cuộc thoại Thông thường không xác định thời gian tối thiểu hay tối đa của một cuộc thoại (trừ trường hợp các cuộc hội thảo theo giờ định sẵn) nhưng cần đảm bảo là thời gian đó là xác định và diễn ra liên tục, không bị gián đoạn hay đứt quãng Đồng thời, không gian cuộc thoại cũng góp phần chi phối đặc điểm lượt lời của người tham gia giao tiếp Ví như nếu cả hai bên tham gia giao tiếp không cùng hiện diện trong một không gian xác định thì sẽ hạn chế hoặc không cần thiết sự có mặt của các yếu tố phi lời như điệu bộ, cử chỉ, mỉm cười… Ngược lại, khi cả hai bên tham gia giao tiếp ở một không gian xác định, hoặc không gian có tính nghi thức như công sở hay một không gian không có tính nghi thức cao như quán cafe hay công viên… sẽ chi phối các đặc điểm cuộc thoại khác nhau Hoặc như khi đã xác định được một không gian nhất định thì sẽ tăng cường sự hiện diện của các yếu tố có tính quy chiếu như các từ chỉ xuất, các đại từ… Như vậy có thể thấy, các yếu tố bên ngoài mặc dù không trực tiếp tạo nên cuộc thoại song chúng cũng có ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc, tính chất cuộc thoại và đặc điểm các bên tham gia giao tiếp
1.2.2 Cấu trúc hội thoại
Để tìm hiểu được cấu trúc của một hội thoại thì cũng là chúng ta đi tìm hiểu cấu trúc ngôn ngữ của một cuộc thoại; điều đó có nghĩa là chúng ta cần xác định được mạng lưới quan
hệ của hệ thống các đơn vị ngôn ngữ cấu thành nên cuộc thoại đó, đồng thời cũng cần xác
Trang 15định những yếu tố bên trong quan yếu, yếu tố bên ngoài không quan yếu nhưng có ảnh hưởng đến cấu trúc cuộc thoại
1.2.2.1 Cấu trúc chung
Có thể nói bất kỳ một cuộc thoại nào bao giờ cũng có phần mở đầu và phần kết thúc Trong thực tế giao tiếp, người mở đầu hay kết thúc một cuộc thoại thường là tự nguyện, chủ động, song nhất định có Bởi vậy, theo đó đương nhiên ta có phần mở thoại là phần mở đầu cuộc thoại, và phần kết thoại là phần kết thúc một cuộc thoại Ngoài hai phần cơ bản trên, cấu trúc một cuộc thoại còn luôn bao gồm một phần chính yếu nữa là phần thân thoại Như vậy, về
đại thể, cấu trúc chung của một cuộc thoại bao gồm ba phần: Mở thoại - Thân thoại - Kết thoại
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng đây không phải là cấu trúc cứng nhắc vì trên thực tế giao tiếp, không phải bao giờ ranh giới giữa các phần này cũng được xác định rõ ràng
1.2.2.2 Các yếu tố cấu tạo
Khi tiến hành xây dựng cấu trúc cuộc thoại nói riêng, cấu trúc hội thoại nói chung,
chúng ta cần tìm hiểu đặc trưng của các yếu tố tạo nên cấu trúc đó Trước hết đó là lượt lời (A:
turn; P: tours) Lượt lời là đơn vị cơ bản của hội thoại, nó được xây dựng trên cơ sở những lượt lời có trước đó Lượt lời được xác định là một lần nói xong của một bên giao tiếp trong khi các bên kia không nói, để rồi khi có lời hồi đáp là đánh dấu một lượt lời tiếp theo Lượt lời
sẽ không được hình thành khi nhiều người cũng nói một lúc (trừ trường hợp đồng thanh hô khẩu hiệu) Việc xác định lượt lời cũng tức là có sự xuất hiện của luân phiên lượt lời, các bên tham gia giao tiếp có sự luân phiên liên tục, chủ động về lượt lời hồi đáp để đảm bảo hội thoại không bị gián đoạn Đây cũng là một nguyên tắc của cuộc thoại đã được đề cập ở phần trên
Sự luân phiên lượt lời trong hội thoại hoạt động theo cơ chế chuyển giao lượt lời, còn gọi là sự trao lời Khi người nói đang giữ lượt lời, nếu không còn ý định tiếp tục nói sẽ chủ động
chuyển lời cho các bên khác đang tham gia hội thoại Sự chuyển lời này có thể là trực tiếp bằng lời, sự chỉ định, hoặc chuyển bằng hình thức gián tiếp như ngữ điệu, lời xác nhận kết thúc lượt lời của mình để có tính chất thông báo cho các bên khác tiếp tục nhận lượt lời để hồi đáp, duy trì cuộc hội thoại
Trong các cuộc song thoại, ở lượt lời thường không có những dấu hiệu, thông báo để chỉ định rõ ràng đối tượng nghe tiếp nhận sự trao lời vì lúc này chỉ có một người nghe duy
Trang 16nhất Tuy nhiên, trong những cuộc tam thoại hay đa thoại thì trong lượt lời cần có sự xác định
rõ ràng hoặc có tính chất định hướng đối tượng tiếp nhận sự trao lời là ai Mặt khác, để đối tượng tiếp nhận lượt lời hồi đáp thoả mãn yêu cầu của người trao lời thì người trao lời cũng cần tính đến các yếu tố như tâm lý, tính cách, trình độ, hứng thú… của đối tượng để đưa ra sự trao lời phù hợp nhất Trong quá trình tương tác hội thoại, cả hai bên tham gia sẽ cùng theo dõi lượt lời của đối phương để có sự hồi đáp chuẩn xác Bởi vậy, khi trao lời, nếu càng nắm rõ được các đặc tính, tâm lý… liên quan đến đối tượng thì sự trao lời càng diễn ra thành công, góp phần tạo nên thành công của cuộc thoại
Cũng vì lẽ đó mà thường khi bắt đầu hội thoại, đặc biệt là hội thoại giữa những người mới quen hay quan hệ sơ, người ta thường sử dụng những lời mào đầu có tính chất thăm dò
đối tượng Trong cấu trúc hội thoại, những lời mào đầu như vậy có thể gọi là phần mở thoại
(bắt đầu một cuộc thoại) Phần mở thoại có tác dụng tạo không khí thân mật ban đầu cho cuộc thoại Nó có thể được hồi đáp hoặc không hồi đáp đúng với chủ đề được đưa ra song nó có tác dụng thông báo cho người mở thoại sự hợp tác hay không hợp tác của đối tượng Lượt lời mở thoại do đó trong cấu trúc hội thoại có phần ít giá trị hơn các lượt lời tiếp theo, nó có thể bị
“bỏ qua” để đi ngay vào chủ đề chính của cuộc thoại
Tuy nhiên cũng cần phân biệt hành động trao lời với hành động tranh lời (cướp lời/
ngắt lời) Hành động tranh lời có thể được hiểu là khi người đang giữ lượt lời còn chưa nói xong hoặc còn có ý định nói tiếp, chưa chủ động chuyển lời đã bị người kia tiếp lời, tranh lời một cách vô tình hay cố ý Như vậy, lượt lời đã được chuyển giao một cách bị động Trong giao tiếp, hành động tranh lời bị coi là vi phạm nguyên tắc hội thoại, vi phạm phép lịch sự, đặc biệt là trong song thoại Hành dộng tranh lời còn bao gồm cả các lời chêm xen, hùa theo người nói, khiến lượt lời bị đứt quãng, mất tự nhiên Khi xuất hiện lời chêm xen, mặc dù lúc này coi như đã có sự luân phiên lượt lời nhưng về nội dung chủ đề của lượt lời bị lời chêm xen giãn cách vẫn có sự liên kết Việc hiểu rõ hiện tượng này sẽ liên quan đến quá trình tìm hiểu cấu trúc hội thoại Muốn vậy, chúng ta còn cần liên hệ hình thức nói này với văn hoá, tập quán, tâm lý của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đó Bởi trên thực tế lối nói này là do các quy tắc xã hội, vị thế xã hội, phong tục… của những người tham gia giao tiếp đảm bảo cho nó điều kiện xuất hiện
Trang 17Trong nghiên cứu cấu trúc hội thoại, một đơn vị quan trọng tiếp theo đó là cặp thoại
Trong hội thoại, các hành vi ngôn ngữ không đứng độc lập mà liên hệ với nhau khá chặt chẽ, hành vi này kéo theo sự xuất hiện và tồn tại hành vi kia; tương tự lượt lời này kéo thao sự xuất hiện và tồn tại của lượt lời kia Sự liên hệ chặt chẽ giữa các lượt lời như vậy tạo nên khái niệm cặp thoại Trong một cặp thoại, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai,
do đó cấu trúc tổ chức các lượt lời trong cặp thoại thường phải tuân theo những quy tắc chặt chẽ Cặp thoại thường bao gồm hai phát ngôn có quan hệ trực tiếp với nhau, giữa chúng tồn tại một sự liên kết ngầm ẩn nhưng lại rất khăng khít: một kiểu phát ngôn đòi hỏi một kiểu phát ngôn hồi đáp riêng tương ứng: hỏi - đáp; chào - chào; đề nghị - đáp ứng; ra lệnh - thi hành… Hai phát ngôn trong cặp thoại sẽ do hai người khác nhau tạo ra, có thể gọi là vế thứ nhất và vế thứ hai (theo cách gọi của tác giả Nguyễn Thiện Giáp) Tuy nhiên, do chủ đề, tính chất và nhiều yếu tố khách quan khác nhau mà hai vế này có thể đứng liền kề nhau hoặc cách xa nhau, tức là bị xen giữa bởi một cặp thoại khác Khoảng cách của hai vế trong một cặp thoại có thể được xác định thậm chỉ bởi ba, bốn cặp thoại, song trên thực tế số lượng cặp thoại xen giữa phải đảm bảo không làm đối tượng nghe quên đi vế đầu tiên của cặp thoại bị giãn cách
Bên cạnh đó cũng cần thấy rằng, trong một cuộc thoại không phải tất cả các cặp thoại đều có chung một giá trị, vai trò Tuỳ theo chủ đề của cuộc thoại mà các cặp thoại có thể được phân thành cặp thoại chính yếu và thứ yếu (có tác giả còn gọi là cặp thoại chủ hướng và cặp thoại củng cố) Có thể hiểu một cách đơn giản rằng, cặp thoai chính yếu sẽ có nhiệm vụ hướng vào chủ đề của cuộc thoại; còn cặp thoại thứ yếu chỉ có tác dụng bổ sung thông tin, củng cố cho cặp thoại chính yếu Ngoài ra, các cặp thoại thứ yếu còn có tác dụng tạo lập và duy trì các mối quan hệ giao tiếp, không khí giao tiếp trong hội thoại, do đó các cặp thoại mở đầu hay kết thúc một cuộc thoại thường là các cặp thoại thứ yếu Khi nghiên cứu các loại cặp thoại này, mặc dù chúng không đóng vai trò lớn làm nên nội dung chính của hội thoại song lại rất có ý nghĩa khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phong tục, tập quán, tâm lý người sử dụng thông qua hội thoại Tuy nhiên, trong các cuộc thoại không phải bao giờ cũng có đầy đủ cả cặp thoại chính yếu và thứ yếu; nhiều trường hợp các cặp thoại trong cuộc thoại đều bình đẳng với nhau, cùng nói về một chủ đề chung theo một đích nhất định Cũng cần nói thêm rằng, trong
Trang 18trường hợp này việc tổ chức, sắp xếp các cặp thoại rất có thể lại nhằm một ý nghĩa ngầm ẩn nào đó, ý nghĩa đó có thể nằm ngoài cấu trúc ngôn ngữ, thuộc về lĩnh vực xã hội, tâm lý… Xét về mối quan hệ giữa hai lượt lời trong cặp thoại, thường thì lượt lời thứ nhất sẽ có/đòi hỏi sự xuất hiện của lượt lời thứ hai tương ứng, “ưa dùng”, hoặc cũng có thể ngược lại xuất hiện lượt lời không như mong muốn là lượt lời “ít dùng” Những lượt lời “ưa dùng” thường gồm cấu trúc ngôn ngữ có tính khuôn mẫu, nghi thức thường thấy, thì ngược lại, lượt lời “ít dùng” thường có cấu trúc phức tạp hơn mà hiệu quả giao tiếp lại không cao Tuy nhiên, loại lượt lời này còn được gọi là lượt lời “được đánh dấu” do nó có khả năng tiềm ẩn sự xuất hiện một cuộc thoại mới hoặc báo hiệu sự tiếp diễn của cuộc thoại Cũng như vậy, lượt lời “ưa dùng” có thể gọi là lượt lời “không được đánh dấu” do nó báo hiệu sự kết thúc hoặc sắp kết thúc cuộc thoại đó Trong thực tế hội thoại, những lượt lời ưa dùng thường thấy như: đề nghị - đáp ứng; xin lỗi - chấp nhận; mời - nhận lời…; trong khi đó những lượt lời “ít dùng” thường gặp như: yêu cầu - từ chối; buộc tội - thanh minh; ra lệnh - không thi hành…
Bên cạnh các lượt lời chủ yếu như trên, trong thực tế giao tiếp còn có thể xuất hiện một
loại lượt lời đặc biệt nữa, đó là lượt lời chêm xen Loại lượt lời này có thể có nội dung hoàn
toàn không tương thích với chủ đề hội thoại song nó lại được coi là cần thiết trong những không gian và thời gian cụ thể nhất định Việc tạo ra lời chêm xen có thể do người đang trực tiếp giữ lượt lời tạo nên, cũng có thể do người kia tạo nên, nhưng nó có tác dụng góp phần duy trì không khí hội thoại, hoặc để bào chữa cho một hiện tượng, sự kiện nào vừa chen ngang cuộc thoại, cũng có thể nó nhằm củng cố cho một nội dung được bàn đến trong hội thoại Sự xuất hiện của những lời chêm xen này đặc biệt hữu ích trong trường hợp cuộc hội thoại giữa những người không đối diện trực tiếp, như gọi điện thoại,… Mặt khác trong nghiên cứu hội thoại, nhiều trường hợp lời chêm xen còn là dụng ý của người giao tiếp, là một trong các chiến lược giao tiếp quan trọng
1.2.3 Một số vấn đề về “phân tích diễn ngôn hội thoại”
1.2.3.1 Ngữ cảnh
Có thể nói, ngữ cảnh là một trong những nhân tố giao tiếp quan trọng không thể bỏ qua trong phân tích diễn ngôn, đặc biệt là phân tích diễn ngôn hội thoại Cho đến nay cũng còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về ngữ cảnh Theo tác giả David Nunan, ngữ cảnh có nhiệm vụ
Trang 19quy chiếu tình hướng gây ra diễn ngôn và tình huống trong đó diễn ngôn được gắn vào Theo
đó ngữ cảnh bao gồm hai kiểu: một là ngữ cảnh ngôn ngữ, tức là gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ bao quanh hoặc đi kèm với sản phẩm diễn ngôn đang được phân tích; hai là kiểu ngữ cảnh phi ngôn ngữ, bao gồm tất cả các yêu tố ngoài ngôn ngữ tạo nên môi trường nền rộng mà diễn
ngôn xuất hiện như các kiểu sự kiện giao tiếp, đề tài, mục đích giao tiếp, những người tham dự… và những hiểu biết cơ sở, những giả định làm cơ sở cho sự kiện giao tiếp
Một tác giả khác cũng dành nhiều thời gian nghiên cứu về Dụng học và phân tích hội
thoại, tác giả Nguyễn Thiện Giáp thì lại chủ trương phân biệt ngữ cảnh với hoàn cảnh nói năng Theo đó, tác giả quan niệm rằng, ngữ cảnh là những từ bao quanh hay đi kèm theo một
từ, tạo cho nó tính xác định về nghĩa; trong khi đó, hoàn cảnh nói năng lại được hiểu là tình huống, bối cảnh phi ngôn ngữ mà từ xuất hiện: được giải thích bằng các thông số như ai nói, nói bao giờ, nói ở đâu, nói với ai và vì sao nói Ngoài ra, còn có một nhóm các tác giả quan niệm ngữ cảnh bao gồm ngữ cảnh tình huống (context of situation) và ngữ cảnh văn hoá (context of culture) Trong đó, ngữ cảnh tình huống được hiểu là ngữ cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ, của một trường hợp văn bản cụ thể Nói cách khác, ngữ cảnh tình huống chính là thế giới xã hội, tâm lý mà trong một thời điểm nhất định ở đó người ta sử dụng ngôn ngữ Ngữ cảnh tình huống có thể bao gồm sự hiểu biết về vị thế của những người tham gia giao tiếp, sự hiểu biết về không gian, thời gian giao tiếp, đồng thời nó còn bao gồm cả sự chấp nhận ngầm của các bên tham gia giao tiếp về tất cả những quy ước, tiền đề… được coi là đương nhiên trong cộng đồng có người nói và người nghe
Khác với tất cả những yếu tố trên, ngữ cảnh văn hoá được hiểu là phân tích ngữ cảnh của ngôn ngữ với tư cách một hệ thống, điều đó cũng có nghĩa là ngữ cảnh văn hoá sẽ bao gồm hàng loạt các nhân tố văn hoá bên ngoại sự kiện giao tiếp như phong tục, tập quán, các chuẩn mực xã hội, lịch sử, tri thức nền về tự nhiên, chính trị…; tức là toàn bộ những yếu tố tạo nên nền văn hoá của cộng đồng dân tộc của các bên tham gia giao tiếp và của sự kiện ngôn ngữ đang diễn ra Như vậy có thể thấy, các tác giả theo hướng này đều cho rằng ngữ cảnh tình huống hay ngữ cảnh văn hoá đều là những hiện tượng phi ngôn ngữ Cũng bởi vậy, người ta
chú ý đến một khái niệm nữa là văn cảnh Theo đó văn cảnh được hiểu là các yếu tố ngôn ngữ
bao quanh hoặc đi kèm với hiện tượng ngôn ngữ đang xét Tức là nếu ta xét một từ thì văn
Trang 20cảnh của nó sẽ là các từ bao quanh nó; nếu ta xét một câu thì văn cảnh của nó sẽ là những câu đằng trước hay theo sau nó
Tác giả Đỗ Hữu Châu khi bàn đến khái niệm ngữ cảnh còn đưa ra một khái niệm “ngữ huống giao tiếp” Theo tác giả, ngữ cảnh là một khái niệm động, do đó khi tất cả các yếu tố tạo nên ngữ cảnh có sự tác động tổng hợp ở vào một thời điểm nhất định của cuộc giao tiếp và được nhân vật giao tiếp ý thức được thì tạo nên ngữ huống giao tiếp Thông qua ngữ huống mà ngữ cảnh chi phối diễn ngôn; có thể nói rõ hơn tức là, bất kỳ sự thay đổi nào của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh được người đang giao tiếp chú ý và hành động theo thì sẽ tạo nên ngữ huống giao tiếp Bên cạnh đó, tác giả này cũng quan niệm ngữ cảnh được hiểu theo nghĩa khá rộng: ngữ cảnh bao gồm các nhân tố có mặt trong một cuộc thoại nhưng nằm ngoài diễn ngôn Theo
đó, ông cho rằng ngữ cảnh sẽ bao gồm rất nhiều yếu tố như nhân vật giao tiếp, hiện thực ngoài diễn ngôn (đề tài diễn ngôn - thế giới khả hữu và hệ quy chiếu, hoàn cảnh giao tiếp, thoại trường, ngữ huống giao tiếp)
Đến đây có thể thấy, mặc dù là một khái niệm quan trọng và thường gặp trong phân tích diễn ngôn, song ngữ cảnh vẫn được quan niệm theo nhiều hướng khác nhau tuỳ theo góc
độ của người nghiên cứu Tuy nhiên tựu trung lại có thể hiểu ngữ cảnh theo hai cách: Theo nghĩa rộng, ngữ cảnh bao gồm toàn bộ các yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ bao quanh, làm nền và cũng quy định sự xuất hiện và tồn tại của sự kiện giao tiếp; và theo nghĩa hẹp, ngữ cảnh chỉ được hiểu là toàn bộ các yếu tố ngôn ngữ bao quanh hay đi kèm theo sự kiện ngôn ngữ đang được xét Như vậy, tuỳ theo mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và góc độ nghiên cứu mà có thể lựa chọn và sử dụng khái niệm ngữ cảnh theo những cách khác nhau
1.2.3.2 Đặc điểm các nhân vật giao tiếp
Trong một cuộc thoại, nhân vật giao tiếp có thể được hiểu là những người tham gia giao tiếp, tương tác với nhau bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, phát ngôn của cuộc thoại Các nhân vât giao tiếp sẽ được xác định vai giao tiếp ngay từ khi bắt đầu cuộc thoại, và đặc điểm các vai giao tiếp này có thể được thay đổi trong tiến trình hội thoại
Các nhân vật giao tiếp được quy định, ràng buộc lẫn nhau bởi một quan hệ chặt chẽ, đó
là quan hệ liên nhân Mối quan hệ này được xét theo hai trục, đó là trục dọc - trục vị thế xã hội (còn gọi là trục quyền lực) và trục ngang - trục thân sơ Trước hết, ta cần biết rằng vị thế xã
Trang 21hội của nhân vật giao tiếp được xác lập bằng các nhân tố khách quan như tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, chức vụ… Trong thực tế hội thoại, rất nhiều trường hợp tất cả các giá trị trên trục này đều xuất hiện đồng thời quy định việc sử dụng, tạo lập ngôn ngữ của nhân vật giao tiếp
Do đó, vấn đề được đặt ra là cần ưu tiên giá trị nào trước, hay nói cách khác là sắp xếp các hệ giá trị theo thứ bậc Điều này không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan giữa các nhân vật giao tiếp trong phạm vi hẹp mà nhiều khi nó còn phụ thuộc vào cả một ngữ cảnh văn hoá rộng, các chế định, quy ước xã hội của cộng đồng bản ngữ mà các nhân vật giao tiếp thuộc về Ví dụ đối với người Việt, khi các giá trị cùng xuất hiện đồng thời thì yếu tố tuổi tác thường được đề cao, đó là do văn hoá Việt chú trọng “kính lão đắc thọ”; trong khi đó đối với người phương Tây thì giá trị này chỉ có tính chất thứ yếu
Mặt khác, cũng cần thấy rằng, mối quan hệ giữa hai trục quyền lực và trục thân - sơ nhiều khi là quan hệ tỷ lệ nghịch Nói cách khác, khi khoảng cách về quyền lực giữa các nhân vật giao tiếp càng lớn thì khoảng cách thân mật càng nhỏ (mức độ thân - sơ càng giảm) Ví dụ, khi quan hệ giữa hai nhân vật giao tiếp là giám đốc và nhân viên thì mức độ thân mật sẽ giảm hẳn so với quan hệ giữa hai nhân viên với nhau Tuy nhiên, không loại trừ trường hợp bố là giám đốc còn con là nhân viên đối thoại với nhau, thì khi ấy mức độ thân mật vẫn được giữ nguyên, thậm chí là thân mật hơn nhiều so với cuộc hội thoại giữa người con - nhân viên, với một nhân viên khác trong công ty Điều này cũng có thể suy ra rằng, trong tiến trình giao tiếp,
vị thế xã hội của các nhân vật giao tiếp là cố định, bất biến (trong một bối cảnh giao tiếp); trong khi mức độ thân sơ lại có thể thay đổi, thương lượng được
Ngoài ra, quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp trong hội thoại còn bị chi phối bởi vị thế giao tiếp của mỗi cá nhân Vị thế giao tiếp được xác lập ngay khi bắt đầu hội thoại song nó có thể thay đổi trong quá trình giao tiếp, mạnh yếu khác nhau; có thể nói đó là một biến “động”
Vị thế giao tiếp này có tính độc lập tương đối so với vị thế xã hội và mức độ thân - sơ giữa các nhân vật giao tiếp Trong tiến trình hội thoại, nhân vật giao tiếp nào ở vị trí chủ động về đề tài, hướng phát triển của cuộc thoại, biết cách điều khiển cuộc thoại theo mục đích của mình thì người đó sẽ có vị thế giao tiếp mạnh, và ngược lại Ví dụ, khi vị giám đốc khiển trách một nhân viên thì giám đốc ở vào vị thế giao tiếp mạnh vì có quyền lấn át, chi phối cuộc thoại; tuy nhiên, ngược lại, trong ngữ cảnh là các nhân viên chất vấn vị giám đốc thì lúc này vị thế giao
Trang 22tiếp ở trên đã bị đảo ngược Ví dụ này chứng tỏ vị thế giao tiếp không phải bao giờ cũng đi liền với vị thế xã hội hay trục quyền lực
Trong quá trình giao tiếp, các nhân vật giao tiếp thể hiện các vị thế của mình thông qua rất nhiều dấu hiệu ngôn ngữ cũng như phi ngôn ngữ, tuy nhiên ở đây chúng ta chỉ đề cập đến các dấu hiệu ngôn ngữ Thứ nhất, các nhân vật giao tiếp sẽ tuỳ thuộc vào vị thế của mình mà lựa chọn hệ thống từ xưng hô thích hợp Có thể coi đây là một trong những dấu hiệu đầu tiên
dễ nhận biết nhất về vị thế giữa các nhân vật giao tiếp
Thứ hai, số lượng và chất lượng các lượt lời mà các nhân vật giao tiếp thực hiện trong quá trình hội thoại cũng bộc lộ vị thế giao tiếp của từng người Ví dụ, người ở vị thế cao thường có xu hướng nói nhiều hơn, dài hơn những người ở vị thế thấp hơn; đôi khi người ở vị thế cao còn có thể tranh lời, cướp lời người đối thoại mà không gặp phải sự phản kháng nào từ phía đối phương (trường hợp sếp khiển trách nhân viên)
Thứ ba, cách thức tổ chức cuộc thoại cũng là một dấu hiệu thể hiện vị thế của các nhân vật giao tiếp, như việc ai là người mở đầu hay kết thúc cuộc thoại, ai thường xuyên là người
mở thoại, bắt đầu các cặp thoại…
Thứ tư, việc tuân thủ nguyên lý cộng tác và nguyên lý lịch sự hay không trong quá trình hội thoại cũng là một dấu hiệu dễ nhận biết Người cố tình vi phạm hoặc vi phạm nhiều lần các nguyên lý trên trong cuộc thoại, chứng tỏ có một vị thế cao hơn so với đối phương và ngược lại
Như vậy, có thể nói đặc điểm của các nhân vật giao tiếp trong hội thoại có tính chất quyết định đến việc tạo lập các lời nói, phát ngôn trong cuộc thoại Vị thế xã hội, vị thế giao tiếp, mức độ thân mật… tất cả các yếu tố đó đều sẽ quy định chặt chẽ việc sử dụng ngôn ngữ, cấu trúc hội thoại Do đó, khi nghiên cứu diễn ngôn, đặc biệt là diễn ngôn hội thoại không thể
bỏ qua nhân tố này
1.2.3.3 Các nguyên lý giao tiếp (lịch sự - cộng tác)
Khi tiến hành phân tích diễn ngôn hội thoại, bên cạnh những nhân tố giao tiếp đã nêu trên thì cũng không thể bỏ qua các nguyên lý giao tiếp hội thoại, đặc biệt là nguyên lý cộng tác
và nguyên lý lịch sự Muốn hội thoại diễn ra thành công, bản thân những người tham gia giao tiếp cũng phải tuyệt đối tôn trọng hai nguyên lý cơ bản này
Trang 23cộng tác ở bốn phương châm cơ bản:
Một là phương châm về lượng:
1 Hãy làm cho phần đóng góp của mình có lượng tin đúng như nó được đòi hỏi cho mục đích của cuộc thoại
2 Đừng đóng góp lượng tin của mình nhiều hơn nó được đòi hỏi
Hai là phương châm về chất:
1 Đừng nói điều mà mình tin là sai
2 Đừng nói điều mà mình không có bằng chứng chính xác
Ba là phương châm về quan hệ: Hãy đóng góp những điều có liên quan
Bốn là phương châm về cách thức: Hãy nói cho rõ ràng, đặc biệt là:
- Tránh tối nghĩa
- Tránh mơ hồ
- Ngắn gọn
- Mạch lạc
(Dẫn theo Nguyễn Đức Dân, 2000, 130)
Để cho hội thoại được diễn ra suôn sẻ và đạt đến đích cuối cùng, các nhân vật giao tiếp cần tuân thủ các phương châm cơ bản trên Những trường hợp vi phạm một trong các phương châm hội thoại đều có thể dễ dàng nhận thấy và nó sẽ làm chệch hướng hoặc phá huỷ cuộc thoại Mặc dù vậy, trong thực tế giao tiếp cũng cần tỉnh táo phân biệt sự vi phạm nguyên lý cộng tác đó là vô tình hay cố ý Bởi rất nhiều trường hợp, người tham gia giao tiếp cố tình vi phạm một trong các phương châm hội thoại để đạt tới một hành vi ngữ dụng nào đó Đây cũng
là một trong những chiến lược giao tiếp hay được sử dụng và đem lại hiệu quả khá cao Lúc này, người vi phạm nguyên lý đã cố tình sử dụng phương tiện ngôn ngữ để tạo nên hàm ý,
Trang 24hoặc để tạo nên một tác động mới vào đối tượng tiếp nhận Như vậy, khi một người “không tuân thủ” một phương châm hội thoại nào đó, ta cần suy xét xem liệu người đó có muốn đạt tới một điều gì với hành vi ngôn ngữ đó không; tức là sự vi phạm có chủ đích đó có nhằm tới một hiệu quả ngữ dụng hay không
Tuy nhiên, khi đưa ra các phương châm hội thoại này, bản thân Grice cũng thừa nhận rằng trong thực tế giao tiếp hoàn toàn có thể bổ sung thêm những phương châm khác Đồng thời ông cũng lưu ý rằng giá trị của những phương châm này không phải đều như nhau mà có những phương châm cần được chú ý, tôn trọng hơn các phương châm kia Bên cạnh đó, cũng cần thấy rằng, các yếu tố mà Grice đưa ra không phải là bất di bất dịch và có tính phổ quát, đúng với toàn bộ các ngôn ngữ thuộc mọi nơi trên thế giới Bởi ngôn ngữ phản ánh văn hoá,
mà văn hoá của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc đều có những bản sắc riêng, khu biệt, do đó nguyên lý cộng tác của Grice cũng có thể thay đổi theo từng nền văn hoá Chúng ta chỉ có thể thừa nhận rằng, những phương châm của Grice có thể xem là những chuẩn cứ để ta dựa vào đó
mà nhận ra đặc trưng của những nguyên tắc hội thoại có hiệu lực chi phối các cuộc hội thoại ở những nền văn hoá khác nhau
Như vậy, mặc dù không phải không có những hạn chế nhất định và không tránh khỏi còn tồn tại nhiều ngộ nhận, phê phán lý thuyết của Grice song chúng ta vẫn cần nhìn nhận đúng giá trị của lý thuyết này Nguyên lý và những phương châm cộng tác của ông có tác dụng giúp nhận biết và lý giải những hàm ngôn của phát ngôn Nói cách khác, lý thuyết này đã cố gắng lý giải cách người nghe làm thế nào có thể đi từ bình diện những cái được nói ra sang bình diện của các nghĩa hàm ẩn
* Nguyên lý lịch sự
Trong quá trình hội thoại, người tham gia giao tiếp bên cạnh việc tuân thủ nguyên lý cộng tác, còn phải chú ý đến một nguyên lý có vai trò quan trọng không kém, đó là nguyên lý lịch sự Nếu như nguyên lý cộng tác quan tâm đến quan hệ trao đổi thông tin của cuộc hội thoại, thì nguyên lý lịch sự lại đặc biệt quan tâm đến quan hệ liên cá nhân giữa những người tham gia giao tiếp Tính tế nhị, tính lịch sự trên cơ sở đó sẽ có tác động quan trọng tới các hiện tượng, quy luật và cấu trúc ngôn ngữ; nói cách khác nó sẽ có ảnh hưởng rất mạnh đến các phát
Trang 25ngôn trong quá trình giao tiếp Cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về phép lịch sự
Trước hết, theo lý thuyết của hai tác giả Lakoff và Leech thì lịch sự được xem như những quy tắc đối với quan hệ liên cá nhân Từ đó, Lakoff nêu lên ba loại quy tắc lịch sự: Một
là quy tắc lịch sự quy thức, có tính phi cá nhân, tức là không được áp đặt Quy tắc này thường
phát huy tác dụng trong những hội thoại mà người tham gia giao tiếp thường đã được xác định khá rõ về khoảng cách giao tiếp: vị thế và cương vị xã hội cao thấp rạch ròi, hội thoại có tính nghi thức (giữa giám đốc và người công nhân, thầy hiệu trưởng và học sinh…) Quy tắc thứ
hai là dành cho người đối thoại sự lựa chọn Quy tắc này thường được áp dụng trong những
ngữ cảnh mà các bên tham gia hội thoại có cương vị xã hội và quyền lực gần như tương đương (giữa những người mới quen biết, người mua hàng và người bán hàng…) Quy tắc thứ ba của
Lakoff là khuyến khích tình cảm bạn bè Quy tắc này thường được vận dụng trong trường hợp
người tham gia giao tiếp có mối quan hệ thân tình, gần gũi với nhau như bạn bè, vợ chồng… Như vậy, quan điểm về phép lịch sự của Lakoff và Leech liên quan chặt chẽ tới lợi ích hay tổn thất gây ra cho người nghe, do đó mục đích cuối cùng của nguyên tắc này có thể hiểu là tối thiểu hoá những lối nói bất lịch sự và tối đa hoá những lối nói lịch sự
Cũng bàn đến phép lịch sự nhưng một số tác giả lại thể hiện quan điểm của mình trên
cơ sở khái niệm “thể diện”, “giữ thể diện” Goffman là người đầu tiên đề xướng ra khái niệm
“thể diện” song những người có công phát triển khái niệm này là hai tác giả Brown và Levinson Trong công trình nghiên cứu của mình (1978), Brown và Levinson đã chủ trương phân biệt thể diện âm tính và thể diện dương tính, còn gọi là thể diện tiêu cực và thể diện tích cực Có thể hiểu một cách đơn giản rằng thể diện âm tính là nhu cầu được độc lập, còn thể diện dương tính là nhu cầu được liên thông với người khác Hai hình thức âm tính và dương tính của thể diện có quan hệ chặt chẽ, thậm chí là cộng sinh nhau trong cuộc thoại Do đó một người nếu vi phạm thể diện âm tính của dối phương cũng có nguy cơ xâm phạm thể diện dương tính của họ Tuy nhiên cũng không ngoại trừ trường hợp một người cố tình làm tổn hại lịch sự âm tính của mình sẽ đồng thời có khả năng làm tăng thể diện dương tính của mình (nếu hành động đó được đối phương chấp nhận) hay làm mất nốt thể diện dương tính của mình (nếu hành động đó bị đối phương từ chối)
Trang 26Trong cuộc tương tác hội thoại, một hành vi ngôn ngữ đe doạ không chỉ có nguy cơ phương hại đến một loại thể diện mà nhiều trường hợp nó còn có thể làm tổn hại nhiều loại thể diện cùng một lúc Do vậy, để cuộc thoại được thành công, người tham gia giao tiếp cần thực hiện các chiến lược lịch sự nhằm đảm bảo tôn trọng thể diện đối phương đồng thời quan trọng hơn là điều phối các thể diện một cách hợp lý thông qua các hành vi ngôn ngữ Theo tác giả Orecchioni, người ta có thể sử dụng một trong hai chiến lược lịch sự giao tiếp, đó là lịch sự tích cực và lịch sự tiêu cực Cụ thể là, phép lịch sự tích cực sẽ gồm các hành vi đề cao người khác, quan tâm tới người khác; trong khi đó phép lịch sự tiêu cực lại biểu hiện thông qua những hành vi tránh/ làm giảm nhẹ mức độ phương hại đến thể diện của người khác
Cũng bàn về chiến lược lịch sự nhưng hai tác giả Brown và Yule lại đưa ra cặp thuật ngữ “lịch sự âm tính” và “lịch sự dương tính” Tuy nhiên về đại thể thì phép lịch sự âm tính ở đây có nghĩa gần tương đương như phép lịch sự tiêu cực trong hệ khái niệm của Orecchioni; đồng thời phép lịch sự dương tính ở đây cũng có thể xem như tương đương phép lịch sự tích cực của Orecchioni Như vậy có thể nói phép lịch sự có vai trò rất quan trọng trong quá trình tạo lập cũng như nhận hiểu các diễn ngôn hội thoại Nó có tính phổ quát với mọi cấu trúc xã hội, mặc dù trong mỗi hệ thống ngôn ngữ, nền văn hoá, phong tục nó có những biểu hiện cụ thể vô cùng đa dạng
1.3 Một số vấn đề lý luận về “phân tích diễn ngôn phê phán”
Là một đường hướng phân tích diễn ngôn còn khá mới mẻ, phân tích diễn ngôn phê phán (critical discourse analysis - CDA) cũng do vậy mà thu hút được khá nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu ngôn ngữ học Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù đã có không ít nhà nghiên cứu đưa ra được những cách hiểu về thuật ngữ “phân tích diễn ngôn phê phán”, song vẫn chưa xác định đươc một cách giải thuyết đầy đủ và hoàn chỉnh nhất
Một trong những tác giả có nhiều đóng góp cho sự phát triển của ngôn ngữ học phê phán là van Dijk Theo ông, CDA trước hết là một cách thức phân tích có phê phán, tức là phân tích diễn ngôn với một “thái độ”, và tập trung vào các vấn đề xã hội, và nhất là vai trò của diễn ngôn trong việc tạo ra và tái tạo sự lạm dụng quyền lực và thống trị Trong khi đó, tác giả Fairclough lại cho rằng: “phân tích diễn ngôn nhằm khám phá một cách hệ thống các mối quan hệ về tính nguyên nhân mờ ảo và quy định giữa (a) thực tiễn suy diễn, sự kiện và văn bản,
Trang 27và (b) các cấu trúc xã hội và văn hoá, các mối liên hệ và quá trình rộng lớn hơn nhằm nghiên cứu xem các thực tiễn, sự kiện và văn bản được phát sinh hay được định hình bởi các mối liên
hệ quyền lực và đấu tranh vì quyền lực như thế nào, và nhằm khám phá bằng cách nào mà tính
mờ ảo của các mối quan hệ này giữa diễn ngôn và xã hội lại là một yếu tố trong việc giành quyền lực và sự bá quyền” (Dẫn theo Nguyễn Hoà, 2006, 22)
Cũng cần nói thêm rằng, trong thực tế nghiên cứu, hai thuật ngữ “ngôn ngữ học phê phán” và “phân tích diễn ngôn phê phán” có thể được dùng thay thế cho nhau Trên cơ sở hệ
lý thuyết ngữ pháp chức năng (SFG), ngôn ngữ được nhìn nhận thực hiện ba chức năng chính:
- Chức năng ý niệm ứng với kinh nghiệm của người nói về thế giới và các hiện tượng xã hội
lộ, được kiến tạo, hợp thức hoá trong việc sử dụng ngôn ngữ
Theo tác giả Nguyễn Hoà, nhiệm vụ của nhà phân tích diễn ngôn là phải quan tâm đến
việc miêu tả các hình thức ngôn ngữ, cấu trúc và sự tổ chức ở mọi cấp độ như ngữ âm, từ vựng,
ngữ pháp…, và các dạng tổ chức ở cấp độ cao như cấu trúc diễn ngôn Tất cả những công việc
ấy đều nhằm mục đích lột tả xem các đơn vị ngôn ngữ ấy đã được sử dụng như thế nào trong
các tập quán tạo và hiểu diễn ngôn, và tập quán văn hoá - xã hội để xác lập, duy trì hay bảo
vệ quyền lực và quan hệ xã hội, để ảnh hưởng và dẫn đến thay đổi thực tại xã hội (Nguyễn Hoà, 2006, 41)
Trang 28Ra đời khá muộn so với những đường hướng nghiên cứu truyền thống trong ngôn ngữ học, cho đến nay vẫn còn rất nhiều quan điểm tranh luận việc nhìn nhận “phân tích diễn ngôn phê phán” như một hệ lý thuyết hay nó chỉ có tính chất như một phương pháp mới trong ngôn ngữ học Sở dĩ tồn tại vấn đề phức tạp như vậy là do CDA tự thân nó là một khoa học liên ngành, do đó việc xây dựng một khung lý thuyết hoàn chỉnh là điều không hề đơn giản Một
số tác giả theo trường phái ngôn ngữ học chức năng lại chủ trương quan niệm CDA vừa có tính chất như một lý thuyết, vừa có tính chất như một phương pháp Nhìn lại quá trình phát triển của CDA thì đến nay trên thế giới đã hình thành và phát triển CDA theo một số xu hướng chính như sau:
- Đường hướng phân tích diễn ngôn theo quan điểm lịch sử
- Đường hướng phân tích diễn ngôn theo ngữ pháp chức năng hệ thống
- Đường hướng phân tích diễn ngôn theo quan điểm nhận thức - xã hội
- Đường hướng phân tích diễn ngôn theo lý thuyết hoạt động
Xuất phát từ đặc điểm khối tư liệu là một số tác phẩm truyện ngắn hiện đại, thuộc cùng một giai đoạn lịch sử nên chúng tôi không vận dụng đường hướng phân tích theo quan điểm lịch sử mà chủ trương kết hợp cả ba đường hướng phân tích diễn ngôn còn lại, đó là phân tích diễn ngôn theo quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống, theo quan điểm nhận thức xã hội và theo quan điểm lý thuyết hoạt động Cụ thể là, trên cơ sở hướng chức năng hệ thống chúng tôi
sẽ phân tích chức năng của các đơn vị trong hệ thống ngôn ngữ tham gia vào việc cấu thành hội thoại, nhằm biểu thị quan hệ quyền thế giữa các vai giao tiếp Theo hướng nhận thức xã hội, tức là chúng tôi phân tích đặc điểm các nhân tố giao tiếp ảnh hưởng đến việc vận dụng chiến lược giao tiếp cũng như chiến lược ngôn ngữ của các bên tham gia như thế nào Cuối cùng, trên cơ sở lý thuyết hành vi, chúng tôi phân tích các diễn ngôn hội thoại với các đặc điểm về mục đích giao tiếp, ngữ cảnh
Như vậy, trong công trình này, chúng tôi không đặt ra việc chứng minh “phân tích diễn ngôn phê phán” là một lý thuyết hay một phương pháp mà chỉ muốn kết hợp những đường hướng phân tích diễn ngôn đã nêu trên trong việc khảo sát các diễn ngôn hội thoại truyện ngắn như là bước thử nghiệm một hướng nghiên cứu diễn ngôn còn rất mới mẻ ở Việt Nam
1.4 Vấn đề “quyền thế” trong diễn ngôn phê phán
Trang 29Trong phân tích diễn ngôn phê phán, một trong những khái niệm tối quan trọng không thể bỏ qua là “quyền thế” (power) Cũng có thể nói, “quyền thế” là vấn đề cốt lõi trong đường hướng phân tích này Trong thực tế nghiên cứu, hai khái niệm “quyền thế” hay “quyền lực” có thể dùng thay thế cho nhau, hoặc có khi trong vấn đề này sử dụng khái niệm “quyền lực” là chính xác hơn cả hoặc ngược lại Theo hai tác giả Brown và Levinson, khái niệm “quyền lực” được xác định “là mức độ mà người nói có thể áp đặt kế hoạch và sự tự đánh giá của mình (thể diện) mà không tính đến kế hoạch hay sự tự đánh giá của người khác”
Để hiểu rõ hơn về khái niệm này, chúng ta có thể tham khảo quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu về quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp Theo đó, quan hệ này có thể xét trên hai trục: trục tung là trục vị thế xã hội, còn gọi là trục quyền uy (power) và trục hoành
là trục thân cận (solidarity) Tác giả cho rằng, mỗi người do các yếu tố về nghề nghiệp, tuổi tác mà khác nhau về địa vị xã hội Khi các yếu tố trên xuất hiện đồng thời thì cần xém xét mức độ ưu tiên Ví như ở VIệt Nam thì yếu tố tuổi tác sẽ lấn át các giá trị khác Theo trục quyền uy, những người giao tiếp ở mức độ cao - thấp hoặc bình đẳng với nhau và quan hệ vị thế là phi đối xứng, có nghĩa là một khi đã được xác định đúng thì sẽ giữ nguyên trong quá trình giao tiếp, không thể thay đổi thông qua thương lượng giữa các bên Trong khi đó, trên trục thân cận thì các nhân vật có thể với nhiều lý do chủ quan, khách quan mà có thể tăng cường hay giảm bớt khoảng cách giao tiếp bằng thương lượng Tức là, trong quá trình diễn ra hội thoại, các vai giao tiếp có thể thương lượng để thay đổi vị thế giao tiếp những không thể thay đổi vị thế xã hội của mình
Tại Việt Nam, Nguyễn Hoà là một trong những tác giả đầu tiên giới thiệu khái niệm
“quyền thế” vào nghiên cứu diễn ngôn ở nhiều công trình nghiên cứu mới đây của mình, tác giả Nguyễn Hoà sử dụng thống nhất khái niệm “quyền lực” Theo đó tác giả cho rằng, quyền lực có thể hiểu là năng lực kiểm soát hành vi của người khác hay bắt họ phải phục tùng (cấp trên ra lệnh cho cấp dưới) Bất kỳ cá nhân nào sống trong xã hội đều tham gia vào các mối quan hệ quyền lực khác nhau với hai loại quan hệ cơ bản: chi phối và bị chi phối Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả cũng lưu ý thêm rằng, cần phân biệt quyền lực và quyền uy,
vì quyền uy được hiểu là việc lấy ý chí của một cá nhân này buộc người khác phải phục tùng, tiếp thu Do đó, một người có quyền lực nhưng chưa hẳn đã tạo được quyền uy với một đối
Trang 30tượng khác Như vậy có thể thấy, ý nghĩa của “phân tích diễn ngôn phê phán - CDA” thể hiện
ở chức năng của ngôn ngữ trong việc điều khiển tư duy của người khác và các chiến lược được dùng để hợp thức hoá trật tự xã hội hay việc kiểm soát Mặt khác, quan hệ quyền lực trong xã hội được thể hiện không chỉ trong giao tiếp nội ngôn, mà nó còn được thể hiện cả trong những giao tiếp liên ngôn giữa các cá nhân xuất thân từ những nền văn hoá khác nhau
Trở lại với đối tượng phân tích ở đây là các diễn ngôn hội thoại, trước hết chúng ta cũng cần xét một dạng quan hệ phổ biến, chi phối mạnh đến cấu trúc diễn ngôn cũng như những người tham gia hội thoại, đó chính là quan hệ vị thế, một quan hệ được đặc trưng bởi yếu tố quyền lực Đây là loại quan hệ tôn ty xã hội, tạo thành các vị thế trên dưới, cao thấp theo tầng bậc trên một trục dọc Tuy nhiên, trong thực tế xã hội, quan hệ vị thế cũng có tính chất tương đối vì nó được xác lập tuỳ theo những phạm vi xã hội nhất định Người A trong quan hệ với người thứ hai B là ở vị thế cao, xét trong phạm vi xã hội nhất định, nhưng ra ngoài phạm vi xã hội đó, trong quan hệ với người thứ ba C lại ở vị thế thấp, trong khi đó lúc này người thứ hai B lại ở vị thế cao hơn cả hai người A và C
Ví dụ: Người A là em - giám đốc, ở công ty có vị thế cao hơn so với người B là anh - trưởng phòng, và người C là cha - nhân viên bảo vệ; tức là thứ bậc xã hội sẽ là: A> B > C Tuy nhiên, khi ở phạm vi là quan hệ gia đình thì thứ bậc trên lại bị đảo ngược lại là: C > B > A Ngoài ra, vị thế cao thấp còn có tính tương đối bởi lẽ, nhiều trường hợp nếu xét về tuổi tác thì người A ở vị thế cao hơn người B, trong khi nếu xét về chức vụ xã hội thì người A lại ở vị thế thấp hơn người B
Nếu như quan hệ thân sơ được đặt trên trục ngang trong toạ độ quan hệ xã hội thì quan
hệ vị thế nằm trên trục dọc của toạ độ quan hệ đó Bởi vậy, quan hệ vị thế, trên thang độ, là quan hệ bất đối xứng, bất bình đẳng: người A nếu đã ở vị thế cao thì đương nhiên người B ở vị thế thấp, và ngược lại Điều này thường được thể hiện rất rõ trong việc xưng hô trong thực tế hội thoại: bác - cháu, bố - con; sếp - nhân viên… Một điểm nữa cần lưu ý là quan hệ vị thế phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như chức vụ xã hội, tuổi tác, giới tính, quê quán, nghề nghiệp… Tuy nhiên, mức độ coi trọng và sự tác động của các yếu tố này đến việc xác định vị thế của người tham gia giao tiếp còn tuỳ thuộc vào nền văn hoá, phong tục, tập quán mà những người đó thuộc về Ví như ở xã hội phương Tây thì chức vụ, cương vị xã hội là yếu tố
Trang 31được coi trọng, thì ở xã hội phương Đông như Việt Nam, yếu tố tuổi tác, quan hệ thân tộc lại
có phần nổi trội hơn Ngoài ra, quan hệ vị thế còn có thể được xác lập trên cơ sở những yếu tố chủ quan nội tại xuất hiện ngay trong quá trình diễn ra hội thoại Chúng là những đặc trưng cá nhân của người tham gia giao tiếp như khả năng nói lưu loát, làm chủ cuộc thoại, ăn nói khéo léo, cuốn hút, âm lượng to/ nhỏ
Về mặt lý thuyết, khi bắt đầu cuộc hội thoại, những người giao tiếp mặc dù có vị thế xã hội xác định từ trước và luôn bất biến song lại hoàn toàn bình đẳng với nhau về vị thế giao tiếp Chỉ sau khi xuất hiện các yếu tố khách quan và chủ quan như đã nói ở trên, vị thế giao tiếp mới dần được thiết lập và duy trì Mặt khác cũng cần chú ý rằng, không phải một vị thế giao tiếp cao hay thấp sẽ được duy trì trong suốt cuộc thoại, mà rất nhiều trường hợp, khi xuất hiện một yếu tố mới sẽ có khả năng phá bỏ vị thế cũ để thiết lập một vị thế giao tiếp mới, hoặc mạnh hơn cũ, hoặc đảo ngược lại vị thế ban đầu
Trong quá trình giao tiếp hội thoại, quan hệ vị thế có thể được biểu hiện bằng rất nhiều phương tiện, bao gồm cả phương tiện ngôn ngữ và các phương tiện phi ngôn ngữ Mỗi nhân vật giao tiếp sẽ vận dụng chiến lược tăng cường hay rút ngắn khoảng cách giao tiếp với đối phương, nói cách khác là muốn khẳng định hay xoá nhoà vị thế xã hội của mình để đạt đích giao tiếp Khảo sát các cuộc thoại chúng ta sẽ thấy được ai là người chủ động/bị động trong giao tiếp, ai ở vị thế cao hay thấp và họ sử dụng những phương tiện ngôn ngữ cụ thể gì để biểu thị quyền uy của mình với người đối thoại Các phương tiện ngôn ngữ để thể hiện quan hệ quyền thế trong hội thoại chủ yếu bộc lộ trên phương diện từ vựng, ngữ pháp và cách thức tổ chức thông tin mệnh đề Còn các phương tiện phi ngôn ngữ để biểu hiện quan hệ này thì rất đa dạng, có thể là ngữ điệu, âm lượng, cử chỉ, hành động, điệu bộ, trọng âm… Với nhiệm vụ là phân tích các diễn ngôn hội thoại trên cơ sở tư liệu thu thập được, ở đây chúng tôi chủ trương tập trung vào việc khảo sát những biểu hiện sinh động của quan hệ quyền thế qua các yếu tố ngôn ngữ thể hiện trong cấu trúc hội thoại
* Tiểu kết
Có thể nói, vấn đề quyền thế là một trong những vấn đề quan trọng khi tiến hành nghiên cứu, phân tích diễn ngôn, đặc biệt là diễn ngôn hội thoại Trong thực tế giao tiếp, mỗi người tự thân đều đã mang trong mình một thái độ, quan điểm có tính chất chủ quan cá nhân,
Trang 32với những đặc điểm vai giao tiếp có tính đặc trưng riêng biệt Chính điều này là cơ sở tạo nên tính bất bình đẳng trong giao tiếp xã hội Nói cách khác, tất cả những gì mà những người tham gia giao tiếp thực hiện (bao gồm cả những hành động ngôn ngữ và phi ngôn ngữ) trong quá trình hội thoại đều có thể coi là những biểu hiện của quan hệ quyền thế xã hội Để tạo lập và duy trì mối quan hệ quyền thế này, các vai giao tiếp có thể tuỳ ý vận dụng rất nhiều phương tiện biểu hiện (bao gồm cả những phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ) Tuy nhiên, do mục đích và phạm vi nghiên cứu đã đặt ra ngay từ đầu, ở đây chúng tôi chỉ quan tâm và tập trung làm sáng tỏ những biểu hiện của quan hệ quyền thế trong hội thoại thông qua các phương tiện ngôn ngữ
Đề cập đến vấn đề này, các nhà nghiên cứu diễn ngôn cũng có nhiều đường hướng phân tích, tiếp cận khác nhau Có tác giả chỉ quan tâm đến phương diện từ vựng, hay phạm vi hẹp hơn là biểu hiện của quan hệ quyền thế thông qua hệ thống từ xưng hô; có tác giả lại xuất phát từ bình diện cấu trúc thông tin, hay các phương thức đề hoá, thuyết hoá trong diễn ngôn Mỗi cách tiếp cận trên mặc dù có những ưu điểm và hạn chế nhất định trong thực tế nghiên cứu song đều đem lại những kết quả đáng ghi nhận Trên cơ sở một số công trình nghiên cứu
về vấn đề này, đồng thời căn cứ vào phương pháp, mục đích nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chủ trương làm sáng tỏ mối quan hệ quyền thế trong diễn ngôn hội thoại trên ba phương diện cơ bản: phương diện từ vựng, phương diện ngữ pháp và phương diện cách thức tổ chức hội thoại (phương diện ngữ dụng)
Riêng về đặc điểm khối tư liệu, chúng tôi chủ trương thu thập các cuộc thoại trong một
số tác phẩm truyện ngắn hiện đại, điều này sẽ giúp cho kết quả nghiên cứu có tính khái quát cao hơn về đặc điểm diễn ngôn hội thoại của cùng một giai đoạn (hiện đại) Ngoài ra, đây là các đoạn hội thoại được lấy ra từ tác phẩm của các tác giả khác nhau, khác nhau về giới tính,
về tuổi tác,về văn phong Điều này sẽ khiến tư liệu có được tính khách quan và phong phú, mỗi cuộc thoại là một hoàn cảnh điển hình biểu thị quan hệ quyền thế tồn tại giữa các nhân vật Bên cạnh đó, chúng tôi không thu thập đại trà tất cả các cuộc thoại có trong một tác phẩm mà chỉ lựa chọn những cuộc thoại điển hình nhất, với đặc điểm vai giao tiếp thuộc nhiều tầng lớp, giới tính, nghề nghiệp khác nhau Chính mối quan hệ xã hội phức tạp giữa các nhân vật cũng
Trang 33như đặc điểm tính cách nội tại của mỗi người sẽ khiến cho quan hệ quyền thế tồn tại trong cuộc thoại thể hiện sinh động và tinh tế hơn
ở Việt Nam cho đến nay vẫn còn khá ít những công trình nghiên cứu quan tâm đến đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán còn non trẻ này, đặc biệt là những công trình có tính chất tiền đề lý luận Trong chương thứ nhất, trên cơ sở những tài liệu có được cũng như
sự thu nhận kiến thức của bản thân, chúng tôi đã trình bày những cơ sở lý thuyết có tính chất
cơ bản nhất về một số vấn đề liên quan đến đối tượng và mục đích nghiên cứu của luận văn Tuy nhiên, sự trình bày trên chỉ có thể xem như một sự tổng kết những kết quả mà các nhà nghiên cứu đi trước đã đạt được, trên cơ sở đó có một vài luận bàn có tính cá nhân về các quan điểm này
Trang 342.1 Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong hội thoại thông qua
Từ xưng hô mang trong mình cả tính đồng đại và lịch đại, đối chiếu cụ thể vào trường hợp của tiếng Việt, chúng ta thấy rằng xưng hô phản ánh sự thay đổi
Trang 35các quan hệ giữa người với người theo tiến trình phát triển của xã hội Ví như trong xã hội phong kiến Việt Nam, việc xưng hô phải tuân thủ chặt chẽ tôn ty trật tự, đẳng cấp xã hội, do đó tồn tại một loạt các từ xưng hô biểu hiện vị thế xã
hội như: hạ thần - bệ hạ, thảo dân - quan lớn, tiện thiếp, lệnh bà, bản quan…
Tuy nhiên, khi nước ta bước vào thời cận đại với hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, lúc này mọi người đều bình đẳng
và gắn bó với nhau nhằm một mục đích duy nhất là đấu tranh giành độc lập dân tộc Theo đó, các từ xưng hô biểu thị các quan hệ cũ trong thời kỳ phong kiến đã
dần bị triệt tiêu và thay vào đó là các từ xưng hô mới như: đồng chí, cán bộ, mình, tôi, ta, chúng ta, cậu, tớ… Giờ đây, để thích ứng với nền kinh tế thị trường, những từ xưng hô mới xuất hiện như ông chủ, bà chủ, giám đốc, sếp…
Như vậy, cùng với sự thay đổi các hình thái xã hội thì các nhóm từ xưng
hô biểu thị các quan hệ mới trong xã hội cũng xuất hiện Tuy nhiên, không phải
sự biến đổi này có tính chất triệt tiêu hoàn toàn các lớp từ cũ mà vẫn đảm bảo tính kế thừa các yếu tố tích cực, tiến bộ Nhiều trường hợp các từ cũ vẫn tồn tại
và được sử dụng nhưng mang thêm những giá trị và sắc thái biểu cảm mới Ví
như các lớp từ thân tộc xưa vốn chỉ dùng xưng hô trong gia đình như cô, dì, chú, bác, ông, cháu, bố, con, anh, em… thì nay lại được mở rộng phạm vi sử dụng,
xuất hiện nhiều trong các mối quan hệ ngoài xã hội nhằm thực hiện chiến lược giao tiếp nhất định Qua diễn trình lịch sử tiếng Việt, người ta nhận thấy rằng các
từ xưng hô biểu thị quan hệ thân tộc thường có xu thế được bảo lưu hoặc ít biến đổi hơn so với các nhóm từ xưng hô khác
Có thể nói, so với tất cả các phương tiện ngôn ngữ thể hiện quan hệ quyền thế trong các diễn ngôn hội thoại, hệ thống đại từ nhân xưng là phương tiện được
sử dụng phổ biến nhất Đối với bất kỳ cuộc thoại nào, chỉ nhìn vào cách xưng hô
Trang 36giữa các nhân vật giao tiếp, chúng ta có thể đoán định được vị thế giao tiếp, vị thế xã hội của họ Việc có hay không có mặt các từ xưng hô trong hội thoại; hay mức độ, tần số sử dụng chúng cũng là một cơ sở quan trọng giúp người nghiên cứu định hướng được vị thế của những người tham gia giao tiếp
Khi bắt đầu cuộc hội thoại, các nhân vật giao tiếp tự thân đều đã có một vị thế xã hội nhất định, vị thế này được xác lập thông qua các đặc điểm về tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội Tuy nhiên, vị thế giao tiếp của mỗi bên có thể thay đổi nhằm thực hiện các chiến lược giao tiếp nhất định, có thể quy về bốn kiểu chiến lược cơ bản:
- Người ở vị thế cao muốn khẳng định vị thế của mình, xác lập khoảng cách giao tiếp nhất định
- Người ở vị thế cao muốn trung hoà hay hạ thấp vị thế của mình, rút ngắn khoảng cách giao tiếp
- Người ở vị thế thấp khi tự tin, muốn tự nâng cao vị thế của mình, rút ngắn khoảng cách giao tiếp
- Người ở vị thế thấp khi tự ti, muốn giữ nguyên vị thế thấp vốn có của mình Dưới đây chúng ta sẽ khảo sát vai trò của các nhóm từ xưng hô trong việc thực hiện các chiến lược giao tiếp cũng như việc biểu thị vị thế của các bên tham gia hội thoại
2.1.1 Quan hệ quyền thế biểu hiện qua nhóm từ xưng hô chính danh và không chính danh
2.1.1.1 Một số nét về từ xưng hô chính danh và không chính danh trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, lớp từ xưng hô bao gồm nhiều kiểu từ loại song phổ biến nhất và có số lượng áp đảo nhất là tiểu loại đại từ nhân xưng Tuy nhiên xung
Trang 37quanh tiểu loại này hiện cũng còn nhiều điều cần tranh luận Trước hết, ngay từ thuật ngữ “đại từ nhân xưng” cũng tồn tại hai hệ quan điểm phổ biến, hệ thứ nhất
sử dụng thuật ngữ này với nghĩa hẹp, theo đó đại từ nhân xưng được hiểu là những đại từ phổ biến, chính danh, tức là những đại từ thực sự dùng để xưng hô Trong khi đó, hệ quan điểm thứ hai lại sử dụng thuật ngữ này với nghĩa rộng, theo đó đại từ nhân xưng gồm cả những đại từ nhân xưng chính danh và không chính danh, tức là tất cả các lớp từ thân tộc là danh từ… được sử dụng vào vị trí đại từ nhân xưng thì đều được coi là đại từ nhân xưng Hiện nay quan điểm thứ hai có phần được ủng hộ hơn trong giới nghiên cứu bởi thực tế giao tiếp xã hội cho thấy, số lượng các đại từ nhân xưng không chính danh ngày càng áp đảo, cùng với đó là tần số sử dụng tăng mạnh
2.1.1.1.1 Từ xưng hô chính danh
Từ xưng hô chính danh trong tiếng Việt là hệ thống các đại từ nhân xưng
như: tôi, chúng tôi, tao, mày, chúng, họ… được chia theo ngôi (ngôi thứ nhất,
ngôi thứ hai, ngôi thứ ba) và theo số (số ít, số nhiều) Trong giao tiếp hàng ngày, việc có sử dụng hay không các từ xưng hô chính danh đều nhằm thực hiện các chiến lược giao tiếp nhất định Thông thường nhóm từ xưng hô chính danh xuất hiện nhiều hơn trong các cuộc hội thoại có tính nghi thức, trang trọng hay khi các vai giao tiếp muốn xác lập vị thế nhất định của mình trước người đối thoại
Mặt khác, trong quá trình giao tiếp, người nói thường muốn biểu thị cả thái
độ, nguyện vọng, tình cảm của mình với đối phương thông qua việc xưng hô ngay
từ khi bắt đầu hội thoại Bởi vậy, trong thực tế, tần số xuất hiện của nhóm từ xưng
hô chính danh không nhiều và số lượng cũng hạn chế hơn một kiểu loại đối xứng với nó, đó chính là nhóm từ xưng hô không chính danh
2.1.1.1.2 Từ xưng hô không chính danh
Trang 38Cho đến nay số lượng các từ xưng hô không chính danh trong tiếng Việt ngày càng lớn, đó là những danh từ chỉ có tính chất như đại từ xưng hô lâm thời, được sử dụng trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể Theo đó thì hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Việt bên cạnh các từ xưng hô chính danh còn có thể bao gồm
nhóm danh từ chỉ quan hệ thân thuộc như: ông, bà, cô, dì, chú bác, anh, em…;
nhóm danh từ chỉ nghề nghiệp (mới xuất hiện gần đây và có xu hướng gia tăng)
như: bác sĩ, cô giáo, giáo sư ; hoặc có trường hợp từ chỉ nghề nghiệp đi kèm với một đại từ nhân xưng khác, kiểu như: anh bộ đội, chú công an… Ngoài ra, trong hệ thống từ xưng hô tiếng Việt còn có thể bao gồm nhóm danh từ chỉ các
con vật, đồ vật đáng yêu hay đáng ghét, nhưng lúc này danh từ đó có thể đi kèm
với các từ như “đồ”, “loại”: cún con, mèo con; đồ khỉ, đồ chó… Việc sử dụng
nhóm từ xưng hô này thường diễn đạt một trong các ý nghĩa sau:
- Thể hiện tình cảm yêu mến, thân thiết, cưng chiều với đối phương, thường là do người trên dùng xưng hô với người dưới (bố mẹ với con, ông bà với cháu…) hoặc giữa hai người ngang bằng nhau nhưng có mối quan hệ tình cảm đặc biệt (yêu nhau, cảm mến nhau…) Lúc này người nói sẽ chủ động sử
dụng các danh từ chỉ tên những con vật, đồ vật yêu quý: mèo con, cún con…
- Thể hiện sự trách móc, hờn dỗi hoặc cố làm giảm nhẹ sự phê bình, tương
tự như lời trách yêu, mắng yêu Khi đó người nói sẽ chủ động sử dụng nhóm danh từ thứ hai, đó là các từ chỉ con vật, đồ vật đáng ghét, song cũng có sự cân
nhắc lựa chọn con vật nào: đồ khỉ,…
- Thể hiện thái độ căm phẫn, bực tức đến tột cùng và muốn trút giận thẳng
thừng Đó là khi người nói đã thực hiện hành động “chửi” với các từ như: đồ chó,
đồ lợn…
Trang 39Có thể nói nhóm đại từ nhân xưng không chính danh trong tiếng Việt đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện nhu cầu xưng hô, biểu thị tình cảm của các nhân vật tham gia giao tiếp, mặt khác nó còn thể hiện một phần đặc trưng văn hoá dân tộc thông qua văn hóa giao tiếp xã hội Chính do tình trạng trên mà việc xác định chính xác số lượng đại từ nhân xưng trong tiếng Việt là rất khó khăn, chúng ta chỉ có thể coi đó là một hệ thống mở, liên tục phát triển Mặt khác, việc lựa chọn và sử dụng đúng lúc, đúng chỗ đại từ nhân xưng trong đời sống xã hội cũng là một trong những phương diện thể hiện đặc trưng văn hoá giao tiếp của người Việt, bởi vậy còn có thể nói các từ xưng hô trong tiếng Việt rất đậm sắc thái biểu cảm Sự thay đổi cách xưng hô trong hội thoại chính là dấu hiệu quan trọng thể hiện sự biến đổi về tính chất các mối quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp
Tuy nhiên, khi nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này, chúng ta cần đặt câu hỏi: Tại sao trong tiếng Việt, số lượng các đại từ xưng hô không chính danh lại chiếm ưu thế lớn như vậy? Nếu trong phạm vi gia đình, các nhân vật giao tiếp sử dụng lớp từ thân tộc làm từ xưng hô theo đúng tôn ty, trật tự họ hàng thì không
có gì để bàn cãi, bởi đó là nề nếp, gia phong của gia đình người Việt Nhưng ngoài phạm vi gia đình, nếu tiếp tục sử dụng lớp từ thân tộc này để giao tiếp với những người không hề có quan hệ huyết thống thì lại là vấn đề hoàn toàn khác,
nó chứng tỏ người sử dụng đang thực hiện một chiến lược giao tiếp nào đó Để khái quát hoá hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt, ta có thể hình dung qua sơ
đồ sau:
Trang 40Trong tiếng Việt, không phải ngẫu nhiên mà số lượng các từ xưng hô lại lớn và khó xác định chính xác như vậy Đó là do việc sử dụng đại từ xưng hô phải phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố như: tuổi tác, giới tính, quan hệ xã hội, quan hệ thân thuộc, trình độ văn hoá, địa
vị xã hội, nghề nghiệp… Về mặt lý thuyết, xét từ góc độ quan hệ quyền lực thì những người có quyền lực cao trong giao tiếp thường là người cao tuổi, nam giới, người có trình độ văn hoá, bằng cấp, địa vị xã hội cao, bao gồm cả khả năng vật chất hơn đối phương Song ngoài thông lệ đó ra, đối với một xã hội phương Đông cổ truyền như Việt Nam, một số yếu tố như tuổi tác, giới tính… lại có phần được ưu tiên hơn so với các yếu tố như địa vị xã hội, chức vụ… Điều này hầu như là ngược lại đối với xã hội phương Tây công nghiệp Để đạt được sự hoà đồng trong giao tiếp hay thực chất là để phục vụ mục đích giao tiếp, nhiều khi người có ưu thế hơn, có quyền lực cao hơn lại chủ động hạ mình để xoá nhoà
Từ xưng hô trong tiếng
Nhóm từ gọi tên loài vật…
Nhóm từ chỉ nghề nghiệp
Đại từ
nhân xưng
ông, bà, bố,
mẹ, cô, dì, chú, bác, con…
cán bộ, bác
sĩ, cô giáo, anh bộ đội…
cún con, mèo con, đồ khỉ,
đồ chó…
tôi, ta, bạn,
chúng tôi,
chúng nó…