1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam

111 491 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM Nguyễn Xuân Long Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề May công nghiệp tại trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định LU

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

Nguyễn Xuân Long

Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề May công nghiệp tại trường Cao đẳng Công nghiệp Nam

Định

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2007

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

Nguyễn Xuân Long

Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề May công nghiệp tại trường Cao đẳng Công nghiệp Nam

Trang 3

quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định “Ưu tiên hàng đầu

cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên

và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên”

Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2010 là: “ tiếp tục

quán triệt quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo” Định hướng

này đã được cụ thể hoá trong mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 với những nội dung chủ yếu là tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, ưu tiên chất lượng đào tạo nhân lực, đổi mới mục tiêu, phương pháp, chương trình giáo dục các cấp học, bậc học và trình độ đào tạo Trong quá trình phát triển giáo dục và đào tạo, đội ngũ giáo viên giữ vai trò vô cùng quan trọng, đây là lực lượng quyết định sự phát triển của sự nghiệp giáo dục và đào tạo Luật giáo dục được Quốc Hội thông qua và ban hành năm 1998, điều 14 đã khẳng định:

“Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo có chính sách bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực

Trang 4

hiện nhiệm vụ của mình, giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo tôn vinh nghề nghiệp dạy học” Chính vì lẽ đó, việc nâng cao trình độ

đội ngũ giáo viên phù hợp với xã hội, đảm bảo về chất lượng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nền Giáo dục - Đào tạo Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Mục tiêu và các giải pháp chiến lược phát triển Giáo dục - Đào tạo trong thời kỳ tới, phả đáp ứng đầy đủ nhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật có tay nghề cao, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng và có thể chất tốt

Để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực này, trước mắt chúng ta

phải chăm lo xây dựng và phát triển “Đội ngũ giáo viên dạy nghề” nói

chung, và đặc biệt là đội ngũ giáo viên dạy nghề Trường CĐCN - Nam Định nói riêng, mà vấn đề tác giả đề cập tới

Thời gian qua đội ngũ giáo viên này có ưu điểm là: phần đông họ có tâm huyết với nghề nghiệp, năng lực đáp ứng nhu cầu đào tạo Tuy nhiên đứng trước yêu cầu cao của sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa, họ bộc lộ những yếu điểm như: Trình độ chuyên môn không đồng đều, nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng nghiên cứu còn nhiều hạn chế

Đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục về các giải pháp quản

lý, phát triển đội ngũ giảng viên Đại học, Cao đẳng dạy nghề nói chung Song đây là vấn đề mới, với một trường đang có xu hướng phát triển mạnh như Trường CĐCN - Nam Định, và mục tiêu chung là phát triển nhà trường xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, trình

độ tay nghề vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, năng động sáng tạo và làm chủ trong mọi lĩnh vực

Vì vậy việc bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên dạy thực hành là nhu cầu tất yếu, khách quan và cấp thiết, do đó học viên mạnh dạn xin chọn đề tài:

Trang 5

“ Các giải pháp quản lí nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định” Làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ khoa học QLGD

Năm 1991, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục đã nghiên cứu đề tài:

“ Mô hình bồi dưỡng giáo viên dạy nghề ”, đề tài chủ yếu điều tra trực trạng mà chưa đề cập sâu về cơ sở lý luận của công tác quản lý, bồi dưỡng

Đề tài KX 07- 14 do GS TSKH Nguyễn Minh Đường chủ trì, nói về vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới

Trong đó đề cập hai vấn đề chủ yếu là cán bộ quản lý và giáo viên Trong

đề tài này GS đã đánh giá về thực trạng của đội ngũ GVDN trong bối cảnh đổi mới hiện nay của đất nước Tháng 3/1999 Hội thảo Đào tạo và Bồi dưỡng giáo viên dạy nghề do Tổng cục dạy nghề tổ chức tại Hà Nội Hội

thảo đã tập trung vào nêu các biện pháp xây dựng, phát triển đội ngũ giáo

viên dạy nghề nói chung

Đề tài B99-52-36 “ Xây dựng mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật có trình độ Đại học cho các trường trung học chuyên nghiệp – dạy nghề ”

Do PGS TS Nguyễn Đức Trí làm chủ nhiệm Những nội dung đề tài nêu ra đã được các trường trong khối dạy nghề áp dụng và đã đem lại những hiệu quả thiết thực trong công tác đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong nhà trường và sự đòi hỏi của thị trường lao động, các đề tài nghiên cứu đã tập chung nghiên cứu về ĐNGV

Trang 6

nói chung, song với mong muốn sẽ góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển nhà trường, phát triển ĐNGV dạy nghề của trường CĐCN - Nam Định trong đó sự phát triển về trình độ và số lượng đội ngũ giáo viên nghề May công nghiệp là nội dung nghiên cứu chủ yếu của tác giả

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các giải pháp quản lý thực hiện việc nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề May công nghiệp tại Trường CĐCN - Nam Định

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định một số vấn đề lý luận của việc nâng cao trình độ giáo viên dạy nghề

- Đánh giá thực trạng của ĐNGV dạy thực hành tại trường CĐCN - Nam Định trong những đã năm qua

- Đề xuất các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy thực hành nghề qua khảo sát

4 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng ĐNGV dạy thực hành nghề và giải pháp quản lí nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy thực hành nghề May công nghiệp tại trường CĐCN - Nam Định

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc, phân tích, khái quát hoá, hồi cứu các tài liệu lý luận khoa học, tạp chí, sách báo kỉ yếu hội thảo vv

- Phương pháp điều tra, khảo sát bằng các phiếu thăm dò, tìm hiểu thực tế

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo các ý kiến của các nhà quản lý, các chuyên gia về giáo dục đào tạo

- Phương pháp thống kê và sử lý các số liệu

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu:

Trang 7

- Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy thực hành nghề May công nghiệp tại trường CĐCN - Nam Định trong 5 năm đã qua

- Một số giải pháp quản lý bồi dưỡng nâng cao trình độ ĐNGV dạy thực hành nghề May công nghiệp tại trường CĐCN - Nam Định trong 10 năm tiếp theo (Từ 2007 – 2017)

7 Giả thuyết khoa học

Trên cơ sở lý luận về giáo viên dạy thực hành nghề, yêu cầu quản lí bồi dưỡng nâng cao trình độ ĐNGV, và kết quả của việc đánh giá thực trạng trình độ của ĐNGV dạy thực hành nghề May công nghiệp tại đơn vị Các giải pháp để nâng cao trình độ ĐNGV nhằm đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế được đề xuất trên cơ sở lí luận và nghiên cứu thực tiễn tại đơn vị, nếu được thực hiện thì

sẽ góp phần nâng cao trình độ ĐNGV dạy thực hành nghề May công nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại trường CĐCN - Nam Định

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục Luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy nghề

Chương 2:Thực trạng công tác quản lý việc nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề May công nghiệp tại trường CĐCN - Nam Định

Chương 3: Một số giải pháp quản lý bồi dưỡng nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề May công nghiệp tại trường CĐCN - Nam Định

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ

GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Giáo viên và giáo viên dạy nghề

+ Giáo viên: Theo cách hiểu thông thường, giáo viên là những người làm nghề dạy học, khái niệm này được dùng rất phổ biển không chỉ trong cuộc sống mà còn thể hiện trong các văn bản pháp quy Các khái niệm liên quan đến giáo viên được định nghĩa như sau :

- Giáo viên : Là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương

- Giảng viên : Là tên gọi chung cho người làm công tác giảng dạy ở bậc Đại học và Cao đẳng

Như vậy có thể hiểu “Giáo viên” là tên gọi chung đối với tất cả những người làm công tác giảng dạy ở các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân + Giáo viên dạy nghề: Giáo viên dạy nghề là những người giảng dạy các môn kỹ thuật cơ sở, lý thuyết nghề và thực hành nghề Giáo viên dạy nghề

có chức năng đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội

Trong các trường dạy nghề có nhiều loại giáo viên :

- Giáo viên dạy các môn cơ bản: Toán, Lý, Hoá

- Giáo viên dạy các môn chung: Ngoại ngữ, Thể dục, Quân sự, Chính trị

- Giáo viên dạy các môn kỹ thuật cơ sở, lý thuyết chuyên môn và hướng dẫn thực hành nghề

Chúng ta cần phân biệt rõ giữa giáo viên dạy nghề và giáo viên trong các trường dạy nghề

Giáo viên dạy nghề trong thực tế có 3 loại:

- Giáo viên dạy lý thuyết nghề

- Giáo viên dạy thực hành nghề

- Giáo viên dạy cả thực hành nghề và lý thuyết nghề

Trang 9

Theo Luật giáo dục quy định: Giáo viên dạy nghề có 3 cấp trình độ:

- Giáo viên dạy nghề

- Giáo viên chính dạy nghề

- Giáo viên cao cấp dạy nghề

Hiện nay Nhà nước đang xây dựng chức danh của 3 cấp trình độ trrình

độ mới để thay thế cho tiêu chuẩn chức danh 2 cấp trước đây

1.1.2 Khái niệm quản lý

Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ: Quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình cũng xuất hiện theo Điều này làm nảy sinh nhu cầu về quản lý Trải qua tiến trình phát triển của lịch sử từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh, trình độ sản xuất, tổ chức, điều hành xã hội cũng phát triển theo Đó là điều tất yếu của lịch sử

Ngày nay nhiều người thừa nhận rằng quản lí trở thành một nhân tố của

sự phát triển xã hội Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người

Nước ta đã và đang thực hiện cơ chế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, đang tiến hành Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, cải cách mở cửa, hội nhập với khu vực và thế giới, vấn đề sử dụng

và phát huy những ưu việt sẵn có xuất phát từ bản chất xã hội phần lớn phụ thuộc vào quản lý và trình độ tổ chức quản lý

Tuy nhiên, vấn đề quản lý là vấn đề hết sức phức tạp Ngay trong lĩnh vực cụ thể như giáo dục cũng có sự phức tạp riêng của nó Có nhiều lý do

để dẫn đến sự phức tạp này, đó là do sự không ngừng tănng quy mô phát triển giáo dục, do sự đa dạng về phương thức giáo dục (GD chính quy, GD không chính quy, GD phi chính quy), do sự khác biệt vùng miền Nhưng dù sao cũng phải khẳng định rằng đối tượng hoạt động càng phức tạp bao nhiêu thì lại càng đòi hỏi phải có quản lý bấy nhiêu

Trang 10

Cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý

Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát, nó dùng cho cả quá trình quản lý xã hội

Riêng về quản lý xã hội lại được chia thành 3 lĩnh vực quản lý cơ bản tương ứng với 3 loại hình hoạt động chủ yếu của con người: Quản lý sản xuất, quản lý kinh tế, quản lý xã hội - chính trị và quản lý đời sống tinh thần

Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt

động (Đại học bách khoa toàn thư – Liên Xô)

Các khái niệm (thuộc lĩnh vực xã hội) trên đây, tuy có khác nhau song chúng có chung những dấu hiệu chủ yếu sau:

- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội

- Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích

- Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức

Trang 11

Có thể nhận thấy, hoạt động quản lý theo tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ qua lại giữa những quy luật xã hội khách quan và hoạt động tự giác của con người có ý nghĩa to lớn đối với lý luận và thực tiễn quản lý Hoạt động quản lý là sự biểu hiện ý nguyện tự giác của chủ thể quản lý muốn điều chỉnh và hướng dẫn các quá trình và các hiện tượng

xã hội Việc xác định đúng đắn những khả năng và những giới hạn khách quan của hoạt động đó là tiền đề cơ bản xây dựng lý luận khoa học về quản lý và hoàn thiện quá trình quản lý về mặt thực tiễn Như vậy, hoạt động quản lý có bản chất là hoạt động tự giác, đúng như Ăng – ghen đã chỉ ra:

Trong lịch sử xã hội, nhân tố hoạt động là con người có ý thức, hành động có suy nghĩ hay dưới ảnh hưởng của nhiệt tình và theo đuổi những mục đích nhất định ở đây không có gì được thực hiện mà lại không có ý định tự giác, không có mục đích mong muốn Tuy nhiên không nên tuyệt đối hoá yếu tố tự giác vì như vậy dễ rơi vào quan điểm duy tâm về quản lý Ngược lại, việc nhận thức đúng đắn vai trò của yếu tố tự giác trong hoạt động xã hội cho phép xác định đúng đắn những giới hạn, chức năng và ý nghĩa xã hội của việc quản lý các quá trình xã hội

Tính mục đích cũng là đặc trưng trong mọi hoạt động của con người Có thể nói, tính mục đích là thuộc tính vốn có trong hoạt động xã hội, đặc biệt trong hoạt động quản lý Khi thực hiện nhiệm vụ quản lý, chủ thể quản lý luôn hướng theo mục đích xác định và lôi cuốn đối tượng bị quản lý thực hiện mục tiêu của tổ chức

Điều đặc biệt cần nhấn mạnh là quản lý trong lĩnh vực xã hội không khi nào là hoạt động có tính chất một chiều, tức là : Đối tượng bị quản lý thụ động chịu tác động của chủ thể quản lý Với tư cách là người lao động, đối tượng bị quản lý được coi là những chủ thể tự giác, tích cực tham gia vào

việc quản lý xã hội Điều này được V.I.Lênin chỉ ra:“ Trí tuệ của hàng

Trang 12

chục triệu con người sáng tạo sẽ tạo ra cái cao hơn rất nhiều so với sự tiên đoán vĩ đại và thiên tài cá nhân”

Tóm lại, những khái niệm về quản lý (Thuộc lĩnh vực XH) nêu trên đều có những đặc trưng chủ yếu là: Tính tự giác, tính mục đích và tính quần chúng trong quản lý Đây cũng được coi là cơ sở phương pháp luận Mác xít của hoạt động quản lý

Thuật ngữ “ Lãnh đạo” (Leadership) cũng là khái niệm liên quan đến quản lý (Management) Đây là hai khái niệm gần nhau nhất Thậm chí đôi khi còn đồng nhất với nhau Lãnh đạo được hiểu là hình thức quản lý cao nhất, chung nhất, là hạt nhân của quản lý Lãnh đạo được xem như bộ não của quản lý, đó là hệ thần kinh trung ương của quản lý Đặc điểm chủ yếu của lãnh đạo là xác định đường lối cơ bản, là định hướng mang tính chiến lược, là gây ảnh hưởng, lôi cuốn quần chúng hăng hái, tự giác thực hiện có kết quả đường lối, mục tiêu đã vạch ra Đặc điểm chủ yếu của quản lý thể hiện ở vai trò ưu tiên của các chức năng chấp hành, được coi là một loại lãnh đạo đặc biệt, trong đó việc đạt được mục đích của tổ chức là tối quan trọng Do đó , lãnh đạo là khái niệm chung hơn với quản lý Sự khác nhau căn bản giữa hai khái niện này là ở vấn đề tổ chức Nếu lãnh đạo mang tính chủ quan, trong đó yếu tố sáng tạo luôn giữ vai trò quan trọng, thì quản lý lại là những tác động có thể “quy trình hoá” ở chừng mực nhất định Mặt khác, đã là nhà quản lý tốt thì hiển nhiên là nhà lãnh đạo tốt, bởi Người lãnh đạo đó biết biến ý trí và sức mạnh của mình thành ý trí và sức mạnh của tập thể nhằm thực hiện thành công mục tiêu chung của tổ chức Nhưng điều ngược lại thì chưa hẳn, bởi có thể là lãnh đạo tốt, nhưng lại là người quản lý tồi

Để lãnh đạo tốt, nhà lãnh đạo cần có ba kỹ năng sau:

1 Phán đoán, khả năng hiểu được thực trạng mà người lãnh đạo đó đang gây ảnh hưởng

2 Thích ứng, khả năng thích ứng hành vi của người lãnh đạo với những nguồn lực sẵn có để có thể đáp ứng được những bất ngờ của tình huống

Trang 13

3 Giao tiếp, Khả năng giao tiếp theo lối mà mọi người dễ dàng hiểu và chấp nhận đối với mình

1.1.3 Quản lý giáo dục

Chúng ta có thể khẳng định giáo dục và quản lý giáo dục luôn tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như thế với quản lý giáo dục Giáo dục suất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền lý kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau và để thế hệ đi sau có trách nhiệm kế thừa, phát triển nó một cách sáng tạo, làm cho xã hội, giáo dục và bản thân con người phát triển không ngừng Để đạt mục đích đó, quản lý được coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên

Trước hết, cũng như quản lý xã hội nói chung, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Chỉ có con người mới có khả năng khách thể hoá mụch đích, nghĩa là thể hiện cái nguyên mẫu lý tưởng của tương lai được biểu hiện trong mục đích đang ở trạng thái khả năng sang trạng thái thực hiện Mục đích giáo dục cũng chính là mục đích của quản lý (tuy không phải là mục đích duy nhất của quản lý giáo dục) Đây là mục đích có tính khách quan Nhà quản lý cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội bằng hành động của mình hiện thực hoá mục đích đó trong thực tế

Cũng như khái niệm “quản lý”, khái niệm “quản lý giáo dục” cũng có nhiều quan niệm khác nhau

Khái niệm “quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ, đó là cấp độ vĩ mô và cấp

độ vi mô

Cấp quản lý vĩ mô tương ứng với việc quản lý một đối tượng có quy mô, bao quát toàn bộ hệ thống, nhưng trong hệ thống này lại có nhiều hệ thống con, tương ứng với hệ thống con có hoạt động quản lý vi mô Sự thực, việc phân chia quản lý vĩ mô và quản lý vi mô chỉ là tương đối Ví dụ như:

Trang 14

Quản lý ở cấp Sở giáo dục và đào tạo, nếu đặt trong phạm vi toàn quốc thì chỉ là cấp vi mô so với Bộ giáo dục và đào tạo (cấp vĩ mô) Nhưng nếu đặt

nó trong phạm vi một tỉnh (thành phố) thì nó lại là cấp vĩ mô so với cấp quản lý là Phòng giáo dục và đào tạo (cấp vi mô)

Nếu xét theo khía cạnh đối tượng của quản lý sẽ có các cấp quản lý như : Quản lý một ngành học, một bậc học, một cấp học và quản lý một trường học Việc phân chia các cấp quản lý này cũng mang tính chất tương đối Điều quan trọng là khi xem xét vấn đề quản lý phải xác định chủ thể quản

lý đang ở cấp độ nào Từ đó mới thấy được mối tương quan trên – dưới, vĩ

mô và vi mô

Đối với cấp độ vĩ mô:

- Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục

- Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi (Emergence) của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến nục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động

- Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (Nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội

Các khái niệm trên tương ứng với sự phát triển hệ thống giáo dục trên quy mô cả nước hay hệ thống giáo dục của một tỉnh (thành phố) hoặc đối với hệ thống giáo dục của một nghành học,cấp học cụ thể nào đó Có thể

Trang 15

thấy các khái niệm đó không mâu thuẫn nhau, ngược lại nó bổ xung cho nhau Nếu khái niệm thứ nhất và khái niệm thứ hai đòi hỏi tính định hướng, tính đồng bộ thì khái niệm thứ ba đòi hỏi tính cụ thể của những tác động quản lý vào các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu quản lý

Đối với cấp độ vi mô:

- Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống) hợp quy luật của chủ thể quản

lý đến tập thể giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội

trong và ngoài nhà trường, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường

- Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành tới tập thể giáo viên và học sinh với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường

Thuật ngữ “Quản lý trường học – Quản lý nhà trường” có thể xem là đồng nghĩa với quản lý giáo dục thuộc tầm vi mô Đây là những tác động quản lý diễn ra trong phạm vi nhà trường

Từ những khái niện trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố ảnh hưởng đến mục tiêu quản lý đó là: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, phương pháp quản lý, công cụ quản lý Và được sơ đồ hoá như sau:

Chủ thể QL Đối tượng QL

Mục tiêu QL

Trang 16

Sơ đồ1: Sơ đồ hoá về quản lý

1.1.4 Quản lý nhà trường

Thế kỷ 20 đánh dấu nhiều thành tựu của giáo dục học, đáng kể nhất là lý luận giáo dục gắn vào lý luận phát triển (Kinh tế học phát triển) với sự ra đời của “Kinh tế học giáo dục” và “Xã hội học giáo dục lý luận quản lý nhà trường”

Nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết chế sư phạm đơn thuần Nội dung công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành “Nhân cách – Sức lao động” phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng nguồn vốn con người (Human capital), vốn tổ chức (Organiza tional) và vốn xã hội (Social capital)

“Nhà trường là vầng trán của cộng đồng” và “Cộng đồng là trái tim của nhà trường” Từ nhà trường, hai quá trình “Xã hội hoá giáo dục” và “Giáo dục hoá xã hội” quyện chặt vào nhau để tạo thành “Xã hội học tập” Tạo nên sự đồng thuận trong xã hội, tăng trưởng kinh tế cho mỗi quốc gia với mục tiêu phát triển nhân văn (Human Development) đưa giáo dục đến với mọi người (Education forall) và huy động mọi tiềm năng, nguồn lực của xã hội cho giáo dục và coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu” thì “quản lý giáo dục phải coi nhà trường là nút bấm, lấy nhà trường làm nền tảng và quản lý nhà trường phải lấy quản lý việc dạy học là khâu cơ bản, việc dạy học phải được xuất phát từ người học và hướng vào người học (Learner Centred

teaching) (Tr 210 – Quản lý giáo dục – NXB Đại học sư phạm – HN)

Việt Nam chúng ta từ khi nước nhà giành độc lập Bác Hồ và Đảng đã rất quan tâm đến việc sây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà

Trang 17

Với mẫn cảm chính trị và tấm lòng thiết tha với sự nghiệp giáo dục làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái, làm cho thế hệ trẻ Việt Nam được hưởng một nền giáo dục phát triển hoàn toàn theo năng lực của mình Lúc sinh thời Bác Hồ rất quan tâm đến việc tổ chức nền giáo dục cách mạng Việt Nam, nhà trường Việt Nam

Ngay khi mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dù còn biết bao công việc hệ trọng phải chỉ đạo Bác vẫn quan tâm đến việc phải tạo lập được kiểu nhà trường lao động

Năm 1947 Bác đã có chỉ thị: “Sự học tập trong nhà trường có ảnh

hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên và tương lai của thanh niên là tương lai của đất nước mình Vì vậy cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước thương nòi phải dạy cho họ có ý chí tự lực tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”

Bác nêu ra bốn việc quan trong của trường học:

“ Một là làm cho học sinh quý trọng sự cần lao

Hai là tập cho họ quen lao khổ

Ba là cho họ cái chí khí tự lực kỳ lực

Bốn là có ích cho sức khoẻ của họ”

(Hồ Chí Minh – toàn tập – NXB Chính trị quốc gia)

Tư tưởng và sự chỉ đạo thực tiễn của Bác Hồ về phát triển nhà trường Việt Nam rất tinh tế và độc đáo, luôn phù hợp với thực tiễn phát triển giáo dục hiện đại Tư tưởng này đã trở thành hiện thực trong nhà trường Việt Nam những năm 1960, 1970 của thế kỷ 20 thông qua các trường điển hình lúc bấy giờ như trường Bắc Lý, trường Thanh niên lao động XHCN Hoà Bình

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, mô hình này đã không được duy trì, cải tiến để phù hợp với hoàn cảnh mới của nhà trường phổ thông ở Việt Nam, dù trên lý thuyết không có sự tuyên bố nào đi ra ngoài nguyên lý giáo dục XHCN Song sự tổ chức thực tế ở một bộ phận dường như trở lại quỹ

Trang 18

đạo của nhà trường quyền uy và ăn bám bệnh thành tích, hình thức đã làm cho một số nhà trường vơi đi sự tín nhiệm của xã hội, của cộng đồng Hiện nay Việt Nam chúng ta đã có luật giáo dục được ban hành vào ngày 27/6 /2005 Và Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau đây:

- Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên

- Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động

- Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước

- Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân

Các yếu tố để thành lập nhà trường gồm:

- Mục tiêu đào tạo ( M ) - Hình thức đào tạo ( H )

- Nội dung đào tạo ( N ) - Điều kiện đào tạo ( Đ )

- Phương pháp đào tạo ( P ) - Môi trường đào tạo ( M )

- Lực lượng đào tạo ( Thầy- Th ) - Bộ máy đào tạo ( Bô )

- Đối tượng đào tạo ( Trò - Tr ) - Qui chế đào tạo ( Qi )

Qu¶n lÝ

M

Tr M«

§

Th

H

Qi

Trang 19

Sơ đồ 2: Sơ đồ hoá mối liên hệ các yếu tố cấu thành nhà trường

1.2 Vai trò, nhiệm vụ của giáo viên dạy nghề

1.2.1 Vai trò của giáo viên dạy nghề

Đội ngũ giáo viên (Teaching Staff) và đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục, quản lí các nhà trường và các cơ quan trong hệ thống giáo dục quốc dân có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục Bởi vì sản phẩm của họ khác với sản phẩm của loại hình lao động khác ở chỗ: Sản phẩm này tích hợp cả nhân tố tinh thần và vật chất, đó là “Nhân cách – Sức lao động”

Thành quả lao động của họ vừa tác động vào hình thái ý thức xã hội (giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc, tình đoàn kết đồng thuận của đất nước), vừa hình thành sức lao động kỹ thuật thúc đẩy sự năng động của đời sống thị trường, ở đây là thị trường sức lao động

Sứ mệnh của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục có ý nghĩa cao

cả đặc biệt Họ là bộ phận lao động tinh hoa của đất nước Lao động của họ trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy sự phát triển đất nước, cộng đồng đi vào trạng thái phát triển bền vững

Một ngày thiếu giáo dục đất nước không thể tồn tại được và giáo dục không có người thầy không thể vận động được

Trong việc định hướng lại giáo dục, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam rất quan tâm xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí

Trang 20

giáo dục Trong thời kì đổi mới giáo dục đã liên tiếp có các chỉ thị về lĩnh vực quan trọng này

Ngày 27/8/2001 Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị 18/2001/T – Tg nêu ra các biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dục quốc dân Ngày 9/7/2001 Chính phủ có nghị định 35/2001/NĐ - Chính phủ nêu chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn

Ban bí thư TW có Chỉ thị số 40 về xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục Từ Chỉ thị này ngày 11/1/2005 Thủ tướng chính phủ ra quyết định phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục giai đoạn 2005 – 2010”

“Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặ biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”

Trong các nhiệm vụ nêu ra đã lưu ý việc:

“Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, trách nhiệm của nhà giáo và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục

có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tụy với nghề nghiệp, làm trụ cột thực hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”

1.2.2 Những yêu cầu chung đối với việc phát triển đội ngũ giáo viên

- Yêu cầu đối với giáo viên dạy nghề

Trang 21

Xã hội và người học đòi hỏi người giáo viên nói chung và người giáo viên dạy nghề nói riêng những yêu cầu rất cao, bởi vì quan niệm của người Việt Nam thì giáo viên là người hiểu biết toàn diện

* Những yêu cầu về phẩm chất:

- Lòng yêu nghề

Người giáo viên trước hết phải có lòng yêu nghề, đó là tiêu chuẩn quan trọng nhất đối với người thầy Thực tế đã chứng minh: Bất luận làm nghề gì muốn có kết quả cao, phải có lòng yêu nghề Người thầy trước hết phải là người yêu nghề Chỉ có ai tha thiết đối với nghề dạy học mới trở thành nhà sư phạm chân chính, mới xứng đáng với vị trí ”Người thầy” của xã hội Chỉ những ai yêu nghề mới cảm thấy cái hay, cái đẹp, cái cao quý của nghề dạy học Nhà giáo yêu nghề mới ”thức thâu đêm nghiêng mình bên giáo án”, để tìm ra những phương pháp giảng dạy phù hợp với nội dung và trình độ của học sinh

- Đạo đức chuẩn mực

Xã hội đòi hỏi người thầy phải có đạo đức chuẩn mực Trong mọi việc làm, thầy giáo phải là người có tính chuẩn mực, thái độ ân cần, tận tâm thực hiện các nhiệm vụ của mình Lời nói của thầy bao giờ cũng phải đi đôi với việc làm Chỉ khi nào có được những phẩm chất như thế thầy giáo mới

có thể giáo dục, rèn luyện thế hệ trẻ trở thành con người lao động mới

- Uy tín đối với học sinh

Kết quả giáo dục phụ thuộc nhiều vào uy tín của người thầy Lòng yêu nghề, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn nghề và sư phạm là cơ sở

để tạo nên uy tín của người thầy

- Kỉ luật nghề nghiệp

Kỉ luật nghề nghiệp là một đòi hỏi cao của quá trình sản xuất, để đảm bảo an toàn cho con người và thiết bị Học sinh sau này ra trường sẽ phải thực hiện các quy trình sản xuất chặt chẽ Muốn có được kỉ luật nghề nghiệp học sinh phải rèn luyện nghiêm túc ngay từ khi còn ngồi trên ghế

Trang 22

nhà trường để tạo thành thói quen Muốn rèn luyện cho học sinh tính kỉ luật nghề nghiệp, người thầy phải có được đức tính ấy Sự dễ dãi, xuề xoà sẽ làm hạn chế việc rèn luyện tác phong nghề nghiệp cho học sinh vì vậy giáo viên phải rèn luyện để loại bỏ những thói quen đó

*Những yêu cầu về năng lực:

Năng lực là yếu tố quyết định tạo lên nhân cách con người dạy nghề vừa mang những tính chất chung của nghề dạy học, vừa có những nét đặc thù của chuyên môn kĩ thuật, vì vậy người giáo viên dạy nghề phải có cả năng lực sư phạm và năng lực chuyên môn mới hoàn thành được nhiệm vụ của mình, trong đó có năng lực quản lý, năng lực tổ chức

Xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên ở nước ta trong hoàn cảnh hiện nay phải quán triệt các yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực

Có 3 yêu cầu sau cần chú ý:

- Đủ về số lượng

Số lượng của giáo viên nhìn trên sự điều hành vĩ mô phải cân đối với lao động xã hội trong nền kinh tế Ở nước ta hiện có khoảng 50 triệu lao động trong độ tuổi lao động và có khoảng gần 1 triệu là giáo viên Như vậy chiếm 2% trong tổng lao động Tỉ lệ này là vừa phải trong điều kiện của một nền kinh tế mà mặt bằng GDP còn thấp

- Đạt chuẩn về chất lượng

Chuẩn về chất lượng giáo viên hiện nay tạm quy định về ba khía cạnh + Chuẩn về trình độ chuyên môn

+ Chuẩn về trình độ nghiệp vụ sư phạm

+ Chuẩn về đạo đức tư cách người thầy

Ở nước ta trong quá trình đổi mới giáo dục, do phát triển mạnh các trường sư phạm nên đã từng bước chuẩn hoá đội ngũ giáo viên về mặt bằng cấp sư phạm

Trang 23

Về đạo đức tư cách người thầy, nhìn tổng thể trên toàn bộ đội ngũ giáo viên nước ta là đạt yêu cầu Họ là những người lính xung kích đáng tin cậy của Đảng trên mặt trận văn hoá giáo dục Chỉ có một số rất nhỏ có những biểu hiện yếu kém về lối sống, đạo đức, tư cách và số này đã kịp thời được thay thế

- Đồng bộ về cơ cấu

Cơ cấu của đội ngũ giáo viên được xét trên các sự tương thích:

+ Tương thích về giới nam nữ

+ Tương thích về cơ cấu ngành nghề

+ Tương thích về tuổi đời, thâm niên nghề

+ Tương thích về trình độ, nghiệp vụ sư phạm

Quản lí ĐNGV làm cho đội ngũ này luôn luôn vận động tự làm mới mình bằng con đường biết “Học - Hỏi – Hiểu - Hành” (bốn chữ H) Đây là phương châm hành xử của con người hiện đại, cũng là phương châm hành

xử của mỗi tập thể

Khoa học càng phát triển, các kĩ năng, kĩ sảo nghề nghiệp càng tinh vi phức tạp, mỗi người không thể tự mình có được các kĩ năng, kĩ sảo đó mà

phải có người dạy dỗ Tục ngữ có câu: “Không thầy, đố mày làm nên” câu

nói đó cho thấy rõ vai trò của người thầy trong việc đào tạo nghề nghiệp Nhờ có thầy mà kho tàng tri thức, văn hóa và kinh nghiệm của nhân loại được lưu truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau

Thầy giáo không chỉ dạy nghề mà nhiệm vụ lớn hơn là hình thành nhân cách lao động cho học sinh Rõ ràng người thầy giáo có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của từng con người Vì vậy, họ xứng đáng được xã hội

tôn kính, trân trọng Điều đó phù hợp với đạo lí: “Tôn sư trọng đạo” của

dân tộc ta

Chúng ta đang sống ở những năm đầu thế kỉ 21, khởi đầu của nền kinh tế tri thức Vai trò của người thầy đối với sự phát triển của đất nước trong

Trang 24

tương lai càng trở nên quan trọng Người thầy phải thực hiện trọng trách

mà xã hội giao phó, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước, có như thế nước ta mới phát triển sánh vai với các nước trên thế giới Thời cơ và vận hội đã đến, ngành giáo dục phải chuẩn bị hành trang cho thế

hệ trẻ ngay từ những năm đầu của thiên niên kỉ mới Thầy giáo phải là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận ấy

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, muốn đánh giá chất lượng đào tạo nghề của một trường, trước hết phải nhìn vào năng lực đội ngũ giáo viên dạy

nghề Như Luật Giáo dục đã khẳng định ”người thầy là nhân tố quyết định

đến chất lượng giáo dục” Thầy giáo là người tổ chức, lãnh đạo quá trình

học tập, giáo dục ở trường học Ảnh hưởng của người thầy đối với học sinh

rất to lớn và không có gì thay thế được V.I.Lênin viết: ”không có sự kiểm

tra nào, không có chương trình nào có thể thay đổi một cách tuyệt đối phương hướng của các bài học mà giảng viên đã xác định” (Lê Nin tuyển

tập – trang 94)

Trong nhà trường nếu đội ngũ giáo viên có năng lực, họ có thể lựa chọn được nội dung giảng dạy sát với thực tế và nhu cầu người học, khai thác, sử dụng có hiệu quả thiết bị, phương tiện dạy học, tạo ra mô hình, học cụ, làm giàu thêm cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy

Tóm lại, người thầy là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo nghề

Vai trò người thấy đối với chất lượng đào tạo được thể hiện ở sơ đồ 3:

Sơ đồ 3: Vai trò của người GVDN đối với chất lượng đào tạo

Trang 25

(Nguồn: Khoa học QLGD – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn NXB Giáo dục – Năm 2004)

1.2.3 Những nhiệm vụ của người giáo viên dạy nghề

Giáo viên dạy nghề có những nhiệm vụ chính sau đây:

* Truyền thụ kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ sảo nghề nghiệp cho học sinh:

Nội dung mà giáo viên dạy nghề truyền thụ cho học sinh được thể hiện trong chương trình đào tạo bao gồm:

- Kiến thức kĩ thuật cơ sở

- Kiến thức chuyên môn

- Rèn luyện kĩ năng, kĩ sảo nghề

Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất nó quyết định đến chất lượng đào tạo nghề Vì thực hành nghề nghiệp chiếm 2/3 thời gian đào tạo Trong thời gian học nghề, học sinh được thầy giáo hướng dẫn, rèn luyện để có được kĩ năng là nhiệm vụ rất nặng nề, đòi hỏi những, kĩ sảo, thao tác, động tác cơ bản của nghề Rèn luyện tay nghề cho học sinh người thầy phải có phương pháp hướng dẫn hợp lý thì học sinh mới nhanh chóng hình thành được kĩ năng, kĩ sảo nghề nghiệp

* Giáo dục phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho học sinh:

Giáo dục phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho học sinh là nhiệm vụ không kém phần quan trọng của người giáo viên dạy nghề Mục tiêu đào tạo nghề là: ”Rèn luyện cho học sinh trở thành con người lao động mới có phẩm chất và năng lực chuyên môn, sống và làm việc theo pháp luật, biết làm giàu bằng chính nghề nghiệp của mình” Việc giáo dục phẩm chất đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay là rất khó khăn, bởi vì thang giá trị đạo đức đã thay đổi Cái mà trước đây là lí tưởng sống của mọi người, nay không còn phù hợp với thế hệ trẻ Những tiêu chuẩn đạo đức mới chưa hình thành rõ nét Nhà giáo dục phải vừa làm, vừa tìm tòi những nội dung

Trang 26

giáo dục sao cho phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và tâm lí học sinh

* Tạo tiềm năng cho học sinh

Ngoài hai nhiệm vụ cơ bản trên, giáo viên dạy nghề còn có nhiệm vụ tạo tiềm năng cho học sinh, để họ tiếp tục phát triển trong cuộc sống sau này 1.3 Phát triển giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập Quốc tế

Cơ chế thị trường đã tạo ra động lực mới cho sự phát triển xã hội cũng như giáo dục và đào tạo, tuy nhiên nó cũng gây ra không ít khó khăn cho giáo dục nghề nghiệp Mặc dù các trường dạy nghề đã có bước đầu thích ứng, song còn xoay quanh trong công việc tiếp cận có hiệu quả với sự biến động, thể hiện qua các quy luật sau:

+ Qui luật giá trị:

Nhà trường cần lấy chất lượng đào tạo là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển, đồng thời phải hiểu đào tạo kỹ thuật nghề nghiệp cho học sinh là tạo điều kiện cho họ thâm nhập vào thị trường lao động Vì vậy người GVDN phải liên tục phấn đấu để đào tạo ra đội ngũ lao động kỹ thuật với chất lượng cao (tạo ra sản phẩm có giá trị)

+ Qui luật cung cầu:

Cần mềm dẻo qúa trình đào tạo và thích ứng nhanh, đáp ứng trình độ,

số lượng và loại hình lao động theo kịp thời gian mà thị trường yêu cầu vì vậy nhà trường cần tìm hiểu thị trường đầu vào, đầu ra thông qua hội nghị khách hàng Thị trường lao động luôn biến động đòi hỏi sự đa dạng về ngành nghề đào tạo, cở sở đào tạo phải năng động theo kịp và đón đầu những biến động để có hướng đi đúng

+ Qui luật cạnh tranh:

Trang 27

Trong cơ chế thị trường, dù là thị trường có sự quản lý của nhà nước, sự cạnh tranh đang tác động đến nhà trường và từng giáo viên, cạnh tranh trong tuyển sinh, trong ngành nghề đào tạo Vì vậy nắm bắt được thị trường đầu ra tăng cường tính hiệu quả và chất lượng đào tạo là yếu tố quan trọng hàng đầu của cơ sở đào tạo nghề

1.4 Những nội dung trong công tác quản lý nâng cao trình độ của đội ngũ giáo viên dạy nghề

1.4.1 Nội dung quản lý theo chức năng

Khái niệm “chức năng” được dùng với nhiều nghĩa khác nhau Trong từ điển Tiếng việt, thuật ngữ này có hai nghĩa: “1 Hoạt động, tác dụng bình thường hoặc đặ trưng của một cơ quan, một hệ cơ quan nào đó trong cơ thể; 2 Tác dụng, vai trò bình thường hoặc đặc trưng của một người nào, một cái gì đó Đương nhiên, ở đây nghĩa là thứ hai không thuộc lĩnh vực ta đang xét Trong khi đó, G.Kh Pôpôp viết: “Trước hết, một bộ phận của hoạt động quản lí Hai là, một bộ phận đã được tách riêng ra của hoạt động quản lí Chức năng quản lí đó là một loại hoạt động quản lí đặc biệt, sản phẩm của quá trình phân công lao động và chuyên môn hoá trong quản lí, tiêu biểu bởi tính chất tương đối độc lập của những bộ phận của quản lí” Thực chất, chức năng quản lí là hình thức tồn tại của các tác động quản lí Chức năng quản lí là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí Trong quản lí, chức năng quản lí là một phạm trù quan trọng, mang tính khách quan, có tính độc lập tương đối Chức năng quản lí nảy sinh và là kết quả của quá trình phân công lao động,

là bộ phận tạo thành hoạt động quản lí tổng thể, được tách riêng, có tính chất chuyên môn hoá

Về số lượng các chức năng quản lí nói chung, những tác giả nghiên cứu

về quản lí có ý những ý kiến không giống nhau Có tác giả thì nói ba, có tác

Trang 28

giả nói bốn, có tác giả nói năm, thậm chí có tác giả nói mười hai Tuy nhiên, hầu hết đều đề cập tới bốn chức năng chủ yếu sau:

* Kế hoạch hoá

* Tổ chức

* Điều khiển (chỉ đạo thực hiện)

* Kiểm tra

Để thực hiện một chủ trương/ chương trình/ dự án kế hoạch hoá là

hành động đầu tiên của người quản lí, là việc làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch Trong quản lí, đây là căn cứ mang tính pháp lí quy định

hành động của cả tổ chức Kế đó là chức năng tổ chức Thực hiện chức

năng này người quản lí phải hình thành bộ máy/ cơ cấu các bộ phận (tuỳ theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công, phân nhiệm cho các

cá nhân), quy định chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan hệ giữa

chúng Điều hành (chỉ đạo, tổ chức thực hiện) là nhiệm vụ tiếp theo cảu

người quản lí Đây là khâu quan trọng tạo nên thành công của kế hoạch dự kiến Chính ở khâu này, đòi hỏi người quản lí phải vận dụng khéo léo các phương pháp và nghệ thuật quản lí Cuối cùng, người quản lí phải thực hiện

chức năng kiểm tra, nhằm đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra Điều

cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức

Cuối cùng, tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin Thông tin đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch Thông tin cũng cần cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, là chất lượng tạo quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức; thông tin triển tải mệnh lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn biến hoạt động của tổ chức, và thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp cho người quản lí xem xét mức độ đạt mục tiêu của toàn tổ chức

Có thể mô hình hoá như sau:

Trang 29

đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của

cả hệ thống quản lí và bị quản lí Về chức năng này có thể đề cập tới hai vấn đề: Các loại kế hoạch và việc lập kế hoạch trong giáo dục

Có 4 cách phân loại chủ yếu về các loại kế hoạch giáo dục:

- Căn cứ vào yếu tố thời gian ta có:

+ Kế hoạch dài hạn từ 10 – 15 năm, (kế hoạch chiến lược)

+ Kế hoạch chung hạn từ 5 – 7 năm

+ Kế hoạch ngắn hạn từ 1 – 2 năm

- Căn cứ vào quy mô quản lí ta có: Kế hoạch tổng thể, kế hoạch bộ phận

- Căn cứ vào nguồn lực giáo dục ta có: Kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất, kế hoạch quản lí tài chính, kế hoạch quản lí đội ngũ

- Căn cứ vào hoạt động GD ta có: Kế hoạch dạy học, kế hoạch ngoài giờ lên lớp

Chức năng chỉ đạo thực hiện

Chức năng kiểm tra

Thông tin phục vụ quản lí

Trang 30

Việc lập kế hoạch phải chú trọng vào tương lai Kế hoạch phải chịu sự định hướng của hoạt động kế hoạch không những của nhà quản lí, mà còn

là của cả tổ chức vào các kết quả đạt được Đây chính là cái đích của toàn

1.4.1.2 Tổ chức thực hiện

Để giúp cho mọi người cùng làm việc với nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cần phải xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác Cho nên có thể nói việc xây dựng các vai trò, nhiệm vụ là chức năng tổ chức trong quản lí Vai trò của một bộ phận hay một cá nhân bao hàm bộ phận hay cá nhân đó hiểu rõ công việc mình làm nằm trong một phạm vi nào đó, nhằm vào mục đích hoặc mục tiêu nào, công việc của họ ăn khớp như thế nào với các cá nhân hoặc bộ phận khác và những thông tin cần thiết để hoàn thành công việc Từ đó có thể định nghĩa: “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là một thuộc tính của bản thân các sự vật”

(Theo trung tâm nghiên cứu khoa học và quản lí: Khoa học tổ chức và

quản lí – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Thống kê, Hà Nội 1999,

Trang 24)

Một định nghĩa khác cho rằng tổ chức “Chỉ một cơ cấu chủ định về vai

trò, nhiệm vụ hay chức vụ được hợp thức hoá” (Những vấn đề cốt yếu của

quản lí, NXB Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội, 1992, trang 268)

Trang 31

Từ các quan niệm trên, chức năng tổ chức trong quản lí là việc thiết kế

cơ cấu các bộ phận sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức Song, không phải chỉ có vậy mà việc thực hiện chức năng tổ chức trong quản lí còn phải chú ý đến phương thức hoạt động, đến quyền hạn của từng bộ phận, tạo điều kiện cho sự liên kết ngang, dọc và đặc bịêt chú ý đến việc bố trí cán bộ – người vận hành các bộ phận tổ chức Một khía cạnh khác khi nói đến chức năng của tổ chức, nhất là đối với các tổ chức có quy mô lớn (ví dụ như: Hệ thống giáo dục quốc dân) Điều cần nhớ rằng, tổ chức là trung tâm của hệ thống, bởi nó là bước chuyển từ kết quả đơn lẻ lên thành “Sức mạnh tổng hợp”

1.4.1.3 Công tác chỉ đạo trong quản lí giáo dục

Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lí Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ quản lí phải điều khiển cho

hệ thống hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra Đây là quá trình sử dụng quyền lực quản lí để tác động đến các đối tượng bị quản lí (Con người, các bộ phận) một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của

họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung của hệ thống Người điều khiển hệ thống phải là người có tri thức và kĩ năng ra quyết định cũng như tổ chức thực hiện quyết định

Để điều khiển được hệ thống, người lãnh đạo phải ra những quyết định Quyết định chính là công cụ chính yếu để điều khiển hệ thống Ra quyết định là quá trình xác định vấn đề và lựa chọn một phương án hành động trong số những phương án khác nhau Việc ra quyết định quán xuyến trong suốt quá trình quản lí, từ việc hoạch định kế hoạch, việc xây dựng tổ chức cho đến việc kiểm tra và đánh giá Trước khi ra quyết định người quản lí phải đặt ra 3 câu hỏi sau đây để trả lời:

Câu hỏi 1: Giữa hiện trạng và mục tiêu của hệ thống có sự khác biệt nhau hay không?

Trang 32

Câu hỏi 2: Người chịu trách nhiệm có ý thức đầy đủ về sự khác biệt đó hay không?

Câu hỏi 3: Có đủ các nguồn lực cho người ra quyết định giải quyết sự khác biệt đó hay không?

Như vậy thực chất là trước mắt người lãnh đạo phải xuất hiện vấn đề và

đó là lí do của việc ra quyết định

Trong thực tế có các loại quyết định về quản lí như :

- Quyết định “Trực giác”: Đây là loại quyết định mà người lãnh đạo không cần lí giải hay phân tích Những quyết định bằng trực giác thường dựa vào thành công của các quyết định trước đó Loại quyết định này thường được đưa ra dễ dàng song dễ mắc phải sai lầm khi người ra quyết định mang tính chủ quan, lệ thuộc vào quá khứ, quá tin vào kinh nghiệm của cá nhân bản thân Mặt khác loại quyết định này dễ làm cho tổ chức đi vào lối mòn ít có khả năng thích ứng với cái mới

- Quyết định “lí giải”: Đây là loại quyết định dựa trên cơ sở nghiên cứu, phân tích hệ thống Các giải pháp thực hiện quyết định này là dựa trên cơ

sở so sánh có căn cứ khoa học Đây là loại quyết định được áp dụng trong quản lí hiện đại giảm và giảm bớt sai lầm khôngđáng có trong quản lí Trong thực tiễn quản lí hai loại quyết định nêu trên đều cần thiết đối với người quản lí Song, việc sử dụng chúng phải rất linh hoạt và nhạy cảm để đem lại hiệu quả trong công tác quản lí

- Khi người quản lí đưa ra “quyết định” thì cần phải thực hiện theo các yêu cầu sau: Quyết định phải mang tính khác quan và khoa học Quyết định phải mang tính định hướng, tính hệ thống và tính nhất quán Quyết định phải mang tính pháp lí và đúng thẩm quyền Quyết định phải mang tính khả thi và hiệu quả Quyết định phải mang tính cô đọng, dễ hiểu, cụ thể và chuẩn xác

1.4.1.4 Công tác kiểm tra trong quản lí giáo dục

Trang 33

Đây là chức năng quan trọng của nhà quản lí, có thể nói: Chức năng này

là xuyên suốt trong quá trình quản lí và là chức năng của mọi cấp quản lí,

kể cả đối với nhà quản lí ở cấp cơ sở

Kiểm tra là chỉ một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của

cá nhân hoặc một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định Ngoài ra còn có thể hiểu kiểm tra là hoạt động quan sát và kiểm nghiệm mức độ phù hợp của quá trình hoạt động của đối tượng bị quản lí với các quyết định nhà quản lí đã lựa chọn

1.4.2 Nội dung quản lí công tác bồi dướng nâng cao trình độ

Đội ngũ giáo viên dạy nghề ở nứơc ta còn yếu và thiếu nhiều yếu tố của năng lực sư phạm kĩ thuật Muốn tiếp tục sử dụng đội ngũ giáo viên dạy nghề phải tập chung bồi dưỡng để họ có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ mà xã hội giao cho Bồi dưỡng năng lực sư phạm kỹ thuật cho đội ngũ giáo viên dạy nghề đựơc coi là giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng đào tạo nghề Mặt khác bồi dưỡng cho giáo viên dạy nghề đương chức còn là tình cảm

“Uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa” đối với những người đi trước

1.4.2.1 Quản lý bồi dưỡng chuyên môn (lý thuyết và thực hành )

có bậc nghề cao là lực lượng nòng cốt của các trường dạy nghề Bồi dưỡng bậc nghề cao cho giáo viên dạy nghề chính là bồi dưỡng giáo viên đầu đàn cho các trường dạy nghề Hiện nay số lượng giáo viên có bậc nghề cao ở

Trang 34

các trường dạy nghề rất ít, nhiều trường còn không có Vì vậy, việc bồi dưỡng bậc nghề cao cho giáo viên dạy nghề là rất cần thiết Tuy nhiên không phải ai cũng có thể đạt được tay nghề bậc cao, nó còn phụ thuộc vào năng khiếu nghề nghiệp của mỗi người Các trường cần sớm lựa chọn các giáo viên có năng khiếu nghề nghiệp bồi dưỡng để họ có tay nghề bậc cao càng sớm càng tốt Chúng ta phấn đấu đến năm 2010, mỗi tổ môn, ban nghề có 2 -3 giáo viên có bậc nghề cao, chỉ như thế mới đảm bảo chất lượng đào tạo Việc bồi dưỡng giáo viên có bậc nghề cao càng khó khăn hơn đào tạo sau đại học Nếu như đào tạo Thạc sĩ cần 2 năm thì bồi dưỡng

để đạt được một bặc tay nghề cao, tối thiểu phải mất 2 – 3 năm với điều kiện người đó phải có năng khiếu nghề nghiệp, như vậy muốn đạt đựơc 3 bậc nghề cần phải mất 10 năm Vì vậy bồi dưỡng bậc nghề cao phải triển khai ngay từ bây giờ thì năm 2010 chúng ta mới đạt chỉ tiêu đề ra Bồi dưỡng bậc nghề bậc cao phải kết hợp nhiều hình thức như: Tự bồi dưỡng, các đơn vị tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên, đưa giáo viên đi thực tập ở những nước tiên tiến…

- Bồi dưỡng công nghệ sản xuất mới và hiểu biết thực tế

Trong thời đại ngày nay, khoa học và công nghệ phát triển không ngừng, nhiều thiết bị mới đựơc ra đời, nhiều công nghệ mới đựơc ứng dụng, đòi hỏi giáo viên dạy nghề phải nắm đựơc những vấn đề đó để đưa vào giảng dạy có như vậy đội ngũ công nhân kĩ thuật đựơc đào tạo mới thích ứng đựơc thực tế sản xuất hiện nay

Nội dung bồi dưỡng về công nghệ mới cho giáo viên sẽ tập chung vào:

- Xu hướng đổi mới công nghệ của Việt Nam

- Những công nghệ mới đựơc áp dụng ở Việt Nam

- Thiết bị hiện đại, vật liệu mới

Việc bồi dưỡng công nghệ sản xuất mới phải căn cứ vào từng chuyên ngành của mỗi giáo viên, ngành nghề nào cũng có công nghệ sản xuất mới

Trang 35

Tuy nhiên, do tính đa dạng của ngành, nghề nên không thể tổ chức bồi dưỡng công nghệ mới cho tất cả Mỗi giáo viên phải tự tìm tòi những công nghệ mới thuộc ngành, nghề của mình để tự bồi dưỡng, có như vậy mới theo kịp với xu thế phát triển của khoa học kỹ thuật và tiếp cận đựơc với xu thế sản xuất theo công nghệ mới

Ngoài những nội dung bồi dưỡng trên, nhà trường cần có kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên đi thực tế sản xuất Các trường cần tăng cường sự hợp tác với các nước trong khu vực và trên thề giới để bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề, tạo cơ hội cho giáo viên được học hỏi kinh nghiệm tiên tiến

và theo kịp trình độ giáo viên của các nước tiên tiến, cho giáo viên tiếp cận với thực tế ở nhiều nước khác nhau để học hỏi những nghề có thế mạnh của các nước trong khu vực

Mặt khác nhà trường cần đầu tư trang thiết bị mới để giáo viên dạy nghề trực tiếp hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh, có như vậy giáo viên mới làm chủ đựơc thiết bị, công nghệ mới

- Các nội dung bổ trợ

Ngoài những nội dung bồi dưỡng về năng lực sư phạm kỹ thuật, giáo viên dạy nghề cần phải được bồi dưỡng các nội dung bổ trợ để hoàn thiện năng lực sư phạm kỹ thuật Nội dung bồi dưỡng bổ trợ như : Tin học, ngoại ngữ… sẽ là bắt buộc đối với giáo viên dưới 45 tuổi

1.4.2.2 Quản lý bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

- Chuẩn hoá bậc nghề

Điểm khác cơ bản về năng lực của giáo viên dạy nghề so với giáo viên trung học chuyên nghiệp, Đại học là trình độ bậc nghề Giáo viên dạy nghề không chỉ phải nắm vững kiến thức chuyên môn mà còn phải có tay nghề điêu luyện, chuẩn xác Ngành dạy nghề cần phải có nhiều giáo viên giỏi tay nghề vì nhiệm vụ chính của dạy nghề là hình thành kĩ năng kĩ xảo nghề nghiệp Vì vậy, tất cả giáo viên dạy nghề phải rèn luyện tay nghề để đạt

Trang 36

chuẩn Hiện còn 65% giáo viên hướng dẫn thực hành chưa đạt chuẩn bậc nghề theo quy định của luật giáo dục 70% giáo viên dạy lí thuyết có trình

độ Cao đẳng trở lên chưa đủ trình độ bậc nghề để dạy thực hành Đối với giáo viên dạy thực hành thì việc bồi dưỡng chuẩn hoá bậc nghề sẽ gặp ít khó khăn Còn đối với giáo viên có trình độ đại học, cao đẳng thì bậc nghề hầu như chưa có, họ phải bắt đầu rèn luyện từ những động tác cơn bản Nếu thường xuyên tập luyện cũng phải cần từ 4 – 5 năm mới đạt chuẩn bậc nghề quy định Bồi dưỡng bậc nghề cho đội ngũ giáo viên dạy nghề phải được coi là nhiệm vụ trọng tâm của trường dạy nghề Hàng năm các trường phải

có kế hoạch bồi dưỡng bậc nghề và tổ chức thi nâng bậc cho giáo viên để đánh giá kết quả bồi dưỡng và xác định bậc thợ mà giáo viên đã đạt được

- Chuẩn hoá trình độ chuyên môn

Theo thống kê hiện còn 22.4% giáo viên dạy nghề chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn (Cao đẳng trở lên), chủ yếu là giáo viên thực hành, với học vấn tốt nghiệp phổ thông cơ sở Muốn nâng trình độ chuyên môn cho họ trước hết phải bổ sung kiến thức tương đương Trung học phổ thông thì họ mới đủ điều kiện tiếp thu kiến thức chuyên môn ở trình độ cao đẳng, đại học Các trường phải bố trí giảng dạy hợp lí, tạo điều kiện cho họ học tập trong thời gian từ 2 - 4 năm thì mới đạt chuẩn trình độ chuyên môn

1.4.2.3 Quản lý bồi dưỡng Ngoại ngữ và Tin học

*Ngoại ngữ:

Nước ta đang trong thời kì mở cửa hội nhập, hợp tác với nhiều nước Nhìn chung các nhà đầu tư đều quan tâm đến dạy nghề, nhằm sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ Nhiều dự án dạy nghề đã chính thức đi vào hoạt động như: Dự án đào tạo nghề của Hàn Quốc, Đức, Thụy Sĩ Số lượng giáo viên dạy nghề đi tu nghiệp ở nước ngoài ngày càng nhiều, đòi hỏi phải biết ngoại ngữ để giao tiếp và làm việc với bạn Ngoại ngữ là một điều kiện mà giáo viên dạy nghề nhất thiết phải có trong giai đoạn hiện nay Để tiếp tục

Trang 37

phát triển năng lực và trình độ Trong thời gian tới các trưòng dạy nghề phải đưa ngoại ngữ vào dạy chính khoá, để giúp đội ngũ công nhân kỹ thuật có khả năng khai thác sử dụng tài liệu kỹ thuật của nước ngoài Vì vậy giáo viên dạy nghề phải được bồi dưỡng về ngoại ngữ để có thể hướng dẫn học sinh sử dụng các tài liệu chuyên ngành Mục tiêu đến năm 2010, 100% giáo viên dạy nghề phải biết ngoại ngữ, trogng đó 5 -10% giáo viên

có trình độ ngoại ngữ thành thạo, có thể làm việc trực tiếp với chuyên gia nước ngoài Để đạt được mục tiêu này các trường dạy nghề phải có kế hoạch mở các lớp ngoại ngữ tại trường, tạo điều kiện cho đông đảo giáo viên tham gia học tập Nếu giáo viên dạy nghề có trình độ tiếng anh tốt sẽ rất thuận lợi cho việc tiếp thu công nghệ thông tin, vì ngôn ngữ dùng trong công nghệ thông tin là tiếng anh

* Công nghệ thông tin

Đội ngũ công nhân kỹ thuật đựơc đào tạo trong những năm tới phải có trình độ tin học cơ sở Đã đến lúc dạy nghề phải đưa tin học vào chương trình đào tạo chính khoá, để người công nhân trong tương lai có thể sử dụng các thiết bị tin học như là một phương tiện sản xuất Hiện nay các công ty nước ngoài hợp tác với Việt Nam đều đòi hỏi người lao động phải biết tin học Muốn vậy đội ngũ giáo viên dạy nghề phải có trình độ tin học cao Việc bồi dưỡng tin học cho đội ngữ giáo viên dạy nghề phải được đi trước một bước Bồi dưỡng phải đảm bảo chất lượng, tránh tình trạng chạy theo hình thức cốt để có chứng chỉ Muốn vậy phải kết hợp lí thuyết với thực hành trên máy Để người giáo viên có thể dùng đựơc máy tính vào công việc hàng ngày

Cùng với việc bồi dưỡng kiến thức, các trường cần phải trang bị máy vi tính cho từng tổ môn, ban nghề, để giáo viên có được kĩ năng sử dụng máy

vi tính

- Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy nghề

Trang 38

Công nghệ thông tin đang ngày càng đựơc ứng dụng và trở thành

phương tiện dạy học chủ yếu

Công nghệ thông tin có khả năng mô phỏng biểu diễn các sự vật theo

không gian 3 chiều, tạo ra mô hình động giúp cho học sinh dễ hình dung,

tiếp thu những kiến thức mới

Những giáo viên tham gia bồi dưỡng đã phát huy tác dụng trong giảng

dạy, có giáo viên đã đạt giải cao trong hội giảng ngành dạy nghề toàn quốc

năm 2005 Tương lai các phầm mềm sẽ phát triển nhanh Vì vậy ngành dạy

nghề cần phải đi trước, bồi dưỡng cho giáo viên năng lực “ứng dụng công

nghệ thông tin vào dạy nghề” Phấn đấu đến năm 2010 chúng ta phải bồi

dưỡng để đạt 25% giáo viên dạy nghề có khả năng sử dụng công nghệ

thông tin vào giảng dạy

Sơ đồ 4: Nội dung bồi dưỡng năng lực sư phạm kỹ thuật

1.5 Các phương thức quản lý công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ

GV

1.5.1 Bồi dưỡng dài hạn – ngắn hạn

Nội dung bồi dưỡng năng lực SPKT

Công nghệ dạy học

Nâng cao trình

độ

SPKT

Chuẩn hóa trình

độ chuyên môn nâng cao bậc nghề

Công nghệ sản xuất mới

và thực

tế

Công nghệ thông tin

Ngoại ngữ

Hiểu biết chung

Lĩnh vực

sư phạm

Lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp

Lĩnh vực

bổ trợ

Trang 39

+ Bồi dưỡng dài hạn (đào tạo) là hình thức bồi dưỡng được áp dụng để nâng cao trình độ chuyên môn và sư phạm kĩ thuật cho giáo viên dạy nghề Trong thời gian bồi dưỡng dài hạn, giáo viên không thể tham gia giảng dạy

Vì vậy bồi dưỡng dài hạn phải được các trường lập kế hoạch trước, sao cho không ảnh hưởng tới tiến độ giảng dạy và phù hợp với từng đối tượng Những giáo viên trẻ có thể theo học dài hạn tập trung Những người có điều kiện khó khăn thì được đào tạo theo hình thức tại chức Những trường có nhiều giáo viên tham gia bồi dưỡng có thể mở lớp tại trường Bằng nhiều hình thức đào tạo sẽ mau chóng nâng cao được trình độ chuyên môn, sư phạm cho giáo viên dạy nghề

+ Bồi dưỡng ngắn hạn

Bồi dưỡng ngắn hạn là hình thức bồi dưỡng phù hợp nhất đối với giáo viên đương chức, vì thời gian bồi dưỡng ngắn, ít ảnh hưởng tới kế hoạch đào tạo của các trường Hình thức này được sử dụng rông rãi để bồi dưỡng về: Sư phạm, ngoại ngữ, tin học và các lĩnh vực khác Đây là hình thức bồi dưỡng mà từ trước tới nay chúng ta thường áp dụng Nhưng để đảm bảo chất lượng, các lớp bồi dưỡng phải tổ chức và quản lí chặt chẽ, phải thực hiện nghiêm túc khâu kiểm tra

1.5.2 Thực hành sản xuất – Thực tập – Thăm quan

Thực hành sản xuất, thực tập, thăm quan là hình thức bồi dưỡng để nâng cao tay nghề và hiểu biết thực tế sản xuất cho giáo viên Nhà trường cần duy trì hình thức bồi dưỡng này hàng năm, bố trí thời gian thích hợp để giáo viên nâng cao tay nghề và hiểu biết thực tế sản xuất Có như vậy chúng ta mới thực hiện được nguyên lí giáo dục “ Nhà trường gắn liền với thực tế, lý thuết đi đôi với thực hành” Hàng năm các trường phải tổ chức thi nâng bậc nghề cho giáo viên để đánh giá kết quả rèn luyện tay nghề và khả năng thực hành sản xuất của giáo viên dạy nghề

1.5.3 Hội thảo – Hội giảng – Dự giảng

Trang 40

Trong các hình thức bồi dưỡng thì hội thảo, hội giảng, dự giảng là hình thức được sử dụng để nâng cao năng lực thực hành giảng dạy và hiểu biết chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên dạy nghề Các hình thức này lôi cuốn được đông đảo giáo viên tham gia Các tổ môn nên định kì tổ chức hội thảo theo từng chuyên đề như: Phương pháp giảng dạy mới, phương pháp giảng lấy người học làm trung tâm trọng, phương pháp đặt và chuyển tiếp vấn đề… Các chuyên đề trên sẽ bổ sung kiến thức sư phạm và làm giàu kinh nghiệm giảng dạy cho giáo viên

Hội giảng là hình thức bồi dưỡng hấp dẫn đối với giáo viên dạy nghề Kinh nghiệm thực tế cho thấy, trường nào duy trì phong trào hội giảng hàng năm thì năng lực thực hành giảng dạy của giáo viên được nâng lên rõ rệt Hội giảng là dịp để giáo viên dạy nghề thể hiện tài năng sư phạm của mình thông qua các bài giảng điển hình đã được lựa chọn từ cơ sở Đó cũng

là dịp để các giáo viên học tập trao đổi kinh nghiệm Hội giảng là hình thức bồi dưỡng kĩ năng sư phạm cho giáo viên dạy nghề tốt nhất Nhiều giáo viên trưởng thành thông qua hội giảng các cấp và trở thành cán bộ quản lí trong các trường dạy nghề Cho đến nay ngành dạy nghề đã tổ chức được 5

kỳ hội giảng toàn quốc Hàng trăm giáo viên dạy nghề đã đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi toàn quốc Do tác dụng to lớn đó hội giảng được giáo viên tham gia nhiệt tình Ngành dạy nghề cần duy trì và phát huy tác dụng của hội giảng để nâng cao năng lực thực hành giảng dạy cho đội ngũ giáo viên dạy nghề Cùng với hội giảng, các tổ môn cần duy trì chế độ dự giảng thường xuyên để các giáo viên trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau

1.5.4 Tự bồi dưỡng

Tự bồi dưỡng là biện pháp tốt nhất để giáo viên bù đắp những năng lực thiếu hụt và nâng cao năng lực sư phạm kĩ thuật của mình Chỉ có bản thân người giáo viên mới biết mình thiếu gì, cần gì, để đặt ra kế hoạch tự bồi dưỡng chính xác, kịp thời Chúng ta cần động viên giáo viên thực hiện tự

Ngày đăng: 19/12/2015, 07:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 4: Nội dung bồi dưỡng năng lực sư phạm kỹ thuật. - Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam
Sơ đồ 4 Nội dung bồi dưỡng năng lực sư phạm kỹ thuật (Trang 38)
Sơ đồ 5: Các hình thức bồi dưỡng  1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác nâng cao trình độ của Đội ngũ  giáo viên dạy nghề - Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam
Sơ đồ 5 Các hình thức bồi dưỡng 1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác nâng cao trình độ của Đội ngũ giáo viên dạy nghề (Trang 42)
Bảng 2.2.  Đội ngũ GVDN chuyên ngành may công nghiệp trường CĐCN - Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam
Bảng 2.2. Đội ngũ GVDN chuyên ngành may công nghiệp trường CĐCN (Trang 56)
Bảng 2.3. Thống kê khả năng tiếp thu kiến thức lý thuyết của HS trên lớp - Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam
Bảng 2.3. Thống kê khả năng tiếp thu kiến thức lý thuyết của HS trên lớp (Trang 59)
Bảng 2.4.   Thống kê đánh giá về năng lực dạy lý thuyết của đội ngũ GV - Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam
Bảng 2.4. Thống kê đánh giá về năng lực dạy lý thuyết của đội ngũ GV (Trang 60)
Bảng 2.6. Đánh giá về năng lực nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ GVdạy - Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam
Bảng 2.6. Đánh giá về năng lực nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ GVdạy (Trang 65)
Bảng 2.7. Thực trạng những tri thức và kỹ năng sư phạm cụ thể của đội - Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam
Bảng 2.7. Thực trạng những tri thức và kỹ năng sư phạm cụ thể của đội (Trang 66)
Hình thức tổ chức quản lý được sơ đồ hóa như sau: - Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam
Hình th ức tổ chức quản lý được sơ đồ hóa như sau: (Trang 74)
Bảng 2.9.  Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao trình độ của ĐNGV dạy thực hành - Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam
Bảng 2.9. Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao trình độ của ĐNGV dạy thực hành (Trang 77)
Sơ đồ 7. Các kỹ năng sư phạm cần bồi dưỡng cho đội ngũ GVDN - Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam
Sơ đồ 7. Các kỹ năng sư phạm cần bồi dưỡng cho đội ngũ GVDN (Trang 89)
Sơ đồ 8: Các hình thức bồi dưỡng GVDN - Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam
Sơ đồ 8 Các hình thức bồi dưỡng GVDN (Trang 94)
14. Hình thức đào tạo:                                              Tập trung           Tại chức  Các hình thức đào tạo khác ……………………………… - Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam
14. Hình thức đào tạo: Tập trung Tại chức Các hình thức đào tạo khác ……………………………… (Trang 106)
Hình thức bồi dưỡng không phù hợp. - Các giải pháp quản lý nâng cao trình độ giáo viên dạy thực hành nghề may công nghiệp tại trường cao đẳng công nghiệp nam
Hình th ức bồi dưỡng không phù hợp (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w