1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp luận văn ths giáo dục học 60 14 01 14 pdf

129 374 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu môn học, đạt chuẩn đào tạo theo quy định của Luật giáo dục, khuyến khích và tạo điều kiện cho giáo viên tiếp tục nân

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HÒA

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HÒA

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đặng Bá Lãm

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được thực hiện, hoàn thành là sự thể hiện kết quả học tập, nghiên cứu của tác giả với sự tận tâm giảng dạy của các thầy, cô giáo trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng với sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của gia đình, đồng nghiệp và sự cộng tác của giáo viên Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến PGS.TS Đặng Bá Lãm đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, lãnh đạo Sở GD&ĐT Điện Biên, cán bộ và giáo viên Trường THPT huyện Điện Biên đã quan tâm, động viên, tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

Cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã ủng hộ, động viên, khuyến khích tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, thực tiễn công tác vô cùng phong phú, sinh động và có nhiều vấn đề cần giải quyết, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của các thầy, cô giáo, các cấp lãnh đạo, bạn bè, đồng nghiệp và bạn đọc để luận văn này có giá trị thực tiễn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Hòa

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

KTTH-HN Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn ……….……… i

Danh mục chữ viết tắt ……… ………….………… ii

Mục lục……… iii

Danh mục bảng ……… ……….………… vii

Danh mục biểu đồ, sơ đồ ……….……… viii

MỞ ĐẦU ……….……… 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP ……… ………… 9

1.1 Tổng quan về nghiên cứu vấn đề ……… 9

1.1.1 Trên thế giới ……….……… 9

1.1.2 Ở Việt Nam ……….……… 11

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài ……….……… 12

1.2.1 Nhân lực, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực ……… 12

1.2.2 Khái niệm đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên ………… 15

1.2.3 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường ……….… 18

1.2.4 Chuẩn và chuẩn hóa, chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT ………….… 22

1.3 Phát triển ĐNGV trường THPT theo Chuẩn nghề nghiệp ………… …… 24

1.3.1 Những căn cứ xây dựng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học …… 24

1.3.2 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học của Việt Nam ……….… 27

1.3.3 Vận dụng Chuẩn nghề nghiệp vào đánh giá, xếp loại giáo viên ……… 29

1.4 Các nhân tố tác động đến phát triển ĐNGV THPT theo Chuẩn nghề nghiệp ……….……….……… 32

1.4.1 Yếu tố khách quan ……….…… 32

1.4.2 Yếu tố chủ quan ……….……… 33

1.5 Các thành tố của phát triển ĐNGV THPT theo Chuẩn nghề nghiệp …… 34

1.5.1 Dự báo ……….……… 35

1.5.2 Quy hoạch phát triển đội ngũ ……….… 35

1.5.3 Tuyển chọn giáo viên ……… 37

Trang 6

1.5.4 Sử dụng đội ngũ giáo viên ……… 37

1.5.5 Đào tạo, bồi dưỡng ……… 38

1.5.6 Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên ……….……… 39

1.5.7 Đãi ngộ giáo viên ……… … 40

Kết luận chương 1 ……… 41

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP ……… 42

2.1 Khái quát chung về tỉnh Điện Biên ……….……… 42

2.2 Khái quát về phát triển GD&ĐT tỉnh Điện Biên ………….……… 43

2.3 Khái quát về phát triển GD&ĐT huyện Điện Biên ………… ……… 45

2.4 Thực trạng ĐNGV trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên …… 47

2.4.1 Số lượng giáo viên ……… 47

2.4.2 Cơ cấu đội ngũ giáo viên ……… 47

2.4.3 Trình độ chuyên môn ……… 51

2.5 Thực trạng công tác phát triển ĐNGV Trường THPT huyện Điện Biên… 57

2.5.1 Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ ……… …… 57

2.5.2 Công tác tuyển chọn, bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên ……… 58

2.5.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên ……… 59

2.5.4 Công tác kiểm tra, đánh giá ĐNGV 63

2.5.5 Công tác thực hiện chế độ, chính sách đối với ĐNGV ……… 64

2.5.6 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển ĐNGV THPT theo Chuẩn nghề nghiệp 65

2.6 Đánh giá chung về thành công, thiếu sót, nguyên nhân 66

2.6.1 Những điểm mạnh ……….…… 66

2.6.2 Những khó khăn, tồn tại ……… 66

2.6.3 Nguyên nhân của những thành công và hạn chế ……… 67

Kết luận chương 2 ……… 69

Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP ……… …… 70

Trang 7

3.1 Định hướng công tác phát triển đội ngũ giáo viên THPT tỉnh Điện Biên

đến năm 2020 ……… 70

3.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 72

3.2.1 Tính cần thiết ……….…… 73

3.2.2 Tính khả thi ……… 73

3.2.3 Tính kế thừa ……… 73

3.2.4 Tính hiệu quả ……… 73

3.2.5 Tính đồng bộ ……… 73

3.3 Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT theo Chuẩn nghề nghiệp ……… … 74

3.3.1 Biện pháp 1 Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của CBQL và giáo viên về yêu cầu và sự cần thiết phát triển đội ngũ giáo viên THPT theo Chuẩn nghề nghiệp ……… 75

3.3.2 Biện pháp 2: Kết hợp nhu cầu cá nhân, nhà trường và địa phương trong công tác lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng ……… 78

3.3.3 Biện pháp 3: Tạo mọi điều kiện cho ĐNGV giao lưu, học tập kinh nghiệm với ĐNGV các trường trong khu vực Thành phố Điện Biên Phủ 84

3.3.4 Biện pháp 4 Đổi mới công tác đánh giá giáo viên định kỳ, hàng năm dựa trên Chuẩn nghề nghiệp ……… 86

3.3.5 Biện pháp 5: Đảm bảo các điều kiện cho đội ngũ giáo viên phát huy phẩm chất sư phạm và khả năng chuyên môn nghiệp vụ 90

3.3.6 Biện pháp 6: Xây dựng văn hóa nhà trường, xây dựng môi trường sư phạm thân thiện, dân chủ, đoàn kết tạo động lực và sự gắn bó của giáo viên với nhà trường ……… 92

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp ……… 97

3.5 Trưng cầu ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp phát triển ĐNGV đã đề xuất ……… 98

3.5.1 Tính cần thiết của các biện pháp ……… 99

3.5.2 Tính khả thi của các biện pháp ……… 102 3.5.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp phát

Trang 8

triển đội ngũ giáo viên ……… 104

Kết luận chương 3 ……… 106

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 107

1 Kết luận……… 107

2 Khuyến nghị……… 109

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 111

PHỤ LỤC ……… 116

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tổng hợp cơ cấu độ tuổi của ĐNGV tính đến năm học

2013-2014 48 Biểu đồ 2.2 Sự phân bố giới tính của ĐNGV tính đến năm học 2013-2014 50 Biểu đồ 2.3 Tổng hợp trình độ đào tạo của ĐNGV tính đến tháng 5/2014… 53 Biểu đồ 2.4 Phân bố kết quả xếp loại do giáo viên tự đánh giá, tổ chuyên

môn đánh giá và Hiệu trưởng đánh giá……… 55 Biểu đồ 2.5 Tổng hợp xếp loại thi đua của ĐNGV ……….… 56 Biểu đồ 3.1 So sánh mức độ cần thiết của các biện pháp phát triển ĐNGV 101 Biểu đồ 3.2 So sánh mức độ khả thi của các biện pháp phát triển ĐNGV… 104 Biểu đồ 3.3 Mức độ tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các

biện pháp phát triển ĐNGV……… 106

Sơ đồ 1.1 Sự tác động của các quá trình quản lý……… 19

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa các biện pháp phát triển ĐNGV 97

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, không chỉ các nhà nghiên cứu mà các nhà quản lý trên thế giới đều thừa nhận rằng bên cạnh công nghệ và tài chính thì nguồn nhân lực được xem là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đối với phát triển Các quốc gia có nền kinh

tế phát triển như Nhật Bản, Hoa Kỳ đã chứng minh cụ thể cho tầm quan trọng của nguồn nhân lực

Đổi mới hay cải cách giáo dục luôn là yêu cầu thường xuyên, bức thiết đối với mỗi quốc gia nếu không muốn bị tụt hậu trong sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ Lịch sử phát triển đã chứng minh rằng: không có một sự tiến bộ nào, sự thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết tiến hành sự nghiệp giáo dục một cách hiệu quả thì số phận quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản

Phát triển giáo dục đã trở thành một nhân tố then chốt trong các chiến lược phát triển quốc gia của các nước Đông Nam Á Các nước có sự phát triển kinh tế nhanh như Hàn Quốc, Malaysia … đều có một điểm chung là chú trọng vào GD&ĐT Giáo dục không thể đạt chất lượng cao nếu như không có đội ngũ giáo viên có chất lượng Đội ngũ giáo viên là nhân tố quan trọng góp phần to lớn tạo nên diện mạo và chất lượng giáo dục của mỗi quốc gia

Jacques Delors, nguyên Chủ tịch Hội đồng Châu Âu thời kỳ 1985-1995 và Chủ tịch Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỉ XXI cho rằng giáo viên giữ vai trò cốt tử trong việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ không những đối mặt với tương lai với một niềm tin, mà còn xây dựng tương lai với quyết tâm và trách nhiệm Giáo viên được xem như một tác nhân của sự thay đổi, thúc đẩy sự hiểu nhau và lòng khoan dung Giáo viên còn kéo quá trình giáo dục ra ngoài lớp học

Raja Roy Singh (Ấn Độ) là chuyên gia giáo dục nổi tiếng của UNESCO, từng giữ chức vụ Tổng giám đốc UNESCO khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, viết nhiều công trình về các vấn đề giáo dục ở các nước đang phát triển Ông nhấn

mạnh: “Không một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những giáo viên

làm việc cho nó” "Giáo viên phải coi người học có vai trò chủ đạo trong sự học

Trang 12

tập”; “Giáo viên thực hiện sự dạy học đưa người học đến sự học tập sáng tạo”

[53]

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Các thầy giáo có nhiệm vụ nặng nề

và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc”, “các cô các chú đã thấy trách nhiệm to lớn của mình đồng thời cũng thấy khả năng của mình cần được nâng cao thêm lên mãi mới làm tròn nhiệm vụ” [47]

Đảng và nhà nước ta rất coi trọng GD&ĐT, xem giáo dục là “quốc sách

hàng đầu” [25] và phải “thực sự xem GD&ĐT là quốc sách hàng đầu” [26]; “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục” [45]

Phát triển đội ngũ giáo viên là một trong những giải pháp quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của GD&ĐT Đội ngũ giáo viên phải được quy hoạch, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đạt chất lượng, đảm bảo số lượng và cơ cấu Chất lượng đào tạo phải đạt trình độ chuẩn, đảm bảo sự chuẩn mực về phẩm chất, đạo đức, lối sống Quy mô đào tạo phải đáp ứng từng cấp học Đã có nhiều chỉ thị,

nghị quyết của Đảng và Nhà nước về vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên: “Phát

triển đội ngũ giáo viên, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm, cải thiện chế độ đãi ngộ Bảo đảm về cơ bản đội ngũ giáo viên đạt chuẩn quốc gia và tỷ lệ giáo viên

so với học sinh theo yêu cầu của từng cấp học Có cơ chế, chính sách bảo đảm đủ giáo viên cho các tỉnh miền núi cao, hải đảo”; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa,

xã hội hóa” giáo dục [27]; “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục” [16]; “Chuẩn hóa trong đào tạo, tuyển chọn, sử dụng và đánh giá nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Chú trọng nâng cao đạo đức nghề nghiệp, tác phong và tư cách của đội ngũ nhà giáo để làm gương cho học sinh, sinh viên” [17] “Chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu môn học, đạt chuẩn đào tạo theo quy định của Luật giáo dục, khuyến khích và tạo điều kiện cho giáo viên tiếp tục nâng cao trình độ sau khi đạt chuẩn” [18]; “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng

Trang 13

cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [19]

Trong thời kỳ đổi mới đòi hỏi sản phẩm của giáo dục phải có phẩm chất, có năng lực Vì lẽ đó, phẩm chất và nhân cách người thầy cũng được quy định bởi nhiều yếu tố Ở trên lớp, thầy phải cung cấp đúng, đủ lượng kiến thức, tận tâm hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức Thầy phải đầu tư thời gian, công sức vào việc soạn giảng, kiên trì dành nhiều thời gian để phát hiện điểm mạnh, điểm yếu của từng học sinh Ở ngoài lớp, người thầy phải nâng cao trình độ lý luận chính trị Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn để đánh giá học lực, hạnh kiểm học sinh một cách nghiêm túc, khách quan, công bằng Tích cực, chủ động đầu tư nghiên cứu, học tập, cập nhật bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn để

có thể chuyển tải, cung cấp, hướng dẫn các bài tập, tài nguyên kiến thức ngoài chương trình, sách giáo khoa nhằm kích thích tư duy sáng tạo, tự nghiên cứu khoa học cho học sinh Hơn thế nữa người thầy phải có thế giới quan khoa học đúng đắn, say mê, cần cù và sáng tạo trong lao động sư phạm, gần gũi, tôn trọng học trò, đoàn kết với đồng nghiệp

Có thể nói, vấn đề đội ngũ giáo viên, phát triển đội ngũ giáo viên là một trong những công tác hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng GD&ĐT Muốn phát triển GD&ĐT thì cần phải chăm lo xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên

Hiện nay đội ngũ giáo viên giảng dạy trong các trường THPT so với yêu cầu thực tiễn dạy học và giáo dục còn nhiều bất cập, tỷ lệ giáo viên có trình độ đào tạo trên chuẩn không nhiều; cơ cấu đội ngũ ở nhiều cơ sở giáo dục còn mất cân đối, thiếu đồng bộ; có nơi thừa, nơi thiếu; một bộ phận giáo viên năng lực chuyên môn, phương pháp giảng dạy còn yếu; trình độ ngoại ngữ, tin học còn yếu nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiếp cận với khoa học quản lý giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và quản lý giáo dục Trong phát triển đội ngũ, công tác quy hoạch, kế hoạch chưa được chú trọng

Ngày nay giáo dục thế giới đã xuất hiện xu hướng “cải cách dựa trên các chuẩn” (Reform based on standards) Nhiều nước đã tiến hành xây dựng bộ chuẩn cho giáo dục của nước mình: chuẩn chất lượng giáo dục, chuẩn nhà trường, chuẩn cán bộ quản lý giáo dục, chuẩn giáo viên Trong bộ chuẩn cho giáo viên có chuẩn trình độ đào tạo, chuẩn chức danh, chuẩn nghề nghiệp (professional standard)…

Trang 14

Trong chuẩn nghề nghiệp, một số nước đã tiến đến xây dựng chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên từng ngành học, cấp học, môn học

Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên mới được đề cập

và thực hiện trong khoảng thời gian gần 10 năm trở lại đây Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học đã được ban hành kèm theo Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04/05/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, về cấu trúc và nội dung, được xây dựng tương tự như Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non được ban hành kèm theo Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 21/01/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học tiếp thu những kinh nghiệm xây dựng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học (2007), Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non (2008) và những kết quả nghiên cứu của một số đề tài khoa học do Dự án Phát triển giáo viên THPT&TCCN tiến hành trong năm 2007 và 2008 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học được ban hành ngày 22/10/2009 của Bộ GD&ĐT kèm theo Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT

Mục đích ban hành quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học:

(i) Giúp giáo viên trung học tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực nghề nghiệp, từ đó xây dựng kế hoạch rèn luyện phẩm chất đạo đức

và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

(ii) Làm cơ sở để đánh giá, xếp loại giáo viên hằng năm phục vụ công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ giáo viên trung học

(iii) Làm cơ sở để xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên trung học

(iv) Làm cơ sở để nghiên cứu, đề xuất và thực hiện chế độ chính sách đối với giáo viên trung học; cung cấp tư liệu cho các hoạt động quản lý khác

Tại các nhà trường việc sử dụng chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học chủ yếu để đánh giá, xếp loại giáo viên sau khi kết thúc năm học mà không phản ánh đầy đủ chức năng, mục đích của việc ban hành Chuẩn, chưa phản ánh được đầy đủ tinh thần, nội dung của quản lý giáo viên theo Chuẩn

Trang 15

Tại trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên việc thực hiện Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS, giáo viên THPT và công văn số 660/BGDĐT-NGCBQLGD hướng dẫn đánh giá, xếp loại giáo viên trung học đã được triển khai từ năm học 2009-2010 và bước đầu đã thu được những kết quả khả quan Song trong quá trình triển khai thực hiện vẫn gặp phải một số khó khăn nhất định như: giáo viên còn nhầm lẫn giữa chuẩn trình độ đào tạo với chuẩn nghề nghiệp, một số tiêu chí đánh giá chưa được lượng hóa được nên khi thực hiện đánh giá thì người tham gia đánh giá thường chỉ sử dụng theo mức độ cảm tính và mức độ cảm tính của người khi đánh giá cũng không đồng đều,

do đó chất lượng đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp không cao, không đồng đều giữa các tổ bộ môn, nhiều cá nhân giáo viên thực hiện tự đánh giá về mình theo tiêu chí còn chưa sát thực, còn tự chấm điểm khá cao so với những gì bản thân đã đạt được dẫn đến khó khăn cho tổ chuyên môn, hiệu trưởng nếu không nhìn nhận một cách công bằng, chính xác; một số giáo viên còn lúng túng, chậm trong việc thực hiện tự đánh giá, cho điểm Để khắc phục những hạn chế kể trên cần phải

có những giải pháp mang tính chiến lược và biện pháp quản lý cụ thể để phát triển ĐNGV đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là năng lực chuyên môn để từ đó nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục của Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, với tư cách là một cán bộ

quản lý phụ trách chuyên môn, học viên chọn đề tài nghiên cứu: “Phát triển đội

ngũ giáo viên Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo Chuẩn nghề nghiệp” với mong muốn góp phần giải quyết những vấn đề hạn chế, bất cập trong

công tác phát triển đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo ở Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng phát triển ĐNGV Trường THPT huyện Điện Biên đề xuất các biện pháp phát triển ĐNGV Trường THPT huyện Điện Biên theo Chuẩn nghề nghiệp nhằm góp phần phát triển vững chắc chất lượng giáo dục của nhà trường

Trang 16

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên THPT theo Chuẩn nghề nghiệp

3.2 Đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên THPT và thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

3.3 Đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo Chuẩn nghề nghiệp trong giai đoạn hiện nay

3.4 Thăm dò ý kiến trong điều kiện cho phép nhằm chứng minh tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Đội ngũ giáo viên trường THPT

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT theo Chuẩn nghề nghiệp

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên nhà trường theo Chuẩn nghề nghiệp nên lựa chọn cách tiếp cận theo hướng nào?

- Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên Trường THPT huyện Điện Biên theo Chuẩn nghề nghiệp hiện nay như thế nào?

- Biện pháp nào có thể sử dụng để phát triển đội ngũ giáo viên Trường THPT huyện Điện Biên theo Chuẩn nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay?

6 Giả thuyết khoa học

Đội ngũ giáo viên Trường THPT huyện Điện Biên trong thời điểm chưa ban hành quy định về Chuẩn nghề nghiệp đã có sự phát triển đảm bảo các yêu cầu về chất lượng giáo dục Tuy nhiên hiện nay đối chiếu với Quy định về chuẩn hóa do

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thì đội ngũ bộc lộ nhiều bất cập: chưa thật mạnh

về chất lượng, chưa thật cân đối về mặt cơ cấu đặc biệt là cơ cấu bộ môn, cơ cấu

dân tộc Nếu các biện pháp phù hợp và có hiệu quả trong công tác phát triển đội ngũ giáo viên tại Trường THPT huyện Điện Biên theo Chuẩn nghề nghiệp thì phẩm chất

chính trị, đạo đức, lối sống; năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực hoạt động chính trị, xã hội; năng lực

Trang 17

phát triển nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên được nâng cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở trường THPT trong giai đoạn hiện nay

7 Phạm vi nghiên cứu

7.1 Phát triển đội ngũ giáo viên THPT cần theo các quan điểm khác nhau, đề tài tập

trung khảo sát thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên từ năm học 2009-2010 đến năm học 2013-2014 và đề ra các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo Chuẩn nghề nghiệp trong giai đoạn 2015-2020

7.2 Địa bàn nghiên cứu: Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Đối tượng điều tra: Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

7.3 Cấp quản lý thực hiện các biện pháp: Các biện pháp được đề xuất dành cho

Cán bộ quản lý tại Trường THPT huyện Điện Biên

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh để xây dựng cơ

sở lý luận đề tài về công tác phát triển đội ngũ theo Chuẩn nghề nghiệp

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp nghiên cứu bằng phiếu hỏi và phiếu thống kê

- Phương pháp quan sát: bằng mẫu quan sát, quan sát trực tiếp

- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến chuyên gia về các biện pháp phát triển ĐNGV bao gồm Cán bộ lãnh đạo, quản lý của Trường THPT huyện Điện Biên: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn, Phó Tổ trưởng chuyên môn, giáo viên có kinh nghiệm

Hình thức: Trao đổi trực tiếp, phỏng vấn, thông qua các phiếu hỏi ý kiến, phiếu trưng cầu ý kiến, sinh hoạt chuyên đề…

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

8.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ

Ngoài các phương pháp trên học viên còn sử dụng các phương pháp xử lý số liệu thống kê để bổ trợ, bổ sung việc xử lý kết quả

Trang 18

9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Những biện pháp được đưa ra sẽ có tác dụng thiết thực đối với các nhà quản

lý giáo dục trong việc xây dựng chương trình, nội dung bồi dưỡng ĐNGV

Những luận cứ khoa học và thực tiễn được trình bày có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác phát triển ĐNGV THPT theo chuẩn nghề nghiệp

Những kết luận và khuyến nghị có thể được tham khảo làm cơ sở để xây dựng quy chế, kế hoạch phát triển ĐNGV THPT theo Chuẩn nghề nghiệp

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 03 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về phát triển ĐNGV THPT theo Chuẩn nghề nghiệp Chương 2 Thực trạng ĐNGV và phát triển ĐNGV Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Chương 3 Các biện pháp phát triển ĐNGV Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo Chuẩn nghề nghiệp

Trang 19

Ngay từ khi bắt tay vào xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, V.I.Lenin đã

rất coi trọng ĐNGV, ông viết: “Chúng ta phải làm cho ĐNGV ở nước ta có một địa

vị mà trước đây họ chưa từng có, hiện nay vẫn không có và không thể có được trong xã hội tư sản” [65-tr.241].

Trong báo cáo tại Hội thảo ASD Armidele năm 1985 do UNESCO tổ chức

đã nói đến những vai trò của giáo viên trong thời đại mới, đó là: vai trò người thiết

kế, vai trò người tổ chức, vai trò người canh tân, vai trò người cổ vũ Để thực hiện những vai trò này thì phải nâng cao chất lượng giáo viên như:

- Các chương trình đào tạo giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp giảng dạy mới nhất;

- Giáo viên phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục hơn là người thợ dạy (chuyên gia truyền đạt kiến thức);

- Việc dạy học phải thích nghi với người học chứ không phải buộc người học phải tuân theo những quy định đặt sẵn từ trước theo thông lệ cổ truyền

Ở các nước phát triển, yêu cầu và tiêu chí của chất lượng giáo viên cũng được đặt ra theo yêu cầu của sự phát triển GD&ĐT và nhu cầu tăng trưởng kinh tế Chương trình nghiên cứu của các nước thành viên OECD đã chỉ ra giáo viên cần có các phẩm chất sau:

- Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình dạy;

- Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó;

Trang 20

- Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học;

- Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác;

- Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học [42] Hội nghị UNESCO tổ chức tại Nê-pan năm 1998 về tổ chức quản lý nhà

trường đã khẳng định “Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản

trong phát triển giáo dục”

Tháng 4 năm 2000, tại Dakar-Senegan, diễn đàn giáo dục cho mọi người do UNESCO tổ chức đã coi chất lượng giáo viên là một trong 10 yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục, tức là giáo viên có động cơ tốt, được động viên tốt và có năng lực chuyên môn cao Năng lực chuyên môn cần phải có để đảm bảo chất lượng giáo dục: hiểu biết sâu sắc về nội dung môn học, có tri thức sư phạm, có tri thức về sự phát triển, có sự hiểu biết về sự khác biệt, hiểu biết về động cơ, có tri thức về việc học tập, làm chủ được các chiến lược dạy học, hiểu biết về việc đánh giá học sinh, hiểu biết về các nguồn của chương trình và công nghệ, am hiểu và đánh giá cao về

sự cộng tác, có khả năng phân tích và phản ánh trong thực tiễn dạy học [66-tr.3]

Michel Develay xuất phát từ lý luận về học đến lý luận về dạy để bàn về vấn

đề đào tạo giáo viên với quan niệm “Đào tạo giáo viên mà không làm cho họ có

trình độ cao về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật,

lý thuyết, hệ biến hóa của môn học đó mà còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được” [46-tr.69].

Tại Pakistan, nhà nước đã xây dựng chương trình bồi dưỡng cho ĐNGV và quy định trong thời gian 3 tháng cần bồi dưỡng những nội dung gồm: Giáo dục nghiệp vụ dạy học; Cơ sở tâm lý giáo viên; Phương pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận xét học sinh đối với ĐNGV mới vào nghề chưa quá 3 năm

Ở Philippine, công tác nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên không tiến hành tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng thành từng khóa học trong thời gian học sinh nghỉ hè Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá giáo dục; Hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người; triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; Hè thứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục; Hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kỹ

Trang 21

năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, viết sách giáo khoa, viết sách tham khảo

Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng giáo viên tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội

Tại Triều Tiên, một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại cho ĐNGV, yêu cầu tất cả giáo viên phải tham gia học tập đầy

đủ các nội dung về chương trình nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ quy định Nhà nước đã đưa ra “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡng ĐNGV được thực hiện trong 10 năm và “chương trình trao đổi” để đưa giáo viên đi tập huấn ở nước ngoài

1.1.2 Ở Việt Nam

Từ xa xưa, ông cha ta đã rất coi trọng và đánh giá cao vai trò của người thầy

giáo “Không thầy đố mày làm nên”, không có thầy giáo thì không có giáo dục Để

giáo dục phát triển toàn diện rất cần sự quan tâm về mọi mặt của toàn xã hội và cần

có sự quan tâm đặc biệt đến phát triển ĐNGV

Trong thư gửi cho ngành Giáo dục ngày 16 tháng 10 năm 1968, Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã viết: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách

mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành, các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới” [48], “Cán bộ

và giáo dục phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm được nhiệm vụ, chớ tự túc tự mãn cho là giỏi rồi thì dừng lại” [49-tr.489].

Kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sau các cuộc cải cách giáo dục, nhiều công trình nghiên cứu đã để lại những kinh nghiệm quý về xây dựng và phát triển ĐNGV như:

- Nguyễn Thị Phương Hoa (2002), Con đường nâng cao chất lượng cải cách

các cơ sở đào tạo giáo viên;

- Đinh Quang Báo (2005), Giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nhằm

nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên;

- Đặng Quốc Bảo (2007), Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội

ngũ giáo viên;

Trang 22

Nhiều Hội thảo khoa học về chủ đề đội ngũ giáo viên dưới góc độ QLGD theo ngành, cấp học đã được thực hiện Và trong chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành QLGD, vấn đề đội ngũ giáo viên cũng được triển khai nghiên cứu có

hệ thống Nhiều luận văn tốt nghiệp đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản

lý nhân sự, trong đó có vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên Có thể kể đến nghiên

cứu của tác giả Vũ Đình Chuẩn “Phát triển đội ngũ giáo viên tin học trường THPT

theo quan điểm chuẩn hóa và xã hội hóa” và của nhiều tác giả ở các tỉnh thành như

Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Giang

Các công trình nghiên cứu phát triển đội ngũ theo 3 hướng như sau:

- Nghiên cứu phát triển ĐNGV dưới góc độ phát triển nguồn nhân lực;

- Nâng cao chất lượng ĐNGV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục;

- Đề xuất các biện pháp phát triển ĐNGV trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ở địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chất lượng ĐNGV được quan tâm đầu tư và hầu hết đều đạt chuẩn về trình độ đào tạo nhưng do đội ngũ giáo viên được đào tạo từ nhiều Trường Đại học khác nhau (Có giáo viên được đào tạo tại trường Đại học sư phạm ở rất nhiều nơi trong nước; giáo viên được đào tạo tại các khoa Sư phạm của trường đại học đa ngành; một bộ phận được đào tạo theo hình thức đào tạo khác ) do đó vẫn còn có những hạn chế đòi hỏi phải có những biện pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Đồng thời, sau khi Bộ GD&ĐT ban hành Bộ chuẩn nghề nghiệp, Sở GD&ĐT Điện Biên đã triển khai thực hiện quy định này trong các nhà trường Thực tế trên địa bàn huyện Điện Biên chưa có đề tài khoa học nào đề cập đến vấn đề phát triển ĐNGV các trường THPT theo Chuẩn nghề nghiệp Vì vậy, nghiên cứu phát triển ĐNGV trường THPT huyện Điện Biên theo Chuẩn nghề nghiệp là rất cần thiết

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Nhân lực, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

1.2.1.1 Nhân lực

Nhân lực là lực lượng con người được huy động vào sự phát triển kinh tế - xã hội Phát triển xã hội dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực (nguồn lực con người); vật lực (nguồn lực vật chất: công cụ lao động, đối tượng lao động, tài nguyên thiên nhiên ); tài lực (nguồn lực về tài chính, tiền tệ) Song chỉ có con người mới tạo ra

Trang 23

động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ

có thể thông qua nguồn lực con người

Nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực (cơ năng và trí năng) của con người được huy động vào quá trình sản xuất thì năng lực đó là nội lực con người Trong phạm vi xã hội, đó là một trong những nội lực quan trọng nhất trong thế giới hiện đại Đặc biệt đối với những nước có nền kinh tế đang phát triển như nước ta, dân số đông, nguồn nhân lực dồi dào đã trở thành nội lực quan trọng nhất Nếu biết khai thác nó sẽ tạo nên động lực cho sự phát triển [39]

1.2.1.2 Nguồn nhân lực

- Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực (Human Resources) là tổng thể các tiềm năng (lao động) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn bị ở mức độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (hoặc một vùng, một địa phương cụ thể) Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực như một bộ phận cấu thành các nguồn lực của quốc gia như nguồn lực vật chất (trừ con người), nguồn lực tài chính, nguồn lực trí tuệ (chất xám) Những nguồn lực này (các véctơ thành phần) có thể huy động một cách tối ưu (tạo thành véctơ tổng hợp) để phát triển kinh tế - xã hội Có thể mô

tả điều này như sau:

Nguồn nhân lực được nghiên cứu trên giác độ số lượng và chất lượng Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số Chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh về sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực phẩm chất Chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất và văn hóa của xã hội

Nguồn nhân lực

Nguồn lực tài chính

Nguồn lực vật chất

Phát triển kinh tế - xã hội

Trang 24

- Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa là bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp Về độ tuổi, hiện nay có nhiều quy định khác nhau Đa số các nước có quy định tuổi tối thiểu (thường là 15 tuổi), còn tuổi tối đa thường trùng với tuổi nghỉ hưu hoặc không giới hạn

Ở Việt Nam, lực lượng lao động gồm những người trong tuổi lao động, đang

có việc làm; những người ngoài độ tuổi lao động thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp Nghĩa là không bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có

nhu cầu làm việc [43]

1.2.1.3 Phát triển nguồn nhân lực

Cùng với sự phát triển của nhân loại, khái niệm “phát triển nguồn nhân lực” ngày càng phát triển Cách tiếp cận con người là mục tiêu của sự phát triển chứ không phải là một nhân tố của sản xuất, các nhà kinh tế hiện đại đã có khái niệm phát triển con người là sự mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa chọn của con người nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, bền vững Theo cách tiếp cận này, phát triển con người không phải là sự gia tăng về thu nhập và của cải vật chất (mặc dù rất quan trọng) mà là mở rộng các khả năng của con người, tạo cho con người có cơ hội tiếp cận tới nền giáo dục tốt hơn, các dịch vụ y tế tốt hơn, có chỗ ở tiện nghi hơn, có việc làm có ý nghĩa hơn Phát triển con người còn là tăng cường năng lực, trước hết là nâng cao kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc của

họ Nói cách khác, năng lực là điều kiện cần thiết để biến các cơ hội sẵn có thành hiện thực, đồng thời tạo ra cơ hội mới để phát triển Tuy nhiên, cần lưu ý là khi nói phát triển con người thì từ cách tiếp cận con người là mục tiêu của sự phát triển, còn khi nói phát triển nguồn nhân lực là muốn đi từ cách tiếp cận nguồn vốn – vốn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động (đầu tư) nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân [23]

1.2.1.4 Phát triển nhân lực

Nhân lực đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tổ chức Phát triển nhân lực chính là đầu tư phát triển năng lực nhân viên, CBQL hiệu quả để đóng góp

Trang 25

tốt nhất cho tổ chức Các chính sách về quản lý nhân lực cần thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của nhân viên Phát triển nhân lực chính là tạo môi trường để nhân viên phát triển và sử dụng tối đa các kỹ năng của mình

Phát triển nhân lực bao gồm các nội dung sau:

- Quy hoạch đội ngũ nhân lực;

- Thu hút, tuyển nhọn;

- Bố trí, phân công công việc;

- Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nhân lực;

- Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ nhân lực;

- Các chính sách thưởng phạt

1.2.2 Khái niệm đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên

1.2.2.1 Khái niệm đội ngũ giáo viên

- Khái niệm giáo viên: Theo Từ điển giáo dục học thì giáo viên là “chức danh nghề nghiệp của người dạy học trong các trường phổ thông, trường nghề và trường mầm non, đã tốt nghiệp các trường sư phạm trung cấp, sơ cấp, đại học hoặc

sư phạm mẫu giáo” [60] Nhiệm vụ của người giáo viên là truyền thụ toàn bộ các

kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình bộ môn của bậc học, cấp học, ngoài ra còn có trách nhiệm phụ đạo cho học sinh kém, và bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh có năng khiếu Người giáo viên không chỉ dạy tốt các kiến thức chuyên môn mà còn phải chú ý dạy người, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức để học sinh của mình phát triển toàn diện

Luật số 38/2005/QH11, Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005, Luật Giáo dục, Điều 70,

“Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác” “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên”

[52].Như vậy, giáo viên là tên gọi chỉ nhà giáo thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề

Điều 30, Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học

“Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công

Trang 26

tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (Bí thư, Phó Bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn), giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS), giáo viên làm công tác tư vấn cho học sinh” [14]

Những quan niệm nêu trên về giáo viên đều có sự thống nhất cơ bản: Giáo

viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục là xây dựng và hình thành nhân cách cho người học đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội

Giáo viên có vai trò quyết định chất lượng giáo dục Ngày nay, giáo viên

chịu sự tác động lớn của bối cảnh toàn cầu hóa Trước những tác động đó đòi hỏi người giáo viên phải có những chủ động thay đổi để đáp ứng yêu cầu mới nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT

- Khái niệm đội ngũ: Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ

Khái niệm “đội ngũ” được sử dụng một cách rộng rãi để chỉ các tổ chức trong xã hội như: đội ngũ cán bộ, công chức, đội ngũ tri thức, đội ngũ thanh niên, đội ngũ tình nguyện viên

Khái niệm đội ngũ tuy có các cách hiểu khác nhau nhưng đều có chung một điểm đó là: Một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp nhưng đều

có chung một mục đích, lợi ích và ràng buộc với nhau bằng trách nhiệm pháp lý Hay từ các cách hiểu trên, có thể nêu chung: Đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần

Đội ngũ giáo viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ, có đầy đủ các tiêu chuẩn của một nhà giáo, cùng thực hiện các nhiệm vụ và được hưởng các quyền lợi theo Luật giáo dục và các luật khác được nhà nước quy định

1.2.2.2 Khái niệm phát triển đội ngũ

Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ Còn theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả

về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật hiện tượng và con người trong xã

Trang 27

hội Như vậy, phát triển được hiểu là sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên

Theo Từ điển Triết học, phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ chuyển biến mất và cái mới ra đời Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển [61]

Như vậy, phát triển là quá trình biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Theo quan điểm này thì tất cả sự vật hiện tượng, con người và xã hội tự bản thân biển đổi hoặc do bên ngoài làm cho biến đổi tăng lên cả về số lượng và chất lượng “Phát triển” là một khái niệm rất rộng, nói đến “phát triển” là người ta nghĩ ngay đến sự đi lên thể hiện sự tăng lên về số lượng

và chất lượng, thay đổi về nội dung và hình thức

Phát triển đội ngũ (đội ngũ CBQL, đội ngũ giáo viên) được hiểu là các hoạt động nhằm chuẩn bị và cung cấp ĐNGV theo yêu cầu phát triển của nhà trường về

số lượng, chất lượng và cơ cấu dựa trên cơ sở những định hướng phát triển của nhà trường Phát triển ĐNGV là một bộ phận của phát triển nguồn lực con người hay còn gọi là phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục được thể hiện trong các mặt:

Một là, phát triển ĐNGV là xây dựng ĐNGV làm cho đội ngũ đó được biến

đổi theo chiều hướng đi lên, xây dựng đội ngũ đủ về số lượng, từng bước nâng cao chất lượng, đồng bộ về cơ cấu

Hai là, thực hiện tốt tất cả các khâu từ việc quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng

hợp lý, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sàng lọc ĐNGV Đó là quá trình làm cho đội ngũ nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, năng lực quản lý, có phẩm chất tốt, có trí tuệ và tay nghề thành thạo nhằm giúp họ hoàn thành tốt vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên

Ba là, con người với tư cách là tiềm lực của sự phát triển GD&ĐT, phát triển

xã hội, cải tạo xã hội, làm cho chất lượng cuộc sống ngày càng cao hơn

Như vậy, phát triển ĐNGV là phát triển sao cho đảm bảo số lượng (đảm bảo định mức lao động), nâng cao chất lượng đội ngũ nhằm giúp họ hoàn thành tốt vai trò, nhiệm vụ của mình Chất lượng của ĐNGV được hiểu trên bình diện gồm có

Trang 28

chất lượng và số lượng Số lượng luôn gắn chặt với chất lượng, chất lượng bao hàm

số lượng Khi xem xét đến chất lượng ĐNGV cần phải xét các mặt sau:

- Số lượng đội ngũ: đủ số lượng và cơ cấu phù hợp;

- Chất lượng đội ngũ: phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ

Một đội ngũ được đánh giá là có chất lượng khi đội ngũ đó đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng và đồng bộ về cơ cấu

Phát triển ĐNGV là vấn đề cốt lõi của việc phát triển nguồn lực con người, nguồn lực quý báu nhất có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Nói cách khác, phát triển con người bền vững để phát triển xã hội Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.2.3 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường

1.2.3.1 Quản lý

Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ xa xưa đến nay có ba yếu tố cơ bản là: nền tảng tri thức, sức lao động và quản lý Trong đó, quản lý là sự kết hợp giữa tri thức và sức lao động Khái niệm quản lý đã xuất hiện từ lâu và ngày càng hoàn thiện cùng với lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người Có thể hiểu khái niệm quản lý theo nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau

Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình “quản” là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển”

Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, ví dụ:

Theo Henri Fayol (1841 – 1925), người Pháp, cho rằng: “Quản lý tức là lập kế

hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [21]

Theo quan điểm kinh tế, F.W Taylor (1856 – 1915) người theo trường phái khoa học cho rằng: Quản lý là cải tạo mối quan hệ giữa người với người, giữa người với máy móc, quản lý là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì, cần làm thế nào, bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất

Trang 29

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định hướng,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [50-tr.10]

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ

đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”

Với tư cách là một hành động, theo các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải,

Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý

tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [35-tr.12]

Theo quan điểm chính trị xã hội: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh

tế, bằng một hệ thống luật lệ, chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng

Như vậy khái niệm quản lý bao gồm các khía cạnh: Hệ thống quản lý gồm hai hệ liên kết khác nhau: Liên kết giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý Ai quản lý đó là chủ thể quản lý, chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay tổ chức do người lập ra Điều đó được trả lời trong sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1 Sự tác động của các quá trình quản lý

Như vậy, theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người, có thể hiểu quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và

Phương

pháp quản

Chủ thể quản lý

Công cụ quản lý

Mục tiêu quản lý

Đối tượng quản lý

Trang 30

hành vi hoạt động của con người, phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã

đề ra Cần phải hiểu khái niệm quản lý đầy đủ, bao hàm những khía cạnh sau:

- Quản lý bao giờ cũng là một hoạt động hướng đích, có mục tiêu xác định

- Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống hoàn chỉnh Hệ thống đó được cấu tạo liên kết hữu cơ từ nhiều yếu tố, theo một quy luật nhất định, phù hợp với điều kiện khách quan

- Cơ sở của quản lý là các quy luật khách quan và điều kiện thực tiễn của môi trường

- Hệ thống quản lý gồm có 02 phân hệ Đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc Tuy nhiên, quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại

- Tác động của quản lý thường mang tính chất tổng hợp, hệ thống tác động quản

lý gồm nhiều giải pháp khác nhau nhằm đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu, và nếu xét về mặt công nghệ là sự vận động thông tin

- Mục tiêu cuối cùng của quản lý là tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi ích của con người, bởi thực chất của quản lý là quản lý con người và vì lợi ích của con người

1.2.3.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội Có nhiều tác giả nghiên cứu về lĩnh vực QLGD, với những cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm QLGD

Theo M.I Kônđacốp: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức

và hướng đích của của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội

Theo tác giả Bùi Minh Hiền, khái niệm QLGD có nhiều cấp độ, ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: Cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô

Trang 31

Ở cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là những hoạt động tự giác (có ý thức, có

mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ

mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” [35-tr.10].

Ở cấp vi mô, QLGD trong phạm vi nhà trường có thể xem đồng nghĩa với

quản lý nhà trường: “QLGD được hiểu là hệ thống những tác động có hướng đích

của hiệu trưởng đến các hoạt động giáo dục, đến con người (giáo viên, nhân viên, học sinh), đến các nguồn lực (CSVC, tài chính, thông tin…), đến các ảnh hưởng ngoài nhà trường một cách hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật kinh tế, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật xã hội…) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [35-tr.102]

Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay giáo dục với sứ mệnh phát triển toàn diện, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà là giáo dục thường xuyên, giáo dục cho mọi người, tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân

Nhà nước quản lý mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục Vậy, quản lý nhà nước về giáo dục là tập hợp những tác động hợp quy luật được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ

Quản lý giáo dục bao gồm các yếu tố: Chủ thể quản lý (trên cơ sở phương pháp và công cụ), đối tượng bị quản lý (gọi tắt là đối tượng quản lý), mục tiêu quản

lý, công cụ quản lý Các yếu tố này không tách rời nhau mà ngược lại chúng có quan hệ tương tác gắn bó với nhau Chủ thể quản lý tạo ra những tác nhân thông qua các phương pháp và các công cụ tác động lên đối tượng quản lý, nơi tiếp nhận tác động của chủ thể quản lý và cùng với chủ thể quản lý hoạt động theo một quỹ đạo nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức Vấn đề đặt ra với chủ thể quản lý là làm

Trang 32

như thế nào để cho những tác động từ phía khách thể quản lý đến giáo dục là tích cực, cùng nhằm thực hiện mục tiêu chung

Từ những khái niệm nêu trên về QLGD ta có thể hiểu bản chất đặc thù của hoạt động QLGD chính là hoạt động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo những quy luật khách quan nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn

1.2.3.3 Quản lý nhà trường

Theo các tác giả Hoàng Minh Thao và Hà Thế Truyền: Nhà trường là thiết chế chuyên biệt của xã hội, nơi tổ chức, thực hiện và quản lý quá trình giáo dục Quá trình này được thực hiện bởi hai chủ thể: người được giáo dục và người giáo dục Trong quá trình giáo dục hoạt động của người học và hoạt động của người dạy (theo nghĩa rộng) luôn gắn bó, tương tác, hỗ trợ, tựa vào nhau để thực hiện mục tiêu, yêu cầu của xã hội

Với nội hàm của khái niệm quản lý nhà trường như trên ta thấy:

- Chủ thể quản lý nhà trường là CBQL thuộc các cơ quan QLGD các cấp, nếu hiểu trên phương diện quản lý nhà nước về giáo dục; hoặc là thủ trưởng một cơ

sở giáo dục (Hiệu trưởng trường học)

- Đối tượng quản lý nhà trường là lực lượng giáo dục làm việc trong mọi nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; hoặc là các CBQL cấp dưới của hiệu trưởng, các giáo viên, nhân viên phục vụ, người học và các lực lượng tham gia giáo dục trong một nhà trường cụ thể

Tóm lại, quản lý nhà trường là sự tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có

kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến đối tượng quản lý (CBQL cấp dưới, người dạy, người học, nhân viên và các lực lượng tham gia giáo dục khác) nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà

trường đạt tới mục tiêu giáo dục

1.2.4 Chuẩn và chuẩn hóa, chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT

1.2.4.1 Chuẩn và chuẩn hóa

Khái niệm “Chuẩn”: Có nhiều định nghĩa khác nhau về chuẩn Đại từ điển

bách khoa toàn thư thế giới Britania – 2002 đưa ra định nghĩa về chuẩn: Chuẩn (Standard) là cái được xác lập bởi quyền lực, tập quán hoặc sự thỏa thuận để làm

Trang 33

mẫu hoặc vật so sánh; Chuẩn là cái được đặt ra và được xác lập để làm luật lệ (quy tắc) đo lường số lượng, trọng lượng, giá trị hoặc chất lượng

Như vậy, có thể hiểu: Chuẩn là yêu cầu, tiêu chí có tính nguyên tắc, công

khai và mang tính xã hội được đặt ra bởi quyền lực hành chính và cả chuyên môn

để làm thước đo đánh giá trình độ đạt được về chất lượng, hoạt động công việc, sản phẩm, dịch vụ… trong lĩnh vực nhất định theo mong muốn của chủ thể quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng

Khái niệm “Chuẩn hóa” (Standardization) là xác lập chuẩn mực, chỉ việc đảm bảo đầy đủ các chuẩn quy định cho ngành nghề lao động nào đó Chuẩn hóa là quá trình làm cho các sự vật, đối tượng thuộc phạm trù nhất định (kinh doanh, dịch

vụ, sản xuất, giáo dục, y tế, thể thao…) đáp ứng được các chuẩn đã ban hành trong phạm vi áp dụng và hiệu lực của chuẩn đó

Như vậy, có thể nói chuẩn hóa là một quá trình trong đó bao gồm cả việc

phát triển chuẩn (xây dựng và điều chỉnh chuẩn); áp dụng chuẩn (ban hành chuẩn

và thực hiện chuẩn); quản lý thực hiện chuẩn (tổ chức, chỉ đạo, giám sát, đánh giá

thực hiện chuẩn; đánh giá kết quả áp dụng và hiệu lực của chuẩn)

Chuẩn hóa có những chức năng cơ bản:

- Định hướng hoạt động quản lý và thực hiện các chức năng, các nhiệm vụ, các biện pháp quản lý khác nhau trên những nguyên tắc nhất quán

- Quy cách hóa (unification) các sản phảm, quá trình thực hiện tạo ra sản phẩm (nguồn lực, công nghệ, phương tiện…), làm cho chúng có tính chuẩn mực thống nhất, tức là đưa những sự vật này vào trật tự nhất định

- Khuyến khích phát triển, tạo môi trường chính thức ngày càng thích hợp hơn cho phát triển đồng thời ngày càng hạn chế những nhân tố tự phát, phi chính thức trong phát triển hoặc những nhân tố phản phát triển

Chuẩn hóa là một xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục ở các nước và nước ta trong quá trình đổi mới và hiện đại hóa

Alvin Toffler – Nhà dự báo Mỹ nổi tiếng khi phân tích sự chuyển đổi xã hội

từ nền văn minh Nông nghiệp sang nền văn minh Công nghiệp và Tin học đã nêu rõ

bước phát triển tất yếu và những đặc trưng cơ bản của quá trình tiêu chuẩn hóa

trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và quản lý xã hội trong đó có giáo dục Trong quá trình phát triển từ nền giáo dục truyền thống sang nền giáo dục hiện đại với các

Trang 34

thiết chế mới về tổ chức xã hội, cung cách làm ăn (công nghiệp), về lối sống… Các hoạt động giáo dục với tư cách là một hoạt động xã hội rộng lớn, đa dạng nhiều loại

hình và đối tượng cần được tổ chức và quản lý theo các chuẩn mực nhất định mà tập

trung nhất là các chuẩn mực (tiêu chuẩn) trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và các loại hình nhà trường nói riêng (Chuẩn mực về các cấp học, bậc học, loại hình đào tạo, về nội dung chương trình, giáo viên, cơ sở vật chất…) [2]

Quá trình xây dựng các chuẩn mực (tiêu chuẩn) nói chung và các chuẩn mực trong lĩnh vực GD-ĐT nói riêng là một quá trình phức tạp liên quan đến nhiều nhân

tố, các chuẩn mực ở các lĩnh vực khác nhau có liên quan đặc biệt là tùy thuộc vào mục đích, tính chất và nội dung của đối tượng cần xây dựng các chuẩn mực là con người (HS, giáo viên, cán bộ quản lý) hay là những chuẩn mực về kiến thức, kỹ năng, về cơ sở vật chất… Việc đầu tiên là làm rõ các đặc tính, thuộc tính của đối tượng để xác định các tiêu chí định chuẩn hoặc để xem xét, đánh giá và trên cơ sở

đó xác định các chuẩn mực cho từng tiêu chí hoặc nhóm tiêu chí (định tính hoặc định lượng)

1.2.4.2 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT

Chuẩn nghề nghiệp là những yêu cầu chung về năng lực của con người có thể đáp ứng với nghề, tùy thuộc theo chuẩn chung, chuẩn riêng của từng nghề: chuẩn theo phẩm chất, chuẩn kiến thức và kĩ năng, chuẩn theo phẩm chất và năng lực…

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT là hệ thống các yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức; kỹ năng sư phạm mà giáo viên THPT phải đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục THPT

1.3 Phát triển ĐNGV trường THPT theo Chuẩn nghề nghiệp

1.3.1 Những căn cứ xây dựng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học

1.3.1.1 Căn cứ pháp lý

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học khi xây dựng và áp dụng phải phù hợp, tham chiếu những quy định đối với giáo viên trong các văn bản pháp quy hiện hành của Việt Nam, trực tiếp là các văn bản sau:

- Luật Giáo dục 2005, đặc biệt các Điều 70 (có liên quan đến tiêu chuẩn nhà

giáo), Điều 72 (nhiệm vụ của nhà giáo), Điều 75 (các hành vi nhà giáo không được làm);

Trang 35

- Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục;

- Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 phê duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010”;

- Điều lệ trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và trường phổ

thông có nhiều cấp học (ban hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ GDĐT);

- Quyết định số 202/TCCP-VC ngày 08/6/1994 của Bộ trưởng Trưởng Ban

Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) về việc ban hành Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo (ngạch GV trung học và ngạch GV trung học cao cấp);

- Quyết định số 06/2006/QĐ-BNV ngày 21/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ

về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông công lập;

- Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 của Bộ trưởng Bộ

GD-ĐT về việc ban hành Quy định đạo đức nhà giáo

1.3.1.2 Đặc điểm lao động sư phạm của ĐNGV

Chuẩn phải tiếp thu, vận dụng những xu hướng về sự thay đổi chức năng của người giáo viên trong bối cảnh khoa học, kĩ thuật, công nghệ đang phát triển rất nhanh hướng tới kinh tế tri thức và xã hội học tập

Giáo viên không chỉ đóng vai trò là người truyền đạt tri thức mà phải là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở, cố vấn, trọng tài cho các hoạt động học tập tìm tòi khám phá, giúp học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức mới Giáo viên phải

có năng lực đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ kiểu dạy tập trung vào vai trò

giáo viên và hoạt động dạy sang kiểu dạy tập trung vào vai trò của học sinh và hoạt

động học, từ cách dạy thông báo – giải thích – minh hoạ sang cách dạy hoạt động tìm tòi khám phá

Trong bối cảnh kĩ thuật công nghệ phát triển nhanh, tạo ra sự chuyển dịch định hướng giá trị, giáo viên trước hết phải là nhà giáo dục có năng lực phát triển

Trang 36

ở học sinh về cảm xúc, thái độ, hành vi, bảo đảm người học làm chủ được và biết ứng dụng hợp lí tri thức học được vào cuộc sống bản thân, gia đình, cộng đồng Bằng chính nhân cách của mình, giáo viên tác động tích cực đến sự hình thành nhân cách của học sinh, giáo viên phải là một công dân gương mẫu, có ý thức trách nhiệm xã hội, hăng hái tham gia vào sự phát triển của cộng đồng, là nhân vật chủ yếu góp phần hình thành bầu không khí dân chủ trong lớp học, trong nhà trường, có lòng yêu giới trẻ và có khả năng tương tác với giới trẻ

Trong xã hội đang phát triển nhanh, người giáo viên phải có ý thức, có nhu cầu, có tiềm năng không ngừng tự hoàn thiện nhân cách, đạo đức, lối sống, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phát huy tính chủ động, độc lập, sáng tạo trong hoạt động sư phạm, biết phối hợp nhịp nhàng với tập thể sư phạm nhà trường trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục Quá trình đào tạo ở trường sư phạm chỉ là sự đào tạo ban đầu, là cơ sở cho quá trình đào tạo tiếp theo trong đó sự tự học, tự đào tạo đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành đạt của mỗi giáo viên Giáo viên phải có năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy học giáo dục bằng con đường tổng kết kinh nghiệm, phát huy sáng kiến, thực nghiệm sư phạm

Giáo viên trung học là loại hình giáo viên dạy theo môn học: mỗi giáo viên dạy một hoặc hai môn có quan hệ chuyên môn gần gũi, thực hiện chức năng giáo dục học sinh (nghĩa hẹp) chủ yếu thông qua giảng dạy môn học

Những giáo viên được phân công làm chủ nhiệm lớp, công tác Đoàn, Đội, hoạt động ngoài giờ lên lớp có phạm vi hoạt động giáo dục rộng hơn

Đối tượng của giáo viên trung học là học sinh lứa tuổi từ 11 đến 18 tuổi, nên hoạt động nghề nghiệp của giáo viên trung học đa dạng, phức tạp Giáo viên phải đạt yêu cầu cao về phẩm chất, năng lực chuyên môn nghiệp vụ mới đáp ứng được nhu cầu, trình độ nhận thức đã khá phát triển của học sinh trung học

Bối cảnh hiện nay đòi hỏi giáo viên trung học phải có trình độ tin học và sử dụng phương tiện công nghệ thông tin trong dạy học, trình độ ngoại ngữ mới theo kịp yêu cầu phát triển nội dung, đổi mới phương pháp dạy học môn học của mình ở trường THCS và THPT

Trang 37

1.3.1.3 Về công tác đánh giá giáo viên

Cho đến nay ở Việt Nam chưa thực hiện việc đánh giáo giáo viên trung học gắn liền với quyết định thăng tiến về nghề nghiệp của họ Tuy nhiên hằng năm, các trường THCS và THPT vẫn tiến hành đánh giá giáo viên dựa trên các văn bản sau:

- Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT ngày 20/10/2006 về việc hướng dẫn thanh tra toàn diện nhà trường, cơ sở giáo dục khác và thanh tra hoạt động sư phạm của nhà giáo;

- Quyết định số 06/2006/QĐ-BNV ngày 21/3/2006 của Bộ Nội vụ về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông công lập Theo quyết định này, nội dung đánh giá gồm các mặt: phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; kết quả công tác được giao; khả năng phát triển

Trên cơ sở đánh giá công chức này, tập thể giáo viên bình bầu các danh hiệu thi đua: Lao động giỏi, chiến sĩ thi đua

Việc đánh giá công nhận danh hiệu giáo viên giỏi thường được tiến hành qua các hội giảng (hội thi) giáo viên giỏi từ cấp trường đến cấp quốc gia Giáo viên được công nhận danh hiệu giáo viên giỏi trước hết phải qua các Hội thi giáo viên giỏi và tiết dạy của giáo viên đó được Hội đồng chấm đánh giá loại giỏi và các mặt khác được cơ sở (nhà trường, Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT) đánh giá tốt

Như vậy, cho đến nay, việc đánh giá giáo viên trung học hàng năm là để xếp loại, mang tính thi đua là chủ yếu Tuy việc đánh giá, xếp loại giáo viên có theo các tiêu chuẩn nhưng còn rất chung chung, thiếu cụ thể Do đó khó phân định được các mức độ, dễ dẫn đến tình trạng thiếu khách quan và thiếu chính xác

Từ những điều trình bày trên cho thấy, việc xây dựng và áp dụng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên nói chung, giáo viên trung học nói riêng phải căn cứ vào các cơ sở pháp lý, đặc điểm lao động sư phạm và thực tế của công tác đánh giá ĐNGV

1.3.2 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học của Việt Nam

1.3.2.1 Những nguyên tắc xây dựng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học (dưới dây gọi tắt là Chuẩn) phải tuân thủ những quy định đối với giáo viên trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam

Chuẩn phải tiếp thu vận dụng những xu hướng thế giới và những kinh nghiệm trong nước về xây dựng Chuẩn nghề nghiệp và công tác đánh giá giáo viên

Trang 38

Chuẩn phải bảo đảm tính khoa học, tính thực tiễn, khả thi và dễ vận dụng

1.3.2.2 Cấu trúc Chuẩn nghề nghiệp

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên được xây dựng trên cơ sở kết hợp mô hình cấu trúc nhân cách với mô hình hoạt động nghề nghiệp, phản ánh những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của ĐNGV Ở Việt Nam có thói quen truyền thống phân biệt phẩm chất với năng lực, phân biệt năng lực chuyên môn với năng lực nghiệp vụ, năng lực dạy học với năng lực giáo dục (nghĩa hẹp) Trong thực tế, người giáo viên môn học thực hiện chức năng dạy học và giáo dục một cách đan xen, hoà quyện với nhau, thể hiện năng lực chuyên môn và nghiệp vụ tích hợp, xen kẽ với nhau Sự phân biệt trên chỉ là tương đối, thuận tiện cho việc đánh giá giáo viên theo tư duy phân tích trước khi có sự đánh giá chung theo tư duy tổng hợp Việc phân biệt các nhóm năng lực của người giáo viên tuỳ thuộc vào thực tế sử dụng giáo viên ở mỗi nước trong từng giai đoạn Ở nước ta thường phân biệt năng lực chuyên môn (kiến thức) với năng lực nghiệp vụ (kĩ năng sư phạm) Thực ra phẩm chất và kiến thức cũng là những yếu tố cấu thành năng lực của người giáo viên

Trong xây dựng Chuẩn, việc phân tích các năng lực của người giáo viên được căn cứ vào các hoạt động cơ bản trong nghề dạy học, lần lượt theo các công đoạn hành nghề của người giáo viên và được tổng hợp lại thành 5 nhóm năng lực:

- Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục;

- Năng lực dạy học;

- Năng lực giáo dục;

- Năng lực hoạt động chính trị, xã hội ;

- Năng lực phát triển nghề nghiệp

Chương II: Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học bao gồm từ Điều 4 đến Điều 9, được trình bày thành 6 tiêu chuẩn, cụ thể:

- Điều 4 Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

- Điều 5 Tiêu chuẩn 2: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục

- Điều 6 Tiêu chuẩn 3: Năng lực dạy học

- Điều 7 Tiêu chuẩn 4: Năng lực giáo dục

- Điều 8 Tiêu chuẩn 5: Năng lực hoạt động chính trị, xã hội

- Điều 9 Tiêu chuẩn 6: Năng lực phát triển nghề nghiệp

Trang 39

Mỗi tiêu chuẩn được cụ thể hoá thành một số tiêu chí (từ 2 đến 8 tiêu chí, tuỳ nội dung của tiêu chuẩn) Tất cả có 25 tiêu chí, trong đó Tiêu chuẩn 1 có 05 tiêu chí, Tiêu chuẩn 2 có 02 tiêu chí, Tiêu chuẩn 3 có 08 tiêu chí, Tiêu chuẩn 4 có 06 tiêu chí, Tiêu chuẩn 5 có 02 tiêu chí và Tiêu chuẩn 6 có 02 tiêu chí Mỗi tiêu chí đều có tiêu đề để dễ nhớ, có nội dung cô đọng, chứa đựng những dấu hiệu cơ bản về chất lượng theo định hướng đổi mới giáo dục hiện nay Tất cả các tiêu chí đều được đánh giá theo thang điểm 4 Mức 1 điểm phản ánh yêu cầu tối thiểu GV phải đạt về tiêu chí đó Mức điểm của từng tiêu chí có thể tham khảo trong Phụ lục 1 của Công văn

số 660/BGDĐT-NGCBQLGD ngày 09/02/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Mỗi

mức điểm cao hơn bao gồm các yêu cầu của mức điểm thấp hơn liền kề cộng thêm một vài yêu cầu mới đối với mức điểm đó Việc phân biệt các mức điểm cao, thấp dựa vào số lượng và chất lượng các hoạt động giáo viên đã thực hiện Tuỳ từng tiêu

chí, phần chỉ báo cho mức độ đạt được của tiêu chí được thể hiện hoặc bằng số lượng hành động hoặc bằng chất lượng sản phẩm hoạt động của giáo viên Điều này được đánh giá bởi các động từ hành động hoặc các trạng từ, tính từ (xem Phụ lục 1 kèm theo Công văn số 660/BGDĐT-NGCBQLGD) và được gọi là từ khóa Để người tự đánh giá hoặc người đánh giá dễ đối chiếu, 4 mức điểm trong mỗi tiêu chí đều được trình bày theo một cấu trúc đồng dạng

Nguồn minh chứng được quy định chung cho từng tiêu chuẩn (không quy định cho từng tiêu chí) Nói chung, các nguồn minh chứng này nằm trong số các loại hồ

sơ, sổ sách đã được quy định trong Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học Ở một số tiêu chuẩn, khuyến khích giáo viên chuẩn bị thêm một vài nguồn minh chứng khác Mỗi nguồn minh chứng được mã hoá bằng số thứ tự để giáo viên tiện kê khai những cái mình có vào phiếu tự đánh giá

1.3.3 Vận dụng Chuẩn nghề nghiệp vào đánh giá, xếp loại giáo viên

1.3.3.1 Bản chất của việc đánh giá, xếp loại giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp

Đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp thực chất là đánh giá năng lực nghề nghiệp của giáo viên Năng lực nghề nghiệp biểu hiện ở phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực sư phạm của người giáo viên

Năng lực sư phạm là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của hoạt động giáo dục và dạy học, đảm bảo cho hoạt động này có

Trang 40

kết quả Chương II quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học, ngoài yêu cầu

về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, còn nêu ra 5 loại năng lực sư phạm cơ bản của người giáo viên, bao gồm: năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực hoạt động chính trị xã hội; năng lực phát triển nghề nghiệp

Đánh giá giáo viên theo Chuẩn là một quá trình thu thập các minh chứng thích hợp và đầy đủ nhằm xác định mức độ năng lực nghề nghiệp của giáo viên Đánh giá giáo viên theo Chuẩn đòi hỏi có sự thay đổi cơ bản trong suy nghĩ của giáo viên, hiệu trưởng và CBQL: đánh giá giáo viên theo Chuẩn không phải chủ yếu

để bình xét danh hiệu thi đua hằng năm, mà là xem xét những gì giáo viên phải thực hiện và đã thực hiện được, những gì giáo viên có thể thực hiện được Trên cơ sở đó khuyến cáo giáo viên xây dựng chương trình, kế hoạch tự rèn luyện, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp

1.3.3.2 Mục đích của việc đánh giá, xếp loại giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp

Đánh giá giáo viên theo Chuẩn nhằm:

- Xác định chính xác, khách quan mức độ năng lực nghề nghiệp của giáo viên ở thời điểm đánh giá theo các tiêu chí trong Chuẩn Trên cơ sở đó đưa ra những khuyến nghị cho giáo viên và các cấp QLGD trong việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng (xây dựng chương trình, lập kế hoạch, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, ) nâng cao năng lực cho giáo viên;

- Trên cơ sở xác định mức độ năng lực nghề nghiệp giáo viên, tiến hành xếp loại giáo viên;

- Cung cấp thông tin cho việc xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục;

- Cung cấp những thông tin xác đáng làm cơ sở cho việc xây dựng và thực hiện các chính sách đối với giáo viên

1.3.3.3 Phương pháp đánh giá, xếp loại giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp

Khi thực hiện phương pháp đánh giá, xếp loại giáo viên (Điều 11, Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học) cần chú ý:

- Việc đánh giá giáo viên phải căn cứ vào các kết quả đạt được thông qua các chỉ báo và nguồn minh chứng phù hợp với các tiêu chí trong từng tiêu chuẩn của Chuẩn;

Ngày đăng: 19/12/2015, 07:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Sự tác động của các quá trình quản lý - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Sơ đồ 1.1. Sự tác động của các quá trình quản lý (Trang 29)
Bảng 2.1. Tổng hợp số lượng giáo viên, học sinh - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Bảng 2.1. Tổng hợp số lượng giáo viên, học sinh (Trang 57)
Bảng 2.2. Tổng hợp tuổi đời của ĐNGV tính đến năm học 2013-2014 - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Bảng 2.2. Tổng hợp tuổi đời của ĐNGV tính đến năm học 2013-2014 (Trang 57)
Bảng 2.3. Tổng hợp cơ cấu giới tính của ĐNGV tính đến năm học 2013-2014 - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Bảng 2.3. Tổng hợp cơ cấu giới tính của ĐNGV tính đến năm học 2013-2014 (Trang 59)
Bảng 2.5: Tổng hợp trình độ đào tạo của ĐNGV năm học 2013-2014 - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Bảng 2.5 Tổng hợp trình độ đào tạo của ĐNGV năm học 2013-2014 (Trang 61)
Bảng 2.4. Cơ cấu ĐNGV theo bộ môn năm học 2013-2014 - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Bảng 2.4. Cơ cấu ĐNGV theo bộ môn năm học 2013-2014 (Trang 61)
Bảng 2.6. Thống kê trình độ đào tạo của ĐNGV trong   năm học 2009-2010 và năm học 2013-2014 - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Bảng 2.6. Thống kê trình độ đào tạo của ĐNGV trong năm học 2009-2010 và năm học 2013-2014 (Trang 62)
Bảng 2.7. Thống kê trình độ ngoại ngữ, tin học của ĐNGV - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Bảng 2.7. Thống kê trình độ ngoại ngữ, tin học của ĐNGV (Trang 64)
Bảng  2.7  cho  thấy  trình  độ  ngoại  ngữ,  tin  học  của  ĐNGV  rất  hạn  chế.  Có  55,7%  giáo  viên  sau  khi  đào  tạo,  do  không  thường  xuyên  sử  dụng  nên  đã  quên  nhiều, hoặc còn sử dụng  thì chủ yếu đạt mức trình độ A, số giáo viên có trìn - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
ng 2.7 cho thấy trình độ ngoại ngữ, tin học của ĐNGV rất hạn chế. Có 55,7% giáo viên sau khi đào tạo, do không thường xuyên sử dụng nên đã quên nhiều, hoặc còn sử dụng thì chủ yếu đạt mức trình độ A, số giáo viên có trìn (Trang 64)
Bảng 2.9. Thống kê xếp loại thi đua của ĐNGV - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Bảng 2.9. Thống kê xếp loại thi đua của ĐNGV (Trang 66)
Bảng 2.10. Thống kê số lượng giáo viên tham gia các khoá bồi dưỡng từ - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Bảng 2.10. Thống kê số lượng giáo viên tham gia các khoá bồi dưỡng từ (Trang 69)
Bảng 2.12. Thực trạng công tác thực hiện chế độ, chính sách cho ĐNGV - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Bảng 2.12. Thực trạng công tác thực hiện chế độ, chính sách cho ĐNGV (Trang 74)
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ mối quan hệ giữa các biện pháp phát triển ĐNGV - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ mối quan hệ giữa các biện pháp phát triển ĐNGV (Trang 107)
Bảng 3.1. Kết quả trưng cầu ý kiến về tính cần thiết của các biện pháp - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Bảng 3.1. Kết quả trưng cầu ý kiến về tính cần thiết của các biện pháp (Trang 108)
Bảng 3.2. Kết quả trưng cầu ý kiến về tính khả thi của các biện pháp - Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên theo chuẩn nghề nghiệp   luận văn ths  giáo dục học  60 14 01 14 pdf
Bảng 3.2. Kết quả trưng cầu ý kiến về tính khả thi của các biện pháp (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w