1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định lu

107 582 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM HOÀNG VĂN CHÍNH Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định luËn v¨n th¹

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

HOÀNG VĂN CHÍNH

Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động

tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng

Công nghiệp Nam Định

luËn v¨n th¹c sÜ GIÁO DỤC HỌC

Hµ néi - 2007

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

HOÀNG VĂN CHÍNH

Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động

tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng

Công nghiệp Nam Định

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, đất nước ta đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giáo dục- đào tạo có vai trò rất quan trọng là đào tạo cho xã hội nguồn nhân lực có chất lượng “vừa hồng, vừa chuyên” như lời Bác Hồ dạy :

“cách học tập: lấy tự học làm cốt” Nghị quyết TW 4 (khoá 7) đã chỉ rõ

nhiệm vụ quan trọng của giáo dục và đào tạo là phải “ khuyến khích tự học”,

“áp dụng những phương pháp giáo dục sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quộc lần thứ IX cũng nêu: “ Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững ” Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục thực hiện “ chuẩn hoá, hiện đại hoá”, phát huy tư duy khoa học và sáng

tạo, năng lục tự nghiên cứu của sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng

các hình thức chính quy và không chính quy, thực hiên tốt công tác xã hội hoá giáo dục để cả nước trở thành xã hội học tập

Tinh thần các nghị quyết của Đảng về giáo dục- đào tạo đã được thể chế hoá trong Luật giáo dục Điều 24- Luật giáo dục năm 1998, điều 28 Luật giáo dục sửa đổi năm 2005 chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo cho người học, phù hợp với đặc điểm của

từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc

theo nhóm, rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú học tập cho người học” Ngày 20/4/1999 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT có chỉ thị 15/1999/CT cho các trường sư phạm, trong đó có nêu vấn đề: “Đổi mới phương pháp giảng dậy và học tập, phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên Người thầy giữ vai trò chủ

Trang 4

đạo trong việc tổ chức, điều khiển, định hướng quá trình dạy học, còn người học giữ vai trò chủ động trong quá trình học tập tiếp thu kiến thức và tham gia

nghiên cứu khoa học Có ý thức xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu

giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”

Trong dự thảo đề án: Xây dựng xã hội học tập ở Việt nam, do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với hội khuyến học Việt Nam soạn thảo theo công văn số 167/ VPCP ngày 27/10/2003 của văn phòng Chính phủ, có đoạn viết: “ Cốt lõi của sự học là “ con người ham muốn học và biết cách tự học” Phát huy nội lực của người học bằng tự học, tự rèn luyện lập thân, lập nghiệp Dạy cho người học biết cách tự tìm, tự tạo việc làm sau khi ra trường tiếp tục vừa làm, vừa học, thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất Triển khai nhiều hình thức cho người lớn tuổi và trẻ em thất học ở bên ngoài nhà trường cũng được học và tự học thường xuyên liên tục, suốt đời Động viên, khuyến khích, hỗ trợ cho mọi người tự học ” Như vậy

tự học là một tư tưởng lớn trong chiến lược phát triển giáo dục & đào tạo ở nước ta trong thời kỳ đổi mới hiện nay

Quản lí giáo dục nói chung, quản lí dạy học nói riêng có nội dung cốt lõi là quản lí các hoạt động của nhà trường, trong đó có hoạt động dạy học

Dạy học là quá trình tương tác hoạt động giữ người dạy và người học, trong đó người dạy thực hiện những tác động nhằm gây ảnh hưởng đến người học, trong và bằng cách đó hình thành và phát triển hoạt động học- tự học cho người học

Như vậy, quản lí hoạt động dạy học xét đến cùng là nhằm giúp cho người học, học có kết quả và hiệu quả cao Điều đó cũng có nghĩa, phải quản

lí được hoạt động tự học của họ, hình thành và phát triển cho người học năng lực tự học

Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định nói riêng và các trường đào tạo nghề trong tỉnh nói chung đang trong quá trình thực hiện đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học Theo đó mục tiêu cần đạt được của nhà

Trang 5

trường là phải biết dạy cho học sinh, sinh viên biết cách học Phương pháp giáo dục, thường xuyên phải phát huy vai trò chủ động, khai thác kinh nghiệm của người học, coi việc bồi dưỡng năng lực tự học, sử dụng phương tiện hiện đại và công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học

Quản lý hoạt động dạy và học nói chung, quản lý việc tự học của sinh viên nói riêng có vai trò rất quan trọng Việc phát triển năng lực tự học cho sinh viên sẽ góp phần tích cực cho việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của trường Cao đẳng Công nghiệp Nam định

Xuất phát từ những suy nghĩ trên, tôi chọn đề tài: “Các biện pháp

quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học Ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy học ngoại ngữ ở trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định, đề xuất các biện pháp quản lý

nhằm tăng cường hoạt động tự học Ngoại ngữ của sinh viên trong trường

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lí hoạt động học tập ngoại ngữ của sinh viên trường Cao

đẳng Công nghiệp Nam Định

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học Ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định

4.Giả thuyết nghiên cứu

Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hợp lý, khả thi để tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định sẽ từng bước nâng cao chất lượng dạy học môn học và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của trường

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về quản lý dạy học và quản lý hoạt động tự học Ngoại ngữ của sinh viên

Trang 6

- Nghiên cứu thực trạng về hoạt động tự học và quản lý hoạt động tự học Ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định hiện nay

- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm tăng cường hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định

6 Giới hạn nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống những vấn đề

về lý luận có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài qua sách, báo và các tài liệu tham khảo

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp điều tra: sử dụng mẫu phiếu điều tra với sinh viên, giáo viên, cán bộ quản lý để nắm được về thực trạng tự học của sinh viên, về công

tác quản lý hoạt động tự học của trường

+ Thống kê, phân tích tổng hợp, sử dụng số liệu sau điều tra

+ Các phương pháp hỗ trợ: trao đổi, phỏng vấn với sinh viên, giáo viên

và cán bộ quản lý

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục Luận văn được trình bày theo ba chương

+ Chương 1 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

+ Chương 2 Thực trạng công tác quản lí hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam định

+ Chương 3 Biện pháp quản lí nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ

của sinh viên trường Cao Đẳng Công Nghiệp Nam định

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC NGOẠI NGỮ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ giữa thế kỷ 18 , cùng với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp,

khoa học quản lí cũng phát triển, xuất hiện các học thuyết, các trường phái

quản lí mới Chẳng hạn, Fredrick Winslow Taylor (1856- 1915) với thuyết

quản lí khoa học; Henry Fayol (1841-1925) với thuyết quản lí hành chính;

Mary Parker Follet (1868- 1933), Elton Mayor (1880-1949) thiên về trường

phái quản lí theo quan hệ con người; G.B Watson (1878-1958); Douglas

Hugo Munsterberge (1683-1916); Abraham Maslow (1908-1970); Douglas

Mc.Gregor (1906-1964) với thuyết quản lí theo hành vi Về thuyết quản lí tổ

chức, phải kể đến Chester Irving Barnard (1886-1961) Về các thuyết văn hoá

quản lí có thuyết Z của William Ouchi, và đại biểu của trào lưu này còn phải

kể đến Thomas J Peters, Robert H Waterman, Trên nền tảng khoa học

quản lí chung, khoa học quản lí giáo dục trên thế giới và Việt Nam đã có

những thành tựu đáng kể

Cũng từ giữa thế kỷ 18 này, trên thế giới đã xuất hiện những công

trình về thực tiễn hoạt động giáo dục của K Raumer (1842, Đức), về cải cách

giáo dục của R H Quych (1868, Mỹ) Từ giữa và cuối thế kỷ 19, nhiều tác

giả đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề cụ thể về giáo dục, trong đó đề cập tới

quản lí giáo dục như K.Ker, A.Lavrôxki, M.I Calinin, N.K Crupxcaia, A.X

Makarencô

Ở Việt Nam, một số tư tưởng, quan điểm về giáo dục cũng đã được

các nhà nghiên cứu đề cập tới trong các công trình nghiên cứu của mình như

Ngô Sĩ Liên (TK 15), Lê Quí Đôn (TK 18) Trong nửa đầu thế kỷ 19, Phan

Huy Chú đã nghiên cứu chi tiết, có hệ thống về công việc điều hành, tổ chức

thi cử trong giáo dục Từ 1945, sau cách mạng tháng 8 thành công, nhiều nhà

nghiên cứu và hoạt động sư phạm đã đề cập tới quản lí giáo dục, đặc biệt như

Trang 9

Hồ Chủ Tịch trong “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục”, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có một hệ thống các bài viết, bài nói về giáo dục

Tiếp theo đó, có những tổng kết lí luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển, quản lí giáo dục theo một số giai đoạn như Nguyễn Văn Huyên với cuốn “ Quá trình 16 năm xây dựng giáo dục - Hà nội, 1961”, Nguyễn Khánh Toàn với “20 năm xây dựng giáo dục - Hà nội, 1965”, Nguyễn Lân với “Lịch

sử giáo dục thế giới - Hà nội, 1958”,

Trưởng thành, lớn mạnh theo sự phát triển kinh tế - xã hội, khoa học quản lí giáo dục Việt nam dần dần hoàn thiện, tiếp cận với thế giới Trong quá trình đó, xuất hiện nhiều nhà quản lí giáo dục như Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Phúc, Lê Sơn,

Vào cuối thế kỷ 20, bước sang đầu thế kỷ 21, xuất hiện những nhà nghiên cứu kết hợp với thực tiễn giáo dục ở Việt nam với những yếu tố hiện đại như Đặng Quốc Bảo với “Về phạm trù nhà trường và nhiệm vụ phát triển nhà trường trong bối cảnh hiện nay”, “ Quản lí giáo dục- nhiệm vụ và phương hướng”, NXB Đại học - Hà nội, 1996; Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Bài giảng Cơ sở khoa học quản lí ”, Hà nội 1996/2004; Nguyễn Văn Lê với “ Khoa học quản lí”, 1994; Bùi Văn Quân “động lực học tập và tạo động lực học tập”, Tạp chí giáo dục, tháng 12/2005 Trang 47 “Quản lý giáo dục”, NXB giáo dục, 2007

Nghiên cứu quản lý hoạt động tự học của sinh viên nói chung đã được thực hiện trong một số nghiên cứu luận văn thạc sĩ QLGD Theo hướng nghiên cứu này, có thể kể đến một số công trình như: “Biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình” của tác giả

Đỗ Thị Lan Hương; “Một số biện pháp tăng cường quản lí nâng cao chất lượng dạy học môn ngoại ngữ ở trung tâm Đào tạo bồi dưỡng cán bộ trường Đại học Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Phương Lan Rõ ràng, những nghiên cứu về quản lý tự học của sinh viên cao đẳng, đặc biệt là quản lí hoạt động tự

Trang 10

học ngoại ngữ nhằm tăng cường năng lực tự học cho sinh viên cao đẳng tuy

đã được nhiều người quan tâm, song vẫn còn nhiều hạn chế

1.2 Một số khái niệm công cụ

1.2.1 Tự học

Thông thường, tự học được hiểu là tự mình học lấy cho mình Tuy nhiên, chuyện tự học đề cập ở đây không phải chỉ được hiểu một cách đơn giản như vậy

Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp)

và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất, rồi cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành của mình”

Giáo sư Vũ Văn Tảo nhận định: “Sự học dù dưới dạng nào, tại trường lớp hoặc ngoài trường lớp, có người thầy hướng dẫn hoặc không có thầy, có

sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật, của công nghệ thông tin hoặc chưa, đều phải có sự tự học… Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh mình”

Nhà giáo dục John Lubbock nói: “Cái gì ta tự học được thì mới thực

là của ta, hơn những cái người khác dạy cho ta”

Tự học là nội lực của người học, là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân người học Có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từ chỗ

có tư duy độc lập mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề, nhờ

đó mới có tư duy sáng tạo Tự học là quá trình tích cực, tự giác chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của chính bản thân người học Nhờ có tự học, người học mới thực sự nắm vững tri thức, làm chủ tri thức và vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống Tự học có thể tóm tắt lại như sau: Trò học, cốt lõi là tự học, học cách học, cách tư duy Thầy dạy cốt lõi là dạy

Trang 11

cách học, cách tư duy Tác động dạy của người thầy là ngoại lực đối với sự phát triển của người học Theo quy luật phát triển của sự vật, ngoại lực dù quan trọng đến đâu, lợi hại đến mấy cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện Nội lực mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân sự vật

Sự vật đó phát triển đến trình độ cao khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng được với nhau

Hoạt động tự học là công việc mà mọi người có thể tiến hành ở mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi cách và với mọi nội dung Nói như giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là thực hiện “5 mọi” trong học tập

Khi bàn về vấn đề tự học, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười có ghi trong thư gửi “Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo” ngày 06/01/1998 như sau: “Tự học, tự đào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời mỗi con người trong điều kiện kinh tế – xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau,

đó cũng là truyền thống quý báu của con người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành tự giáo dục Quy mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học”

Hoạt động tự học diễn ra với ba hình thức sau:

- Hình thức thứ nhất: Có sách, có tài liệu, người học tự tìm kiếm tri

thức để thoả mãn nhu cầu nâng cao, mở rộng hiểu biết của riêng mình, bổ sung, mở rộng kiến thức ngoài chương trình đào tạo của nhà trường Đây là tự học ở mức độ cao

- Hình thức thứ hai: Có sách, có tài liệu, và có thêm người thầy ở xa

hướng dẫn tự học thông qua các phương tiện viễn thông Hướng dẫn tự học từ

xa là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức Đây là tự học có hướng dẫn

- Hình thức thứ ba: Có sách, có tài liệu, có thầy trực tiếp hướng dẫn

một số tiết trong ngày, trong tuần Tự học diễn ra dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn

cụ thể trước của thầy và chịu sự kiểm tra kết quả sau tự học Đây là hình thức trực tiếp có thầy trên lớp và về nhà tự học theo hướng dẫn

Trang 12

Trong đề tài này, căn cứ vào mục đích và phạm vi nghiên cứu, tác giả chỉ đề cập đến hoạt động tự học theo hình thức thứ ba

1.2.2 Sinh viên

Trong tiếng Pháp, từ “étudiant” (sinh viên) được cấu thành từ từ gốc

“étude” (học tập, nghiên cứu) Trong tiếng Anh, từ “student” (sinh viên) được cấu thành từ, từ gốc “study” (học tập, nghiên cứu) Như vậy, sinh viên là những người gắn liền với công việc học tập và nghiên cứu

Về trình độ văn hoá, sinh viên là những người đã tốt nghiệp bậc học trung học phổ thông và có đủ điều kiện để học tiếp các cấp học cao hơn như cao đẳng, đại học

Hầu hết sinh viên ở độ tuổi từ 18 đến 22, đang trưởng thành về nhận thức xã hội, tinh thần và đạo đức, bắt đầu hình thành nhân cách và những phẩm chất nghề nghiệp Sinh viên sống có niềm tin, có lý tưởng, có ước mơ cao đẹp, có hoài bão cho tương lai, có tình cảm nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, khát vọng được cống hiến Họ có tính độc lập sáng tạo, có nguyện vọng tự khẳng định mình và mong muốn xã hội đánh giá đúng mình Sinh viên là lứa tuổi có thể lực đang phát triển khoẻ mạnh, trí tuệ tiếp thu nhanh, nhạy bén, ham học hỏi và tìm tòi cái mới

Bên cạnh những điểm mạnh trên đây, sinh viên cũng thường bộc lộ một số nhược điểm Họ mới rời ghế nhà trường phổ thông, chưa từng trải, có

ít kinh nghiệm trong cuộc sống, tiếp thu các yếu tố bên ngoài không chọn lọc

kỹ, khi có tác động của ngoại cảnh thì dễ bị ảnh hưởng Hơn nữa, sau kỳ thi tuyển sinh căng thẳng, những sinh viên không xác định đúng mục đích, động

cơ học tập dễ có tư tưởng “xả hơi”, học hành chểnh mảng, thậm chí chơi bời quá đà dẫn đến sa ngã Vì vậy, nhà trường cần có những biện pháp quản lý, giáo dục, định hướng cho sinh viên để họ tránh những lệch lạc trong cuộc sống cũng như học tập

Khi nhận xét về sinh viên, V.I Lênin đã đánh giá: “Sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất của trí thức, là tầng lớp có trình độ tiên tiến nhất trong giới thanh niên Song bên cạnh đó, sinh viên còn thiếu kinh nghiệm sống, cần

Trang 13

được bổ sung bằng “kinh nghiệm” của lớp chiến sĩ già, những người đã được hun đúc bằng truyền thống cách mạng và tầm hiểu biết chính trị rộng rãi làm cho họ sáng suốt hơn”

Sinh viên là lớp người có nhiều cơ hội được tiếp xúc với những tiến

bộ khoa học mới nhất của nhân loại, được trang bị một cách có hệ thống những tri thức và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai Vì vậy, trong quá trình học tập ở nhà trường, sinh viên phải tận dụng mọi cơ hội để học tập, không chỉ học tập trên lớp mà còn phải tự học, tự nghiên cứu để trang bị kiến thức một cách vững chắc, cho phép mình tự tin bước vào cuộc sống

Đối với sinh viên, học tập là hoạt động chủ đạo và liên tục Học tập của sinh viên không chỉ để có học vấn mà còn để chuẩn bị những kỹ năng chuyên môn sâu nên hoạt động học tập của sinh viên là loại hình lao động rất vất vả Để nắm được tri thức đã khó, việc hình thành các kỹ năng còn khó hơn nhiều, vì thế việc học tập ở trên lớp không thể nào đủ thời gian, sinh viên cần phải tích cực tự học, tự nghiên cứu để đạt được kết quả cao trong học tập cũng như trong cuộc sống thực tế sau này

1.2.3 Hoạt động tự học của sinh viên

Đối với sinh viên thì không thể không có việc tự học, bởi đặc trưng của việc học tập của sinh viên là tự nghiên cứu, tìm tòi khám phá tri thức là chủ yếu, còn giảng viên chỉ là người giúp đỡ, hướng dẫn sinh viên học tập, nghiên cứu mà thôi Hoạt động tự học luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình học tập của sinh viên và cả trong cuộc sống sau này

Hoạt động tự học của sinh viên nhằm nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo về nghề nghiệp trong tương lai Quá trình tự học giúp sinh viên hiểu sâu bài, củng cố và ghi nhớ kiến thức, mở rộng kiến thức, biết thực hành những kỹ năng đã học trên lớp, biết vận dụng kiến thức vào việc giải quyết những vấn

đề mới Tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng

và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp sinh viên có hứng thú, thói quen và phương pháp tự học, rèn luyện và nâng cao khả năng làm việc độc lập, sáng tạo trong học tập và trong cuộc sống, để thường xuyên

Trang 14

làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay

Kho tàng tri thức của xã hội loài người rất phong phú và đa dạng, đòi hỏi của xã hội đối với sinh viên ra trường rất lớn, nhà trường không thể dạy hết tất cả cho sinh viên được Vì vậy, nhà trường coi tự học, tự đào tạo là phương thức tạo ra chất lượng thực sự, lâu bền của quá trình giáo dục - đào tạo Tự học là cốt lõi của việc học, khi có học là có tự học, không ai có thể học thay người khác được Tự học đối với sinh viên là một nhiệm vụ không thể thiếu được khi đất nước và thế giới đang trong đà phát triển như vũ bão

Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI, thế kỷ của thời đại thông tin và nền kinh tế tri thức Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tri thức của nhà trường cung cấp luôn ở trạng thái “lão hoá” Trong tình hình như vậy, nếu sinh viên chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào sự cung cấp tri thức của nhà trường, không có ý thức tự mình cập nhật tri thức thì sẽ bị tụt hậu, không theo kịp cuộc sống hiện đại, không thể đáp ứng được yêu cầu của

xã hội khi ra trường

Sinh viên nội trú là những sinh viên sống trong ký túc xá sinh viên

Họ là những người ở xa gia đình, sống trong tập thể sinh viên, dưới sự quản lý của các cán bộ quản lý ký túc xá sinh viên trong những thời gian không lên lớp Sinh viên nội trú không được tự do như những sinh viên ngoại trú, họ phải chấp hành nội quy và những quy định của ký túc xá do nhà trường đề ra Ngược lại, họ được học tập và sinh hoạt trong một môi trường tập thể sinh viên có kỷ luật, khuyến khích nhau tự học, cùng nhau tự học và học hỏi, giúp

đỡ lẫn nhau trong khi tự học Hoạt động tự học của sinh viên nội trú là hoạt động dễ quan sát và hoàn toàn có thể tổ chức được

Vì vậy, đối tượng để quản lý hoạt động tự học trong đề tài này chỉ hạn chế trong sinh viên nội trú

Hoạt động tự học của sinh viên nội trú là hoạt động tự học theo hình thức tự học: hàng tuần có thời gian học thầy trên lớp và ở ký túc xá tự học theo hướng dẫn

Trang 15

1.2.4 Quản lý hoạt động tự học

1.2.4.1 Quản lý

Các Mác cho rằng: “Bất cứ nơi nào có lao động, ở đó có quản lí”, và

“Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người đọc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” Quản lí là “Nhằm thiết lập sự phối hợp những công việc giữa các cá nhân và thực hiện những chức năng chung nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ sở sản xuất, khác với

sự vận động của các bộ phận riêng lẻ của nó”

Kazlova O.V, Kuznhetsov I.N, những nhà nghiên cứu về quản lý ở Liên xô cũ cũng đã quan niệm “Quản lí là sự tác động có mục đích đến những tập thể con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất”

Harold Koontz, trong tác phẩm “Những vấn đề cốt lõi của quản lí” viết: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực

cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lí

là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất” Aphanaxev V.G, trong sách “Con người trong hệ thống quản lí” đã định nghĩa

“Quản lí con người là sự tác động con người đến con người thông qua quan

hệ quản lí (quan hệ con người với con người là quan hệ công việc) làm cho hành vi (hoạt động) của con người đáp ứng yêu cầu của xã hội, của tập thể đem lại lợi ích cho cá nhân, tập thể và xã hội, thúc đẩy sự phát triển cho cả cá nhân, tập thể và xã hội”

Các nhà nghiên cứu về quản lí ở Việt nam cũng đã đưa ra những quan niệm về quản lí

Giáo trình “Quản lí hành chính nhà nước,1996” của viện hành chính quốc gia đã viết “Hoạt động quản lí là một dạng lao động đặc biệt của người

Trang 16

lãnh đạo mang tính tổng hợp của các hoạt động trí óc liên kết các bộ máy quản lí thành một chỉnh thể thống nhất điều hoà, phối hợp các khâu, các cấp hoạt động nhịp nhàng để đưa đến hiệu quả cao”

Trong tác phẩm “Cơ sở khoa học quản lí”, NXB Chính trị Quốc gia Hà nội,1999, tác giả Nguyễn Minh Đạo định nghĩa: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lí (đối tượng) về mặt chính trị, văn hoá,

xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lí”

Giáo trình “Quản lí giáo dục”, NXB giáo dục, 2007, tác giả Bùi Văn

Quân định nghĩa: “Quản lí là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản

lí theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng tới đối tượng quản lí nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động”

Frederick Taylor (1856-1917), người đặt nền móng cho quản lí một cách khoa học đã kết luận rằng “ Quản lí là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội”

Từ những khái niệm về quản lí theo các góc độ khác nhau nêu trên,

chúng ta có thể định nghĩa chung như sau: Quản lí một đơn vị (cơ sở sản xuất,

cơ quan, trường học, địa phương, khoa, tổ bộ môn ) với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành

tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp, nhằm đạt được các mục tiêu đề ra một cách có chất lượng, hiệu quả

1.2.4.2 Quản lý giáo dục và quản lý dạy học

- Quản lý giáo dục

Hiện nay, định nghĩa quản lí giáo dục tuy chưa hoàn toàn thống nhất, nhưng đã có nhiều ý kiến cơ bản đồng nhất Người ta thường xem xét quản lí giáo dục theo hai góc độ: hệ thống giáo dục theo đặc trưng thứ bậc (toàn xã

Trang 17

hội, Bộ, Sở, Phòng, Trường), hệ thống giáo dục tồn tại có tính bản thể (quá trình sư phạm, cơ sở vật chất, thiết bị , các định hướng giáo dục: đường lối, chính sách , yếu tố con người: thầy, trò, cán bộ quản lí , quan hệ giữa con người là chủ thể quản lí, với con người là khách thể quản lí )

Theo M.I Kôndakôp, trong sách “Cơ sở lí luận của khoa học quản lí giáo dục” Hà nội, 1984 viết: “Tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu ) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và

mở rộng hệ thống cả về mặt chất lượng cũng như số lượng”

Ở Việt nan, Giáo sư Phạm Minh Hạc trong “Một số vấn đề về giáo dục

và khoa học giáo dục”, NXB Giáo dục, Hà nội, 1986, cho rằng: “quản lí nhà trường (quản lí giáo dục nói chung) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” và nhấn mạnh thêm:

“Quản lí nhà trường, quản lí giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học, tự học ,

có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường thì mới quản lí được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng được yêu cầu đó của nhân dân, của đất nước”

Trong tài liệu “ Những vấn đề quản lí nhà nước và quản lí giáo dục”,

Hà nội,1998, Trường Cán bộ quản lí Giáo dục- Đào tạo TƯ viết: “Quản lí giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” Cũng trong tài liệu này, Đặng Quốc Bảo viết: “ Quản lí giáo dục là quản lí một loại quá trình kinh tế- xã hội nhằm thực hiện đồng bộ, hài hoà sự phân hoá xã hội để tái sản xuất sức lao động có

kỹ thuật phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội” Cũng ở tài liệu trên,

trong chủ đề “ Quản lí nhà nước về giáo dục- đào tạo”, tác giả Nguyễn Thị

Mỹ Lộc định nghĩa: “Quản lí nhà nước trong giáo dục là việc nhà nước thực

Trang 18

hiện quyền lực công, được xã hội uỷ thác để điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục- đào tạo trong phạm vi toàn xã hội”

Tác giả Bùi Văn Quân cũng định nghĩa: “Quản lí giáo dục là một dạng của quản lí xã hội trong đó diễn ra quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết

vì sự ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các yêu cầu mà

xã hội đặt ra đối với giáo dục”

- Quản lí dạy học

Dạy học là khái niệm chỉ hoạt động chung của người dạy và người học, hai hoạt động này song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất Quá trình dạy học là bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục tổng thể, trong đó vai trò của nhà sư phạm là định hướng tổ chức, thực hiện việc truyền thụ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đến người học một cách hợp lí, khoa học

và có hệ thống, do đó nhà sư phạm có vai trò và tác dụng chủ đạo

Quản lí hoạt động dạy của giáo viên là quản lí nội dung, chương trình, phương pháp dạy học thông qua qui chế chuyên môn, thông qua việc chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học, thông qua kiểm tra, đánh giá

Quản lí hoạt động học của học sinh là quản lí quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, hướng học sinh vào những nội dung trọng tâm của môn học, của từng bài với phương pháp học tập cá nhân phù hợp, đạt hiệu quả cao nhất

Như vậy: Quản lí hoạt động dạy học là quản lí nội dung chương trình theo mục tiêu của nhà trường, quản lí quá trình truyền thụ kiến thức của giáo viên, quản lí việc thực hiện chương trình dạy học và quản lí sự lĩnh hội kiến thức của học sinh

1.2.4.3 Quản lý hoạt động tự học

Tự học là một hoạt động do bản thân mỗi người nhận thức được sự cần thiết của nó đối với quá trình học tập cũng như cuộc sống của mình Vì

Trang 19

thế, người ta thường cho rằng tự học thì không phải quản lý Tuy nhiên, thực

tế cho thấy, đối với bất cứ hoạt động nào, dù sự cố gắng của bản thân tốt đến đâu nhưng khi có thêm sự hỗ trợ, tác động tích cực từ bên ngoài thì kết quả đạt được sẽ tốt hơn nhiều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Cách học tập… lấy tự học làm cốt Có thảo luận và chỉ đạo giúp vào” Thảo luận là sự hợp tác giữa những người cùng tự học, còn chỉ đạo là một trong những chức năng quan trọng của quản lý

Như chúng ta đã biết, tự học là hoạt động học tập của sinh viên ngoài giờ lên lớp của các thầy cô giáo nhằm nắm vững kiến thức, mở rộng tri thức

Nó mang tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân Mặc dù kết quả tự học phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố tự giác, tích cực và phương pháp học tập của sinh viên, nhưng nó cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi những yếu tố bên ngoài Vì vậy, muốn cho hoạt động tự học của sinh viên đạt kết quả tốt thì phải coi trọng vai trò của quản lý hoạt động tự học của sinh viên

1.2.5 Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên

Hoạt động tự học là hoạt động mang nhiều tính tự lực, cá nhân của chủ thể tự học Việc quản lý hoạt động tự học cần có những biện pháp thật phù hợp để hoạt động đó đạt hiệu quả Để hiểu được khái niệm biện pháp quản lý hoạt động tự học thì trước hết chúng ta tiếp cận khái niệm biện pháp quản lý

Biện pháp quản lý là những cách thức cụ thể để thực hiện các phương pháp quản lý Vì đối tượng quản lý rất phức tạp nên đòi hỏi các biện pháp quản lý phải đa dạng, phong phú, linh hoạt, phù hợp với đối tượng quản lý

Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên là những cách thức, cách giải quyết những vấn đề của hoạt động tự học mà chủ thể quản lý chịu trách nhiệm chỉ đạo tổ chức thực hiện

Theo đó, biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú là những cách thức, cách giải quyết mà nhà quản lý sử dụng để quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong ký túc xá nhằm giúp cho sinh viên tự học đạt kết quả cao

Trang 20

1.3 Hoạt động dạy học ngoại ngữ ở các trường Cao đẳng chuyên nghiệp

Ngoại ngữ là ngôn ngữ của một dân tộc ở nước ngoài, nói gọn là tiếng

nước ngoài

Dạy học ngoại ngữ là một hoạt động truyền thụ và lĩnh hội thứ tiếng nước ngoài một cách có mục đích, chương trình, nội dung, phương pháp, kế hoạch, biện pháp tổ chức rõ ràng nhằm hình thành ở người học khả năng hiểu biết, thu nhận, tái tạo và sử dụng ngôn ngữ được học đạt mục tiêu đã định

1.3.1 Mục tiêu dạy học ngoại ngữ

Mục tiêu dạy học ngoại ngữ (Tiếng Anh ) ở các trường Cao đẳng chuyên nghiệp là hình thành, phát triển ở người học (sinh viên) những kiến thức, kỹ năng cơ bản về tiếng nước ngoài được học, nhằm góp phần phát triển học vấn cần thiết để có thể tiếp tục học lên, hoặc ra trường công tác

Nêu một cách cụ thể hơn, quá trình dạy học ngoại ngữ nhằm truyền thụ cho sinh viên nắm vững những kiến thức cơ bản tối thiểu, tương đối có hệ thống cùng những kĩ năng nghe- nói - đọc - viết về tiếng nước ngoài được học

và sử dụng như một công cụ giao tiếp Sau khi hoàn thành chương trình, sinh viên phải sử dụng được ngôn ngữ đó để đọc hiểu các sách báo khoa học thưởng thức, các tài liệu tham khảo phù hợp với trình độ học vấn và ngành nghề công tác, đồng thời có thể giao tiếp trực tiếp với người nước ngoài về các vấn đề sinh hoạt đơn giản hàng ngày, sử dụng được một số thuật ngữ chuyên ngành theo chuyên môn được đào tạo nhằm góp phần hỗ trợ cho việc học tập các môn học khác, phát triển trí tuệ cần thiết để tiếp tục học tiếp hoặc

đi vào

cuộc sống lao động, công tác

1.3.2 Nội dung dạy học ngoại ngữ

Tri thức ngoại ngữ cung cấp cho sinh viên (người học) là những nội dung khoa học cơ bản, tối thiểu về ngoại ngữ được học, giúp họ nhận thức và

có thể vận dụng chủ động, tự giác tiếng nước ngoài được học như một “công

cụ giao tiếp” Đồng thời, việc dạy học ngoại ngữ còn kết hợp giới thiệu cho người học những kiến thức văn hoá nền tảng của dân tộc có ngôn ngữ mà sinh

Trang 21

viên đang học, giúp họ hiểu thêm về đất nước, con người ấy; Từ đó tăng thêm hứng thú học tập, thu nạp và làm giầu thêm vốn giá trị văn hoá của người học

Ở trường Cao đẳng Công nghiệp, với đặc điểm là đào tạo chuyên ngành, sinh viên được học thêm về những thuật ngữ về chuyên môn, để họ có thể đọc hiểu, tham khảo những tài liệu chuyên môn xuất bản bằng tiếng nước ngoài thuộc chuyên ngành đang học

Những kĩ năng cơ bản trong dạy học ngoại ngữ

Nội dung dạy học ngoại ngữ bao gồm kĩ năng giao tiếp ngoại ngữ với

4 dạng hoạt động giao tiếp cơ bản: Nghe, Nói, Đọc, Viết

 Kỹ năng nghe được hiểu là người nghe tiếp nhận thông tin của người nói thông qua thính giác của mình để hiểu nội dung thông báo, thông tin đó Trong quá trình giao tiếp bằng dạng thức “nói- nghe”, người nói

sử dụng bộ máy phát âm của mình để tạo thông báo, thông tin gồm những từ, ngữ, câu tạo thành

 Kỹ năng nói được hiểu là người học ngoại ngữ dùng âm thanh tiếng nói

để chuyển tải mội dung một thông báo, thông tin của mình tới người nghe có cùng một tín hiệu “ âm thanh ngôn ngữ” trong hoạt động giao tiếp

 Kỹ năng đọc được hiểu là người đọc sử dụng khả năng thị giác nhìn vào bản ghi “thông báo, thông tin”, đồng thời phát ra thành âm thanh ngôn ngữ tương ứng với từ, ngữ, câu có trên văn bản, ngoại trừ hình thức

“đọc thầm”

 Kỹ năng viết được hiểu là chữ viết trên giấy, trên bảng ghi ra nội dung muốn biểu đạt, muốn nói đã được sắp xếp thông qua cách dùng

từ, đặt câu theo mục đích giao tiếp

Bốn kĩ năng nêu trên đều được hình thành trên cơ sở hiểu nội dung thông báo, thông tin Người đọc cũng như người nghe đều là người tiếp nhận thông báo, thông tin từ phía người viết hoặc người nói

Trang 22

Mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa bốn kĩ năng nghe- nói- đọc- viết được tóm tắt theo hình 1.1 dưới đây:

Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa những kỹ năng cơ bản

trong học ngoại ngữ

Kỹ năng nói và kỹ năng nghe có quan hệ hai chiều hữu cơ với nhau, tạo

ra quá trình giao tiếp thực hiện

Kỹ năng nói và kỹ năng viết cũng có quan hệ hai chiều, hữu cơ với nhau, vì người nói và người viết đều là những người phát ra thông báo, thông tin trong hoạt động giao tiếp

Kỹ năng nói, kỹ năng nghe, kỹ năng viết có quan hệ tích cực lẫn nhau

Kỹ năng viết với kỹ năng đọc có quan hệ một chiều, tạo ra sự giao tiếp thuộc về nhận thức

1.3.3 Đặc điểm của hoạt động dạy ngoại ngữ

- Trong hoạt động dạy tiếng nước ngoài, người dạy truyền thụ thứ ngoại ngữ là ngôn ngữ vốn có sẵn, đã và đang được dân tộc đó sử dụng Điều này khác với hoạt động nghiên cứu khoa học hay hoạt động sáng tạo nghệ thuật

- Hoạt động dạy ngoại ngữ là truyền thụ tiếng nước ngoài đó không phải để cho bản thân người dạy, mà là để tổ chức quá trình này cho hoạt động học- tự học ngoại ngữ của học sinh Nói cách khác, hoạt động dạy ngoại ngữ của giáo viên tạo ra nội dung cho hoạt động học- tự học của học sinh; còn hoạt động học- tự học ngoại ngữ của học sinh là điều kiện duy trì hoạt động dạy ngoại ngữ của giáo viên

NÓI

ĐỌC NGHE

VIẾT

Trang 23

1.4 Quản lí tự học ngoại ngữ của sinh viên các trường Cao đẳng chuyên nghiệp

1.4.1 Nhiệm vụ chức năng của khoa - bộ môn ngoại ngữ trong trường Cao đẳng chuyên nghiệp

- Tổ chức thực hiện quá trình đào tạo, quá trình dạy học ngoại ngữ và các hoạt động giáo dục khác được nhà trường phân công

- Chịu trách nhiệm về nội dung, chất lượng, tiến độ dạy học môn ngoại ngữ theo kế hoạch giảng dậy của nhà trường Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên

- Tổ chức biên soạn chương trình môn học cụ thể, giáo trình- tài liệu dạy học ngoại ngữ (do Hiệu trưởng phân nhiệm) theo chương trình khung và hướng dẫn của Bộ Giáo dục- Đào tạo

- Tổ chức nghiên cứu, cải tiến phương pháp dạy học ngoại ngữ, đề xuất xây dựng kế hoạch bổ sung, khai thác hiệu quả và bảo trì thiết bị dạy học, thực hành, thực tập, thực nghiệm khoa học phục vụ việc dạy học ngoại ngữ

- Quản lí giảng viên, cán bộ - nhân viên, sinh viên theo phân cấp của Hiệu trưởng Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên, cán bộ- nhân viên; Triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ do nhà trường phân công

- Liên hệ phối hợp chặt chẽ với các phòng, khoa khác trong trường, nhằm thực hiện tốt công tác quản lí hoạt động tự học của sinh viên

Quản lí nhà trường, quản lí khoa- bộ môn thực chất là quản lí quá trình dạy học, vì thế phải chú trọng vào hai hoạt động cơ bản này là hoạt động Dạy của thầy và hoạt động Học của trò

1.4.2 Đặc điểm hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cao đẳng

Cũng như hoạt động dạy học nói chung, hoạt động dạy học ngoại ngữ bao gồm hai hoạt động thống nhất hữu cơ gắn bó, qui định lẫn nhau trong cùng một hoạt động: Hoạt động dạy ngoại ngữ và hoạt động học- tự học ngoại

ngữ

Trang 24

- Tiếng nước ngoài cần học là đối tượng của hoạt động học ngoại ngữ

- Hoạt động học ngoại ngữ hướng vào làm biến đổi chính chủ thể (người học) của hoạt động này

- Hoạt động học ngoại ngữ trong nhà trường khác với học ngoại ngữ diễn ra trong đời sống thường ngày có tính tự phát như trẻ em học tiếng mẹ

đẻ Hoạt động học ngoại ngữ trong nhà trường mang tính tự giác, có mục đích, có kế hoạch, chương trình- nội dung, biện pháp tổ chức rõ ràng Bản chất việc học nói chung, học ngoại ngữ nói riêng được hiểu là sự biến đổi- biến đổi từ chỗ “không có đến chỗ có”, hoặc từ chỗ “có ít đến chỗ có nhiều hơn” Đó chính là sự biến đổi về khả năng hiểu biết, thu nhận, tái tạo, và sử dụng được tiếng nước ngoài đó như một công cụ giao tiếp

- Hoạt động học ngoại ngữ theo cơ chế lĩnh hội, tái tạo chứ không phải

cơ chế sáng tạo phát minh như các hoạt động khác Tiếng nước ngoài cần học, không được người học đồng hoá tạo ra cái mới về phương pháp phản ánh, khái quát hiện thực và thông báo để cho chính bản thân người học chứ không phải cho ai khác Học tiếng nước ngoài là tiếp thu, lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và việc sử dụng tương ứng với ngôn ngữ đó

1.4.3 Quản lí hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên

1.4.3.1 Mục tiêu và nội dung quản lý

Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng học tập của sinh viên và đạt được nhiệm vụ của hoạt động dạy học đề ra Vì vậy, nội dung quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú bao gồm những nội dung chính sau đây:

- Xây dựng động cơ tự học cho sinh viên

Mọi hoạt động của con người đều có mục đích, có động cơ Động cơ

là nhân tố thúc đẩy, định hướng và duy trì hành vi của con người Hoạt động học tập của sinh viên cũng như các hoạt động khác sẽ diễn ra hiệu quả hơn nếu sinh viên có thái độ đúng đắn, động cơ rõ ràng, tích cực, có nhu cầu lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

Trang 25

Thuyết “nhu cầu” của A Maslow đã xếp bặc thang nhu cầu như sau: nhu cầu sinh học – cơ bản, nhu cầu về sự an toàn, nhu cầu về sự được thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được thể hiện Nhu cầu là một trong những nguồn gốc sinh ra động cơ Từ đó, động cơ tự học của sinh viên cũng

có những thứ bậc khác nhau như: nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ học tập,

tự khẳng định mình, cơ hội có việc làm và công danh sự nghiệp, hoặc là học

để biết, học vì hứng thú, học vì lòng khát khao tri thức

Động cơ tự học tích cực sẽ tạo nên hứng thú, niềm tin của sinh viên trong quá trình tự học Động cơ tự học chịu tác động của những người xung quanh như giảng viên, bạn bè, và những điều kiện thực tiễn của nhà trường, nhưng bản thân mỗi người là yếu tố quyết định

Động cơ là tiền đề, là điều kiện cho hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên Phải xây dựng cho sinh viên động cơ tự học tích cực, mong muốn trở thành người có khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ, mong muốn tạo ra được những sản phẩm nghề nghiệp có giá trị và có nguyện vọng phát triển tri thức và kỹ năng nghề nghiệp của mình đáp ứng được với các yêu cầu của sự phát triển nghề nghiệp trong xã hội hiện đại Đây là nội dung cơ bản, rất quan trọng của công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên

- Quản lý kế hoạch tự học của sinh viên

Quản lý kế hoạch tự học của sinh viên bao gồm quản lý việc lập kế hoạch và việc thực hiện kế hoạch đó

Kế hoạch tự học là bảng phân phối nội dung tự học theo thời gian một cách hợp lý, phù hợp với phương pháp tự học từng nội dung môn học, dựa trên yêu cầu, mục tiêu đào tạo của từng môn học, nhiệm vụ tự học trong từng giai đoạn cụ thể, khả năng tự học của bản thân và các điều kiện được đảm bảo thực tế để tiến hành việc tự học

Kế hoạch tự học càng rõ ràng bao nhiêu thì càng giúp cho sinh viên thực hiện nhiệm vụ tự học một cách khoa học và hiệu quả bấy nhiêu Kế hoạch tự học của sinh viên còn giúp cho giảng viên và cán bộ quản lý có cơ sở

Trang 26

để kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ tự học của sinh viên, từ đó, đưa việc xây dựng kế hoạch tự học của sinh viên vào nề nếp

Việc xây dựng kế hoạch tự học phải do chính bản thân sinh viên thực hiện nhằm đảm bảo phù hợp với quỹ thời gian và khả năng của sinh viên

Do đặc thù của hoạt động tự học ngoại ngữ là cần đến sự hỗ trợ của trang thiết bị và tài liệu học tập đặc trưng nên việc lập kế hoạch tự học của sinh viên lại càng cần thiết, giúp cho nhà trường có thể lên lịch bố trí địa điểm cũng như đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất khác cho hoạt động tự học của sinh viên Đồng thời, nếu phát hiện có sự chồng chéo của các kế hoạch thì các giảng viên có thể cùng với sinh viên điều chỉnh lại những điểm chưa hợp

- Quản lý nội dung tự học

Nhằm mục đích hướng cho nội dung tự học của sinh viên phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đào tạo, mục tiêu và yêu cầu của môn học, bài học, đảm bảo tính hiện thực và có hiệu quả cao, giảng viên phải hướng dẫn nội dung tự học cho sinh viên Nội dung tự học bao gồm:

+ Nội dung tự học mang tính bắt buộc do giảng viên yêu cầu để nắm vững tri thức Nội dung này đối với môn ngoại ngữ chủ yếu là làm các bài tập thực hành

+ Nội dung tự học xuất phát từ gợi ý, định hướng của giảng viên căn

cứ vào yêu cầu môn học và khả năng của từng sinh viên Đây là quá trình phát hiện và tạo điều kiện bồi dưỡng năng khiếu ngoại ngữ cho sinh viên

+ Nội dung tự học do sinh viên tự chọn xuất phát từ nhu cầu muốn hiểu biết thêm, muốn mở rộng tri thức từ các vấn đề trong nội dung bài học, môn học trong chương trình học Đây là nội dung quan trọng nhất đối với môn học, giúp cho sinh viên tìm tòi sáng tạo, rèn luyện nâng cao và thể hiện kỹ năng ngoại ngữ của mình

- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học

Vấn đề kiểm tra, đánh giá trong tổ chức hoạt động tự học của sinh viên là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của việc tự học nói riêng

Trang 27

và việc học tập nói chung Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học bao gồm:

+ Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của sinh viên

+ Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học theo mục tiêu, yêu cầu của nhiệm vụ tự học, phát hiện sai lệch, giúp sinh viên điều chỉnh hoạt động tự học

+ Quản lý việc tổ chức thi, đánh giá kết quả học tập của sinh viên Việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của sinh viên còn có hoạt động phát hiện, lựa chọn những sáng tác của sinh viên trong quá trình tự học để giới thiệu cho các sinh viên học tập lẫn nhau

- Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học của sinh viên

Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, nguồn học liệu có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến hiệu quả tự học môn tiếng Anh của sinh viên Các điều kiện về cơ sở vật chất cần đảm bảo để phục vụ cho hoạt động tự học của sinh viên phải được khai thác và quản lý để tăng cường hiệu quả của chúng

1.5 Phương pháp và biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên

Từ những nội dung cần quản lý đã nêu ở trên đối với hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên nội trú, chúng ta cần có những biện pháp quản lý phù hợp để hoạt động đó đạt hiệu quả cao Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú bao gồm:

- Nâng cao nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng đặc biệt của việc tự học đối với kết quả học tập ngoại ngữ

- Xây dựng động cơ tích cực tự học ngoại ngữ cho sinh viên, giúp sinh viên có niềm hứng thú, sự tự tin và đam mê trong tự học

- Xây dựng nội quy, quy định về hoạt động tự học nói chung và hoạt động tự học ngoại ngữ nói riêng của sinh viên nội trú

- Giúp sinh viên xây dựng kế hoạch tự học ngoại ngữ và đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất để thực hiện kế hoạch

- Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả tự học ngoại ngữ của sinh viên

Kết luân chương 1

Trang 28

Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nói chung, sinh viên nội trú nói riêng là những cách thức, cách giải quyết mà nhà quản lý sử dụng

để quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong ký túc xá nhằm giúp cho sinh viên tự học đạt kết quả cao

Quản lý tự học ngoại ngữ cho sinh viên bao gồm nhiều nội dung, từ việc quản lý kế hoạch, nội dung tự học của sinh viên đến quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của họ Các nội dung nói trên được quản lý thông qua các biện pháp cụ thể như:

- Nâng cao nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng đặc biệt của việc tự học đối với kết quả học tập ngoại ngữ

- Xây dựng động cơ tích cực tự học ngoại ngữ cho sinh viên, giúp sinh viên có niềm hứng thú, sự tự tin và đam mê trong tự học

- Xây dựng nội quy, quy định về hoạt động tự học nói chung và hoạt động tự học ngoại ngữ nói riêng của sinh viên nội trú

- Giúp sinh viên xây dựng kế hoạch tự học ngoại ngữ và đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất để thực hiện kế hoạch

- Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả tự học ngoại ngữ của sinh viên

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC NGOẠI NGỮ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG

NGHIỆP NAM ĐỊNH 2.1 Đặc điểm về hoạt động giáo dục và đào tạo ở trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định

2.1.1 Khái quát quá trình xây dựng và phát triển của trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định

Trường CĐCN Nam Định tiền thân là trường Trung cấp Kỹ thuật III được thành lập từ năm 1956 tại thành phố Nam Định Năm 1965 khi đế quốc

Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, trường được chia tách thành 3 trường, trường Trung cấp Kỹ thuật Công nghiệp nhẹ (Nay là trường CĐCN Nam Định) được sơ tán lên Hà Bắc Sau 25 năm thực hiện nhiệm vụ đào tạo tại

Trang 29

huyện Yên Dũng- Tỉnh Hà Bắc, đến tháng 01 năm 1990 trường đã hoàn thành nhiệm vụ di chuyển từ Hà Bắc về ngoại thành thành phố Nam Định địa điểm mới của trường hiện nay Trải qua 50 năm phấn đấu, lớn lên cùng tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, theo từng giai đoạn lịch sử của dân tộc và nhu cầu đòi hỏi về nguồn nhân lực của ngành công nghiệp, nhà trường cũng có nhiều thay đổi và không ngừng phát triển Từ trường Trung cấp đến năm 1984 trường đổi tên thành Trường Công nhân Kỹ thuật Cơ điện I; Năm 1993 trường đổi tên thành Trường Kỹ nghệ Thực hành Công nghiệp nhẹ Nam Định; Tháng 6 năm 1997 trường được đổi tên là trường Trung học Công nghiệp II Đến ngày 30 tháng 3 năm 2005 trường được Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ký Quyết định thành lập trường CĐCN Nam Định trên cơ sở trường Trung học Công nghiệp II

Trong 50 năm xây dựng và phát triển, tập thể lãnh đạo, cán bộ, giáo viên, công nhân viên cùng các thế hệ học sinh, sinh viên luôn quyết tâm tổ chức tốt phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, nhân rộng các điển hình tiên tiến xuất sắc, nhằm phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo của Đảng và Nhà nước giao cho Trường đã đào tạo được 38 ngàn cán bộ kỹ thuật viên trung học, công nhân kỹ thuật lành nghề và công nhân kỹ thuật bậc cao có đủ phẩm chất và năng lực đang phục vụ ở các địa phương, các nhà máy, xí nghiệp thuộc ngành công nghiệp và các thành phần kinh tế trong cả nước Rất nhiều học sinh của nhà trường đã phấn đấu trở thành kỹ thuật viên giỏi, những cán bộ quản lí, cán bộ lãnh đạo chủ chốt, công nhân kỹ thuật bậc cao có uy tín

và giữ những vị trí quan trọng trong các cơ sở sản xuất Để ghi nhận sự đóng góp của nhà trường đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong 50 năm qua trường được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý

Nhiệm vụ chủ yếu của Trường hiện nay là:

- Đào tạo hệ Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và Công nhân kỹ thuật các ngành nghề: Cơ khí, Điện Dân dụng, Tự động hóa, Điện tử, Kinh tế,

Trang 30

Tin học, May công nghiệp, Công nghệ vỏ tàu, phục vụ sản xuất kinh doanh của các ngành công nghiệp, các tổ chức kinh tế và xã hội có nhu cầu

- Bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ kỹ thuật cơ điện và quản lí điều hành của các xí nghiệp, tổ chức bồi dưỡng, kiểm tra nâng bậc cho công nhân cơ điện theo kế hoạch và yêu cầu của các Xí nghiệp, Công ty, Tổng Công ty

- Hợp tác, liên kết với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và sản xuất kinh doanh để thực hiện đa dạng hoá các loại hình đào tạo, tổ chức lao động sản xuất, dịch vụ gắn với đào tạo và nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ nhằm khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực trình

độ đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên của Nhà trường

Hiện nay trường có:

- Cán bộ công nhân viên tổng số: 171 người (Trong đó nữ 82)

Giáo viên giảng dạy 152 người, Đảng bộ có 51 Đảng viên

- Học sinh, sinh viên:

Tổng số học sinh, sinh viên toàn trường là: 4614 trong đó:

+ Hệ Đại học Tại chức: 157 sinh viên

+ Hệ Cao đẳng: 628sinh viên (tại trường 553 sinh viên)

+ Hệ TCCN : 1766 học sinh ( Tại trường 1544 học sinh)

+ Hệ CNKT : 1494 học sinh ( Tại trường 1392 học sinh)

- Cơ cấu ngành nghề:

+ Hệ Cao đẳng: Đào tạo các ngành: Công nghệ Điện tử, Công nghệ may, Tin học và Kế toán doanh nghiệp, Công nghệ kỹ thuật cơ khí, Công nghệ kỹ thuật điện và Quản trị Doanh nghiệp Địa điểm đào tạo tại trường và địa điểm liên kết đào tạo tại Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (ngành Kế toán doanh nghiệp)

Trang 31

+ Hệ THCN: Các ngành đào tạo: Điện tử, Điện tự động hoá xí nghiệp công nghiệp, Công nghệ may, Cơ khí , Công nghệ đóng tàu và Kế toán Doanh nghiệp Địa điểm đào tạo tại trường và các địa điểm liên kết đào tạo tại Bắc Giang; Hải Phòng và Hà Nội

+ Hệ CNKT: Các nghề đào tạo: Sửa chữa điện công nghiệp và dân

dụng, May công nghiệp và Cơ khí (nghề Gò – Hàn, Tiện, Sửa chữa thiết bị may, Sửa chữa ô tô - máy nổ, Nguội sửa chữa – Lắp ráp ) Địa điểm đào tạo tại trường và địa điểm liên kết đào tạo tại Hà Nội

+ Hệ văn hoá - nghề: Liên kết với Trung tâm Giáo dục thường xuyên thành phố Nam Định Số lượng: 337 học sinh

+ Hệ dạy nghề ngắn hạn: 232 học sinh Các nghề đào tạo: Sửa chữa điện công nghiệp và dân dụng , May công nghiệp và Cơ khí (nghề Gò – Hàn, Tiện, Sửa chữa thiết bị may, Nguội sửa chữa – Lắp ráp ) Địa điểm đào tạo tại trường và tại Trung tâm đào tạo ở các huyện, tỉnh Nam Định

2.1.2 Bộ máy tổ chức hoạt động của trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định

- Ban giám hiệu: Hiệu trưởng và 2 hiệu phó

+ Phòng công tác học sinh – sinh viên

+ Trung tâm Tuyển sinh & Giới thiệu việc làm

Trang 32

+ Khoa: Khoa học Cơ bản & kỹ thuật cơ sở

+ Khoa Công nghệ may & Thời trang

+ Khoa Điện - Điện tử

+ Khoa Cơ khí & Thiết bị áp lực

+ Khoa Công nghệ thông tin

- Hoàn thiện các ngành đào tạo mới, xây dựng chương trình, đề cương môn học, đề cương bài giảng, đổi mới nội dung và phương pháp dạy học; xây dựng đội ngũ giảng viên đồng bộ đủ về số lượng, mạnh về chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu về qui mô phát triển và chất lượng đào tạo của nhà trường

- Giữ vững sự ổn định và phát triển nhà trường, đổi mới phương thức hoạt động, đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực quản lí của chính quyền, phát huy vai trò của quần chúng, đặc biệt là thực hiện tốt qui chế dân chủ trong nhà trường

- Từng bước mở rộng qui mô đào tạo hợp lí đáp ứng yêu cầu của xã hội

và phù hợp với năng lực của nhà trường

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học, mở rộng quan

hệ với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu trong và ngoài nước

2.1.4 Một số nét cơ bản về đội ngũ giáo viên giảng dạy môn ngoại ngữ trường Cao đẳng Công nghiệp Nam định

Trang 33

Tổ môn ngoại ngữ được thành lập năm 2005 thuộc khoa: Khoa học Cơ bản và Kỹ thuật Cơ sở Bộ môn gồm có 6 giảng viên ngoại ngữ, nhiệm vụ chính của bộ môn là giảng dạy ngoại ngữ cho sinh viên toàn trường, tham gia nghiên cứu khoa học Từ khi thành lập tổ môn tới nay, tổ môn luôn đạt danh hiệu Tổ Lao động xuất sắc, từ những thành tích đã đạt được các giảng viên của tổ môn ngoại ngữ cũng có những đóng góp nhất định vào thành tích chung của cả khoa như hăng hái tham gia vào phong trào đổi mới phương pháp giảng dạy, tổ chức câu lạc bộ tiếng Anh để tạo ra môi trường ngôn ngữ giúp sinh viên hứng thú hơn trong học tập ngoại ngữ- môn học vốn ít được sinh viên đầu tư nhiều thời gian Để làm được điều đó, các giảng viên ngoại ngữ đã liên tục phấn đấu trau dồi trình độ chuyên môn- nghiệp vụ, tự hoàn thiện mình

Trong số 6 giảng viên ngoại ngữ có 5 giảng viên là cử nhân Anh văn và một giảng viên là cử nhân tiếng Trung; Trong đó có một giảng viên đang theo học cao học quản lí Các giảng viên đều có năng lực chuyên môn, có kinh nghiệm trong giảng dạy và tâm huyết với nghề: 01 giảng viên đã kinh qua giảng dạy trên 20 năm, 03giảng viên trên 5 năm, 01 giảng viên dưới 5 năm và

01 giảng viên đang trong thời gian trợ giảng Nhiều năm qua trong phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt”, các giảng viên đều hăng hái tham gia và đạt danh hiệu “Giảng viên dạy giỏi cấp trường”

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lí hoạt động dạy học tiếng Anh ở trường Cao đẳng Công nghiệp Nam định

2.2.1 Kết quả trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lí, giảng viên dạy ngoại ngữ và sinh viên về hoạt động dạy và học ngoại ngữ

Chúng tôi tiến hành lấy ý kiến của 20 cán bộ quản lí và giảng viên tiếng Anh về điều kiện dạy và học tiếng Anh của trường Kết quả trưng cầu ý kiến được thể hiện qua số liệu bảng 2.1

Bảng 2.1: Ý kiến của cán bộ quản lí và giảng viên tiếng Anh về điều kiện dạy và học môn tiếng Anh ở trường Cao đẳng Công nghiệp Nam định

Trang 34

tiếng Anh của

sinh viên khi

vào trường

Số ý kiến

Hứng thú Bình thường Không hứng

thú

Số ý kiến

% Số ý kiến

% Số ý kiến

Chưa giao tiếp được

Đọc được tài liệu

Số ý kiến

% Số ý kiến

% Số ý kiến

Trang 35

% Số ý kiến

% Sè ý kiÕn

CÇn thiÕt B×nh th-êng Kh«ng cÇn

thiÕt

Sè ý kiÕn

% Sè ý kiÕn

% Sè ý kiÕn

% Sè ý kiÕn

% Số ý kiến

% Số ý kiến

Trang 36

Số ý kiến

% Số ý kiến

Phần lớn sinh viên chưa thực sự hứng thú với môn học, chiếm 65% Chỉ có 25% sinh viên thích học tiếng Anh, thường gặp ở những sinh viên này học tốt ở phổ thông Điều này cũng gây không ít trở ngại cho giáo viên trong quá trình giảng dạy vì khi các em chưa có hứng thú với môn học, sẽ rất khó tạo ra động lực thúc đẩy quá trình tiếp thu kiến thức cũng như hoạt động tự học của các em Mặt khác, từ kết quả điều tra cũng cho thấy giáo viên chưa tạo được hứng thú, chưa lôi cuốn, hấp dẫn sinh viên trong quá trình giảng dạy

để các em có ý thức tự học để vươn lên

Trong giảng dạy ngoại ngữ, số lượng sinh viên trong một lớp học ảnh hưởng rất nhiều đến việc giảng dạy của giáo viên cũng như việc học tập ở trên lớp của sinh viên Thực tế cho thấy số sinh viên trong một lớp học thường quá đông (hơn 50 sv/ 1 lớp) hoặc đông (40- 50sv/1 lớp) Do lớp học đông, giáo

Trang 37

viên rất khó khăn trong việc tổ chức, quản lí điều khiển lớp cũng như lôi cuốn sinh viên vào bài giảng Thời gian dành cho việc luyện tập, rèn các kĩ năng cũng bị hạn chế

Đánh giá về khả năng sử dụng ngoại ngữ của sinh viên sau khi học xong chương trình tiếng Anh ở trường Cao đẳng Công nghiệp sẽ giúp cho giáo viên đối chiếu với mục tiêu đề ra, từ đó điều chỉnh cách phân bố thời gian nhằm rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên mà mục tiêu đạt tới Số sinh viên giao tiếp được chỉ chiếm 35%, như vậy giáo viên cần phải dành nhiều thời gian hơn cho vệc rèn luyện và phát triển kĩ năng nói của người học

Có 25% ý kiến cho rằng sinh viên có khả năng đọc được tài liệu, qua đó cho thấy kĩ năng này của sinh viên còn yếu, do khối lượng từ vựng hạn chế (thực

tế sinh viên thường giành rất ít thời gian cho việc chuẩn bị bài mới và học từ mới)

85% giảng viên cho rằng chương trình học ngoại ngữ cho sinh viên hệ Cao đẳng như hiện nay là vừa sức Điều này tạo thuận lợi cho giáo viên trong quá trình giảng dạy Giáo viên có thể chuyển tải những nội dung cần thiết cho người học phù hợp với khả năng tiếp thu của họ

Tài liệu, giáo trình để giảng dạy và học tập đóng vai trò quan trọng trong kết quả học tập của sinh viên, 50% ý kiến cho rằng giáo trình đang sử dụng khá phù hợp, 45% cho là phù hợp với trình độ và ngành nghề của sinh viên Đây là một thuận lợi của giáo viên vì nếu giáo trình khó hoặc quá dễ đều không đạt mục tiêu môn học đề ra, gây khó khăn trong quá trình giảng dạy Sách tham khảo tạo điều kiện cho sinh viên tự học mở rộng kiến thức chuyên môn, bổ sung kiến thức cho các bài học thêm sinh động Trường đã có một số sách , tài liệu tiếng Anh song chưa nhiều, nhất là sách, tài liệu chuyên ngành còn hạn chế Trong tương lai, khi trường mở thêm một số ngành đào tạo mới, viêc bổ sung và cập nhật giáo trình, tài liệu là hết sức cần thiết 70%

ý kiến cho rằng sách tham khảo còn ít cần bổ sung thêm

Trang 38

Các hoạt động ngoại khoá trong khi học ngoại ngữ giúp sinh viên có cơ hội thực hành những kiến thức mà mình tiếp thu được trong môi trường ngôn ngữ, khắc sâu tri thức Thông qua đoàn thanh niên thường xuyên tổ chức câu lạc bộ tiếng Anh tạo cơ hội cho sinh viên giao lưu giữa các lớp, các khoá học, các trường bạn với nhau giúp họ tự tin hơn và cũng học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong việc học ngoại ngữ 90% ý kiến giáo viên cho là cần thiết và rất cần thiết tổ chức các hoạt động ngoại khoá cho sinh viên Mặt khác, các hoạt động ngoại khoá thường dễ lôi cuốn các em tham gia và cũng tạo niềm vui cho các em nhiều hơn những giờ học ngoại ngữ trên lớp

Ngày nay xu hướng sử dụng phương tiện kỹ thuật, thiết bị hiện đại vào giảng dạy ngoại ngữ ngày càng phổ biến, đòi hỏi người giáo viên phải biết sử dụng thành thạo các thiết bị dạy học hiện đại Nhà trường đã trang bị cho tổ môn ngoại ngữ một phòng học tiếng tương đối hiện đại Tuy nhiên, các giáo viên chưa khai thác triệt để phòng học này vì số lượng cabin không đáp ứng

đủ cho một lớp học bình thường, nếu chia lớp học theo ca thì sẽ không đủ thời gian theo kịp tiến độ giảng dạy

Số giờ phân bố cho một chương trình học: 150 tiết/ 1 chương trình (theo qui định mới của Bộ Giáo dục đào tạo) 90% ý kiến cho rằng số giờ phân bố cho một chương trình học là ít (so với 210 tiết/ 1 chương trình trước đây với khối lượng kiến thức tương đương) Từ năm 2004 trường và tổ môn ngoại ngữ đã thay đổi giáo trình giảng dạy ngoại ngữ cập nhật hơn Trong giáo trình mới, khối lượng bài nghe hiểu nhiều hơn, nhưng do thời gian bị rút ngắn, nên các giáo viên thường rút bớt phần luyện nghe cho sinh viên Rèn luyện và phát triển kĩ năng nghe hiểu cho sinh viên vốn rất khó trong khi học ngoại ngữ Việc rút bớt thời gian dành cho luyện tập kĩ năng nghe dẫn đến kĩ năng này dần bị coi nhẹ Đây cũng là vấn đề mà tổ môn ngoại ngữ cần xem xét lại để cân đối thời lượng dành cho việc luyện các kĩ năng sao cho phù hợp hơn, đảm bảo phát triển đồng thời cả bốn kĩ năng ở người học

Trang 39

40% ý kiến cho rằng số giờ phân công đảm nhiệm của một giáo viên/ 1 năm là nhiều, 60% cho là hợp lí Điều này thể hiện thực tế: trong giai đoạn hiện tại, có một số giáo viên phải dạy vượt chuẩn so những năm gần đây lưu lượng sinh viên và chỉ tiêu tuyển sinh được nhà nước giao không ngừng tăng lên, do đó việc tuyển dụng thêm giáo viên ngoại ngữ vào chưa đáp ứng kịp Khó khăn này chỉ mang tính tạm thời, tuy nhiên cũng có ít nhiều ảnh hưởng tới chất lượng giảng dạy Giáo viên dạy nhiều, không còn thời gian cho việc

tự học, tự nghiên cứu, đọc tài liệu và chuẩn bị bài giảng

Trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên thường xuyên tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn hạn nhằm nâng cao kiến thức chuyên môn là hết sức cần thiết Kết quả điều tra cho thấy rất nhiều giáo viên không được tham dự các lớp học chuyên môn ngắn hạn hoặc không dự thường xuyên Do

đó, công tác quản lí bồi dưỡng chuyên môn cho giảng viên tiếng Anh cần được quan tâm hơn nữa để họ có cơ hội tham gia các lớp bồi dưỡng về chuyên môn lẫn phương pháp giảng dạy mới nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn học

Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 120 sinh viên khoa Kinh tế và khoa Công nghệ Thông tin thu được kết quả sau đây:

Bảng 2.2: Ý kiến sinh viên về việc dạy và học tiếng Anh ở trường Cao đẳng

Công nghiệp Nam định

Trang 40

2

giúp cho công việc

của anh (chị) sau

này

Số ý kiến

dạy của giảng viên

Dễ hiểu Khó hiểu Bình thường Không

quan tâm

Số ý kiến

Phù hợp Không phù

hợp

Không quan tâm

Số ý kiến

của các hoạt động

Rất cần thiết Cần thiết Bình thường Không cần

thiết

Ngày đăng: 19/12/2015, 06:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Văn kiện đại hội Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII, I X, X . Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII, I X, X
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
4. Đặng Quốc Bảo. Một số khái niệm về quản lý giáo dục. Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục - Đào tạo TƯ1, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý giáo dục
5. Nguyễn Ngọc Bảo – Hà Thị Đức. Hoạt động dạy học ở trường THCS. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội,2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động dạy học ở trường THCS
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
6. Nguyễn Ngọc Bảo – Trần Kiểm. Lý luận dạy học ở trường THCS. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học ở trường THCS
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội
7. Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Những cơ sở khoa học về quản lí giáo dục. Trường cán bộ quản lí giáo dục và đào tạo, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở khoa học về quản lí giáo dục
8. Hồ Ngọc Đại. Tâm lý học dạy học. Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội,1998 9. Nguyễn Minh Đạo. Cơ sở khoa học quản lý. Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học dạy học". Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội,1998 9. Nguyễn Minh Đạo. "Cơ sở khoa học quản lý
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội
10. Đặng Xuân Hải. Giáo dục với cộng đồng- nhà trường và xã hội. Trường Cán bộ quản lí giáo dục và đào tạo, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục với cộng đồng- nhà trường và xã hội
11. Phạm Minh Hạc. Một số vấn đề về quản lý giáo dục và khoa học giáo dục. Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quản lý giáo dục và khoa học giáo dục
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội
12. Hà Sĩ Hồ. Những bài giảng về quản lý trường học. Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về quản lý trường học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội
13. Trần Kiều. Bước đầu đổi mới kiểm tra kết quả học tập các môn học của học sinh. Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đổi mới kiểm tra kết quả học tập các môn học của học sinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội
14. Nguyễn Kỳ. Phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm. Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội
15. Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo.Trường Cán bộ quản lí giáo dục và đào tạo, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo
17. Hồ Chí Minh. Vấn đề giáo dục. Nhà xuất bản giáo dục Hà nội 1962 18. Hồ Chí Minh. Bàn về vấn đề giáo dục. Nhà xuất bản giáo dục, 1990 19. Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt, Giáo dục học tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giáo dục". Nhà xuất bản giáo dục Hà nội 1962 18. Hồ Chí Minh. "Bàn về vấn đề giáo dục". Nhà xuất bản giáo dục, 1990 19. Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt, "Giáo dục học tập 1
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Hà nội 1962 18. Hồ Chí Minh. "Bàn về vấn đề giáo dục". Nhà xuất bản giáo dục
20. Vũ Thị Hồng Ngọc. Một số biện pháp quản lí nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ở trường Cao đẳng Sư phạm trung ương. Luận văn thạc sĩ, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp quản lí nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ở trường Cao đẳng Sư phạm trung ương
21. Hoàng Phê (Chủ biên). Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học. Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
22. Bùi Văn Quân. Giáo trình quản lí giáo dục. Nhà xuất bản giáo dục Hà nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lí giáo dục
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Hà nội
23. Nguyễn Ngọc Quang. Những vấn đề cơ bản về lý luận quản lý giáo dục. Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục - Đào tạo TW1 Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về lý luận quản lý giáo dục
24. Nguyễn Cảnh Toàn. Quá trình dạy tự học. Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình dạy tự học
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội
27. Phạm Viết Vượng. Giáo dục học. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội
28. M.I.Kôndakôp. Cơ sở lý luận quản lý khoa học giáo dục khoa học quản lí giáo dục- một số vấn đề lí luận và thực tiễn. Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ơ sở lý luận quản lý khoa học giáo dục khoa học quản lí giáo dục- một số vấn đề lí luận và thực tiễn
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Ý kiến sinh viên về việc dạy và học tiếng Anh ở trường Cao đẳng - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
Bảng 2.2 Ý kiến sinh viên về việc dạy và học tiếng Anh ở trường Cao đẳng (Trang 39)
Bảng 2.3: Thực trạng kỹ năng tự học ngoại ngữ của sinh viên - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
Bảng 2.3 Thực trạng kỹ năng tự học ngoại ngữ của sinh viên (Trang 45)
Bảng xếp hạng với  X = 1,22, điều này giúp sinh viên có thói quen làm việc  khoa học, hiệu quả tạo tiền đề vững chắc cho công việc sau này - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
Bảng x ếp hạng với X = 1,22, điều này giúp sinh viên có thói quen làm việc khoa học, hiệu quả tạo tiền đề vững chắc cho công việc sau này (Trang 46)
Hình 1.2: Biểu đồ thực trạng về mức độ thực hiện các kỹ năng tự học - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
Hình 1.2 Biểu đồ thực trạng về mức độ thực hiện các kỹ năng tự học (Trang 48)
Bảng 2.4: Cơ cấu của bộ máy quản lý hoạt động tự học - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
Bảng 2.4 Cơ cấu của bộ máy quản lý hoạt động tự học (Trang 49)
Bảng 2.5: Đánh giá của CBQL về công tác quản lý kế hoạch - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
Bảng 2.5 Đánh giá của CBQL về công tác quản lý kế hoạch (Trang 50)
Bảng 2.6: Các bộ phận trực tiếp theo dõi hoạt động tự học của sinh viên. - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
Bảng 2.6 Các bộ phận trực tiếp theo dõi hoạt động tự học của sinh viên (Trang 52)
Bảng 2.7: Kết quả đánh giá về mức độ sử dụng các biện pháp giáo   dục - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
Bảng 2.7 Kết quả đánh giá về mức độ sử dụng các biện pháp giáo dục (Trang 54)
Bảng 2.8: Kết quả đánh giá của CBQL và SV về thực trạng công tác giáo - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
Bảng 2.8 Kết quả đánh giá của CBQL và SV về thực trạng công tác giáo (Trang 55)
Bảng 2.10: Kết quả điều tra thực trạng thực hiện các nội dung quản lí - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
Bảng 2.10 Kết quả điều tra thực trạng thực hiện các nội dung quản lí (Trang 57)
Hình 1.3: Biểu đồ biểu diễn mức độ thực hiện   các nội dung QL hoạt động tự học ngoại ngữ  2.3.3.2 - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
Hình 1.3 Biểu đồ biểu diễn mức độ thực hiện các nội dung QL hoạt động tự học ngoại ngữ 2.3.3.2 (Trang 59)
Bảng 3.1: Kết quả thăm dò về tính cấp thiết và tính khả thi - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
Bảng 3.1 Kết quả thăm dò về tính cấp thiết và tính khả thi (Trang 85)
Bảng 3.2. Báo cáo kết quả học tập từ 2001-2006 - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
Bảng 3.2. Báo cáo kết quả học tập từ 2001-2006 (Trang 86)
2  Hình thành kĩ năng tự học ngoại ngữ cho SV - Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường cao đẳng công nghiệp nam định   lu
2 Hình thành kĩ năng tự học ngoại ngữ cho SV (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm