Để đáp ứng nhu cầu của người học, đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao để phát trển kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Trường Đại học Ngoại ngữ cũng đã bắt đầu tuyển sinh Chương t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN DUY THÁI
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO BẰNG KÉP
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ,
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Công Giáp
Phản biện 2: PGS.TS Đặng Xuân Hải
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại
Vào hồi 17 giờ 15 ngày 11 tháng 01 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Phòng Tư liệu Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lời biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi chân thành cám ơn Ban Giám hiệu cùng toàn thể cán bộ, giảng viên, viên chức Trường Đại học Giáo dục đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cám ơn tới các Thầy, Cô, anh chị đồng nghiệp, các bạn
bè, các cơ sở đào tạo phối hợp đào tạo đã giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai khảo sát số liệu cho nghiên cứu luận văn
Tôi xin tri ân sự khích lệ và giúp đỡ của gia đình, người thân đã dành cho tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và nghiên cứu
Hà nội, Ngày 25 tháng12 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Duy Thái
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Sơ đồ 1.1: Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở nhà trường …… 21
Bảng 2.1 Bảng so sánh chương trình đào tạo ……… 49
Bảng 2.2 Mức đáp ứng trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của GV 46
Bảng 2.3: Thực trạng QL hoạt động lập kế hoạch của giảng viên 48
Bảng 2.4: Thực trạng QL việc thực hiện kế hoạch và chương trình giảng dạy 51
Bảng 2.5: Thực trạng QL hoạt động cải tiến nội dung,phương pháp 52
Bảng 2.6: Thực trạng QL thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn 55
Bảng 2.7: Bảng khảo sát nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ giờ học của SV 57
Bảng 2.8: Kết quả khảo sát thực trạng về phương pháp học tập của SV 59
Bảng 2.9: Thực trạng QL hoạt động kiểm tra – đánh giá (KTĐG) kết quả học 61 Bảng 2.10 Thực trạng CSVC của cơ sở giáo dục đại học (2012-2013) 62
Bảng 2.11 Quản lý hệ thống tài liệu, giáo trình, thiết bị giảng dạy 64
Bảng 2.12: Thực trạng quản lý việc sử dụng CSVC, thiết bị 65
Bảng 3.1: Khảo sát ý kiến về mức độ cần thiết của các biện pháp … 93
Bảng 3.2: Khảo sát ý kiến về mức độ khả thi của các biện pháp ………… 94
Trang 7MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
MỞ ĐẦU……….……… 1
1 Lý do chọn đề tài 10
2 Mục đích nghiên cứu 11
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 12
3.1 Khách thể nghiên cứu 12
3.2 Đối tượng nghiên cứu 12
4 Giả thuyết nghiên cứu 12
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 12
7 Phương pháp nghiên cứu 13
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 13
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 13
7.3 Phương pháp thống kê 13
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 13
8.1 Ý nghĩa lý luận 13
8.2 Ý nghĩa thực tiễn 13
9 Cấu trúc của luận văn 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO BẰNG KÉP Ở ĐẠI HỌC 15
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 15
Trang 81.2 Một số khái niệm cơ bản của đề
tài…… … … ……….……… ……….17
1.2.1 Khái niệm quản lý 17
1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý trường học 20
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học 24
1.2.4 Khái niệm đào tạo bằng kép 29
1.3 Quản lý hoạt động dạy học theo chương trình đào tạo bằng kép 30
1.3.1 Vai trò của phòng đào tạo trong quản lý hoạt động dạy học 23
1.3.2 Đặc điểm của chương trình đào tạo theo bằng kép 32
1.3.3 Nội dung quản lý hoạt động dạy học theo CTĐT bằng kép 34
1.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chương trình đào tạo 42
Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠYHỌC THEO CTĐT BẰNG KÉP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ- ĐHQGHN 37
2.1 Khái quát về Chương trình đào tạo bằng kép tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc Gia Hà Nội 44
2.1.1 Khái quát về Trường Đại học Ngoại ngữ 44
2.1.2 Đặc điểm chương trình đào tạo bằng kép của Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội 47
2.2 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại Đại học Ngoại ngữ 47
2.2.1 Thực trạng hoạt động giảng dạy của giảng viên 47
2.2.2 Thực trạng hoạt động học tập của sinh viên 63
2.2.3 Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 61
2.2.4 Thực trạng CSVC, phương tiện – kỹ thuật phục vụ HĐDH 62
2.3 Nhận xét chung về khó khăn, tồn tại cần khắc phục 73
2.3.1 Khó khăn 73
2.3.2 Nguyên nhân 75
Trang 92.3.3 Tồn tại và khắc phục 75
Tiểu kết chương 2 77
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CTĐT BẰNG KÉP TẠI TRƯỜNG ĐH NGOẠI NGỮ 78
3.1 Định hướng và nguyên tắc để xây dựng các biện pháp quản lý 78
3.1.1 Định hướng phát triển đào tạo của Trường Đại học Ngoại ngữ ĐHQGHN 2010 – 2020 78
3.1.2 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 78
3.2 Một số các biện pháp đề xuất thực hiện tại trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN 79
3.2.1 Chỉ đạo việc lập kế hoạch giảng dạy phù hợp với CTĐT
bằng kép 80
3.2.2 Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên tham gia giảng dạy chương trình bằng kép 76
3.2.3 Chỉ đạo và tập huấn việc đổi mới phương pháp dạy học 84
3.2.4 Phối hợp giữa phòng đào tạo và các phòng ban chức năng trong Trường để quản lý nề nếp hoạt động học tập của sinh viên 87
3.2.5 Tổ chức thực hiện công tác kiểm tra đánh giá hoạt động DH 92
3.2.6 Chỉ đạo việc sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ hoạt động dạy học. 95
3.3 Khảo sát tính cấp thiết và mức độ khả thi của các biện pháp 98
3.3.1 Đối tượng khảo sát 93
3.3.2 Tiến trình khảo sát 94
3.3.3 Kết quả khảo sát và phân tích kết quả 98
Tiểu kết chương 3 101
Trang 10KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102
1 Kết luận 102
2 Khuyến nghị 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 109
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nhân loại bước vào thế kỷ 21- thế kỷ của sự bùng nổ thông tin, khoa học công nghệ và hợp tác phát triển - toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng đã không ngừng tác động đồng thời làm biến đổi sâu sắc đời sống tinh thần của xã hội loài người Trong bối cảnh đó, mọi công dân trong xã hội đòi hỏi phải có trình độ học vấn nhất định, năng động, sáng tạo và giải quyết được các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Do vậy, giáo dục đóng vai trò quyết định, đặc biệt quan trọng nhằm đảm bảo nhiệm vụ đào tạo mọi người trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, trở thành một thành viên tốt của cộng đồng như Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII chỉ rõ: “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công phải phát triển mạnh về Giáo dục - Đào tạo, phát huy nguồn nhân lực con người là yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”
Bước vào thế kỷ XXI, giáo dục đào tạo Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức mới; cùng với việc tăng quy mô đào tạo thì loại hình đào tạo cũng được mở rộng Nhằm phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, ngoại ngữ trở thành một công cụ, một phương tiện vô cùng quan trọng trong giao tiếp, trong kinh doanh và hội nhập cùng phát triển Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN đã và đang trở thành một cái nôi đào tạo, cung cấp cho xã hội những công dân tốt, những bạn trẻ có kiến thức sâu rộng, có trình độ ngoại ngữ thành thạo để từ đó tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, có khả năng tiếp thu được tri thức khoa học và công nghệ tiên tiến trên Thế giới
Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 chỉ rõ:“…triển khai dạy và học ngoại ngữ trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2006-2015….”,“…yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế đang đặt ra những đòi hỏi bức xúc phải đổi mới căn bản quá trình dạy
và học ngoại ngữ cho thế hệ trẻ….” Điều đó cho thấy việc dạy và học ngoại ngữ
Trang 12đã trở thành nhu cầu ngày càng phát triển cùng với sự phát triển đi lên của toàn
kể từ học kỳ thứ 3 đến học kỳ thứ 7 của chương trình học ngành thứ nhất Để đáp ứng nhu cầu của người học, đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao để phát trển kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Trường Đại học Ngoại ngữ cũng đã bắt đầu tuyển sinh Chương trình đào tạo bằng kép từ năm 2009 đến nay với các Trường Đại học Kinh tế, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Khoa Luật và sinh viên ngoài khoa sư phạm Tiếng Anh Trường Đại học Ngoại ngữ – ĐHQGHN
Chương trình đào tạo bằng kép đến nay đã là cơ hội cho mọi sinh viên có học lực tốt, có điều kiện để nâng cao hiểu biết, vốn kiến thức ngoại ngữ của mình, nhiều sinh viên ra trường có thêm tấm bằng ngoại ngữ đã gặt hái được nhiều thành công Đây cũng chính là lý do chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“Quản lý hoạt động dạy học theo chương trình đào tạo bằng kép tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội” nhằm góp phần nhỏ vào công
cuộc đổi mới hiệu quả toàn diện giáo dục đại học Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận hoạt động dạy học ở trường đại học và tìm hiểu thực trạng quản lý quá trình dạy học hệ đào tạo bằng kép ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học góp phần nâng cao chất lượng của Chương trình đào tạo bằng kép tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 133 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động dạy học hệ đào tạo bằng kép tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
4 Giả thuyết nghiên cứu
Trường Đại học Ngoại Ngữ - ĐHQGHN đã có gần 60 năm xây dựng và phát triển, một trong những chương trình đào tạo của Nhà trường hiện nay là chương trình đào tạo bằng kép mới bắt đầu từ năm 2008 đến nay Mặc dù công tác quản lý hoạt động dạy học của Chương trình đào tạo bằng kép đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều hạn chế Nếu xác định được các biện pháp quản lý hoạt động dạy học như được xác định trong đề tài này sẽ nâng cao được chất lượng dạy học đáp ứng được nhu cầu của người học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Chương trình đào tạo bằng kép của Nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy học hệ đào tạo bằng kép ở trường Đại học
5.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học hệ đào tạo bằng kép tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học hệ đào tạo bằng kép tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Đề xuất các biện pháp quản lý của Phòng đào tạo đối với hoạt động dạy học
- Đề tài tập trung nghiên cứu và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hệ đào tạo bằng kép ngành Ngôn ngữ Anh và ngành Ngôn ngữ tiếng Trung Quốc tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
- Số liệu khảo sát từ năm 2010 đến 2013
Trang 147 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích và tổng hợp các tài liệu lý luận phục vụ cho vấn đề nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu các văn bản của Nhà nước, của Bộ Giáo dục & Đào tạo, của Đại học Quốc gia Hà Nội, của Trường Đại học Ngoại ngữ liên quan đến vấn đề nghiên cứu Tham khảo các tài liệu liên quan đến đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Xây dựng các mẫu điều tra nhằm thu tập thông tin về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn, quan sát quá trình dạy học của hệ đào tạo bằng kép Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu
7.3 Phương pháp thống kê
- Sử dụng toán thống kê nhằm phân tích và xử lý số liệu đạt được
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa và làm rõ lý luận về quản lý quá trình dạy học của hệ đào
tạo bằng kép tại Trường Đại học
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Trang 15Chương 2: Thực trạng quản lý quá trình hoạt động dạy học theo chương trình đào tạo bằng kép tại Trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo chương trình đào tạo bằng kép tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO BẰNG KÉP Ở ĐẠI HỌC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Ở nước ngoài, đối với nhiều nước trên thế giới, việc đào tạo hai bằng
cũng đã được áp dụng và triển khai khá rộng rãi Mặc dù nội dung và hình thức khác nhau, nhưng tất cả cùng chung một mục tiêu là nhằm đào tạo ra cử nhân có hai ngành hệ chính quy trong một thời gian liên tục của một khóa đào tạo chung nhất định Điển hình một số mô hình hoạt động của một số nước trên thế giới như Úc và Mỹ đào tạo và cấp bằng kép (Combined/ Doubled Degree); Ở Mỹ đào tạo liên tục và cấp hai bằng, ví dụ trường University of Rhode Island đào tạo một bằng kĩ thuật và một bằng tiếng Đức; Úc và Singapore có hệ đào tạo cấp hai bằng (Double –Degree) như trường đại học Monash University và đại học Quốc gia Singapore, trong đó sinh viên thuộc các ngành có thể học các ngành như sau: Kinh tế và Luật, Kinh tế và Kỹ sư, Khoa học máy tính và Toán học, Kế toán và Công nghệ truyền thông…
Ở Việt Nam, hệ đào tạo 2 chuyên ngành (bằng kép) cũng đã được triển
khai nhưng chưa rộng rãi; mặc dù vậy, về mặt hình thức và nội dung cũng rất đa dạng Tùy thuộc vào mỗi trường hay nhu cầu của sinh viên, hình thức đào tạo này có thể tồn tại theo hai chiều hướng sau:
Thứ nhất, các sinh viên có nguyện vọng học thêm một ngành khác, sinh viên chủ động dựa vào Quy chế của Bộ và Trường cụ thể có thể làm đơn xin xét theo học các khóa văn bằng hai chính quy
Thứ hai, các trường chủ động mở hệ đào tạo cử nhân hai chuyên ngành cho sinh viên ngay từ khi thông báo tuyển sinh đại học Hiện nay, có một số trường bắt đầu trong lĩnh vực lập Đề án và một số đang triển khai hệ đào tại này
là Trường Đại học Đà Nẵng và trường Đại học Ngoại Ngữ Hà Nội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Kinh tế, Đại học Công Nghệ, Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 17Hiện nay ở một số trường ở Việt Nam đang triển khai chương trình đào tạo này; điển hình như trường Đại học Hà Nội cũng đưa ra cơ hội ngành học thứ hai cho sinh viên Đó có thể là một ngành ngoại ngữ hoặc một trong các chuyên ngành quản trị kinh doanh, du lịch, quốc tế học, công nghệ thông tin, tài chính - ngân hàng, kế toán Điểm khác biệt là những ngành học này được đào tạo bằng tiếng Anh như ngành học chính quy trong trường
Ở Đại học Đà Nẵng cũng đang thực hiện hình thức đào tạo này; tuy nhiên hình thức tuyển sinh khác so với các đa số trường đại học khác Sinh viên chính quy của trường Đại học (ĐH) Đà Nẵng sau khi kết thúc học kỳ thứ nhất của năm học đầu tiên, được đăng ký học chương trình thứ hai Sinh viên này phải có điểm thi tuyển sinh không thấp hơn điểm trúng tuyển vào trường, vào ngành Ngành đào tạo chương trình thứ hai phải khác ngành ở chương trình thứ nhất và cùng khối thi tuyển sinh Nếu khác khối thi, sinh viên chỉ được học theo hình thức vừa làm vừa học
Sớm hơn ĐH Đà Nẵng, từ năm học 2008-2009, ĐHQGHN đã triển khai đào tạo bằng kép cho các sinh viên có nguyện vọng theo học đồng thời 1 lúc 2 chương trình để tốt nghiệp nhận được 2 bằng cử nhân thuộc 2 ngành đào tạo khác nhau Sau thời gian tối đa 6 năm, sinh viên sẽ nhận 2 bằng cử nhân chính quy Ví dụ như chương trình đào tạo bằng kép ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) liên kết giữa các ngành đào tạo của trường (như Văn học – Báo chí, Du lịch – Khoa học quản lí…) hoặc giữa các ngành của trường với đơn vị khác trong ĐHQGHN (như Du lịch – Ngoại ngữ, Quốc tế học – Ngoại ngữ…)
Ở Trường ĐH Kinh tế (ĐHQGHN), khi sinh viên trúng tuyển vào trường
sẽ có thêm cơ hội học thêm một bằng ĐH chính quy thứ 2 các ngành: tiếng Anh (phiên dịch) của Trường ĐH Ngoại ngữ - ĐHQGHN; Luật kinh doanh của Khoa Luật - ĐHQGHN Riêng sinh viên ngành Kinh tế (chuyên ngành Kinh tế chính trị) và ngành Kinh tế Phát triển được học thêm ngành Tài chính – Ngân hàng của Trường ĐH Kinh tế - ĐHQGHN
Ở Việt Nam, chương trình đào tạo bằng kép đang lập đề án, vẫn còn mới
mẻ nên việc nghiên cứu mới thu hút sự quan tâm của một số ít tác giả Tác giả
Trang 18Nguyễn Việt Hùng trong bài nghiên cứu Luận văn: “ Biện pháp quản lý đào tạo
hệ bằng kép tại trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc Gia Hà Nội” đã phân
tích và đưa ra những ưu thế đạt được và những điểm hạn chế từ thực trạng trong việc quản lý hệ đào tạo bằng kép tại trường Đại học Đại học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN, từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục trong việc quản lý hệ đào tạo này
Tác giả ẩn tên trong bài viết: “Sinh viên bằng kép: cơ hội và thử
thách” được đăng trên tạp chí và trang bìa “Kênh Tuyển Sinh” ngày 18/5/2011
đã nhấn mạnh những ưu thế, cơ hội của sinh viên thuộc các trường đa ngành khi sinh viên có cơ hội học 2 ngành đồng thời cũng chỉ ra những thách thức và những khó khăn của sinh viên trong quá trình học tập
Những bài viết, bài nghiên cứu trên đã phần nào mô tả được mức
độ phản ánh, quan tâm về chương trình đào tạo bằng kép và cũng như việc quản
lý chương trình đào tạo bằng kép Từ đó, phần nào giúp chúng ta hiểu rõ hơn vai trò của việc quản lý trong vấn đề xây dựng môi trường giáo dục vững mạnh, cũng như nhận thấy vị trí quan trọng của vấn đề này trong bối cảnh hiện nay 1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã hội Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần dần hình thành các “lý thuyết quản lý” Từ khi F.W Taylor phát biểu các nguyên lý về quản lý thì quản lý nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tuỳ thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau:
- F.W Taylor (1856 – 1915) là người được mệnh danh là cha đẻ của lý
luận quản lý khoa học, đã cho rằng cốt lõi trong quản lý là: “Mỗi loại công việc
dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ” “Quản lý là
Trang 19nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [16,tr.1]
- K.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [31, tr.480]
- Henry Fayol (1841 – 1925) thì lại coi quản lý là một loại công việc đặc thù, khác với các loại công việc khác của xí nghiệp và trở thành một hệ thống độc lập, phát huy tác dụng riêng có của nó mà các hệ thống khác của xí nghiệp không thể nào thay thế được Ông nói về nội hàm của khái niệm quản lý
như sau: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”
[22, tr.59] Năm yếu tố trên đã tồn tại như những chuẩn mực được tuân theo một cách phổ biến trong quản lý hiện đại
- H.Koontz (Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự
phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và
sự bất mãn cá nhân ít nhất” [30, tr.33]
- Mary Parker Follett (1868 – 1933) đã có những đóng góp lớn lao
trong thuyết hành vi trong quản lý khẳng định: “Quản lý là một quá trình lao
động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại” [14, tr.33]
- Theo Đại từ điển tiếng Việt: quản lý là “tổ chức, điều khiển hoạt động
của một đơn vị, một cơ quan”, là “trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì” [51,
tr.1363] Nghĩa Hán Việt của “Quản” là trông coi và gìn giữ theo những yêu cầu nhất định, duy trì sự vật ở trạng thái ổn định; quá trình “Lý” bao gồm sửa sang, sắp đặt công việc, đổi mới, đưa hệ thống đó vào phát triển Trong “quản” phải có “lý” thì toàn hệ mới có thể phát triển, trong “lý” phải có “quản” thì sự
phát triển của hệ mới ổn định, bền vững [16, tr.2] Hai quá trình này phải được
Trang 20gắn bó chặt chẽ với nhau thì toàn hệ mới đạt được thế cân bằng động, tồn tại và phát triển phù hợp trong mối tương tác với các yếu tố bên trong và bên ngoài
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích tới tập thể
những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước”
[16, tr 23]
- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý nhằm làm
cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới”
Quản lý = Quản + Lý
Trong đó : - Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định
- Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển
Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren
Vậy: Quản lý = ổn định + phát triển
- Theo tác giả Trần Khánh Đức: “Quản lý là một hoạt động có chủ đích,
được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện những mục tiêu xác định của công tác quản lý” [26, tr.1]
- Nghiên cứu về khoa học quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn
Thị Mỹ Lộc cho rằng định nghĩa rõ hơn cả về quản lý đó là: “Quá trình đạt đến mục
tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [2, tr.1] Hoạt động quản lý là: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một
tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [15, tr.1]
Như vậy, có nhiều cách tiếp cận quản lý, song các định nghĩa đều đề cập tới bản chất chung của hoạt động quản lý đó là:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định
- Quản lý là sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý
- Quản lý xét cho đến cùng, bao giờ cũng là quản lý con người
Trang 21- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp quy luật khách quan
Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Là một khoa học vì các hoạt động quản lý luôn là một hoạt động có tổ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể Chỉ khi nhận biết đúng các quy luật đó, các đặc điểm của từng cá thể, các đặt trưng tâm lý khác nhau thì tác động của quản lý mới có kết quả Mặc dù trong hoạt động quản lý, nhà quản lý luôn tìm cách đúc kết kinh nghiệm và cải tiến công việc để có hiệu quả, tuy nhiên, muốn quản lý tốt thì phải học, không thể chỉ làm theo kinh nghiệm được
Quản lý đồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động quản lý là một hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động Không có một nguyên tắc chung nào cho mọi tình huống Nhà quản lý phải làm sao để có thể xử lý sáng tạo, thành công mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra, điều đó phụ thuộc vào bí quyết sắp xếp các nguồn lực, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử, khả năng thuyết phục, kỹ năng sử dụng biện pháp của từng người
1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý trường học
1.2.2.1 Quản lý giáo dục
Theo lý luận giáo dục hiện đại, quản lý giáo dục (QLGD) được hiểu như việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đối với toàn bộ các hoạt động giáo dục 3, tr.17 Quá trình của hệ quản lý này dựa trên cơ sở của việc ra những quyết định đúng đắn, việc điều chỉnh linh hoạt
và việc xử lý thông tin về các hoạt động GD một cách kịp thời Xét ở nhiều góc
độ, QLGD được hiểu theo nội hàm khác nhau: Dưới góc độ coi GD là một hoạt động chuyên biệt thì QLGD là QL các hoạt động của một cơ sở GD như trường học, các đơn vị phục vụ đào tạo, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đạt được mục tiêu đào tạo Dưới góc độ xã hội, QLGD là QL mọi hoạt động GD trong xã hội
Theo P.V.Khuđôminxki (nhà lý luận của Liên xô trước đây): “QLGD là
tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý
Trang 22ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống GD (từ bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc GD Chủ nghĩa cộng sản cho thế hệ trẻ, đảm bảo phát triển toàn diện và hài hoà cho thế hệ trẻ ”
Trong cuốn “Những vấn đề về QLGD” [22, tr.124], chuyên gia GD Liên xô
cũ M.I.Kônđacốp cho rằng: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý
thức và hướng đích của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui tắc chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình GD, của sự phát triển tâm thế và tâm lý trẻ em”
Trong cuốn Giáo dục học, Phạm Viết Vượng đã viết: “Mục đích cuối
cùng của QLGD là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội” [42, tr 206]
Theo Nguyễn Ngọc Quang khái niệm QLGD là khái niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ thống giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ của nó, đặc biệt
là quản lý trường học) “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [23, tr 35]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QLGD là tổ chức các hoạt động dạy
học có tổ chức được các HĐDH, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [18, tr.9]
Từ những định nghĩa trên ta thấy khái niệm: “Quản lý giáo dục” có nội hàm rất linh hoạt, nếu hiểu GD là các hoạt động GD diễn ra trong nhà trường hay ngoài xã hội thì QLGD là quản lý mọi hoạt động GD trong xã hội, lúc đó QLGD
Trang 23được hiểu theo nghĩa rộng nhất Còn chỉ nói đến hoạt động GD trong ngành giáo dục đào tạo thì lúc đó QLGD sẽ được hiểu là quản lý một số cơ sở GD&ĐT (là quản lý nhà trường) và quản lý một số cơ sở GD&ĐT ở một bộ phận hành chính nào đó (huyện, tỉnh, toàn quốc) ta gọi là quản lý một hệ thống GD Nghĩa là khái niệm QLGD được hiểu theo nghĩa hẹp hơn Nhưng rõ ràng là, dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì mục đích cuối cùng của QLGD vẫn là nâng cao chất lượng GD
Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận:
QLGD là những tác động có hệ thống, có khoa học, có ý thức và có mục đích của chủ thể QL lên đối tượng QL là quá trình DH và GD diễn ra ở các cơ sở
GD
QLGD được hiểu một cách cụ thể là quản lý một hệ thống giáo dục đó
có thể là một trường học, một trung tâm khoa học kỹ thuật, hướng nghiệp, dạy nghề, một tập hợp các cơ sở phân bố trên địa bàn dân cư
QL một cách có khoa học ( việc tối ưu) trong đó chủ thể QL phải nắm được các quy luật khách quan đang chi phối sự vận hành của đối tượng QL 1.2.2.2 Quản lý trường học
Bản chất của việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động giảng dạy, quản
lý hoạt động học tập và các hoạt động GD khác trong nhà trường Thông qua quá trình quản lý làm sao đưa các hoạt động từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần đạt các mục tiêu GD Các hoạt động trong nhà trường bản thân nó đã có tính
GD song cần có sự quản lý, tổ chức chặt chẽ mới phát huy được hiệu quả của bộ
máy Như tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã chỉ rõ “Quản lý trường là tập hợp
những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp) của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, GV và SV Nhằm tận dụng nguồn lực dự trữ
do nhà nước đầu tư, các lực lượng xã hội đóng góp và do lao động XD vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường và tiêu điểm hội tụ là đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà trường tiến lên một trạng thái mới”
Trang 24Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường ở Việt Nam là thực hiện đường
lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý
GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [21, 561]; “Việc quản lý nhà trường (có thể mở rộng ra là việc quản lý nói chung) là việc quản lý DH tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này tới trạng thái khác để dần tới mục tiêu GD” [21,tr.71]
Trong lý luận và thực tiễn khẳng định, quản lý nhà trường gồm hai loại:
- Quản lý các chủ thể bên ngoài nhà trường nhằm định hướng và tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển
- Quản lý các chủ thể bên trong nhà trường nhằm cụ thể hoá các chủ trương đường lối, chính sách GD thành các kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để đưa nhà trường đạt các mục tiêu đề ra
Như vậy, các nội dung chủ yếu của QLGD trên cơ sở quản lý nhà trường bao gồm:
- Nhà trường là thực thể trung tâm của bất kỳ sự biến đổi nào trong hệ thống
GD
- Nhà trường tự chủ giải quyết những vấn đề sư phạm - kinh tế - xã hội của mình với sự tham gia tích cực và trách nhiệm của những thực thể hữu quan ngoài nhà trường
- Nâng cao trách nhiệm và tính tự quản của một giảng viên
- Hình thành các cơ cấu cần thiết để các thực thể hữu quan ngoài nhà trường có thể thực sự tham gia vào việc điều phối công việc nhà trường Đồng thời tăng cường trách nhiệm và quyền hành của giảng viên tham gia quá trình ra quyết định quản lý trong nhà trường
- Hình thành các thiết chế hỗ trợ về tài chính và các nguồn lực cần thiết khác để giảng viên thực sự tham gia công việc quản lý nhà trường Hình thành
cơ chế phân cấp quản lý tài chính, nhân sự, thực hiện cải tiến thích hợp nội dung
và phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm cụ thể của nhà trường
Trang 25- Xây dựng môi trường sư phạm trong nhà trường và xây dựng nhà trường thành một hệ thống mở nhằm công khai hoá các hoạt động của nhà trường
- Hình thành thiết chế đánh giá kết quả hoạt động sư phạm của nhà trường dựa trên những thực thể trực tiếp tham gia quá trình sư phạm và quá trình QL nhà trường
Nhà trường là nơi trực tiếp, cửa mở đầu tiên tạo nên chất lượng GD, do vậy khi nói đến QLGD là nghĩ đến quản lý nhà trường cũng như hệ thống nhà trường
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học
1.2.3.1 Hoạt động
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, bằng cách tác động vào đối tượng để tạo ra một sản phẩm, nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân và nhóm xã hội, hoạt động có những đặc điểm sau:
- Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng
- Con người là chủ thể của hoạt động
- Hoạt động được thực hiện trong những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định
- Hoạt động có sử dụng phượng tiện, công cụ để tác động vào đối tượng
1.2.3.2 Hoạt động dạy học
* Khái niệm hoạt động dạy học
Tri thức nhân loại ngày càng phát triển và hoàn thiện, khái niệm của Hoạt động DH cũng dần được mở rộng nội hàm, nhằm thích ứng với những yêu cầu về nhân cách của người học qua những hoàn cảnh xã hội khác nhau và phù hợp với các phương pháp dạy học khác nhau Trên cơ sở Giáo dục học, theo
Nguyễn Ngọc Bảo: “HĐDH là hoạt động đặc trưng cho bất cứ loại hình Nhà
trường nào và xét theo quan điểm tổng thể, dạy - học chính là con đường GD tiêu biểu nhất” [24, 172]
Với nội dung và tính chất của nó, DH là con đường tốt nhất giúp cho người học với tư cách là chủ thể nhận thức có thể lĩnh hội mọi hệ thống tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo chuyển thành phẩm chất và năng lực của bản thân “Các tổ chức
xã hội cần đảm bảo cho mọi người học nhận thức sự nuôi dưỡng, bảo vệ sức
Trang 26khỏe, sự hỗ trợ chung cho thể chất và tình cảm mà người học cần để có thể tham gia một cách tích cực vào quá trình GD và tận hưởng được lợi ích của GD”,
Tuyên bố thế giới về GD cho mọi người, Hội nghị Jomtien, Thái Lan 1990
Như vậy, Hoạt động dạy học bao gồm hoạt động giảng dạy (HĐGD) và
hoạt động học tập (HĐHT)
* Hoạt động giảng dạy
Dạy học là điều khiển tối ưu hoá quá trình sinh viên chiếm lĩnh các khái niệm khoa học, HĐGD là hoạt động của giảng viên (GV), GV tổ chức các HĐHT của sinh viên (SV), giúp SV lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo theo yêu cầu mục tiêu giáo dục đặt ra
Quá trình DH là quá trình GV tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá quá trình học tập, SV tích cực tự giác, tự điều khiển hoạt động nhận thức của mình, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ học tập Nói một cách khác, GV là người giúp SV tự đánh giá được bản thân, tự hoàn thiện và phát triển nhân cách của mình trong quá trình học tập
Để đạt được mục đích, GV và SV đều phải phát huy các yếu tố chủ quan
của cá nhân (phẩm chất và năng lực của người dạy và người học) để xác định
nội dung, lựa chọn phương pháp, tìm kiếm các hình thức, các phương tiện DH phù hợp
* Hoạt động học tập
HĐHT là hoạt động đặc thù của con người, diễn ra có ý thức, có đối tượng nhằm mục đích lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và những giá trị, hành động để phát triển và hoàn thiện bản thân
Bản chất HĐHT là quá trình người học tiếp thu những thông tin dưới sự điều khiển, hướng dẫn của GV, nhằm làm biến đổi bản thân, nâng cao giá trị, từ
đó hoàn thiện nhân cách của mình Muốn vậy, người học phải xác định rõ mục đích, động cơ học tập, có sự say mê, tích cực, tiếp thu một cách tự giác, sáng tạo những thông tin và biết sử dụng những thông tin đó với kinh nghiệm riêng của bản thân
* Mối quan hệ giữa hoạt động dạy học
Trang 27HĐDH mang tính chất hai chiều, gồm hoạt động dạy và hoạt động học,
đó là hai mặt của một quá trình luôn tác động qua lại và bổ sung cho nhau, phối hợp chặt chẽ thống nhất với nhau giữa người dạy và người học HĐDH diễn ra trong những điều kiện xác định, trong đó hoạt động dạy đóng vai trò chủ đạo, điều khiển, hướng dẫn, hoạt động học đóng vai trò chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo, nhằm đạt hiệu quả theo mục tiêu GD đã xác định
Qua phân tích các khái niệm về hoạt động dạy và hoạt động học, nếu nhìn về bình diện tổng quát, có thể nói rằng DH là con đường GD có vị trí quan trọng nhất trong toàn bộ các hoạt động trong nhà trường HĐDH là một quá trình hoạt động sư phạm bao gồm các đặc trưng:
Dạy học là hoạt động có sự tham gia của các thành tố như GV, SV, nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức
DH, các thành tố này tác động qua lại với nhau, tạo nên kết quả DH trong mối quan hệ tương tác
- Dạy học là quá trình giao tiếp, hợp tác giữa GV và SV, quá trình đó rất
đa dạng, thường xuyên biến đổi theo sự biến đổi của xã hội
- Dạy học bao gồm một chuỗi các tình huống diễn ra trong không gian, thời gian và hoàn cảnh cụ thể, các tình huống đó lại luôn thay đổi theo hoàn cảnh và môi trường
- Dạy học là hoạt động có hướng đích, nó chỉ đạt được kết quả mong muốn khi cả hai chủ thể hoạt động (GV và SV) đồng cảm với nhau hướng tới mục tiêu
- Dạy học là hoạt động có tính kế hoạch Do đó, kế hoạch DH phải được xác định ra trong từng giai đoạn, từng bước đi cụ thể, nhưng khi thực hiện cần linh hoạt, sáng tạo trong từng hoàn cảnh, để đạt được mục tiêu
- Dạy học cần có tổ chức, hướng dẫn, KT - ĐG, cải tiến và thường xuyên đổi mới phương pháp DH
- Dạy học có chức năng xã hội, chuẩn bị cho người học tham gia vào đời sống cộng đồng, tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
Trang 28- Dạy học cần có sự chuyên môn hoá cao, xã hội càng phát triển, đòi hỏi GV phải được thường xuyên bồi dưỡng nâng cao uy tín, trình độ, học vấn và chuyên môn nghiệp vụ
1.2.3.3 Quản lý hoạt động dạy học
* Quản lý hoạt động giảng dạy của GV
Quản lý hoạt động giảng dạy, thực chất là quản lý nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ GV GV truyền đạt những kiến thức, kỹ năng và những giá trị về tư tưởng, phẩm chất cần được trang bị cho SV Đồng thời, GV có nhiệm vụ phải học tập, rèn luyện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ, nâng cao chất lượng HĐDH của mình Trong quá trình GD & ĐT, GV vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể quản lý của HĐDH Quản lý hoạt động giảng dạy của
GV bao gồm:
- Quản lý việc lập kế hoạch công tác của GV
- Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy
- Quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị lên lớp của GV
- Quản lý nề nếp lên lớp giảng dạy lý thuyết và thực hành của GV
- Quản lý nhiệm vụ vận dụng và cải tiến phương pháp giảng dạy
- Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV
- Quản lý việc thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn
- Quản lý hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV
* Quản lý hoạt động học tập của SV
Quản lý HĐHT của SV là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của người học trong suốt quá trình học tập SV có những đặc điểm tâm lý, phong tục, tập quán, năng lực khác nhau, trong quá trình rèn luyện, học tập, cũng như kết quả đạt được cũng khác nhau Do đó, Nhà trường cần tăng cường các biện pháp quản lý HĐHT của SV, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, vì SV vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể tự quản lý
Trong quản lý HĐHT, cần lưu ý tính phức tạp và tính trừu tượng về sự chuyển biến trong nhân cách, do tác động đồng thời của nhiều yếu tố chủ thể và khách thể, làm cho kết quả học tập của SV bị hạn chế
Trang 29Quản lý HĐHT của SV có nội dung, yêu cầu cụ thể, vì vậy cần phải tăng cường việc kiểm tra, đánh giá các HĐHT của SV và hoạt động GD của GV
Chất lượng đào tạo không chỉ phụ thuộc vào chất lượng giảng dạy của GV
mà phụ thuộc vào kết quả học tập của SV, để đánh giá công tác quản lý của HĐDH
Quản lý HĐHT của SV bao gồm: Quản lý hoạt động học trên lớp, hoạt động tự học và các hoạt động ngoại khoá
* Quản lý cơ sở vật chất (CSVC), thiết bị, phương tiện – kỹ thuật phục
vụ HĐDH
CSVC là điều kiện tiên quyết cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt động, là điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng đào tạo CSVC, thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ HĐDH của nhà trường là hệ thống các phương tiện vật chất - kỹ thuật DH của nhà trường
Quản lý CSVC, kỹ thuật phục vụ cho DH đảm bảo được các yêu cầu liên quan mật thiết với nhau đó là: Tổ chức quản lý tốt, đảm bảo đầy đủ và sử dụng có hiệu quả CSVC, thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ HĐDH trong nhà trường
Nội dung quản lý CSVC, thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ HĐDH trong nhà trường thực chất là quản lý các việc sau:
- XD nội quy và kế hoạch, nguồn kinh phí trang bị sử dụng CSVC, thiết
bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ HĐDH
- Quản lý việc tổ chức bồi dưỡng kỹ năng sử dụng các phương tiện - kỹ thuật
- Quản lý tổ chức cuộc thi sáng kiến cải tiến kỹ thuật, sản xuất các phương tiện – kỹ thuật phục vụ HĐDH
- Khen thưởng, động viên GV sử dụng kỹ thuật hiện đại trong DH và sử dụng có hiệu quả CSVC, thiết bị, phương tiện – kỹ thuật
- Quản lý các thiết bị phục vụ DH (trường lớp, phòng học, bàn ghế, bảng), hoạt động của các phòng bộ môn, phòng chức năng, thư viện trường học với các sách báo, tài liệu
- Quản lý việc sử dụng có hiệu quả CSVC, thiết bị, phương tiện – kỹ thuật phục vụ HĐDH và đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị
Trang 30Tất cả các nội dung trên đều cần thiết, CSVC và thiết bị ngày càng được trang bị hiện đại để phục vụ cho việc đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng được thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Tóm lại, nội dung quản lý HĐDH ở nhà trường được tóm tắt bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở nhà trường
1.2.4 Khái niệm đào tạo bằng kép
1.2.4.1 Đào tạo
Đào tạo, theo từ điển Bách khoa Việt Nam (2005), là “một quá trình
tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội”
Tác giả Nguyễn Minh Đường trong đề tài KX07-14 đã xác định: “Đào tạo
là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển
có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả”
Đào tạo là một loại hoạt động GD, tuy nhiên mục đích, tính chất, quy mô, thời gian của hoạt động đào tạo được xác định cụ thể hơn Vì thế, đào tạo giúp
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIẢNG DẠY CỦA GV
NGUỒN KINH PHÍ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SV
QUẢN LÝ CSVC - KỸ THUẬT PHỤC VỤ DH
Trang 31cho GD có hình thái thực thể xác định GD được nhìn nhận như là con đường quan trọng nhất để phát triển xã hội còn đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong xã hội
Đối tượng của đào tạo bao giờ cũng là những con người cụ thể, do đó, mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức đào tạo phải phù hợp với những đặc điểm tâm lý của người học trong từng hoàn cảnh cụ thể Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, đào tạo còn bao gồm cả đào tạo lại, đào tạo thường xuyên nhằm cung cấp thêm kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nâng cao trình độ cho những người đang tham gia vào hoạt động xã hội để học làm tốt hơn công việc của mình
1.2.4.2 Đào tạo bằng kép
Là chương trình đào tạo được thiết kế dựa trên hai chương trình đào tạo, gồm 2 phần: phần 1 là các môn học chung của hai chương trình đào tạo, sinh viên chỉ cần tích lũy một lần; phần 2 là các môn học còn lại của hai chương trình đào tạo và khi tốt nghiệp được cấp hai bằng
1.3 Quản lý hoạt động dạy học theo chương trình đào tạo bằng kép
1.3.1 Vai trò của phòng đào tạo trong quản lý hoạt động dạy học ở đại học 1.3.1.1 Chức năng
Phòng đào tạo là một trong các phòng chức năng, chịu trách nhiệm tổ chức – quản lý công tác giảng dạy và học tập trong nhà trường
Phòng đào tạo có vai trò xây dựng, điều tiết và quản lý các hoạt động giảng dạy và học tập trong nhà trường, tham mưu và trợ giúp Ban giám hiệu trường trong việc triển khai các chủ trương của Bộ giáo dục và Đào tạo, các định hướng chiến lược phát triển trong công tác giáo dục và đào tạo
1.3.1.2 Nhiệm vụ
Phòng đào tạo (PĐT) cụ thể hóa và triển khai thực hiện các văn bản, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với công tác đào tạo của trường; tổ chức nghiên cứu xác định nhu cầu đào tạo làm cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển đào tạo và đổi mới công tác đào tạo của trường; giúp Ban Giám hiệu thực hiện chức năng quản lý và phát triển công tác đào tạo các bậc học Cụ thể như sau:
Trang 32Trong công tác giải quyết học vụ, PĐT nhận hồ sơ nhập học và quản lý, lưu trữ và bảo mật hồ sơ, kết quả học tập của SV (bằng văn bản và phần mềm quản lý học vụ) theo quy định của Trường và của Nhà nước; giải quyết và xử lý các vấn đề liên quan đến học vụ của học sinh sinh viên đang theo học theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo và quy định của trường đối với từng bậc, hệ đào tạo; quản lý và cấp phát văn bằng tốt nghiệp, chứng chỉ, chứng nhận kết quả học tập
Trong công tác quản lý đào tạo, PĐT phối hợp với các đơn vị có liên quan tham mưu cho Ban Giám hiệu về xây dựng mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, đề cương học phần; quản lý chương trình đào tạo và đề cương học phần các khóa cho tất cả các ngành đào tạo hệ chính quy trong trường; lập kế hoạch đào tạo năm học cho các khóa, các bậc học tại trường; Xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát kế hoạch giảng dạy và học tập, thời khóa biểu, lịch thi cho hệ chính quy của trường; chủ trì và phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức điều phối hoạt động giảng dạy, đánh giá công tác giảng dạy của giảng viên nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo; đề xuất hướng giải quyết nhằm không ngừng hoàn thiện công tác quản lý giảng dạy và học tập của hệ chính quy trong trường
Ngoài ra, trong công tác quản lý đào tạo, PĐT phải hoàn tất các thủ tục
về nhập học, thôi học và tốt nghiệp của người học theo chức năng quản lý; tiếp nhận và xử lý các loại hồ sơ, công văn liên quan đến công tác đào tạo các hệ chính quy của trường; thực hiện công tác tổng hợp, thống kê và báo cáo kịp thời
về đào tạo các hệ chính quy theo yêu cầu của Bộ và của trường
Trong việc quản lý Công tác xét học vụ, PĐT tổ chức quản lý kết quả học tập của sinh viên, đánh giá chất lượng đào tạo; Thực hiện việc xét học vụ cuối mỗi năm học và xét tốt nghiệp cho học sinh sinh viên cuối khóa học
Trong Công tác tổ chức thi và các chương trình khác, PĐT tổ chức các
kỳ thi tốt nghiệp, các công tác tuyển sinh; tổ chức thực hiện công tác tuyển sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; thường trực các hội đồng: tuyển sinh, xét tốt nghiệp của sinh viên hệ chính quy; chủ trì và phối hợp với các đơn
Trang 33vị liên quan tổ chức các chương trình liên quan đến học sinh sinh viên và giảng viên, giáo vụ khoa như: Lễ khai giảng, Lễ trao bằng tốt nghiệp,
Như vậy, PĐT đã thể hiện vai trò đầu mối, chủ động trong việc tổ chức triển khai các hoạt động đào tạo trong toàn trường đảm bảo chất lượng, nền nếp, hiệu quả, mọi công việc được thông suốt, kịp thời, theo đúng các quy chế, quy định của Nhà nước và Nhà trường
1.3.2 Đặc điểm của chương trình đào tạo bằng kép
1.3.2.1 Hình thức tuyển sinh
Hình thức tuyển sinh chương trình đào tạo bằng kép ở các trường đại học Việt Nam khá đa dạng Đối với ĐHQGHN, sinh viên tham gia chương trình đào tạo bằng kép với điều kiện:
Thứ nhất, sinh viên đang học từ học kỳ thứ ba đến học kỳ thứ bảy chương trình đào tạo thứ nhất của chương trình đào tạo bằng kép
Thứ hai, điểm trung bình chung học kỳ tính đến thời điểm đăng ký học bằng kép đạt từ 2,50 (khá) trở lên hoặc đối với một số trường, sinh viên có điểm trung bình chung học kỳ tính tới thời điểm đăng kí là 2.0 trở lên
Thứ ba, sinh viên có đơn xin học bằng kép và tự nguyện đóng kinh phí đào tạo theo quy định của đơn vị đào tạo
Ví dụ, tại ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQGHN), sau năm học thứ nhất trở
đi, sinh viên có điểm trung bình chung học kỳ tính tới thời điểm đăng kí là 2.0 trở lên, nếu có nguyện vọng, sinh viên được đăng ký học thêm một chương trình đào tạo thứ hai ở các đơn vị đào tạo trong ĐHQGHN để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng đại học chính quy Sinh viên ngành Quản lý tài nguyên thiên nhiên được đăng ký học ngành Kinh tế phát triển của Trường ĐH Kinh tế; Sinh viên ngành Địa lý được đăng ký học ngành Địa chính và SV ngành Địa chính được đăng ký học ngành Địa lý của Trường KHTN
Đối với chương trình đào tạo bằng kép ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), SV điểm trung bình chung học kỳ tính đến thời điểm đăng ký học bằng kép đạt từ 2,50 (khá) trở lên, nếu có nguyện vọng học bằng kép, SV có thể đăng ký và học các ngành đào tạo của trường (như Văn học – Báo chí, Du
Trang 34lịch – Khoa học quản lí…) hoặc giữa các ngành của trường với đơn vị khác trong ĐHQGHN (như Du lịch – Ngoại ngữ, Quốc tế học – Ngoại ngữ…)
Tuy nhiên, ở một số trường đại học như Đại học Đà Nẵng có hình thức yêu cầu tuyển sinh khác Đối tượng đào tạo chương trình thứ 2 là sinh viên
chính quy của trường; đã kết thúc học kỳ thứ nhất của năm học đầu tiên; không
thuộc xếp hạng học lực yếu ở chương trình thứ nhất tại thời điểm đăng ký học
chương trình thứ hai; không đang theo học chương trình thứ 2 khác tại một trường ĐH thành viên của ĐH Đà Nẵng; có điểm thi tuyển sinh không thấp hơn điểm trúng tuyển vào trường hoặc không thấp hơn điểm trúng tuyển vào ngành đối với các trường lấy điểm chuẩn theo ngành đăng ký học chương trình thứ hai vào năm sinh viên trúng tuyển; ngành đào tạo chương trình thứ 2 phải khác ngành đào tạo ở chương trình thứ nhất và cùng khối thi tuyển sinh
Tại Trường ĐH Hà Nội cũng tham gia vào việc đào tạo bằng kép Tất cả sinh viên hệ chính quy sẽ có cơ hội học ngành thứ hai nếu kết quả học tập của năm trước đạt từ 7 điểm trở lên Ngành thứ hai có thể là ngoại ngữ hoặc một trong 6 chuyên ngành quản trị kinh doanh, du lịch, quốc tế học, công nghệ thông tin, tài chính - ngân hàng, kế toán dạy bằng tiếng Anh
Như vậy, hình thức và nội dung của chương trình đào tạo bằng kép ở trường Đại học khá đa dạng, nhưng tất cả đều hướng đến mục tiêu chung là nhằm đào tạo ra cử nhân có hai ngành hệ chính quy trong một thời gian liên tục của một khóa đào tạo chung nhất định
1.3.2.2 Nội dung của chương trình đào tạo theo bằng kép
Chương trình đào tạo bằng kép được thiết kế dựa trên hai chương trình đào tạo chuẩn có khối lượng kiến thức trùng nhau ít nhất 40 tín chỉ, gồm 2 phần: phần 1 là các môn học chung của hai chương trình đào tạo, sinh viên chỉ cần tích lũy một lần, phần 2 là các môn học còn lại của hai chương trình đào tạo, sinh viên phải tích lũy đủ Sinh viên tích lũy đủ số tín chỉ theo yêu cầu của cả hai chương trình đào tạo, khi tốt nghiệp được cấp 2 bằng
Quy định này nhằm đảm bảo cho sinh viên học bằng kép có đủ điều kiện
về thời gian để học đồng thời hai chương trình đào tạo thứ nhất với chương trình
Trang 35đào tạo thứ 2 Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình đào tạo thứ hai, nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp chương trình đào tạo thứ nhất
Tổ chức đào tạo bằng kép là sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ của các đơn vị trong quá trình xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức đào tạo, đảm bảo tính liên thông giữa các khoa, trường, do vậy để xây dựng kế hoạch đào tạo chương trình bằng kép hiệu quả thì việc quản lý chặt chẽ từng hoạt động, tổ chức chương trình đào tạo bằng kép là cần thiết
1.3.3 Nội dung quản lý hoạt động dạy học theo CTĐT bằng kép
1.3.3.1 Quản lý hoạt động giảng dạy
Quản lý hoạt động giảng dạy CTĐT bằng kép có sử dụng các quy định
về biểu mẫu sổ sách dùng để theo dõi quá trình giảng dạy gồm:
- Hệ thống biểu mẫu sổ sách tổ chức dạy học:
+ Kế hoạch đào tạo từng khóa học theo từng ngành đào tạo
+ Tiến độ giảng dạy trong năm học của từng lớp
+ Kế hoạch giáo viên: kế hoạch giảng dạy và các hoạt động khác của từng giáo viên
+ Kế hoạch sử dụng các thiết bị dạy – học
+ Lịch giảng dạy môn học: Nội dung, chương trình môn học, thời gian thực hiện, các công tác chuẩn bị cho giảng dạy môn học
+ Đê cương môn học, giáo án, bài giảng
+ Hệ thống sổ sách, biểu mẫu theo dõi quá trình kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch đào tạo:
+ Phiếu báo giảng: Để theo dõi quá trình lên lớp và kết quả học tập của sinh viên các lớp được phân công cho giảng viên giảng dạy
+ Kết quả thi, kiểm tra: Là bản xác nhận kết quả học tập của sinh viên trong mỗi môn học đã được thông qua giảng viên, bộ môn và phòng đào tạo trong đó, ghi rõ điểm theo hệ số, điểm trung bình môn học, điểm thi kiểm tra hết môn và điểm tổng kết môn học
+ Sổ đầu bài hàng ngày: Dùng cho giảng viên giảng dạy trên lớp Trong
đó, thể hiện các nội dung theo dõi trong quá trình đào tạo như: danh sách giảng
Trang 36viên dạy các lớp, thời khóa biểu của các lớp theo từng giai đoạn, phần ghi nội dung và kết quả kiểm tra tình hình dạy học, điểm danh sinh viên trong mỗi buổi lên lớp, tóm tắt nội dung bài giảng, kết quả học tập của từng môn học, xếp loại đạo đức của từng sinh viên theo từng giai đoạn
1.3.3.2 Quản lý hoạt động học của sinh viên
Quản lý hoạt động học tập của sinh viên là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của người học trong suốt quá trình học tập Sinh viên có những đặc điểm tâm lí, phong tục, tập quán khác nhau Do đó, nhà trường cần tăng cường các biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, vì sinh viên vừa là đối tượng quản lí vừa là chủ thể quản lí
Trong quản lí hoạt động học tập, cần lưu ý tính phức tạp và tính trừu tượng về sự chuyển biến trong nhân cách, do tác động đồng thời của nhiều yếu
tố chủ thể và khách thể, làm cho kết quả học tập của sinh viên bị hạn chế
* Quản lý hoạt động học tập các môn đã đăng kí của sinh viên
Quản lý hoạt động học tập của sinh viên có nội dung, yêu cầu cụ thể, vì vậy cần phải tăng cường việc kiểm tra, đánh giá các hoạt động học tập của sinh viên và hoạt động giáo dục của cán bộ giảng dạy Chất lượng đào tạo không chỉ phụ thuộc vào chất lượng giảng dạy của cán bộ giảng dạy mà còn phụ thuộc vào kết quả học tập của học sinh sinh viên, để đánh giá công tác quản lí của hoạt động dạy học
Hoạt động học tập của sinh viên là hoạt động song song cùng tồn tại với hoạt động dạy của giảng viên Quản lí hoạt động học tập của sinh viên là quản lí việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu và rèn luyện nghề nghiệp của sinh viên Do vậy, quản lý việc học tập của sinh viên cần có những nội dung cụ thể sau:
Quản lí việc hướng dẫn sinh viên học tập, tìm ra phương pháp học tập phù hợp với các bộ môn, tìm ra quy trình hình thành kĩ năng nghề nghiệp một cách tối ưu Phương pháp học tập có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập và kĩ năng nghề nghiệp của sinh viên
Trang 37Quản lí việc phân tích, đánh giá kết quả học tập của sinh viên Việc quản
lí việc phân tích, đánh giá kết quả học tập của sinh viên là yêu cầu cần thiết trong công tác quản lí hoạt động dạy học của trường Để có cơ sở cho việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên cần phải thực hiện nghiêm túc quy chế thi, kiểm tra xét lên lớp, xét tốt nghiệp hiện hành Trên cơ sở đó phân tích kết quả học tập của sinh viên ở từng môn học, từng nghề, từng bậc học
* Quản lý hoạt động giáo dục hình thành nhân cách
Quản lí hoạt động giáo dục tuyên truyền nhằm giúp sinh viên có thái độ đúng đắn trong học tập, rèn luyện nghề nghiệp, giúp cho sinh viên có thêm hứng thú, tự giác tìm tòi, nghiên cứu, chủ động lĩnh hội kiến thức
Quản lí việc chấp hành nề nếp học tập, tinh thần và thái độ học tập, sự chuyên cần trong học tập (thông qua sổ lên lớp hàng ngày và kết quả các bài kiểm tra điều kiện) Quản lí hoạt động tự học của học sinh thông qua quy định
về giờ tự học của Nhà trường Quản lí việc chấp hành nề nếp học tập là quản lí việc xây dựng, ban hành và duy trì hệ thống những quy định nề nếp học tập ở trên lớp, hoạt động tự học, tự nghiên cứu trong sinh viên đồng thời xây dựng được kỉ cương trong hoạt động dạy học
1.3.3.3 Quản lý hoạt động lập kế hoạch đào tạo
Để xây dựng kế hoạch đào tạo chương trình bằng kép, các trường có đào tạo chương trình bằng kép sẽ được công bố rộng rãi thông tin tuyển sinh trên các phương tiện thông tin ở khoa, trường Kế hoạch tuyển sinh gồm những nội dung sau đây: chỉ tiêu tuyển sinh, đối tượng tuyển sinh, điều kiện và phương thức xét tuyển, hồ sơ đăng ký xét tuyển, nhận hồ sơ, công bố kết quả trúng tuyển, nhập học, lệ phí tuyển sinh, chương trình đào tạo, học phí, tổ chức đào tạo, điều kiện tốt nghiệp được thông báo chi tiết cho sinh viên
1.3.3.4 Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên
Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên thực chất là quản lí nhiệm
vụ giảng dạy của đội ngũ cán bộ giảng dạy Cán bộ giảng dạy truyền đạt những kiến thức, kĩ năng và những giá trị về tư tưởng, phẩm chất còn được trang bị cho học sinh, sinh viên Đồng thời, cán bộ còn có nhiệm vụ phải học tập, rèn luyện,
Trang 38bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ, nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy của mình Trong quá trình giáo dục và đào tạo cán bộ giảng dạy vừa
là đối tượng quản lí, vừa là chủ thể quản lí của hoạt động giảng dạy
* Quản lý việc xây dựng đề cương môn học
Quản lí việc xây dựng đề cương môn học là quản lí việc xây dựng kế hoạch, thực hiện kế hoạch và chương trình giảng dạy theo đúng nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ của môn học đã được thông qua Quản lí việc giảng dạy từng giờ, từng tuần, từng tháng theo đúng kế hoạch nội dung trong đề cương môn học
* Quản lý việc phân công của giảng viên
Quản lí và giám sát chặt chẽ việc thực hiện nề nếp ra vào lớp đảm bảo nghiêm túc về thời gian, quy định về nội quy lớp học
Quản lí tổ chức thao giảng, hội giảng trên cơ sở đó đề ra những biện pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt việc đào tạo, bồi dưỡng, vận dụng các phương pháp dạy học mới mang lại hiệu quả cho hoạt động giảng dạy
Quản lí việc xây dựng kế hoạch mua sắm thiết bị phương tiện dạy học, dụng cụ, thực tập nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất cho hoạt động giảng dạy
Quản lí hồ sơ chuyên môn của giảng viên, đây là cơ sở giúp cho nhà quản lí nắm được tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ pháp lí, đánh giá việc thực hiện nề nếp chuyên môn của họ và phản ánh chất lượng dạy
và học
Quản lí hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của giảng viên, trên cơ sở đó đưa
ra định hướng cho phù hợp với nhu cầu của Nhà trường và nguyện vọng của mỗi
cá nhân, là cơ sở để sắp xếp, điều chỉnh giảng viên cho phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực cụ thể của từng người phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường
* Quản lý việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên
Quản lí việc thực hiện quy chế thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy và học, đây là một trong những khâu quan trọng không thể thiếu được trong hoạt động giảng dạy
Trang 39Kiểm tra, đánh giá kết quả giảng dạy của giảng viên, kết quả học tập của sinh viên là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của giảng viên, học tập của sinh viên, trên cơ sở đó đề
ra những biện pháp phù hợp giúp giảng viên và sinh viên đạt được những kết quả tốt nhất trong giảng dạy và học tập
1.3.3.5 Quản lý việc xây dựng thời khóa biểu giảng dạy và học tập
Việc tổ chức và xây dựng thời khóa biểu, lịch học của các lớp môn học được tiến hành dựa trên cơ sở lịch học ngành thứ nhất của các khoa, các khoa có sinh viên theo học chương trình đào tạo bằng kép tại các trường Đại học
Công tác tổ chức, quản lý đào tạo cho sinh viên chương trình đào tạo bằng kép được tiến hành theo hình thức học theo tín chỉ
1.3.3.6 Quản lý đăng ký lớp môn học
Việc tổ chức đăng ký lớp môn học, sinh viên đăng ký qua mạng Internet,
sử dụng Phần mềm quản lý đào tạo và quản lý người học của từng trường Đại học và thông báo hướng dẫn cụ thể cho từng học kỳ (kể cả học kỳ hè) Hết thời hạn đăng ký qua mạng, sinh viên còn được thay đổi, bổ sung, hủy các lớp môn học mà mình đã đăng ký tùy thuộc và khối lượng tín chỉ đã đăng ký cho phù hợp với sức học của mình
1.3.3.7 Quản lý điều kiện cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập
Cơ sở vật chất, kĩ thuật là một yếu tố quan trọng để bảo đảm yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học nên trường luôn quan tâm đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật ngày càng được khang trang, hiện đại Tuy nhiên, việc quản lí và sử dụng nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất đúng theo các quy định Rà soát các khoản chi, sử dụng cơ sở vật chất có hiệu quả, tiết kiệm Thu đủ các nguồn thu có thể thu được trong hoạt động của nhà trường
1.3.3.8 Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động dạy và học
Việc tổ chức kiểm tra đánh giá trong quá trình học cho sinh viên chương trình đào tạo bằng kép được thực hiện nghiêm túc, tương tự như đối với sinh viên chuẩn của trường Cụ thể, sinh viên được đánh giá điểm rèn luyện (chuyên cần), điểm học tập, điểm giữa kỳ ở tất cả các môn học của chương trình đào tạo
Trang 40bằng kép nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo thông qua việc kiểm tra đánh giá trên lớp
Điểm đánh giá môn học bao gồm: điểm đánh giá bộ phận ( trung bình của các điểm kiểm tra thường xuyên, định kỳ trên lớp; điểm đánh giá nhận thức
và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần; điểm kiểm tra giữa kỳ, điểm tiểu luận, bài tập lớn ) và điểm thi kết thúc môn học, trong đó điểm thi kết thúc môn học bắt buộc và có trong số không dưới 60% điểm của môn học
Kiểm tra đánh giá thường xuyên là hoạt động của giáo viên sử dụng các
kỹ thuật đánh giá khác nhau trong các hình thức tổ chức thực hiện giờ tín chỉ nhằm kiểm tra việc nằm vững kiến thức và rèn luyện kỹ năng đã được xác định trong mục tiêu của môn học, đồng thời qua đó có được những thông tin phản hồi giúp giáo viên, sinh viên điều chỉnh cách dạy, cách học, thay đổi phương pháp dạy, học cho phù hợp
Kiểm tra đánh giá định kỳ, giữa kỳ là hoạt động của giáo viên vào những thời điểm đã quy định trong đề cương môn học, nhằm đánh giá mức độ đạt mục tiêu môn học ở giai đoạn tương ứng của sinh viên
Bài kết thúc môn học có thể thực hiện bằng các hình thức thi viết (trắc nghiệm khách quan hoặc tự luận với thời gian từ 60 phút đến 180 phút), vấn đáp, thực tập hoặc kết hợp các hình thức trên
Việc lựa chọn các hình thức đánh giá môn học và trong số của các điểm đánh giá môn học bộ phận và điểm thi kết thúc môn học do giáo viên đề xuất, được Chủ nhiệm khoa (hoặc chủ nhiệm khoa trực thuộc) phê duyệt và phải được quy định trong đề cương
Để kiểm tra, đề tài tiểu luận, nội dung bài tập lớn và đề thi kết thúc môn học phải phù hợp với nội dung môn học đã quy định trong đề cương môn học Đáp án và thang điểm chấm điểm bộ phận, chấm bài thi kết thúc môn học phải được biên soạn cùng với đề kiểm tra, đề tài tiểu luận, nội dung bài tập lớn, đề thi kết thúc môn học Thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định việc sử dụng đề kiểm tra,
đề thi phải do giáo viên đề xuất hoặc lấy từ ngân hàng đề thi