Giả thuyết khoa học Từ thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT ở trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên, nếu đề xuất và áp dụng một số biện pháp quản lý hoạt động
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI TIẾN SĨ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI TIẾN SĨ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Quốc Thành
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả xin trân trọng cảm ơn tới Hội đồng Khoa học và Phòng Đào tạo - Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học đã dành nhiều tâm huyết truyền đạt những tri thức quý báu, giúp đỡ tác giả hoàn thành khóa học và luận văn
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Quốc
Thành đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
thầy đã hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu để tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên, trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Điện Biên, các trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện trong tỉnh đã tận tình giúp đỡ và cung cấp số liệu tốt nhất cho việc hoàn thành luận văn Đồng thời, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và bạn bè đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Mặc dù, Tác giả đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu nhưng do hạn chế về nguồn lực và thời gian cho nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả trân trọng tiếp thu và cảm ơn những đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp và các bạn đọc
để tác giả hoàn thiện tốt luận văn và có giá trị thực tiễn hơn./
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Bùi Tiến Sĩ
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục biểu đồ, sơ đồ vii
MỞ ĐẦU……… ……… 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Ở trong nước 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 10
1.2.1 Quản lý 10
1.2.2 Quản lý giáo dục 12
1.2.3 Hoạt động dạy học 13
1.2.4 Quản lý hoạt động dạy học 15
1.3 Giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông 17
1.3.1 Trung tâm GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân 17
1.3.2 Những đặc trưng của hệ thống trung tâm GDTX 19
1.3.3 Vị trí của hệ giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông 20
1.3.4 Nội dung chương trình GDTX cấp trung học phổ thông 20
1.3.5 Đặc điểm của học viên giáo dục thường xuyên cấp THPT 21
1.4 Quản lý hoạt động dạy học ở trung tâm giáo dục thường xuyên 22
1.4.1 Các quy định chung về quản lý trung tâm GDTX 22
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT 23 1.5 Các yếu tố tác động đến quá trình quản lý HĐDH chương trình GDTX cấp THPT 30
1.5.1 Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội 30
Trang 61.5.2 Nội dung, chương trình, phương pháp tổ chức dạy học, về cơ sở vật
chất và trang thiết bị 31
1.5.3 Nhận thức của các lực lượng giáo dục về tầm quan trọng của HĐDH 31 1.5.4 Nhu cầu học, hoạt động tự học của HV 32
1.5.5 Cơ chế quản lý GDTX của từng địa phương 33
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN 35
2.1 Khái quát về kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo tỉnh Điện Biên 35
2.1.1 Đặc điểm tình hình về địa lý, dân cư và kinh tế - xã hội 35
2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục và đào tạo tỉnh Điện Biên 36
2.2 Vài nét về trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên 37
2.2.1 Qúa trình phát triển của trung tâm 37
2.2.2 Kết quả giáo dục cấp THPT của trung tâm GDTX 39
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT ở trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên 41
2.3.1 Tổ chức khảo sát 41
2.3.2 Kết quả khảo sát 43
2.4 Đánh giá chung quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT tại trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên 63
2.4.1 Ưu điểm 63
2.4.2 Tồn tại 63
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN 66
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 66
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 66
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 66
Trang 73.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 67
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 67
3.2 Các biện pháp quản lý cụ thể 68
3.2.1 Tổ chức giáo dục cho cán bộ quản lý, giáo viên hiểu rõ về trách nhiệm phải nâng cao chất lượng dạy học của trung tâm GDTX 68
3.2.2 Tăng cường chỉ đạo và quản lý công tác sinh hoạt tổ chuyên môn 70
3.2.3 Kiếm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động dạy của giáo viên, tạo động lực cho giáo viên tích cực trong dạy học 73
3.2.4 Đổi mới quản lý hoạt động học của học viên 77
3.2.5 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học viên theo chuẩn kiến thức kĩ năng, chú trọng tính đặc thù của đối tượng 81
3.2.6 Quản lý và sử dụng hiệu quả điều kiện phục vụ hoạt động dạy và học 84 3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 88
3.4 Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 89
3.4.1 Tổ chức thăm dò 89
3.4.2 Kết quả thăm dò 90
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
1 Kết luận 95
2 Khuyến nghị 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 102
Trang 8DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Thống kê đội ngũ CBQL, giáo viên trong Trung tâm… 39 Bảng 2.2 Thống kê kết quả học tập của học viên BTVH (2008 -
Bảng 2.6 Giám đốc quản lý việc lập kế hoạch và thực hiện chương
trình của tổ chuyên môn ở TTGDTX……… 45 Bảng 2.7 Những căn cứ giám đốc trung tâm sử dụng để phân công
giảng dạy cho giáo viên……… 48 Bảng 2.8 Các hình thức giám đốc phân công giảng dạy cho giáo
Bảng 2.9 Giám đốc quản lý việc chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên 50 Bảng 2.10 Giám đốc quản lý công tác đổi mới phương pháp dạy học 52 Bảng 2.11 Giám đốc quản lý giờ dạy và hồ sơ chuyên môn của
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tính cần thiết của các biện pháp……… 92
Biểu đồ 3.2 Tính khả thi của các biện pháp……… 93
Sơ đồ 1.1 Vai trò của trung tâm GDTX……… 20
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp……… 88
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với mục tiêu giáo dục và đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, có tri thức, có sức khỏe thẩm mỹ nghề nghiệp… Để đạt được mục tiêu của Giáo dục và đào tạo cần thực hiện đồng thời hai con đường đó là giáo dục chính quy và GDTX Giáo dục thường xuyên đã khẳng được vai trò quan trọng của mình trong góp phần xây dựng xã hội học tập Tuy nhiên, để GDTX đáp ứng được nhu cầu học tập của các tầng lớp nhân dân nhưng cũng phải đáp ứng yêu cầu của xã hội thì việc nâng cao chất lượng dạy học hệ GDTX ở trung tâm là cần thiết
Hiện nay, giáo dục thường xuyên là xu thế phát triển tất yếu trên thế giới, có vị trí chiến lược và vai trò quan trọng không thể thiếu được trong hệ thống giáo dục quốc dân của các quốc gia Theo UNESCO đánh giá thì Giáo dục chính quy và Giáo dục thường xuyên đều có tầm quan trọng như nhau đối với sự phát triển tài nguyên con người Ở Việt Nam, giáo dục thường xuyên là một bộ phận quan trọng bên cạnh giáo dục chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục thường xuyên đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí cho người dân, đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội, đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi người Ngoài ra, giáo dục thường xuyên còn có một vai trò đặc biệt quan trọng là góp phần xây dựng một xã hội học tập, tạo cơ hội điều kiện thuận lợi cho mọi lứa tuổi, mọi trình độ học tập thường xuyên, học liên tục và học suốt đời
Để ngành học GDTX có vị trí vững vàng trong hệ thống giáo dục quốc dân và có mô hình trung tâm GDTX phát triển bền vững thì cần phải
có sự quan tâm của Nhà nước, ngành giáo dục và của cả cộng đồng Chúng ta đều biết mục tiêu của GDTX là: giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học tập, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội
Trang 11Điện Biên là một tỉnh miền núi vùng cao, biên giới, ngành Giáo dục và đào tạo của tỉnh trong những năm gần đây đã có sự phát triển cả về số lượng
và chất lượng Giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục thường xuyên Điện Biên nói riêng đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội (KH - XH) của tỉnh nhà Trong đó, trung tâm giáo dục thường xuyên hướng nghiệp (TTGDTX) tỉnh Điện Biên đã góp phần tích cực trong việc tổ chức dạy học, nâng cao trình độ học vấn cho người dân trên địa bàn, chuẩn hóa trình độ cho cán bộ công chức
ở các cơ quan, ban ngành, đoàn thể của tỉnh Nhìn chung chất lượng giáo dục trong trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên đã có những tiến bộ, tuy nhiên đứng trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước, trung tâm GDTX còn nhiều vấn đề hạn chế và bất cập đó là: Chất lượng chuyên môn của giáo viên có mặt vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục Một số giáo viên vẫn dạy theo lối cũ, nặng về truyền đạt lý thuyết, ít chú ý đến sự phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành và khả năng thích ứng với môi trường
xã hội của học viên trong trung tâm Trình độ của giáo viên không đồng đều
và nhìn chung còn thấp, khả năng nghiên cứu khoa học, khả năng tự học, tự bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên chưa cao Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, điều kiện học tập còn thiếu chưa đáp ứng nhu cầu đổi mới chương trình GDTX hiện nay Một số giáo viên chậm đổi mới phương pháp dạy học, ý thức học tập của học viên chưa cao, còn thiếu tính tự giác trong học tập Công tác quản lý hoạt động dạy học chưa có chiều sâu, đôi khi còn lỏng lẻo Do đó chất lượng đào tạo của trung tâm chưa đáp ứng được nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho tỉnh nhà Đội ngũ cán bộ quản lý vừa làm vừa học, còn thiếu kinh nghiệm, số lượng cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn trên chuẩn thấp, năng lực điều hành quản lý còn hạn chế nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển chung của trung tâm
Trang 12Với lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu đề tài:“Quản lý hoạt
động dạy học ở trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Điện Biên, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học phù hợp với đặc điểm học viên và điều kiện ở trung tâm GDTX
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT ở trung tâm GDTX
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp
THPT ở trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên
4 Giả thuyết khoa học
Từ thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT ở trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên, nếu đề xuất và áp dụng một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT ở trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên dựa trên các cơ sở của khoa học quản lý giáo dục hiện đại thì hiệu quả quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT ở trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên nói riêng
sẽ được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong bối cảnh hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về dạy học và quản lý dạy học ở trung tâm giáo dục thường xuyên;
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý dạy học chương trình GDTX cấp THPT ở trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên;
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT ở trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên
Trang 136 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng: Đề tài chỉ tập trung tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT ở trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên Các hệ đào tạo khác ở trung tâm GDTX không thuộc đề tài này
- Về thời gian: Các số liệu về trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên chỉ sử dụng trong 5 năm trở lại đây
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn bản, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và các cấp
có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố, các bài báo trong các tạp chí, sách… phân tích, đánh giá tìm ra các cơ sở lý luận đã được nghiên cứu và những vấn đề cần giải quyết
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát cách thức quản lý hoạt động dạy học, biện pháp quản lý hoạt động dạy học của trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên
7.2.2 Phương pháp điều tra
Sử dụng bảng câu hỏi để thu thập các thông tin, trưng cầu ý kiến về tính khả thi và mức độ cần thiết của các biện pháp được đề xuất
7.2.3 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến của các chuyên gia (qua khảo sát và phỏng vấn) những vấn
đề về lĩnh vực quản lý hoạt động dạy học trong giai đoạn hiện nay
7.3 Các phương pháp hỗ trợ khác
Dùng các công thức toán thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra kết luận phục vụ công tác nghiên cứu
Trang 148 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở trung tâm GDTX
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên
Chương 3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Giáo dục có tầm quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, nên từ xưa đến nay luôn được dành sự quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Ở phương Đông, từ thời cổ đại, Khổng Tử (551- 479, TCN) - nhà chính trị, triết gia nổi tiếng, nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Hoa cổ đại, người đã khai sinh ra ngôi trường đầu tiên của nhân loại, người được xếp
là một trong 10 vĩ nhân của thế giới cho rằng: Đất nước muốn phồn vinh, vững mạnh thì phải chú trọng đến 3 yếu tố: Thứ (làm cho dân đông), Phú (làm cho dân giàu), Giáo (làm cho dân có giáo dục, được học hành)
Từ thế kỷ XVI, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện nhiều lý luận gia về mặt chính trị, giáo dục Dạy học và quản lý dạy học
đã được nhiều nhà giáo dục thực sự quan tâm Trong đó, nổi bật nhất là
Kômenski (1592-1670) - nhà tư tưởng nhân văn người Séc Với tác phẩm “Lý
luận dạy học vĩ đại” viết năm 1632, ông đã đưa ra lý thuyết dạy học kiểu mới
với các nguyên tắc dạy học như nguyên tắc trực quan, nguyên tắc nhất quán, nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và tính hệ thống… Qua đó thể hiện gián tiếp rằng kết quả dạy học có liên quan đến chất lượng người dạy trong việc vận dụng có hiệu quả các nguyên tắc dạy học
Đến khoảng cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ thứ XX, khoa học giáo dục thực sự có sự biến đổi về chất Những vấn đề chủ yếu trong các tác phẩm kinh
điển của chủ nghĩa Mác - Lênin là các quy luật về “sự hình thành cá nhân
con người”, về “tính quy định về kinh tế xã hội đối với giáo dục…” đã định
hướng cho HĐGD, đặt ra các thách thức đối với giáo dục và QLGD
Ngay sau khi thoát khỏi đại chiến thế giới thứ hai, Nhật Bản một nước
Trang 16ngoài phát triển chính con người Họ đã nhận thức được vai trò rất quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước Trong điều kiện thiếu thốn về tài nguyên, lại tổn thất nhiều bởi chiến tranh nhưng ngay từ những năm 1946 Nhật Bản đã đầu tư rất lớn cho giáo dục với 28% ngân sách và tiếp tục thêm mỗi năm 1% cho đến 32% ngân sách cho giáo dục vào năm 1950 và ổn định
từ đó cho đến nay (chưa nước nào trên thế giới có thể làm được điều đó)
Ngay cả Mỹ một nước phát triển nhất thế giới, để giữ vững vị trí hàng đầu trên trường Quốc tế, nguyên tổng thống Mỹ Bill Clinton đã ra thông điệp
gửi quốc dân ngày 04/2/1997 kêu gọi: “Tôi đưa ra lời kêu gọi hành động để
cho nước Mỹ bước vào thế kỷ XXI, hành động để duy trì nền kinh tế của chúng ta, hành động để tăng cường nền giáo dục, công nghệ khoa học…”
Ông cho rằng: “Giáo dục là vấn đề an ninh quốc gia tối quan trọng đối với
tương lai của chúng ta”
Các nước phát triển trên thế giới đã đi lên từ cải tổ lại hệ thống giáo dục Họ chú trọng đến phát triển giáo dục vì thuộc tính của sản phẩm giáo dục mang thuộc tính hình thái ý thức xã hội và mang thuộc tính hàng hóa khi sản phẩm giáo dục gia nhập vào thị trường lao động Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX họ đã chú ý đầu tư cho giáo dục thường xuyên (GDTX) tùy theo điều kiện và hoàn cảnh của mỗi nước Qua điều tra nghiên cứu về sự tăng trưởng mạnh mẽ của các nước Tây Âu cho thấy rằng chính sự đầu tư vào giáo
dục đã mang lại hiệu quả đó Chính vì vậy các nhà kinh tế đã đầu tư “vào con
người”, đầu tư “vào nguồn nhân lực”
Ở các nước đang phát triển ngày càng thừa nhận vai trò của GDTX trong sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước Có đầu tư vào nguồn nhân lực vốn được coi là đầu tư cho phát triển thì các nước này mới mong thoát khỏi sự lệ thuộc về kinh tế, độc lập về chính trị Giáo dục thường xuyên dần dần được coi là công cụ của chính sách quốc gia ở các nước đang phát triển
Trang 17Tùy điều kiện, chính sách của từng quốc gia mà giáo dục thường xuyên được đón nhận những chính sách phù hợp Ví dụ: Nhật, Úc, Hàn Quốc… giáo dục thường xuyên chú trọng đến sự phát triển và hoàn thiện nhân cách, đến việc mở rộng hiểu biết và sử dụng thời gian nhàn rỗi, nâng cao nghề nghiệp, học nghề mới để tự nâng cao chất lượng cuộc sống của chính người học Các nước đang phát, triển kinh tế còn nghèo, trình độ văn hóa thấp thì giáo dục
thường xuyên trước hết là “cơ hội học tập thứ hai”, có chức năng thay thế
hoặc nối tiếp giáo dục phổ thông chính quy cho những người chưa bao giờ đến trường hoặc bỏ học dở chừng Giáo dục thường xuyên là cầu nối cho họ cập nhật cuộc sống theo con đường ngắn hơn
1.1.2 Ở trong nước
Ở Việt Nam, giáo dục và quản lý giáo dục đã được coi trọng từ rất sớm Ngay từ thời nhà Lý, Văn miếu Quốc Tử Giám đã được xây dựng trở thành nơi đào tạo nhân tài cho đất nước và trong suốt thời kỳ phong kiến, nhiều người thầy nổi tiếng đã được bổ nhiệm làm Tế tửu, chịu trách nhiệm giảng dạy và quản lý trường đại học đầu tiên này
Sau khi đất nước giành được độc lập, một trong những mục tiêu quan
trọng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra là “diệt giặc dốt”, Bác đã
thấy rõ được tầm quan trọng của giáo dục đối với công cuộc xây dựng và bảo
vệ nền độc lập của nước nhà Từ đó đến nay, Đảng ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Chính vì vậy, kể từ sau Đổi mới (1986), Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục trong chiến lược phát triển KT -
XH của đất nước Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta
thể hiện quan điểm: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi
mới nội dung, phương pháp dạy và học” [6] Muốn làm được điều này trước
hết phải nâng cao chất lượng quản lý của lãnh đạo nhà trường, nhất là của Hiệu trưởng hay giám đốc đối với hoạt động dạy học trong các nhà trường
Đảng và Nhà nước đã đề cao vai trò giáo dục đối với sự phát triển của
Trang 18chăm lo cho sự nghiệp giáo dục Để nâng cao chất lượng, phát triển sự nghiệp giáo dục thì một trong những yếu tố quan trọng có tính chất định hướng là vấn
đề quản lý nâng cao chất lượng dạy học Điều này, được Đảng ta tiếp tục
khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI: "Đổi mới mạnh mẽ nội
dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở các cấp học, bậc học” [8]
Việc nghiên cứu về lý luận dạy học và quản lý hoạt động dạy học phục
vụ mục đích nâng cao chất lượng dạy học là một vấn đề dành được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục Bằng sự tổng hoà các tri thức của giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, kinh tế học…, các tác giả đã thể hiện trong công trình của mình một cách khoa học về các khái niệm quản lý giáo dục, quản lý trường học, chức năng quản lý, nguyên tắc và phương pháp quản lý, thông tin và môi trường quản lý; đồng thời nêu lên một cách khái quát nhất về nghiệp vụ quản lý trường học
Năm 2001, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam cho xuất bản tuyển tập
“Giáo dục học - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của cố giáo sư Hà Thế
Ngữ (1929 - 1990 ) Thông qua việc trình bày về đối tượng nghiên cứu và cấu trúc của khoa học quản lý giáo dục, khái niệm cơ bản của lý luận quản lý giáo dục, những nguyên tắc quản lý giáo dục và những quy luật giáo dục…, tác giả đã để lại nhiều tri thức về phương pháp luận nghiên cứu hiệu quả dạy học
và quản lý giáo dục
Quản lý hoạt động dạy học là một vấn đề cấp thiết nhưng mới chỉ được nghiên cứu ở những cấp độ nhất định, đáp ứng phần nào nhu cầu của những người làm công tác quản lý giáo dục ở cấp cơ sở và vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu nhằm đưa ra những mô hình tổng thể cho việc quản lý chất lượng dạy học Bên cạnh một số giáo trình của Trường ĐHSPI Hà Nội, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, Học viện quản lý giáo dục đã trình bày những vấn đề cơ bản của quản lý hoạt động dạy học Nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng được các nhà khoa học quan tâm Điển hình là các nhà khoa học: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Phúc Châu,
Trang 19Nguyễn Quốc Chí, Vũ Ngọc Hải, Trần Kiểm, Lưu Xuân Mới, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Hà Thế Truyền, Trần Thị Tuyết Oanh, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Thành Vinh…
Hướng nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học cũng được các học viên Cao học quản lý giáo dục quan tâm Có thể kể đến một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục nghiên cứu về vấn đề này như: Nguyễn Thị Hảo, Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Văn Nam, Trần Văn Thanh, Vũ Trí Thức, Nguyễn Kim Phụng, … ở rất nhiều trường THPT trên các tỉnh thành trong cả nước Luận văn của các tác giả trên đã nêu lên các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT, các trung tâm GDTX Đó là những công trình có giá trị về lý luận và thực tiễn, phù hợp với công việc của các tác giả trong thực hiện chức trách quản lý trường THPT, đồng thời cũng giúp cho CBQL các nhà trường nói chung và các hiệu trưởng trường THPT khác tham khảo để vận dụng trong công tác quản lý của mình
Tuy nhiên, đến nay chưa có những nghiên cứu cụ thể về vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, việc tìm kiếm các biện pháp quản lý hoạt động dạy học bổ túc văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới hoạt động dạy học để nâng cao chất lượng giảng dạy trong các trung tâm GDTX là hết sức cần thiết
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở một giai đoạn phát triển của nó Thuộc tính này bắt nguồn từ bản chất của hệ thống xã hội Để đương đầu với sức mạnh của thiên nhiên, để duy trì sự tồn vong của mình, thì con người ngay từ thuở xa xưa đã biết lao động chung, biết đoàn kết, biết phối hợp tạo thành tập thể, điều này cho thấy rằng: phải có sự tổ chức, phân công
và phối hợp nhằm thực hiện mục đích chung đã qui định trong lao động tức là phải có sự quản lý Các – Mác đã nói đến sự cần thiết của quản lý: “Bất kỳ
Trang 20một hoạt động nào có tính chất xã hội và chúng trực tiếp được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý.”, [20]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: " Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể
quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến" [26, tr 35]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Bản chất của hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất
lượng mới Quản lý = Quản + Lý; Trong đó : Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn
định ; Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển
Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren Vì vậy: Quản lý = ổn định + phát triển
Tác giả Hà Sĩ Hồ cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”, [15,tr 34]
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về mặt chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp có thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.”,[29]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể của người quản lý đến tập thể người lao động nói chung (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu đã dự kiến” [12, tr 21]
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, song tựu trung đều thể hiện: Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển Quản lý phải bao gồm các yếu tố sau: Phải có
Trang 21mục tiêu đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể làm căn cứ định hướng cho mọi hoạt động của tổ chức, phải có nội dung, phương pháp, phương tiện và kế hoạch hành động, một môi trường nhất định
Có thể nói: quản lý là sự tác động một cách có định hướng, có chủ đích
của chủ thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu mong muốn bằng các chức năng quản lý: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra 1.2.2 Quản lý giáo dục
Xét trên quan điểm hệ thống thì quản lý giáo dục là một bộ phận cấu thành nên hệ thống quản lý xã hội Do đó, cũng như quản lý xã hội nói chung, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Quản lý giáo dục sử dụng những thành tựu của khoa học quản lý nói chung vào lĩnh vực của mình Bên cạnh đó, do giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nên quản lý giáo dục cũng có chức năng, nhiệm vụ
và nội hàm khái niệm riêng
Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng là quản lý các hoạt động giáo dục trong xã hội Quá trình đó bao gồm các hoạt động giáo dục và có tính giáo dục của
bộ máy nhà nước, của các tổ chức xã hội, của hệ thống giáo dục quốc dân
Hiểu theo nghĩa hẹp, quản lý giáo dục là quản lý các hoạt động giáo dục đào tạo diễn ra trong các đơn vị hành chính (xã, phường, quận, huyện, ), các cơ sở giáo dục như nhà trường
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục :
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo:"Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát
là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội".[1]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt
Trang 22giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất"
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: "Quản lý nhà trường, quản lý giáo
dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành Giáo dục - Đào tạo, đối với thế hệ trẻ và với từng học sinh, hay cụ thể hơn "quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học Có tổ chức hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam XHCN mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước”
Từ những khái niệm về quản lý giáo dục nêu trên, chúng tôi cho rằng: Quản lý giáo dục là việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục Quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường là nhằm làm cho các hoạt động này phát huy được vai trò định hướng và được thực hiện một cách tương ứng, phù hợp với hoạt động của học sinh
1.2.3 Hoạt động dạy học
Giáo dục trong nhà trường được thực hiện bằng nhiều con đường, trong đó con đường quan trọng là tổ chức dạy học Hoạt động dạy học của giáo viên nhằm cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng tư duy sáng tạo và kỹ năng thực tiễn, nâng cao trình độ học vấn, hình thành lối sống văn hóa Mục đích cuối cùng là làm cho mỗi học sinh trở thành những người tự chủ, năng động, sáng tạo Như vậy, dạy học là con đường cơ bản để đạt tới mục đích giáo dục tổng thể
Hoạt động dạy học được hiểu là quá trình người giáo viên truyền thụ tri thức, kinh nghiệm cho người học, là hoạt động tổ chức điều khiển của giáo viên đối với hoạt động nhận thức của học sinh nhằm hình thành trong mỗi học sinh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, hành vi Đồng thời, hoạt động giảng
Trang 23dạy của giáo viên còn giữ vai trò tổ chức, lãnh đạo, điều khiển quá trình dạy học, mọi hoạt động giảng dạy, tổ chức, điều khiển của giáo viên đều nhằm mục đích duy nhất là thúc đẩy sự nhận thức của người học Vì vậy, người giáo viên phải nắm vững kiến thức một cách khoa học và hệ thống, phải am hiểu
và tinh thông kiến thức thực tiễn cùng với việc sử dụng phương pháp giảng dạy hợp lí, khoa học
Dạy học gồm hai hoạt động: hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hai hoạt động này luôn luôn gắn bó mật thiết với nhau, tồn tại cho nhau và vì nhau
Hoạt động dạy học là sự tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình học sinh lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách học sinh Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển sự học tập của học sinh giúp cho học sinh nắm được kiến thức, hình thành kĩ năng, thái độ Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển Nội dung dạy học theo chương trình qui định, bằng phương pháp nhà trường
Hoạt động học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh các khái niệm khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lí mới, phát triển nhân cách toàn diện Vai trò tự điều khiển hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học Khi chiếm lĩnh được khái niệm khoa học bằng hoạt động tự lực, sáng tạo, học sinh đồng thời đạt được ba mục đích bộ phận:
+ Trí dục: nắm vững tri thức khoa học
+ Phát triển tư duy và năng lực hoạt động,
+ Giáo dục thái độ, đạo đức và hình thành quan niệm
Cũng như hoạt động dạy, hoạt động học có hai chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, bằng phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó, với phương pháp nhận thức độc đáo, phương pháp chiếm lĩnh khoa
Trang 241.2.4 Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý việc chấp hành các quy định (Điều lệ, quy chế, nội quy…) về hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh, đảm bảo cho các hoạt động đó được tiến hành một cách tự giác, có nền nếp ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao
Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu: “Quản lý hoạt động dạy học là những
tác động có chủ đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý dạy học (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý dạy học (đội ngũ giáo viên, nhân viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác) nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực của nhà trường, của cộng đồng và xã hội để đưa hoạt động dạy học đến mục tiêu (xây dựng và phát triển nhân cách người học)” [5]
Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên bắt đầu từ việc soạn bài Bài soạn là một bản kế hoạch lên lớp, là bản thiết kế cho học sinh hoạt động; quản
lý các hoạt động khi dạy; tổ chức lớp học; thực hiện bài học; sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với nội dung, đối tượng và hoàn cảnh theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học; đánh giá kết quả bài học; thu thập thông tin kết quả bài học (qua học sinh, đồng nghiệp, cán bộ quản lý); đánh giá kết quả học tập của học sinh; rút kinh nghiệm bài dạy…
Quản lý hoạt động dạy học là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong quá trình giảng dạy nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra Yêu cầu của quản lý hoạt động dạy học là phải quản lý các thành tố của quá trình dạy học Các thành tố đó sẽ phát huy tác dụng thông qua quy trình hoạt động của người dạy một cách đồng bộ đúng nguyên tắc dạy học Cho nên quản lý hoạt động dạy học thực chất là quản lý một số thành tố của quá trình dạy học bao gồm: hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh, phương pháp dạy học, đánh giá kết quả học tập của học sinh Một cách cụ thể hơn, quản lý hoạt động dạy học bao gồm các nội dung sau :
+ Quản lý việc thực hiện nội dung, chương trình dạy học
Trang 25+ Quản lý sinh hoạt của tổ chuyên môn
+ Quản lý kế hoạch bài dạy
+ Quản lý giờ lên lớp của giáo viên
+ Quản lý việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học
+ Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên
+ Quản lý cơ sở vật chất, các phương tiện dạy học
Các nội dung quản lý đã nêu có vai trò như nhau trong quá trình quản lý Nếu thiếu một nội dung sẽ làm sai lệch cả quá trình Để quản lý hoạt động dạy học có hiệu quả, nhà quản lý phải biết phát huy tốt các nguồn lực của nhà trường, kết hợp nhuần nhuyễn hoạt động dạy và học, xác định đúng mục tiêu, lựa chọn nội dung chương trình thích hợp, thực hiện đúng kế hoạch, áp dụng linh hoạt các phương pháp, tận dụng hết các phương tiện và điều kiện đang
có, tổ chức linh hoạt các hình thức giảng dạy, tìm ra cách thức kiểm tra đánh giá kết quả, chất lượng giảng dạy Tóm lại, quản lý hoạt động dạy học là biết quản lý đồng bộ, thích hợp các nội dung của quá trình đã nêu
Với quan niệm về quản lý hoạt động dạy học như trên và với sự phân biệt hoạt động dạy học với quá trình dạy học, chúng tôi cho rằng: Quản lý hoạt động dạy học không đồng nhất với quản lý quá trình dạy học Quản lý quá trình dạy học là quản lý các thành tố của quá trình và các điều kiện để đảm bảo cho sự vận động của các thành tố đó Quản lý hoạt động dạy học là quản lý hoạt động của chủ thể dạy học nhằm hình thành và phát triển hoạt động học cho người học
Quản lý hoạt động dạy học phải đồng thời quản lý hoạt động dạy của giáo viên và quản lý hoạt động học của học sinh Yêu cầu của quản lý hoạt động dạy học là phải quản lý các thành tố của quá trình dạy học, trước hết các thành tố đó sẽ phát huy tác dụng thông qua quy trình hoạt động của người dạy một cách đồng bộ, hài hòa, hợp quy luật, đúng nguyên tắc dạy học
Như vậy, quản lý hoạt động dạy học là nội dung trọng tâm trong hệ
Trang 26trường, do đó phải được tiến hành đồng bộ từ quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, quản lý đội ngũ sư phạm, quản lý điều kiện và môi trường làm việc đến cơ chế hoạt động, tổ chức và điều hành, kiểm tra - đánh giá, phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
Theo giới hạn của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT trong trung tâm GDTX Để quản lý tốt hoạt động dạy học ở Trung tâm GDTX, Giám đốc phải xác định
rõ: "Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có
đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ, nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [ 26]
1.3 Giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông
1.3.1 Trung tâm GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1.1 Mục tiêu của GDTX
Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên
tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao
trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội
Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập
Hệ giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông nhằm tạo cơ hội học tập cho thanh niên và người lớn không có điều kiện học ở các trường trung học phổ thông
Mục tiêu của hệ giáo dục thường xuyên cấp THPT nhằm giúp cho học viên củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông; có những hiểu biết về Tiếng Việt, Toán, Khoa học
Tự nhiên và Khoa học Xã hội; giúp học viên làm tốt hơn công việc đang làm hoặc có thể học nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học
Trang 271.3.1.2 Nhiệm vụ của trung tâm GDTX
Điều 3, chương I, Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục
thường xuyên (Ban hành kèm theo Quyết định số: 01/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 02
tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã quy định:
1 Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục:
a Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;
b Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ;
c Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin - truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức công tác tại vùng dân tộc, miền núi theo kế hoạch hằng năm của địa phương;
d Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông
2 Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề xuất với sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng
3 Tổ chức các lớp học theo các chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông quy định tại điểm d khoản 1 của Điều này dành riêng cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàn tật, khuyết tật, theo kế hoạch hằng năm của địa phương
4 Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập
5 Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên
Trang 281.3.1.3 Vai trò của trung tâm giáo dục thường xuyên
GDTX là một hệ thống con trong hệ thống giáo dục quốc dân, là sự bổ sung về loại hình giáo dục để bên cạnh những qui trình đào tạo có hệ thống chặt chẽ còn có những hình thức đào tạo linh hoạt đáp ứng kịp thời những thay đổi thường xuyên trong quá trình phát triển GDTX có thể có những cơ
sở chuyên trách đồng thời có những cơ sở chính qui kiêm nhiệm chức năng không chính qui hoặc hợp tác, liên kết chặt chẽ với cơ sở giáo dục không chính qui nhằm:
+ Góp phần tạo công bằng giáo dục
+ Phát triển đoàn kết cộng đồng
+ Xây dựng xã hội học tập
+ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực
+ Giúp người dân cải thiện cuộc sống
Sơ đồ 1.1 Vai trò của Trung tâm GDTX
1.3.2 Những đặc trưng của hệ thống trung tâm GDTX
1.3.2.1 Tính đa dạng và linh hoạt
- Đa dạng các loại hình chương trình: chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của
CBGD
XHHT
NCDT PTCĐ
CLCS
GDTX
Trang 29người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ; Chương trình đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân;
- Đa dạng hình thức tổ chức: Vừa làm vừa học; Học từ xa; Tự học có hướng dẫn;
- Đa dạng về không gian thời gian: Học cả ngày, học nửa ngày, học buổi tối; Học liên tục, học suốt đời
1.3.2.2 Tính mềm dẻo
Tính mềm dẻo trong hoạt động giáo dục là một trong những nét đặc trưng của trung tâm GDTX, mềm dẻo biểu hiện ở tính năng động, nhạy bén, linh hoạt của tổ chức, mềm dẻo nội dung, mềm dẻo chương trình, quản lý và
có sự mềm dẻo cả hiệu quả kinh tế, đặc biệt trung tâm GDTX luôn thu hút và cung ứng được mọi cơ hội học tập cho mọi người, mọi nhu cầu với mọi điều kiện khác nhau Trung tâm GDTX cũng rất linh hoạt trong tổ chức các khóa học phù hợp với đặc điểm người học
1.3.3 Vị trí của hệ giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông
Hệ giáo dục thường xuyên cấp THPT có ý nghĩa vô cùng to lớn, vì nó cung ứng cơ hội học tập tiếp tục theo chương trình THPT cho những người hoàn thành bậc THCS nhưng vì lý do nào đó không thể vào được hệ THPT (bao gồm chính quy, bán công hay tư thục) hoặc học dở dang THPT Ở các nước đang phát triển, do ngân sách Nhà nước còn nhiều hạn chế cho việc phát triển giáo dục, nhiều người nghèo không đủ điều kiện tham gia các chương trình giáo dục chính quy Họ phải lao động để kiếm sống Trong quá trình lao động, họ nhận thấy cần phải có trình độ THPT mới có thể tiếp thu và áp dụng những kỹ thuật mới
1.3.4 Nội dung chương trình GDTX cấp trung học phổ thông
Mục đích của chương trình GDTX cấp THPT là chuẩn bị cho học viên tham gia tích cực vào cuộc sống lao động và hướng tới việc tự hoàn thiện
Trang 30đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu học tập đa dạng của thanh thiếu niên và người lớn, để giúp họ nắm được những tri thức khoa học, kỹ thuật, có được thái độ thích hợp và kỹ năng hành dụng ở trình độ tương đương THPT chính quy
Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã có Quyết định số 50/2006/QĐ-BGDĐT ban hành chương trình Giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông Học viên vào học hệ bổ túc THPT ở các Trung tâm GDTX được học các môn thuộc ban cơ bản (toán, vật lý, hoá học, sinh vật, ngữ văn, địa lý, lịch sử, ngoại ngữ, tin học, giáo dục công dân) Sau khi chương trình được ban hành, Bộ đã có công văn số 12989/BGDĐT-GDTX ngày 9/11/2006; công văn số 9019/BGDĐT-GDTX ngày 24/8/2007; công văn số 6508/BGDĐT-GDTX ngày 22/7/2008 hướng dẫn thực hiện chương trình GDTX cấp THPT
1.3.5 Đặc điểm của học viên giáo dục thường xuyên cấp THPT
Học viên hệ GDTX cấp THPT phần lớn các em đều là học sinh thi không đạt điểm vào trường chính quy hoặc lưu ban ở các trường khác chuyển đến, một số người lớn đang làm việc có nguyện vọng nâng cao trình độ học vấn để làm công việc tốt hơn, một số khác do yêu cầu của đơn vị họ phải đi học, cũng có một số nghỉ học nhiều năm, thất nghiệp muốn có giấy chứng nhận trình độ cần thiết để tìm việc làm
Nhìn chung, nguồn học viên đa dạng, không đồng đều, khá phức tạp, chênh lệch về tuổi tác, trình độ, vốn sống, động cơ học tập… dẫn đến khác biệt về tâm sinh lý, nhân sinh quan, nên ảnh hưởng đến việc tiếp thu và vận dụng kiến thức
Về hiểu biết cuộc sống và kinh nghiệm xã hội giữa các học viên cũng
có sự khác nhau Có học viên vừa hoàn chỉnh xong chương trình THCS, còn một số học viên khác: có học viên là những người trưởng thành về mặt xã hội, có gia đình, có học viên trải nghiệm đời mình trong lao động lam lũ hàng ngày
Về trình độ có sự khác biệt nhau rất xa, một số học viên bị mất căn bản
Trang 31do kiến thức tiếp thu ở cấp THCS kém bền vững, hoặc thiếu tính chính xác, tính hệ thống, một số đã nghỉ, bỏ học quá lâu nên quên kiến thức
Về tuổi đời cũng có sự chênh lệch lớn giữa các học viên Người lớn tuổi học cùng với người trẻ tuổi
Về điều kiện và thời gian dành cho việc học cũng không đồng đều Những người đang làm việc trong cơ quan, xí nghiệp hoặc lao động tự do thì không có nhiều thời gian dành cho việc học tập Một số học viên nhỏ tuổi chưa nhận thức được việc học, còn ham chơi
1.4 Quản lý hoạt động dạy học ở trung tâm giáo dục thường xuyên
1.4.1 Các quy định chung về quản lý trung tâm GDTX
Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm GDTX (ban hành kèm theo quyết định số 01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) quy định trung tâm GDTX phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
* Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục
+ Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;
+ Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu người học, cập nhật kiến thức,
kỷ năng, chuyển giao công nghệ;
+ Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin – truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức công tác tại vùng dân tộc, miền núi theo kế hoạch hằng năm của địa phương;
+ Chương trình giáo dục thường xuyên cấp THCS và THPT
* Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề xuất với Sở GD& ĐT, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình
và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng;
Trang 32* Tổ chức các lớp học theo các chương trình giáo dục thường xuyên cấp THCS và THPT quy định tại điểm d Khoản 1 của Điều này dành riêng cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàn tật, khuyết tật, theo kế hoạch hằng năm của địa phương;
* Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập;
* Quản lý giáo viên, nhân viên và học viên;
* Quản lý, sử dụng đất đai, CSVC, TTB và tài chính theo qui định của pháp luật;
* Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên
Như vậy, GDTX là hoạt động giáo dục có tổ chức, có mục tiêu, có chương trình Quản lý GDTX là một bộ phận của quản lý giáo dục, quản lý xã hội, quản lý con người là yếu tố trung tâm, là hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của sự quản lý, đồng thời có những nét đặc thù riêng làm cho nó phân biệt được với các loại hình quản lý xã hội khác, được qui định bởi bản chất lao động sư phạm của giáo viên, nhân viên, bản chất của quá trình dạy học, quá trình giáo dục, trong đó học viên vừa là đối tượng quản
lý vừa là chủ thể tự quản hoạt động của bản thân mình
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT
Cũng như các loại hình trường khác, quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT là chương trình quản lý dạy học, điều khiển quá trình dạy học theo kế hoạch, có tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra một cách thường xuyên, liên tục Nội dung cụ thể của việc quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT cụ thể như sau:
1.4.2.1 Phân công giảng dạy cho giáo viên
Việc phân công giáo viên giảng dạy là một vấn đề hết sức quan trọng, nó quyết định đến sự thành bại của một tổ chức; vì vậy, Giám đốc nên xem xét
Trang 33triển vọng và khả năng cũng như kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy của giáo viên mà lựa chọn phương án tối ưu Trong quá trình quản lý của mình, Giám đốc phải hết sức thận trọng cân nhắc các yêu cầu của công tác, khả năng của từng giáo viên, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của họ mà phân công một cách khoa học, hợp lý, phù hợp với điều kiện, năng lực của từng giáo viên, nhằm tạo ra sự công bằng, tạo ra thời gian phù hợp để giáo viên dự giờ, tái tạo sức lao động, tham gia các hoạt động khác vv; sẽ tạo ra được bầu không khí tâm lý tập thể sư phạm rất tốt, cụ thể:
- Có sự tiếp xúc thoải mái giữa các thành viên, mọi người dược tự do tư tưởng, kỷ luật không phải là bắt buộc mà là nhu cầu của họ;
- Có nhiều cuộc trao đổi ý kiến, thảo luận về các vấn đề khác nhau, đặc biệt là những vấn đề về nâng cao hiệu suất lao động và xây dựng tập thể vững mạnh;
- Mục đích hoạt động của tập thể (nhiệm vụ của tập thể) được mọi người hiểu rõ và nhất trí;
- Mọi người tôn trọng nhau và giúp đỡ nhau lao động sáng tạo;
- Trách nhiệm của mỗi người trong tập thể được xác định rõ ràng, đúng đắn Mỗi người ra sức làm tròn nhiệm vụ của mình;
- Sự nhận xét, phê bình mang tính chất xây dựng Không có tính chất đả kích, soi mói nhau dù là công khai hay ngấm ngầm;
- Người lãnh đạo vừa là thủ trưởng, vừa là thủ lĩnh;
- Không có hiện tượng cán bộ, giáo viên, công nhân viên tốt bất mãn, xin chuyển công tác;
- Năng suất lao động và hiệu quả công tác cao;
- Những người mới đến mau chóng hòa nhập được vào tập thể, cảm thấy hài lòng vì được làm việc trong tập thể đó;
Nếu không làm được điều này sẽ tạo ra bầu không khí tâm lý sư phạm u
ám, gây ảnh hưởng nhiều mặt cho tổ chức
Trang 341.4.2.2 Hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch giảng dạy
Việc xây dựng kế hoạch giảng dạy là việc xác định mục tiêu công tác giảng dạy của mỗi giáo viên phải dựa trên nhiều yếu tố mà trong đó chủ yếu dựa vào tình hình học tập của học viên theo từng khối lớp Giám đốc trước khi hướng dẫn cần nên phân tích tình hình trường lớp cụ thể, tình hình giáo viên và học viên để hướng dẫn cho giáo viên xác định mục tiêu đúng đắn, biết tìm ra biện pháp để xây dựng quy trình lập kế hoạch phù hợp và hiệu quả nhất Trong công tác quản lý của trung tâm, Giám đốc nên coi việc giáo viên thực hiện tốt kế hoạch giảng dạy là quan trọng nhất để đảm bảo chất lượng giờ dạy đồng thời đảm bảo hiệu quả giáo dục
1.4.2.3 Quản lý giáo viên thực hiện chương trình dạy học
Chương trình dạy học quy định phương pháp, hình thức dạy học, thời gian dạy học từng môn học nhằm thực hiện những yêu cầu mục tiêu cấp học Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo, chương trình dạy học là Pháp lệnh của Nhà nước do Bộ GD&ĐT ban hành Giám đốc phải thực hiện nghiêm túc, không được thay đổi tuỳ tiện, thêm hoặc cắt giảm làm sai lệch chương trình dạy học Vì vậy, hằng năm Giám đốc trung tâm phải cập nhật, nắm vững và tổ chức cho toàn bộ giáo viên nghiên cứu, học tập để nắm vững mục tiêu, chương trình dạy học của cấp học
Quản lý giáo viên dạy đúng chương trình, đủ chương trình là nắm toàn
bộ hoạt động dạy của giáo viên, cụ thể như: Kế hoạch giảng dạy, việc soạn giáo án, giờ giấc lên lớp, việc ôn tập, kiểm tra, việc tổ chức các hình thức học tập ngoài lớp học, việc học tập có hướng dẫn, muốn vậy cần thực hiện:
+ Ban Giám đốc, tổ trưởng chuyên môn yêu cầu giáo viên xây dựng chương trình dạy học môn học do mình phụ trách, trong đó kế hoạch dạy học phải được thể hiện rõ ràng;
+ Sử dụng các biểu bảng, sổ sách như: Phiếu báo giảng, sổ đầu bài, phân phối chương trình để nắm các tình hình có liên quan đến việc thực hiện chương trình;
Trang 35+ Dùng thời khoá biểu, phân phối chương trình để điều khiển và kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình dạy học của tất cả các môn học, các lớp sao cho đồng đều, cân đối, tránh chồng chéo, thiếu giờ, thiếu bài, môn dạy nhanh môn dạy chậm so với kế hoạch của từng môn
1.4.2.4 Quản lý giáo viên soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp
Có hai hình thức về việc chuẩn bị lên lớp của giáo viên, đó là việc chuẩn bị dài hạn và việc chuẩn bị cho từng tiết lên lớp
+ Chuẩn bị dài hạn: là việc giáo viên xây dựng được kế hoạch dạy học từng môn học cho toàn năm học hay từng kỳ, dựa trên chương trình dạy học, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, tình hình học tập của học viên vv và khi xây dựng cần tính đến khả năng hiện có của trung tâm về CSVC, TBDH, phục vụ cho công tác giảng dạy cho bài giảng đó;
+ Chuẩn bị cho từng tiết lên lớp: là việc soạn giáo án của giáo viên Đây là việc chuẩn bị quan trọng nhất; vì rằng: giáo án là bản thiết kế cụ thể về tiết lên lớp, do đó cần phải xác định rõ nội dung khoa học mà học viên cần nắm, các hoạt động với cách thức và phương tiện cụ thể gắn liền với thời gian phân phối cho phép trong tiết học
1.4.2.5 Quản lý giờ lên lớp của giáo viên
Hoạt động dạy học ở trung tâm được thực hiện bằng hình thức dạy học trên lớp với những tiết giảng trên lớp và hệ thống bài học trên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng dạy học Vì vậy, Giám đốc cần có những biện pháp tạo
điều kiện cho giáo viên lên lớp có hiệu quả:
+ Phân công giáo viên giỏi, có nhiều kinh nghiệm, kèm cặp, dự giờ thăm lớp giáo viên mới vào nghề;
+ Chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức trao đổi phương pháp giảng dạy từng bài, những bài khó, những tài liệu và tư liệu cần bổ sung cho bài giảng;
+ Tạo điều kiện hết sức thuận lợi về điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện dạy học để đảm bảo cho bài giảng đạt kết quả;
Trang 36+ Chỉ đạo tổ chuyên môn, tập thể sư phạm nhà trường xây dựng bộ chuẩn đánh giá trong đó mỗi tiêu chuẩn bao gồm nhiều tiêu chí nhằm giúp cho việc đánh giá giờ dạy đồng thời phân loại được giáo viên cũng như nâng cao tay nghề của giáo viên;
+ Xây dựng tiêu chuẩn giờ lên lớp để quản lý việc đánh giá giờ lên lớp của giáo viên; cụ thể là:
- Xây dựng tiêu chuẩn giờ lên lớp để kiểm tra, để định hướng đối với các loại giờ lên lớp, từng bước nâng cao chất lượng giờ giảng của giáo viên;
- Xây dựng thời khoá biểu khoa học để theo dõi quản lý giờ lên lớp Thời khoá biểu luôn duy trì nề nếp dạy học, điều khiển nhịp điệu dạy học, điều tiết giờ lên lớp của giáo viên;
- Kiểm tra giờ dạy của giáo viên trên lớp bằng hình thức dự giờ là chính, kết hợp với trao đổi trực tiếp với giáo viên về sự nhận thức của học viên;
- Từng tháng, từng kỳ cần sơ kết, phân tích đánh giá tình hình giờ lên lớp của giáo viên về mọi mặt; trình độ giảng dạy, tình hình học tập, chất lượng toàn diện của giờ lên lớp
Trong thực tế, tùy tình hình cụ thể mà vận dụng linh hoạt các yếu tố nói trên cho phù hợp
1.4.2.6 Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên
Kiểm tra và đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học viên là khâu quan trọng của quá trình dạy học Nó có tác dụng phát hiện và điều chỉnh thực trạng hoạt động học và hoạt động dạy, củng cố và phát triển trí tuệ của học viên cũng như giáo dục phẩm chất, nhân cách cho học viên Để làm được điều này, giám đốc cần nắm chắc tình hình của giáo viên trong việc thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên với các nội dung sau:
- Thực hiện chế độ kiểm tra, chế độ cho điểm theo quy định;
- Chấm bài, trả bài đúng thời hạn, thời gian quy định và đặc biệt phải có lời nhận xét và lời phê cụ thể của giáo viên để học viên rút kinh nghiệm;
- Cho điểm đúng tiêu chuẩn, biểu điểm, đáp án đã đề ra;
Trang 37- Báo cáo tình hình kiểm tra theo quy định và kết quả điểm kiểm tra trong
sổ ghi điểm cá nhân và sổ điểm nhà trường;
- Tổng kết phân loại, đánh giá học viên qua mỗi kỳ và cuối năm học
Để nắm bắt được các nội dung trên thì Giám đốc cần phân công cho Phó Giám đốc, tổ trưởng chuyên môn, thư ký hội đồng theo dõi và tổng hợp tình hình hàng tuần, hàng tháng Ngoài ra nên trực tiếp kiểm tra các loại sổ sách của giáo viên cũng như vở ghi của học viên và sau khi thu thập các thông tin thì Giám đốc cần phân tích, đánh giá, tổng kết để điều chỉnh, uốn nắn kịp thời
1.4.2.7 Quản lý hoạt động học tập của học viên
Quản lý hoạt động này bao gồm quản lý động cơ, thái độ học tập, quản
lý phương pháp học tập ở trong trung tâm cũng như ở ngoài trung tâm Cần tạo điều kiện để HV hình thành phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng tự học, bồi dưỡng thói quen, ý chí tự học, phương pháp đọc sách, phương pháp
tự nghiên cứu khơi dậy lòng say mê học tập, bộc lộ và phát triển năng lực trong HV
Triển khai linh hoạt phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” để huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài trung tâm nhằm xây dựng môi trường giáo dục an toàn, hiệu quả, phù hợp với điều kiện địa phương , đồng thời giúp các em tự tin trong học tập, khuyến khích sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng tạo và ý thức vươn lên Để quản lý tốt lĩnh vực này, giám đốc nên thực hiện một số nội dung cơ bản sau:
- Động viên, kích thích sự nỗ lực, lòng say mê học tập và tạo niềm tin cho học viên;
- Tạo động lực học tập cho HV;
- Thật sự khách quan, công bằng trong việc kiểm tra, đánh giá, xếp loại;
- Tổ chức chỉ đạo việc bồi dưỡng phương pháp và kỹ năng tự học cho HV
Trang 38- Xây dựng và tổ chức tốt các phong trào, hoạt động, hội thi
1.4.2.8 Quản lý môi trường dạy học, các điều kiện phục vụ dạy học
Đây là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong quản lý hoạt động dạy học, vì rằng; môi trường dạy học (khuôn viên, cảnh quan sư phạm,
an toàn, không có tệ nạn xã hội thâm nhập) được quan tâm đúng mức ắt hẵn
sẽ có tác động tích cực đối với người học Các điều kiện phục vụ dạy học (CSVC&TBDH) là các phương tiện lao động sư phạm cần thiết cùng với các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học khác đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng dạy học Giám đốc nên:
- Thường xuyên nắm bắt tình hình công sản của trung tâm, bổ sung và xây dựng CSVC&TBDH đáp ứng với yêu cầu tối thiểu của công tác dạy học;
- Tổ chức khai thác một cách khoa học và sử dụng có hiệu quả các CSVC&TBDH hiện có;
- Thường xuyên phát động thi tự làm đồ dùng giảng dạy và thi sử dụng
đồ dùng giảng dạy có hiệu quả;
- Tổ chức tốt việc bảo quản và nên biên chế nhân sự cụ thể cho công tác này
1.4.2.9 Tổ chức công tác thi đua khen thưởng
Thi đua là biện pháp quan trọng để động viên tích cực hoạt động của cá nhân và tập thể Khi tham gia vào phong trào thi đua thì họ sẽ thấy rõ ràng vị trí của mình trong mọi công việc mà tập thể đã đề ra, từ đó sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ đối với công việc Cần lãnh đạo tư tưởng mọi người sao cho họ thông quy về mọi sự cố gắng để lập thành tích cá nhân, hướng dẫn
họ giúp đỡ nhau tinh thần, thái độ, trao đổi để cùng nhau tiến bộ Vì vậy phải làm cho mọi người tham gia thi đua hiểu rõ và hiểu đúng quan hệ hữu cơ giữa việc đạt danh hiệu thi đua, phần thưởng với lợi ích tập thể, xã hội Trong khi
sơ kết, bình bầu khen thưởng phải thật sự công bằng, công khai và làm cho mọi người có ý thức noi theo gương điển hình tiên tiến, đồng thời nhắc nhở,
Trang 39động viên khuyến khích những người chậm tiến, giúp họ có ý thức thực hiện tốt các hoạt động để tạo ra những chuyển biến tốt
1.5 Các yếu tố tác động đến quá trình quản lý HĐDH chương trình
GDTX cấp THPT
1.5.1 Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội
Yếu tố về dân cư có tác động quan trọng đến hoạt động dạy học và quản
lý dạy học Bởi vì tồn tại xã hội bao gồm ba nhân tố: tự nhiên, phương thức sản xuất và dân số Ba nhân tố này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó dân số đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển xã hội và những biến đổi về dân số có ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi gia đình cũng như đến toàn xã hội, đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên Ngược lại, các mặt của đời sống xã hội và môi trường tác động trở lại đến dân số Dân số đông thì tỷ lệ người tham gia học tập cao, qui mô của rtrung tâm lớn hay nhỏ phụ thuộc vào
số lượng người tham gia học tập Hãy tưởng tượng một đơn vị trường học mà chỉ có vài ba lớp, mỗi lớp mười lăm đến hai mươi học viên thì chắc chắn chất lượng hoạt động dạy học không thể ngang bằng với những đơn vị có qui mô lớn hơn, bởi ở những đơn vị có qui mô lớn hơn thì người học tiếp cận và cọ sát với nhiều người hơn; sự nhận thức, động cơ, thái độ học tập của học viên cũng như tâm lý của giáo viên thích được cống hiến, được thể hiện dẫn đến quá trình giáo dục tích cực và lúc này chắc chắn rằng học viên sẽ được thụ hưởng một môi trường dạy học tốt hơn; Điều kiện dân cư, kinh tế- xã hội có tác động đến quản lý hoạt động dạy học ở trung tâm GDTX Một cơ sở giáo dục được ở một vị trí thuận lợi, địa bàn đi lại dễ dàng, sẽ thuận lợi cho người học về nhiều mặt; nếu ngược lại sẽ gây cản trở và gây ảnh hưởng lớn cho người học và tất yếu kéo theo việc ảnh hưởng của hoạt động dạy học và quản
lý hoạt động dạy học;
Trang 401.5.2 Nội dung, chương trình, phương pháp tổ chức dạy học, về cơ sở vật chất và trang thiết bị
Nội dung, chương trình dạy học phù hợp với đối tượng và nhu cầu học tập của người học là yếu tố có tác động lớn đến người học Nội dung chương trình học ở GDTX khác với nội dung chương trình ở THPT GDTX chương trình hiện nay gồm 7 môn bắt buộc gồm: Toán học, Ngữ văn, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Địa lý và Lịch sử; ngoài ra tùy thuộc vào tình hình của đơn vị mà có thể dạy thêm Tin học, Tiếng Anh, Giáo dục công dân do đó, biên chế năm học chỉ có 32 tuần thực học Người quản lý cần chú ý đến tính đặc thù để có các biện pháp, giải pháp phù hợp đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH địa phương và HV có cơ sở học tiếp lên bậc cao hơn, học suốt đời
Phương pháp tổ chức dạy học là con đường để giáo viên và học viên cộng tác tối ưu nhằm truyền đạt và lĩnh hội tri thức, đáp ứng mục tiêu dạy học Nhà quản lý phải hết sức chú ý đến vấn đề này bởi vì, việc lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sát hợp, phù hợp với đối tượng, với yêu cầu phát triển KT-XH địa phương nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học viên đến trung tâm, giúp học viên có niềm tin trong học tập, tạo động lực cho học viên học tập tốt hơn, tạo ra công bằng giáo dục, xã hội học tập;
- CSVC&TBDH là phương tiện vật chất quan trọng, là điều kiện không thể thiếu trong các thành tố cấu trúc hoạt động dạy học, yếu tố này quyết định
sự thành bại của việc, nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học, nâng cao chất lượng Nhà quản lý phải tập trung chăm lo tăng cường đầu tư, cung ứng, bổ sung, hướng dẫn sử dụng có hiệu quả
1.5.3 Nhận thức của các lực lượng giáo dục về tầm quan trọng của HĐDH
Các lực lượng tham gia giáo dục có mức độ nhận thức khác nhau, nhận thức về chủ trương, chính sách, cơ chế quản lý giáo dục đối với phát triển GDTX về mục tiêu dài hạn, ngắn hạn; về nội dung ,chương trình; đổi mới phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học; vai trò của CSVC&TBDH; vấn đề tự học của học viên; việc kiểm tra, đánh giá theo chuẩn, thi đua khen