Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng trên thế giới Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng là một quá trình hướng tới cộng đồng, dựa vào những ưu tiên, nhu cầu, kiến thức
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN _ 2
1.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới 2
1.1.1 Những khái niệm cơ bản _ 2 1.1.2 Biểu hiện biến đổi khí hậu trên thế giới _ 5 1.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu trên thế giới 7
1.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam _ 12
1.2.1 Biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam _ 12 1.2.2 Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển ở Việt Nam 15 1.2.2.1.Các kịch bản nhiệt độ trung bình 15 1.2.2.2.Các kịch bản nhiệt độ cực trị _ 16 1.2.2.3.Các kịch bản lượng mưa năm _ 17 1.2.2.4.Các kịch bản nước biển dâng _ 18 1.2.2.5.Nguy cơ ngập theo các kịch bản nước biển dâng 19 1.2.3 Tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam _ 21
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu _ 23
1.3.1 Điều kiện tự nhiên _ 45 1.3.2 Điều kiện kinh tế – xã hội _ 48 1.3.3 Các lợi thế và hạn chế của huyện Giao Thuỷ 50
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU _ 64
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 64 2.2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu _ 64 2.3 Nội dung nghiên cứu 64 2.4 Phương pháp nghiên cứu 65
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu có liên quan _ 65
Trang 42.4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn thực địa 66
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 67
3.1 Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng _ 23
3.1.1 Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng trên thế giới _ 23 3.1.2 Những đặc điểm chính của thích ứng với BĐKH trên thế giới 26 3.1.3 Bài học và thách thức trong thích ứng dựa vào cộng đồng _ 31 3.1.4 Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 37
3.2 Biến đổi khí hậu tại Nam Định _ Error! Bookmark not defined 3.2.1 Biểu hiện biến đổi khí hậu ở Nam Định Error! Bookmark not defined
3.2.1.1 Xu thế diễn biến nhiệt độ _ 52 3.2.1.2 Xu thế diễn biến lượng mưa _ 54 3.2.2 Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho tỉnh Nam Định 57 3.2.2.1.Kịch bản về nhiệt độ trung bình và lượng mưa trung bình 57 3.2.2.2.Nước biển dâng _ 61
3.3 Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng ở huyện Giao Thủy 67
3.3.1 Tác động của BĐKH tới huyện Giao Thủy _ 67 3.3.2 Nỗ lực của chính quyền địa phương trong thích ứng với BĐKH _ 72 3.3.3 Kiến thức truyền thống về các hiện tượng khí hậu 76 3.3.4 Nhận thức của người dân về BĐKH và các nguy cơ từ thiên tai _ 78 3.3.5 Biến động của thiên tai và tác động của chúng 79 3.3.6 Nỗ lực hiện thời của cộng đồng trong công tác phòng chống thiên tai 82 3.3.7 Tác động của BĐKH và biện pháp thích ứng 88 3.3.8 Các mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng ở Giao Thủy _ 90 3.3.8.1.Mô hình phát triển thủy sản bền vững 91 3.3.8.2.Mô hình tăng sinh kế cho người dân địa phương 94 3.3.8.3.Trung tâm học tập cộng đồng về BĐKH 97
3.4.Đề xuất giải pháp thích ứng dựa vào cộng đồng tại huyện Giao Thủy 98
3.4.1 Phát huy và nhân rộng những mô hình hiện có 98
Trang 53.4.2 Giải pháp về công cụ tiếp cận trong thích ứng dựa vào cộng đồng 101 3.4.3 Tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên có sự tham gia của cộng đồng trong thích ứng với BĐKH 103 3.4.4 Xây dựng mô hình giảm nhẹ rủi ro thiên tai cấp hộ gia đình _106 3.4.5 Nâng cao năng lực cộng đồng trong thích ứng BĐKH 108 3.4.6 Các giải pháp về mặt chính sách của địa phương 109
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 111
Kết luận _111 Kiến nghị 112
Trang 6DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Bảng 1.1 Tác động của BĐKH trên thế giới 8
Hình 1.1 Kịch bản mức tăng nhiệt độ trung bình năm cho các thời kỳ (oC) 16
Hình 1.2 Kịch bản mức tăng các nhiệt độ cực trị trung bình năm vào cuối thế kỷ (oC) và số ngày nắng nóng trên 35oC 17
Hình 1.3 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) vào cuối thế kỷ 21 theo các kịch bản 17 Bảng 1.2 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải thấp B1 (cm) 18
Bảng 1.3 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình B2 (cm) 18
Bảng 1.4 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao A1 (cm) 19
Bảng 1.5 Diện tích có nguy cơ bị ngập theo các mực nước biển dâng 20
Hình 3.1 Lồng ghép những kiến thức bản địa trong thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng 26
Bảng 3.1 Một số công cụ tham vấn được sử dụng trong thích ứng dựa vào cộng đồng 28
Bảng 3.2 Các hình thức tham gia của cộng đồng địa phương 34
Hình 3.2 Cách thức tiếp cận trong thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng 43
Hình 3.3 Xu thế diễn biến nhiệt độ trung bình năm 52
Hình 3.4 Xu thế diễn biến nhiệt độ trung bình tháng 1 53
Hình 3.5 Xu thế diễn biến nhiệt độ trung bình tháng 7 54
Hình 3.6 Xu thế diễn biến lượng mưa trung bình năm 55
Hình 3.7 Xu thế diễn biến lượng mưa trung bình tháng 4 56
Hình 3.8 Xu thế diễn biến lượng mưa trung bình tháng 10 56
Bảng 3.3 Mức tăng nhiệt độ trung bình (oC) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 của Nam Định ứng với các kịch bản phát thải 57
Bảng 3.4 Mức thay đổi lượng mưa (%) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với năm 1980 - 1999 của Nam Định ứng với các kịch bản phát thải từ thấp đến cao 59
Hình 3.9 Xu thế biến đổi mực nước biển trung bình năm ở Nam Định 61
Bảng 3.5 Kịch bản nước biển dâng cho thành phố Nam Định đến năm 2030 62
Bảng 3.6 Diện tích đất bị ngập ứng với mức nước biển dâng khác nhau 62
Trang 7Hình 3.10 Diện tích bị ngập nếu nước biển dâng 1m 63
Hình 3.11 Sự biến động của các loài ngao qua thời gian 72
Hình 3.12 Thi công kè đê biển Giao Phong (Giao Thuỷ) 74
Bảng 3.7 Kiến thức truyền thống về nhận biết với các hiện tượng khí hậu 77
Bảng 3.8 Nhận thức của cộng đồng về các nguy cơ thiên tai 78
Bảng 3.9 Những biện pháp được người dân sử dụng để ứng phó với lũ lụt 83
Bảng 3.12 Các hoạt động tập thể phổ biến nhất ở cấp cộng đồng 87
Bảng 3.13 Tác động của BĐKH huyện Giao Thủy theo đánh giá của người dân 88
Bảng 3.14 Biện pháp thích ứng theo lựa chọn của người dân địa phương 89
Hình 3.13 Mô hình nuôi ngao sạch - Nam Định 94
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
CBA Thích ứng dựa vào cộng đồng
MTQG Mục tiêu quốc gia
MDC Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng
GEF Quỹ môi trường toàn cầu
IPCC Ban liên Chính phủ về BĐKH
KHKTTVMT Viện Khoa học Khí tượng, Thủy Văn và Môi trường
UNDP Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
UNEP Chương trình Môi truờng Liên hợp quốc
UNFCCC Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH
Trang 9MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề đang được toàn nhân loại quan tâm BĐKH đã và đang tác động trực tiếp tới đời sống, kinh tế - xã hội và môi trường toàn cầu Việt Nam được đánh giá là một trong những nước trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất do BĐKH, trong đó đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng là những khu vực có tính tổn thương đặc biệt cao do nước biển dâng
Huyện Giao Thủy là một huyện ven biển của tỉnh Nam Định, mức độ nhạy cảm và tính tổn thương với tác động của BĐKH và thiên tai rất lớn Với BĐKH và kèm theo nó là sự dâng lên của mực nước biển, chắc chắn ảnh hưởng của thiên tai tại khu vực này sẽ gia tăng Mực nước biển dâng có thể gây hậu quả nghiêm trọng tới sinh kế và cuộc sống của người dân tại khu vực ven biển Mức độ ảnh hưởng tới kinh tế, xã hội của nước biển dâng là rất rộng lớn
Cộng đồng địa phương ở các quốc gia đang phát triển là thành phần đặc biệt
dễ bị tổn thương nhất bởi sự thay đổi khí hậu, phải hứng chịu những ảnh hưởng nghiêm trọng liên quan đến những hiện tượng thời tiết cực đoan mỗi năm ở cả thành thị lẫn nông thôn Đồng thời, cộng đồng địa phương luôn có những sáng kiến thích ứng với những trường hợp thay đổi nhất định Tuy nhiên, có rất ít các nghiên cứu về những kinh nghiệm thích ứng mà người dân đã tích lũy cũng như những biện pháp thích ứng tương lai
Từ những nhận thức trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” Nghiên cứu nhằm tìm hiểu những biện pháp cộng đồng địa
phương sử dụng để đối phó với BĐKH và các hình thức thiên tai nguy hiểm khác nhằm đề xuất các giải pháp thích ứng với BĐKH dựa vào người dân Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng là một cách thức tiếp cận mới trên thế giới và ở Việt Nam Đây được xem là hướng tiếp cận bền vững
Trang 10Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới
1.1.1 Những khái niệm cơ bản
Khí hậu – Climate: Đặc trưng của thời tiết được đặc trưng bởi các trị số thống
kê dài hạn (trung bình, xác xuất các cực trị,…) của các yếu tố khí tượng biến đổi trong một khu vực địa lý Thời kỳ tính trung bình thường là vài thập kỷ Theo định nghĩa của Tổ chức khí tượng thế giới: Khí hậu là tổng hợp các điều kiện thời tiết của một khu vực nhất định hoặc đặc trưng bởi các thống kê dài hạn của các biến số của trạng thái khí quyển ở khu vực đó
Xoáy thuận nhiệt đới: là những hệ thống áp thấp được hình thành trên các vùng đại dương nhiệt đới có hoàn lưu xoáy thuận (ngược chiều kim đồng hồ ở Bắc Bán cầu) Các xoáy thuận nhiệt có tốc gió duy trì cực đại nhỏ hơn 17 m/s được gọi là áp thấp nhiệt đới (tropical depression), từ 17 m/s đến 33 m/s được gọi là bão nhiệt đới (tropical cyclone hoặc tropical storm) Ở Việt Nam, các xoáy thuận nhiệt đới đổ bộ vào Biển Đông thường khá yếu Bão được phân loại dựa trên cấp gió Beaufort Nó bao gồm áp thấp nhiệt đới (có sức gió mạnh nhất từ cấp 6 đến cấp 7 và
có thể có gió giật.) và bão nhiệt đới (có sức gió mạnh nhất từ cấp 8 trở lên và có thể
có gió giật Bão từ cấp 10 đến cấp 11 được gọi là bão mạnh; từ cấp 12 trở lên được gọi là bão rất mạnh)
Biến đổi khí hậu (theo Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH - UNFCCC): sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được Ngoài ra, BĐKH xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu, trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ
Nóng lên toàn cầu – Global warming: Nói một cách chặt chẽ, sự nóng lên và lạnh đi toàn cầu là các xu thế nóng lên và lạnh đi tự nhiên mà Trái đất đã trải qua
Trang 11trong suốt quá trình lịch sử của nó Tuy nhiên, hiện nay, thuật ngữ này được dùng
để chỉ sự tăng dần nhiệt độ của Trái đất do sự gia tăng nồng độ các khí nhà kính Nước biển dâng – Sea level rise: Là sự dâng lên của mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều dâng, dâng do bão,… Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có
sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác
Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH – UNFCCC: Thường gọi tắt là công ước khí hậu, được hơn 150 quốc gia ký tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất đươc tổ thức ở Rio de Janeiro năm 1992 Mục tiêu cuối cùng cuả nó là “ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người vào hệ thống khí hậu” Công ước không nêu rằng buộc pháp lý về mức phát thải mà chỉ nêu các nước thuộc Phụ lục 1 cần phải quay lại mức phát thải vào năm 1990 và năm 2000 Công ước có hiệu lực vào tháng 3/1998 sau khi nhận được sự phê chuẩn của 50 quốc gia Hiện nay, đã có hơn 180 quốc gia phê chuẩn
Nghị định thư Kyoto – Kyoto Protocol: Nghị định thư được soạn thảo theo cam kết Berlin, khi có hiệu lực sẽ đòi hỏi các nước trong phụ lục B (các quốc gia phát triển) đáp ứng các mục tiêu giảm phát thải ở mức khác nhau trong giai đoạn
2008 – 2012 đối với khí nhà kính nêu trong Nghị định thư so với mức phát thải năm
1990 Nghị định thư này được các bên của Công ước khí hậu (UNFCCC) thông qua
ở Kyoto, Nhật Bản tháng 12 năm 1997
Ban liên chính phủ về BĐKH – Intergovermental Panel on Climate Change (IPCC): Là tổ chức quốc tế hàng đầu về đánh giá BĐKH do Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) và Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) thành lập năm
1998 Là tổ chức khoa học liên chính phủ của tất cả các nước là thành viên của Liên Hợp Quốc và Tổ chức Khí tượng Thế giới Các nhà khoa học của các nước đều có thể đóng góp công sức của mình vào hoạt động của IPCC trên cơ sở tự nguyện IPCC không thực hiện các nghiên cứu và chỉ tổng quan, đánh giá cac thông tin khoa học, kỹ thuật, kinh tế - xã hội cập nhật nhất được công bố rộng rãi trên thế giới liên
Trang 12quan tới BĐKH Ban này chuẩn bị những báo cáo đánh giá và hướng dẫn mới nhất
về khoa học BĐKH và các tác động tiềm tàng về môi trường, kinh tế và xã hội, những phát triển về công nghệ, khả năng ứng phó của các quốc gia và quốc tế với BĐKH; và các vấn đề liên quan giữa chúng IPCC được tổ chức thành 3 nhóm công tác chuyên trách gồm: 1- Đánh giá khoa học của BĐKH; 2- Đánh giá tác động của BĐKH đế môi trường, kinh tế và xã hội; và 3- Đề xuất các chiến lược ứng phó với BĐKH Ngoài ra còn có một nhóm công tác về kiểm kê khí nhà kính
Quỹ Môi trường toàn cầu – Global Environment Facility (GEF): Một chương trình tài trợ chung do các nước phát triển lập ra để thực hiện nghĩa vụ cuả họ theo các hiệp ước môi trường quốc tế GEF phục vụ như cơ chế tài chính lâm thời cho Công ước Khí hậu, đặc biệt để trả chi phí xây dựng báo cáo của các nước không thuộc phụ lục I Nó cung cấp nguồn hỗ trợ, tài trợ cho phát triển truyền thống bằng các chi trả “các chi phí gia tăng đã được nhất trí” của các nước không thuộc phụ lục
I phải chịu khi xây dựng một dự án phát triển nhằm hướng tới những mục tiêu môi trường toàn cầu
Kịch bản BĐKH: Climate Scenario: Là giả định có cơ sở khoa học và độ tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính, BĐKH và mực nước biển dâng
Ứng phó với BĐKH – Responding to Climate change: Là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhe ̣ các tác nhân gây ra BĐKH
Giảm nhẹ BĐKH – Climate change mitigation: Là những hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính
Thích ứng với BĐKH – Climate change adaption: Thích ứng là sự điều chỉnh các hệ thống tự nhiên và con người để phù hợp với môi trường mới hoặc môi trường bị thay đổi Sự thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh các hệ thống tự nhiên và con người để ứng phó với tác động trong hiện tại và những tác động tiềm tàng trong tương lai của BĐKH, do đó làm giảm bớt tác động có hại và tận dụng những mặt có lợi
Trang 13Kế hoạch hành động quốc gia – National Action Plans (NAPs): Kế hoạch hành động của các nước trình lên Hội nghị các bên, vạch ra các bước nhằm hạn chế phát thải khí nhà kính do con người gây ra Các nước phải nộp các kế hoạch này như là một điều kiện để được tham gia vào Công ước Khí hậu, và do đó, phải thông báo thường kỳ tiến trình của kế hoạch lên Hội nghị các bên Kế hoạch này là một phần trong Thông báo quốc gia, bao gồm cả việc kiểm kê nguồn phát thải và bể hấp thụ khí nhà kính
1.1.2 Biểu hiện biến đổi khí hậu trên thế giới
Bằng chứng về sự nóng lên của hệ thống khí hậu được thể hiện ở sự gia tăng nhiệt độ trung bình của không khí và đại dương trên toàn cầu, tình trạng băng tan và tăng mực nước biển trung bình trở nên phổ biến 11 trong số 12 năm từ 1995 đến
2006 được xếp vào những năm có nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng kỷ lục (từ năm 1850) Xu thế nhiệt độ tăng trong 100 năm (kể từ năm 1906 – 2005) là 0,740C (0,560C đến 0,920C), lớn hơn xu thế được đưa ra trong báo cáo đánh giá lần thứ 3 của IPCC là 0,60C (từ 0,40C đến 0,80C) (kể từ năm 1901-2000) (IPCC, 2007)
Sự gia tăng nhiệt độ đang trở nên phổ biến trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các khu vực vĩ độ cao ở phía bắc Khu vực đất liền nóng lên nhanh hơn các khu vực đại dương Những thay đổi về nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, các sol khí, độ che phủ đất và bức xạ mặt trời đã làm thay đổi cân bằng năng lượng của hệ thống khí hậu Lượng khí thải nhà kính trên toàn cầu do con người đã tăng khoảng 70% so với thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, trong khoảng thời gian từ 1970 đến 2004
Khí CO2 là loại khí nhà kính quan trọng nhất do các hoạt động của con người tạo
ra Từ năm 1970 đến năm 2004, phát thải hàng năm của loại khí này tăng khoảng 80%
Xu thế giảm dài hạn khí thải CO2 trên một đơn vị năng lượng đã bị đảo ngược sau năm
2000
Năm 2005, nồng độ CO2 trong khí quyển là 379 ppm và CH4 là 1.774 ppm,
vượt xa mức tự nhiên trong hơn 650.000 năm qua (IPCC, 2007) Nồng độ CO2 trên toàn cầu tăng chủ yếu do sử dụng nhiên liệu hoá thạch và thay đổi mục đích sử
Trang 14dụng đất (hoạt động này chỉ góp một phần nhỏ) Tăng nồng độ CH4 chủ yếu do nông nghiệp và đốt nhiên liệu hóa thạch Tốc độ tăng CH4 cũng đã giảm kể từ những năm đầu thập kỷ 90
Kể từ năm 1750, nồng độ CO2, CH4, N2O trong khí quyển toàn cầu tăng rõ rệt do các hoạt động của con người và hiện nay vượt xa so với mức của thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, làm tan chảy cả các khối băng đã tồn tại qua hàng nghìn năm
Hầu hết sự gia tăng nhiệt độ trung bình trên toàn cầu quan sát được từ giữa thế kỷ 20 có thể do tăng nồng độ khí nhà kính Trong hơn 50 năm qua, nhiệt độ ở các lục địa (trừ Nam Cực) đã tăng lên đáng kể
Nóng lên toàn cầu làm gia tăng mực nước biển Từ năm 1961, mực nước biển trung bình trên toàn cầu dâng cao với tốc độ trung bình là 1,8 mm/năm (từ 1,3-
2,3 mm/năm) và từ năm 1993 ở mức 3,1mm/năm (từ 2,4- 3,8 mm/năm) (IPCC,
2007), do sự giãn nở vì nhiệt, tan các mũ băng và những tảng băng ở vùng cực Tốc độ băng tan diễn ra nhanh nhất trong thời gian từ 1993 đến 2003 thể hiện sự biến đổi trong một thập kỷ, chứ chưa phải là một xu thế tan chảy dài hạn rõ ràng
Nóng lên toàn cầu làm giảm lượng băng và tuyết Dữ liệu vệ tinh từ năm
1978 chỉ ra rằng, trung bình hàng năm, diện tích băng biển ở Bắc cực giảm khoảng 2,7%/thập kỷ (từ 2,1-3,3%/thập kỷ), mức giảm lớn nhất trong mùa hè là 7,4%/thập
kỷ (5,0-9,8%/thập kỷ) Độ che phủ băng và tuyết ở vùng núi nhìn chung giảm ở cả
hai bán cầu (Viện KHKTTVMT, Sổ tay biến đổi khí hậu, 2011)
Từ năm 1900 đến 2005, lượng mưa tăng đáng kể ở các khu vực phía đông của Bắc và Nam Mỹ, Bắc Âu, Bắc và Trung Á, nhưng giảm ở Sahel, Địa Trung Hải, Nam Phi và các khu vực Nam Á Tổng diện tích bị ảnh hưởng bởi hạn hán đã tăng lên từ những năm 1970
Rõ ràng là trong hơn 50 năm qua số ngày lạnh, đêm lạnh và sương giá ít hơn
ở hầu hết các khu vực đất liền và tăng số ngày nóng, đêm nóng Các đợt sóng nhiệt trở nên thường xuyên hơn ở hầu hết các khu vực đất liền, tần suất của các hiện
Trang 15tượng như mưa lớn tăng ở hầu hết các khu vực và kể từ năm 1975 phạm vi ảnh hưởng của mực nước biển cao tăng trên toàn thế giới
Bão nhiệt đới gia tăng, xuất hiện với cường độ mạnh ở Bắc Đại Tây Dương
từ khoảng năm 1970 và không thấy tăng lên ở những nơi khác Cũng không có xu thế rõ ràng về số lượng các cơn bão nhiệt đới hàng năm Khó có thể xác định được
xu hướng lâu dài về hoạt động của bão, đặc biệt trước năm 1970
Nhiệt độ trung bình của Bắc bán cầu trong nửa sau của thế kỷ 20 cao hơn bất
kỳ giai đoạn 50 năm nào trong 500 năm gần đây và có thể cao nhất trong ít nhất
1300 năm qua (Sổ tay BĐKH, 2011) Bằng chứng quan sát được từ tất cả các châu
lục và hầu hết các đại dương chỉ ra rằng, nhiều hệ thống tự nhiên đang bị ảnh hưởng bởi những BĐKH khu vực, đặc biệt là nhiệt độ tăng
1.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu trên thế giới
Những biến đổi về tuyết, băng và các vùng đất đóng băng, kích thước các hồ băng và sự bất ổn ở các vùng núi và vùng đóng băng khác dẫn đến những thay đổi ở một số hệ sinh thái ở Nam Cực và Bắc Cực
Một số hệ sinh thái dưới nước cũng bị ảnh hưởng do tăng lưu lượng nước, ảnh hưởng đến cấu trúc nhiệt và chất lượng nước sông hồ Với các hệ sinh thái trên cạn, mùa xuân đến sớm hơn, xu thế dịch chuyển lên các cực và dịch chuyển lên cao đối với một số hệ động vật, thực vật có liên quan đến hiện tượng nóng lên gần đây Còn với các hệ sinh thái biển và nước ngọt, những thay đổi về hệ động vật, thực vật và sự phong phú của tảo, sinh vật phù du và cá liên quan đến sự gia tăng nhiệt độ của nước, cũng như liên quan đến những thay đổi về độ che phủ của băng, độ mặn, hàm lượng ôxy và sự lưu thông của nước
Trang 16Có thể tóm lược những ảnh hưởng của BĐKH đến các khu vực trên thế giới
như sau:
Bảng 1.1 Tác động của BĐKH trên thế giới
Châu Phi - Vào năm 2020, khoảng từ 75 - 250 triệu người sẽ phải chịu áp lực
lớn về nước do BĐKH
- Vào năm 2020, ở một số nước, sản lượng nông nghiệp dựa vào nước mưa có thể giảm tới 50% Sản xuất nông nghiệp tại nhiều nước châu Phi sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu hơn tới an ninh lương thực và tăng tình trạng suy dinh dưỡng
- Đến cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng sẽ gây ảnh hưởng tới các vùng trũng ven biển, đông dân cư Chi phí thích ứng có thể chiếm ít nhất từ 5%-10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
- Năm 2080, diện tích đất khô cằn và bán khô cằn ở châu Phi sẽ tăng
từ 5%-8% theo các kịch bản khí hậu
Châu Á - Đến những năm 2050, lượng nước ngọt có thể sử dụng được ở
Trung Á, Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á, đặc biệt tại các lưu vực sông lớn sẽ giảm
- Vùng ven biển, nhất là các vùng châu thổ rộng lớn đông dân ở Nam
Á, Đông Á và Đông Nam Á sẽ chịu rủi ro nhiều nhất, do lũ từ sông, biển
- BĐKH kết hợp đô thị hoá, công nghiệp hoá và phát triển kinh tế nhanh chóng gây áp lực tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường
- Sự hoành hành của dịch bệnh và tỷ lệ tử vong do tiêu chảy, chủ yếu liên quan đến lũ lụt và hạn hán sẽ gia tăng ở Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á do những thay đổi trong chu trình thuỷ văn
Úc và
New
- Vào năm 2020, suy giảm đa dạng sinh học ở mức cao sẽ diễn ra tại một số điểm giàu đa dạng sinh học, gồm có rạn san hô Great Barrier
Trang 17Zealand và các vùng nhiệt đới ẩm ướt ở Queensland, Úc
- Đến 2030, các vấn đề về an ninh nguồn nước sẽ trầm trọng hơn ở miền nam và đông Úc, tại miền Bắc và một số vùng Đông New Zealand
- Vào năm 2030, sản xuất nông, lâm nghiệp sẽ giảm ở hầu hết miền đông nam Úc và các vùng miền đông New Zealand do hạn hán và cháy rừng xảy ra nhiều hơn Tuy nhiên, một số vùng khác ở New Zealand sẽ được hưởng những lợi ích ban đầu
- Vào năm 2050, phát triển ven biển thuộc Úc và New Zealand sẽ làm tăng nguy cơ mực nước biển dâng, tăng tần suất và cường độ của bão, lũ ven biển
Châu Âu - BĐKH sẽ làm tăng sự khác biệt giữa các khu vực Các tác động tiêu
cực bao gồm tăng nguy cơ xảy ra lũ quét trong nội địa, lũ lụt ven biển thường xuyên hơn và xói mòn mạnh hơn (do bão lớn và mực nước biển dâng cao)
- Các vùng núi sẽ phải đối mặt với sự thu hẹp của sông băng, độ che phủ của tuyết giảm và suy giảm số lượng lớn các loài (vào năm
2080, ở một số khu vực tỷ lệ suy giảm là 60% tuỳ theo các kịch bản phát thải)
- Ở Nam Âu - vùng đã từng dễ bị tổn thưởng bởi tính bất thường của khí hậu - BĐKH sẽ làm cho các điều kiện (nhiệt độ cao và hạn hán) nghiêm trọng hơn và nhìn chung làm giảm khả năng sử dụng nước, tiềm năng thuỷ điện, du lịch và năng suất cây trồng
- BĐKH cũng sẽ làm tăng mối nguy hiểm tới sức khoẻ vì các đợt sóng nhiệt và tần suất cháy rừng tự nhiên
Châu Mỹ
La tinh
- Giữa thế kỷ này, ở miền Đông Amazôn, nhiệt độ tăng cao kết hợp với suy giảm lượng nước sẽ dẫn đến sự thay thế rừng nhiệt đới bằng
Trang 18các hoang mạc Thảm thực vật bán khô hạn sẽ được thay thế bằng thảm thực vật khô hạn
- Nguy cơ mất đa dạng sinh học ở mức cao là do sự tuyệt chủng các loài ở nhiều khu vực thuộc vùng nhiệt đới ở Mỹ La tinh
- Năng suất của một số loại cây trồng quan trọng và khả năng sinh sản của gia súc sẽ giảm gây hậu quả bất lợi tới an ninh lương thực Nhìn chung, số lượng người có nguy cơ bị đói gia tăng
- Những thay đổi trong các mô hình về lượng mưa và sự biến mất của các sông băng sẽ gây ảnh hưởng tới khả năng sử dụng nước phục vụ cho con người, nông nghiệp và thuỷ điện
Bắc Mỹ - Nóng lên ở các dãy núi miền tây sẽ làm giảm lớp tuyết phủ, tăng lũ
lụt mùa đông và giảm lưu lượng nước mùa hè khiến cho cuộc cạnh tranh vì tài nguyên nước phân bổ không đều diễn ra khốc liệt hơn
- Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ này, BĐKH ở mức vừa phải sẽ nâng tổng sản lượng của ngành nông nghiệp dựa vào nước mưa thêm từ 5%-20%, nhưng sản lượng tăng thêm lại thay đổi theo vùng
- Các thành phố đang trải qua các đợt sóng nhiệt sẽ gặp phải thách thức lớn hơn vì trong suốt thế kỷ này các đợt sóng nhiệt gia tăng về số lượng, cường độ và thời gian, gây tác động tiêu cực tới sức khoẻ
- Các cộng đồng và nơi cư trú ven biển sẽ phải chịu ngày càng nhiều
tự nhiên gây ảnh hưởng bất lợi tới nhiều sinh vật gồm các loài chim
di cư, động vật có vú và các loài ăn thịt
- Đối với các cộng đồng ở Bắc cực, các tác động đặc biệt là những tác động do thay đổi trạng thái của băng, tuyết sẽ phức tạp
Trang 19- Các tác động tiêu cực sẽ bao gồm tác động tới cơ sở hạ tầng và lối sống truyền thống của các cộng đồng bản địa
Các đảo
nhỏ
- Mực nước biển dâng sẽ làm gia tăng lũ lụt, dông bão, xói lở và các thảm họa ven biển khác, đe dọa các hạ tầng cơ sở có ý nghĩa quan trọng, nơi ở và các điều kiện hỗ trợ sinh kế của các cộng đồng trên đảo
- Phá huỷ hiện trạng ven biển, ví dụ xói lở bờ biển và làm suy giảm các rạn san hô ven biển, ảnh hưởng tới nguồn tài nguyên địa phương
- Vào giữa thế kỷ này, BĐKH sẽ làm suy giảm tài nguyên nước ở nhiều đảo nhỏ, chẳng hạn như biển Caribê và Thái Bình Dương không có đủ nước để đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ mưa ít
- Do nhiệt độ cao hơn nên các loài ngoại lai sẽ tăng cường xâm lấn, đặc biệt ở các đảo nằm ở vĩ độ trung và cao
Nguồn: IPCC, 2007
Nóng lên toàn cầu và nước biển dâng có thể tiếp diễn trong nhiều thế kỷ do tính phức tạp và sự phản hồi của các quá trình khí hậu, thậm chí ngay cả khi nồng
độ các khí nhà kính đã ổn định Sau năm 2100, sự thu hẹp của dải băng Greenland
sẽ tiếp diễn, góp phần làm cho mực nước biển dâng cao hơn Các mô hình hiện nay cho thấy dải băng tan chảy hoàn toàn sẽ làm cho mực nước biển dâng cao khoảng
7m (Viện KHKTTVMT,BĐKH và tác động ở Việt Nam, 2011)
Các nghiên cứu mô hình toàn cầu hiện nay dự báo, dải băng ở Nam cực vẫn còn quá lạnh để tan chảy trên bề mặt rộng lớn và vẫn tiếp tục tích tụ do mưa tuyết nhiều hơn Tuy nhiên, khối lượng băng có thể thực sự giảm nếu xu thế tan chảy trội hơn trong cân bằng khối của dải băng Nóng lên toàn cầu do con người có thể dẫn tới một số tác động đột ngột hoặc không thể đảo ngược, phụ thuộc vào tốc độ và
cường độ của BĐKH
Mất một phần dải băng ở vùng cực nghĩa là mực nước biển sẽ dâng cao hàng
Trang 20mét, đường bờ biển sẽ có nhiều thay đổi và các vùng thấp/trũng bị nhấn chìm, gây ảnh hưởng lớn tới các vùng châu thổ sông và các đảo thấp Những thay đổi này sẽ diễn ra trong thiên niên kỷ nhưng cũng không loại trừ trong thế kỷ này mực nước biển tăng nhanh hơn
BĐKH có thể gây ra một số tác động lớn Cho đến nay, theo ước tính, khoảng từ 20-30% loài có nguy cơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 3oC (tương ứng từ năm 1980-1999) Khi nhiệt độ toàn cầu tăng hơn 3,5oC, dự báo mô hình cho thấy trên toàn cầu sẽ có từ 40-70% loài tuyệt chủng
1.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
1.2.1 Biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Trong 40 năm qua, các nhà khoa học đã quan sát thấy các hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai, bão lũ xảy ra nhiều hơn ở nước ta, đây là một trong số những biểu hiện về BĐKH được khẳng định Ngoài ra, còn có các biểu hiện khác là (BTNMT, 2009):
- Nhiệt độ trung bình hàng năm tăng 0,1oC mỗi thập kỷ trong giai đoạn từ
1931 tới 2000, và tăng trong khoảng từ 0,4 – 0,8oC ở 3 thành phố lớn của Việt Nam (gồm Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh) từ năm 1991 tới 2000
- Lượng mưa thay đổi khác nhau tùy từng vùng, nhưng nhìn chung lượng mưa
cả năm vẫn tương đối ổn định Tuy nhiên, ngày càng có nhiều trận mưa bất thường với cường độ lớn xảy ra hơn, gây ra lũ lụt
- Hạn hán xảy ra thường xuyên hơn ở khu vực phía Nam trong những năm gần đây và có xu hướng kéo dài hơn
- Trong 50 năm qua, mực nước biển tăng trung bình từ 2,5 – 3cm, tùy từng khu vực
- Bão nhiệt đới giảm về số lượng trong 40 năm qua, nhưng ghi nhận được những cơn bão mạnh hơn ở khu vực phía Nam
- El Nino và La Nina xảy ra với cường độ mạnh hơn trong 50 năm qua, gây ra
Trang 21nhiều cơn bão nhiệt đới, lũ lụt và hạn hán thường xuyên
Trong năm 2007 – 2008, kiểu hình thời tiết bất thường xảy ra với những cơn bão, lũ lụt và hạn hán gây ảnh hưởng tới hàng ngàn người ở nước ta Ở các tỉnh miền Trung, người dân ở đây cho biết có nhiều cơn mưa lớn hơn xảy ra trong mùa
lũ lụt cuối năm 2007 Ở miền Nam, Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng triều cường lớn nhất trong lịch sử 48 năm, làm phá hủy 40 điểm trên đê bao thành phố Hàng trăm học sinh phải nghỉ học, nhiều nhà cửa ruộng vườn bị phá hủy Ở phía Bắc, Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia ghi nhận đợt lạnh kỷ lục đầu năm 2008, kéo dài tới 38 ngày (kỷ lục cũ là đợt lạnh kéo dài 31 ngày năm 1989) Mới đây nhất, miền Bắc cũng ghi nhận một mùa rét bất thường vào năm 2010 – 2011 Trong mùa rét này, nhiều ngày nhiệt độ xuống thấp hơn 10oC, ở các điểm vùng cao như Sa Pa, Bắc Hà còn ghi nhận nhiệt độ dưới 0oC, xuất hiện băng giá và tuyết Đặc biệt hơn, mùa rét kéo dài đến tận tháng 3 âm lịch làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất nông nghiệp, nhất là cây lúa vụ đông – xuân Nhiều diện tích lúa mới cấy do gặp lạnh bị hỏng phải cấy lại, và hàng ngàn diện tích lúa đông xuân bị giảm năng suất Ngoài ra các đợt lạnh còn làm chết nhiều gia súc, gia cầm Đợt lạnh kéo dài năm
2008 làm chết 60000 con gia súc, làm ảnh hưởng ít nhất tới 100.000 ha lúa, và thiệt hại ước tính lên tới khoảng 700 tỷ đồng (tương đương khoảng 30 triệu USD) (BTNMT, 2010)
Mặt khác, các nhà khoa học khẳng định hiện tượng nóng lên toàn cầu đang làm gia tăng cường độ và tính thường xuyên của các hiện tượng thời tiết bất thường, thiên tai ở Việt Nam như bão nhiệt đới, lũ lụt và hạn hán Ngoài ra còn những thay
đổi từ từ hơn như gia tăng mực nước biển, nhiệt độ tăng, xâm nhập mặn (Nguyễn Văn Thắng, 2010)
Theo số liệu quan trắc, biến đổi của các yếu tố khí hậu ở Việt Nam có những điểm đáng lưu ý sau:
Nhiệt độ Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung bình năm
ở Việt Nam đã tăng lên 0,7oC Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961
- 2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931- 1960) Nhiệt độ trung
Trang 22bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,6oC Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 -
1940 là 0,8 - 1,3oC và cao hơn thập kỷ 1991 - 2000: 0,4 - 0,5o
C (Nguyễn Văn Thắng, 2011)
Lượng mưa Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình
năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống
Mực nước biển Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các trạm
Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20 cm, phù hợp với xu thế chung của toàn cầu
Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập
kỷ gần đây (cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21) Năm 1994 và năm 2007, chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng 56% trung bình nhiều năm 6/7 trường hợp có số đợt không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI - III) thấp dị thường (0-1 đợt) cũng rơi vào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994, 12/1994, 2/1997, 11/1997) Một biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm
2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Văn Thắng, 2011)
Bão: Vào những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ
đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn
Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ 1981 -
1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây (Nguyễn Văn Thắng, 2011)
Trang 231.2.2 Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển ở Việt Nam
Dựa trên các kịch bản phát thải khí nhà kính thấp B1, trung bình B2 và cao A1 của IPCC, Việt Nam đã xây dựng các kịch bản BĐKH và nước biển dâng vào năm 2009, kịch bản mới được cập nhật năm 2011 Theo kịch bản cập nhật, các yếu tố khí hậu sẽ thay đổi như sau:
1.2.2.1 Các kịch bản nhiệt độ trung bình
Theo kịch bản phát thải thấp, đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm tăng từ 1,6 đến lớn hơn 2,2oC trên đại bộ phận diện tích phía Bắc (từ Thừa Thiên Huế trở ra) Mức tăng nhiệt độ từ 1,0 đến 1,6oC ở đại bộ phận diện tích phía Nam
(từ Quảng Nam trở vào – Hình 1.1a) (Trần Thục, Cập nhật kịch bản BĐKH, 2011)
Theo kịch bản phát thải trung bình, vào giữa thế kỷ 21, trên đa phần diện tích nước ta, nhiệt độ trung bình năm có mức tăng từ 1,2 đến 1,6oC Khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ tăng cao hơn, từ 1,6 đến trên 1,8oC Đa phần diện tích Tây Nguyên, cực nam Trung Bộ và Nam Bộ có mức tăng thấp hơn, từ dưới 1,0 đến 1,2oC (Hình 1.1b) (Trần Thục, Cập nhật kịch bản BĐKH, 2011)
Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ tăng từ 1,9 đến 3,1oC ở hầu khắp diện tích cả nước, nơi có mức tăng cao nhất là khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị với mức tăng trên 3,1oC Một phần diện tích Tây Nguyên và Tây Nam Bộ có mức tăng thấp nhất,
từ 1,6 đến 1,9oC (Hình 1.1c) (Trần Thục, Cập nhật kịch bản BĐKH, 2011)
Theo kịch bản phát thải cao, đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm
có mức tăng chủ yếu từ 2,5 đến cao hơn 3,7oC trên hầu hết diện tích nước ta Nơi
có mức tăng thấp nhất, từ 1,6 đến 2,5oC là ở một phần diện tích thuộc Tây Nguyên
và Tây Nam Bộ (Hình 1.1d) (Trần Thục, Cập nhật kịch bản BĐKH, 2011)
Trang 24a)Kịch bản phát
thải thấp, cuối thế
kỷ 21
b)Kịch bản phát thải trung bình, giữa thế kỷ 21
c)Kịch bản phát thải trung bình, cuối thế kỷ 21
d)Kịch bản phát thải cao, cuối thế kỷ
21
Hình 1.1 Kịch bản mức tăng nhiệt độ trung bình năm cho các thời kỳ ( o C)
Nguồn: Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường
1.2.2.2 Các kịch bản nhiệt độ cực trị
Theo kịch bản phát thải trung bình, vào giữa thế kỷ 21, nhiệt độ thấp nhất trung bình năm tăng từ 1,0 đến 1,7oC trên đại bộ phận diện tích nước ta; tăng từ 1,7 đến 2,0oC ở một phần nhỏ diện tích Nam Tây Nguyên và Nam Bộ Nhiệt độ cao nhất trung bình năm tăng từ 1,0 đến 1,7oC trên phần lớn diện tích lãnh thổ; tăng từ 1,7 đến 2,2oC ở Đông Bắc Bộ, một phần diện tích Nam Tây Nguyên và Nam Bộ
(Trần Thục, Cập nhật kịch bản BĐKH, 2011)
Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ thấp nhất trung bình năm tăng từ 2,2 đến 3,0oC; trong đó, đa phần diện tích Bắc Bộ, Nam Tây Nguyên và Nam Bộ có mức tăng cao hơn so với các khu vực khác (từ 2,7 đến 3,0oC) Nhiệt độ cao nhất trung bình năm tăng từ 2,0 đến 3,2oC, trong đó khu vực Đông Bắc Bộ và đa phần diện tích Nam Bộ
có mức tăng cao nhất, từ 2,7 đến 3,2oC (Hình 1.2b) (Trần Thục, Cập nhật kịch bản BĐKH, 2011)
Vào cuối thế kỷ 21, số ngày nắng nóng (nhiệt độ cao nhất trên 35oC) tăng từ
10 đến 20 ngày trên phần lớn diện tích cả nước Đa phần diện tích Bắc Bộ và một
phần nhỏ diện tích Tây Nguyên có mức tăng từ 1 đến 10 ngày (Hình 1.2c) (Trần Thục, Cập nhật kịch bản BĐKH, 2011)
Trang 25a) Nhiệt độ tối thấp TB b) Nhiệt độ tối cao TB c) Số ngày nắng nóng
Hình 1.2 Kịch bản mức tăng các nhiệt độ cực trị trung bình năm vào cuối thế kỷ
Nguyên có mức tăng ít nhất, khoảng 2-4% cho cả thế kỷ (Hình 1.3) (Trần Thục, 2011)
a) phát thải thấp b) phát thải thấp c) phát thải thấp
Hình 1.3 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) vào cuối thế kỷ 21 theo các kịch bản
Nguồn: Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường
Trang 261.2.2.4 Các kịch bản nước biển dâng
Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng
cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 54 cm đến 72 cm;
thấp nhất ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 42 cm đến 57 cm Trung bình toàn
Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 50 cm đến 64 cm (Trần Thục, Cập
Nguồn: Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường
Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, nước biển dâng
cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62 cm đến 82 cm;
thấp nhất ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 49 cm đến 64 cm Trung bình toàn
Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 58 cm đến 73 cm (Trần Thục, Cập
nhật kịch bản BĐKH, 2011) Xem bảng 1.3
Theo kịch bản phát thải cao (A1FI): Vào cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao
nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 85 cm đến 105 cm; thấp
nhất ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 66 cm đến 85 cm Trung bình toàn Việt
Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 78 cm đến 95 cm (Trần Thục, Cập nhật
kịch bản BĐKH, 2011) Xem bảng 1.4
Trang 27Bảng 1.3 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình B2 (cm)
Khu vực
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Móng Cái-Hòn Dấu 7-8 11-12 15-17 20-24 25-31 31-38 36-47 42-55 49-64 Hòn Dấu-Đèo Ngang 7-8 11-13 15-18 20-24 25-32 31-39 37-48 43-56 49-65 Đèo Ngang-Đèo Hải Vân 8-9 12-13 17-19 23-25 30-33 37-42 45-51 52-61 60-71 Đèo Hải Vân-Mũi Đại Lãnh 8-9 12-13 18-19 24-26 31-35 38-44 45-53 53-63 61-74 Mũi Đại Lãnh-Mũi Kê Gà 8-9 12-13 17-20 24-27 31-36 38-45 46-55 54-66 62-77 Mũi Kê Gà-Mũi Cà Mau 8-9 12-14 17-20 23-27 30-35 37-44 44-54 51-64 59-75 Mũi Cà Mau-Kiên Giang 9-10 13-15 19-22 25-30 32-39 39-49 47-59 55-70 62-82
Nguồn: Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường
Bảng 1.4 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao A1 (cm)
Khu vực
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Móng Cái-Hòn Dấu 7-8 11-13 16-18 22-26 29-35 38-46 47-58 56-71 66-85 Hòn Dấu-Đèo Ngang 8-9 12-14 16-19 22-27 30-36 38-47 47-59 56-72 66-86 Đèo Ngang-Đèo Hải Vân 8-9 13-14 19-20 26-28 36-39 46-51 58-64 70-79 82-94 Đèo Hải Vân-Mũi Đại Lãnh 8-9 13-14 19-21 27-29 36-40 47-53 58-67 70-82 83-97 Mũi Đại Lãnh-Mũi Kê Gà 8-9 13-14 19-21 27-30 37-42 48-55 59-70 72-85 84-102 Mũi Kê Gà-Mũi Cà Mau 8-9 13-14 19-21 26-30 35-41 45-53 56-68 68-83 79-99 Mũi Cà Mau-Kiên Giang 9-10 14-15 20-23 28-32 38-44 48-57 60-72 72-88 85-105
Nguồn: Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường
1.2.2.5 Nguy cơ ngập theo các kịch bản nước biển dâng
Kết quả xác định vùng có nguy cơ bị ngập theo các mực nước biển dâng cho thấy: Nếu mực nước biển dâng 1m, khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu
Long, trên 10% diện tích đồng bằng sông Hồng và trên 2,5% diện tích thuộc các
tỉnh ven biển miền Trung có nguy cơ bị ngập Khu vực thành phố Hồ Chí Minh có
Trang 28nguy cơ bị ngập là trên 20% diện tích (Bảng 1.5)
Bảng 1.5 Diện tích có nguy cơ bị ngập theo các mực nước biển dâng (% diện tích)
Mực nước
dâng (m)
ĐB sông Hồng và Quảng Ninh
Ven biển miền Trung
Tp Hồ Chí Minh
ĐB sông Cửu Long
Các kịch bản BĐKH, nước biển dâng được tóm tắt như sau:
Về nhiệt độ: Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình, nhiệt độ
trung bình tăng 2-3oC trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với những nơi khác Nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng từ 2,2-3,0oC, nhiệt độ cao nhất trung bình tăng từ 2,0-3,2oC Số ngày có nhiệt độ cao nhất trên 35oC tăng 10-20 ngày trên phần lớn diện tích cả nước
Về lượng mưa: Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình, lượng
mưa năm tăng trên hầu khắp lãnh thổ, mức tăng phổ biến từ 2-7%, riêng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ tăng ít hơn, dưới 3% Xu thế chung là lượng mưa mùa khô giảm và lượng mưa mùa mưa tăng Lượng mưa ngày lớn nhất tăng thêm so với thời
kỳ 1980-1999 ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và giảm ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ Tuy nhiên ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện ngày mưa dị thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay
Mực nước biển dâng: Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình,
nước biển dâng cao nhất ở vùng từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ
Trang 2962-82cm, thấp nhất ở vùng Móng Cái trong khoảng từ 49-64cm; trung bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 57-73cm Theo kịch bản phát thải cao (A1FI), vào cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao nhất ở vùng từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 85-105cm, thấp nhất ở vùng Móng Cái trong khoảng từ 66-85cm; trung bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 78-95cm
Nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông
Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập; gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp; trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng (BTNMT, 2010)
1.2.3 Tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Ở nước ta, BĐKH thể hiện rõ nhất ở sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai, cả về số lượng lẫn cường độ Trong khi tình trạng nắng nóng gay gắt kéo dài vào mùa hè kéo theo hạn hán dữ dội trên diện rộng, thì trong những năm gần đây số cơn bão có cường độ mạnh cũng xuất hiện nhiều hơn Nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển bất thường, phức tạp, khó dự đoán và mùa mưa bão cũng kết thúc muộn hơn Cùng với sự nóng lên của bề mặt trái đất, nhiệt độ trung bình của các khu vực ở nước ta cũng tăng lên Theo các chuyên gia thời tiết, nhiệt độ bề mặt trái đất tăng từ 0,3-0,5 độ C trong năm 2010, từ 1-2 độ C vào năm 2020 Đáng chú
ý là ở những vùng hay xảy ra hạn hán như Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ, hạn hán có thể còn tăng lên cả về cường độ và diện tích
Hiện tượng BĐKH ở nước ta đã và đang tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến mọi lĩnh vực liên quan đến đời sống con người Trước hết là vấn đề sức khỏe, nhiệt độ tăng làm tăng tác động xấu đối với sức khỏe con người Ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung bộ, mùa đông sẽ ấm dần lên, dẫn tới những thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người Các căn bệnh truyền nhiễm như: sốt rét, sốt xuất huyết có
Trang 30nguy cơ bùng phát thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côn trùng và vật mang bệnh đồng thời khiến cho các bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan ra cộng đồng Những đối tượng dễ bị tổn thương hơn cả là người nghèo, người già, phụ nữ, trẻ
em, người dân ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa
BĐKH cũng gây ra những tác động xấu đối với sản xuất nông nghiệp và dẫn đến những quan ngại về an ninh lương thực Sự nóng lên trên phạm vi toàn lãnh thổ, đã tác động đến sinh trưởng, thời vụ, năng suất cây trồng, làm tăng nguy cơ lây lan bệnh Nhiệt độ có xu hướng tăng cũng ảnh hưởng đến chất lượng sinh sản, quá trình sinh trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của chúng Ngành nông nghiệp đối mặt với nguy cơ thiếu hụt về giống cây trồng, vật nuôi
BĐKH cũng có khả năng làm tăng tần số, cường độ và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như: bão, lụt, tố, lốc, hạn hán, rét hại làm vật nuôi chậm phát triển, mùa màng thất bát tất yếu làm ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực
Nước ta có bờ biển dài 3.260 km, hơn 1 triệu km2 lãnh hải, trên 3.000 đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ Hiện tượng BĐKH với tình trạng nước biển dâng làm tăng diện tích đất liền bị ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, tăng uy hiếp sự an toàn của những vùng có đê biển, làm xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư vùng ven biển, gây nguy
cơ đối với các hoạt động khai thác và nuôi trồng, đánh bắt thủy sản của ngư dân ven biển
Các ngành công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ… đều chịu những tác động tiêu cực từ hiện tượng BĐKH gây ra Các khu công nghiệp thường được xây dựng nhiều ở các vùng đồng bằng, nơi có điều kiện giao thông thuận lợi, sẽ phải đối mặt nhiều hơn với nguy cơ ngập lụt và thách thức trong thoát nước do lũ từ sông và nước biển dâng Các điều kiện khí hậu cực đoan và thiên tai gia tăng cũng gây khó khăn trong việc cung cấp nguyên, vật liệu cho các ngành công nghiệp, đồng thời làm giảm tuổi thọ của các công trình, linh kiện, máy móc, thiết bị
Trang 31Bên cạnh đó, BĐKH cũng có tác động trực tiếp và gián tiếp đến các họat động văn hóa, du lịch, thương mại, dịch vụ Chẳng hạn ở lĩnh vực du lịch, nước biển dâng ảnh hưởng đến các bãi tắm ven biển, nhiều bãi tắm đẹp có thể bị mất đi, một số khác bị đẩy sâu hơn vào đất liền, ảnh hưởng đến việc khai thác Các khu du lịch sinh thái và các công trình hạ tầng liên quan ở các vùng thấp ven biển có thể bị ngập, buộc phải di chuyển, hoạt động kinh doanh bị ngưng trệ
1.3 Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
1.3.1 Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng trên thế giới
Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng là một quá trình hướng tới cộng đồng, dựa vào những ưu tiên, nhu cầu, kiến thức và khả năng của cộng đồng nhằm trao quyền cho họ trong việc lập kế hoạch để ứng phó với những tác động của BĐKH
Cộng đồng trên toàn thế giới đã nhận thức được rằng phải có trách nhiệm chung trong việc giúp đỡ các nước đang phát triển dễ bị tổn thương và chịu nhiều tác động của BĐKH trong công tác thích ứng Tuy nhiên, thực tế cho thấy những nỗ lực và những sáng kiến hiện nay chỉ mới tập trung ở cấp độ quốc gia nhiều hơn là chú ý quan tâm tới nhu cầu của cộng đồng địa phương – những người chịu ảnh hưởng trực tiếp và có tính tổn thương cao với BĐKH Những phương pháp tiếp cận
từ trên xuống, xây dựng chiến lược, định hướng theo kịch bản BĐKH đóng vai trò nhất định trong việc làm giảm những tổn thương của BĐKH, nhưng những phương pháp tiếp cận này có thể thất bại khi áp dụng trong những nhu cầu và mối quan tâm
cụ thể của những cộng đồng dân cư dễ bị tổn thương, đặc biệt là với người nghèo
Để tương xứng với cấp độ này, cách tiếp cận thích ứng dựa vào cộng đồng được đưa ra, để tìm ra những giải pháp nhằm tăng cường khả năng phục hồi của cộng đồng và hệ sinh thái dưới những tác động của BĐKH
Cộng đồng và xã hội nói chung từ lâu đã thích ứng với BĐKH, nhưng những biện pháp thích ứng này thường mang tính riêng lẻ và cục bộ Ý tưởng về việc xây dựng những giải pháp thích ứng phải có kế hoạch, chủ động và mang tính phòng
Trang 32ngừa là một yếu tố khá mới và quan trọng trong thích ứng dựa vào cộng đồng Trọng tâm trong Công ước Khung về BĐKH là thích ứng ở cấp độ quốc gia, ví dụ như qua Chương trình hành động quốc gia về thích ứng với BĐKH (NAPAs), ưu tiên cho những mục tiêu cấp quốc gia và mở rộng hướng tới các mục tiêu dựa vào cộng đồng Một trong những điểm hạn chế của các Chương trình này là ở chỗ những hành động cấp quốc gia có thể làm tổn hại tới những cộng đồng địa phương hay nhóm bản địa nếu những hành động đó không chú ý tới những thực tiễn từ địa phương BĐKH ảnh hưởng khác nhau với những cộng đồng khác nhau tùy theo mức độ tổn thương và khả năng thích ứng của từng cộng đồng Do đó quá trình thích ứng phải xem xét một cách cụ thể và thích hợp với từng địa phương Những
dự án thích ứng dựa vào cộng đồng nhằm mục tiêu tăng cường khả năng phục hồi của cộng đồng và hệ sinh thái đối với những tác động được dự báo trước của BĐKH
Thích ứng dựa vào cộng đồng bắt đầu nổi lên từ sự nhận thức ngày một lớn rằng đối tượng chịu nhiều tác động nhất và dễ bị tổn thương nhất đối với BĐKH và những nguy cơ liên quan tới BĐKH là những người nghèo- những người với sinh
kế chính phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn tài nguyên nhiên nhiên và sống ở những khu vực chịu những sức ép từ khí hậu (ví dụ như những người nông dân nghèo ở khu vực bán sa mạc Sahara, Châu Phi, phụ thuộc vào nền nông nghiệp lấy nước tưới từ nước mưa) Thích ứng dựa vào cộng đồng trực tiếp hướng tới nhu cầu của những cộng đồng nghèo và dễ tổn thương Những dự án thích ứng dựa vào cộng đồng tốt nhất phải kết hợp những kiến thức bản địa và kiến thức khoa học Thích ứng dựa vào cộng đồng đáp ứng nhu cầu thích ứng của địa phương, đúc rút từ những kiến thức bản địa, khuyến khích những đổi mới hướng tới cộng đồng và tăng cường năng lực cộng đồng bằng kiến thức khoa học và điều kiện vật chất Thích ứng dựa vào cộng đồng cho phép thử nghiệm, giúp nâng cao năng lực địa phương trong thích ứng, và làm cho việc xác định và chia sẻ thông tin về những phương pháp áp dụng trong thực tiễn trở nên dễ dàng hơn
Sáng kiến về thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng đã nhận được ủng hộ
Trang 33lớn trong cộng đồng thế giới Cụ thể là, chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), cùng với sự tài trợ của hợp phần “Ưu tiên chiến lược trong thích ứng” của Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) và sự hỗ trợ bởi nhóm “Năng lượng và Môi trường” của UNDP, cùng với nhóm tình nguyện Liên hợp quốc đang xây dựng khung chương trình chiến lược và triển khai các dự án đầu tiên về thích ứng với
BĐKH dựa vào cộng đồng (thuật ngữ quốc tế được sử dụng là “Community-based adaption”- CBA) Chương trình này hiện đang được thực hiện ở 10 nước có điều
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau trên thế giới (gồm: Bangladesh, Bolivia, Guatemala, Jamaica, Kazacstan, Morocco, Namibia, Nigeria, Samoa và Việt Nam) Với nguồn tài trợ hơn 50 ngàn USD, chương trình đang hỗ trợ cho các tổ chức phi chính phủ hay các trực tiếp hỗ trợ tới cộng đồng địa phương Mục tiêu của các dự
án này là kết hợp khả năng phục hồi sau những tác động của BĐKH tới những sinh
kế của người dân địa phương mà phụ thuộc chính vào nguồn tài nguyên thiên nhiên Mỗi quốc gia trong dự án bước đầu hoàn thiện Chương trình chiến lược quốc gia về Thích ứng dựa vào cộng đồng và những chiến lược về ưu tiên thích ứng của nước mình Khi chương trình hoàn tất, 8 trong số 20 dự án sẽ được triển khai thực hiện ở mỗi nước Thêm vào đó, từ 120 nghiên cứu điển hình về thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng, những bằng chứng và bài học ban đầu đã được đúc kết Đây sẽ là những kinh nghiệm quý báu trong việc triển khai các dự án thích ứng dựa vào cộng đồng sau này Hộp 3.1 giới thiệu khái quát về chương trình Thích ứng dựa vào cộng đồng của UNDP
Hộp 3.1 Khái quát chương trình Thích ứng dựa vào cộng đồng của UNDP –
GEF
Triển khai từ 2008 – 2012
- Tiền tài trợ: 4,5 triệu USD và nguồn khác
- 10 nước tham gia: Bangladesh, Bolivia, Guatemala, Jamaica, Kazacstan, Morocco, Namibia, Niger, Samoa và Việt Nam
- Mỗi nước được tài trợ hơn 50 ngàn USD
Trang 34- 37 dự án điểm đang được thực hiện
- 27 dự án đang trong giai đoạn chuẩn bị
- Tổng số 90 dự án sẽ được thực hiện cho tới năm 2012
- Chương trình hiện đang cùng phối hợp với Nhóm tình nguyện của Liên hợp quốc nhằm tăng cường những nguồn lực từ cộng đồng, thừa nhận những đóng góp từ những tình nguyện viên, và đảm bảo sự tham gia của những nhóm bên ngoài trong chương trình, cũng như hỗ trợ xây dựng nguồn nhân lực cho những cộng tác là những tổ chức phi chính phủ và tổ chức cộng đồng Nhóm tình nguyện viên của Liên hợp quốc hiện đang làm việc tại 7 quốc gia nằm trong chương trình
Mặc dù với nhiều hình thức khác nhau, tất cả các dự án thích ứng dựa vào cộng đồng đều nhận thức được nhu cầu của những dự án với nội dung cụ thể, chi tiết là: xác định mức độ tổn thương của địa phương, đúc rút năng lực, kinh nghiệm và kiến thức bản địa, nâng cao năng lực thích ứng của địa phương và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa những bên liên quan trong cộng đồng địa phương
Hình 3.1 Lồng ghép những kiến thức bản địa với kiến thức khoa học trong thích
ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng
1.3.2 Những đặc điểm chính của thích ứng với BĐKH trên thế giới
Trang 351.3.2.1 Kết hợp chặt chẽ những thông tin về BĐKH
Thích ứng dựa vào cộng đồng cần phải có sự kết hợp chặt chẽ với những thông tin về BĐKH và những ảnh hưởng của nó tới quá trình quy hoạch Gồm những thông tin sau:
- Những thông tin mang tính khoa học: Như là những dự đoán dài hạn về các
mô hình thời tiết trong tương lai, dự báo mùa, thông tin về xu hướng diễn biến thời tiết dựa trên những số liệu thu thập được từ các trạm khí tượng
- Những thông tin địa phương: về xu hướng và những thay đổi mà cộng đồng đã trải qua và những chiến lược, giải pháp mà cộng đồng đã sử dụng trong quá khứ để ứng phó với những loại hình thời tiết bất thường hay sự thay đổi dần dần của thời tiết
Cả 2 loại thông tin trên góp phần để hiểu rõ các nguy cơ do BĐKH mang tới Khoa học về BĐKH không thể khẳng định chắc chắn một điều gì như lượng mưa của một khu vực cụ thể sẽ là bao nhiêu trong một thời điểm nào đó, nhưng nó có thể đưa ra một vài dự đoán về lượng mưa sẽ tăng hay giảm như thế nào Và các giải pháp thích ứng dựa vào cộng đồng có thể theo những định hướng đó để xây dựng các hành động cụ thể
1.3.2.2 Xây dựng những phương pháp tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng
nhằm giảm nhẹ rủi ro do thiên tai
Những bài học từ những nỗ lực trong việc giảm nhẹ rủi ro do thiên tai có giá trị lớn trong thích ứng với BĐKH Bởi vì, BĐKH là những thay đổi về mức độ thường xuyên, cường độ và thời gian của những hiện tượng thời tiết cực đoan như
lũ lụt, trượt lở đất đá và bão, hoặc sinh ra những hiện tượng thời tiết bất thường
Giảm nhẹ rủi ro thiên tai là “bước đầu” mà những cộng đồng thực hiện khi phải chịu những tác động nghiêm trọng của khí hậu (Christian Aid, 2009) Có rất nhiều phương pháp tiếp cận trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng Tất cả các phương pháp này trước hết phải gắn với những người dân địa phương để hiểu được những nguy cơ, rủi ro mà họ phải đối mặt (như động đất, hạn
Trang 36hán, lũ lụt, sâu bệnh hại, dịch bệnh); những yếu tố làm họ dễ bị tổn thương với những nguy cơ trên và nguyên nhân sâu xa Tất cả các yếu tố trên cho biết cộng đồng đang ở mức nguy cơ nào và nhóm nào trong cộng đồng là nhóm dễ bị tổn thương nhất Những yếu tố trên còn giúp cộng đồng xem xét khả năng của họ trong việc giảm thiểu mức độ tổn thương từ những nguy cơ, rủi ro trên, và nhằm mục đích trao quyền cho chính những cộng đồng tự hành động để giảm nhẹ những rủi ro mà
họ phải đối mặt Rất nhiều tổ chức đang nỗ lực cùng hoạt động với người dân địa phương để giảm đói nghèo và những rủi ro từ thiên tai; và gần đây họ đang cố gắng kết hợp những ảnh hưởng của BĐKH vào hoạt động của họ trong cộng đồng
1.3.2.3 Các công cụ tham vấn dùng trong thích ứng dựa vào cộng đồng
Có rất nhiều công cụ tham vấn được sử dụng cho thích ứng dựa vào cộng đồng (xem bảng 3.1) Các biện pháp này tương tự như các giải pháp trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai, nhưng cũng có những phương án tiếp cận khác dành cho cộng đồng, các nhà khoa học để cùng nghiên cứu về BĐKH và các giải pháp thích ứng, hay các biện pháp để hoạt động với một nhóm cụ thể của cộng đồng như phụ nữ, trẻ em
Bảng 3.1 Một số công cụ tham vấn sử dụng trong thích ứng dựa vào cộng đồng
Công cụ đánh giá dựa
trên hiểu biết Động lực và tác động của BĐKH
Lịch mùa
Lịch mùa và liên hệ với sinh kế Kết hợp với biểu đồ thời gian để cho thấy những thay đổi về mùa qua thời gian
Biểu đồ thời gian Những rủi ro và các hiện tượng thời tiết bất thường
Xu hướng khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa
Trang 37Các giải pháp thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ rủi ro
Thơ ca, nhạc, biểu diễn Nâng cao nhận thức của cộng đồng về những rủi ro và giải
pháp giảm nhẹ rủi ro
Làm băng hình Nâng cao nhận thức cộng đồng
Trao đổi thông tin giữa những người nông dân Thảo luận lấy thông tin Thảo luận sâu về mức độ tổn thương, các sinh kế
1.3.2.4 Hợp tác cùng nghiên cứu về BĐKH
Trong khi những người dân địa phương nhận thức rất rõ về sự thay đổi của môi trường, họ lại có rất ít kiến thức về các nguyên nhân và hậu quả của BĐKH toàn cầu Nhiều nghiên cứu đã mô tả các phương thức tham vấn đa dạng được sử dụng để giúp cộng đồng nhận thức về BĐKH và các tác động có thể xảy ra do BĐKH Rất nhiều người sử dụng biện pháp hợp tác cùng nghiên cứu giữa nhà khoa học và cộng đồng nhằm đúc rút những kinh nghiệm từ kiến thức địa phương và kiến thức khoa học
Ví dụ như ở Gana, cộng đồng địa phương đã xây dựng mô hình chỉ ra những động lực và tác động của BĐKH Trong quá trình này, họ củng cố và mở rộng kiến thức của họ về BĐKH nhờ sự hỗ trợ từ các tổ chức bên ngoài Ở Indonexia, các trường học ngoài thực địa về khí hậu thực hiện phương thức “vừa làm vừa học” để giúp đỡ nông dân gia tăng nhận thức của họ về BĐKH và cách tự quan sát các yếu tố thời tiết như lượng mưa, giờ nắng, để có những định hướng trong hoạt động sản xuất (Christain Aid, 2009) Sherwood và Bentley (2009) cũng mô tả quá trình tương
tự ở Andes
Trẻ em có thể là những “tuyên truyền viên” đắc lực về những nguyên nhân và hậu quả của BĐKH Từ những bài học ở trường và liên hệ với địa phương mình, trẻ em có thể hiểu rõ hơn về mặt khoa hoặc các quá trình BĐKH hơn người lớn Plush (2009) đưa ra ví dụ về việc thực hiện những đoạn băng ghi hình, phim ngắn
do trẻ em thực hiện là những công cụ có tác động lớn trong việc nâng cao nhận thức
Trang 38của cộng đồng về BĐKH và các tác động của chúng, đặc biệt là ở những cộng đồng
có tỷ lệ mù chữ cao Trong những dự án này, trẻ em được dạy những kiến thức về BĐKH bằng cách sử dụng những tư liệu có sẵn ở địa phương Sau đó, với những kiến thức được dạy và một số trang thiết bị được cung cấp, trẻ em tiến hành quay phim phỏng vấn người dân địa phương, để cho thấy một bức tranh rõ hơn về tác động của BĐKH
1.3.2.5 Kiến thức bản địa về biến đổi khí hậu
Trong trường hợp thiếu những thông tin về điều kiện khí hậu của địa phương, những thông tin thu thập được từ trí nhớ của những người cao tuổi trong cộng đồng lại trở thành nguồn thông tin duy nhất có thể thu thập được Nếu không
có những thông tin khoa học về diễn biến khí hậu thì giải pháp đặt ra là thu thập thông tin từ chính người dân địa phương, đây được xem là nguồn thông tin hết sức giá trị trong việc đánh giá năng lực thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng
Có nhiều báo cáo đánh giá và nghiên cứu nhằm xem xét những công cụ tham vấn được sử dụng để thu thập những kiến thức bản địa về BĐKH Ví dụ, lịch mưa được sử dụng ở Malawi để phân thích sự thay đổi của lượng mưa trong 5 năm trở lại đây, trong biểu đồ phân tích theo mùa chỉ ra sự thay đổi trong các mùa ở Tây Bengal, Ấn Độ trong một khoảng thời gian nhất định Biểu đồ diễn biến thời tiết được sử dụng ở Sudan để ghi lại những thời gian của những hiện tượng thời tiết cực đoan và xu hướng diễn biến nhiệt độ trong 30 năm
1.3.2.6 Sử dụng kiến thức khoa học
Khoa học nghiên cứu về BĐKH và dự đoán về những xu thế thay đổi trong tương lai đóng vai trò quan trọng trong quá trình thích ứng với BĐKH Việc đưa những kiến thức khoa học tới cộng đồng địa phương là công việc quan trọng trong xây dựng mô hình thích ứng dựa vào cộng đồng Có rất nhiều loại thông tin có thể hữu ích trong lập quy hoạch xây dựng địa phương, như viễn thám, ảnh vệ tinh, các kịch bản khí hậu ở cấp thấp, dự đoán mùa và khí hậu trong khoảng thời gian dài Những thông tin này phải được trình bày một cách dễ hiểu cho những người dân địa
Trang 39phương
Rất nhiều nghiên cứu xem xét tới việc làm thế nào để lồng ghép các kiến thức khoa học và kiến thức bản địa để chúng có thể hỗ trợ lẫn nhau Tuy nhiên công việc này gặp phải nhiều khó khăn, sẽ được chỉ ra rõ hơn trong phần sau
1.3.2.7 Xác định và lập kế hoạch thích ứng
Để thích ứng với BĐKH gắn với những ưu tiên của cộng đồng, được xây dựng trên những bài học từ thực tế hoặc kinh nghiệm trong quá khứ, thì việc sử dụng các phương thức tham vấn cộng đồng trong việc chia sẻ thông tin, dữ liệu, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với BĐKH là rất quan trọng Để xác định được những hoạt động thích ứng phù hợp với từng địa phương thì việc để cộng đồng tham gia vào quá trình ra quyết định là rất cần thiết Ví dụ một phương pháp tiếp cận trong thích ứng với BĐKH ở khu vực núi Andes (Sherwood và Bently, 2009), người dân địa phương được học từ việc tới thăm những những khu vực canh tác khác và từ áp dụng thử nghiệm thực tế Khi người dân đã học được những kiến thức cơ bản về canh tác, áp dụng cho ruộng đất của chính họ thì trọng điểm của dự
án được chuyển sang việc thu thập thông tin về thời tiết, áp dụng các biện pháp bảo
vệ nguồn nước và đất canh tác Một ví dụ khác về chia sẻ thông tin, theo Baumhardt (2009) mô tả, người dân tự quay phim về các hoạt động thích ứng của cộng đồng mình mà họ thấy là có ích nhất và đem chia sẻ tới những cộng đồng lân cận bằng cách chiếu những thước phim đó Như vậy quá trình nhận thức và lựa chọn các hoạt động thích ứng rất đa dạng, các cộng đồng khác nhau thì có các cách thức khác nhau để phổ biến thông tin về các giải pháp thích ứng Tuy nhiên một điểm chung ở đây là việc lựa chọn những giải pháp phù hợp nhất cho từng địa phương là quyết định được cộng đồng – những người được học hỏi kinh nghiệm qua quan sát, xem băng hình và trực tiếp thực hành, quyết định và lựa chọn
1.3.3 Bài học và thách thức trong thích ứng dựa vào cộng đồng
Mặc dù, thích ứng dựa vào cộng đồng mới được phát triển gần đây nhưng đã
Trang 40xuất hiện những thách thức nhất định và một số bài học đã được đúc kết, bên cạnh những vấn đề liên quan tới tính sẵn có và mức độ tin cậy của nguồn thông tin và dữ liệu về BĐKH, chất lượng quá trình tham vấn trong thích ứng dựa vào cộng đồng, nhân rộng mô hình, kiểm tra và đánh giá Có thể kể tới các vấn đề chính sau:
1.3.3.1 Dữ liệu khoa học
Christian Aid (2009) nêu bật những khó khăn mà những cộng đồng địa phương gặp phải đó là tiếp cận được những thông tin, dữ liệu về BĐKH để họ có thể sử dụng trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch phát triển Trong khi các mô hình khí hậu có thể giúp xác định những khu vực nào trên thế giới có mức độ tổn thương cao về mặt vật lý do BĐKH, thì những dự đoán này chỉ áp dụng cho những giải pháp về địa lý và không được cộng đồng địa phương sử dụng nhiều Do đó, cần thiết phải có những mô hình BĐKH tốt hơn, đưa ra được những dự báo liên quan nhiều hơn tới cộng đồng địa phương Đây là những vấn đề trong việc dự báo thời tiết Các trạm khí tượng thường thiếu cả nhân lực và vật lực, do đó các dữ liệu thời tiết không được lưu lại, và những dữ liệu có thể rất có ích cho những người nông dân lại không được thu thập
Jenning và McGranth (2009) chỉ ra rằng đa số những phân tích trong những ghi chép khí tượng và dữ liệu khí hậu chủ yếu tập trung tới các chỉ số về nhiệt độ trung bình năm, thay đổi độ ẩm, mà không chú ý tới các dữ liệu về thời gian mưa, biểu đồ lượng mưa trong một mùa – là những dữ liệu mà những nông dân sẽ quan tâm nhiều hơn/cần hơn
Trường hợp nếu các dữ liệu có sẵn, thì những người dân địa phương cũng không thể tiếp cận được nguồn thông tin, dữ liệu khoa học đó Ví dụ như họ không
có kết nối internet hoặc thông tin chỉ được trao đổi và lưu chuyển giữa các cơ quan khí tượng với bộ phận có thể sử dụng các thông tin này như Sở Nông nghiệp Thêm vào đó, người dân địa phương thường không hiểu hết được những thuật ngữ khoa học được sử dụng
1.3.3.2 Kiến thức bản địa