Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là một vấn đề quan trọng trong sự nghiệp giáo dục, bởi đạo đức của mỗi con người không phải sinh ra đã có mà nó được hình thành và phát triển thông qua mô
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Mã số: 60 14 05
HÀ NỘI – 2008
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng đã có những thành quả vô cùng lớn lao về mọi mặt Kết quả của sự nghiệp đổi mới đã khẳng định đường lối đổi mới và định hướng tiến hành CNH-HĐH đất nước, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là phù hợp với cách mạng Việt Nam Đảng
ta luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, coi con người là vốn quý nhất, đầu tư cho con người không chỉ là đầu tư cho phát triển, mà còn có tác dụng trực tiếp tới kết quả của CNH-HĐH, lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước Con người có hoàn thiện và phát triến, thì xã hội mới phồn thịnh và văn minh Như vậy con người cần phải được hoàn thiện cả ba mặt: Trí lực; thể lực; tâm lực Trong đó cần nhấn mạnh đến việc phát triển tâm lực vì tâm lực là nội lực của nhân cách và một trong ba thành tố của tâm lực là giá trị đạo đức, tư tưởng, chính trị, lối sống
Những năm gần đây do cơ chế mới về hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới, do bùng nổ thông tin Việt Nam cũng như các nước luôn chịu tác động của hoàn cảnh xã hội, nhất là của nền kinh tế thị trường Trong những năm đổi mới rõ ràng phân tầng xã hội có những thay đổi rất lớn, các thành phần kinh tế phát triển phong phú, lực lượng xã hội ngày càng phát triển đa dạng Những bước tiến nhảy vọt của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ làm biến đổi nhanh chóng đời sống vật chất và hệ thống các giá trị xã hội, đặc biệt là các giá trị nhân văn và hệ thống giá trị đạo đức đối với con người Việt Nam
Tuy nhiên làm thế nào đẩy nhanh CNH-HĐH mà vẫn giữ vững và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc theo tinh thần nghị quyết đại hội lần thứ V ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII Điều đó tuỳ thuộc vào chính con người Việt Nam, tuỳ thuộc vào sự giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ hôm nay cho chủ nhân tương lai của đất nước
Trang 3Thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay có rất nhiều biểu hiện ưu việt của một thời đại mới: Thông minh, năng động, ham hiểu biết, dám nghĩ, dám làm Song nhiều năm qua trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường đã biểu hiện nhiều hiện tượng đặc biệt đáng lo ngại đó là: " trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước” [2 tr.26] Vấn đề đạo đức của thế hệ trẻ hiện nay đang trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội
Giáo dục là cả một quá trình mang bản chất xã hội sâu sắc, thể hiện nhiều góc độ, khía cạnh có sự tham gia chung của nhiều lực lượng xã hội Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là một vấn đề quan trọng trong sự nghiệp giáo dục, bởi đạo đức của mỗi con người không phải sinh ra đã có mà nó
được hình thành và phát triển thông qua môi trường xã hội nhất định (nhà trường, gia đình, thực tiễn lịch sử )
Giáo dục đạo đức là một bộ phận cấu thành trọng yếu của QTGD rèn luyện nhân cách học sinh Đạo đức được coi là nền tảng trong phẩm chất nhân cách con người, là cái gốc của con người.Vì thế bất kỳ nhà trường nào cũng phải chú trọng cả tài lẫn đức Việc dạy chữ phải kết hợp với dạy người và dạy nghề nhằm rèn luyện học sinh trở thành con người phát triển toàn diện
Trường THPT là cấp học cuối cùng của hệ thống giáo dục phổ thông,
có sứ mạng rất lớn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ
và nghề nghiêp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [7, tr.8] Nhà trường có nhiệm vụ đào tạo
những thanh niên lứa tuổi từ 15 đến 18, có tri thức phổ thông toàn diện vững chắc, có phẩm chất đạo đưc, có hệ thống các năng lực cần thiết để chuẩn bị bước vào đời
Trang 4Nhiều năm gần đây ở huyện Mỹ Đức - tỉnh Hà Tây cho thấy sự phát triển số lượng học sinh THPT không tỷ lệ thuận với chất lượng văn hoá, chất lượng đạo đức Mặc dù đã đạt được một số tiến bộ đáng kể, từng bước khắc phục tình trạng coi trọng “dạy chữ”, xem nhẹ “dạy người” Tuy nhiên vẫn
còn có nhiều biểu hiện của sự xuống cấp về đạo đức học sinh THPT Đây cũng
là vấn đề đang được ngành GD - ĐT và xã hội quan tâm tìm cách giải quyết
Trong quá trình giáo dục đạo đức học sinh việc kết hợp ba môi trường giáo dục là một nguyên lý có tầm quan trọng, song được đặt trong một quá trình điều khiển, quản lý, tổ chức theo những lý luận của công tác quản lý giáo dục.Việc giáo dục đạo đức cho học sinh nếu chỉ diễn ra trong khuôn viên nhà trường tất yếu sẽ không phát huy được sức mạnh chung, không toàn diện đầy đủ và do đó chất lượng không cao
Như vậy, chăm lo giáo dục thế hệ trẻ đáp ứng những yêu cầu giai đoạn phát triển mới của đất nuớc là nhiệm vụ của toàn xã hội và sự tổ chức phối hợp của nhà trường với gia đình và xã hội là một nguyên tắc cơ bản đảm bảo
sự thành công của công tác giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng
Từ lý do trên, là cán bộ quản lý trong trường trung học phổ thông, tôi
lựa chọn vấn đề nghiên cứu “Biện pháp tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Mỹ Đức, Hà Tây hiện nay "
được mục đích, đó là một vấn đề phức tạp, khó khăn và luôn luôn có ý nghĩa thời sự cuốn hút sự quan tâm của các nhà khoa học
Trang 5Vì vậy, vấn đề phối hợp ba lực lượng “Nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh ” đã trở thành một đề
tài nghiên cứu khoa học của các nhà giáo dục Những nhà giáo dục đã đi sâu vào đề tài này phải kể đến: GS -TS Hà Thế Ngữ, GS -TS Đức Minh, GS-TS Đặng Vũ Hoạt đã đề cập đến vai trò, vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với
sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh
Trong các giáo trình giáo dục học của Phạm Cốc - Đức Minh vào những năm 70, sau đó là của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt - Nxb giáo dục (1989), vấn đề này cũng được đưa vào một số giáo trình khác như giáo dục gia đình của PGS - TS Phạm Khắc Chương - Nxb giáo dục (1997)
Trong những năm vừa qua cũng đã có những đề tài nghiên cứu liên
quan đến vấn đề giáo dục đạo đức ở tiểu học, trung học cơ sở, THPT Trong hoàn cảnh xã hội hiện nay có nhiều bién đổi, đề tài: “ Tổ chức phối hợp các lực lượng nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh THPT " vẫn còn ít người nghiên cứu
Với tư cách là một người quản lý trường THPT, về lý luận cũng như thực tiễn đã buộc chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài trên, để trước hết giúp bản thân hoàn thành trách nhiệm được giao, sau nữa là rút ra được những bài học kinh nghiệm cho đồng nghiệp có thể vận dụng vào thực tiễn một cách sáng tạo và phù hợp
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng công tác giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông, từ đó đề xuất một số biện pháp tổ chức phối hợp Giữa nhà giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Mỹ Đức, Hà Tây trong giai đoạn hiện nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 64.1 Hệ thống hoá lại một số vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc giải quyết đề tài
- Phân tích nội hàm một số khái niệm phạm trù làm công cụ nghiên cứu
việc phối hơp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc GDĐĐ cho học sinh
- Hệ thống giá trị đạo đức của con người Việt Nam hiện nay cần hình
thành ở học sinh THPT
- Những đặc điểm của nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của nó tới sự hình thành, phát triển giáo dục nhân cách và phối hơp lực lượng xã hội trong giáo dục
- Một số nét tâm lý đặc trưng của học sinh phổ thông hiện nay
4.2 Tìm hiểu thực trạng của công tác tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông huyện Mỹ Đức, Hà Tây
4.3 Đề xuất một số biện pháp tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình
và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
5 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác GDĐĐ cho học sinh THPT trong thời kỳ đổi mới hiện nay, trên địa bàn huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây: Trường THPT
Mỹ Đức A, THPT Mỹ Đức B, THPT Mỹ Đức C, và THPT Hợp Thanh
Đối tượng điều tra bao gồm: Giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, cán
bộ QLGD, cán bộ QLXH
6 Giả thuyết khoa học
Học sinh THPT nói chung có nhiều biểu hiện tích cực đáng khích lệ về học tập, lao động và rèn luyện Tuy nhiên có một số ít học sinh còn có những biểu hiện hành vi đạo đức lệch lạc, có nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có sự chưa thống nhất những biện pháp phối hợp Nếu có xác định được những biện pháp liên kết giữa nhà trường với gia đình và xã hội, tạo ra
Trang 7một môi trường thuận lợi, phát huy được những yếu tố tích cực, phát huy được tiềm năng xã hội vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh thì chắc chăn
sẽ hạn chế được những ảnh hưởng tiêu cực đối với học sinh
7 Phương pháp nghiên cứu đề tài
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu văn kiện
- Nghiên cứu tài liệu kinh điển
- Nghiên cứu sách báo tạp chí, các công trình sản phẩm nhằm hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát khảo sát thực tế
- Tổng kết kinh nghiệm
- Điều tra cơ bản bằng phiếu hỏi
- Lấy ý kiến chuyên gia qua trao đổi toạ đàm
7.3 Phương pháp thống kê toán học
- Sử dụng thống kê (bảng số liệu, biểu đồ)
- Sử dụng lý thuyết toán học (các phương tiện của lý thuyết tập hợp, lô gíc) và phương pháp lô gíc học
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Huyện Mỹ Đức, Hà Tây
Chương 3: Một số biện pháp tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Mỹ Đức, Hà Tây
Trang 8Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan của vấn đề nghiên cứu
Đạo đức là một hình thái ý thức XH, được hình thành, phát triển cùng với lịch sử XH loài người và luôn được mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi thời đại quan tâm Với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, những tư tuởng ĐĐ đã xuất hiện khá sớm trong lĩnh vực triết học Trung Hoa, ấn Độ,
Hy Lạp cổ đại Đạo đức biểu hiện đặc trưng về nhân cách, văn hoá; là những yêu cầu, những nguyên tắc, chuẩn mực do cuộc sống đặt ra mà mỗi con người phải tuân theo Đạo đức phản ánh các mối quan hệ, ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với xã hội và con người với thế giới tự nhiên
Đạo đức không chỉ gắn liền với những con người cụ thể, mà nó còn gắn chặt với mỗi dân tộc, mỗi giai cấp tạo nên nền tảng đạo đức của mỗi xã hội nhất định trong một giai đoạn lịch sử nhất định
Từ ngàn xưa, vấn đề giáo dục đạo đức được coi là mặt cơ bản trong hai mặt: “Đức và Tài” Mặc dù lịch sử xã hội ngày càng phát triển, nội dung giáo dục nhà trường ngày càng phong phú, song giáo dục đạo đức bất luận ở quốc gia nào, dưới chế độ nào cũng đều được quan tâm Nhà trưòng Việt Nam trải qua hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến và phong kiến thực dân cho đến nay giáo dục đạo đức cho học sinh vẫn giữ nguyên vị trí vô cùng quan trọng của nó
Ở Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản ra đời, Đảng, Bác Hồ thường
Trang 9XHCN, Bác đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng thế hệ trẻ, nhằm giúp cho
họ có được những phẩm chất và năng lực để kế tục sự nghiệp cách mạng
Tuy nhiên, nhìn thẳng vào sự thật chúng ta thấy rằng trong quá trình hội nhập quốc tế, trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường, đạo đức, nhân cách của con người có nhiều biểu hiện thiếu lành mạnh, trong sáng, phần nào làm ảnh hưởng đến đạo đức xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta và Bác Hồ đã dày công vun đắp Những biểu hiện tiêu cực thiếu văn hoá, mất đạo đức của một bộ phận trong cộng đồng dân cư, trong xã hội đã làm ảnh hưởng đến nhà trường đặc biệt là trường THPT
Đứng trước thực tế này, GDĐĐ cho học sinh là vấn đề rất bức xúc, đã được Đảng, nhà nước quan tâm và được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu Chúng ta có thể tìm hiểu qua các tác giả như: Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Hà Nhật Thăng, Phạm Khắc Chương,
Tóm lại, trước đòi hỏi của việc xây dựng con người Việt Nam thời kỳ CNH - HĐH đất nước, Nhà nước đã có 2 chương trình nghiên cứu trong vòng
10 năm, ở chu kỳ 1 (1990 – 1995) là Đánh giá thực trạng CNVN thời kỳ bước
vào thực hiện đổi mới (mã số KX – 07) Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của
chương trình ở chu kỳ 1, chu kỳ 2 (1996-2000) với nội dung là Xác định nhân cách con người Việt Nam thời kỳ CNH - HĐH Đây là chương trình KH -
CN cấp Nhà nước do GS VS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm Kết quả nghiên cứu của chương trình được trình bày trong tác phẩm “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH - HĐH”, NXB Chính trị Quốc gia 2001
Trong tác phẩm này có chương 7 trình bày mô hình về đạo đức con người Việt Nam thời kỳ CNH - HĐH (từ trang 153 - 179) Đó là một chương trình nghiên cứu khoa học quan trọng có ý nghĩa định hướng cho việc xác định mục tiêu, nội dung GDĐĐ các cấp học, ngành học của người lao động thời kỳ CNH - HĐH nhằm phát triển nguồn lực người - yếu tố quyết định sự phát triển KT - XH của nền kinh tế tri thức những thập niên đầu thế kỷ 21
Trang 10Tiếp tục cụ thể hoá chương trình nghiên cứu trên biến nó thành hiện thực có hiệu quả phải kể đến việc thiết kế mục tiêu GDĐĐ ở tiểu học, môn GDCD ở THCS và THPT và chương trình hoạt động GD NGLL ở phổ thông
và đã thể hiện trong nội dung của SGK và SGV ở các cấp học phổ thông do PGS.TS Hà Nhật Thăng làm trưởng tiểu ban, xây dựng chương trình và chủ tịch hội đồng bộ môn là của Bộ Giáo dục - Đào tạo phụ trách
Rõ ràng về mặt lý luận cũng như thực tiễn, vấn đề đạo đức và GDĐĐ trong
nhà trường đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm, nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý là một khái niệm rộng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy khái niệm về quản lý khi được đưa ra luôn gắn với các loại hình quản lý cụ thể Sau đây là một số quan niệm :
+ Theo tác giả Trần Đình Nghiêm: “Quản lý là một quá trình dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một hệ thống mới” [27]
+ Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu Quản lý là hệ thống là một quá trình tác động đến
hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [19]
+ Theo Nguyễn Văn Lê : “Quản lý là một hệ thống tác động khoa học, nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm
Trang 11đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống” [20]
+ Theo đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý thì : “Quản lý là tổ chức điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan” [40]
Quản lý là một quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan bằng các phương pháp thích hợp
Xem xét nội hàm của những khái niệm quản lý nêu trên, ta thấy quản
lý là một dạng hoạt động xã hội và tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm chủ thể, khách thể và phương tiện quản lý
Mục đích và phương tiện là cặp phạm trù trong mối quan hệ biện chứng của mọi hoạt động, vì thế để thực hiện được từng mục tiêu cụ thể nhằm đạt được
mục đích quản lý cần phải có phương tiện quản lý thích hợp
Bản chất của QL là họat động lao động để điều khiền lao động, một hoạt động tất yếu và vô cùng quan trọng của XH loài người Nó bắt nguồn từ lao động và tồn tại với tư cách là một loại lao động điều khiển mọi hoạt động
XH về kinh tế, chính trị, văn hoá, GD,… Các loại hình lao động ngày càng phong phú, phức tạp thì hoạt động QL ngày càng có vai trò quan trọng có những chức năng đặc biệt và phải luôn được thay đổi phù hợp, thích ứng với lao động xã hội Do vậy người ta thường nói: “QL là nghiệp xưa nhất nhưng cũng là nghề mới nhất”
Quản lý có phạm vi tác động lên khách thể rất rộng, do đó ngày nay nó được xem là nhân tố quan trọng nhất trong các nhân tố quyết định sự thành công của sự phát triển KT- XH (vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lý)
Trang 12Như vậy: Có nhiều khái niệm quản lý tuy khác nhau song các định nghĩa đều đề cập tới bản chất của hoạt động quản lý Bởi lẽ, bất kỳ lao động nào của xã hội hay cộng đồng ở một quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định của hoạt động quản lý Đó là cách thức tổ chức điều khiển, tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu mà tổ chức đã đặt ra
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích đến tập thể người nhằm thực hiện mục tiêu quản lý Trong giáo dục, đó là tác động của nhà quản lý giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác nhau trong xã hội nhằm thực hiện có hệ thống các mục tiêu quản lý giáo dục
Các chức năng quản lý là biểu hiện bản chất của quản lý, chức năng quản lý là môt phạm trù chiếm vị trí then chốt trong các phạm trù cơ bản của khoa học quản lý, là những loại hoạt động bộ phận tạo thành hoạt động quản lý đã
được tách riêng, chuyên môn hoá “ Các chức năng quản lý là những hình thái biểu hiện sự tác động đến mục đích tập thể người " [36, tr.16]
Có 4 chức năng cơ bản liên quan mật thiết với nhau và tạo thành chu
trình quản lý: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
1.2.2 Khái niệm về tổ chức
Tổ chức được hiểu theo hai nghĩa khác nhau:
- Tổ chức là một hệ thống: “ Tổ chức là một cơ cấu liên kết những cá
nhân trong một hệ thống nhằm thực hiện mục tiêu của hệ thống dựa trên những nguyên tắc và quy tắc nhất định” [36- Tr.1]
- Tổ chức là một hoạt động quản lý: Trong 4 chức năng quản lý tổ chức
là chức năng quan trọng nhất V.I Lê nin đã nói: “ Hãy cho tôi một tổ chức tôi
sẽ làm đảo lộn cả thế giới ”, Người còn nói: “ Để quản lý thành công, ngoài việc biết thuyết phục cần phải biết tổ chức thực hiện”
Trang 13Tổ chức là một quá trình sắp xếp, tác động và điều khiển các nhiệm vụ
và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã vạch ra
Trong luận văn này, tổ chức được được dùng với tư cách là một hoạt động quản lý
1.2.3 Khái niệm về đạo đức
Đạo đức là một trong những bộ phận cơ bản nhất tạo ra bộ mặt nhân cách của mỗi cá nhân, cộng đồng và dân tộc Hệ thống đạo đức là tấm gương phản chiếu rõ nét nhất cuộc sống tinh thần, đồng thời nó cũng thể hiện mối
quan hệ của điều kiện xã hội đến với cuộc sống của con người Các quan hệ
ấy vô cùng phong phú và phức tạp, đòi hỏi con người phải có cách ứng xử giao tiếp và thường xuyên điều chỉnh thái độ, hành vi của mình sao cho phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực và lợi ích chung của XH Trong trường hợp này con người được xem là có đạo đức Ngược lại, những cá nhân biểu hiện thái độ, hành vi không phù hợp với chuẩn mực XH, với cộng đồng, vì lợi ích cá nhân gây nên tổn hại lợi ích của người khác, của XH, bị cộng đồng lên án, chê trách thì người đó coi
là thiếu đạo đức
Đạo đức liên quan chặt chẽ đến phạm trù chính trị, pháp luật, nhưng khác với pháp luật, ĐĐ là phạm trù vĩnh cửu, nó được xuất hiện và tồn tại cùng với xã hội loài người, còn pháp luật là một phạm trù lịch sử, nó chỉ tồn tại trong xã hội có giai cấp Vì thế người ta nói : Pháp luật thống trị con người chỉ một thời gian, còn ĐĐ thống trị con người mãi mãi Ta nghiên cứu một số quan niệm:
+ Theo Phạm Minh Hạc: Khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần căn bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cấ nhân đã được xã hội hoá Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động góp phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn Khi thừa
Trang 14nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân mỗi cộng đồng mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại.[17, tr.153]
+ Theo Phạm Khắc Chương: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những tồn tại xã hội, phản ánh những quan hệ XH hiện thực trên cơ
sở kinh tế Sự phát triển của ĐĐ xã hội từ thấp đến cao như những nấc thang giá trị của văn minh con người trên cơ sở phát triển của sức sản xuất vật chất
và thông qua sự đấu tranh gạn lọc, kế thừa mà nội dung ĐĐ ngày càng phong phú và hồn nhiên hơn”.[13]
Theo từ điển tiếng việt: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc qui định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với XH, là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định”.[40]
Khi bàn về ĐĐ chúng ta không thể không nói đến các quan điểm ĐĐ của Chủ tịch Hồ Chí Minh Người quan niệm đạo đức là Nhân – Nghĩa – Trí - Dũng - Liêm Đó là ĐĐ cách mạng, đạo đức mới XHCN luôn vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc và của lòng người Theo Người, đạo đức là thống nhất giữa tư tưởng và cách sống
Theo chiều dài lịch sử, đã có rất nhiều quan điểm về đạo đức, nhưng chỉ
có quan điểm của chủ nghĩa Mác – LêNin là khoa học nhất, tiến bộ nhất Chủ nghĩa Mác- LêNin cho rằng đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội, khi tồn tại xã hội được thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo, như vậy đạo đức là một phạm trù mang tính vĩnh hằng nhưng mang lại những đặc điểm của giai cấp, của dân tộc và thay đổi chuẩn mực trong từng giai đoạn lịch sử
Vậy đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh các mối liên hệ hiện thực của cuộc sống con người Thông thường trong cuộc sống mỗi người phải ý
Trang 15thức được ý nghĩa, mục đích hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại và tương lai Những hoạt động đó chịu sự chi phối của các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội trong giới hạn cho phép của cộng đồng, của dân tộc nhằm đảm bảo quyền lợi cho tất cả thành viên vươn lên tích cực tự giác tạo thành động lực phát triển xã hội Đó chính là những quy tắc chuẩn mực hoàn toàn
tự giác điều khiển hành động của mỗi cá nhân trong các mối quan hệ xã hội
Tất nhiên đạo đức là một hình thái ý thức luôn luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp, tính dân tộc gắn với tiến trình phát triển của nhân loại và dân tộc, đạo đức cũng chịu sự quy định của điều kiện kinh tế, vật chất xã hội đồng thời cũng chịu sự tác động qua lại chế uớc lẫn nhau của các hình thái ý thức
xã hội khác như pháp luật, văn hoá, giáo dục, tập quán
Đạo đức có ba chức năng cơ bản đó là: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi, trong đó chức năng điều chỉnh hành vi là quan trọng nhất
* Về chức năng nhận thức: Đạo đức là công cụ giúp con người nhận
thức xã hội về mặt đạo đức, các quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực là kết quả của sự phản ánh tồn tại xã hội, được mọi người đánh giá, thừa nhận và khái quát thành những khuôn mẫu, thước đo các giá trị xã hội
* Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức về đạo đức, chức năng
Trang 16Giáo dục đạo đức là quá trình hình thành những quan điểm cơ bản, những nguyên tắc chuẩn mực của xã hội, nhờ vậy mà con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức trong cộng đồng cũng như tự đánh giá các hành vi của bản thân mình Công tác GDĐĐ góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách con người phù hợp với với đối tượng giáo dục trong môi trường kinh tế xã hội nhất định
Ngày nay, khi xã hội phát triển, đời sống tương đối ổn định thì nhưĩng dấu hiệu suy thoái ĐĐ lại xuất hiện ngày càng nhiều thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Chính vì vậy mà việc GDĐĐ cho học sinh THPT là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay Đó là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm giúp cho nhân cách của mỗi HS được phát triển vẹn toàn, có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ, hình thành và phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin, thói quen đạo đức cho học sinh
GDĐĐ trong trường phổ thông là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình bộ phận khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và giáo dục hướng nghiệp giúp cho học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện Quá trình GDĐĐ cũng như các quá trình giáo dục khác đều có các thành tố có quan hệ với nhau trong hệ thống cấu trúc nhất định và vận động Các thành
tố cơ bản của giáo dục và người được giáo dục, mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp và phương tiện giáo dục, kết quả giáo dục
Về nhiệm vụ GDĐĐ là làm sao cho mỗi con người được GD nhanh chóng tiếp cận được với mục tiêu, do vậy GD phải tăng cường GD ý thức ĐĐ tình cảm đạo đức, khơi dậy ở HS những rung động, cảm xúc với hiện thực xung quanh biết yêu thương với những thái độ và hành vi đúng đắn, biết phản đối, căm ghét những hiện tượng tiêu cực, vô đạo đức, vô lương tâm, làm
phương hại đến uy tín, danh dự cá nhân và tập thể
Trang 17Về mục tiêu GDĐĐ cho học sinh ở trường THPT là giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng đắn các giá trị ĐĐ, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ của xã hội
và phồn vinh của đất nước Trong đó mục tiêu quan trọng nhất của GDĐĐ là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức
Về nội dung GDĐĐ là giáo dục ý thức, GD tình cảm và GD hành vi, trang bị cho HS những hiểu biết, niềm tin về chuẩn mực và những quy tắc ứng xử trong cuộc sống, trong học tập và lao động, về nghĩa vụ công dân trong việc xây dựng và việc bảo vệ tổ quốc
Tóm lại: Có thể nói rằng có bao nhiêu mối quan hệ ở trong nhà trường
và xã hội mà HS tham gia, hoạt động, giao tiếp, thì có bấy nhiêu tác động GDĐĐ Những tác động này có thể thống nhất nhằm tăng cường, hỗ trợ cho nhau, tạo nên sức mạnh trong quá trình GD, nhưng cũng có thể mâu thuẫn, làm vô hiệu hoá, suy yếu các kết quả tác động Vấn đề GDĐĐ cho học sinh phải tuân theo quy luật phát triển chung về hình thành và phát triển nhân cách Hơn ai hết những người làm công tác giáo dục phải nắm và vận dụng quy luật này cho thật hợp lý
1.2.5 Khái niệm về các lực lượng giáo dục
- Nhà trường: là một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt
chẽ, có nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo nhân cách trẻ em theo những định hướng của xã hội
Quá trình thể hiện chức năng trên là quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáo dục theo hệ thống chương trình nội dung được tổ chức một cách chặt chẽ, bài bản
- Gia đình: “Gia đình là tế bào của xã hội, là tập hợp của những người
cùng
chung sống là một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, họ gắn bó với nhau bằng quan
hệ hôn nhân về dòng máu, thường gồm vợ chồng, cha mẹ, con cái” [13, tr.4]
Trang 18Quan hệ con người với gia đình là yếu tố đặc biệt trong sự hình thành nhân cách Gia đình do con người sáng tạo ra, song gia đình lại là môi trường
xã hội đầu tiên, có tác dụng tiếp nhận chọn lọc, điều chỉnh hình thành hệ thống giá trị xã hội, trước hết là hệ thống đạo đức văn hoá của dân tộc và nhân loại Gia đình hạnh phúc dựa trên nguyên tắc cơ bản là mọi người đều phải yêu thương quý mến nhau, giúp đỡ nhau trong công việc gia đình và xã hội
- Các lực lượng xã hội bao gồm: Các cơ quan nội chính, các tổ chức
chính trị xã hội, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể quần chúng, các cơ quan chức năng [37, tr.7]
Trong các lực lượng giáo dục, nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc giáo dục đạo đức học sinh vì:
* Nhà trường có chức năng thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo nhân cách
* Nhà trường có nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục được chọn lọc và tổ chức chặt chẽ
* Nhà trường có LLGD mang tính chất chuyên nghiệp
* Môi trường giáo dục trong nhà trường có tính chất sư phạm, có tác động tích cực trong quá trình GD ĐĐ học sinh
Tuy nhiên nếu nhà trường có sự liên hệ, phối hợp với gia đình và các LLXH sẽ có những tác động đồng thời tạo ra hiệu quả cao đối với quá trình GDĐĐ học sinh
1.2.6 Khái niệm về biện pháp
- Theo định nghĩa triết học của V.I Lê nin thì biện pháp là cách thức, con đường chuyển tải nội dung Có nghĩa là căn cứ vào nội dung mà tìm cách thức, con đường phù hợp nhất có hiệu quả nhất để chuyển nội dung đến đích cuối cùng
- Biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội cũng chính là cách thức, con đường tạo nên mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó của ba lực lượng
Trang 19nhằm chuyển tải mục đích, nội dung giáo dục thế hệ trẻ (học sinh) đạt đến đích phát triển nhân cách theo mục đích đã xác định
1.2.7 Khái niệm về phối hợp
Phối hơp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm GDĐĐ cho học sinh
là tác động vào các đối tượng tạo ra mối liên hệ tác động hướng đích có tính thống nhất, tập trung để huy động sức mạnh tổng hợp của nhà trường, gia đình và xã hội nhằm GDĐĐ cho học sinh Để tạo ra sự phối hợp, trong công tác quản lý nhà trường cần phải:
+ Tổ chức mối liên hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm GDĐĐ cho học sinh, đây là sự thể hiện tác động qua lại một cách biện chứng Một mặt nhà trường cần giúp đỡ hỗ trợ cụ thể cho các bậc cha mẹ trong việc giáo dục, giúp họ nắm được tri thức về chính sách giáo dục đồng thời cho họ thấy được trách nhiệm và nghĩa vụ của các bậc cha mẹ trong việc nuôi dạy con cái Mặt khác với tư cách là một chủ thể giáo dục, gia đình tiêu biểu là các bậc cha
mẹ có trách nhiệm chủ động hợp tác với nhà trường trong việc tổ chức hoạt động giáo dục cho con em, hiểu rõ nhiệm vụ của mình và mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường quy định
+ Tổ chức mối quan hệ giữa nhà trường và các LLXH mà nhờ đó tạo nên một môi trường giáo dục đúng đắn, rộng khắp trong toàn xã hội đồng thời tạo ra quá trình giáo dục thống nhất và liên tục trong không gian và theo thời gian, có tác động trực tiếp đến việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ
+ Phối hợp giữa gia đình và các LLXH sao cho gia đình phát huy được tác dụng định hướng, tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động xã hội vì xã hội là môi trường giáo dục rất tốt cho trẻ Bên cạnh đó gia đình còn giúp trẻ
có nhận thức đúng và không bị các tệ nạn xã hội lôi cuốn Mặt khác LLXH vô cùng đông đảo tạo ra một môi trường rộng lớn có ảnh hưởng tự phát hoặc
tự
Trang 20giác rất mạnh mẽ đối với cuộc sống hàng ngày của trẻ
1.3 Nguyên tắc phối hợp các lực lượng giáo dục
Việc phối hợp giữa nhà trường với gia đình và các lực lượng xã hội cần theo
một số nguyên tắc sau:
- Phối hợp phải tận dụng, phát huy được toàn bộ tiềm năng trong và ngoài nhà trường cả về trí tuệ, kinh nghiệm, sức người, cơ sở vật chất trang thiết
bị
nhằm thực hiện mục tiêu GDĐĐ trong giai đoạn hiện nay
- Phối hợp phải tôn trọng tính đặc thù về chức năng nhiệm vụ của các
tổ
chức XH và cá nhân những người tham gia
- Phải đảm bảo tính thống nhất từ nhận thức, mục tiêu, chương trình kế hoạch hoạt động và khác nhau ở biện pháp, hình thức, thời gian, không gian hoạt động GD
- Phối hợp là nhằm khép kín không gian và thời gian tạo cơ hội thuận lợi nhất cho học sinh được học tập, rèn luyện, phát huy tính tích cực rèn luyện của học sinh
1.4 Vai trò việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh
Chất lượng và hiệu quả của giáo dục nói chung và GDĐĐ nói riêng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Các yếu tố có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, thúc đẩy nhau làm tăng thêm hoặc làm giảm chất lượng, hiệu quả giáo dục Việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn lao Đó là:
1.4.1 Việc tổ chức phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội tạo nên tác động
tổ hợp phát huy được những tiềm năng phong phú của toàn xã hội tham gia vào quá trình giáo dục
Trang 21Hiện nay các thành phần kinh tế đang không ngừng lớn mạnh, lực lượng
lao động hiện nay về trình độ đã và đang được nâng cao Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật ở các cơ sở sản xuất, hoạt động quản lý đang dần dần được chuẩn hoá và trình độ ngày càng cao Để thực hiện mục tiêu GDĐĐ học sinh, việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội có một ý nghĩa đặc biệt, đó là những điều kiện về vật chất, trang bị tiềm năng trí tuệ của xã hội cần được huy động vào QTGD của nhà trường
1.4.2 Việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là nguyên tắc quan trọng tạo ra sự thống nhất thực hiện mục tiêu giáo dục, thực hiện các chuẩn mực đạo đức của học sinh
Trong quá trình thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục, khi gặp những
trường hợp học sinh chưa ngoan, sự phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội
cũng được đặt ra song cần thường xuyên và xuất phát từ mục tiêu, nội dung giáo dục toàn diện
Để thực hiện mục tiêu GDĐĐ học sinh, việc phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội có ý nghĩa rất lớn, đây là những môi trường trực tiếp ảnh hưởng đến sự hình thành rèn luyện nhân cách của học sinh phổ thông nói
chung và học sinh THPT nói riêng
1.4.3 Tạo ra môi trường sư phạm lành mạnh, hạn chế được những tác động tiêu cực trực tiếp tới quá trình hình thành nhân cách học sinh
Trong điều kiện hiện nay, cùng với những yếu tố tích cực, mặt trái mặt tiêu cực của cơ chế thị trường đang ảnh hưởng đến QTGD của nhà trường Việc tìm kiếm giải pháp thống nhất nhà trường, gia đình và xã hội chính là tạo
ra sức mạnh tổng hợp và đồng bộ trong toàn xã hội hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực, ngăn chặn những thủ đoạn tội lỗi của những kẻ bất lương từ
Trang 22đó xây dựng một môi trường lành mạnh tạo ra những tác động tích cực cho quá trình GDĐĐ học sinh
Việc định hướng cho học sinh THPT về các giá trị chuẩn mực đạo đức hạn chế những ảnh hưởng không lành mạnh là rất cần thiết Yêu cầu đó không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà cần đặt ra cho các bậc cha mẹ mọi người dù ở trong hay ngoài ngành giáo dục
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả của việc tổ chức phối hợp
1.5.1 Mục tiêu giáo dục phổ thông và những định hướng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá 1.5.1.1 Mục tiêu giáo dục phổ thông
- Theo luật giáo dục và nghị quyết TW 2: “ Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
- Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học THCS
- Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, THCN, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
- "Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, THCN học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động" [7, Tr.1]
Trang 231.5.1.2 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Những phẩm chất của con người Việt nam thế kỷ XXI đó là:
- Con người có bản chất nhân văn, nhân bản, nhân ái trong quan hệ với con người, với cộng đồng
- Con người có đầu óc khoa học và duy lý, biết sử dụng các quy luật để xây dựng cuộc sống
- Con người có nhân cách công dân, ý thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ công dân, có ý thức bảo vệ tổ quốc, giữ gìn và phát huy truyền thống tinh hoa của dân tộc mình trong quá trình hoà nhập với nền văn minh nhân loại
- Con người lao động với tay nghề cao, sáng tạo ra cái giá trị để làm giàu cho mình và cho xã hội
- Con người có cá tính và bản sắc riêng, thể hiện rõ bản lĩnh, hoài bão, có
ý chí, tính tự chủ, tự giác, tính năng động, nhanh thích nghi và sáng tạo trong cuộc sống ganh đua quyết liệt và luôn biến đổi
Trên nền tảng đạo đức trên, chúng ta cụ thể hoá thành nhiệm vụ GDĐĐ cho học sinh THPT như sau:
+ Làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Mác-Lênin, tư tưởng
và đạo đức cách mạng của Hồ Chủ Tịch, tính chân lý khách quan, giá trị nhân văn, nhân đạo, nhân bản của thế giới quan và tư tưởng đó Coi đó là kim chỉ nam cho tư tưởng và hành động của mình
+ Trên cơ sở đó bằng sự tiếp cận với cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN để củng cố niềm tin, xây dựng lẽ sống, lý tưởng sống theo định hướng XHCN
+ Thấm nhuần chủ trương, chính sách của Đảng, biết sống và làm việc theo pháp luật, sống có kỷ cương, sống có văn hoá trong nhà trường cũng như trong cộng đồng dân cư và nơi công cộng
Trang 24+ Nhận thức ngày càng sâu sắc về những nguyên tắc, yêu cầu chuẩn mực, giá trị đạo đức, biến những giá trị đạo đức xã hội thành ý thức tình cảm,
ý chí, hành vi, thói quen, thành phẩm chất đạo đức cá nhân thể hiện trong cách sống và làm việc, trong quan hệ ứng xử giữa con người với con người, con người với tự nhiên, làm điều thiện, tránh điều ác
1.5.1.3 Những định hướng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn mới
Bác Hồ đã nói: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức Đức là đao đức cách mạng đó là cái gốc rất quan trọng Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng”
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng khằng định: “Coi trọng bồi dưỡng cho HS, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc, trao dồi cho HS, sinh viên, bản lĩnh, phẩm chất và lối sống của thế hệ trẻ
Việt Nam”.[5]
Đặc biệt luật giáo dục của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, giáo dục
và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu là sự nghiệp của nhà nước và toàn dân Những nội dung cơ bản của luật giáo dục cũng thể hiện quan điểm của nhà nước về GDĐĐ cho học sinh đó là:
- Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục XHCN, có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
- Nguyên lý: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản
xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội [7, tr.8]
Về nội dung, phương pháp:
Trang 25- Nội dung: Đảm bảo tính cơ bản toàn diện, thiết thực hiện đại và có hệ
thống, coi trọng giáo dục tư tưởng và có ý thức công dân
- Phương pháp: Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người
học.[7, tr.9]
- Trách nhiệm của gia đình: Tạo môi trường thuận lợi cho việc phát
triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em.[7, tr.54]
- Trách nhiệm của xã hội: Xây dựng phong trào học tập và môi trường
giáo dục lành mạnh, ngăn chặn những hoạt động có ảnh hưởng xấu đến thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.[7, tr.55]
Luật giáo dục đã xác định mô hình giáo dục thích hợp với hoàn cảnh
và điều kiện của nền giáo dục Việt Nam, để giáo dục việt nam sớm hoà nhập với giáo dục thế giới Đặc biệt những quan điểm của nhà nước về GDĐĐ cho học sinh đã khẳng định tầm quan trọng của đạo đức trong QTGD
Trong giai đoạn mới hiện nay, GD nhân cách là nhiệm vụ và là mục tiêu cơ bản của sự nghiệp GD nói chung, của trường THPT nói riêng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Đó là GD cho học sinh, sinh viên, lòng yêu nước, yêu CNXH, có bản lĩnh vững vàng, có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi có ý chí học tập, rèn luyện để lập thân, lập nghiệp, tiếp bước các thế
hệ đi trước, góp phần đưa đất nước đến hưng thịnh, phú cường
1.5.2 Trình độ nhận thức của thầy cô giáo, gia đình học sinh và các tổ chức xã hội về phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh
Trong sự phát triển của nguồn nhân lực cho đất nước Việt Nam đang
đổi mới hiện nay yêu cầu cấp bách là nâng cao chất lượng nhân lực, đào tạo
và bồi dưỡng nhân tài nhằm tạo ra những mẫu nhân cách phù hợp với xã hội mới Để xây dựng được những con người có phẩm chất cơ bản đó cần có sự
Trang 26hợp tác, sự phối hợp nhịp nhàng đồng bộ, hỗ trợ cho nhau giữa ba môi trường
giáo dục nhà trường, gia đình, xã hội
Song nhà trường phải thực sự là hạt nhân của sự phối hợp là điều kiện
bảo đảm cho các chủ thể giáo dục thống nhất với nhau về mục tiêu, nội dung,
và phương pháp giáo dục, song đa dạng về biện pháp tác động, hình thức tổ
chức và phương tiện giáo dục để phát huy những mặt mạnh, đồng thời hạn chế
các mặt yếu của các chủ thể giáo dục nhằm đạt hiệu quả giáo dục học sinh cao
Tuy nhiên để thực hiện được sự phối hợp trên trình độ nhận thức của
thầy, cô giáo, gia đình học sinh và các tổ chức xã hội khác đóng vai trò quan
trọng Khi nào họ có nhận thức đầy đủ, đúng đắn và đạt tới một mức độ cho
phép thì sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội mới đạt được hiệu
quả cao trong giáo dục nói chung và trong GDĐĐ nói riêng
1.5.3 Điều kiện kinh tế xã hội văn hoá của địa phương có ảnh hưởng đến
việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc
giáo dục đạo đức cho học sinh
+ Điều kiên kinh tế của địa phương và gia đình có ảnh hưởng sâu sắc
và trực tiếp tơi việc tổ chức phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong
việc
giáo dục đạo đức học sinh Cụ thể:
- Điều kiện kinh tế của địa phương cung cấp nguồn lực tài chính, cơ
sở vật chất cho các học sinh của nhà trường
- Nền tảng kinh tế của địa phương và của gia đình góp phần xây dựng
cảnh quan sư phạm không chỉ phạm vi trong gia đình, nhà trường mà cả
ngoài xã hội góp phần quan trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp
nhà trường, gia đình và xã hội trong việc GDĐĐ cho học sinh Phong trào:
“Điện - Đường - Trường - Trạm” ở các địa phương là một minh chứng sinh
động cho sự phối hợp Chính nền tảng kinh tế của địa phương đã tạo thêm
điều kiện cho các trường xây dựng trường ra trường, lớp ra lớp Nền tảng kinh
Trang 27tế địa phương và gia đình vững chắc sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể giáo dục
có nhiều thời gian và tâm sức dành cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ Nền tảng kinh tế gia đình vững chắc, bố mẹ có điều kiện trang bị cho con cái những điều kiện học tập, bố mẹ dành nhiều thời gian quan tâm tới sự học tập
và tu dưỡng của con Mối quan hệ này dẫn đến sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường một cách tự nhiên không gò bó
- Điều kiện kinh tế địa phương tạo cơ sở xây dựng chính sách địa phương cho người tham gia công tác giáo dục Các cán bộ quản lý phụ trách các tổ chức cho rằng xã hội cần có những chế độ ưu đãi về vật chất cũng như suy tôn về tinh thần để những cán bộ cộng đồng tham gia công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm GDĐĐ có điều kiện hoạt động
- Nếu ở địa phương có quan hệ sản xuất lành mạnh, lực lượng sản xuất giàu tiềm năng, nghề phụ phát triển tốt là môi trường định hướng nghề nghiệp cho trẻ trong lúc học tập và tiếp nhận cả khi ra trường không học tiếp nữa, tránh hiện tượng các em không có việc làm dễ bị nhiễm những thói hư tật xấu,
tệ nạn xã hội
+ Điều kiện văn hoá - xã hội ở địa phương cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm GDĐĐ cho học sinh cụ thể:
- Các tổ chức Đảng, chính quyền, các lực lượng và tổ chức xã hội khác ởđịa phương được tổ chức tốt sẽ tạo được sự tham gia nhiệt tình với các mối quan hệ xã hội và công tác giáo dục Để phát huy tiềm năng của các tổ chức
xã hội trong quá trình phối hợp người quản lý cần tận dụng sức mạnh tổng hợp mọi nguồn lực, thu hút mọi người nhằm biến nhiệm vụ giáo dục học sinh
là nhiệm vụ của toàn dân
- Môi trường xã hội ổn định, nền tảng quan hệ xã hội lành mạnh là điều
Trang 28kiện thuận lợi cho sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội Đây chính
là
môi trường mà ở đó học sinh gián tiếp hấp thụ những giá trị đạo đức của xã hội
- Các phong trào văn hoá - xã hộỉ ở địa phương được tổ chức tốt sẽ lôi cuốn gia đình và nhà trường tham gia một cách tự nhiên tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp Chính các phong trào: “Xây dựng gia đình văn hoá”,
“Giữ gìn trật tự trị an ninh”, “Bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp”, “Phòng chống tệ nạn xã hội”, “Kỷ niệm các ngày lễ lớn” là điều kiện để GDĐĐ cho học sinh tốt nhất
- Ngoài ra, văn hoá truyền thống địa phương là môi trường tạo nên sự liên kết, phối hợp một cách hết sức tự nhiên Trình độ dân trí ở địa phương là yếu tố đầu tiên phải kể tới Nếp sống văn minh, các phong tục cũ (dòng họ, gia phả, lễ hội, hội làng ), phong tục mới (phong trào từ thiện 27/7, áo lụa tặng bà, kỷ niệm ngày lễ lớn ) nếu được tổ chức tốt sẽ lôi cuốn được gia đình
và nhà trường vào sự phối hợp Một yếu tố nữa không thể bỏ qua là các loại hình sinh hoạt văn hoá tinh thần như: “ Thư viện, các loại hình câu lạc bộ, phong trào thể thao, Phong trào xanh hoá nhà trường với lực lượng tham gia
là các em học sinh ” cũng chính là môi trường thuận lợi của sự phối hợp
Như vây, các hoạt động văn hoá tinh thần là môi trường thuận lợi cho sự
phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc GDĐĐ cho học sinh
1.5.4 Những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học phổ thông
1.5.4.1 Đặc điểm chung về tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông
Học sinh THPT ở tuổi vị thành niên (15-18 tuổi) các em đang trong giai đoạn phát triển mạnh về thể lực, tâm lý, sinh lý, đang là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ con sang tuổi người lớn Đây là thời kỳ trẻ gia nhập tích cực vào cuộc sống
xã hội, qua đó hình thành phẩm chất của người công dân và cũng là thời kỳ then chốt của sự phát triển nhân cách, các em phải ứng xử với những thay đổi
to lớn trong môi trường học tập khi chuyển từ THCS lên bậc THPT và rất
Trang 29nhiều những yêu cầu mới của xã hội, dẫn đến những biến động về tâm lý Có thể thấy được một số đặc điểm chung nổi bật của lứa tuổi dễ thấy là:
+ Về mặt thể lực và trí lực
Lứa tuổi này dồi dào về thể lực, trí tuệ, nhạy bén, thích tìm tòi cái mới,
ưa sáng tạo .Đây là thời kỳ mà các em muốn tỏ rõ là người thanh niên cường tráng, có lý tưởng có trí tiến thủ, thân hình phát triển, chuyển hoá trong cơ thể mạnh mẽ, sinh lực dồi dào, hiếu động chân tay, trong hoạt động thi đua luôn thể hiện tính ganh đua, thách đố, cùng với sự tự cao, ý thức hơi thái quá, nôn nóng, tạo ra sự bất kham, thích mạo hiểm, luôn muốn thử sức để bộc lộ nguyện vọng mãnh liệt của bản thân
Các em có ý thức tự khẳng định mình cao, muốn sống tự lập, mong làm việc có ý nghĩa Khả năng phân tích, tổng hợp, phán đoán và suy luận được nâng cao, đồng thời có tính hoài nghi khoa học, có khát vọng tìm đến cái
“Chân”, “Thiện”, “Mỹ ” Muồn tỏ rõ vai trò của “người lớn” và tích cực tham gia các hoạt động xã hội đặc biệt là các hoạt động “Văn”, “Thể”, “Mỹ”, có khả năng giao lưu phong phú, phóng khoáng và hào hiệp, nhiệt tình và hăng hái trước những công việc nặng nhọc, khó khăn và những thử thách của cuộc sống
+ Về mặt tâm lý giới tính
Giai đoạn từ 15-18 tuổi là giai đoạn mà các em rất thích biểu hiện mình trước bạn khác giới, thích làm dáng, làm điệu Hiện tượng phát dục ở các em đã đưa đến những biến đổi về mặt sinh lý dẫn đến những biến đổi về tâm lý, các em ý thức được sự khác biệt về giới tính và có nhu cầu mạnh mẽ
về tình bạn, tinh yêu bên cạnh đó họ cũng đang tự xây cho mình những quan điểm riêng và đang quyết định viễn cảnh, kế hoạch cho cuộc sống của bản thân Đồng thời, trong các em bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt giữa nhu cầu hứng thú, sở thích cá nhân với khả năng vốn có cộng với những quy tắc, quy phạm chặt chẽ của xã hội
+ Về mặt tính cách
Trang 30Là thời kỳ của sự bộc lộ hết sức mạnh mẽ về tính cách, các trạng thái tâm lý rất không ổn định, dễ chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác từ tích cực sang tiêu cực, yêu và ghét, vui vẻ và buồn chán luôn đan xen, thay đổi thất thường Tính khí thất thường là vì ở tuổi này do chức năng nội tiết phát
triển mạnh nhưng tác dụng ức chế của vỏ não thì chưa tới mức hoàn hảo
+ Về mặt phát triển ý thức đạo đức
Đây là giai đoạn các em đã có cảm nghĩ mình là người lớn vì vậy tính
tự giác cũng được nâng cao nhanh chóng luôn hướng về phía trước, về lẽ phải, có ý thức tìm kiếm cái cốt lõi của cuộc sống, ý thức XH cũng được thể hiện rõ nét, rất nhạy bén với những biến động XH, dám nghĩ dám làm, dám nói lên ý kiến và nhận định của bản thân, khao khát được mọi người đánh giá cao về mình, quan tâm đến sự phát triển tài năng của bản thân và thường xuyên trau dồi phẩm chất ĐĐ, khả năng tự kiềm chế dần được nâng cao, hành
vi thiếu tự chủ được giảm bớt, biết khép mình vào khuôn phép XH Tuy nhiên với kinh nghiệm sống chưa nhiều các em dễ bị cám dỗ, và ảnh hưởng những tác động xấu của ngoại cảnh
Nhìn chung đặc điểm lứa tuổi thời kỳ này các em dồi dào về thể lực, phong phú về tinh thần và phức tạp về tính cách, hành vi Còn là thời kỳ mà “ Nhận thức và hiểu biết các phẩm chất đạo đức của nhân cách sâu sắc hơn trước” [24, tr.19]
Qua những đặc điểm tâm lý, tính cách trên cho ta nhận thấy nếu chỉ
có giáo dục từ một phía nhà trường thì không thể quán xuyến hết toàn bộ cuộc sống sinh hoạt và hoạt động của chủ thể đang trưởng thành Không thể loại trừ được các nhóm tự phát với những đặc tính lứa tuổi mà cần có
sự kết hợp GD của nhiều lực lượng, tác động từ nhiều phía với những hoạt
động đa dạng nhằm thúc đẩy và phát huy được tính tích cực của thế hệ trẻ
Trang 311.5.4.2 Đặc điểm về đạo đức học sinh trung học phổ thông hiện nay
+ Đây là lưa tuổi giàu ước mơ, hoài bão nhưng đa số lại lưu tâm đến những nhu cầu thiết thực và phân hoá theo nhiều định hướng khác nhau cụ thể: Số đông học sinh có ý chí tiếp tục học tập, chiếm lĩnh tri thức khoa học
để tiến thân, lập nghiệp Một bộ phận học sinh mong muốn sớm có công việc, một bộ phận khác đi vào những lĩnh vực phát triển thiên hướng năng khiếu riêng biệt muốn hoà nhập cộng đồng để lập thân lập nghiệp Đây cũng chính
là ước mơ, mong muốn chính đáng thức thời, hợp qui luật phát triển của xã hội
+ Đây là lứa tuổi phát triển tình cảm phong phú: Xuất hiện những tình cảm lớn: Dân tộc, quốc gia, nhân loại Có lòng nhân ái, biết sống có tình nghĩa, có ý thức làm việc thiện Tình bạn phát triển mạnh mẽ, tình yêu nam
nữ bắt đầu nảy nở Một số biểu hiện tiêu cực do tác động đa dạng, phức tạp của đời sống xã hội đến nhân cách đang trưởng thành Không ít các em thường mặc cảm với thế hệ cao tuổi, mơ hồ bàng quan với quá khứ, có hướng thực dụng, đua đòi cái mới, chạy theo thị hiếu tầm thường, dễ bị sa đà, ngông cuồng cuốn hút vào các tệ nạn xã hội, phản giá trị đạo đức xã hội
Đặc điểm của sự phát triển nhân cách của học sinh THPT là tự ý thức gắn liền với nhu cầu nhận thức và đánh giá các phẩm chất tâm lý đạo đức trong nhân cách của mình cả trên bình diện các mục đích và nguyện vọng cụ thể trong cuộc sống Họ đánh giá mình không phải theo cái hiện tại mà hướng tới tương lai Nét đặc trưng của sự phát triển các phẩm chất đạo đức là sự tăng cường vai trò của các niềm tin đạo đức, ý thức đạo đức trong hành vi Cuộc sống học tập, lao động xã hội trong các tập thể lành mạnh có yêu cầu cao và
có tác dụng tích cực đến các thành viên, thường cải tạo được ý thức và hành
vi của những học sinh đó
Kết luận chương 1
Trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay đòi hỏi phải coi trọng nhân tố con người, coi trọng cả tài năng, sức khoẻ và phẩm chất đạo đức Để thực hiện có
Trang 32hiệu quả giáo dục con người (trước hết là thế hệ trẻ) có đủ điều kiện và phẩm
chất thực hiện CNH, HĐH thì việc nghiên cứu thống nhất hệ thống giá trị trong đó có những chuẩn mực đạo đức là một việc làm hết sức cần thiết
Giáo dục đạo đức trong trường THPT là một bộ phận quan trọng trong quá trình giáo dục tổng thể, có quan hệ biện chứng với các bộ phận: Đức-Trí-Thể-Mỹ và lao động, giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện
Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay,
đòi hỏi các LLGD phải nắm vững những định hướng vì mục tiêu, nội dung,
phương pháp giáo dục, đặc biệt là nắm vững đặc điểm nhân cách lứa tuổi học sinh THPT, lứa tuổi đang có những bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển nhân cách, nhưng cũng gây không ít khó khăn trong công tác giáo dục
Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là công việc của toàn xã hội, kết hợp chặt chẽ của ba lực lượng GD và sự tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là một nguyên tắc cơ bản đảm bảo sự thành công của công tác giáo dục nói nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng
Trang 33Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI NHẰM GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ TÂY
2.1 Khái quát tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá giáo dục của huyện Mỹ Đức, Hà Tây
2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội
Huyện Mỹ Đức nằm ở phía tây nam tỉnh Hà Tây giáp danh với huyện Ứng Hoà, Chương Mỹ của Hà Tây, huyện Kim Bảng của Hà Nam và huyện Lạc Thuỷ của Hoà Bình, là vùng bán sơn địa với diện tích tự nhiên: 22.614 ha (trong đó diện tích canh tác: 10.036 ha)
Huyện Mỹ Đức có 22 xã và thị trấn (trong đó có 01 xã miền núi) với dân số là 172.925 người, có 2 dân tộc (Kinh và Mường) Trên địa bàn huyện
có 76 cơ quan, 97 trường học, 789 phòng học, 5 bệnh viện, phân viện, 23 trạm
xá, 26 trường mầm non
Là huyện có khu du lịch Hương Sơn và Quan Sơn nổi tiếng - hai danh lam thắng cảnh của đất nước, hàng năm có tới hàng triệu lượt khách trong và ngoài nước về tham quan du lịch
Trang 34Mỹ Đức chịu tác động lớn của quá trình phát triển KT-XH của cả vùng
Có lợi thế về đất đai màu mỡ, khí hậu thuận hoà, người dân có truyền thống về khả năng canh tác giỏi Gần đây, phát triển trang trại, sản xuất cây con, làng nghề truyền thống, đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
Trong những năm qua tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, với sự cố gắng nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân trong huyện, khắc phục mọi khó khăn đã giành được những kết quả đáng phấn khởi; kinh tế tiếp tục có
bước tăng trưởng, tổng giá trị sản xuất gia tăng trong huyện (GDP tính theo giá hiện hành) năm 2007 đạt 669 tỷ đồng Tốc độ tăng bình quân hàng năm
9,1% Văn hoá, y tế, giáo dục có nhiều tiến bộ
Tuy nhiên, Mỹ Đức là huyện tăng trưởng kinh tế còn thấp, chưa tương
xứng với tiềm năng; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm (tỷ trọng nông, lâm nghiệp năm 2007 vẫn chiếm 56,9%); số lao động thiếu việc làm còn nhiều, lao
động ở nông thôn phần nhiều thu nhập thấp, đời sống khó khăn; công tác đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục chưa sâu rộng; hệ thống trường mầm non chưa đáp ứng yêu cầu; nhiều phong trào và hoạt động của ngành giáo dục còn nặng về hình thức Các tệ nạn xã hội, hủ tục lạc hậu, có lúc, có nơi chưa được ngăn chặn kịp thời, gây tác hại xấu
Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể được quan tâm chỉ đạo; quốc phòng an ninh được giữ vững đã góp phần ổn định chính trị đảm bảo trật tự an toàn xã hội
2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục trung học phổ thông của Huyện Mỹ Đức, Hà Tây
Tình hình tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội ở những năm qua đã tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu sắc đến Giáo dục- Đào tạo của huyện, cuộc sống của người dân được nâng dần từng bước, bộ mặt của xã hội được thay đổi, dân trí cũng được phát triển Tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW2 khoá XIII
Trang 35và TW6 khoá IX về đẩy mạnh cuộc vận động xã hội hoá giáo dục; từ 2001 -
2007, huyện đã đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ở các nhà trường với tổng kinh phí là 32 tỷ đồng để xây mới, sửa chữa, mua sắm trang thiết bị dạy và học Đến nay các xã, thị trấn đã có 22 trường mầm non, 22 trường trung học cơ sở, 24 trường tiểu học, 4 trường THPT được xây dựng kiên cố Tiếp tục duy trì phổ cập tiểu học và trung học cơ sở, tính đến nay đã có 06 trường đạt
chuẩn quốc gia Đẩy mạnh phong trào thi đua “Thầy dạy tốt, trò học tốt”, từng
bước nâng cao chất lượng giảng dạy, tỷ lệ học sinh giỏi và số học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng năm sau cao hơn năm trước
Điều đáng quan tâm hơn là một bộ phận hoc sinh có những biểu hiện không lành mạnh trong lối sống, yếu kém về nhận thức, hành vi không theo chuẩn mực xã hội Hiện nay vấn đề GDĐĐ, nhân cách cho thế hệ trẻ vẫn còn
là một mối lo toan, trăn trở của các cấp chính quyền, các nhà GD ở tỉnh Hà Tây nói chung và huyện Mỹ Đức nói riêng
Thông qua các văn bản tổng kết hoạt động giáo dục của ngành giáo dục tỉnh Hà Tây năm học 2006 - 2007, chúng tôi có được các số liệu và nhận định dưới đây:
(a) Quy mô trường, lớp
- Tổng số trường THPT: Tổng số có 04 trường công lập, trong đó: có
03 trường loại 1, 01 trường loại 2
- Tổng số lớp học: 167 lớp, trong đó:
Lớp 10: 48 lớp Lớp 11: 62 lớp Lớp 12: 55 lớp
- Tổng số học sinh: Tổng số có 8389 học sinh, trong đó:
Lớp 10 có: 2503 em;
Lớp 11 có: 3129 em;
Lớp 12 có: 2757 em
Trang 36Phân theo vùng: đồng bằng có 7309 em; vùng bán sơn địa 1080 em
(b) Đội ngũ CBQL, giáo viên và nhân viên:
+ Giáo viên có: 268 người, trong đó có 139 nữ, 229 GV đạt chuẩn, 03
bộ môn, 03 phòng thí nghiệm, 03 phòng thư viện và 05 phòng khác
Như vậy còn thiếu 50 phòng học chung và 18 phòng chức năng
+ Phương tiện kỹ thuật và thiết bị dạy học:
- Nhìn chung, các trường trong huyện Mỹ Đức- Hà Tây cũng có đủ nội
thất (bảng chống loá, bàn, ghế, ), hệ thống điện, nước sạch,
- Các thiết bị dạy học và đồ dùng dạy học theo quy định của Bộ GD &
ĐT có đủ tên theo danh mục Có một số trường đã có một số phòng học bộ môn nhưng cán bộ chuyên trách về thiết bị thí nghiệm chưa có nên việc sử dụng thiết bị dạy học chưa thường xuyên và đạt hiệu quả
- Trong một số năm gần đây, việc thu thập, xử lý và chuyển tải các thông tin nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà trường đã được chú trọng Tất cả các trường THPT đều cập nhật được các thông tin về đường lối phát triển giáo dục, các vấn đề đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học Tuy nhiên,việc khai thác chưa hiệu quả vì các trường hiện nay chưa có những quy định và cơ chế hoạt động thích hợp
(d) Về môi trường giáo dục
- Môi trường sư phạm trong các nhà trường nhìn chung là tốt Nhiều CBQL, giáo viên hết lòng vì học sinh thân yêu và họ tích cực hỗ trợ sư phạm cho nhau
Trang 37- Việc thực hiện chính sách xã hội hoá giáo dục được chú trọng, nhưng nhìn chung hiệu quả chưa cao Việc huy động thêm kinh phí ngoài ngân sách của các trường THPT chỉ tập trung chủ yếu vào nguồn đóng góp của phụ huynh học sinh, chưa có nhiều tổ chức kinh tế và cá nhân tham gia đóng góp nhân lực, tài lực và vật lực cho giáo dục
- Vấn đề phối hợp giáo dục giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhìn chung có nhiều chuyển biến tốt Phụ huynh học sinh quan tâm nhiều hơn đến việc học tập của con em họ Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế
Tóm lại: Thời gian vừa qua trong hoàn cảnh xã hội có nhiều biến động
phức tạp, song giáo dục đào tạo huyện Mỹ Đức vẫn đạt được nhiều thành tựu, được Sở Giáo dục - Đào tạo đánh giá cao Việc chăm lo xây dựng đội ngũ được xác định là nhiệm vụ trọng tâm Việc xây dựng trường sở, trang thiết bị giáo dục được đẩy mạnh, công tác thanh tra, kiểm tra, thông tin, quản lý, thi đua có nhiều đổi mới
2.2 Thực trạng công tác tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình
và xã hội nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh
2.2.1 Điều tra thực trạng
* Nhiệm vụ điều tra thực trạng:
- Thống kê và đánh giá thực trạng đạo đức học sinh, tìm nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng đó
- Tìm hiểu nhận thức của học sinh và các bậc phụ huynh về đạo đức và giáo dục đạo đức
- Tìm hiểu các biểu hiện ảnh hưởng của nhà trường, gia đình và xã hội đến đạo đức học sinh và nhận thức về vai trò của vịêc tổ chức phối hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội nhằm giáo dục đạo đức học sinh
- Thăm dò những hình thức, phương pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm giáo dục đạo đức học sinh có hiệu quả
* Nội dung điều tra:
Trang 38Để thực hiện mục tiêu đánh giá thực trạng, đề tài đã tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi (anket) 1256 người ở huyện Mỹ Đức với các thành phần có ảnh hưởng trực tiếp cụ thể:
Bảng 2.1: Đối tượng khảo sát thực trạng
STT ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT TỔNG SỐ NAM NỮ GHI CHÚ
xích mích kèn cựa tuổi học trò dễ bị biến thành những cuộc đánh lộn “nhuốm máu giang hồ” (Nguồn: Báo An ninh thế giới số 749 và 750 ngày 23 và 26 tháng 4 năm 2008)
Gia đình và Nhà trường cùng có vai trò rất lớn trong việc giáo dục nhân
Trang 39trọng nhất che chở cho các em trước những “cơn lũ” cám dỗ của tệ nan xã
Việc đánh giá kết quả giáo dục đạo đức là việc rất khó khăn đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức bởi đạo đức của con người thể hiện trên các phương diện nhận thức, thái độ hành vi Ở đây chúng tôi chỉ khảo sát tình hình đạo đức học sinh thông qua sự đánh giá của cha mẹ học sinh, giáo viên chủ nhiệm lớp và kết quả đạo đức của nhà trường
Đánh giá thông qua kết quả xếp loại đạo đức của nhà trường hàng năm dựa vào các văn bản của Bộ GD-ĐT, các trường THPT trong huyện đã thực hiện đầy đủ, nghiêm túc việc xếp loại đạo đức học sinh trong từng năm học
và kết quả khảo sát thể hiện qua bảng 2.2
Bảng 2.2: Kết quả xếp loại đạo đức của các trường trung học phổ
thông trong huyện từ năm 2004 đến 2007
KẾT QUẢ XẾP LOẠI ĐẠO ĐỨC HỌC SINH
THPT Mỹ Đức A 34.9 55.2 9.1 0.8
1 2004-2005 THPT Mỹ Đức B 34 56.1 9.2 0.7
THPT Mỹ Đức C 31.3 55 13.2 0.5 THPT Hợp Thanh 34 53 12 0.5 THPT Mỹ Đức A 32.9 56.1 10.1 0.9
2 2005-2006 THPT Mỹ Đức B 33.1 56.8 9.4 0.7
Trang 40THPT Mỹ Đức C 31.6 57.4 9.2 0.8 THPT Hợp Thanh 35 54 11.5 0.5 THPT Mỹ Đức A 33.8 57.2 8.1 0.9
3 2006-2007 THPT Mỹ Đức B 33.5 56.5 8.2 0.8
THPT Mỹ Đức C 32.7 59.8 6.7 0.8 THPT Hợp Thanh 34.3 53.6 11.4 0.7
(Nguồn: Phòng Kế hoạch-tài chính - Sở Giáo dục)
Qua bảng 2.2 số liệu thống kê trên ta thấy:
Đa số học sinh THPT Huyện Mỹ Đức - Hà Tây có hạnh kiểm là khá, tốt, tuy nhiên trong cả 3 năm học dều có học sinh xếp loại đạo đức TB và yếu kém, đặc biệt là học sinh có hạnh kiểm xếp loại TB và yếu có chiều hướng gia tăng Sự phân bố các đối tượng học sinh này là không đều mà tập trung vào trường THPT Mỹ Đức A nằm ở trung tâm huyện Tuy nhiên phải thẳng thắn nhận ra rằng dù ở đâu trong hoàn cảnh nào cũng còn học sinh hư, trốn học, không vâng lời cha mẹ, học tập yếu Những học sinh xếp loại đạo đức yếu kém thông thường là những học sinh xếp loại học lực kém
Đánh giá thông qua cha mẹ học sinh, giáo viên chủ nhiệm lớp, kết quả
thăm dò các đối tượng khảo sát được nhận định như sau: Có 81% (207/256)
số ý kiến được hỏi cho rằng “Những biểu hiện tốt nhiều hơn biểu hiện xấu” Đây là những biểu hiện đáng mừng vì ngày nay một bộ phận học sinh giỏi, ngoan được gia đình quan tâm tiếp thu giáo dục của nhà trường đã vượt lên những khó khăn của của đời thường, thể hiện rõ nét phẩm chất của con người Việt Nam: Chịu khó, năng động, sáng tạo, không hài lòng với kết quả, khiêm tốn học hỏi để tự khẳng định mình
Có 27.2% (70/256) nhận định đạo đức học sinh đang đan xen giữa cái tốt và cái xấu Đây là một thực tế ở nhiều trường, những biểu hiện tốt và xấu, yếu tố tích cực và tiêu cực luôn song song tồn tại, những hiện tượng đó có tính phổ biến hơn đôi khi trầm trọng hơn trước
Có 2.5% (6/256) cho rằng mặt xấu nhiều hơn mặt tốt Đây chính là biểu hiện đáng lo ngại của toàn xã hội trước những hành vi đạo đức của học sinh