Ý thức được những tác động nghiêm trọng của BĐKH đến nhiều mặt của cuộc sống, công tác lồng ghép/tích hợp vấn đề BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch CQK phát triển kinh tế-xã hộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: TS Bạch Tân Sinh
Hà Nội – 2015
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn khoa học, Thầy giáo TS Bạch Tân Sinh là người đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý, chỉnh sửa và động viên trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ Khoa Sau đại học - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện và hướng dẫn hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ và người dân xã Cát Khánh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định – những người đã cung cấp thông tin giúp tôi hoàn thiện luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người luôn động viên, khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Trong khuôn khổ một luận văn, do thời gian và điều kiện hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vị vậy tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè
Hà Nội, ngày 05 tháng 6 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 3
Chương 1: TỔNG QUAN 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.2 Khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu 8
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.2.1 Kinh nghiệm quốc tế về lồng ghép các vấn đề biến đổi khí hậu 9
1.2.2 Kinh nghiệm lồng ghép các vấn đề biến đổi khí hậu ở Việt Nam 14
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 19
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên 19
1.3.2 Đặc điểm khí tượng khí hậu 21
1.3.3 Đặc điểm thủy văn 33
1.3.4 Nguồn lợi thủy sản 37
1.3.5 Đặc điểm đất đai và hiện trạng sử dụng đất 40
1.3.6 Kinh tế - Xã hội 41
1.3.7 Khái quát tình hình mưa bão, lũ lụt trên địa bàn tỉnh Bình Định 42
1.3.8 Khái quát đặc điểm của xã Cát Khánh 43
1.3.9 Khái quát quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản tỉnh Bình Định 44
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ NGUỒN SỐ LIỆU 47
2.1 Phương pháp nghiên cứu 47
2.1.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu (Số liệu thứ cấp) 47
2.1.2 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) 48
2.1.3 Phương pháp thống kê 49
Trang 6iv
2.2 Số liệu 49
CHƯƠNG 3 : BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VỚI NGÀNH THỦY SẢN TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH VÀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA XÃ CÁT KHÁNH 50
3.1 Những biểu hiện của BĐKH tại tỉnh Bình Định 50
3.2 Tác động của BĐKH đến ngành thủy sản của tỉnh Bình Định 63
3.2.1 BĐKH tác động đến khai thác thủy sản 63
3.2.2 BĐKH tác động đến nuôi trồng thủy sản 63
3.3 Đánh giá tính dễ bị tổn thương của xã Cát Khánh 65
3.3.1 Sự phơi nhiễm với những rủi ro khí hậu 66
3.3.2 Tính nhạy cảm với những rủi ro khí hậu 66
3.3.3 Năng lực thích ứng với những rủi ro khí hậu 67
3.4 Kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương của xã Cát Khánh 68
CHƯƠNG 4: LỒNG GHÉP NHỮNG VẤN ĐỀ BĐKH VÀO QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH THÔNG QUA VIỆC ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 75
4.1 Khung lồng ghép BĐKH 75
4.1.1 Quan điểm và cách tiếp cận về lồng ghép 75
4.1.2 Nguyên tắc lồng ghép BĐKH vào quy hoạch ngành 79
4.1.3 Nội dung lồng ghép 79
4.1.4 Quy trình lồng ghép 81
4.1.5 Các tiêu chí đánh giá tính khả thi của lồng ghép 91
4.1.6 Các công cụ hỗ trợ lồng ghép 91
4.2 Lồng ghép thí điểm từ trường hợp nghiên cứu xã Cát Khánh 95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 111
Trang 7v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CQK Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
KT-XH
TDBTT
TNMT
Kinh tế - xã hội Tính dễ bị tổn thương Tài nguyên và Môi trường UNDP Chương trình Phát triển của Liên hợp Quốc USAID Cơ quan phát triển quốc tế của Mỹ
Trang 8vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu 9
Hình 1.2 Khu vực nghiên cứu trong phạm vi bản đồ hành chính tỉnh Bình Định 20
Hình 1 3 Sơ đồ các luồng không khí 24
Hình 1 4 Hoa gió Trạm Quy Nhơn từ 1977-2003 27
Hình 1 5 Hoa gió Trạm Hoài Nhơn từ 1977-2003 27
Hình 1.6 Bản đồ phân bố lượng mưa năm tỉnh Bình Định 30
Hình 1.7 Bản đồ phân bố lượng mưa mùa khô tỉnh Bình Định 32
Hình 1.8 Bản đồ phân bố lượng mưa mùa mưa tỉnh Bình Định 33
Hình 1.9 Bản đồ hệ thống sông suối tỉnh Bình Định 35
Hình 3.1 Biến trình nhiều năm và xu thế nhiệt độ không khí trung bình năm tại một số trạm khí tượng 51
Hình 3.2 Xu thế diễn biến chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng I của trạm Quy Nhơn 53 Hình 3.3 Xu thế diễn biến chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng VII của trạm Quy Nhơn 53
Hình 3.4 Xu thế diễn biến chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm của trạm Quy Nhơn 54
Hình 3 5 Xu thế chuẩn sai nhiệt độ tối cao trung bình năm của trạm Quy Nhơn 55
Hình 3 6 Xu thế chuẩn sai nhiệt độ tối thấp trung bình năm của trạm Quy Nhơn 55
Hình 3.7 Số ngày có nhiệt độ Tm < 20o C, Tx > 35oC 57
Hình 3.8 Xu thế biến đổi của lượng mưa mùa khô của trạm Quy Nhơn 59
Hình 3.9 Xu thế biến đổi của lượng mưa mùa mưa của trạm Quy Nhơn 59
Hình 3.10 Xu thế biến đổi của lượng mưa năm của trạm Quy Nhơn 60
Hình 3.11 Biến trình mực nước trung bình năm tại trạm hải văn Quy Nhơn 62
Hình 3.12 Số cơn bão đổ bộ và ảnh hưởng tới tỉnh Bình Định từ năm 1961-2007 62
Hình 4.1: Tiếp cận về lồng ghép BĐKH vào các chính sách, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển ngành thủy sản 78
Hình 4 2: Khung lồng ghép BĐKH vào chương trình, dự án thủy sản 81
Hình 4.3: Quy trình lồng ghép BĐKH vào chiến lược, quy hoach, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 83
Hình 4.4: Quy trình lồng ghép BĐKH vào chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển ngành thủy sản 89
Trang 9vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân bố nhiệt độ theo vĩ độ 22
Bảng 1 2 Nhiệt độ trung bình tháng và năm 23
Bảng 1 3 Tần suất gió theo các tháng Trạm Quy Nhơn 25
Bảng 1 4.Tần suất gió theo các tháng Trạm Hoài Nhơn 25
Bảng 1 5 Tần suất hướng gió thịnh hành 26
Bảng 1.6 Một số đặc trưng mưa năm 28
Bảng 1.7 Lượng mưa năm ứng với các tần suất 29
Bảng 1.8 Phân bố lượng mưa trong các mùa 31
Bảng 1.9 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bình Định qua các năm 40
Bảng 3.1 Biến thiên của nhiệt độ trung bình ( ), nhiệt độ trung bình tháng I ( ), nhiệt độ trung bình tháng VII ( ) trong các giai đoạn 51
Bảng 3.2 Chuẩn sai nhiệt độ trung bình (oC) giai đoạn 1961-2010 so với thời kỳ 1980-1999 tại trạm Quy Nhơn 51
Bảng 3 3 Chuẩn sai nhiệt độ tối cao trung bình năm và tối thấp trung bình năm (oC) giai đoạn 1976 - 2010 so với thời kỳ 1980 - 1999 56
Bảng 3.4 Số ngày có nhiệt độ Tm ≤ 20oC, Tx≥35oC trong giai đoạn 1978 - 2007 57
Bảng 3.5 Mức thay đổi của lượng mưa trong thời kỳ 1961-2010 (%) so với giai đoạn 1980 - 1999 60
Bảng 3.6 Xu thế biến đổi mực nước tại trạm hải văn Quy Nhơn 61
Bảng 3.7 Rủi ro đối với các hoạt động nông nghiệp tại xã Cát Khánh 69
Bảng 3.8 Ma trận tính dễ bị tổn thương tại xã Cát Khánh 71
Bảng 4.1: Tóm tắt những đề xuất và chúng nên được lồng ghép như thế nào trong Quy hoạch tổng thể 100
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dải ven biển Việt Nam chạy dài suốt 15 vĩ độ từ Bắc xuống Nam với hơn 3.260
km bờ biển, có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng về nhiều mặt: phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh quốc phòng Dải ven biển vừa là vùng có nhiều tiềm năng phát triển, nhưng cũng là vùng có nhiều biến động, thách thức và chịu những tác động mạnh nhất của tự nhiên và hoạt động của con người
Theo dự đoán, Dải ven biển cũng là nơi chịu nhiều tác động nặng nề nhất của Biến đổi khí hậu (BĐKH) mà trực tiếp là mực nước dâng, thiên tai, lũ lụt, hứng chịu những hậu quả về môi trường của biển đổ vào và các lưu vực sông đổ ra… Theo tính toán, nếu mực nước biển dâng thêm 1m thì Việt Nam sẽ đối mặt với mức thiệt hại lên tới 17 tỉ USD/năm (10% GDP) 1/5 dân số mất nhà cửa; 12,3% diện tích đất trồng trọt biến mất; 40.000km2 diện tích đồng bằng (39% ĐBSCL và 10% ĐBSH), 17km2 bờ biển ở khu vực các tỉnh lưu vực sông Cửu Long sẽ chịu tác động của lũ ở mức độ không thể dự đoán (World Bank, 2007)
Ý thức được những tác động nghiêm trọng của BĐKH đến nhiều mặt của cuộc sống, công tác lồng ghép/tích hợp vấn đề BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch (CQK) phát triển kinh tế-xã hội, phát triển ngành và địa phương đã được thể chế hóa, cụ thể trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH được Thủ tướng phê duyệt theo Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008
Nghiên cứu lồng ghép BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch hiện nay là một lĩnh vực còn khá mới mẻ, chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề này Tài liệu chủ yếu dừng lại ở các tài liệu hướng dẫn lồng ghép nói chung, chứ chưa có nghiên cứu về những trường hợp cụ thể của các ngành
Trong các ngành dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu phải kể đến ngành thủy sản do mức độ phơi nhiễm cao với những hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ, biến đổi nhiệt độ, v.v
Các tỉnh miền trung Việt Nam nằm ở vị trí dọc theo đường bờ biển cùng với những đặc trưng về khí hậu khắc nghiệt nơi đây khiến cho tính dễ bị tổn thương với BĐKH cao hơn so với những vùng khác trên cả nước
Trang 112
Tại tỉnh Bình Định tính đến nay có hai nghiên cứu về lồng ghép vấn đề BĐKH vào quy hoạch ngành thủy sản với trường hợp nghiên cứu là xã Cát Khánh [46] và lồng ghép vào ngành khoa học – công nghệ của tỉnh Bình Định [1] Học viên kế thừa những kết quả nghiên cứu từ hai tài liệu này nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình
Do đó, trong luận văn này học viên đã lựa chọn đề tài: “Lồng ghép thích ứng
biến đổi khí hậu trong quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản ở tỉnh Bình Định thông qua đánh giá tính dễ bị tổn thương: trường hợp xã Cát Khánh, tỉnh Bình Định”
nhằm góp phần làm sáng tỏ một vài khía cạnh về công tác lồng ghép vấn đề BĐKH vào quy hoạch ngành thủy sản của tỉnh Bình Định
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được tính dễ bị tổn thương của xã Cát Khánh với các biện pháp thích ứng phù hợp (dựa trên số liệu, dữ liệu từ một nghiên cứu khác [46]);
- Tổng quan được lý thuyết về khung lồng ghép các vấn đề BĐKH vào quy hoạch ngành;
- Đề xuất được việc lồng ghép thích ứng với BĐKH vào quy hoạch ngành thủy sản tỉnh Bình Định
Để đạt được mục tiêu đó, những nội dung công việc được thực hiện gồm: 1) Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến lồng ghép vấn đề BĐKH vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nói chung và ngành thủy sản nói riêng 2) Tiến hành đánh giá TDBTT của xã Cát Khánh dựa trên số liệu, dữ liệu từ một nghiên cứu khác [46] với cách tiếp cận dựa trên ba yếu tố mức độ nhạy cảm, sự phơi nhiễm và năng lực thích ứng 3) Mô tả và phân tích khung lồng ghép BĐKH bao gồm các nội dung quan điểm lồng ghép, cách tiếp cận lồng ghép, nội dung lồng ghép và quy trình lồng ghép 4) Kết hợp đánh giá TDBTT và biện pháp thích ứng với BĐKH với khung lồng ghép để tiến hành thử nghiệm lồng ghép vào quy hoạch thủy sản của tỉnh Bình
Định
3 Đối tượng nghiên cứu
- Đánh giá tính dễ bị tổn thương với BĐKH tại một xã
- Lồng ghép thích ứng với BĐKH;
- Quy hoạch thủy sản cấp tỉnh
Trang 123
Theo đó, đối tượng khảo sát của đề tài gồm: Các yếu tố thời tiết, khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan; Các yếu tố về tự nhiên, KT-XH, hệ sinh thái, Các nguồn lực và sinh kế của cộng đồng; Các thể chế chính sách, quy hoạch, quy định có liên quan đến tỉnh Bình Định
4 Phạm vi nghiên cứu
a Phạm vi không gian: đề tài được thực hiện tại xã Cát Khánh, tỉnh Bình Định
b Phạm vi thời gian: số liệu được thực hiện vào năm 2010, một ít số liệu được cập
nhật đến năm 2013; các số liệu hồi cứu trong khoảng 50 năm trở lại đây
c Phạm vi chuyên môn: được giới hạn trong các vấn đề sau:
- BĐKH: được phân tích dựa trên các biểu hiện chính: nhiệt độ trung bình và tính bất
thường của thời tiết tăng; nước biển dâng và gia tăng xâm nhập mặn; các thiên tai/hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan gia tăng về tần xuất, cường độ và độ bất thường Diễn biến BĐKH được phân tích từ quá khứ (50 năm trở lại đây)
- Đánh giá TDBTT: đối với BĐKH của cộng đồng xã Cát Khánh dựa trên ba yếu tố:
tính nhạy cảm, mức độ phơi nhiễm và năng lực thích ứng
- Lồng ghép BĐKH: sử dụng khung lồng ghép tham khảo từ tài liệu [1]
- Quy hoạch thủy sản: của tỉnh Bình Định cho giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến
2030
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
a Câu hỏi nghiên cứu:
Vấn đề thích ứng với BĐKH có thể được lồng ghép vào quy hoạch ngành thủy sản tại tỉnh Bình Định hay không? Bằng cách nào?
b Giả thuyết nghiên cứu:
Đánh giá TDBTT với BĐKH của ngành thủy sản là thử nghiệm ban đầu tạo cơ
sở lý thuyết và thực tiễn để lồng ghép các vấn đề BĐKH vào QH ngành của tỉnh Bình Định
6 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn đã kết hợp cách tiếp cận liên ngành – tiếp cận
dựa vào cộng đồng và cách tiếp cận đánh giá tính dễ bị tổn thương, để thử nghiệm lồng ghép thích ứng với BĐKH vào quy hoạch ngành thủy sản của tỉnh Bình Định
Trang 134
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài cung cấp kinh nghiệm thực tiễn cho việc
xây dựng quy hoạch ngành nói chung, quy hoạch thủy sản nói riêng trong bối cảnh BĐKH hiện nay
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục thành bốn chương như sau:
1 Cở sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu (trình bày, phân tích cơ sở
lý luận của việc lồng ghép BĐKH vào quy hoạch ngành; trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các vấn đề nghiên cứu; trình bày tổng quan khu vực nghiên cứu )
2 Phương pháp, nguồn số liệu
3 Biến đổi khí hậu với ngành thủy sản tại tỉnh Bình Định và tính dễ bị tổn thương của xã Cát Khánh
4 Lồng ghép BĐKH vào quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản của tỉnh Bình Định thông qua đánh giá tính dễ bị tổn thương
Trang 145
Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm
Do chương trình đào tạo và hướng nghiên cứu mang tính liên ngành cao nên để thống nhất trong việc luận giải mối tương quan giữa các lĩnh vực khác nhau rất cần có các khái niệm liên quan sẽ được trình bày dưới đây:
Biến đổi khí hậu
Sự thay đổi của khí hậu [58] trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường
là vài thập kỷ
Theo IPCC, BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể
do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển (IPCC, 2007)
Lồng ghép
Lồng ghép đề cập đến sự tích hợp của các mục tiêu, chiến lược, chính sách, biện pháp hoặc các hoạt động thích ứng theo cách khiến chúng trở thành một phần của các chính sách phát triển quốc gia và vùng miền, các quy trình và ngân sách ở tất cả các cấp và giai đoạn (UNDP, 2005)
Định nghĩa về “tích hợp các vấn đề BĐKH” được rút ra từ định nghĩa về “tích hợp khí hậu” (climate integration) của Underdal (1980) và định nghĩa về “tích hợp chính sách môi trường” (environmental policy integration) của Laffy và Hovden (2003) bằng cách thay từ “môi trường” bằng từ “khí hậu” Theo cách này, “tích hợp chính sách BĐKH” (climate policy integration) hay lồng ghép (mainstreaming) được định nghĩa là:
Đưa các mục tiêu thích ứng và giảm nhẹ BĐKH vào tất cả các bước của quá trình hoạch định chính sách của tất cả các ngành;
Trang 156
Tổng hợp các tác động đến các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ BĐKH trong khi tiến hành đánh giá tổng quan chính sách va giảm thiểu mâu thuẫn giữa các chính sách BĐKH và các chính sách khác
Như vậy lồng ghép BĐKH vào Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội là một phương pháp tiếp cận nhằm đạt được các biện pháp ứng phó với BĐKH thông qua sự lồng ghép các chính sách và biện pháp này trong các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội các cấp nhằm đảm bảo ổn định trong các hoạt động đầu tư và giảm tính dễ bị tổn thương của các lĩnh vực kinh tế-xã hội do tác động của BĐKH Lồng ghép vấn đề BĐKH do đó có thể đảm bảo rằng các chương trình phát triển chính sách không làm tăng rủi ro trước những thay đổi về khí hậu ở hiện tại và tương lai Lồng ghép các chính sách BĐKH bao gồm theo chiều ngang và theo chiều dọc thông qua một loạt các cấp quản lý
Lồng ghép chính sách theo chiều ngang: Là đưa mục tiêu BĐKH vào các chính sách công của chính phủ [47], [55] Các chiến lược ứng phó với BĐKH, việc chuẩn bị
và phê duyệt các quy định mới và ngân sách nhà nước hàng năm có liên quan đến BĐKH đều được coi là lồng ghép chính sách theo chiều ngang
Lồng ghép chính sách theo chiều dọc: Là đưa nội dung BĐKH vào chính sách ngành, ví dụ như thủy sản Hoạt động lồng ghép có thể xảy ra trong quá trình ra quyết định và xây dựng các chiến lược phát triển cho ngành ở cấp Bộ và trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch hành động ở các cấp dưới Bộ [47], [55] Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách ở các cấp dưới có khả năng bị xa rời mục tiêu chính sách ban đầu đưa ra tại cấp Bộ [59]
Tính dễ bị tổn thương
Khái niệm tính dễ bị tổn thương được hiểu theo nhiều cách khác nhau do đó cũng được ứng dụng theo các hướng khác nhau Trong BĐKH, IPCC đã nhiều năm nghiên cứu và phát triển nhằm có được định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đối với BĐKH và NBD một cách chính xác nhất Khái niệm được ứng dụng rộng rãi hiện nay là khái niệm do IPCC 2007 xây dựng: “Tình trạng dễ bị tổn thương là mức độ mà một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của BĐKH, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu Tình trạng dễ bị tổn thương là hàm số của tính chất, cường độ và mức độ phơi lộ (hứng chịu) của các
Trang 16Tính dễ bị tổn thương là sự kết hợp của sự phơi nhiễm với những rủi ro khí hậu, tính nhạy cảm với những rủi ro đó và năng lực thích ứng Áp dụng trong một ví dụ cụ thể, sự phơi nhiễm có thể có nghĩa là sống trong vùng lũ, chẳng hạn gần một con sông, trong khi sự nhạy cảm có nghĩa rằng ngôi nhà của bạn được làm bằng những vật liệu mỏng manh và nằm trực tiếp trên mặt đất, vì vậy lũ có thể dễ dàng phá hủy nó; và năng lực thích ứng nghĩa là có thể tránh được những nguy hại đó bằng cách chuyển đi hoặc xây nhà sàn kiên cố1 [50]
Ứng phó với biến đổi khí hậu
Là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH Như vậy, ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH (Bộ TN&MT, 2008)
Với nhận thức rằng BĐKH là một quá trình không thể đảo ngược được, chúng ta cần có những nỗ lực để ổn định khí nhà kính (KNK) trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa sự can thiệp tiêu cực của con người đối với hệ thống khí hậu (giảm nhẹ BĐKH) và giảm nhẹ các thiệt hại do BĐKH gây ra (thích ứng với BĐKH)
Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc KT-XH đối với
hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (Bộ TN&MT, 2008)
Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải
KNK (Bộ TN&MT, 2008)
Quy hoạch phát triển ngành
Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực là luận chứng, lựa chọn phương án phát triển và phân bố ngành, lĩnh vực hợp lý trong thời kỳ dài hạn trên phạm vi cả nước và trên các vùng, lãnh thổ [19]
1 Theo định nghĩa của IPCC, 2007 và bởi Kelly và Adger (2000)
Trang 178
Nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thuỷ sản là sự tác động của con người vào ít nhất một giai đoạn trong chu trình sinh trưởng, phát triển của đối tượng nuôi trồng nhằm tăng tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng để đạt hiệu quả kinh tế cao
Là quá trình nuôi trồng các loài thủy sinh ở trong đất liền và vùng ven bờ, bao gồm cả sự can thiệp vào quá trình ương nuôi để tăng sản lượng và các tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động nuôi trồng thủy sản
Theo định nghĩa của FAO thì nuôi trồng thuỷ hải sản là các hoạt động canh tác trên đối tượng sinh vật thuỷ sinh như nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thuỷ sinh Quá trình này bắt đầu từ thả giống, chăm sóc nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong
1.1.2 Khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu
Luận văn xác định các vấn đề nghiên cứu chính là: đánh giá tính dễ bị tổn thương
do BĐKH của địa bàn nghiên cứu và thực trạng năng lực ứng phó của địa phương, từ
đó xác đinh các giải pháp ứng phó cho cộng đồng; tổng quan lại khung lồng ghép thích ứng với BĐKH gồm có các nội dung về quan điểm, cách tiếp cận, nội dung và quy trình lồng ghép Từ việc đánh giá TDBTT kết hợp với khung lồng ghép này để tiến hành lồng ghép các vấn đề BĐKH vào quy hoạch ngành thủy sản của tỉnh Bình Định Toàn bộ ý tưởng, cách tiếp cận và quy trình thực hiện nghiên cứu cho luận văn được
mô tả bằng sơ đồ dưới đây
Trang 189
Hình 1.1.Khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu 1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2.1 Kinh nghiệm quốc tế về lồng ghép các vấn đề biến đổi khí hậu
Ở thế kỷ 21, BĐKH đã thực sự trở thành vấn đề toàn cầu và là mối quan tâm của tất cả các quốc gia Vào năm 1896, lần đầu tiên, vấn đề BĐKH đã được Arrhenius, nhà khoa học người Thụy Điển đề cập đến Cuối thập niên 1980, tổ chức IPCC - Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH ra đời cùng với Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đồng thành lập (năm 1988) nhằm đánh giá "các thông tin khoa học, kỹ thuật
và KT-XH cho phép tìm hiểu các nguy cơ của BĐKH do con người gây ra” (IPCC, 2007) Kể từ đó đến nay, nhiều tổ chức quốc tế và các nhà khoa học đã tập trung vào đánh giá tác động của BĐKH tại các khu vực, vùng lãnh thổ và đặc biệt là tại các quốc gia được dự báo là sẽ hứng chịu nhiều rủi ro nhất do BĐKH trong đó có Việt Nam Tất cả các nghiên cứu và triển khai về BĐKH trong thời gian qua đã được phân tích và tổng kết trong 5 báo cáo của IPCC (Báo cáo lần 1, 1990; Báo cáo lần 2, 1999; Báo cáo lần 3, 2001; Báo cáo lần 4, 2007; và, báo cáo lần 5, 2014) Trong đó, báo cáo lần thứ 4 (2007) đã được nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình cùng với Al Gore Trong Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC (2007), các nhà khoa học đã kết luận những biến đổi trong khí quyển, đại dương và các sông băng, núi băng chứng tỏ thế giới đang nóng lên và các hoạt động của con người là nguyên nhân chủ yếu Theo báo cáo này,
Trang 1910
việc tăng đáng kể nồng độ các khí nhà kính CO2, CH4 và N2O kể từ năm 1750 đến nay chính là hậu quả từ các hoạt động của con người Nhiệt độ bề mặt trung bình của Trái Đất đã tăng khoảng 0,74oC trong 100 năm qua (1906 - 2005) Con số này cao hơn
so với báo cáo năm 2001 với mức 0,6oC do những năm gần đây liên tục có những đợt nóng cực điểm Cho đến năm 2014, IPCC đã tổng hợp hàng loạt các nghiên cứu từ nguyên nhân đến hệ quả (sự tăng nhiệt độ bề mặt trái đất, sự tăng lên của mực nước biển, cùng với những biến đổi về thời tiết, thủy văn, hải dương ), từ tác động của nó đối với tự nhiên, môi trường, các đối tượng KT-XH đến việc xây dựng giải pháp thích ứng và chiến lược ứng phó toàn cầu Các báo cáo của IPCC là cơ sở cho các hội nghị toàn cầu về BĐKH như Hội nghị Thượng đỉnh của LHQ về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro,1992; Hội nghị các bên nước tham gia UNFCCC (từ COP 1 đến COP 20) Qua các báo cáo của IPCC, từ cuối thế kỷ XIX đến nay có thể nhận thấy được xu thế chung là nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể Nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX đã tăng lên 0,6oC (+/- 0,2oC); trên đất liền, nhiệt
độ tăng nhiều hơn trên biển; thập kỷ 90 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2007) [36] Tháng 9 năm 2013, IPCC đã công bố tóm tắt Báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5-WG1) về hiện trạng BĐKH toàn cầu theo góc nhìn vật lý cơ bản, do Nhóm công tác số 1 thuộc IPCC soạn thảo (Kỷ Quang Vinh, 2013) Theo tài liệu này, trong ba thập kỷ vừa qua, cứ sau mỗi thập kỷ bề mặt trái đất đã liên tục nóng lên hơn bất kỳ thập kỷ nào trước đó kể từ năm 1850 Ở Bắc bán cầu, giai đoạn từ 1983 đến
2012 dường như là khoảng thời gian 30 năm ấm nhất trong 1.400 năm qua
Năm 2011, IPCC đã chấp nhận và thông qua bản Báo cáo đặc biệt về Quản lý rủi
ro thiên tai và hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với BĐKH (SREX)[51] Trong báo cáo này, đặc biệt nội dung của chương 2 có đề cập đến những yếu tố quyết định rủi ro bao gồm mức phơi nhiễm và tính dễ bị tổn thương Tài liệu này khẳng định mức độ nghiêm trọng của những tác động của các hiện tượng khí hậu, thời tiết cực đoan và phi cực đoan phụ thuộc mạnh mẽ vào mức tổn thương và sự phơi nhiễm với những hiện tượng này Tính dễ bị tổn thương và mức phơi nhiễm mang tính năng động
và thay đổi theo quy mô không gian và thời gian và phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế,
xã hội, nhân khẩu học, văn hóa, thể chế, quản trị và môi trường
BĐKH không chỉ đơn thuần tác động tới tự nhiên mà còn là thách thức về kinh
tế, xã hội của nhân loại Xét về những tổn thất kinh tế, chi phí tiền bạc cho việc khôi
Trang 2011
phục thiệt hại sau những thiên tai do BĐKH đã làm thâm hụt vào ngân sách các quốc gia Theo Báo cáo Stern (của chuyên gia kinh tế Nicolas Stern và cộng sự) thì, trong vòng 10 năm tới, “chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỉ USD; nếu chúng ta không làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5 - 20% tổng sản phẩm nội địa (GDP), còn nếu chúng ta có những ứng phó tích cực để ổn định KNK ở mức 550 ppm tới năm 2030 thì chi phí chỉ còn khoảng 1% GDP” (Nicholas Stern, 2007) [92] Được biết, tổng GDP toàn thế giới năm 2013 là 8,5 ngàn tỷ đô la (Ngân hàng thế giới, 2013) Như vậy, mỗi năm các công dân Trái đất phải chịu tổn thất kinh tế hàng tỷ đô cho việc khắc phục thiệt hại do BĐKH
Tại hội nghị lớn nhất trong lịch sử về BĐKH do Liên Hợp Quốc tổ chức tại New York (Mỹ) vào ngày 23/9/2014, các chuyên gia chỉ ra rằng, cần hành động nhanh chóng để tránh các thảm họa trong tương lai như: những đợt nắng nóng, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng Ủy ban Toàn cầu về Kinh tế và Khí hậu cũng cho biết, trong vòng 15 năm tới, thế giới cần đầu tư 90.000 tỷ USD, trong đó tập trung vào 3 lĩnh vực chủ chốt là năng lượng xanh, xây dựng thành phố ít cacbon và sử dụng đất đai hợp lí Điều đáng mừng, các quốc gia đang dần tìm được tiếng nói chung trong các nỗ lực cùng hành động ứng phó với BĐKH Vừa qua, Hội nghị lần thứ 20 các Bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (COP20) và Hội nghị lần thứ 10 các Bên tham gia Nghị định thư Kyoto (CMP10) vào tháng 12 năm 2014 tại Lima (Peru)
đã diễn ra trong bối cảnh thuận lợi: Quỹ Khí hậu xanh đã nhận được cam kết đóng góp khoảng 9,7 tỷ USD cho ứng phó BĐKH, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã ra Tuyên bố chung về ứng phó với BĐKH giai đoạn sau 2020, EU nêu cam kết cắt giảm phát thải khí nhà kính giai đoạn 2020-2030 và, các nước ASEAN vừa ký tuyên bố chung ASEAN-Hoa Kỳ về BĐKH (Báo điện tử của Chính phủ Việt Nam, 2014)
Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) nhận định, BĐKH được xem như là một trong những thách thức lớn nhất đối với "an ninh môi trường - phát triển toàn cầu" Đến năm 2025, khoảng 5 tỉ người có thể sẽ sống trong những khu vực có nguy cơ căng thẳng, xung đột liên quan đến nước và lương thực Đến năm 2050, khoảng 150 triệu người có thể phải rời khỏi những khu vực duyên hải do NBD, bão lụt hoặc nước ngọt bị nhiễm mặn Chất lượng sống kém, dân cư quá đông đúc và tình trạng thiếu nước, mất vệ sinh, kém hiệu quả trong quản lý và xử lý rác thải là nguyên nhân gây ra tỉ lệ mắc bệnh ngày một cao
Trang 2112
Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ (USAID) đã xuất bản quyển sách về hướng dẫn thích ứng tại vùng ven biển, một quyển sách dành cho các nhà lập kế hoạch phát triển [43] Tài liệu này hướng dẫn xây dựng các hành động thích ứng tại vùng ven biển, là tài liệu đi kèm với quyển sổ tay V&A của USAID Cuốn sách đã cung cấp cho người sử dụng những hướng dẫn cụ thể và chi tiết cho các ngành nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu tại khu vực ven biển Cuốn sách đưa ra 17 mô tả ngắn gọn về các biện pháp và chiến lược thích ứng tại vùng ven biển
5) Đánh giá, giám sát quản lý thích ứng
Ở quy mô địa phương và khu vực, hầu hết các công trình nghiên cứu tập trung phân tích xu thế biến đổi của các yếu tố đặc trưng và hiện tượng khí hậu trong phạm vi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong mối quan hệ với BĐKH toàn cầu Nguồn số liệu được sử dụng rất đa dạng, chẳng hạn số liệu quan trắc hàng ngày hoặc từng 6 giờ một được phân tích về lưới điều hòa kinh - vĩ, hoặc số liệu quan trắc trên mạng lưới trạm khí tượng Nói chung, khi nghiên cứu BĐKH, ngoài các nguồn số liệu địa phương được khai thác từ mạng lưới trạm quan trắc, các tập số liệu phân tích và tái phân tích
về nhiệt độ mặt nước biển và các trường khí quyển thường được sử dụng
Trong phạm vi các nước Đông Nam Á, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu được đăng tải Phan Văn Tân và cs (2010) đã nghiên cứu xu thế giáng thủy ngày cực đại từ năm 1961 đến năm 1998 cho khu vực Đông Nam Á và nam Thái Bình Dương Kết quả cho thấy số ngày mưa (ngày có lượng mưa từ 2mm trở lên) nhìn chung giảm đáng kể ở khu vực Đông Nam Á Các nhân tố khí hậu và tác động của BĐKH tới cơ sở
hạ tầng được nghiên cứu chi tiết trong công trình của Hayes (2008), trong đó cho thấy nhiều minh chứng rõ rệt hơn về sự thay đổi của các yếu tố khí hậu, ví dụ bức xạ mặt trời tăng, sóng nhiệt tăng, mưa giảm, số ngày mưa cực đại tăng, tần số và cường độ bão tăng, tốc độ gió cực đại tăng, hoạt động bão điện trường tăng, nước biển dâng cao thêm, độ ẩm thay đổi Các đối tượng hạ tầng cũng được xét đến khá đa dạng, bao
Trang 2213
gồm hạ tầng về điện, nước, nước thải, dầu khí, mạng điên thoại, đường bộ, đường sắt, cầu, hầm, bến cảng, công trình kiến trúc-xây dựng, tiện nghi đô thị (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, 2011)
Nghiên cứu về lồng ghép các vấn đề BĐKH
Vấn đề “lồng ghép các vấn đề BĐKH” được đề cập lần đầu tiên tại Hội nghị quốc tế về Phát triển bền vững (WSSD) năm 2002 [42], [49] Ý tưởng “lồng ghép” xuất phát từ quan điểm rằng khi các biện pháp ứng phó được thực hiện và mức sống được cải thiện thì sẽ làm giảm tính dễ bị tổn thương của con người trước các tác động của BĐKH
Các chính sách BĐKH truyền thống thường gắn các giải pháp giảm nhẹ BĐKH với lĩnh vực năng lượng do lĩnh vực này phát thải ra nhiều KNK Các biện pháp thích ứng truyền thống thường dựa vào công trình như hệ thống đập, hệ thống cảnh báo và
hệ thống tưới tiêu [49], [53]
Chỉ các chính sách truyền thống đơn thuần như trên thì sẽ không thể giải quyết được vấn đề BĐKH, vì vậy cần thực hiện các biện pháp giảm nhẹ và thích ứng như là một phần của chính sách phát triển và điều này đã được đề xuất cho giai đoạn sau
2012 [42]
Hài hòa giữa phát triển và ứng phó với BĐKH đã nhận nhiều ủng hộ từ Công ước Khung về BĐKH của Liên Hiệp Quốc (UNFCCC), cụ thể là Điều 4.1 của Công ước yêu cầu các Bên đưa vấn đề BĐKH vào quy hoạch phát triển quốc gia và ngành [49], [53] Lồng ghép các vấn đề BĐKH được coi là yếu tố quan trọng để thiết kế một chính sách hiệu quả nhằm đạt được cả lợi ích kinh tế và ứng phó với BĐKH [56], [42]
Tổ chức OECD đã có Hướng dẫn chính sách về Tích hợp thích ứng BĐKH trong hợp tác phát triển vào năm 2009 [56] Hướng dẫn này nhằm giúp cho việc tích hợp thích ứng BĐKH vào quy hoạch phát triển, khung chính sách ngành, chiến lược giảm nghèo, kế hoạch đầu tư dài hạn và đánh giá tác động môi trường chiến, ở cả ba cấp độ quốc gia, ngành và dự án
Tổ chức Nông Lâm Thế giới (FAO) đã có bài báo cáo về ngành thủy sản số 1047 [48] với chủ đề Đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH trong ngành thủy sản: các phương pháp sẵn có và mối liên hệ với ngành Báo cáo này tập trung vào các phương pháp được sử dụng trong việc đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH trong ngành thủy sản, chứ không nghiên cứu về toàn bộ quá trình lồng ghép
Trang 2314
1.2.2 Kinh nghiệm lồng ghép các vấn đề biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam đã được tiến hành từ những thập niên 90 của thế kỷ 20 Tháng 6 năm 1992, để chuẩn bị tham gia Hội nghị Môi trường và Phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc tại Rio de Janeiro, Brazin, 1992, các nhà khoa học Việt Nam đã thực hiện và công bố báo cáo “BĐKH và tác động của chúng ở Việt Nam” Năm 1994, các nhà khoa học như Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu… đã tham gia thực hiện dự án “BĐKH ở châu Á” do ADB tài trợ; Bộ Thủy lợi chủ trì đã hoàn thành báo cáo về: 1) BĐKH ở Việt Nam trong 100 năm qua; 2) Tác động của BĐKH đến NBD và một số ngành kinh tế quốc dân; 3) Kiểm kê quốc gia KNK năm 1990 ở Việt Nam
Từ năm 1998 đến năm 2003, Tổng Cục Khí tượng Thủy văn, nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thành Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho UNFCCC, trong đó tổng kết BĐKH của Việt Nam trong 100 năm gần đây, kiểm kê quốc gia KNK 1993 và ước tính KNK các năm 2020, 2050, đánh giá tác động của nó đến các lĩnh vực KT-XH, xây dựng kịch bản BĐKH, kiến nghị các giải pháp giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH ở Việt Nam (Bộ TN&MT, 2003, 2008)
Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2011 –
2015 “Khoa học và công nghệ phục vụ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH” được ban hành theo quyết định số 2630/QĐ-BKHCN ngày 29 tháng 08 năm 2011[26] Chương trình có 3 mục tiêu và 5 nội dung chính: i) Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng cơ sở dữ liệu về BĐKH và tác động của BĐKH đối với một số ngành , lĩnh vực dễ bị tổn thương; ii) Nghiên cứu bản chất khoa học của BĐKH; đánh giá thực trạng và mức độ của BĐKHở Việt Nam; iii) Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc đánh giá tác động của BĐKH, tính dễ tổn thương do BĐKHvà các giải pháp thích ứng với BĐKH; iv) Nghiên cứu cơ chế chính sách, định hướng công nghệ để giảm nhẹ BĐKH (cụ thể là làm giảm nhẹ phát thải khí nhà kính), tận dụng các cơ hội để phát triển hướng tới nền kinh tế các-bon phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam, và; v) Nghiên cứu cơ sở khoa học để tích hợp vấn đề BĐKHvào các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành và địa phương
Kể từ khi ký kết UNFCCC năm 1994 và KP năm 2002, Chính phủ Việt Nam đã
có rất nhiều nỗ lực, thông qua công tác xây dựng chính sách và luật pháp và đã có một
số sáng kiến thích ứng và giảm nhẹ để ứng phó với những mối đe dọa từ BĐKH Một
Trang 2415
đánh giá quan trọng về môi trường chính sách hiện hành liên quan đến thích ứng với BĐKH bao gồm: Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH (NTP-RCC) (2008), Định hướng Chiến lược Phát triển Bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị
sự 21) (2008); Thông báo Quốc Gia lần thứ nhất cho UNFCCC (2003) đưa ra đánh giá tính dễ bị tổn thương và thích ứng đối với những tác động của BĐKH dựa trên những
mô hình đang sử dụng tại thời điểm đó và đưa ra những phương án giảm nhẹ KNK Thông báo quốc gia thứ hai cho UNFCCC được hoàn thành năm 2010, bao gồm các phát hiện của các đánh giá sâu hơn về tính dễ bị tổn thương và thích ứng cũng như đưa
ra một khung chính sách thực hiện những ứng phó mang tính chiến lược (Bộ TN &
MT, 2010); Chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh trong đó chú trọng các giải pháp kinh tế nhằm giảm phát thải KNK và nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH (QĐ của TTCP, 2014) [21]
Về đánh giá tính dễ bị tổn thương, theo xu hướng của thế giới, từ đầu những năm
2000, ở Việt Nam, cũng đã có những nhà nghiên cứu, ứng dụng các lý thuyết và phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với các ngành khoa học khác nhau
Mai Trọng Nhuận và cs (2004, 2009) đã nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương về
môi trường, vùng ven biển Việt Nam, đới duyên hải Nam Trung Bộ, đới ven biển Phan Thiết–Hồ Tràm, tài nguyên địa chất tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Cũng theo hướng nghiên
cứu này, Thái Thành Lượm và cs (2008) đã đánh giá mức độ tổn thương hệ thống tự
nhiên KT-XH vùng biển Hà Tiên – vịnh Cây Dương (Kiên Giang) Võ Hồng Tú và cs
(2012) đã đánh giá tổn thương sinh kế nông hộ bị ảnh hưởng lũ tại tỉnh An Giang và
các giải pháp ứng phó Kết quả của nghiên cứu này đã cho thấy được vốn sinh kế của
người dân là dễ bị tổn thương cao khi có lũ, thiên về hướng rủi ro kinh tế (Võ Hồng Tú
và cs., 2012)
Vào tháng 2/2015, Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về Quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với Biến đổi khí hậu[13] (SREX Việt Nam) đã được xuất bản Báo cáo đã phân tích và đánh giá các hiện tượng cực đoan, tác động của chúng đến môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội và phát triển bền vững của Việt Nam, sự biến đổi của các hiện tượng khí hậu cực đoan trong tương lai
do BĐKH; sự tương tác giữa các yếu tố khí hậu, môi trường và con người nhằm mục tiêu thúc đẩy thích ứng với BĐKH và quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan ở Việt Nam
Trang 2516
Công tác lồng ghép nội dung BĐKH vào các Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch (CQK) phát triển hiện nay mới đang ở giai đoạn đầu của quá trình thực hiện Thuật ngữ „biến đổi khí hậu‟ chưa được nhắc đến trong Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 [5], Chiến lược Quốc gia về Bảo vệ Môi trường cho đến 2010 và tầm nhìn đến 2030 [6] và Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (2003) [7]
Thuật ngữ này mới chỉ xuất hiện một lần trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006-2010 [14] Tương tự, mặc dù Chương trình Nghị sự về Phát triển bền vững của Việt Nam (Agenda 21) [9] coi BĐKH là một trong chín ưu tiên của phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên và môi trường, chủ đề BĐKH được trình bày vô cùng sơ lược và chủ yếu tập trung vào khía cạnh thích ứng với BĐKH
Cam kết chính trị về lồng ghép nội dung BĐKH vào chính sách phát triển lần đầu tiên được thể hiện rõ ràng trong Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Ứng phó với BĐKH (2008) [3] Chương trình này đã đánh dấu mốc trong việc xây dựng các kế hoạch phát triển của Việt Nam vì tất cả các chính sách và chiến lược mới đều được yêu cầu phải lồng ghép nội dung BĐKH Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) về ứng phó BĐKH đã đưa ra các quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu thực hiện và hoạt động về lồng ghép yếu tố BĐKH trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch (CQK) phát triển kinh tế - xã hội và lồng ghép yếu tố BĐKH trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và địa phương ở Việt Nam Tuy nhiên, thực tiễn ở Việt Nam cho thấy lồng ghép yếu tố BĐKH trong các CQK phát triển ngành, lĩnh vực
và địa phương mới được thử nghiệm ở một vài ngành Trong quá trình xây dựng, hầu hết CQK phát triển chưa lồng ghép được việc đánh giá các tác động của BĐKH đối với việc thực hiện CQK cũng như tác động gây BĐKH của CQK Do vậy, việc điều chỉnh CQK để đảm bảo khả năng thích ứng và giảm thiểu BĐKH cũng chưa được tính đến Một trong những nguyên nhân chính của vấn đề này là do chưa có các phương pháp phù hợp và quy trình đề lồng ghép yếu tố BĐKH trong quá trình xây dựng các CQK ở Việt Nam
Những lĩnh vực chính của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi và hạ tầng nông thôn có liên quan đều là các đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu Nhiệm vụ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, quản lý đê điều và phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai
Trang 2617
là những nhiệm vụ quan trọng đối với ổn định xã hội và phát triển bền vững Nhận thức được tầm quan trọng đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thành lập Ban chỉ đạo Chương trình hành động thích ứng với biến đổi khí hậu, ban hành Khung chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành (Quyết định 2730/QĐ-BNN-KHCN ngày 5/9/2008) [24] và Kế hoạc hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn 2050 (Quyết định 543/QĐ-BNN-KHCN ngày 23/03/2011) [25] Để đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động thích ứng và giảm thiểu với biến đổi khí hậu, ngày 28/3/2011 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Chỉ thị số 809/CT-BNN-KHCN về việc Lồng ghép biến đổi khí hậu vào xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án phát triển ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, giai đoạn 2011-2015 [4]
Viện Quy hoạch đô thị nông thôn quốc gia, Bộ xây dựng đã xây dựng dự thảo Hướng dẫn lồng ghép ứng phó tác động BĐKH trong Quy hoạch đô thị ở Việt Nam trong khuôn khổ dự án nghiên cứu Lồng ghép BĐKH vào Quy hoạch đô thị do Quỹ Rockefeller tài trợ (NIURP 2013) [18]
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Quyết định số 1485 về việc Ban hành khung hướng dẫn lựa chọn ưu tiên thích ứng với BĐKH trong lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, vào ngày 17/10/2013 [23] Trong khung hướng dẫn này cũng có phần lồng ghép
ưu tiên đầu tư thích ứng với BĐKH trong quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã xuất bản cuốn sách „Tích hợp vấn đề Biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội‟ vào năm 2012 [33] Cuốn sách này có nghiên cứu khá kỹ về nhiều vấn đề liên quan đến công tác tích hợp BĐKH, trong đó có nguyên tắc và quy trình tích hợp các vấn đề biến đổi khí hậu vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Quy trình này được chia theo cấp quốc gia, theo ngành và theo tỉnh, thành phố Tài liệu này cung cấp một bức tranh khá đầy đủ và tổng quát mang tính lý thuyết về công tác lồng ghép BĐKH vào CQK ở Việt Nam Tuy nhiên để áp dụng chẳng hạn như lồng ghép vào một quy hoạch ngành của một tỉnh thì sẽ gặp nhiều khó khăn do cuốn sách chỉ cung cấp được khung lý thuyết cơ bản
Trang 2718
Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và Môi trường đã ban hành Tài liệu hướng dẫn Lồng ghép BĐKH vào Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch và Chương trình phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường vào năm 2014 [40] Tài liệu này cung cấp hướng dẫn kỹ thuật lồng ghép vấn đề biến đổi khí hậu vào trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình của ngành tài nguyên và môi trường (TNMT) cho các cán bộ hoạch định chính sách và lập kế hoạch Tài liệu hướng dẫn lồng ghép BĐKH vào CQK ngành TNMT này đã cố gắng cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách
và lập kế hoạch của ngành TNMT ở cấp Trung ương và địa phương một hướng dẫn kỹ thuật thực hiện lồng ghép BĐKH vào các CQK của ngành Tài liệu đã trình bày những kiến thức tổng quan về BĐKH và mối liên hệ giữa BĐKH với ngành TNMT ở nước ta,
cơ sở lý luận về lồng ghép BĐKH và quan trọng nhất là đã đề ra một quy trình cho việc lồng ghép BĐKH vào các CQK Về quy trình, Tài liệu hướng dẫn đã đề xuất 13 hoạt động cụ thể, sắp xếp theo thứ tự thành 5 bước, bao gồm: (1) Chuẩn bị cho việc lồng ghép; (2) Xác định mối liên hệ giữa BĐKH và CQK; (3) Lựa chọn các biện pháp ứng phó với BĐKH; (4) Lồng ghép các giải pháp ứng phó với BĐKH đã được lựa chọn; (5) Giám sát, đánh giá việc thực hiện các giải pháp ứng phó với BĐKH trong CQK Đây là một tài liệu có giá trị tham khảo tốt Tuy nhiên chỉ là những kiến thức tổng quan về việc lồng ghép cho ngành TNMT, chứ không có những trường hợp nghiên cứu cụ thể
Ngoài ra có một số sổ tay hướng dẫn lồng ghép như Sổ tay Hướng dẫn lồng ghép thích ứng với BĐKH, vấn đề sử dụng đất, giới và phát triển cộng đồng trong lập
kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội cấp xã [27] Sổ tay này giới thiệu các hoạt động, công cụ tiến hành, nội dung cần tìm hiểu nhằm lồng ghép các vấn đề thích ứng với BĐKH vào từng bước lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm cấp xã Tài liệu này giới thiệu được một số công cụ lồng ghép như đánh giá rủi ro liên quan đến BĐKH, ma trận xác định vấn đề, nguyên nhân, giải pháp và đề xuất hoạt động, tiêu chí
rà soát hoạt động đề xuất
Tiếp đến là Sổ tay Hướng dẫn lồng ghép Giảm nhẹ rủi ro thiên tai vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh, các ngành tại tỉnh An Giang [28] và tại tỉnh Đồng Tháp [29] Hai tài liệu này giới thiệu về quy trình, nội dung, phương pháp lồng ghép
và giám sát đánh giá hiệu quả lồng ghép Về quy trình, tài liệu có nêu rõ quy trình lập
kế hoạch phát triển các ngành giai đoạn 2011-2015, bao gồm ngành nông nghiệp và
Trang 28Có thể nói đây là một nghiên cứu khá công phu và có giá trị tham khảo hữu ích đối với vấn đề lồng ghép vào quy hoạch ngành Học viên đã sử dụng số liệu và một số kết quả nghiên cứu trường hợp xã Cát Khánh từ tài liệu này
Trên đây là một số nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề lồng ghép BĐKH Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu là những hướng dẫn, sổ tay lồng ghép các yếu tố BĐKH vào CQK kinh tế - xã hội và các ngành thiên về lý thuyết chung Có rất ít nghiên cứu về những trường hợp cụ thể cho vấn đề lồng ghép thích ứng BĐKH vào quy hoạch ngành
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Bình Định là một tỉnh ven biển thuộc Nam trung bộ Việt Nam với đường bờ biển dài 134 km Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc – Nam với diện tích tự nhiên 6.025 km² và diện tích vùng lãnh hải 36.000 km² Phía Bắc giáp tỉnh Quảng
Ngãi, điểm cực Bắc có tọa độ: 14°42’10 Bắc, 108°55’4 Đông Phía Nam giáp tỉnh Phú
Yên, điểm cực Nam có tọa độ: 13°39’10 Bắc, 108°54’00 Đông Phía Tây giáp
Trang 2920
Hình 1.2 Khu vực nghiên cứu trong phạm vi bản đồ hành chính tỉnh Bình Định
Nguồn: [41]
tỉnh Gia Lai, điểm cực Tây có tọa độ: 14°27’ Bắc, 108°27’ Đông Phía Đông giáp biển
Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc
thành phố Qui Nhơn, có tọa độ: 13°36‟33 Bắc, 109°21’ Đông Bình Định được đánh
giá là có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào, đông bắc Campuchia
1.3.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
- Địa hình của tỉnh thấp dần từ Tây sang Đông của dãy Trường Sơn, độ cao trung bình 500 – 700m, kế tiếp là vùng trung du Địa hình phổ biến là đồi thấp xen kẽ thung lũng hẹp có độ cao dưới 100 mét, hướng vuông góc với dãy Trường Sơn Vùng thấp là
Trang 30- Địa hình đồi gò, bát úp ở trung du: Vùng này có diện tích 159.276ha, phân bố ở các huyện Hoài Nhơn (15.089ha), An Lão (5.058ha) và Vân Canh (7.924ha) Đồi gò ở đây có độ dốc 10 – 150, cấu tạo chủ yếu bởi đá granít
- Địa hình đồng bằng ven biển: Phân bố kéo dài theo hướng song song với bờ biển tạo nên vòng cung ôm lấy vùng trung du và núi phía tây của tỉnh Kiểu địa hình này phổ biến ở huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước, vùng này có diện tích 198.453ha, chiếm 32% đất toàn tỉnh Sát ven biển là khu vực cồn cát, lác đác gặp các hòn núi đảo sườn dốc nằm ngang trên bờ biển, tiếp sau khu vực cồn cát có nhiều đầm, vịnh, cửa biển Những đầm phá lớn như đầm Trà Ổ, đầm Đề Gi, đầm Thị Nại Các đầm phá được ngăn cách với biển bởi các đồi cát hoặc các dãy núi thấp và trao đổi nước với biển qua một cửa rất hẹp Dạng địa hình đầm phá sẽ đem lại nguồn lợi kinh
tế đáng kể nếu được chú ý nghiên cứu đầu tư vào việc nuôi trồng khai thác các nguồn lợi thủy hải sản
1.3.2 Đặc điểm khí tượng khí hậu
Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa Nhiệt độ không khí trung bình năm: ở khu vực miền núi biến đổi 20,1 – 26,1°C; tại vùng duyên hải là 27°C Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5 – 27,9% và độ ẩm tương đối 79 – 92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối 79% Tổng lượng mưa trung bình năm là 1.751mm, cực đại là 2.658mm, cực tiểu là 1.131mm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 – 12; mùa khô kéo dài từ tháng 01 –
8 Cấu tạo địa chất, địa hình, khí hậu làm cho Bình Định tuy không có đồng bằng rộng lớn nhưng có đồng ruộng phì nhiêu, đa dạng về sản phẩm nông, lâm, ngư …, nhiều tài nguyên khoáng sản và tiềm năng thuỷ điện
Với điều kiện về khí hậu khá thuận lợi cho phát triển ngành thủy sản, thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản theo hình thức thâm canh, bán thâm canh để tăng năng suất
Trang 3122
Tuy nhiên vùng nuôi tập trung chủ yếu ở các vùng hạ du, mùa mưa thường bị ngập lụt trên diện rộng, đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển nuôi trồng thủy sản nhất là nuôi trồng thủy sản nước lợ
1.3.2.1 Nhiệt độ không khí
Sự phân bố nhiệt độ ở tỉnh Bình Định khá đa dạng Chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng có cùng độ cao hầu như không đáng kể Ở một số điểm có độ cao và kinh độ xấp
xỉ nhau, nhưng cách nhau trên dưới 1 vĩ độ (<110 km) thì chênh lệch nhiệt độ không khí trung bình năm đều dưới 10C, ngoài ra còn tuỳ thuộc vào mặt đệm và môi trường
xung quanh điểm quan trắc: Như trạm khí tượng An Nhơn do ảnh hưởng của tính chất
mặt đệm và môi trường xung quanh nên chỉ cách trạm Quy Nhơn khoảng 20km nhưng nhiệt độ trung bình năm thấp hơn trạm Quy Nhơn đến 1 0
C
Độ cao địa hình là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra sự giảm nhiệt
độ trong một phạm vi hẹp Trong điều kiện thông thường, sự giảm nhiệt độ theo độ cao khoảng 0,5 - 0,60C/100m Điều đó có nghĩa là, ở độ cao khoảng 1000m nhiệt độ không khí giảm đi 5 - 60C Sự giảm nhiệt độ này làm cho ở những vùng càng cao, thời
kỳ mát mẻ càng kéo dài, thời kỳ nắng nóng sẽ rút ngắn lại
Bảng 1.1 Phân bố nhiệt độ theo vĩ độ
Trang 3324
1.3.2.2 Chế độ gió
Gió là chuyển động nằm ngang của không khí đối với bề mặt trái đất Gió được
đặc trưng bởi hai đại lượng là hướng gió và tốc độ gió
Gió cũng là một trong những nhân tố khí hậu quan trọng, nó phản ánh các điều
kiện hoàn lưu khí quyển và tác động đến nhiều mặt trong tự nhiên Chế độ gió được
nhiều ngành như: hàng không, hàng hải, xây dựng, nông nghiệp, năng lượng quan
tâm
Hình 3 và 4 là hoa gió biểu thị tần suất xuất hiện của 8 hướng gió chính Ta có
thể thấy rằng: Các tháng mùa đông gió thịnh hành nhất thường có thành phần Tây Bắc
đến Đông Bắc, từ tháng X năm trước đến tháng III năm sau gió hướng Bắc thịnh hành
với tần suất 16- 53%, gió Đông Bắc có tần suất chiếm 7 - 18% Tại trạm Quy Nhơn
các tháng III đến tháng VI hướng gió Đông Nam xuất hiên với tần suất từ 15 - 27%
Trong đó các tháng VI, VII và VIII gió Tây xuất hiện tần suất từ 13 - 21%; riêng trạm
Hoài Nhơn các tháng mùa hạ hướng gió Tây xuất hiện tần suất không quá 4% mà chủ
yếu là gió Nam
Hình 1 3 Sơ đồ các luồng không khí
Nguồn: [41]
Trang 34IV 38,5 12,1 4,4 4,2 27,3 7,6 0,1 0,4 5,3
V 46,8 8,1 3,1 3,4 21,6 6,8 0,7 3,5 5,9
VI 42,5 4,3 1,3 1,9 18,1 6,7 1,5 13,1 10,4 VII 41,3 4,4 0,8 1,4 14,8 5,3 1,9 17,3 12,6 VIII 38,5 5,3 1,7 1,2 11,3 5,3 2,6 20,9 13,3
IX 44,5 13,4 5,1 2,2 10,7 3,6 1,0 6,5 13,0
X 30,2 25,4 11,4 2,4 5,2 1,5 0,3 2,9 20,6
XI 15,9 38,9 18,2 2,2 1,6 0,5 0,0 2,0 20,7 XII 13,3 43,0 15,6 1,0 0,5 0,1 0,0 1,6 24,7
IV 49,2 9,4 6,9 11,6 10,0 9,2 1,7 0,3 1,5
V 44,8 4,3 6,1 10,1 9,4 18,2 4,6 1,2 1,2
VI 36,3 1,3 5,1 7,5 7,2 28,5 10,3 3,1 0,6
Trang 3526
VII 32,3 0,7 5,1 7,5 5,9 31,2 12,3 4,1 0,9 VIII 35,1 1,0 4,7 6,6 5,7 29,4 13,5 3,3 0,7
IX 46,8 5,9 8,0 6,4 5,1 18,9 5,1 1,7 2,1
X 43,4 27,2 10,5 4,4 2,4 5,5 1,3 0,7 4,6
XI 26,1 51,3 11,9 2,3 0,9 1,3 0,4 0,2 5,6 XII 24,8 52,7 10,4 1,4 0,4 1,0 0,1 0,2 9,1
Nguồn : [41]
Bảng 1 5 Tần suất hướng gió thịnh hành
Tháng Hướng Tần suất (%) Hướng Tần suất (%)
Trang 361.3.2.3 Chế độ mưa
Mưa là một yếu tố chính của khí hậu, một thành phần cơ bản của cán cân nước,
là nhân tố chi phối thời vụ, cơ cấu cây trồng, năng suất và chất lượng sản phẩm
Lượng mưa năm
a Lượng mưa trung bình nhiều năm
Phân phối không gian của lượng mưa ở Bình Định rất không đồng đều Lượng mưa năm trung bình đo đạc được ở nơi nhiều mưa nhất và ít mưa nhất chênh lệch nhau rất lớn đạt 2422mm Vùng núi Vĩnh Sơn và vùng núi phía bắc tỉnh là hai khu vực có lượng mưa lớn nhất tỉnh, với tổng lượng mưa năm trung bình từ 2220 - 3030mm trong
đó trung tâm mưa lớn nhất thuộc huyện miền núi An Lão Vùng mưa lớn thứ hai là vùng núi Vĩnh Kim thuộc trung lưu sông Kôn, huyện Vân Canh thượng nguồn sông
Trang 3728
Hà Thanh và các huyện ven biển phía bắc tỉnh từ 2000 - 2180mm Những vùng còn lại như vùng ven biển phía nam tỉnh, huyện Tây Sơn, phía đông huyện miền núi Vĩnh Thạnh và lưu vực hạ lưu sông Kôn lượng mưa năm trung bình đạt từ 1610 - 1880mm trong đó tâm mưa thấp nhất là khu vực Tân An và các xã phía đông huyện Tuy Phước với lượng mưa năm trên dưới 1600mm
Bảng 1.6 Một số đặc trưng mưa năm
(Đơn vị: mm)
Trạm Mưa trung
bình năm
Năm mưa lớn nhất
Năm xuất hiện
Năm mưa nhỏ nhất
Năm xuất hiện
b Sự biến động của lượng mưa năm
Năm 1998, hầu hết các điểm đo mưa trong tỉnh đều đo được cực đại mưa như Vĩnh Kim 3502mm, Quy Nhơn 2889mm, Phù Mỹ 3239mm, Bồng Sơn 3492, Hoài Ân 3422mm,
và An Hòa 4907mm
Ngoài ra, năm 1993 chưa phải là năm mưa lớn nhất của một số nơi, nhưng cũng là năm có tổng lượng mưa năm lớn đứng thứ hai hoặc thứ ba trong chuỗi quan trắc như Vĩnh
Trang 38Bảng 1.7 Lƣợng mƣa năm ứng với các tần suất
(Đơn vị: mm)
5 10 20 25 50 75 85 90 95 Vĩnh Sơn 322
Trang 3930
Hình 1.6 Bản đồ phân bố lƣợng mƣa năm tỉnh Bình Định
Nguồn: [41]
Trang 4031
c Phân bố lượng mưa trong các mùa
Trong năm, lượng mưa mùa mưa quyết định chủ yếu đến lượng mưa năm Theo
số liệu thống kê nhiều năm cho thấy, lượng mưa mùa mưa và lượng mưa năm ở Bình Định có quan hệ khá chặt chẽ Do vậy, trong tính toán có thể coi tần suất mưa mùa mưa và tần suất mưa năm xấp xỉ nhau
Bốn tháng mùa mưa, lượng mưa trung bình nhiều năm khoảng 1200 - 1700mm, riêng vùng núi An Hoà 2180mm chiếm từ 66 - 79% tổng lượng mưa năm Mùa mưa với đặc trưng nắng ít, mưa nhiều, trời dịu mát Đối lập là mùa khô kéo dài suốt tám tháng còn lại, trời nắng nóng, lại thiếu những nhiễu động mạnh như bão, dải hội tụ nội chí tuyến do đó ít có khả năng tạo cho hơi ẩm có thể ngưng tụ Cho nên mùa khô là thời kỳ thời tiết trong sáng, nhiệt độ cao, nguồn ẩm nghèo nàn, bốc hơi mạnh và chỉ được bổ sung phần nào bằng lượng mưa ít ỏi, thất thường Mùa khô mặc dù ổn định hơn mùa mưa nhưng không giữ nguyên sắc thái mà có năm dài, năm ngắn, năm khô nhiều, năm khô ít; phụ thuộc vào dao động mùa mưa hàng năm cũng như vào tính chất của gió mùa Tổng lượng mưa mùa khô khoảng 380 - 850mm, chiếm 21 - 34% lượng mưa năm, trong đó ở vùng núi thường chiếm 28 - 34%, ven biển thường chiếm 21 - 26% lượng mưa năm
Bảng 1.8 Phân bố lượng mưa trong các mùa