Để phát triển nông nghiệp phải từng bước đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn dưới các hình thức trang trại, hợp tác xã… Hợp tác xã là một loại hình tổ chức kinh tế tồn tại và phát triển ở n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐOÀN THỊ TÂM
PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2009
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu 1
Ch-ơng 1 Hợp tác xã nông nghiệp trong kinh tế thị tr-ờng - Đặc điểm, nguyên tắc và tính đặc thù 7
1.1 Tính tất yếu khách quan của việc phát triển hợp tác xã trong kinh tế thị tr-ờng 7
1.2 Đặc điểm của hợp tác xã trong kinh tế thị tr-ờng 9
1.3 Những nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã 13
1.3.1 Nguyên tắc tự nguyện 14
1.3.2 Nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và công khai 14
1.3.3 Nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi 15
1.3.4 Nguyên tắc hợp tác và phát triển cộng đồng 16
1.4 Những nét đặc thù của hợp tác nông nghiệp trong kinh tế thị tr-ờng 16
1.5 Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở một số n-ớc 19
1.5.1 Phong trào hợp tác xã ở Nhật Bản 19
1.5.2 Phong trào hợp tác xã ở Thái Lan 22
1.5.3 Phong trào hợp tác xã ở Trung Quốc 23
1.5.4 Phong trào hợp tác xã ở Mỹ 25
1.5.5 Những kinh nghiệm phát triển hợp tác xã trong nông nghiệp có thể vận dụng vào n-ớc ta 25
Ch-ơng 2 Thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội 29
2.1 Sơ l-ợc về quá trình phát triển hợp tác xã nông nghiệp Hà Nội 29
2.2 Tình hình hợp tác xã nông nghiệp ngoại thành Hà Nội 32
2.2.1 Số hợp tác xã bị giải thể 32
2.2.2 Số hợp tác xã chuyển đổi theo Luật 33
2.2.3 Các hợp tác xã thành lập mới 46
Trang 32.3 Đánh giá chung thành tựu và hạn chế của các hợp tác xã nông nghiệp
ngoại thành Hà Nội 50 2.3.1 Thành tựu và nguyên nhân 50 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 53
Ch-ơng 3 Ph-ơng h-ớng và giải pháp để phát triển hợp tác xã nông
nghiệp ngoại thành Hà Nội 57
3.1 Ph-ơng h-ớng phát triển hợp tác xã nông nghiệp ngoại thành Hà Nội 57 3.1.1 Phát triển hợp tác xã phải dựa trên cơ sở tôn trọng tính tự chủ của kinh
tế nông hộ, cần phải kết hợp đúng đắn giữa lợi ích cá nhân, hộ nông dân với lợi ích tập thể, biết khơi dậy động lực cá nhân, hộ nông dân để phục vụ cho lợi ích cộng đồng 57 3.1.2 Tiếp tục củng cố, đổi mới hợp tác xã hiện có và xây dựng hợp tác xã
mới phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị tr-ờng 58 3.1.3 Phát triển các hợp tác xã nông nghiệp theo h-ớng đa dạng hoá các
ngành nghề, lĩnh vực phù hợp với thực tế của từng địa bàn cụ thể 59 3.1.4 Phát triển hợp tác xã phải đặt trong bối cảnh nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, bên cạnh đó phải có sự hỗ trợ của Nhà n-ớc 60 3.2 Giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ngoại thành Hà Nội 61 3.2.1 Nâng cao nhận thức của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân
dân đối với quá trình đổi mới, phát triển các hợp tác xã nông nghiệp 61 3.2.2 Quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo, bồi d-ỡng cán bộ cho hợp tác
xã nông nghiệp 62 3.2.3 Hỗ trợ vốn sản xuất kinh doanh cho phát triển hợp tác xã nông nghiệp 64 3.2.4 Tổ chức tốt khâu cung ứng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho các
hợp tác xã nông nghiệp 65 3.2.5 Giải quyết những vấn đề tồn đọng về tài sản, vốn của các hợp tác xã 67 3.2.6 Tăng c-ờng hơn nữa công tác khuyến nông trong các hợp tác xã nông
nghiệp 67
Trang 43.2.7 Cñng cè vµ nh©n réng tõng b-íc nh÷ng m« h×nh hîp t¸c x· n«ng
nghiÖp tiªn tiÕn 69
KÕt luËn 70 Danh môc tµi liÖu tham kh¶o 74
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, dân cư phần lớn là nông dân Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi nông nghiệp là một lĩnh vực quan trọng hàng đầu Có phát triển mạnh mẽ nông nghiệp mới đẩy mạnh được công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Để phát triển nông nghiệp phải từng bước đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn dưới các hình thức trang trại, hợp tác xã…
Hợp tác xã là một loại hình tổ chức kinh tế tồn tại và phát triển ở nhiều quốc gia, có vị trí và vai trò quan trọng Ở Việt Nam từ giữa những năm 50 của thế kỷ XX đã xuất hiện những hình thức hợp tác Các hợp tác xã được thành lập
ở nhiều ngành kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, đã có vai trò lịch sử rất quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và thống nhất đất nước Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, trên phạm vi cả nước cũng như ở Hà Nội những hạn chế chủ yếu của mô hình hợp tác
xã kiểu cũ đã tiềm ẩn từ trước ngày càng bộc lộ rõ nét dẫn đến một bộ phận hợp tác xã lâm vào khủng hoảng, tan rã hoặc chỉ tồn tại trên danh nghĩa Đồng thời cũng bắt đầu xuất hiện những hình thức hợp tác xã kiểu mới đa dạng và nhiều địa phương đã tìm những giải pháp chuyển đổi hình thức tổ chức hợp tác xã nhằm thích ứng với cơ chế thị trường Luật hợp tác xã năm 1997 đã đánh dấu mốc quan trọng trong bước chuyển đổi từ mô hình hợp tác xã kiểu cũ sang kiểu mới theo nhu cầu khách quan của kinh tế thị trường
Khu vực ngoại thành Hà Nội trước khi mở rộng địa giới hành chính, quá trình chuyển đổi hợp tác xã nông nghiệp cũ và xây dựng hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên
Trang 6vẫn còn nhiều hạn chế về nội dung hoạt động, nội lực các hợp tác xã nhìn chung còn yếu, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, chưa đáp ứng đầy đủ nguyện vọng của xã viên và đòi hỏi của cơ chế thị trường
Thực tế phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở khu vực ngoại thành Hà Nội đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi phải tìm lời giải đáp nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quá trình này cho phù hợp với yêu cầu của cơ chế thị trường Vì vậy, "Phát triển các hợp tác xã nông nghiệp trong kinh tế thị trường" (qua khảo sát những hợp tác xã nông nghiệp ở một số huyện ngoại thành Hà Nội) được chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về hợp tác xã dưới nhiều góc độ, phạm vi và mức độ khác nhau:
Tiến sĩ Chử Văn Lâm chủ biên “Sở hữu tập thể và kinh tế thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2006: Đã nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề về bản chất của sở hữu tập thể, làm rõ sự giống và khác nhau của sở hữu tập thể với sở hữu hỗn hợp Sự cần thiết của kinh tế tập thể, mô hình của kinh tế tập thể trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh (nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, vận tải, xây dựng, thương mại, dịch vụ) trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Công trình nghiên cứu còn làm rõ vị trí, vai trò của sở hữu tập thể
và kinh tế tập thể; những lý do để kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã trở thành nền tảng trong nền kinh tế quốc dân Trên cơ sở phân tích thực trạng kinh tế tập thể hiện nay qua khảo sát các mô hình hợp tác xã trong những năm đổi mới vừa qua ở mọi lĩnh vực công, nông nghiệp, xây dựng, dịch vụ đã rút ra những điểm mạnh, điểm yếu của kinh tế tập thể hiện nay nhằm trả lời cho câu hỏi vì sao ở
Trang 7Việt Nam đã tạo được môi trường pháp lý song kinh tế hợp tác vẫn chưa thực sự phát triển trong đời sống kinh tế - xã hội Sau cùng các tác giả đưa ra dự báo về
xu hướng vận động, phát triển của sở hữu tập thể và kinh tế hợp tác trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đồng thời nêu lên những định hướng
và khuyến nghị về chính sách phát triển sở hữu tập thể và kinh tế hợp tác trong thời gian tới ở Việt Nam
GS TS Lương Xuân Quỳ chủ biên “Đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã trong nông nghiệp, nông thôn", NXB Nông nghiệp, Hà Nội - 2005: Đã nghiên cứu và làm rõ tính tất yếu khách quan của kinh tế hợp tác, những nét đặc thù của hợp tác trong nông nghiệp; phân tích về kinh nghiệm tổ chức và quản lý các hợp tác xã ở một số nước trong khu vực và trên thế giới, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào điều kiện Việt Nam Công trình nghiên cứu đã khái quát quá trình phát triển các hình thức tổ chức và quản lý hợp tác xã trong nông thôn Việt Nam Phân tích thực trạng mô hình tổ chức quản lý các hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương và Nam Định Trên cơ sở đó đưa
ra phương hướng, giải pháp lựa chọn xây dựng mô hình tổ chức và quản lý có hiệu quả các hợp tác xã trong nông nghiệp phù hợp với thực tiễn của từng tỉnh và một số kiến nghị chung
GS TS Hồ Văn Vĩnh chủ biên “Mô hình phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội - 2005: Đã nghiên cứu và làm
rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong
sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam Phân tích mô hình phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam qua các thời kỳ trước và sau khi có Luật hợp tác xã năm 1997, trong đó đặc biệt làm rõ thực trạng mô hình phát triển hợp tác xã nông nghiệp từ khi có Luật hợp tác xã 1997
Trang 8đến nay Trên cơ sở đó dự báo xu hướng phát triển của các hợp tác xã nông nghiệp ở nước ta, đưa ra quan điểm và giải pháp phát triển hợp tác xã ở Việt Nam trong 20 năm đầu thế kỷ XXI
Luận văn thạc sĩ của Võ Thị Nên: “Phát triển các hình thức kinh tế hợp tác nông nghiệp ở An Giang” nghiên cứu về thực trạng phát triển của kinh tế hợp tác qua khảo sát các tổ nông dân liên kết và các hợp tác xã ở An Giang giai đoạn chủ yếu từ 1991 - 2000 Trên cơ sở đó đưa ra một số phương hướng, giải pháp nhằm phát triển các hình thức kinh tế hợp tác ở An Giang
Luận văn thạc sĩ của Châu Văn Lực: “Phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp tỉnh Cần Thơ” nghiên cứu về thực trạng phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở Cần Thơ giai đoạn sau đổi mới; từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp tỉnh Cần Thơ
Nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào khảo sát các hợp tác xã nông nghiệp ngoại thành Hà Nội những năm qua Dưới góc độ kinh tế chính trị luận văn kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đó nhằm làm sáng tỏ sự phát triển của hợp tác xã nông nghiệp trong kinh tế thị trường trên các khía cạnh sau: luận giải tính tất yếu khách quan, đặc điểm, nguyên tắc hoạt động và tính đặc thù của hợp tác xã nông nghiệp trong kinh tế thị trường Tuy nhiên luận văn không tiếp cận ở góc độ hợp tác xã nói chung mà đi vào khảo sát thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp ngoại thành Hà Nội trước khi mở rộng địa giới hành chính, từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Nội phù hợp với kinh tế thị trường
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích của luận văn:
Trang 9Tóm lược lý luận về hợp tác xã và vận dụng vào khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội từ khi chuyển sang kinh tế thị trường Từ đó đề xuất một số phương hướng, biện pháp để phát triển hợp tác xã nông nghiệp của vùng này trong những năm tới
* Nhiệm vụ của luận văn:
- Luận giải tính tất yếu khách quan, đặc điểm, nguyên tắc hoạt động và tính đặc thù của hợp tác xã nông nghiệp trong kinh tế thị trường
- Khảo sát thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở một số huyện ngoại thành Hà Nội trước khi mở rộng địa giới hành chính
- Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở
Hà Nội phù hợp với kinh tế thị trường
4 Cơ sở lý luận và đối tượng nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận: Luận văn vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm đổi mới của Đảng, các chủ trương chính sách của Nhà nước về hợp tác xã Luận văn cũng kế thừa những kết quả nghiên cứu về hợp tác xã của các tác giả đi trước
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các hợp tác xã
nông nghiệp ở các huyện ngoại thành Hà Nội trước khi mở rộng địa giới hành chính từ 2002 -2007, nếu có thể cũng bổ sung một số số liệu năm 2008 - 2009 sau khi mở rộng địa giới hành chính
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp của kinh tế chính trị nói chung, coi trọng phương pháp khảo sát và tổng kết thực tiễn, phân tích và tổng hợp
6 Những đóng góp mới của luận văn
Trang 10- Về mặt lý luận: Luận văn làm rõ hơn tính tất yếu của việc phát triển hợp tác xã trong kinh tế thị trường, so sánh những điểm chủ yếu của hợp tác xã kiểu mới với hợp tác xã kiểu cũ trước đổi mới, phân tích đặc điểm và các nguyên tắc của hợp tác xã trong kinh tế thị trường, nêu lên tính đặc thù của hợp tác xã nông nghiệp
- Về mặt thực tiễn: Luận văn tìm hiểu kinh nghiệm phát triển hợp tác xã của một số nước phát triển (Nhật Bản, Mỹ) và một số nước đang phát triển (Thái Lan, Trung Quốc); khảo sát một số mô hình hợp tác xã nông nghiệp của ngoại thành Hà Nội thời gian 2002 - 2007
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu về hợp tác xã nông nghiệp hoặc vận dụng vào công tác giảng dạy về chủ đề này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 10 tiết:
Chương 1: Hợp tác xã nông nghiệp trong kinh tế thị trường - Đặc điểm,
nguyên tắc và tính đặc thù
Chương 2: Thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở một số huyện
ngoại thành Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp để phát triển hợp tác xã nông
nghiệp ngoại thành Hà Nội
Trang 11Chương 1 HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Hợp tác lao động sẽ tạo ra một sức sản xuất mới lớn hơn tổng số các sức lao động cá thể cộng lại Các Mác đã chỉ ra bảy ưu thế của hiệp tác lao động:
Thứ nhất, có thể san đi, bù lại những chênh lệch cá nhân về thể lực và tài
nghệ giữa những người lao động, do đó dẫn đến kết quả là tiêu hao lao động xã hội cần thiết trung bình, khiến cho sản xuất và tiêu thụ hàng hoá vững chắc hơn
là sản xuất riêng lẻ
Thứ hai, tiết kiệm được tư liệu sản xuất do sản xuất tập trung nên nhiều
công cụ lao động có thể dùng chung, chi phí về xây dựng nhà xưởng, kho tàng, vận tải… sẽ giảm bớt
Thứ ba, sự tiếp xúc xã hội sinh ra thi đua, kích thích và tăng cường khả
năng lao động của mỗi người
Thứ tư, tạo ra một sức sản xuất mới hoạt động như một sức tập thể do đó
hoàn thành được một số công việc mà cá nhân riêng lẻ hay một số ít người không thể làm được
Trang 12Thứ năm, bảo đảm tính liên tục trong lao động, đẩy nhanh tiến độ của
công việc, do đó rút ngắn thời gian chế tạo sản phẩm
Thứ sáu, bảo đảm tính thời vụ và thời gian khẩn cấp của công việc vì hợp
tác cho phép tập trung nhiều lao động một cách kịp thời cho những công việc đòi hỏi phải mở đầu và kết thúc đúng hạn định mới đạt hiệu quả cao
Thứ bảy, có thể mở rộng hoặc thu hẹp không gian trên đó lao động được
tiến hành tuỳ theo tính chất công việc Tác dụng hai mặt đó cho phép hạn chế được hư phí
Nhưng những ưu thế trên chỉ được phát huy khi tuân thủ ba điều kiện sau đây:
Một là, có kế hoạch và phương hướng sản xuất phù hợp
Hai là, có đủ tư liệu sản xuất làm cơ sở vật chất cho sự hợp tác Quy mô
hợp tác phụ thuộc vào quy mô tập trung tư liệu
Ba là, phải có sự chỉ huy và kế toán tức là quản lý tốt
Những ưu thế và điều kiện nói trên cũng có thể vận dụng vào phát triển hợp tác xã nông nghiệp, mặc dù nông nghiệp có những nét đặc thù so với công nghiệp
Hợp tác xã đã phát triển cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường Năm 1726, 28 thợ dệt ở Anh đã thành lập một hội làm vải Đó là một trong những hợp tác xã đầu tiên trên thế giới Hiện nay, liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA) đã có tới 230 tổ chức quốc gia và quốc tế của trên 100 nước tham gia Tổ chức hợp tác xã của Việt Nam tham gia ICA từ năm 1991
Nghiên cứu sự phát triển của hợp tác xã, V.I.Lênin đã nhấn mạnh “Nếu không học tập sử dụng được kỹ thuật, văn hoá và bộ máy do nền văn hoá tư sản,
Trang 13nền văn hoá tư bản chủ nghĩa tạo ra thì sẽ không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội Trong số các bộ máy đó có hợp tác xã; trình độ phát triển tư bản chủ nghĩa trong nước càng cao bao nhiêu thì hợp tác xã càng được phát triển bấy nhiêu” [16, tr.117] “Việc tổ chức nông dân vào hợp tác xã để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là để chế biến các sản phẩm nông nghiệp, để cải tạo ruộng đất của nông dân, để giúp đỡ thủ công nghiệp phát triển… phải được sự giúp đỡ rộng rãi của nhà nước về mặt tài chính cũng như về mặt tổ chức” [15, tr.253]
Ở nước ta trên 50 năm xây dựng và phát triển hợp tác xã nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tích nhưng cũng còn nhiều nhược điểm Trước đổi mới hợp tác xã theo mô hình tập thể hoá toàn bộ tư liệu sản xuất phù hợp với thời chiến
đã góp phần không nhỏ vào những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Nhưng khi chuyển sang kinh tế thị trường các hợp tác xã đó không còn thích hợp nữa nên hoặc là bị giải thể hoặc là phải chuyển đổi theo cơ chế thị trường, đồng thời đã xuất hiện những hợp tác xã kiểu mới
Việc thực hiện hình thức khoán 10 đề cao tính tự chủ của hộ nông dân đòi hỏi phải đổi mới việc tổ chức và quản lý hợp tác xã nông nghiệp Sự phát triển kinh tế hàng hoá và tiến bộ khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ và gay gắt Để tồn tại và phát triển, tiêu thụ được hàng hoá những hộ kém thế lực về kinh tế phải hợp tác, giúp đỡ nhau trong sản xuất kinh doanh nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh trên thị trường
1.2 Đặc điểm của hợp tác xã trong kinh tế thị trường
Hợp tác xã là một loại hình kinh tế hợp tác, là tổ chức kinh tế tự chủ có vốn, quỹ chung; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tư cách pháp nhân Các mô hình hợp tác xã đều được thành lập trên tinh thần trợ giúp, tự chịu trách nhiệm, dân
Trang 14chủ, bình đẳng, công bằng, tự nguyện và đoàn kết Mặc dù hợp tác xã cũng là đơn vị kinh doanh song mục tiêu cơ bản của những xã viên khi thành lập hoặc liên kết thành một hợp tác xã là để thực hiện những hoạt động mà từng cá nhân riêng lẻ không thể thực hiện được hoặc thực hiện được nhưng khó khăn và kém hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội nhờ sức mạnh của lao động hiệp tác của các xã viên Đây vừa là một tổ chức kinh tế, vừa là một tổ chức xã hội Nó được thành lập nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, bảo vệ lợi ích của người lao động; đồng thời nó là một hiệp hội của những người cùng nghề nghiệp, cùng cảnh ngộ liên kết lại để giúp đỡ nhau Như vậy, hợp tác xã là sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá đã phát triển đến một trình độ nhất định trên cơ
sở phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 và đặc điểm kinh tế xã hội Việt Nam, Luật hợp tác xã sửa đổi năm 2003 đã đưa ra định nghĩa về hợp tác xã tại Điều 1 như sau: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật
Trang 15Trong điều kiện nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì các hợp tác xã trong cơ chế mới đã có sự thay đổi về đặc điểm so với trước đây
Trong cơ chế cũ hợp tác xã nông nghiệp tồn tại phổ biến và chủ yếu dưới hình thức các xí nghiệp tập thể: tập thể hoá tư liệu sản xuất, tiến hành sản xuất tập trung, biến xã viên trong hợp tác xã thành người lao động làm công Còn xu thế hiện nay là các hợp tác xã thực hiện chức năng dịch vụ, hỗ trợ cho kinh tế hộ
là chính nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho kinh tế hộ Từ chỗ phủ nhận
hộ gia đình, các hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam đã và đang đi theo hướng
mà Traianốp - một viện sĩ nông học ở Nga thời Cách mạng tháng Mười đã chỉ ra: Hợp tác xã nông nghiệp là sự bổ sung cho kinh tế hộ nông dân tự chủ, phục vụ cho nó Vì thế, thiếu kinh tế hộ nông dân thì hợp tác xã sẽ không có ý nghĩa gì
cả
Trong điều kiện của nền sản xuất hàng hoá hiện nay, sự phát triển mạnh
mẽ của kinh tế hộ chính là tiền đề để thiết lập các quan hệ hợp tác về nhiều mặt Đến lượt mình, bằng các hoạt động hỗ trợ dịch vụ có hiệu quả hợp tác xã giúp kinh tế hộ khắc phục được những thách thức từ thiên nhiên, từ thị trường, tăng cường địa vị của họ trên thương trường Hoạt động của hợp tác xã chính là sự kéo dài và mở rộng hoạt động của hộ gia đình Quá trình đổi mới hợp tác xã được tiến hành một cách đồng bộ trên các mặt: quan hệ sản xuất, quan hệ quản lý
và quan hệ phân phối nhằm từng bước tạo ra sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
- Một là, đổi mới quan hệ sở hữu:
Trong mô hình hợp tác xã kiểu cũ, một đặc điểm quan trọng quyết định các quan hệ khác là chế độ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất Khi đổi mới các
Trang 16hợp tác xã đã tiến hành đánh giá lại giá trị tài sản, tiền vốn của hợp tác xã Sau khi trừ đi phần vốn công nợ của nhà nước, thanh toán các khoản nợ và để lại quỹ chung để duy trì phát triển hợp tác xã, còn lại xác định giá trị cổ phần của từng
xã viên trên cơ sở vốn góp ban đầu khi vào hợp tác xã và số năm tham gia hợp tác xã, những xã viên ra khỏi hợp tác xã được trả lại vốn cổ phần Nhiều hợp tác
xã khi chuyển đổi đã xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh có tính khả thi nên đã huy động được vốn góp của xã viên Như vậy, sở hữu về tư liệu sản xuất trong hợp tác xã kiểu mới vừa bao gồm sở hữu chung của hợp tác xã vừa gồm sở hữu của các xã viên
- Hai là, đổi mới tổ chức quản lý trong hợp tác xã:
Trong cơ chế quản lý hợp tác xã kiểu cũ quan hệ giữa xã viên và hợp tác
xã thực tế là quan hệ phụ thuộc, xã viên bị tách khỏi tư liệu sản xuất và trở thành người làm công theo sự điều hành tập trung của hợp tác xã, tính chất hợp tác đích thực trong hợp tác xã không còn Đặc trưng của các hợp tác xã đổi mới là các hộ gia đình được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ, quan hệ giữa hộ gia đình với hợp tác xã được chuyển từ quan hệ hành chính mệnh lệnh sang quan hệ hợp đồng bình đẳng và thoả thuận, tự nguyện, cùng có lợi và cùng chịu rủi ro trong sản xuất kinh doanh Trong các hợp tác xã đổi mới thì hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã không bao trùm toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của
hộ xã viên mà chỉ diễn ra ở từng khâu công việc, từng công đoạn, hỗ trợ phát huy thế mạnh của từng hộ Quyền làm chủ của xã viên được phát huy, xã viên tham gia quyết định những công việc quan trọng của hợp tác xã như phương án sản xuất kinh doanh, phương án phân phối thu nhập Nguyên tắc bầu cử và biểu quyết được thực hiện bình đẳng, mỗi xã viên một phiếu bầu không phân biệt số vốn góp nhiều hay ít
Trang 17- Ba là, đổi mới quan hệ phân phối:
Trong các hợp tác xã kiểu cũ, chế độ phân phối mang nặng tính bình quân nên không khuyến khích được người lao động hăng hái, tích cực làm việc, xã viên thiếu gắn bó với hợp tác xã Trong quá trình đổi mới, các hợp tác xã đã thực hiện việc phân phối trên nguyên tắc công bằng, cùng có lợi Người lao động là
xã viên, ngoài tiền công được nhận theo số lượng và chất lượng lao động còn được nhận lãi chia theo mức độ sử dụng dịch vụ trong hợp tác xã và lợi tức cổ phần Trong quá trình phân phối các hợp tác xã còn tạo ra được các quỹ không chia, một mặt để mở rộng sản xuất, mặt khác tạo nên phúc lợi công cộng cho mọi thành viên trong hợp tác xã, kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài
Chính những đổi mới đó đã tạo thành những đặc trưng chung của các hợp tác xã trong cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay
1.3 Những nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã
Trên phạm vi toàn thế giới có Liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA) Đây là
tổ chức quốc tế phi chính phủ, được thành lập từ năm 1895 ở Luân Đôn (Anh) Liên minh hợp tác xã hoạt động theo những nguyên tắc mà Đại hội Liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA) lần thứ 31 (năm 1995) tổ chức tại Manchester (Anh) đề
ra Đó là: Tự nguyện và mở rộng đối với những người muốn trở thành xã viên hợp tác xã; xã viên tham gia vào hoạt động kinh tế của hợp tác xã; độc lập và tự chủ; giáo dục, đào tạo và thông tin; hợp tác giữa các hợp tác xã; quan tâm đến cộng đồng
Điều 5 Luật hợp tác xã sửa đổi năm 2003 của Việt Nam quy định hợp tác
xã được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc sau đây: Tự nguyện; dân chủ,
Trang 18bình đẳng và công khai; tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng
Dựa vào tư tưởng của Các Mác, Ăngghen, V.I Lênin và yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một cách cụ thể
về phương châm, phương pháp và nguyên tắc tổ chức kinh tế hợp tác nông nghiệp trong bài nói chuyện của Người tại Hội nghị đổi công toàn quốc tháng 5/1955: Kinh tế hợp tác và hợp tác xã phải hết sức coi trọng ba nguyên tắc: Tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ Những nguyên tắc ghi trong Luật hợp tác xã là cụ thể hoá ba nguyên tắc trên đã được ghi trong điều lệ hợp tác xã do Bác Hồ phê duyệt Đồng thời trong xu thế hội nhập với thế giới, Luật hợp tác xã của Việt Nam cũng đã tiếp thu và thể hiện được những nội dung quan trọng của
các nguyên tắc do ICA đã đề ra
1.3.1 Nguyên tắc tự nguyện
Hợp tác xã là tổ chức tự nguyện do vậy mọi cá nhân, hộ gia đình trên cơ
sở lợi ích của mình mà hoàn toàn tự nguyện tự quyết định việc gia nhập và ra khỏi tổ chức kinh tế hợp tác xã Nguyên tắc tự nguyện có vị trí hết sức quan trọng vì chỉ có dựa trên sự tự nguyện của những người tham gia thì sự liên kết giữa họ mới là thực chất, đó là cơ sở vững chắc để hợp tác xã hình thành và tồn tại
V.I.Lênin coi tự nguyện là một trong những nguyên tắc quan trọng bậc nhất, Người kiên quyết phản đối biện pháp hành chính trong việc hợp tác hoá nông nghiệp “Ở đây nếu dùng phương pháp bạo lực thì về thực chất không thể đạt được gì cả…ở đây mà dùng bạo lực thì có nghĩa là làm nguy hại đến toàn bộ
sự nghiệp, ở đây điều cần phải làm là công tác giáo dục lâu dài” [15, tr.243]
Trang 19Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở “Phải tuyên truyền giáo dục cho xã viên hiểu,
xã viên tự nguyện làm Tuyệt đối không được dùng cách gò ép, mệnh lệnh, quan liêu” [20, tr.408]
Các thành viên của một hợp tác xã hơn ai hết là người biết rõ thực trạng của mình, các khó khăn đang gặp phải và nhu cầu phát triển Do vậy quyết định gia nhập hợp tác xã của một xã viên phải trên cơ sở nhận thức rõ mục tiêu của tổ chức và hoàn toàn tự nguyện, không có sự phân biệt nào về xã hội, chính trị, tôn
giáo đối với tất cả các thành viên
1.3.2 Nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và công khai
Nguyên tắc này thể hiện ở quyền của xã viên tham gia quản lý đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã Xã viên có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát hợp tác xã và có quyền ngang nhau trong biểu quyết bất kể xã viên đó góp bao nhiêu vốn hay giữ chức vụ gì trong hợp tác xã Thực hiện công khai phương hướng sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối và những vấn đề khác trong hợp tác xã
Về vấn đề này, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ “Quản trị phải dân chủ Việc làm phải bàn bạc với nhau Mọi người đều hiểu mới vui lòng làm Có người chưa hiểu, chưa vui lòng mà bắt họ làm thì hỏng việc” [18, tr.540]
Do đó, trong việc tổ chức và điều hành hoạt động của hợp tác xã hiện nay mọi sự gò ép, áp đặt một mô hình duy ý chí, bất chấp ý kiến của xã viên là điều tối kỵ vì nó sẽ làm suy yếu sức mạnh của kinh tế hợp tác
1.3.3 Nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi
Hợp tác xã tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh; tự quyết định về phân phối thu nhập, bảo đảm hợp tác xã và xã viên cùng có lợi Đặc biệt quan tâm coi trọng lợi ích của các thành viên vì đây chính
Trang 20là động lực trực tiếp thúc đẩy nông dân tự nguyện, tự giác tham gia vào tổ chức kinh tế hợp tác
Hồ Chí Minh luôn căn dặn “Cần phải nêu cao tính hơn hẳn của hợp tác xã bằng những kết quả thiết thực là làm cho thu nhập của xã viên được tăng thêm, làm cho xã viên sau khi vào hợp tác xã thu hoạch nhiều hơn hẳn khi ở ngoài Như thế thì xã viên sẽ phấn khởi, sẽ gắn bó chặt chẽ với hợp tác xã của mình Đó
là phương pháp tuyên truyền thuyết phục tốt nhất để khuyến khích nông dân vào hợp tác xã” [19, tr.530]
Nguyên tắc cùng có lợi phải được thấm sâu trong điều lệ của từng hợp tác
xã, từ quy định về góp vốn đến tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, phân phối lợi ích, cách tổ chức làm việc của hợp tác xã Chỉ có thể kết hợp sức mạnh của tập thể với sức mạnh của hộ xã viên trên cơ sở xử lí hài hoà các lợi ích theo nguyên tắc cùng có lợi
1.3.4 Nguyên tắc hợp tác và phát triển cộng đồng
Mỗi xã viên phải có ý thức phát huy tinh thần xây dựng tập thể và hợp tác với nhau trong hợp tác xã, trong cộng đồng xã hội Nguyên tắc này cũng đòi hỏi hợp tác giữa các hợp tác xã trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật
Những nguyên tắc trên cũng là tiêu chuẩn để xác định một tổ chức kinh doanh có phải là hợp tác xã hay không; để phân biệt hợp tác xã với tổ chức kinh doanh khác trong nền kinh tế thị trường
1.4 Những nét đặc thù của hợp tác nông nghiệp trong kinh tế thị trường
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất gắn liền với sự tồn tại và phát triển của loài người Điều đó có nghĩa là ngay từ khi con người xuất hiện thì ngành sản xuất đầu tiên mang lại sự sống cho họ là nông nghiệp Chính vì vậy
Trang 21hợp tác lao động trong nông nghiệp là hình thức hợp tác đầu tiên của loài người Sản xuất càng phát triển, phân công lao động càng sâu sắc thì xuất hiện các hình thức hợp tác lao động trong các ngành nghề khác
Mặc dù hợp tác lao động là một tất yếu khách quan của hoạt động sản xuất, song trong từng lĩnh vực có những đặc điểm riêng biệt Đặc tính này do đặc điểm của ngành sản xuất quy định
Trong lĩnh vực nông nghiệp, ngoài những đặc điểm và nguyên tắc chung nói trên hợp tác lao động có những nét đặc thù sau đây:
Trang 22Một là, sản xuất nông nghiệp luôn gắn liền với cơ thể sống là vật nuôi, cây trồng, mà sự tồn tại và phát triển của nó tuân theo các quy luật sinh học
Đối tượng sản xuất nông nghiệp là những sinh vật có quy luật sinh trưởng và phát triển đặc thù khác với trong công nghiệp Cho nên cần phải theo dõi, chăm sóc tỉ mỉ, thường xuyên không kể sớm khuya để đáp ứng kịp thời các yêu cầu sinh học của cây trồng, vật nuôi Sản phẩm nông nghiệp không chỉ là kết quả trực tiếp của lao động mà còn thông qua sự sinh trưởng và phát triển của đối tượng sản xuất Quá trình sản xuất trong nông nghiệp được phân chia thành nhiều khâu, trong đó có những khâu cần thiết có sự hợp tác lao động song cũng
có những khâu từng người làm riêng biệt sẽ hiệu quả hơn
Chẳng hạn trong ngành trồng trọt, quá trình sản xuất trực tiếp có thể được chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn cày cấy, gieo trồng; Giai đoạn chăm sóc; Giai đoạn thu hoạch
Trong giai đoạn đầu để đảm bảo tính thời vụ, người lao động cần có sự hợp tác lao động để cày cấy, gieo trồng kịp thời vụ, người ta có thể hợp sức với nhau làm việc theo phương thức đổi công cho nhau Trong thời kỳ chăm sóc, có những công việc cần hợp tác, nhưng cũng có những việc từng người làm tốt hơn như theo dõi sát sao quá trình sinh trưởng của cây trồng, phát hiện nhu cầu tưới tiêu nước… Ở giai đoạn thu hoạch, rất cần thiết hợp tác để tránh những thiệt hại
do thu hoạch chậm, nhất là trong trường hợp có bão lũ đe dọa
Vì vậy, hợp tác trong nông nghiệp thường là hợp tác từng khâu, từng công việc cụ thể
Hai là, quá trình lao động và quá trình sản xuất trong nông nghiệp không trùng hợp hoàn toàn về thời gian, và sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ
Chính hai tính chất này quy định sản xuất nông nghiệp không thể tổ chức hợp tác
Trang 23sản xuất theo lối dây chuyền, sản xuất hàng loạt như trong công nghiệp mà cần được tổ chức theo kiểu gia đình hoặc nông trại, trang trại là kiểu tổ chức rất năng động, linh hoạt nhờ đó cho phép sử dụng hợp lý mọi nguồn lực trong sản xuất: lúc thời vụ khẩn trương cần phải hợp lực với nhau để sản xuất, ngày nông nhàn thì phát huy tính cần cù của lao động cá thể
Cùng với sự phát triển của sức sản xuất, trong nông nghiệp cũng phải xã hội hóa lao động, thay đổi nội dung, cách thức lao động Song con đường tổ chức
và hợp tác trong nông nghiệp không giống với công nghiệp, việc tăng sức sản xuất của lao động ở đây vẫn phải dựa trên nguyên tắc duy trì và tăng cường sự gắn bó mật thiết giữa lao động với đối tượng lao động
Ba là, trong nông nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất không thể thay thế được Ruộng đất vừa là vật chịu tác động của lao động như một đối tượng lao
động, vừa là vật truyền dẫn lao động của con người đến cây trồng, đồng thời ruộng đất cũng là không gian rộng lớn mà trên đó tổ chức các quá trình lao động sản xuất chịu tác động trực tiếp của điều kiện tự nhiên nhiều vẻ, đa dạng của từng địa phương, nhiều dị biệt và thất thường Điều này quy định tính đa dạng của hoạt động nông nghiệp Nó đòi hỏi hình thức hợp tác trong nông nghiệp không thể rập khuôn cho mọi vùng Có thể tham khảo lẫn nhau nhưng không thể
áp đặt một cách máy móc hình thức của vùng này cho vùng kia Thêm vào đó, sản xuất ngoài trời trên không gian rộng lớn, lao động và tư liệu sản xuất luôn di động và thay đổi theo thời gian và không gian Vì vậy hợp tác lao động trong nông nghiệp được tổ chức thích hợp với sự di chuyển đó
Các điểm đặc thù của sản xuất nông nghiệp nói trên đòi hỏi trong phát triển nông nghiệp phải có sự gắn bó giữa người lao động với ruộng đất và đối tượng sản xuất, người nông dân thực sự am hiểu quá trình sinh trưởng của vật
Trang 24nuôi, cây trồng Hơn nữa, người nông dân lại là chủ thể quá trình canh tác, gắn trách nhiệm với toàn bộ quá trình canh tác từ đầu cho đến khi kết thúc Ở đây chính lợi ích kinh tế thiết thân của nông dân là cơ sở quyết định sự gắn bó của họ với tư cách vừa là chủ thể canh tác, vừa là chủ thể kinh tế và cũng là cơ sở cho các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp Do đó, hợp tác lao động trong nông nghiệp phải hết sức tôn trọng tính tự chủ của nông hộ
1.5 Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở một số nước
Do nhu cầu thực tế của cuộc sống, sự hợp tác giản đơn không đủ để đáp ứng nhu cầu mọi mặt ngày càng cao của con người Những người có chung mục đích cùng nhau góp vốn, cùng nhau đóng góp sức lao động và các tư liệu sản xuất khác mà họ có để lập ra một tổ chức - đó là các hợp tác xã Ban đầu hợp tác
xã đã phát triển mạnh ở nhiều nước trên thế giới và ngày càng khẳng định rõ vị trí, vai trò của nó Các hợp tác xã phát triển mạnh mẽ như vậy bởi vì nó là một loại hình doanh nghiệp dựa trên sự tương trợ, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, công khai và đoàn kết
Ngay từ đầu thế kỷ XIX nhiều hợp tác xã ở châu Âu đã hình thành trên cơ
sở tổ chức hợp tác giản đơn Cuối thế kỷ XIX hợp tác xã ở nhiều nước trên thế giới đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Dưới đây sẽ xem xét phong trào hợp tác xã ở một số nước trên thế giới
1.5.1 Phong trào hợp tác xã ở Nhật Bản
Trước khi có hợp tác xã chính thức, vào thời Minh Trị các liên hiệp tín dụng của nông dân Nhật Bản đã được thành lập Tuy nhiên hình thức hợp tác chỉ xuất hiện khi chính phủ Nhật quyết định mở cửa tham gia vào thị trường thế giới sau một thời gian dài bế quan toả cảng Giai đoạn này quá trình công nghiệp hoá diễn ra, các nhà sản xuất nhỏ gặp phải khó khăn do sự cạnh tranh với các doanh
Trang 25nghiệp lớn nên xuất hiện nhu cầu hợp tác Cuối thế kỷ XIX mô hình hợp tác xã đầu tiên của Nhật Bản được thành lập, năm 1900 luật hợp tác xã được ban hành Năm 1910 Liên hiệp Trung ương các hợp tác xã được thành lập nhằm thúc đẩy phong trào hợp tác xã trên cả nước
Phong trào hợp tác xã Nhật Bản được tổ chức thành Uỷ ban chung của các hợp tác xã và các hiệp hội hợp tác xã chuyên ngành như Liên hiệp hợp tác xã tiêu dùng, Liên hiệp Trung ương các hợp tác xã nông nghiệp, Liên hiệp quốc gia hợp tác xã thuỷ sản
Về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn kinh tế nông trại Nhật Bản mang những đặc trưng của nông nghiệp châu Á và thể hiện trên các mặt:
- Một là, qui mô đất canh tác nhỏ và tăng chậm Đây là 1 đặc thù của nghề
trồng lúa nước ở châu Á, mặt khác truyền thống cố gắng duy trì đất đai cha ông
để lại in đậm trong mỗi gia đình nông dân Nhật Bản
- Hai là, phương thức canh tác truyền thống gắn kết với tiến bộ công nghệ
sinh học Kinh tế nông trại Nhật Bản có thu nhập lớn từ lĩnh vực phi nông nghiệp (65%)
Các hợp tác xã của Nhật Bản trong bước đầu hoạt động đều gặp một số khó khăn nhất định Trong nông nghiệp, sau những suy thoái năm 1930 các hợp tác xã đã vận động Chính phủ hỗ trợ thành lập mỗi làng, thị trấn một hợp tác xã
và đã phục hồi được sự suy thoái nói trên
Năm 1947, Chính phủ đã ban hành Luật hợp tác hoá nông nghiệp Liên hiệp Trung ương các hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản ra đời vào năm 1954 sau khi luật hợp tác xã được sửa đổi nhằm hướng dẫn nông dân và điều phối phong trào hợp tác xã nông nghiệp cấp quốc gia Các hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản
Trang 26được đặc trưng bởi hệ thống 3 cấp: cấp hợp tác xã cơ sở, cấp các liên hiệp và liên đoàn tỉnh, cấp liên hiệp và liên đoàn quốc gia Cụ thể:
Trang 27Hợp tác xã cấp cơ sở của Nhật Bản:
Có 2 loại hình: Hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng và hợp tác xã nông nghiệp đơn chức năng Từ năm 1961 trở về trước các hợp tác xã đơn chức năng khá phổ biến Nó do những người nông dân tổ chức hoạt động trong những lĩnh vực sản xuất cụ thể như chế biến sữa, nuôi gia cầm và các công việc khác Nhưng từ năm 1961 trở về đây do Nhật Bản khuyến khích hợp nhất các hợp tác
xã nhỏ thành hợp tác xã lớn nên mô hình hoạt động chủ yếu của hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản hiện nay là đa chức năng Các hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng chịu trách nhiệm đối với nông dân trên tất cả các lĩnh vực như cung cấp nông cụ, tín dụng, mặt hàng nhu yếu phẩm cũng như giúp nông dân chế biến, tiêu thụ sản phẩm và bảo hiểm cho hoạt động của họ
Về chức năng, các hợp tác xã nông nghiệp đa năng Nhật Bản đảm đương các nhiệm vụ sau: Cung cấp cho nông dân dịch vụ khoa học kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi cũng như giúp họ hoàn thiện kỹ năng quản lý hoạt động sản xuất; Tiến hành kinh doanh, giúp nông dân tiêu thụ hàng hoá; Hợp tác xã cung ứng hàng hoá cho xã viên theo đơn đặt hàng với giá thống nhất, hợp lý
Các hợp tác xã cơ sở được tổ chức ở cấp làng, thị trấn và thành phố trực thuộc Trung ương
Các tổ chức hợp tác xã cấp tỉnh Nhật Bản:
Các hợp tác xã nông nghiệp được các liên đoàn, hiệp hội hợp tác xã nông nghiệp tỉnh và liên minh các hợp tác xã nông nghiệp tỉnh quản lý Các tổ chức này điều phối hoạt động của các hợp tác xã trong phạm vi quyền hạn quản lý của mình Các liên đoàn cấp tỉnh có nhiệm vụ hỗ trợ các dịch vụ tài chính, bảo hiểm, tiếp thị mua bán và phúc lợi xã hội cho các hợp tác xã thành viên
Trang 28Liên hiệp Trung ương các hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản là tổ chức cao
nhất của phong trào hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản Mục tiêu của nó là tạo ra các chính sách quản lý cho các hợp tác xã và các liên đoàn cấp tỉnh Nó đại diện cho các hợp tác xã nông nghiệp trong mối quan hệ với các tổ chức quốc tế như ICA, FAO
Chính phủ Nhật Bản đặc biệt quan tâm tạo điều kiện cho các hợp tác xã nông nghiệp hoạt động Sự hỗ trợ của Chính phủ không làm mất đi tính tự chủ và độc lập của các hợp tác xã Chính phủ hỗ trợ trên các mặt như chính sách, pháp luật, vốn, bao tiêu sản phẩm nông nghiệp, điều đó đã giúp cho sự phát triển nông thôn và đẩy mạnh phúc lợi của người dân
1.5.2 Phong trào hợp tác xã ở Thái Lan
Thái Lan là nước có khối lượng nông sản hàng hoá xuất khẩu lớn ở khu vực Đông Nam Á Lĩnh vực nông nghiệp đóng góp tỷ lệ khá lớn trong GDP của nền kinh tế Trong nông nghiệp, hình thức sản xuất nông hộ và nông trại là phổ biến; là lực lượng sản xuất chủ yếu tạo ra các loại nông, lâm, thuỷ sản Số lượng nông hộ và nông trại tăng lên nhanh từ 3,21 triệu (năm 1968) lên 5,65 triệu hộ (năm 1993) Qui mô bình quân sử dụng đất là 4,5 ha/hộ
Hợp tác xã đầu tiên của Thái Lan là hợp tác xã tín dụng nông nghiệp được thành lập năm 1915 nhằm giúp nông dân mắc nợ phục hồi sản xuất, không phải gán nợ bằng đất, tránh để đất rơi vào tay những kẻ cho vay nặng lãi Nhờ hoạt động có hiệu quả nên hàng loạt các hợp tác xã tín dụng khác trong cả nước cũng
ra đời; đặc biệt các hợp tác xã khác như công nghiệp, nông nghiệp cũng phát triển mạnh
Năm 1968, Chính phủ Thái Lan ban bố Luật hợp tác xã và Liên đoàn hợp tác xã Thái Lan được thành lập Hệ thống hợp tác xã Thái Lan hoạt động theo
Trang 29ngành dọc gồm 3 cấp: cấp cơ sở, cấp tỉnh và cấp Trung ương và theo các chuyên ngành (nông nghiệp, thuỷ sản, tín dụng - tiết kiệm, dịch vụ, tiêu dùng, đất đai) Theo Luật hợp tác xã, tất cả các loại hình hợp tác xã mọi cấp đều phải là thành viên của Liên đoàn hợp tác xã Thái Lan
Hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của Thái Lan được thành lập vào năm
1916 và số lượng hợp tác xã liên tục tăng trong quá trình phát triển Hợp tác xã nông nghiệp Thái Lan hoạt động trên 5 lĩnh vực: Cung cấp vốn cho xã viên có trợ giúp với lãi suất thích hợp; Khuyến khích xã viên gửi tiền tiết kiệm và ký quỹ; Bán các sản phẩm đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và các mặt hàng thiết yếu khác cho nông dân với giá cả hợp lý; Bán nông sản giúp xã viên; Dịch vụ khuyến nông
Ở Thái Lan, lúa gạo là hướng kinh doanh chủ yếu của các hợp tác xã nông nghiệp Do đó hợp tác xã nông nghiệp là loại hình quan trọng nhất, giữ vai trò nòng cốt trong phong trào hợp tác xã Hợp tác xã nông nghiệp trong thực tế đã khuyến khích thâm canh, đa dạng hoá sản xuất, tăng thêm thu nhập cho xã viên
Chính phủ Thái Lan đã giúp đỡ các hợp tác xã thông qua luật hợp tác xã
và nhiều chủ trương chính sách thích hợp Chính phủ Thái Lan đã thành lập Bộ Nông nghiệp và hợp tác xã trong đó có 2 vụ chuyên trách về hợp tác xã là vụ Phát triển hợp tác xã và vụ Kiểm toán hợp tác xã để giúp đỡ các hợp tác xã thực hiện được mục tiêu đề ra
1.5.3 Phong trào hợp tác xã ở Trung Quốc
Hợp tác xã cung tiêu mà lực lượng chính là nông dân đã ra đời khá sớm ở Trung Quốc từ năm 1920 Các hợp tác xã cung tiêu ở Trung Quốc được thiết lập theo ba cấp và quan hệ kinh tế theo chiều dọc với các cấp Tuy nhiên chỉ sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời thì các hợp tác xã này mới phát triển
Trang 30ở quy mô rộng lớn Năm 1952 Trung Quốc có 33.000 hợp tác xã cung tiêu; năm
1958 thì 100% các cộng đồng nông dân đã tổ chức thành hợp tác xã nông nghiệp Từ năm 1979 các hợp tác xã nông nghiệp của Trung Quốc bắt đầu thay đổi, chủ yếu còn lại hợp tác xã cung tiêu
Các hợp tác xã cung tiêu hiện nay của Trung Quốc có chức năng:
- Khuyến nông: hướng dẫn nông dân trong việc phát triển sản xuất hàng hoá, hỗ trợ kinh tế nông nghiệp và sự thịnh vượng chung của nông dân
- Cung ứng dịch vụ kinh doanh gồm: mua, lưu kho, phân phối cung ứng vật tư, phân bón, dịch vụ phân tích đất, ứng dụng kỹ thuật mới Năm 1998 các hợp tác xã đã đảm bảo cung ứng 60% phân bón cho nông dân, 430.000 tấn thuốc trừ sâu Trong tay các hợp tác xã cung tiêu có hơn 320.000 trạm chăm sóc cây trồng và đảm đương dịch vụ nhiều mặt cho sản xuất nông nghiệp như giống, kỹ thuật, tư vấn
- Dịch vụ tiêu thụ nông sản: các hợp tác xã cung tiêu tích cực xây dựng các trạm thu mua và trung tâm tiêu thụ nông sản cho nông dân
- Kinh doanh buôn bán lẻ: đối tượng là hàng hoá tiêu dùng Hầu như hợp tác xã nào cũng đảm nhận dịch vụ này Hiện nay các hợp tác xã cung tiêu đã thiết lập được mạng lưới khá đầy đủ các điểm bán lẻ ở nông thôn Trung Quốc
- Chế biến nông sản và sản xuất: các hợp tác xã cung tiêu có trong tay nhiều xí nghiệp chế biến, trung tâm thu mua phế liệu, kho chứa và phương tiện vận chuyển, điểm kinh doanh dịch vụ Năm 1998 tổng lượng chế biến và xuất khẩu là 95 tỷ nhân dân tệ Các hợp tác xã Trung Quốc còn có 60 viện nghiên cứu
và hơn 1000 cơ sở đào tạo khác nhau
Như vậy sau đổi mới các hợp tác xã cung tiêu ở Trung Quốc đóng góp rất lớn cho nền kinh tế và trợ giúp nông dân
Trang 321.5.4 Phong trào hợp tác xã ở Mỹ
Hợp tác xã đầu tiên được thành lập ở Hoa Kỳ là hợp tác xã chế biến sữa
do những người nông dân thành lập ở Goshen vào năm 1810, tiếp theo là hợp tác
xã tiếp thị thịt lợn vào năm 1820 ở vùng Ohio Các hợp tác xã cung ứng nông nghiệp thành lập vào năm 1863 ở LongIsland Năm 1902 Liên hiệp nông dân được thành lập và liên đoàn nông nghiệp Hoa Kỳ được thành lập vào năm 1919 Năm 1914 Nhà nước thành lập Cục hợp tác xã để hỗ trợ cho khu vực kinh tế hợp tác xã, kể cả việc đào tạo cán bộ quản lý hợp tác xã
Khu vực hợp tác xã đã trở thành một loại hình kinh tế quan trọng của Hoa
Kỳ, do vậy Chính phủ đã ban hành luật và điều lệ về hợp tác xã để giúp các hợp tác xã đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội
Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ có chương trình hỗ trợ cho các trung tâm phát triển hợp tác xã: năm 2000 là 4 triệu USD, năm 2001 tăng lên 6 triệu USD
1.5.5 Những kinh nghiệm phát triển hợp tác xã trong nông nghiệp có thể vận dụng vào nước ta
Từ việc xem xét một cách khái quát sự phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở vài nước phát triển như Nhật Bản, Mỹ và vài nước đang phát triển như Thái Lan, Trung Quốc có thể rút ra những nhận xét và một số kinh nghiệm sau:
Nhìn chung sự ra đời các hợp tác xã của các nước trên thế giới mặc dù khác nhau về điểm xuất phát, trình độ sản xuất, về nhiệm vụ ban đầu nhưng đều
có chung những điểm sau:
Thứ nhất, cơ sở cho sự hình thành và phát triển hợp tác xã nông nghiệp là
kinh tế hộ nông dân hay kinh tế trang trại Hợp tác xã không phải là mục tiêu cuối cùng của tổ chức sản xuất mà chỉ là hình thức và biện pháp để phát triển sản
Trang 33xuất nông nghiệp Đây là một xu thế diễn ra phổ biến từ lâu ở các nước trong khu vực và trên thế giới
Thứ hai, các hợp tác xã đa dạng về loại hình và quy mô do trình độ của lực
lượng sản xuất và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, mỗi địa phương Tuy nhiên nông nghiệp là lĩnh vực gắn với sự sinh trưởng cá biệt của cây trồng, vật nuôi trong những không gian nhất định và phụ thuộc vào khí hậu, đòi hỏi sự chăm sóc
cá nhân chu đáo từ phía người nuôi trồng Ngay cả những nước có trình độ cao như Nhật Bản thì hình thức chăn nuôi, canh tác theo kiểu kinh tế hộ và trang trại vẫn còn tồn tại và có ưu thế so với việc tiến hành sản xuất nông nghiệp theo kiểu tập trung những người lao động để cùng sản xuất kinh doanh Chính vì vậy nên
mô hình hợp tác xã ở các nước rất đa dạng và phong phú nhưng phổ biến là loại hình hợp tác xã làm dịch vụ cho các pháp nhân, thể nhân, những hộ nông dân độc lập Loại hình hợp tác xã nông nghiệp tập trung những người lao động để cùng sản xuất - kinh doanh không nhiều
Thứ ba, mục tiêu của hợp tác xã là trợ giúp các hoạt động sản xuất kinh
doanh và đời sống của các xã viên, nỗ lực vì cộng đồng song trước hết nó phải là một tổ chức kinh tế Hay nói cách khác hợp tác xã phải sản xuất, kinh doanh có lãi trên thị trường để lấy đó làm cơ sở thực hiện các mục tiêu hỗ trợ của mình
Thứ tư, hệ thống mạng lưới tổ chức hợp tác xã được xây dựng theo ba cấp:
cơ sở, cấp tỉnh (thành phố) và Trung ương Trong đó, hợp tác xã cơ sở là tổ chức kinh tế của các hộ nông dân, trang trại gia đình - những người lao động tự nguyện khi quyết định gia nhập hoặc xin ra Hợp tác xã cơ sở là tổ chức đầu mối quan trọng nhất của hệ thống mạng lưới hợp tác xã được xây dựng theo địa bàn lãnh thổ, một địa điểm dân cư theo nhiều loại hình khác nhau Các hợp tác xã
Trang 34thường liên kết với nhau thành hiệp hội ở các địa phương và chịu sự kiểm tra của Chính phủ
Thứ năm, Nhà nước luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ, nuôi
dưỡng và phát triển phong trào hợp tác xã nhằm vừa phát triển kinh tế vừa góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội trên cơ sở pháp lý là không bao cấp và không can thiệp vào công việc của hợp tác xã Sự hỗ trợ của nhà nước đối với hợp tác
xã thể hiện trên các phương diện: tạo khuôn khổ luật pháp, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn, tuyên truyền và giáo dục về hợp tác xã, trợ giúp đào tạo cán bộ hợp tác xã, ứng dụng thành tựu khoa học mới, tìm kiếm và mở rộng thị trường Đối với những nước đang phát triển là những nước còn nghèo, dân trí chưa cao nếu để cho hợp tác xã tự hình thành thì mất khá nhiều thời gian Vì vậy, phong trào hợp tác xã cần phải được sự giúp đỡ, hỗ trợ của Nhà nước thông qua việc hướng dẫn, công bố các chính sách tạo điều kiện cho hợp tác xã ra đời, hoạt động và phát triển
Thứ sáu, hợp tác xã trong đó có hợp tác xã nông nghiệp phải thật sự là một
tổ chức tự nguyện của xã viên, đa dạng và phong phú về hình thức do yêu cầu của xã viên và cộng đồng Mục đích của hợp tác xã là gắn bó cùng nhau để tạo ra các dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã viên và hoạt động xã hội vì cộng đồng Phải nâng cao nhận thức và hiểu biết của mọi người về hợp tác xã để hợp tác xã thật
sự là tổ chức tự nguyện của nông dân, của người lao động nông nghiệp xuất phát
từ đòi hỏi của thực tiễn sản xuất
Thứ bảy, kinh tế hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp không nhất thiết gắn
với tập thể hoá ruộng đất cũng như tư liệu sản xuất của nông dân, phải tôn trọng quyền tự chủ của hộ xã viên Đa số các hợp tác xã được hình thành trên cơ sở góp vốn và phân chia lợi ích
Trang 35Những kinh nghiệm phát triển hợp tác xã trên đây có thể tham khảo trong quá trình chuyển đổi từ hợp tác xã kiểu cũ sang hợp tác xã kiểu mới phù hợp với
cơ chế thị trường ở Việt Nam
Tóm lại, kinh tế hợp tác là hiện tượng khách quan Những thành tựu lý luận cũng như thực tiễn hoạt động của phong trào hợp tác xã ở các nước trên thế giới đều khẳng định kinh tế hợp tác có vai trò to lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất, hình thành quan hệ sản xuất tiến bộ và thực hiện các mục tiêu xã hội vì cộng đồng Vấn đề đặt ra là mỗi nước phải xuất phát từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và hoàn cảnh lịch sử cụ thể để vận dụng những hình thức kinh tế hợp tác và phương thức hoạt động thích hợp đem lại hiệu quả cao, thúc đẩy kinh tế phát triển
Vì vậy, Văn kiện Đại hội X Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định "Tiếp tục đổi mới chính sách để khuyến khích, thúc đẩy phát triển mạnh các loại hình kinh tế tập thể với những hình thức hợp tác đa dạng, tự nguyện, đáp ứng nhu cầu của các thành viên, phù hợp với trình độ phát triển của các ngành nghề trên các địa bàn
Tiếp tục nghiên cứu xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới trên cơ sở tổng kết các đơn vị làm tốt để tăng sức hấp dẫn, tạo động lực cho kinh tế tập thể, nhất
là đối với nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Đa dạng hoá hình thức sở hữu trong kinh tế tập thể (có sở hữu pháp nhân, thể nhân) Phát triển các loại hình doanh nghiệp trong hợp tác xã và các hình thức liên hiệp hợp tác xã" [7, tr.235 - 236]
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI
2.1 Sơ lược về quá trình phát triển hợp tác xã nông nghiệp Hà Nội
Hà Nội trước khi mở rộng địa giới hành chính nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, giới hạn trong khoảng từ 20o53' đến 21o23' vĩ độ Bắc và 105o44' đến 106o
kinh độ Đông Hà Nội tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên ở phía Bắc;
Hà Nam, Hoà Bình ở phía Nam; Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông; Hà Tây và Vĩnh Phúc ở phía Tây Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng
từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, điều này được phản ánh rõ nét qua hướng dòng chảy tự nhiên của các con sông chính thuộc địa phận Hà Nội Đại bộ phận diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với độ cao trung bình từ 15m đến 20m so với mực nước biển Khoảng 3/4 diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng hằng năm được bồi đắp một lượng phù sa lớn từ sông Hồng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít Do chịu ảnh hưởng của biển, Hà Nội
có độ ẩm và lượng mưa khá lớn: độ ẩm trung bình hàng năm là 79% và lượng
Trang 37mưa trung bình hằng năm là 1245mm Điều kiện tự nhiên nói trên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Sau cải cách ruộng đất ở miền Bắc muốn có cơ sở để tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa Đảng ta đã lãnh đạo tổ chức hợp tác hoá nông nghiệp trên toàn miền Bắc, coi đó là khâu then chốt trong toàn bộ công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa
Tuy chủ trương thận trọng, tiến hành từng bước từ thấp đến cao nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện nhiều nơi đã nóng vội, làm nhanh theo kiểu chiến dịch, áp dụng cả những biện pháp có tính cưỡng bức, đẩy mạnh phong trào hợp tác hoá nông nghiệp một cách ồ ạt
Hợp tác hoá thời kỳ này được tiến hành theo hình mẫu tập thể hoá (vốn được áp dụng phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa) Đến mùa thu năm 1960 toàn miền Bắc đã căn bản hoàn thành xây dựng hợp tác xã bậc thấp
Sau ngày giải phóng Thủ đô 10-10-1954, Thủ đô Hà Nội cùng với miền Bắc bắt tay ngay vào công cuộc khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa Về nông nghiệp, Hà Nội tiến hành cải cách ruộng đất nhanh gọn đến đầu năm 1956 hoàn thành Ba vạn mẫu ruộng được chia cho nông dân, diện tích cấy trồng, năng suất và sản lượng ngày một tăng Cùng với việc khôi phục sản xuất, nông dân ngoại thành bước vào con đường làm ăn tập thể dưới hình thức đổi công Từ phong trào tổ đổi công tiến lên hợp tác xã nông nghiệp Tháng 6 -1958 hợp tác
xã Đại Từ (Thanh Trì) ra đời Đây là hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của Hà Nội Đến năm 1960 đã có 279 hợp tác xã nông nghiệp với trên 91,3% số hộ nông dân vào hợp tác xã và chiếm 82% diện tích cấy trồng, trong đó có 33 hợp tác xã bậc cao
Trang 38Từ năm 1961 là thời kỳ tăng cường củng cố hợp tác xã nông nghiệp, mở rộng quy mô hợp tác xã, phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện trong đó đặc biệt chú trọng mở rộng quy mô để phát triển lực lượng sản xuất đưa hợp tác xã
từ bậc thấp lên bậc cao Từ năm 1965 - 1975, Hà Nội vừa chống chiến tranh phá hoại vừa chi viện giải phóng miền Nam nhưng với những kết quả đạt được trong phong trào hợp tác hoá, sản lượng lượng thực vẫn tăng 4,3 lần
Đại thắng mùa xuân năm 1975 Hà Nội cùng với cả nước đi lên chủ nghĩa
xã hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12/1976) tiếp tục khẳng định và hoàn thiện quan điểm về tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý nông nghiệp ở các hợp tác xã miền Bắc và triển khai công cuộc tập thể hoá nông nghiệp trên địa bàn phía Nam
Đầu những năm 1980, tình hình sản xuất nông nghiệp Hà Nội cũng như toàn miền Bắc sa sút, nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng Các hợp tác xã thực hiện nhiều chức năng phi kinh tế với chế độ phân phối cấp phát, giao nộp hiện vật chế độ phân phối thu nhập bình quân trong các hợp tác
xã đã vi phạm nghiêm trọng lợi ích kinh tế của người nông dân, không kích thích
họ sản xuất Kết quả là thu nhập của xã viên giảm sút nghiêm trọng Bình quân thu nhập thóc từ hợp tác xã của 1 nhân khẩu/tháng năm 1977 là 12 kg đến năm
1980 còn 10,4 kg
Tháng 12/1986 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới Quá trình đổi mới của nước ta diễn ra một cách đồng
bộ trên nhiều phương diện, trong đó đặc biệt sâu sắc và có tính cách mạng triệt
để là tư duy kinh tế Một trong những nội dung đó là: từ chỗ coi hợp tác xã thuần tuý là kinh tế tập thể theo nghĩa tập thể hoá tư liệu sản xuất đã chuyển sang xác định hợp tác xã là tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở người lao động tự
Trang 39nguyện góp sức, góp vốn và quản lý dân chủ, thực hiện khoán hộ và phát huy vai trò tự chủ hộ xã viên, phát triển nhiều hình thức hợp tác xã đa dạng Kết quả của quá trình đổi mới đó là chỉ trong một thời gian ngắn sản xuất nông nghiệp đã được khôi phục, năng suất lúa của Hà Nội từ 5,3 tấn/ha năm 1987 tăng lên 5,8 tấn/ha năm 1993
Đặc biệt, sự ra đời của Luật hợp tác xã năm 1997 đã ghi nhận một mốc quan trọng của quá trình đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác ở Việt Nam cũng như ở Thành phố Hà Nội Sự nghiệp đổi mới đã làm cho nông nghiệp ở Hà Nội
có bước phát triển đạt nhiều thành tựu, giá trị sản phẩm trên một ha đất canh tác
là 43,7 triệu đồng/ha vào năm 2002
2.2 Tình hình hợp tác xã nông nghiệp ngoại thành Hà Nội
Trước những biến đổi sâu sắc của nền kinh tế thị trường, những hạn chế của hợp tác xã theo mô hình cũ ngày càng bộc lộ Điều đó đòi hỏi phải có sự đổi mới căn bản cả về hình thức tổ chức và cơ chế quản lý trong các hợp tác xã nông nghiệp phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường
Sau khi Luật hợp tác xã 1997 ban hành, quá trình phát triển hợp tác xã nông nghiệp ngoại thành Hà Nội diễn ra với hai hình thức chủ yếu: chuyển đổi hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ thành hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới và thành lập mới các hợp tác xã nông nghiệp, trong quá trình đó một số hợp tác xã nông nghiệp không thể chuyển đổi hoặc hoạt động yếu kém thì phải giải thể
2.2.1 Số hợp tác xã bị giải thể
Bảng 2.2.1 Tình hình hợp tác xã nông nghiệp ngoại thành Hà Nội
năm 2002 và năm 2007
Trang 40Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội
Qua bảng trên ta they, đến năm 2007 ngoại thành Hà Nội có 37 hợp tác xã nông nghiệp giải thể do hoạt động không hiệu quả Trên thực tế thì có một số hợp tác xã chỉ còn tồn tại trên hình thức nhưng chưa tiến hành giải thể được hay
“chết mà chưa được chôn” Nguyên nhân của sự chậm trễ trong việc tiến hành giải thể các hợp tác xã nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội:
Một là, việc xác định tư cách xã viên để phân chia quyền lợi khi giải thể
gặp khó khăn do công tác quản lý nhân sự ở các hợp tác xã này không chặt chẽ, nhiều xã viên còn trong danh sách nhưng đi làm ăn xa khó khăn cho việc liên hệ
Hai là, nhiều hợp tác xã đã ngừng hoạt động nhưng còn nợ đọng thuế,
không có khả năng thanh toán nên gây khó khăn cho công tác giải thể
Ba là, vướng mắc về đất đai - đây là khó khăn cơ bản nhất trong quá trình
tiến hành giải thể các hợp tác xã nông nghiệp Hà Nội Đối với đất đai theo quy định của pháp luật do Nhà nước quản lý, khi tiến hành giải thể hợp tác xã phải bàn giao lại cho chính quyền nhưng có một số vấn đề đặt ra, đó là: Đất đai do hợp tác xã quản lý qua nhiều năm dẫn đến giấy tờ thất lạc nên không xác định được nguồn gốc, do quá trình đô thị hóa và lấn chiếm của người dân nên diện