1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc luận văn ths kinh tế 60 31 01 pdf

121 536 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua các KCN trên địa bàn tỉnh đã trở thành điểm đến của các nhà đầu tư, góp phần quan trọng vào việc phân công lại lao động xã hội phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quố

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CN: Công nghiệp

CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa DDI: Vốn đầu tư trong nước

DN: Doanh nghiệp

FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP: Tổng thu nhập quốc nội

GPMB: Giải phóng mặt bằng

GTSXCN: Giá trị sản xuất công nghiệp KCN, KCX: Khu công nghiệp, khu chế xuất KCNC: Khu công nghệ cao

UBND: Ủy ban nhân dân

USD: Đô la Mỹ

Trang 4

Bảng 2.4 Tỷ lệ lấp đầy các KCN tính theo năm, 2005-2011 47

Bảng 2.5 Tỷ lệ lấp đầy tính theo các KCN đang hoạt động, năm

Bảng 2.11 Đóng góp của các KCN vào ngân sách tỉnh Vĩnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn 8

7 Kết cấu của luận văn 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP 9

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển khu công nghiệp 9

1.1.1 Khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp 9

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển KCN 17

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển của KCN 23

1.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển KCN 26

1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương 26

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Vĩnh Phúc 31

Kết luận chương 1 33

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC 34

2.1 Những thuận lợi, khó khăn trong phát triển khu công nghiệp ở Vĩnh Phúc 34

2.1.1 Những thuận lợi 34

2.1.2 Những khó khăn 39

2.2 Thực trạng phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 41

2.2.1 Quá trình xây dựng và phát triển các KCN tỉnh Vĩnh Phúc 41

2.2.2 Thực trạng phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 45

Trang 6

2.2.3 Đánh giá chung về vai trò của các KCN tỉnh Vĩnh Phúc 67

Kết luận chương 2 75

Chương 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 77

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC 77

3.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển các KCN ở tỉnh Vĩnh Phúc 77

3.1.1 Quan điểm phát triển khu công nghiệp 77

3.1.2 Mục tiêu phát triển các KCN tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 79

3.1.3 Định hướng phát triển các KCN ở Vĩnh Phúc 81

3.2 Các giải pháp phát triển KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 83

3.2.1 Giải pháp về công tác quy hoạch phát triển KCN 83

3.2.3 Hoàn thiện một số cơ chế chính sách về thu hút đầu tư 89

3.2.4 Xây dựng kết cấu hạ tầng KCN đồng bộ, hiện đại 93

3.2.5 Hoàn thiện cơ chế chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và cho thuê đất trong xây dựng khu công nghiệp 96

3.2.6 Phát triển nguồn nhân lực cho phát triển các khu công nghiệp 99

3.2.7 Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư khu công nghiệp 102

3.2.8 Giải quyết tốt vấn đề môi trường 103

3.3 Kiến nghị và đề xuất 107

3.3.1 Đối với UBND tỉnh Vĩnh Phúc 107

3.3.2 Đối với Chính phủ 108

Kết luận chương 3 109

KẾT LUẬN 110

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội và cũng là cửa ngõ nối các tỉnh khu vực Tây Bắc với thủ đô Hà Nội Là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý, thuận lợi cho việc hình thành, phát triển các khu công nghiệp (KCN) nói riêng và phát triển công nghiệp nói chung Xây dựng và phát triển các KCN là một trong những quyết sách trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Vĩnh Phúc

Trong thời gian qua các KCN trên địa bàn tỉnh đã trở thành điểm đến của các nhà đầu tư, góp phần quan trọng vào việc phân công lại lao động xã hội phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Việc phát triển các KCN cũng là điều kiện cho việc hình thành các khu đô thị mới và khu du lịch, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật cho tỉnh nhà

Với phương châm “Tất cả các nhà đầu tư vào Vĩnh Phúc đều là công dân Vĩnh Phúc - Thành công của doanh nghiệp chính là thành công và niềm

tự hào của tỉnh”, Vĩnh Phúc đã có nhiều cố gắng trong thu hút đầu tư, nhờ đó

mà tỉnh đã thu hút được nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước, là điểm đến tin cậy và hấp dẫn của các nhà đầu tư, thúc đẩy công nghiệp Vĩnh Phúc phát triển mạnh, nằm trong tốp đứng đầu cả nước về phát triển công nghiệp nói chung và phát triển các KCN nói riêng

Năm 2011, Vĩnh Phúc thu hút được 70 dự án mới, gồm 59 dự án DDI với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2.230 tỷ đồng và 11 dự án FDI mới với tổng

Trang 8

vốn đầu tư gần 108 triệu USD.Lũy kế đến hết tháng 7 năm 2012, trên địa bàn tỉnh có 630 dự án, trong đó 119 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký là 2.412,85 triệu USD; vốn thực hiện ước đạt 45 % tổng vốn đăng ký và 511 dự án DDI, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 25.231,54 tỷ đồng; vốn thực hiện ước đạt 47,36 % tổng vốn đăng ký Trong đó, các dự án, đặc biệt là các dự án FDI tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp của tỉnh [9]

Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp to lớn đó, việc phát triển các khu công nghiệp cũng bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém: tỷ trọng đóng góp của KCN vào phát triển kinh tế xã hội còn khiêm tốn; chất lượng quy hoạch và quản lý triển khai xây dựng theo quy hoạch chưa cao; việc triển khai đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ và còn chậm; sức thu hút của các dự án vào KCN còn hạn chế, chưa có nhiều dự án công nghệ cao; còn nhiều bất cập trong giải quyết các vấn đề bức xúc của KCN: việc làm và thu nhập cho người dân mất đất do phát triển KCN, vấn đề đời sống của công nhân KCN và nhân dân xung quanh KCN, đặc biệt là vấn đề môi trường sinh thái Những khó khăn, bất cập đó đã và đang là những lực cản làm cho các KCN chưa phát huy tốt vai trò khu kinh tế động lực đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh

Trước những vấn đề đó, cần phải có những nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn về sự phát triển KCN Đưa ra các giải pháp phát triển các KCN một cách cân bằng và hợp lý, không chỉ phát triển về số lượng mà cả về chất lượng của các KCN; phát huy mặt tích cực và khắc phục những hạn chế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN

Xuất phát từ những lý do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Phát triển các

khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài luận văn thạc sỹ

kinh tế chính trị

Trang 9

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Phát triển các KCN luôn được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở các địa phương và trong cả nước Do đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận án, luận văn và các bài viết trên các tạp chí về vấn đề này

“Nghiên cứu mô hình quản lý nhà nước về KCN, KCX ở Việt Nam” (2002) - Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nghiên cứu

kinh nghiệm quản lý của các KCN, KCX của nước ngoài, đánh giá những mặt tốt và những hạn chế của mô hình hiện đại đang áp dụng vào Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số mô hình quản lý mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các KCN, KCX ở Việt Nam

“Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ môi trường ở các KCN, KCX” (2004), của tiến sỹ Trương Thị Minh

Sâm đánh giá khá chi tiết và toàn diện tình trạng ô nhiễm môi trường ở các KCN, KCX vùng kinh tế trọng điểm phía nam, những thách thức đặt ra và đề

ra một hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với các KCN, KCX

Năm 2004, cả nước đã có 6 hội thảo về phát triển KCN, KCX; trong đó

có hội thảo với chủ đề “Phát triển các KCN, KCX ở các tỉnh phía Bắc -

những vấn đề lý luận và thực tiễn” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với

Tạp chí cộng sản và UBND tỉnh Thanh Hoá tổ chức, các bài viết đã đề cập đến các vấn đề như vị trí, vai trò của các KCN, KCX; quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển các KCN, KCX; một số vấn đề lý luận về KCN, KCX; công tác quy hoạch phát triển KCN, KCX; những nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển của các KCN phía Bắc so với phía Nam

Tháng 7/2006, nhân kỷ niệm 15 năm xây dựng các KCN, KCX, Bộ Kế

hoạch và Đầu tư đã tổ chức “Hội nghị - hội thảo quốc gia 15 năm xây dựng

và phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam” tại Long An nhằm nhìn nhận lại

Trang 10

những thành tựu đạt được, những hạn chế và kinh nghiệm xây dựng và phát triển KCN, kiến nghị phương hướng và giải pháp phát triển KCN, KCX ở Việt Nam

“Một số vấn đề kinh tế xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới” (2004) của

GS, TS Nguyễn Văn Thường, tác giả đã có cái nhìn tổng quát về vấn đề phát triển nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, trong đó có những phân tích sâu sắc về vấn đề phát triển các KCN, KCX, khu kinh tế với vai trò đầu tàu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển các vùng kinh tế trọng điểm

Nhiều luận án, luận văn cũng đã đề cập đến vấn đề phát triển KCN:

Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lý nhà nước đối

với các KCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: qua thực tiễn các KCN phía Bắc” (1996) của tác giả Lê Hồng Yến, Trường Đại học Thương mại Tác

giả đã đi vào phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với cá KCN Việt Nam thông qua thực tiễn nghiên cứu, khảo sát các KCN phía Bắc, đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lý nhà nước đối với các KCN

ở Việt Nam

Luận văn thạc sỹ kinh tế “Hiệu quả kinh tế xã hội của các KCN thành

phố Hà Nội” (2006) của tác giả Nguyễn Duy Cường, Học viện CTQGHCM

Tác giả đi sâu phân tích chủ yếu những đóng góp tích cực của các KCN thành phố Hà Nội vào sự phát triển kinh tế xã hội, đề ra những giải pháp để thúc đẩy

sự phát triển các KCN, tăng khả năng đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội cho Hà Nội

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết của các tác giả trên các tạp chí chuyên

ngành cũng đề cập đến vấn đề này: Ngô Thế Bắc (2001) “KCN, KCX ở Việt

Nam hiện nay”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 3; Phan Tiến Ngọc (2006) “Vai trò của KCN, KCX với phát triển kinh tế Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh

tế, số 341; Đinh Hữu Quý (2006) “Mô hình khu kinh tế đặc biệt trong điều

Trang 11

kiện hội nhập”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 403; Phương Ngọc Thạch

(2006) “Các chính sách tác động không thuận lợi đến phát triển các KCN”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 188; Đặng Văn Thắng (2006) “Nâng cao chất

lượng quy hoạch KCN – Bài học thực tiễn và những quan điểm định hướng”,

Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 397

Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển KCN trên bình diện của cả nước hoặc các địa phương khác, đi sâu vào một vấn đề cụ thể để đánh giá Chưa có những phân tích, đánh giá toàn diện về phát triển KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích thực trạng phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm phát triển các KCN một cách cân bằng và hợp lý, không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng; phát huy những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế của việc phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Phân tích những cơ sở lý luận về phát triển khu công nghiệp, đồng thời tham khảo kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển KCN

- Đánh giá thực trạng phát triển các KCN hiện nay tại tỉnh Vĩnh Phúc

- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 12

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Luận văn kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các tác giả, đồng

thời quán triệt các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam trong các Văn kiện Đại hội; các quan điểm, chủ trương, chính sách của tỉnh Vĩnh Phúc trong phát triển các KCN

- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế, trong đó chú trọng đến các phương pháp: Phương pháp duy vật biện chứng; phương pháp lôgic - lịch sử; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh

6 DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

- Luận văn luận giải một cách có hệ thống thực trạng phát triển các KCN của tỉnh Vĩnh Phúc

- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

- Luận văn được bảo vệ thành công có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan hoạch định chính sách của tỉnh Vĩnh Phúc về phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; luận văn

có kết cấu gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển khu công nghiệp

- Chương 2: Thực trạng phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn

tỉnh Vĩnh Phúc - Chương 3: Giải pháp phát triển các khu công nghiệp trên

địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP

1.1.1 Khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm về khu công nghiệp

KCN đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XX Năm 1896, KCN đầu tiên được thành lập ở Manchester (Anh) và vùng CN Clearing Chicago (Mỹ) Năm

1904, Ý thành lập KCN ở Napoli và sau những năm 50 của thế kỉ XX thì sự phát triển các KCN mới bắt đầu bùng nổ Như vậy, lịch sử hình thành và phát triển các KCN trên thế giới đã có hơn 100 năm

Ở Việt Nam, KCN đầu tiên được thành lập ở thành phố Hồ Chí Minh (KCX Tân Thuận), cùng với quá trình 20 năm hình thành và phát triển cũng

đã xuất hiện nhiều khái niệm khác nhau về KCN

- Theo Quy chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo Nghị định 36/CP của Chính phủ ngày 24/4/1997, thì:

+ KCN là khu tập trung các DN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có danh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có khu chế xuất

+ KCX là KCN tập trung các DN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có danh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập

+ KCNC là khu tập trung các DN CN kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt

Trang 14

khoa học công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có danh giới địa lý xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập Trong KCNC có thể có DN chế xuất

- Theo Luật đầu tư năm 2005, khoản 20, 21, 22, 23 điều 3 ghi rõ:

+ KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch

vụ cho sản xuất công nghiệp, có danh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ

+ KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có danh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ

+ Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo DN công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, có danh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ

- Theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định: + KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch

vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này

+ KCX là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa

lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này

Từ các khái niệm trên và thực tế quá trình phát triển KCN ở Việt Nam,

có thể hiểu một cách tổng quát về KCN như sau: "KCN là khu chuyên sản

xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có danh giới địa lý xác định, có kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội đồng bộ, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động, được thành lập

Trang 15

theo quy định của chính phủ Trong KCN có thể có DN chế xuất và DN công nghệ cao."

- tin học, vật liệu xây dựng, chế tạo và lắp ráp cơ khí

+ KCN đa ngành: gồm các xí nghiệp thuộc nhiều ngành công nghiệp khác nhau KCN đa ngành cho phép thoả mãn được yêu cầu về lãnh thổ cho sản xuất công nghiệp, song trong quy hoạch xây dựng cần chú ý vấn đề môi trường nhằm hạn chế tác động xấu giữa các DN với nhau

+ KCN sinh thái: là mô hình mang tính cộng sinh công nghiệp Các ngành công nghiệp được lựa chọn sao cho các nhà máy có mối liên hệ với nhau, hỗ trợ và tương tác với nhau tạo nên môi trường sạch và bền vững Với

mô hình này thì phế liệu của nhà máy này có thể làm nguyên liệu cho nhà máy kia hoặc sản phẩm của nhà máy này sẽ là nguyên liệu, vật tư của nhà máy kia

- Theo quy mô diện tích:

Phân loại theo tiêu chí này, phụ thuộc vào quan điểm của từng nước, chủ yếu để phục vụ cho việc xếp hạng KCN Thông thường có 4 loại là: KCN nhỏ, trung bình, lớn và rất lớn

- Theo các điều kiện hình thành:

Trang 16

Theo cách phân loại này có: các KCN thành lập mới, KCN nâng cấp

mở rộng và KCN di dời tập trung

- Theo đặc điểm và cấp quản lý:

Theo tiêu chí này có 3 loại: KCN do chính phủ thành lập; KCN do UBND tỉnh, thành phố quyết định thành lập; KCN do UBND huyện, thị quyết định thành lập

1.1.1.3 Đặc điểm của khu công nghiệp

Hiện nay, các KCN được phát triển ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển Mặc dù có sự khác nhau về quy mô, địa điểm, phương thức xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng nhìn chung các KCN có các đặc điểm chủ yếu sau:

- KCN là một tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp, luôn gắn liền phát triển công nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng và hình thành mạng lưới đô thị, phân bố dân cư hợp lý

- KCN có chính sách kinh tế đặc thù và ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi và hấp dẫn KCN cho phép các doanh nghiệp sử dụng những phạm vi đất đai nhất định bên trong KCN để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với nhiều ưu đãi như: thủ tục hành chính, giá thuê đất

- Về tính chất hoạt động: KCN là nơi tập trung và thu hút các DN sản xuất công nghiệp và các DN cung cấp các dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất công nghiệp gọi chung là DN Khu công nghiệp

- Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng với những điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như: hệ thống đường xá, điện, nước, thông tin liên lạc, xử lý rác thải Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng thường do chính phủ bỏ ra để san lấp mặt bằng, làm đường giao thông Trong trường hợp nhà nước không đủ vốn đầu tư xây

Trang 17

dựng cơ sở hạ tầng thì nhà nước có thể kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài và trong nước Việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong KCN thường do một công ty phát triển cơ sở hạ tầng đảm nhiệm Các công ty này có thể là DN trong nước,

DN 100% vốn nước ngoài, DN liên doanh thực hiện Các công ty phát triển

cơ sở hạ tầng KCN sẽ xây dựng kết cấu hạ tầng sau đó được phép cho các DN khác thuê lại

- Về tổ chức quản lý: trên thực tế thì các KCN đều thành lập hệ thống Ban quản lý KCN cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN Ngoài Ban quản lý các KCN, tham gia quản lý tại các KCN còn có nhiều Bộ, Ngành: UBND tỉnh, thành phố; Bộ Kế hoạch đầu tư; Bộ Công thương; Bộ Xây dựng; Bộ Tài nguyên môi trường

- Sản phẩm của các doanh nghiệp KCN chủ yếu dành cho thị trường thế giới và phục vụ xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ Tuy nhiên, cũng có rất nhiều doanh nghiệp KCN sản xuất kinh doanh nhằm phục vụ thị trường nội địa

- Mọi hoạt động trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường và diễn biến của thị trường quốc tế Bởi vậy, cơ chế quản lý kinh tế trong KCN đều lấy điều tiết của thị trường làm chính

- KCN có vị trí địa lý xác định nhưng không hoàn toàn tách biệt như KCX Các chế độ quản lý hành chính, các quy định trong nội bộ KCN và với các DN ngoài KCN sẽ rộng rãi hơn Hoạt động trong KCN sẽ là hoạt động của các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước với các điều kiện bình đẳng

- KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại song song DN có vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh, DN 100% vốn nước ngoài, DN liên doanh và DN 100% vốn trong nước

Trang 18

1.1.1.4 Vai trò của khu công nghiệp

Ở hầu hết các nước đang phát triển, KCN đã và đang trở thành mô hình phát triển kinh tế quan trọng Ở nước ta, trải qua một thời gian xây dựng và phát triển, các KCN từng bước khẳng định được vị trí, tầm quan trọng, trở thành một động lực to lớn trong tiến trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Vai trò của KCN thể hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất, KCN tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư Giống như

các nước đang phát triển khác, Việt Nam rất cần vốn, kỹ thuật, thị trường và kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp công nghiệp Song, môi trường kinh doanh tổng thể của đất nước chưa đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư như: điều kiện kết cấu hạ tầng, lao động có tay nghề cao, chất lượng quản lý hành chính Nếu chờ đầu tư để cải thiện môi trường chung thì vừa lâu vừa không khả thi vì nguồn lực trong nước cũng như khả năng hấp thu vốn của nền kinh tế còn thấp Vì vậy, việc xây dựng các KCN là con đường thu hút đầu tư nhanh nhất Bởi vì, trong những danh giới xác định của KCN, nhà nước có thể tập trung nguồn lực của mình nhằm tạo ra kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại, tạo điều kiện giảm bớt chi phí, rủi ro ban đầu cho nhà đầu tư Do đó, các doanh nghiệp KCN có điều kiện thuận lợi để đạt mục tiêu lợi nhuận hơn bên ngoài KCN nên KCN dễ hấp dẫn nhà đầu tư hơn, từ đó khuyến khích họ bỏ vốn đầu tư vào KCN Nhà nước có thể thi hành những hệ thống ưu đãi có chọn lựa khác nhau để thu hút các nhà đầu tư trong khi chưa cải cách ngay được hệ chính sách chung

Thứ hai, KCN góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển

dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế KCN với đặc trưng là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp Một mặt, nó chuyển những vùng đất sản xuất nông nghiệp không hiệu quả sang xây dựng KCN để chuyển đổi sang sản xuất công

Trang 19

nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn Mặt khác, sự phát triển các KCN kéo theo sự phát triển của các khu đô thị mới, các ngành dịch vụ phát triển như: thông tin liên lạc, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải và thương mại Từ đó, cơ cấu GDP của nền kinh tế quốc dân có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng giá trị ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần giá trị tỷ trọng ngành nông nghiệp Chính từ sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại khu vực hình thành KCN, nó đã góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động địa phương theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và tăng tỷ trọng lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Kết quả của quá trình này sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, là cơ sở để cải thiện và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân địa phương

Thứ ba, KCN tạo điều kiện cho việc tiếp nhận, chuyển giao và áp dụng

có hiệu quả những thành tựu khoa học công nghệ tiến tiến, hiện đại hoá cách thức quản lý Việc hình thành các KCN sẽ tạo ra những tiền đề cho phép tiếp nhận những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại hoá cách thức quản lý một cách nhanh chóng và hiệu quả Cùng với dòng vốn lớn đầu tư vào các KCN, các nhà đầu tư còn đưa những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại và trình độ quản lý tiến tiến vào sản xuất, từ đó dẫn đến việc tiếp nhận, chuyển giao và đưa những công nghệ tiên tiến vào nước tiếp nhận đầu tư

Thứ tư, KCN góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Các

KCN là nơi thu hút được nhiều lao động hoạt động trong các doanh nghiệp và trong các lĩnh vực xây dựng, cung cấp dịch vụ cho sản xuất công nghiệp Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy mỗi KCN với diện tích khoảng 100 - 150 ha, khi đã được lấp đầy toàn bộ diện tích sẽ cần số lượng lao động lên đến 15.000 - 18.000 lao động làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp trong KCN Tính đến tháng 9/2012, các KCN trên cả nước đã thu hút được 1,6 triệu lao động trực tiếp và hơn 2 triệu lao động gián tiếp, góp phần

Trang 20

tăng thu nhập đáng kể cho các lao động địa phương có KCN, ổn định và nâng cao đời sống người dân, chất lượng nguồn lao động từng bước được nâng lên thông qua tiếp cận công nghệ sản xuất và phương thức quản lý tiên tiến hiện đại

Trong thực tế những năm gần đây cho thấy hầu hết các KCN đều phải tuyển thêm rất nhiều lao động ở các địa phương khác mới đáp ứng được nhu cầu nguồn lao động ở các KCN Như vậy, các KCN không chỉ giải quyết việc làm cho lao động địa phương mà còn tạo việc làm cho các địa phương khác

Thứ năm, KCN góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường trong quá trình

phát triển công nghiệp Những cơ sở công nghiệp ở thành phố và khu vực dân

cư hiện đại không có khả năng xử lý ô nhiễm môi trường sẽ được di dời vào KCN, đồng thời hạn chế xây dựng các cơ sở công nghiệp mới xen lẫn khu dân

cư KCN tập trung giảm sự tiếp xúc trực tiếp của các khu đô thị với tác động bất lợi của sản xuất công nghiệp như: tiếng ồn, khói bụi, bức xạ Mặt khác, với sự tập trung của các DN sản xuất công nghiệp vào một địa điểm xác định, Ban quản lý các KCN có thể kiểm soát tốt hơn mức độ ô nhiễm của các DN

để có giải pháp thích hợp Đồng thời về phía mình các DN công nghiệp cũng

có điều kiện phòng chống ô nhiễm môi trường với chi phí thấp nhất do sử dụng lại phế thải của nhau, do có sự liên kết xử lý môi trường và sự hỗ trợ tập trung của nhà nước Hơn nữa, KCN được sử dụng các biện pháp triệt để trong

xử lý vấn đề môi trường ngay từ khâu quy hoạch Trong KCN các DN phải có

hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra hệ thống chung Từng KCN phải có nhà máy xử lý nước thải tập trung và được đầu tư xây dựng song song với việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN Như vậy, việc bảo

vệ môi trường trong khu vực KCN được thực hiện tốt hơn các cơ sở công nghiệp nằm rải rác ở nhiều khu vực khác nhau

Thứ sáu, Phát triển KCN còn là giải pháp hữu hiệu để hiện đại hoá hệ

thống kết cấu hạ tầng Cùng với quá trình phát triển KCN, các điều kiện về hạ

Trang 21

tầng kỹ thuật trong khu vực đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh cho các cơ sở dịch vụ trong vùng Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế địa phương Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảm bảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, các loại hình dịch vụ các công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và cư dân trong khu vực như: nhà ở, trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí tạo nên sự đồng bộ trong kết cấu hạ tầng KCN

Ngoài những vai trò cơ bản trên, KCN còn góp phần to lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần tạo ra cơ chế quản lý và mô hình quản lý mới, tạo tiền đề trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế và ổn định thị trường ngoại hối KCN không chỉ trực tiếp thúc đẩy công nghiệp của địa phương và của vùng có KCN phát triển mạnh mẽ, mà còn có tác dụng lan toả rộng rãi tới nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế của địa phương

và của cả nước, thực hiện tốt vai trò của khu kinh tế động lực

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển KCN

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển KCN như: công tác quy hoạch; công tác triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng KCN; chính sách thu hút đầu tư; chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; quá trình triển khai và thực hiện dự án của nhà đầu tư; công tác quản lý nhà nước đối với các KCN; sự phát triển của các loại hình dịch vụ phục vụ KCN; hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN; trình độ khoa học công nghệ của các DN trong KCN; công tác quản lý và bảo vệ môi trường

Các nhân tố trên đều xuất phát từ 2 đối tượng chính, đó là:

Trang 22

- Các cơ quan quản lý nhà nước: là các nhân tố liên quan đến công tác quy hoạch, hoạch định chính sách phát triển, quản lý KCN

- Các doanh nghiệp KCN: (bao gồm cả doanh nghiệp đầu tư xây dựng

và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN) là các nhân tố liên quan đến triển khai xây dựng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

1.1.2.1 Nhóm các nhân tố thuộc về cơ quan quản lý nhà nước

- Công tác quy hoạch KCN:

Thực hiên tốt công tác lập quy hoạch các KCN có tác động rất lớn đến quá trình phát triển của KCN, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của KCN trong quá trình phát triển KT - XH địa phương

Trong công tác quy hoạch thì yếu tố quan trọng nhất chính là xem xét việc lựa chọn vị trí đặt KCN sao cho KCN vừa có khả năng thu hút đầu tư cao (có vị trí địa lý thuận lợi về giao thông và kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ sinh hoạt), vừa gắn kết chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển KT- XH của địa phương, của vùng, của đất nước đảm bảo tác dụng lan toả, kích thích sự phát triển KT - XH của địa phương, của vùng, của đất nước, không ảnh hưởng đến

sự phát triển của các ngành khác, đặc biệt là vấn đề an ninh lương thực

Trong công tác quy hoạch cần chú ý việc gắn kết chặt chẽ quy hoạch xây dựng KCN với quy hoạch xây dựng các khu đô thị, dịch vụ đảm bảo giải quyết nhà ở, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động thông qua các dịch vụ: khám chữa bệnh, đầu tư xây dựng trường học, khu vui chơi giải trí, trung tâm thương mại, đồng thời tạo việc làm nâng cao thu nhập của nhân dân khu vực có đất bị thu hồi để xây dựng KCN

Để thực hiện tốt công tác quy hoạch KCN, các cơ quan quản lý nhà nước cần phải có định hướng đúng đắn, xác định rõ mục tiêu hình thành KCN, có sự thống nhất quan điểm, nhận thức về KCN và việc hình thành

Trang 23

KCN Nếu không sẽ dẫn đến những quan điểm, nhận thức sai lệch, từ đó dẫn đến những sai lầm trong thực hiện công tác quy hoạch KCN

Việc sai sót trong quy hoạch KCN gây ra những tổn thất và ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển KT - XH của địa phương: Sai sót trong công tác lập quy hoạch KCN sẽ dẫn đến tình trạng quy hoạch treo (chậm triển khai hoặc không triển khai được); gây lãng phí nguồn lực đầu tư: vốn, tài nguyên đất; gây ảnh hưởng đến sự phát triển của các ngành khác: nông nghiệp, giao thông, văn hoá, du lịch Điều đó đồng nghĩa với sự không hiệu quả của KCN

và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững KCN

- Các chính sách phát triển KCN:

Trong phát triển KCN thì việc xây dựng các chính sách đối với KCN có

ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành và phát triển KCN, đặc biệt là việc phát triển nội tại KCN

Các chính sách phát triển KCN bao gồm: chính sách ưu đãi đầu tư; chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; chính sách thu hút, xúc tiến đầu tư, thực hiện các thủ tục hành chính; chính sách phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ KCN Các chính sách hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế - chính trị của đất nước, của địa phương, đảm bảo các thông lệ quốc tế, thì sẽ:

+ Tạo thuận lợi cho các DN nâng cao khả năng huy động các nguồn vốn hợp pháp, hoàn thiện các thủ tục pháp lý để đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại và thực hiện dự án theo đúng tiến độ đặt ra, tránh gây lãng phí trong việc sử dụng các nguồn lực: vốn, đất đai trong quá trình đầu tư xây dựng; giải quyết tốt vấn đề gây ô nhiễm môi trường từ hoạt động KCN

+ Nâng cao khả năng thu hút đầu tư, thu hút những dự án đầu tư có hiệu quả KT - XH cao, nhanh chóng lấp đầy KCN

Trang 24

+ Kích thích nhà đầu tư đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh; đầu

tư mở rộng, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh; đầu tư phát triển khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ hiện đại vào trong sản xuất nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh của DN, nâng cao hiệu quả hoạt động của DN và của KCN

+ Cung cấp nguồn nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng đáp ứng yêu cầu hoạt động sản xuất của DN; hỗ trợ cung cấp các dịch vụ phục vụ đầu tư, sản xuất; giải quyết những vấn đề xã hội: nhà ở, khám chữa bệnh, trường học, vui chơi giải trí, việc làm tạo nên sự yên tâm và ổn định trong hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN và của KCN

Ngược lại, các chính sách không phù hợp sẽ không kích thích được hoạt động đầu tư; không thu hút được các nhà đầu tư vào KCN hoặc thu hút các nhà đầu tư không đủ năng lực, những dự án không hiệu quả gây nên sự lãng phí tài nguyên đất; thu hút những dự án sử dụng công nghệ lạc hậu gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và tạo nên nguy cơ biến KCN thành bãi thải công nghệ lạc hậu; gây nên sự mất ổn định về trật tự xã hội

Như vậy, các chính sách phù hợp sẽ đẩy mạnh sự phát triển nội tại KCN theo hướng bền vững và ngược lại Tuy nhiên, bên cạnh việc xây dựng các chính sách đúng đắn và hợp lý thì việc tổ chức thực hiện hiệu quả các chính sách trên có ý nghĩa quyết đinh, thúc đẩy sự phát triển của KCN

- Công tác quản lý nhà nước đối với việc triển khai đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; triển khai thực hiện dự án và tổ chức sản xuất kinh doanh của các DN trong KCN:

Quản lý tốt việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đảm bảo việc thực hiện đầu tư xây dựng theo đúng quy hoạch KCN đã được duyệt, đảm bảo hạ tầng kỹ thuật KCN được xây dựng đồng bộ, đúng tiến độ, trên quan điểm sử

Trang 25

dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đảm bảo nâng cao khả năng thu hút đầu

tư, yêu cầu cảu các DN đầu tư vào KCN, không gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, giải quyết tốt các nhân tố có thể gây tổn hại đến môi trường, nâng cao khả năng cải thiện môi trường sinh thái Nếu không thực hiện tốt công tác quản lý sẽ gây ra tình trạng quy hoạch KCN bị phá vỡ, chậm triển khai đầu tư xây dựng hoặc đầu tư không đồng bộ gây lãng phí vốn, đất đai và không giải quyết tốt các vấn đề về môi trường sinh thái

Đồng thời quá trình quản lý triển khai dự án và tổ chức sản xuất kinh doanh của các DN KCN sẽ giúp cơ quan quản lý nhà nước rà soát, loại bỏ những DN không thực sự đủ năng lực đầu tư, những dự án hoạt động không hiệu quả, thay thế bằng những dự án, nhà đầu tư có hiệu quả hơn góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN, nhằm đạt được sự tăng trưởng cao của các DN và của KCN, giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực: đất đai, vốn, lao động

Việc thiếu chặt chẽ trong quản lý triển khai dự án và tổ chức sản xuất kinh doanh của các DN sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí tài nguyên đất, đình trệ sản xuất, đặc biệt là việc không triển khai đầu tư các hạng mục xử lý môi

trường và xuất hiện tình trạng đầu cơ đất KCN

1.1.2.2 Nhóm các nhân tố thuộc về các doanh nghiệp KCN

- Công tác đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng của DN đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và triển khai dự án của các DN đầu tư vào KCN:

Nhân tố này có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo phát triển KCN Việc triển khai xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng sẽ nâng cao hình ảnh của KCN trong thu hút đầu tư, đẩy nhanh quá trình lấp đầy KCN Đảm bảo có sự kết nối đồng bộ với hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào KCN, đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của nhà đầu tư trong việc triển khai dự

án, tổ chức sản xuất kinh doanh, phục vụ nhu cầu về đời sống vật chất và tinh

Trang 26

thần của người lao động Xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống xử lý chất thải, nước thải đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường từ hoạt động của KCN

Việc triển khai đầu tư của các doanh nghiệp KCN đảm bảo đưa dự án đầu tư vào hoạt động đúng tiến độ, tiết kiệm các nguồn lực đầu tư, tạo công

ăn việc làm cho người lao động, góp phần phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp và của KCN

Công tác đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng không đồng bộ và chậm triển khai dự án của các nhà đầu tư vào KCN sẽ dẫn đến việc sử dụng lãng phí các nguồn lực đầu tư, nảy sinh tình trạng "sa mạc hoá" do không có doanh nghiệp đầu tư; không đảm bảo đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất của các doanh nghiệp KCN, tạo nên các yếu tố ảnh hưởng xấu đến môi trường

- Nhân tố trình độ khoa học công nghệ của các doanh nghiệp KCN:

Trình độ khoa học, công nghệ áp dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp KCN ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất và khả năng phát triển của KCN Việc đầu tư công nghệ hiện đại phục vụ sản xuất sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm được chi phí sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm cũng như khả năng cạnh tranh của DN, đồng thời giảm thiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường, đảm bảo cho DN phát triển nhanh chóng

Nếu trình độ khoa học công nghệ lạc hậu trong sản xuất sẽ có tác dụng ngược lại Cùng với việc gây lãng phí nguồn lực sản xuất, chất lượng sản phẩm

và khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp kém, gây ảnh hưởng đến môi trường

Các nhân tố trên đều thuộc các DN đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và các DN đầu tư vào KCN Việc thực hiện đầu tư hạ tầng đồng bộ, hiện đại; việc triển khai dự án đúng tiến độ của các DN; yêu cầu đặt ra là các DN phải

có đủ năng lực tài chính, khả năng huy động các nguồn vốn để đầu tư một

Trang 27

cách có hiệu quả Do đó, cần có chính sách hỗ trợ các DN trong việc huy

động các nguồn vốn để thực hiện đầu tư Đồng thời cần có sự kiểm soát chặt

chẽ của cơ quan quản lý nhà nước để hạn chế những mặt tiêu cực

Qua phân tích trên cho thấy, mỗi nhân tố đều có những ảnh hưởng tích

cực (nếu thực hiện tốt) và ảnh hưởng tiêu cực (nếu thực hiện không tốt) đến

quá trình hình thành và phát triển KCN Do đó, tuỳ từng thời kỳ và đặc điểm

của từng địa phương cần có những giải pháp hữu hiệu, cụ thể để đảm bảo cho

các nhân tố trên phát huy tốt nhất những tác động tích cực thúc đẩy quá trình

phát triển KCN

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển của KCN

1.1.3.1 Tiêu chí đánh giá phát triển nội tại KCN

- Vị trí địa lý của khu công nghiệp:

Lợi thế về vị trí địa lý của KCN là tiền đề giúp cho các doanh nghiệp

đạt được hiệu quả kinh tế cao Các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng kỹ

thuật, gần các trục đường giao thông, bến cảng, nhà ga, sân bay, sự hấp dẫn

về thị trường các yếu tố đầu vào (nguyên vật liệu, nguồn nhân lực) và thị

trường tiêu thụ sản phẩm, có ảnh hưởng quan trọng đến sự lựa chọn đầu tư

của các doanh nghiệp

- Chất lượng quy hoạch khu công nghiệp:

Tiêu chí này nhằm đảm bảo tính chất bền vững ngay từ giai đoạn đầu

của quá trình quy hoạch, sử dụng và phát triển KCN Nó thể hiện ở tính hợp

lý, đồng bộ, khoa học, thực tiễn và hiệu quả trong quy hoạch các yếu tố chủ

đạo của KCN như: xác định các lĩnh vực và ngành thu hút đầu tư, đất đai, các

khu chức năng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, điện, nước, thông tin, viễn thông, dịch

vụ, nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế, bảo vệ và cải thiện môi trường, thu

hút lao động, có mối liên kết hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào KCN

- Tỷ lệ lấp đầy KCN:

Trang 28

Tiêu chí này được xem xét căn cứ vào mục tiêu quy hoạch và điều kiện hoạt động của KCN Làm căn cứ để đánh giá hiệu quả việc sử dụng mặt bằng KCN, nó được xác định bằng tỷ lệ diện tích đất KCN đã cho thuê so với tổng diện tích đất quy hoach KCN để cho thuê Qua đó, cũng có thể so sánh được sự thành công trong việc khai thác, sử dụng diện tích đất giữa các KCN với nhau

- Tổng số vốn đăng ký và vốn đầu tư thực hiện:

Tiêu chí này phản ánh tổng vốn đầu tư thu hút vào KCN, qua đó tính toán các chỉ tiêu: số dự án đầu tư, vốn đầu tư bình quân của một dự án và tỷ suất vốn đầu tư trên 01 ha đất cho thuê, tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện trên tổng vốn thu hút, tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư

- Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN:

Tiêu chí này bao gồm: tổng doanh thu, tổng giá trị sản xuất công nghiệp; tổng số lao động thu hút, thu nhập bình quân của người lao động; năng suất lao động tính theo doanh thu; tổng vốn kinh doanh; giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu; đóng góp vào ngân sách nhà nước

- Trình độ công nghệ của các DN trong KCN:

Tiêu chí này phản ánh khả năng cạnh tranh của các DN trong nội bộ KCN cũng như giữa các KCN với nhau, nó được thể hiện: số lượng và cơ cấu máy móc thiết bị sử dụng trong KCN; tỷ lệ máy móc thiết bị mới so với tổng

số máy móc thiết bị sử dụng; độ tuổi trung bình của công nghệ hoạt động trong DN, tỷ lệ vốn đầu tư cho hoạt động chuyển giao, nghiên cứu và áp dụng công nghệ mới trên tổng vốn đầu tư của KCN, thông tin về công nghệ, xuất

xứ của công nghệ

- Hệ số chuyên môn hoá và liên kết kinh tế:

Đây là tiêu chí phản ánh tính hiệu quả trong hoạt động của toàn KCN, tính chất tiên tiến trong tổ chức sản xuất phù hợp với xu thế phát triển của phân công lao động xã hội theo hướng hiện đại, nó được thể hiện: tỷ lệ doanh

Trang 29

thu của mặt hàng chuyên môn hoá chiếm trong tổng doanh thu, tỷ lệ số DN có liên kết kinh tế với nhau trong tổng DN nằm trong KCN, hệ số liên kết kinh tế của KCN với các KCN khác và số DN ở bên ngoài có trao đổi kinh tế, kỹ thuật với KCN

- Mức độ thoả mãn nhu cầu cho các nhà đầu tư:

Tiêu chí này phản ánh mức độ hấp dẫn nội bộ của KCN đối với các nhà đầu tư và được thể hiện ở: mức độ đảm bảo của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh

tế - kỹ thuật của KCN: điện, nước, kho tàng, bến bãi, đường xá, phương tiện vận chuyển, bưu chính, thông tin, tài chính, ngân hàng

1.1.3.2 Tiêu chí đánh giá tác động lan toả của KCN

- Tiêu chí về kinh tế - kỹ thuật:

Tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đóng góp vào ngân sách địa phương; thu nhập bình quân đầu người tính cho toàn khu vực hoặc địa phương, so với mức chung của cả nước; chuyển dịch cơ cấu kinh

tế của địa phương có KCN; đóng góp của KCN cho ngân sách địa phương: quy mô và tỷ lệ thu ngân sách địa phương từ KCN; số lượng và chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của địa phương có KCN

- Tiêu chí phản ánh về môi trường:

Trang 30

Tiêu chí này xác định việc giải quyết các vấn đề về môi trường từ hoạt động của KCN và việc sử dụng hiệu quả tài nguyên đất trong quá trình phát triển KCN: mức độ khai thác hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên; tỷ lệ diện tích đất bị bỏ hoang do DN chậm triển khai trên tổng diện tích đất cho thuê của KCN; mức độ giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường KCN (hệ thống

xử lý chất thải tập trung), đặc biệt là các KCN gần khu dân cư; mức độ ứng dụng công nghệ sạch và công nghệ ít gây ô nhiễm môi trường

1.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển KCN

1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương

1.2.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương

* Những thành công tiêu biểu:

Tỉnh Hải Dương có diện tích tự nhiên hơn 1.600 km2 với dân số trên 1,7 triệu người Tỉnh có nhiều ưu thế lớn về giao thông, bên cạnh đó với vị trí nằm giữa tam giác động lực phát triển kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh đã tạo cho Hải Dương có tiềm năng, lợi thế nổi bật để phát triển KCN Không chỉ lợi thế về vị trí địa lý, Hải Dương còn có nguồn nhân lực dồi dào với số người trong độ tuổi lao động (từ 15 - 60 tuổi) năm 2011 chiếm 64,62% dân số toàn tỉnh

Với những lợi thế đó, đến nay trên địa bàn tỉnh, Chính phủ cho phép quy hoạch, đầu tư xây dựng 18 khu công nghiệp tập trung với diện tích quy hoạch gần 4.000 ha; trong đó 10 khu công nghiệp được phê duyệt quy hoạch chi tiết với diện tích 2.086 ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân của các khu công nghiệp đã được giao đất và xây dựng hạ tầng đạt khoảng 60% Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã có 236 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) của các nhà đầu tư đến từ 24 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với tổng vốn đăng ký là 5,650 tỷ USD Vốn FDI thực hiện tại tỉnh Hải Dương ước đạt 2,208 tỷ USD, bằng 39,1% tổng vốn đăng ký Trong 6 tháng đầu năm

Trang 31

2012, tỉnh Hải Dương thu hút thêm 76,3 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Trong đó, tổng vốn đăng ký mới là 21,8 triệu USD Số vốn thực hiện của các dự án FDI trong 6 tháng đầu năm tại tỉnh Hải Dương đạt 212 triệu USD, tăng 48,9% so với cùng kỳ năm 2011 Thu hút hàng nghìn lao động trực tiếp và lao động gián tiếp khác [11]

Quá trình nỗ lực phấn đấu, tập trung xây dựng các KCN ở Hải Dương

đã tạo ra những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội Tốc độ tăng trưởng khá, quy mô kinh tế được cải thiện Cụ thể, giai đoạn 2006-2010, GDP tăng bình quân 9,8%/năm; năm 2011, GDP trên địa bàn tỉnh đạt 9,3%

Cơ cấu kinh tế của Hải Dương tiếp tục chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH Việc phát triển các KCN đã góp phần tạo ra năng lực sản xuất mới, các sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao trên thị trường, đồng thời tạo điều kiện khai thác nguồn lực của địa phương mà trước đây còn ở dạng tiềm năng, như đất đai, nhà xưởng, nguồn nhân lực… giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, tăng nguồn thu cho ngân sách của địa phương

* Những hạn chế trong phát triển các KCN ở Hải Dương:

Dù đã có nhiều thành công trong phát triển các KCN nhưng Hải Dương vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục: cơ cấu đầu tư theo ngành, vùng lãnh thổ, đối tác còn chưa phù hợp với yêu cầu, định hướng thu hút đầu tư và

sự phát triển của địa phương; đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông - lâm - thủy sản đến nay còn rất thấp; các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn tập trung chủ yếu ven Quốc lộ 5A, khu vực có nhiều thuận lợi về giao thông và kết cấu hạ tầng; tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện trên tổng lượng vốn đầu

tư đăng ký còn thấp; vẫn còn một số doanh nghiệp triển khai dự án chậm, dẫn

đến thực trạng lãng phí đất đai, nguồn lực và gây ô nhiễm môi trường

* Bài học kinh nghiệm từ Hải Dương:

Trang 32

Từ kết quả nêu trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong phát triển các KCN Hải Dương như sau:

- Tỉnh luôn chú trọng rà soát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các KCN; điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển CN của tỉnh đến năm

2020 Tiếp tục hoàn thiện quy hoạch và thu hút các nguồn vốn để đầu tư hoàn thiện đồng bộ hạ tầng các KCN Nâng cao hiệu quả sử dụng và tỉ lệ lấp đầy các KCN Rà soát, xây dựng danh mục các sản phẩm, nhóm sản phẩm, ngành

CN ưu tiên thu hút đầu tư

- Phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế - kỹ thuật đồng bộ với quy hoạch xây dựng KCN, khu đô thị Hải Dương đã đầu tư 1.028 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách để xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, gồm 152 km đường

tỉnh, đường huyện và 28 cây cầu

- Có nhiều giải pháp cụ thể, tạo ra sự thông thoáng thật sự và đồng bộ

trong cải cách hành chính một cửa liên thông, xóa bỏ tình trạng "một cửa nhưng nhiều khóa", tạo ra môi trường minh bạch để nâng cao khả năng cạnh tranh, thu hút đầu tư và phát triển

- Ưu tiên phát triển công nghệ sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao và các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh Không cấp phép cho các

dự án công nghệ lạc hậu, sử dụng nhiều đất, tác động xấu đến môi trường; thẩm định dự án, có những tiêu chuẩn, rào cản kỹ thuật để ngăn các dự án công nghệ lạc hậu và tác động xấu đến môi trường

- Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước

1.2.1.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh

* Những thành công tiêu biểu:

Bắc Ninh có diện tích tự nhiên hơn 800km2, dân số khoảng 1 triệu người với gần 700.000 lao động Là tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Bắc của thủ đô

Trang 33

Hà Nội trong tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh,

có các đường giao thông lớn quan trọng chạy qua, nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, thương mại và văn hoá của miền Bắc Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội và giao lưu với bên ngoài

Toàn tỉnh Bắc Ninh hiện có 15 KCN tập trung đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạch chi tiết, tổng vốn đầu tư hạ tầng đạt 865 triệu USD 10 KCN

đã đi vào hoạt động, 5 KCN đang làm thủ tục triển khai xây dựng Tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất quy hoạch KCN đạt 53,35 %, tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất thu hồi cho thuê đạt 74,84% Đã thu hút được các dự án đầu tư lớn trong

và ngoài nước, có công nghệ hiện đại như: Samsung, Canon, ABB… phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn là: điện tử, cơ khí chế tạo, chế biến công nghệ cao… Đã thu hút được 500 dự án với tổng vốn đăng ký 3.782,21 triệu USD Hiện có 263 dự án đi vào hoạt động (trong đó 132 dự án FDI) Giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp KCN (không tính công ty đầu tư phát triển hạ tầng) đạt 51.927,5 tỷ đồng

Năm 2011, các KCN Bắc Ninh đã thu hút hơn 30.100 lao động, nâng tổng số lao động đang làm việc tại các KCN lên hơn 87.000 lao động Trong

đó, số lao động địa phương là hơn 35.600 lao động, chiếm 41%; mức thu nhập bình quân 2,4 triệu đồng/người/tháng Trong năm đã có 33 dự án mới đi vào hoạt động, đã thu hút được một số dự án lớn như: tập đoàn Nokia, dự án Ojitex, dự án Vinasoy, dự án AsianPacking…Giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp trong KCN không ngừng tăng Giá trị xuất khẩu đạt hơn 6,5

tỷ USD; giá trị nhập khẩu đạt khoảng hơn 5,8 tỷ USD, nộp ngân sách nhà nước hơn 2650 tỷ đồng [10]

Nhờ những kết quả đó, trong 15 năm qua, Bắc Ninh từ một tỉnh nông nghiệp thuần tuý thì đến nay đang tiến nhanh trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá: quy mô kinh tế lớn mạnh không ngừng, năm 2011 gấp 6,6

Trang 34

lần so với năm 2007 Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao và ổn định, bình quân đạt 14,1%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng

GDP bình quân đầu người năm 2011 đạt 2.130 USD (năm 1997 là 196 USD) Công nghiệp phát triển nhanh, tính chung toàn ngành tăng bình quân 38%/năm, đưa Bắc Ninh đứng trong top 10 tỉnh có giá trị sản xuất công nghiệp cao nhất toàn quốc

* Những hạn chế trong phát triển các KCN ở Bắc Ninh:

Bên cạnh những thành tựu to lớn đó, việc phát triển các KCN tỉnh Bắc Ninh vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục như: quy mô KCN chưa được lượng hoá cho phù hợp với định hướng phát triển chung của tỉnh, chức năng KCN chuyên ngành chưa rõ rệt, chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp mũi nhọn Bài toán về lao động và cơ cấu lao động chưa cân bằng Trình dộ tay nghề, kỹ năng và ý thức làm việc của người lao động còn thấp Một số doanh nghiệp được cấp phép nhưng không triển khai xây dựng, triển khai chậm tiến độ hoặc cầm chừng, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư Cũng có doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định về chế

độ báo cáo gây khó khăn cho công tác tổng hợp, phân tích và dự báo của các

cơ quan quản lý nhà nước Các công ty đầu tư hạ tầng KCN chưa có khu lưu trữ chất thải tạm thời theo quy định, hệ thống xử lý nước thải tập trung xây dựng chậm so với tiến độ đề ra Vẫn còn doanh nghiệp chưa thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật…

* Bài học kinh nghiệm từ Bắc Ninh:

Từ sự phát triển nhanh chóng của các KCN Bắc Ninh có thể rút ra một

số kinh nghiệm cụ thể sau:

- Tỉnh luôn coi trọng công tác quy hoạch KCN song song với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư Gắn xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật với

Trang 35

hạ tầng xã hội nhằm triển khai thành công mô hình KCN - đô thị và bảo đảm

an sinh xã hội

- Đổi mới công tác xúc tiến, thu hút đầu tư, tập trung vào các thị trường lớn, tiềm năng như châu Âu, Mỹ, Nhật,…để thu hút các dự án có vốn đầu tư lớn, sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, có giá trị gia tăng cao, tạo môi trường đầu tư lành mạnh

- Tiến hành công tác bồi thường GPMB nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư

- Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước, nhất là quản lý môi trường đối với các KCN Hỗ trợ và giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc, tạo sự tin tưởng của nhà đầu tư, doanh nghiệp Tăng cường công tác quản lý nhà nước sau đầu tư

- Thúc đẩy việc phát triển các KCN chuyên ngành, tạo lập ngành công nghiệp mũi nhọn (điện tử, viễn thông) và công nghiệp hỗ trợ

- Nâng cao chất lượng nguồn lao động nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp KCN, khuyến khích người lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp

- Đôn đốc các chủ đầu tư hạ tầng và các doanh nghiệp thứ cấp thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Vĩnh Phúc

Từ thực tế và kinh nghiệm phát triển KCN của các địa phương, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích nhằm phát triển các KCN của Vĩnh Phúc:

Thứ nhất, quy hoạch KCN phải được hết sức quan tâm, phải thường

xuyên rà soát, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế; đồng thời công tác triển khai thực hiện quy hoạch phải linh hoạt, thông thoáng Quy

Trang 36

hoạch phải mang tính toàn diện và hợp lý giữa quy hoạch trong và ngoài hàng rào KCN Đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các KCN trong khu vực

Thứ hai, cơ sở hạ tầng KCN phải đi trước một bước

Phát triển KCN cũng có nghĩa là phát huy vai trò hạt nhân của nó đối với sự hình thành những đô thị hiện đại, muốn vậy phải chú ý đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước, gắn việc xây dựng

cơ sở hạ tầng trong KCN với cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào KCN một cách đồng bộ, hiện đại

Thứ ba, phát triển KCN cần có sự lựa chọn kỹ lưỡng, tránh phát triển ồ

ạt, xé rào Trong bối cảnh hiện nay, cần lựa chọn những ngành có hàm lượng công nghệ cao để nâng cao sức cạnh tranh, tránh những ngành sử dụng công nghệ lạc hậu, tốn nhiều đất đai và gây ảnh hưởng xấu đến môi trường; chuyển dần từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu và bảo vệ môi trường sinh thái

Thứ tư, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước

Việc phát triển KCN muốn đạt kết quả tốt cần có sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên, nhạy bén và dám chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương, của Ban quản lý các KCN; sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ của các

Sở, Ban, Ngành liên quan trong quản lý cũng như trong giải quyết những khúc mắc của doanh nghiệp và nhà đầu tư

Thứ năm, cần kết hợp giữa khâu cấp phép và khâu thanh tra, giám sát

hoạt động của KCN; đặc biệt là việc kiểm tra sau cấp phép Đảm bảo việc cấp phép nhanh chóng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của các nhà đầu tư; tuy nhiên phải thực hiện chặt chẽ và thường xuyên công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, chế độ báo cáo của các DN tới các cơ quan quản lý nhà nước nhằm đảm bảo hoạt động của các DN lành mạnh, đúng pháp luật

Trang 37

Thứ sáu, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo những điều kiện

thuận lợi nhất cho nhà đầu tư và DN Đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế quản lý

"một cửa tại chỗ", tăng cường mối liên kết giữa Ban quản lý và các DN

Thứ bảy, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm

nâng cao trình độ tay nghề cũng như kỷ luật lao động, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của các DN Bên cạnh đó, cần quan tâm giải quyết đời sống vật chất, tinh thần của người lao động, đặc biệt là vấn đề nhà ở cho người lao động các KCN để họ yên tâm lao động và nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm

Kết luận chương 1

KCN là một khái niệm rộng, gắn liền với điều kiện hình thành và phát triển cụ thể ở mỗi quốc gia KCN được hình thành và phát triển do những yêu cầu khách quan, có mục tiêu xác định phù hợp với trình độ phát triển của mỗi quốc gia Quan niệm đúng về KCN không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa tính thực tiễn cao, khẳng định sự cần thiết ra đời và phát triển của nó

Từ khi ra đời cho đến nay, các KCN ngày càng thể hiện rõ vai trò to lớn đối với quá trình CNH, HĐH đất nước Sự ra đời và không ngừng lớn mạnh của các KCN tác động mạnh mẽ tới sự phát triển KT - XH của đất nước Các KCN tạo động lực cho thu hút đầu tư, tận dụng các nguồn lực: vốn, công nghệ, lao động; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái; hình thành và phát triển các khu dân cư, khu

đô thị, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng đời sống dân cư, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế

Để KCN phát huy tốt hơn nữa vai trò của mình, chúng ta cần xác định được các tiêu chí đánh giá sự phát triển của KCN, các nhân tố ảnh hưởng đến

sự phát triển của KCN, từ đó có những tác động cần thiết và đúng hướng nhằm thúc đẩy sự phát triển của các KCN

Trang 38

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001- 201

Nguồn: Niên giám Thống kê Vĩnh Phúc năm 2010

Trang 39

Thu ngân sách liên tục tăng, đặc biệt là trong 3 năm trở lại đây; đạt 3.182,9 tỷ đồng vào năm 2005 và 14.505 tỷ đồng vào năm 2010, năm 2011 tổng thu ngân sách đạt 16.484 tỷ đồng Cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, đời sống dân cư ở Vĩnh Phúc có bước cải thiện đáng kể: GDP bình quân đầu người trong tỉnh cũng tăng khá nhanh Năm 2000 GDP/người của tỉnh (giá thực tế) mới chỉ đạt 3,83 triệu đồng, bằng 78,2% GDP vùng Đồng bằng sông Hồng và 67,2% so với cả nước Nhưng đến năm 2007, GDP/người của tỉnh đã đạt 15,74 triệu đồng, cao hơn so mức trung bình đồng bằng Sông Hồng (14,5 triệu đồng) và cao hơn nhiều so với mức bình quân cả nước (13,421 triệu đồng) Năm 2008 GDP bình quân đầu người (theo giá thực tế) đạt 22,2 triệu đồng (tương đương khoảng 1.300 USD), cao gấp 1,29 lần so với mức bình quân chung cả nước (17,2 triệu đồng) Năm 2010, chỉ tiêu này đạt 33,6 triệu đồng, GDP bình quân/ người (theo giá thực tế) năm 2011 đạt khoảng 43 triệu đồng/ người (tương đương với trên 2.000 USD/năm) Nhiều công trình phúc lợi công cộng, hạ tầng kỹ thuật quan trọng được xây dựng tạo điều kiện giao lưu hàng hoá, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã giảm từ 18,3% (theo chuẩn QG mới) năm 2005 xuống 6% vào năm 2010 Công tác giải quyết việc làm luôn được chú trọng, số lao động được sắp xếp việc làm năm sau luôn cao hơn năm trước Năm 2007 có 17,8 ngàn lao động được sắp xếp việc làm, năm 2010 ước tính có khoảng 21 ngàn lao động được sắp xếp việc làm, trong đó số được sắp xếp chỗ làm ổn định là

16 ngàn người [60]

Những thành tựu to lớn về kinh tế là điều kiện quan trọng tạo ra sức mạnh để tỉnh có thể phát triển toàn diện về mọi mặt, trong đó có việc phát triển các KCN

- Về vị trí địa lý:

Tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên là 1.236,5 km2, dân số là

Trang 40

1.008,3 nghìn người, mật độ dân số 820 người/km2; là tỉnh thuộc Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ:

+ Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang

+ Phía Tây giáp Phú Thọ

+ Phía Đông và phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội

Tỉnh lỵ của Vĩnh Phúc là Thành phố Vĩnh Yên, cách trung tâm thủ đô

Hà Nội 50km và cách sân bay quốc tế Nội Bài 25km Vĩnh Phúc có vị trí quan trọng đối vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt đối với Thủ đô Hà Nội: kinh tế Vĩnh Phúc phát triển sẽ góp phần cùng Thủ đô Hà Nội thúc đẩy tiến trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, giải quyết việc làm, giảm sức ép về đất đai, dân số, các nhu cầu về xã hội, du lịch, dịch vụ của thủ đô Hà Nội

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong các năm qua đã tạo cho Vĩnh Phúc những lợi thế mới về vị trí địa lý kinh tế, tỉnh đã trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc Đồng thời, sự phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc tế và quốc gia liên quan đã đưa Vĩnh Phúc xích gần hơn với các trung tâm kinh tế, công nghiệp và những thành phố lớn của quốc gia và quốc tế thuộc hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Quốc lộ 2 Việt Trì - Hà Giang - Trung Quốc, hành lang đường 18 và trong tương lai là đường vành đai IV thành phố Hà Nội

Địa hình tương đối bằng phẳng, nền địa chất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình công nghiệp và KCN

Vị trí địa lý đã mang lại cho Vĩnh Phúc những thuận lợi trong phát triển kinh tế – xã hội: nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, gần Thành phố Hà Nội nên có nhiều thuận lợi trong liên kết, giao thương hàng hoá, lao động kỹ thuật

- Về hệ thống giao thông:

Ngày đăng: 19/12/2015, 02:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001- 201 - Phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001- 201 (Trang 38)
Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Phúc - Phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Bảng 2.2 Hiện trạng sử dụng nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Phúc (Trang 43)
Bảng 2.4: Tỷ lệ lấp đầy các KCN tính theo năm, từ 2005 – 2011 - Phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Bảng 2.4 Tỷ lệ lấp đầy các KCN tính theo năm, từ 2005 – 2011 (Trang 51)
Bảng 2.5: Tỷ lệ lấp đầy tính theo các KCN đang hoạt động, năm 2011 - Phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Bảng 2.5 Tỷ lệ lấp đầy tính theo các KCN đang hoạt động, năm 2011 (Trang 54)
Bảng 2.7: Số dự án và vốn đầu tư tại các KCN Vĩnh Phúc từ 1998 – quý - Phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Bảng 2.7 Số dự án và vốn đầu tư tại các KCN Vĩnh Phúc từ 1998 – quý (Trang 56)
Bảng  2.8 : Dự án FDI đầu tư vào KCN phân theo quốc gia và vùng lãnh thổ  Stt  Quốc gia và vùng  Số dự án  Tổng vốn đầu tư  Diện tích (ha) - Phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
ng 2.8 : Dự án FDI đầu tư vào KCN phân theo quốc gia và vùng lãnh thổ Stt Quốc gia và vùng Số dự án Tổng vốn đầu tư Diện tích (ha) (Trang 57)
Bảng 3.1: Mục tiêu cụ thể phát triển các KCN - Phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc   luận văn ths  kinh tế  60 31 01 pdf
Bảng 3.1 Mục tiêu cụ thể phát triển các KCN (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w