1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo công nhân kỹ thuật theo yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá luận văn ths kinh tế 5 02 01 pdf

116 262 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên hiện nay đào tạo nghề ở Việt Nam lại chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ công nhân kỹ thuật: chương trình dạy nghề chưa được cập nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu 2 Chương 1 Vai trò của đào tạo công nhân kỹ thuật đối với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá 8

1.1 Tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá 8 1.2 Đào tạo công nhân kỹ thuật và vai trò của nó đối với công nghiệp hoá

- hiện đại hoá 22 1.3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc phát triển hệ thống đào tạo công nhân kỹ thuật 32

Chương 2 Thực trạng hệ thống đào tạo công nhân kỹ thuật trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá 43

2.1 Khái quát về hệ thống công nhân kỹ thuật trước thời kỳ đổi mới 43 2.2 Tình hình đào tạo công nhân kỹ thuật trong những năm đổi mới 49 2.3 Đánh giá chung về hệ thống đào tạo công nhân kỹ thuật ở Việt Nam 77

Chương 3 Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo công nhân kỹ thuật trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá 85

3.1 Bối cảnh mới của nền kinh tế Việt Nam và những yêu cầu đặt ra đối

Trang 4

Danh mục tài liệu tham khảo 106

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công nghiệp hoá - hiện đại hoá là giai đoạn phát triển tất yếu mà mọi quốc gia đều phải đi qua, song mỗi nước đều có những cách thức phát triển riêng tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và đặc trưng về chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá của từng nước Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta được thực hiện trên cơ sở đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ

xã hội theo hướng phát triển bền vững, trong đó nhân tố con người là trung tâm, kết hợp chặt chẽ giữa công nghiệp hoá và hiện đại hoá với những bước đi thích hợp Trong số các nguồn lực về tài chính, công nghệ, thiết bị, nguồn tài nguyên… thì ngày nay nguồn lực con người trở thành nguồn lực quan trọng nhất cho tiến trình phát triển của đất nưóc Nếu chúng ta quan tâm và đặt đúng vị trí con người, chúng ta sẽ thành công Vì thế mà trong "Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000" Đảng ta đã khẳng định: " Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người Chiến lược kinh

tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc "

Nghiên cứu về nguồn nhân lực, tức là nghiên cứu về yếu tố con người, những khả năng, tiềm năng của con người và cách khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động và của cộng đồng dân tộc để tạo nên sức mạnh tổng thể thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Để đạt được mục tiêu trên thì giáo dục - đào tạo có vai trò hết sức to lớn Giáo dục - đào tạo tham gia trực tiếp và đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao trình độ học vấn, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ tay nghề, xử lý công nghệ, tổ chức quản lý và năng lực thực tiễn của người lao động - lực lượng chủ

Trang 6

yếu đối với sự phát triển bền vững Vì thế mà Đại hội Đảng IX đã khẳng định:

"Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững" [2, tr.26]

Để cho giáo dục đào tạo thực sự đảm nhận được đúng vai trò của nó thì phát triển hợp lý quy mô và cơ cấu giáo dục đào tạo là một đòi hỏi bức thiết Như Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã chỉ rõ cơ cấu đào tạo hiện nay của chúng ta còn bất hợp lý Điều đó thể hiện ở sự bất hợp lý giữa

cơ cấu dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học; cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng, cơ cấu bậc học, cơ cấu xã hội Đặc biệt, trong lĩnh vực đào tạo nghề, tình trạng thừa thầy thiếu thợ, kỹ sư làm công việc của cán bộ trung cấp kỹ thuật đang trở nên hết sức bức xúc làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả giải quyết việc làm, đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Đội ngũ công nhân

kỹ thuật nước ta hiện nay không đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá Vì thế cần phải đào tạo được một đội ngũ lao động có trình độ tay nghề, có chuyên môn nghiệp vụ cao, có trình độ văn hoá, có sức khoẻ, có tác phong công nghiệp, có năng lực tiếp thu và sáng tạo công nghệ mới để đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế thị trường cả về số lượng và chất lượng Làm thế nào để tạo ra nhiều công ăn việc làm, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất ? đủ sức cạnh tranh với thị trường trong nước và quốc tế ? tăng thu nhập, ổn định đời sống xã hội? Làm thế nào để chúng ta có một cơ cấu kinh tế hợp lý? Tất cả những điều đó đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh công tác trong lĩnh vực dạy nghề và giáo dục nghề nghiệp nhằm phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng đội ngũ công nhân kỹ thuật để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam

Trang 7

Tuy nhiên hiện nay đào tạo nghề ở Việt Nam lại chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ công nhân kỹ thuật: chương trình dạy nghề chưa được cập nhật, bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với kỹ thuật công nghệ mới; đội ngũ giáo viên dạy nghề còn thiếu cả về số lượng và chất lượng, phương pháp giảng dạy chậm được đổi mới; quy mô đào tạo còn nhỏ

so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, mạng lưới cơ sở dạy nghề còn chưa rộng khắp; thiếu đội ngũ công nhân làm việc trong những ngành công nghệ cao; kinh phí đầu tư cho đào tạo nghề còn ít, cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, mất cân đối giữa các ngành nghề đào tạo Do đó việc phân tích thực trạng đào tạo nghề trong đó có đào tạo công nhân kỹ thuật để tìm ra những biện pháp thích hợp có khả năng thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của hoạt động này là một công việc rất có ý nghĩa Với những lý do trên đây tôi mạnh dạn chọn đề tài: "Đào tạo công nhân kỹ thuật theo yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá"

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Do có vị trí hết sức quan trọng nên dạy nghề là vấn đề được nhiều nhà khoa học và những người hoạch định chính sách quan tâm Tuy nhiên trong sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, sự phát triển năng động của nền kinh tế thị trường thì số lượng và chất lượng lao động của đội ngũ công nhân càng được đặc biệt quan tâm và đòi hỏi phải có sự nghiên cứu đầy đủ hơn

Gần đây, các nhà khoa học Việt Nam đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về giáo dục - đào tạo, về cách mạng khoa học công nghệ, về đào tạo nguồn nhân lực và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội

Những bài viết đó tập trung chủ yếu vào từng mảng vấn đề, đề cập đến những khía cạnh khác nhau như giáo dục - đào tạo với sự phát triển kinh tế xã

Trang 8

hội, giáo dục đào tạo với việc tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề đối với xuất khẩu lao động như:

- Giáo sư Vũ Văn Tảo với bài "Đào tạo gắn với việc làm", Tạp chí Xuân

2000 đã khẳng định đào tạo cần phải gắn với việc làm

- Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã nêu việc triển khai công tác đào tạo nghề và chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm trong bài "Về triển khai công tác đào tạo nghề và chương trình mục tiêu quốc gia

về giải quyết việc làm", Tạp chí Lao động - xã hội 149/1999

- Vũ Đình Cự đã nêu những bất cập của giáo dục đào tạo trong cuốn "Giáo dục - đào tạo hướng tới thế kỷ 21", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội

1998

- Phạm Văn Đức khẳng định vai trò của nguồn lực con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bài: "Mấy suy nghĩ về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá", Tạp chí Triết học, số 6/1998

- "Đầu tư cho con người với vấn đề giải quyết việc làm" của nhóm tác giả

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hà Nội 1995 đã giới thiệu về đặc điểm nguồn nhân lực và những người cần đào tạo lại để tạo cơ hội giải quyết việc làm, đồng thời giới thiệu khái niệm mô hình đào tạo giải quyết việc làm cho người lao động ở một số nước trên thế giới

- Đổi mới mạnh mẽ giáo dục nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực của GS.VS Phạm Minh Hạc trong Tạp chí Lao động xã hội, số 218…

Nhìn chung, tuy khai thác ở từng khía cạnh, từng mảng khác nhau nhưng các tác giả đều coi giáo dục - đào tạo có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế - xã hội nói chung và khẳng

Trang 9

định quan điểm của Đảng ta coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, coi giải quyết việc làm là chính sách xã hội cơ bản nhằm nâng cao đời sống người lao động, phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay Tuy nhiên vẫn còn ít những công trình khoa học nghiên cứu tập trung, có tính chất hệ thống lĩnh vực đào tạo công nhân kỹ thuật với tư cách là một kênh phát triển nguồn nhân lực ở nước ta, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế đang biến đổi rất nhanh hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

* Mục đích

Trên cơ sở phân tích thực trạng đào tạo công nhân kỹ thuật trong việc phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay, luận văn cố gắng đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả và chất lượng của hệ thống đào tạo công nhân kỹ thuật ở nước ta theo yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Trang 10

người; các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các luận điểm khoa học của các nhà khoa học về những vấn đề có liên quan đến đề tài của luận văn

* Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử luận văn chú trọng sử dụng các phương pháp cụ thể như phân tích và tổng hợp, đối chiếu

và so sánh, lô-gíc và lịch sử, phương pháp thống kê và hệ thống hoá

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu: hoạt động đào tạo công nhân kỹ thuật ở Việt

Nam với tư cách là kênh phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nước

* Phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ đề tài này, tác giả nghiên cứu

lĩnh vực đào tạo nghề từ khi đổi mới đến nay

6 Đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy kinh tế chính trị Mác-Lênin về vấn đề nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng tham khảo cho việc hoạch định chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta và dành cho những người quan tâm đến đề tài

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

3 chương với 8 tiết:

Chương 1: Vai trò của công nhân kỹ thuật đối với quá trình công nghiệp

hoá - hiện đại hoá

Trang 11

Chương 2: Thực trạng đào tạo hệ thống công nhân kỹ thuật trong quá

trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo

công nhân kỹ thuật trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Chương 1 VAI TRÕ CỦA ĐÀO TẠO CÔNG NHÂN KỸ THUẬT

ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ

1.1 Tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá

1.1.1 Nguồn nhân lực trong tăng trưởng và phát triển kinh tế hiện đại

Mỗi một quá trình lao động sản xuất đều là sự kết hợp của 3 yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Đối tượng lao động và tư liệu lao động là những điều kiện vật chất cần thiết của mọi quá trình lao động Máy móc thiết bị dù có tinh vi hiện đại đến đâu cũng đều do sức lao động tạo nên và phải thông qua hoạt động tích cực của con người mới phát huy được đầy đủ hiệu quả

Dù cơ sở vật chất của sản xuất có hoàn thiện đến đâu, dù doanh nghiệp có các phương tiện kỹ thuật gì đi nữa thì quá trình sản xuất ở đó cũng chỉ có thể thực hiện với sự hoạt động có mục đích của con người để làm cho những tư liệu vật chất kỹ thuật đó vận hành được Dựa vào những hoạt động lao động có mục đích của mình con người làm cho các vật thể tự nhiên thích ứng với mình, cải biến tự nhiên để thoả mãn nhu cầu của mình Nếu con người không sử dụng sức lao động của mình để tác động vào tư liệu lao động và đối tượng lao động thì tư liệu

Trang 12

lao động và đối tượng lao động chỉ là những vật chết Chính “lao động đã nắm lấy những vật đó, cải tử hoàn sinh cho chúng, biến chúng từ những công dụng mới có về mặt khả năng thành công dụng có hiệu lực hiện thực” [19, tr.274] Nâng cao trang bị kỹ thuật là một nhân tố cơ bản chủ yếu để tăng năng suất lao động Nếu không có máy móc thiết bị vật tư thì không thể có năng suất cao, không thể có tư liệu sản xuất mở rộng Nhưng trang bị kỹ thuật không phải là nhân tố duy nhất hàng đầu để tăng năng suất kể cả khi chúng ta có nhiều những

kỹ thuật tiên tiến hiện đại nhất vì khi đó nếu không có con người với trình độ và tính tổ chức cao, phù hợp với yêu cầu của công nghệ, kỹ thuật thì quá trình sản xuát vẫn bị đình trệ Vì thế: “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại

là công nhân, là người lao động” [17, tr.38]

Như vậy, người lao động là nhân tố vô cùng quan trọng đối với bất kỳ một đất nước nào muốn phát triển kinh tế xã hội Đặc biệt là ngày nay, khi mà khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới diễn ra sâu rộng, khi mà chúng ta đang đứng trước thềm của kỷ nguyên phát triển mới của xã hội loài người - chuyển sang nền kinh tế tri thức thì các nhà kinh tế đều khẳng định rằng đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, các chương trình đảm bảo việc làm và an sinh

xã hội là đầu tư hiệu quả nhất, quyết định khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh

và bền vững của một quốc gia

Như chúng ta đã biết, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó tri thức đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển kinh tế xã hội loài người Nền kinh tế tri thức dựa trên những trụ cột chủ yếu là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới mà ở đó tri thức chiếm một hàm lượng chủ yếu trong giá trị mới của sản phẩm, chiếm tỉ trọng ngày càng lớn hơn trong GDP, là yếu tố quyết định sức mạnh cạnh tranh của mỗi quốc gia Trong nền kinh tế tri

Trang 13

thức cơ hội cho lao động thiếu kỹ năng ngày càng bị thu hẹp và đòi hỏi về trình

độ và kỹ năng của một người lao động bình thường ngày càng cao Để có được nền kinh tế tri thức cần phải xây dựng được cơ sở hạ tầng vững chắc để phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, đồng thời phải đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo hay chính xác hơn là phải đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu là tổng thể các tiềm năng (lao động) của con người, của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn bị ở mức nào đó có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước (hoặc một vùng, một địa phương cụ thể) Khi tham gia vào các quá trình kinh tế xã hội thì con người đóng vai trò chủ động, sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó và hướng nó tới mục tiêu nhất định Vì vậy mà nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng lao động đã có và sẽ có mà nó còn phải bao gồm một tổng thể các yếu tố như thể lực, trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ, phong cách làm việc

Nguồn nhân lực theo nghĩa tương đối hẹp được hiểu là nguồn lao động Chính vì thấy được vai trò ngày càng tăng của nguồn nhân lực mà trong quá trình phát triển kinh tế hiện đại, nơi mà tri thức chứ không phải tài nguyên thiên nhiên, đất đai hay nguồn vốn nổi lên như là yếu tố dẫn dắt, chi phối hàng đầu đối với quá trình tạo ra của cải mà ở nhiều nước đang định hình một mô hình sản xuất mới: lấy con người làm trung tâm Mô hình này là bước chuyển lên trình độ văn minh cao hơn, ở đó con người là mục đích chứ không phải là phương tiện của phát triển xã hội Mô hình sản xuất lấy con người làm trung tâm, coi trọng và đề cao tri thức trở thành triết lý cơ bản của chiến lược phát triển của mọi quốc gia Như vậy, sự tiến bộ của khoa học công nghệ đã không

Trang 14

làm giảm đi vai trò của yếu tố con người mà ngược lại, nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tụê và kỹ năng ngày càng trở thành lợi thế quan trọng cho mỗi quốc gia

Xem xét con người với tư cách là nguồn nhân lực cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội, UNESCO nêu “con người đứng ở trung tâm của sự phát triển là tác nhân và là mục đích của sự phát triển” Trong học thuyết về tăng trưởng kinh

tế của mình nhà kinh tế Mỹ Gregory Mankiw đã đề cập một loại tư bản: vốn nhân lực Theo ông “Vốn nhân lực là kiến thức, tay nghề mà người lao động tiếp thu được thông qua quá trình giáo dục đào tạo từ thời niên thiếu cho đến khi trưởng thành, cũng như trong quá trình lao động Vốn nhân lực tương tự như tư bản hiện vật, nó làm tăng lực lượng sản xuất hàng hoá và dịch vụ của chúng ta” Cũng theo Mankiw “sự đầu tư cho con người trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá nhân làm nâng cao mức sống của toàn xã hội và nhờ đó tạo khả năng tăng năng suất lao động” Nhận định này có vai trò rất quan trọng trong vài thập kỷ gần đây Một số các nước Châu Á có nền kinh tế tăng trưởng nhanh đã áp dụng quan điểm này vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của

họ và họ đã đầu tư rất lớn cho giáo dục Các nước Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapo đã có khả năng đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao

để phát triển đất nước và đã làm tăng thu nhập bình quân cao hơn gấp 5 - 6 lần

so với các nước Đông Nam Á

Nghiên cứu nguyên nhân thành công của các nước này các nhà kinh tế đều thống nhất nhận định rằng họ đã đầu tư nguồn nhân lực đủ sức thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước họ

Ở nước ta, nhận thức vai trò động lực của nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển đất nước Đảng đã chỉ đạo “lấy việc phát huy yếu tố con người

Trang 15

làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển rất nhanh và bền vững” [2, tr.9]và nguồn lực con người đựơc coi là nội lực cơ bản nhất cần khai thác và phát huy để tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

Tóm lại, bất kỳ một quốc gia nào muốn tăng trưởng, phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện nay đều phải quan tâm, đầu tư phát triển nguồn nhân lực Chỉ

có đầu tư phát triển hiệu quả nguồn nhân lực, đất nước đó mới nhanh chóng thành công

1.1.2 Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực đối với các nước đang phát triển

* Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đối với các nước đang phát triển

Các nước đang phát triển là những nước có mức thu nhập bình quân đầu người thấp Hiện nay dân số các nước đang phát triển chiếm đa số dân số thế giới nhưng thu nhập chỉ chiếm 2% thu nhập thế giới Các nhà kinh tế trên thế giới thường lấy mức thu nhập bình quân đầu người 2.000 USD làm mốc, nếu đạt được mức này sẽ phản ánh được sự biến đổi về chất trong hoạt động kinh tế và đời sống xã hội, phản ánh khả năng giải quyết được những nhu cầu cơ bản của con người Hiện nay còn trên 100 nước đang phát triển có mức thu nhập dưới 2.000 USD; trong đó gần một nửa có mức thu nhập bình quân dưới 600 USD Điều này nói lên khả năng hạn chế của các nước đang phát triển trong việc giải quyết những nhu cầu cơ bản của con người về vật chất, văn hoá, giáo dục, y tế

Các nước đang phát triển còn là những nước có tỷ lệ tích luỹ thấp Muốn

có nguồn vốn tích luỹ cần phải hy sinh tiêu dùng Nhưng khó khăn là ở chỗ, đối với các nước đang phát triển, nhất là những nước có thu nhập thấp, dân chúng đã gần như chỉ có mức sống tối thiểu, vì vậy việc giảm tiêu dùng là rất khó khăn Những nước có nền kinh tế tiên tiến thường để dành từ 20-30% thu nhập để tích

Trang 16

luỹ Trong khi đó ở các nước nông nghiệp chỉ có khả năng tiết kiệm trên, dưới 10% thu nhập Nhưng phần lớn số tiết kiệm này phải dùng để cung cấp nhà ở, trang thiết bị cần thiết khác cho số dân đang tăng lên Do vậy càng hạn chế quy

mô tiết kiệm cho tích luỹ phát triển kinh tế

Các nước đang phát triển cũng là những nước có hoạt động kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nhỏ, nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn, kỹ thuật sản xuất thủ công, lạc hậu, xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm thô (nông sản và khoáng sản), năng suất lao đông thấp do thiếu vốn và yếu tố công nghệ kỹ thuật hiện đại Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy rằng, nền kinh tế không thể chuyển động đi lên nếu không có công nghiệp phát triển Các nền kinh tế đạt được mức

độ tăng trưởng kinh tế cao đều có nguồn gốc từ mức độ tăng của ngành công nghiệp Trải qua giai đoạn phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu, các nước đang phát triển tuy đã có được những ngành công nghiệp mới, nhưng phần lớn vẫn là những ngành sản xuất với kỹ thuật cổ truyền, trình độ kỹ thuật thấp Trong khi các nước có nền kinh tế phát triển đã đạt tới trình độ công nghệ tiên tiến với

kỹ thuật sản xuất hiện đại, trình độ quản lý thành thạo, vượt xa trình độ công nghệ của các nước đang phát triển từ 3-6 thập kỷ Khoảng cách công nghệ quá lớn cũng làm cho các nước đang phát triển khó tận dụng được lợi thế của các nước đi sau do quá trình phân công lao động mới đưa lại

Các nước đang phát triển còn phải đối đầu với một thách thức nữa trong quá trình phát triển Đó là áp lực về dân số và việc làm Dân số những nước đang phát triển vốn đã đông, sự bùng nổ về dân số ở những quốc gia này tạo ra một hạn chế lớn cho phát triển kinh tế Tỷ lệ gia tăng dân số thường ở mức cao hơn

tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đã làm cho mức sống của nhân dân ngày càng giảm Thu nhập giảm tất yếu dẫn đến giảm sức mua và tỷ lệ tiết kiệm, sự mất cân đối

Trang 17

giữa tích luỹ và đầu tư đã kìm hãm sản xuất và dẫn đến thất nghiệp trầm trọng, gây mất ổn định xã hội, nợ nước ngoài gia tăng

Như vậy, hầu hết đang phát triển đang đều ở trong tình trạng: cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, khoa học kỹ thuật lạc hậu, phân công lao động chưa phát triển, khoa học kỹ thuật đang được xây dựng Ở nhiều quốc gia, sản xuất nông nghiệp vẫn đang còn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP Đó cũng là nguyên nhân cơ bản làm cho các quốc gia này đang rất khó khăn trong việc giải quyết hàng loạt những vấn đề kinh tế xã hội như: thất nghiệp, nghèo đói, bệnh dịch, sự lạc hậu về y tế và giáo dục

Để thoát khỏi tình trạng đó thì các nước đang phát triển không còn con đường nào khác là lựa chọn con đường công nghiệp hoá- hiện đại hoá Công nghiệp hoá - hiện đại hoá là giải pháp quan trọng (nếu không muốn nói là quan trọng nhất) nhằm xây dựng một bộ phận nguồn lực quốc gia ngày càng lớn Chỉ

có công nghiệp hoá - hiện đại hoá mới làm cho các nước đang phát triển thay thế được lao động thủ công lạc hậu bằng lao động sử dụng máy móc, cơ khí hoá nền kinh tế quốc dân; thay thế máy móc, thiết bị và công nghệ bằng máy móc thiết bị

và công nghệ ngày càng hiện đại hơn Đó là bước chuyển đổi căn bản từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi phải xây dựng được một cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại mà hiện nay,

xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế được coi là hợp lý, tiến bộ là tỉ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng, đặc biệt là tỉ trọng khu vực dịch vụ ngày càng tăng; tỉ trọng khu vực nông, lâm, ngư nghiệp và khai khoáng ngày càng giảm trong tổng giá trị sản phẩm xã hội Vì thế chỉ có cách tiến hành công nghiệp hoá

- hiện đại hoá mới làm được điều đó Ngày nay lực lượng sản xuất phát triển như

vũ bão, khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp do đó mà các nước đang phát triển phải tiến hành công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá để

Trang 18

xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống con người từ đó xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghệ hiện đại, để chế tạo ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng có khả năng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao và đảm bảo đạt tới tiến bộ kinh tế, tiến bộ xã hội; công nghiệp hoá - hiên đại hoá còn để xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghệ hiện đại Như thế có nghĩa là, công nghiệp hoá không chỉ là sự phát triển công nghiệp mà còn là xây dựng quan

hệ phù hợp giữa công nghiệp và các ngành kinh tế khác, tạo điều kiện cho các ngành và toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, hưóng tới mục tiêu tiến

bộ xã hội, là con đường tất yếu đối với các nước đang phát triển

* Phát triển nguồn nhân lực - yếu tố quan trọng đảm bảo thành công của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá

“Công nghiệp hoá - hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học - công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao"

Như vậy, có thể nói, về thực chất công nghiệp hoá - hiện đại hoá là quá trình cải biến lao động thủ công thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để đạt được năng suất lao động xã hội cao Đó không chỉ là quá trình tăng thêm một cách giản đơn tốc độ và tỉ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân mà còn là quá trình chuyển dịch cơ cấu, gắn liền với việc đổi mới công nghệ một cách thường xuyên, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng bền vững và có hiệu quả cao của toàn bộ nền kinh tế quốc

Trang 19

dân Công nghiệp hoá không thể không gắn liền với hiện đại hoá, kết hợp với những bước tiến tuần tự về công nghệ, tận dụng phát triển theo chiều rộng, tạo ra ngày càng nhiều công ăn việc làm cho người lao động với tranh thủ những cơ hội

đi tắt, đón đầu, phát triển theo chiều sâu, tạo nên những mũi nhọn theo trình độ phát triển của khoa học và công nghệ thế giới

Cũng có thể nói, công nghiệp hoá - hiện đại hoá là một quá trình xây dựng

xã hội văn minh, cải biến căn bản các ngành kinh tế, các hoạt động xã hội theo phong cách của nền công nghiệp hiện đại, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế - xã hội bền vững, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động Nó không chỉ thể hiện ra ở các chỉ số khoa học - kỹ thuật - công nghệ hay kinh tế - kỹ thuật mà quan trọng hơn là đảm bảo cho xã hội phát triển như một chỉnh thể toàn vẹn (kinh tế - xã hội, vật chất - tinh thần), trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, vì tiến bộ xã hội và phát triển con người toàn diện

Nói một cách khái quát, công nghiệp hoá- hiện đại hoá trong thời đại ngày nay là quá trình cải biến một xã hội cổ truyền thành một xã hội hiện đại, có trình

độ văn minh cao hơn, thể hiện không chỉ ở trình độ khoa học và công nghệ hiện đại, tiên tiến, ở nền kinh tế phát triển cao, xã hội được tổ chức khoa học và hợp

lý mà còn ở đời sống chính trị, văn hoá, tinh thần của xã hội, ở sự phát triển con người, ở sự giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc

Sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài môi trường chính trị ổn định, phải có các nguồn lực cần thiết, như: nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất - kỹ thuật, vị trí địa lý và nguồn lực nước ngoài Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng mức độ tác động và

Trang 20

vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá không giống nhau, trong đó nguồn lực con người là yếu tố quyết định

Để xem xét vai trò của nguồn lực con người đối với công nghiệp hoá - hiện đại hóa cần đặt nó trong quan hệ so sánh với các nguồn lực khác và ở mức

độ chi phối của nó đến sự thành, bại của công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đồng thời phải đặt công nghiệp hoá trong tình hình này, khi cuộc cách mạng khoa học,

kỹ thuật và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, lao động trí tuệ ngày càng gia tăng và trở thành xu thế phổ biến của nhân loại, khi công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá mà thực chất là hiện đại hoá lực luợng sản xuất

Trước hết, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động có ý thức của con người Bởi lẽ, con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ý chí, biết “lợi dụng” các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại với nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các nguồn lực khác là những khách thể, chịu sự cải tạo, khai thác của con người và hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích con người, nếu con người biết cách tác động và chi phối Vì thế, trong các yếu tố cấu thành lực luợng sản xuất, người lao động là một yếu tố quan trọng nhất, là lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại

Như đã biết, muốn công nghiệp hoá phải có vốn và nó chỉ trở thành nguồn lực quan trọng và cấp thiết của sự phát triển khi nó nằm trong tay nhưng con người biết sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả cao Sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên và nhưng ưu thế về vị trí địa lý cũng sẽ mất ý nghĩa, nếu chủ nhân của nó không có năng lực khai thác Ngày nay, trước xu thế quốc tế hoá đời sống

Trang 21

kinh tế, sự hợp tác và thu hút đầu tư nước ngoài cũng là nguồn lực phát triển quan trọng của nhiều nước Nó tạo ra “cái hích” kinh tế, nhất là với các nước có điểm xuất phát thấp Nhưng sức mạnh của "cái hích” đó đến đâu, tác động tích cực của nó như thế nào còn tuỳ thuộc vào yếu tố con người khi tiếp nhận nguồn lực đó Xét đến cùng, thiếu sự hiện diện của trí tuệ và lao động của con người thì mọi nguồn lực đều trở nên vô nghĩa thậm chí khái niệm "nguồn lực” cũng không còn lý do để tồn tại

Hơn nữa, các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể khai thác cạn kiệt, trong khi đó nguồn lực con người mà cái cốt lõi là trí tuệ, lại là nguồn lực vô tận Tính

vô tận của trí tụê con người biểu hiện ở chỗ, nó có khả năng không chỉ tái sinh

và tự sản sinh về mặt sinh học, mà con tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất trong con người xã hội, nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý Đó

là cơ sở làm cho năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận, xét trên bình diện cộng đồng, nhân loại Nhờ vậy, con người đã từng bước làm chủ tự nhiên, ngày càng khám phá ra những tài nguyên thiên nhiên mới hoặc sáng tạo ra những nguồn tài nguyên vốn không có sẵn trong tự nhiên.Với bản chất hoạt động có mục đích và sáng tạo, con người bằng trí tuệ và lao động của mình đã liên tiếp chế tạo ra các thế hệ công cụ sản xuất mới nhằm tác động vào tự nhiên có hiệu quả hơn Chính sự phát triển không ngừng của công cụ sản xuất từ thủ công đến cơ khí và ngày nay là tự động hoá, đưa xã hội loài người chuyển qua các nền văn minh từ thấp lên cao, tự nó đã nói lên tính vô tận của trí tuệ con người Đúng là, "Tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết” [24, tr.41]

Trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó đã được vật thể hoá, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Dự báo vĩ đại này của C.Mác đã và đang trở thành hiện thực Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa

Trang 22

học-kỹ thuật và công nghệ hiện đại đang dẫn các nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển vận động đến nền kinh tế của trí tuệ Ở những nước này, lao động trí tuệ ngày càng chiếm tỉ lệ cao, nguồn lợi mà họ thu được từ lao động chất xám chiếm tới 1/2 tổng giá tri sản lượng quốc gia, vi như ở Nhật Bản, riêng nguồn lợi do tin học mang lại đã chiếm tới 40% Giờ đây, sức mạnh của trí tuệ đạt đến mức, nhờ nó con người có thể sáng tạo ra những máy móc “bắt chước” hay “phỏng” theo những đặc tính trí tuệ của chính con người Rõ ràng là, bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay, khối óc con người làm ra

mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình Với ý nghĩa đó, Alvin Toffler đã xếp quyền lực trí tuệ ở vị trí hàng đầu trong tất cả các loại quyền lực đã từng có trong lịch sử

Chính kinh nghiệm của nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho thấy, sự thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối, chính sách cũng như tổ chức thực hiện, nghĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ không đạt được kết quả tốt nếu không lựa chọn được mô hình đúng, các bước đi thích hợp và các giải pháp hữu hiệu, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi nước và bối cảnh quốc tế, dù có đủ các nguồn lực khác Không hiếm các nước giàu có về tài nguyên thiên nhiên và được tài trợ lớn

từ bên ngoài nhưng vẫn không thành công trong việc công nghiệp hoá Điều này một lần nữa nói lên vai trò quyết định của nguồn lực con người - chủ thể trực tiếp, hiện thực của toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Nói tóm lại, tiềm năng sức lao động - con người với trí tuệ và lao động được định hướng bởi trí tuệ đó đã và đang là tài sản quý giá nhất, là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia Vai trò này ngày càng tăng lên khi trí tuệ hoá lao động đang trở thành xu thế phổ biến Vì vậy, trong

Trang 23

chiến lược phát triển của mình nhiều nước đã đặt con người vào vị trí trung tâm, quan tâm đặc biệt đến yếu tố con người và chuyển đối tượng khai thác vào chính bản thân con người Hiện tượng các nước công nghiệp mới Đông Á là những cứ liệu xác thực cho nhận thức về vai trò quyết định của nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hoá Sự thành công của những nước này do nhiều nguyên nhân nhưng trong đó có một nguyên nhân mang tính đặc trưng đó

là họ đã sớm nhận thức đúng vai trò quyết định của nguồn lực con người và đầu

tư thoả đáng cho chiến lược con người, đặt lên hàng đầu chất lượng nguồn lao động, đặc biệt là các yếu tố văn hoá, kỹ thuật và kỷ luật, đi trước một bước về giáo dục và đào tạo, coi đó là chìa khoá của sự tăng trưởng, là điều kiện đảm bảo cho sự thắng lợi của công nghiệp hoá Chẳng hạn để chuẩn bị cho công nghiệp hoá Hàn Quốc đã có kế hoạch “trí tuệ hoá” toàn dân Nhờ vậy ngay từ năm 1960

họ đã đạt được 100% lao động có trình độ văn hoá cấp I, đến năm 1990 thì 94% người lao động đã tốt nghiệp cấp II và năm 1980 họ đã tới mặt bằng học vấn là 8,0 lớp Chi phí cho giáo dục của họ chiếm tới 20% tổng chi phí ngân sách nhà nước [4 tr.58] hay ở Đài Loan, trong 30 năm từ 1952 đến 1981 tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng 26,43 lần nhưng kinh phí cho giáo dục tăng hơn 90 lần Có thể nói rằng, nền kinh tế của các nước này có sự phát triển nhanh phần lớn nhờ vào sự phát triển nhanh của giáo dục và khoa học kỹ thuật Kinh nghiệm về xây dựng và sử dụng nguồn lực con người của các nước công nghiệp mới Đông Á là những bài học bổ ích, rất đáng để cho các nước chuẩn bị bước vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá tham khảo

Vai trò quyết định của nguồn lực con người chỉ trở thành hiện thực khi người lao động có những năng lực và phẩm chất cần thiết đáp ứng được những yêu cầu mà quá trính công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi

Trang 24

Yếu tố hàng đầu của nguồn lực con người trước hết là trí tuệ, bởi vì “tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ” tức là phải thông qua trí tuệ Trình độ trí tuệ phản ánh qua trình độ học vấn và tài năng sáng tạo Nó biểu hiện ở tài năng áp dụng những thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật công nghiệp tiên tiến, ở sự nhạy bén thích ứng nhanh

và làm chủ được những kỹ thuật, công nghệ hiện đại có kỹ năng lao động nghề nghiệp có năng lực hoạch định chính sách, lựa chọn giải pháp và tổ chức thực hiện biết quản lý sản xuất, kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá, cơ chế thị trường và phân công lao động quốc tế Để có được những năng lực này, ngoài tư chất ban đầu, vai trò chủ yếu thuộc về giáo dục và đào tạo, vì đó là phương tiện hữu hiệu để phát triển trí tuệ và trang bị chuyên môn, nghề nghiệp,

là giá đỡ cho tiềm năng sáng tạo của con ngưòi

Sau trí tuệ là yếu tố sức khoẻ - yêu cầu không thể thiếu được đối với người lao động Sức khoẻ là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất Nó bao gồm không chỉ sức khoẻ cơ thể mà còn cả sức khoẻ tinh thần, đó là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là sức mạnh của niềm tin và ý chí, là khả năng vận động trí lực điều này càng có ý nghĩa quan trọng khi lao động trí tuệ ngày một chiếm ưu thế

Sản xuất công nghiệp còn đòi hỏi ở người lao động hàng loạt các phẩm chất như: kỷ luật tự giác, tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian, tích cực bảo dưỡng thiết bị máy móc, có tinh thần hợp tác và tác và phong lao động công nghiệp, có lương tâm nghề nghiệp và trách nhiệm cao đối với sản phẩm Nghĩa

là người lao động phải có văn hoá lao động công nghiệp

Trang 25

Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá còn đụng chạm đến các vấn đề phức tạp trong quan hệ giữa con người với thiên nhiên mà chỉ có thể giải quyết được nhờ trình độ cao của văn hoá sinh thái Đây là vấn đề cấp bách, sống còn không chỉ đối với mỗi quốc gia mà còn đối với nền văn minh công nghiệp Con người vốn có cội nguồn từ thiên nhiên và không thể tách rời thiên nhiên trong sự tồn tại và phát triển của mình Vì vậy, sự hiểu biết và trách nhiệm cao trước vấn đề môi trường sinh thái là vấn đề cấp bách, sống còn không chỉ với mỗi quốc gia mà còn đối với nền văn minh nhân loại Con người vốn có cội nguồn từ thiên nhiên và không thể tách rời thiên nhiên trong sự tồn tại và phát triển của mình Vì vậy, sự hiểu biết và trách nhiệm cao trước vấn đề môi trường sinh thái cũng là một năng lực phẩm chất quan trọng của người lao động trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá Nó biểu hiện ở chỗ người ta cần đánh giá đúng những hậu quả do sản xuất công nghiệp gây ra mà các nước đi trước đã trải qua như huỷ hoại nguồn nước, ô nhiễm môi trường, khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên dẫn đến mất cân bằng sinh thái, làm nguy hại đến cuộc sống con người và sự phát triển lâu bền của đất nước Ngoài ra cũng cần thấy rằng sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá khó có thể đạt được kết quả tốt nếu không có những công dân yêu nước, ham học hỏi, cần cù lao động và sáng tạo, có tinh thần hợp tác, ý chí tự chủ vươn lên và lòng tự trọng dân tộc cao, không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu, biết kết hợp hài hoà yếu tố truyền thống và hiện đại, sống khoan dung và tôn trọng sự đa dạng, khác biệt

1.2 Đào tạo công nhân kỹ thuật và vai trò của nó đối với công nghiệp hoá - hiện đại hoá

1.2.1 Vị trí của đội ngũ công nhân kỹ thuật trong việc phát triển nguồn nhân lực thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Trang 26

Nguồn lao động nói chung, lao động qua đào tạo nghề nói riêng vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, trình

độ, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và sự thay đổi cơ cấu kinh tế là yếu tố quan trọng đòi hỏi tăng cường chất lượng và cơ cấu lao động Tốc độ tăng trưởng kinh

tế nhanh cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật đòi hỏi ngày càng nhiều lao động kỹ thuật Mặt khác sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế cũng tạo ra nhu cầu chuyển đổi cơ cấu lao động theo các nghành nghề khác nhau đòi hỏi gia tăng quy

mô đào tạo mới, đào tạo lại và đào tạo nâng cao trình độ Nền kinh tế càng phát triển thì càng có điều kiện thuận lợi để tăng đầu tư nhằm thoả mãn nhu cầu kinh

tế - xã hội, đặc biệt là nhu cầu đào tạo nghề Đồng thời bản thân quá trình phát triển và phát triển ở trình độ nâng cao thì càng đòi hỏi không ngừng nâng cao chất lượng nguồn lao động, trong đó có chất lượng qua đào tạo nghề

Đại hội VIII của Đảng đã xác định đến khoảng năm 2020, nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp Do đó thời kỳ 2001 - 2010 có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá Mục tiêu của thời kỳ này là phấn đấu tăng trưởng cao nhưng bền vững, tránh nguy cơ tụt hậu ngày càng xa

so với các nước trong khu vực, thực hiện đổi mới về cơ bản cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Chính cuộc cách mạng khoa học công nghệ đưa thế giớí chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin Trong kỷ nguyên thông tin và nền kinh tế tri thức các ngành sản xuất dịch vụ chủ yếu dựa vào tri thức và công nghệ (2/3 giá trị là do khoa học và công nghệ đem lại) Cách mạng khoa học công nghệ làm cho nhiều ngành nghề cũ, truyền thống mất đi và cũng xuất hiện nhiều ngành nghề mới, cơ cấu ngành nghề và tỷ trọng trong các lĩnh vực cũng thay đổi nhanh chóng Trong nền kinh tế tri thức tỷ trọng lao động trực tiếp giảm mạnh, lao động gián tiếp và dịch vụ tăng nhanh xuất hiện và gia tăng nhanh chóng công nhân trí thức Vì vậy, đào tạo công nhân

Trang 27

kỹ thuật để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục nghề nghiệp Lúc này, đòi hỏi người lao động không chỉ có kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ cao mà phải có nhiều kỹ năng khác nhau Từ đó vấn đề bức xúc đặt ra là phải đổi mới đào tạo nghề nghiệp từ đào tạo để tạo lập và phát triển

kỹ năng nghề nghiệp truyền thống sang cập nhật các kỹ năng mới, nhất là kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, viễn thông, kỹ năng giải quyết và xử lý những vấn đề sự cố phát sinh của máy móc thiết bị công nghệ cao, kỹ năng làm việc theo nhóm, làm việc trong môi trường đa văn hoá Có thể nói rằng giáo dục trong

đó có đào tạo nghề là nền tảng của sự phát triển khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại Việt Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp nhưng yếu tố khoa học công nghệ đang tác động mạnh đến đào tạo công nhân kỹ thuật nhất là khi chúng ta phát triển các ngành kinh tế quốc dân mũi nhọn, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất và công nghệ cao, sản xuất các mặt hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế Nếu Việt Nam không tập trung vào đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật sẽ dẫn đế hậu quả nghiêm trọng là không đảm bảo nhu cầu cung cấp công nhân kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân

Trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập chúng ta phải ứng dụng có hiệu quả công nghệ nhập khẩu, đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở một số ngành và lĩnh vực then chốt, mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân để tạo bước nhảy vọt về công nghệ, tạo tốc độ tăng trưởng vượt trội ở những sản phẩm chủ lực nhất là công nghệ thông tin, công nghệ tự động hoá, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học trên cơ sở hình thành các khu công nghệ cao vì thế mà nhu cầu đào tạo cho ứng dụng các công nghệ nhập khẩu và cung cấp cho các khu công nghệ cao sẽ ngày càng tăng đòi hỏi phải có sự chuẩn bị và đào tạo đội ngũ công nhân

kỹ thuật tương ứng

Trang 28

Xuất khẩu lao động và chuyên gia cũng là hướng mũi nhọn để tạo việc làm và thạm gia vào thị trường lao động quốc tế và khu vực của Việt Nam hiện nay Tuy nhiên xu hướng xuất khẩu lao động chủ yếu là lao động có nghề và chuyên môn trình độ cao Trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, cạnh tranh trên thị trường lao động là rất trực tiếp và quyết liệt Bởi vậy, để chẩn bị nguồn cho xuất khẩu lao động chỉ còn cách đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của thị trường tiếp nhận lao động nhất là Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malayxia Trung Đông

Chiến lược kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010 nêu rõ: phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm Vấn đề quan trọng nhất trong nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá là chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư, cùng với nó là chuyển dịch cơ cấu lao động Chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá được thực hiện trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, theo ngành lớn (nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản; công nghiệp và dịch vụ) và hình thành các vùng kinh tế trọng điểm (vùng kinh tế động lực) dựa trên cơ sở phát huy thế mạnh và các lợi thế so sánh của đất nước, nhu cầu đời sống nhân dân và quốc phòng an ninh Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá tác động đến phát triển đội ngũ công nhân

kỹ thuật: Khi cơ cấu kinh tế chuyển hướng sang sản xuất hàng hoá và áp dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao làm thay đổi cơ cấu giá trị các ngành trong GDP Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã xác định đến năm 2010 tỉ trọng GDP của nông nghiệp là 16-17%, công nghiệp - xây dựng là 40-41%, dịch vụ 42-43% Tương ứng cơ cấu lao động là 50% - 23% - 27% và tỉ lệ qua đào tạo đạt 40% trong đó đào tạo nghề là 26% Sự tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến cơ cấu lao động và đào tạo công nhân kỹ thuật là sự tác động và ràng buộc lẫn nhau trong tổng thể kinh tế vĩ mô không thể tách rời, vừa là điều kiện, vừa là

Trang 29

tiền đề của nhau Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá thực chất là chuyển từ nền kinh tế truyền thống ở trình

độ thấp, dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tế hiện đại, trình độ cao, phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ Khi ấy những ngành nghề truyền thống không phù hợp sẽ dần mất đi đồng thời xuất hiện nhiều ngành nghề mới đã tác động mạnh đến đào tạo công nhân kỹ thuật cho phù hợp Số lao động đã được đào tạo theo ngành nghề cũ cần được đào tạo lại, đào tạo bổ sung kỹ năng theo yêu cầu của ngành nghề mới Số công nhân mới tham gia đào tạo sẽ được tiếp cận ngay với ngành nghề mới mà thực tế lao động sản xuất đã xuất hiện và đang phát triển Ví dụ như trong nông nghiệp xuất hiện nghề mới chủ yếu áp dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất giống, thức ăn công nghiệp, thú y, kiểm tra chất lượng sản phẩm đặc biệt là công nghệ sinh học đưa giống mới, cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao vào sản xuất kinh doanh; trong công nghiệp xuất hiện ngành nghề liên quan đến sử dụng công nghệ thông tin, phần mềm máy vi tính, công nghệ chế biến nông sản, thuỷ sản, gia công may mặc, da giầy, lắp ráp máy móc sử chữa thiết bị hiện đại, công nghệ vật liệu mới

Như vậy đào tạo công nhân kỹ thuật phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trở thành nhiệm vụ ngày càng quan trọng đòi hỏi phải đổi mới một cách căn bản toàn diện hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành đáp ứng được yêu cầu của thực tế và cập nhật công nghệ mới luôn luôn thay đổi

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước đây sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình này tác động mạnh đến việc phát triển công nhân kỹ thuật trên nhiều mặt Người lao động sẽ có nhiều cơ hội lao động việc làm và thắng trong cạnh tranh là người có năng lực nghề nghiệp và phẩm chất vượt trội phù

Trang 30

hợp với yêu cầu công việc mà người sử dụng đang cần Cơ chế cạnh tranh của thị trường lao động sẽ tạo ra động lực khuyến khích người lao động học tập suốt đời không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt: sức khoẻ, tri thức, tay nghề, tác phong công nghiệp, tính kỷ luật, chấp hành luật pháp Có thể nói cơ chế thị trường đòi hỏi phải có đội ngũ công nhân kỹ thuật chất lượng cao Đây là nhu cầu khách quan và không ngừng phát triển

Như vậy, trong khi nhu cầu thị trường đang rất cần đội ngũ công nhân kỹ thuật, chuyên gia thực hành có tay nghề cao thì quá trình đào tạo lại chưa thể đáp ứng yêu cầu đó Hơn nữa, hiện tượng phổ biến hiện nay là phần lớn học sinh tốt nghiệp phổ thông lại có nguyện vọng thi vào các trường Đại học, không muốn học nghề Ngay cả cơ cấu đào tạo trong trường đại học cũng thiếu cân đối Đa số học sinh muốn đăng ký học những ngành nghề có thu nhập cao, dễ tìm được việc làm, ít ham thích học các trường thuộc khối ngành khoa học cơ bản, khoa học kỹ thuật mặc dù những ngành này có vai trò quan trọng trong quốc kế dân sinh Số liệu điều tra những năm gần đây cho thấy, số lượng sinh viên ngành văn hoá nghệ thuật chiếm 1,3%; nông lâm ngư nghiệp chiếm 3,13%; khoa học chiếm 15,5%; khoa học công nghệ và kỹ thuật 15,2%, khoa học xã hội chiếm 42,78% trong tổng số sinh viên đang học tại các trường cao đẳng, đại học trong cả nước

Do đó tỉ lệ học sinh tốt nghiệp cao đẳng, đại học sau 6 tháng ra trường không tìm được việc làm chiếm 27,53%, số làm đúng nghề đào tạo chỉ gần 30% (Điều tra việc làm sinh viên tốt nghiệp 51 trường Đại học và Cao đẳng, 1999) Trong khi

đó hệ thống đào tạo nghề mới được phục hồi, tỉ lệ đào tạo vẫn còn thấp, tình trạng thiếu lao động kỹ thuật trình độ cao còn khá lớn, đặc biệt là một số ngành nghề kinh tế mũi nhọn

Tâm lý chung của các em học sinh phổ thông là không muốn thi vào trường nghề, dẫn tới tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” càng trở nên phổ biến hiện

Trang 31

nay Trong lúc sinh viên đại học ra trường khó hoặc thậm chí không thể tìm được việc làm thì các cơ sở kinh tế, sản xuất và dịch vụ, các doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài lại không tuyển dụng được lao động kỹ thuật theo yêu cầu của đối tác nước ngoài Các trường đào tạo về khoa học cơ bản, khoa học kỹ thuật là những ngành nghề thiết yếu lại chưa được chú trọng đúng mức

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm vào khoảng 7%, mức GDP gấp 2 lần hiện nay và nhịp độ quy mô đào tạo như hiện nay thì nhu cầu đào tạo nghề hàng năm khoảng 1,1 triệu người Theo tính toán của các nhà khoa học, nếu ở giai đoạn 3 từ thủ công lên cơ khí hoá (với cơ cấu lao động đại học/trung học chuyên nghiệp/công nhân kỹ thuật bán lành nghề/lao động thủ công là 1/4/20/60/15) như nước ta hiện nay thì số lao động đã qua đào tạo phải đạt khoảng 85% tổng số lao động đang làm việc, trong đó số đào tạo từ lành nghề trở lên là 70% mới thực hiện thành công công nghiệp hoá - hiện đại hoá được trong khi đó cơ cấu lao động có trình độ đại học, cao đẳng/công nhân kỹ thuật tính chung của nước ta năm 2002 là 1/1,33/4,17 [27, tr.136]

Tóm lại, đội ngũ công nhân kỹ thuật được đào tạo trong các trường dạy nghề đã và đang có tác động mạnh mẽ tới tăng trưởng kinh tế của quốc gia và có

vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội Trong điều kiện phát triển mạnh

mẽ của nền kinh tế thị trường và sự mở cửa giao lưu kinh tế với bên ngoài trong

xu thế toàn cầu hoá, vấn đề nâng cao chất lượng của lực lượng lao động công nhân kỹ thuật càng trở nên cấp thiết để đáp ứng đòi hỏi của thị trường lao động với tính cạnh tranh mạnh mẽ Chính trình độ nghề của đội ngũ công nhân kỹ thuật sẽ quyết định trực tiếp tới chất lượng sản phẩm làm ra ngay cả khi đã tiến hành sản xuất- dịch vụ theo công nghệ hiện đại Trái tim - khối óc - bàn tay

Trang 32

người thợ lành nghề là sự đảm bảo bền vững, chắc chắn nhất cho các sản phẩm phục vụ đời sống con người

1.2.2 Vai trò của hệ thống các trường dạy nghề trong đào tạo công nhân kỹ thuật

Trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người, giáo dục - đào tạo luôn chiếm vị trí quan trọng Ngày nay, chắc chắn không một quốc gia nào trên thế giới lại không thấy rõ vị trí nền tảng, vai trò then chốt của giáo dục - đào tạo đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng một trong những yếu tố tạo nên sự phát triển bền vững, sự tiến

bộ vượt bậc cho mỗi quốc gia là giáo dục - đào tạo Cùng với sự đóng góp lớn lao đó, giáo dục - đào tạo đã tham gia trực tiếp và đóng vai trò quyết định trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực Nó là cái không thể thiếu được để nâng cao trình độ văn hoá, trình độ học vấn, trình độ khoa học kỹ thuật, xử lý công nghệ, tổ chức quản lý và năng lực hoạt động thực tiễn của người lao động Trong

xã hội hiện đại, trình độ và năng lực của người lao động đã trở thành nhân tố quan trọng và là điều kiện thiết yếu cho xã hội phát triển bền vững

Không đâu xa, ngay bên cạnh chúng ta, Nhật Bản - một đất nước không giàu tài nguyên, bị chiến tranh tàn phá nặng nề đã trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới Người ta nhất trí với nhau rằng, trong những nguyên nhân chính làm nên "sự thần kỳ Nhật Bản" suốt mấy chục năm qua có nguyên nhân là nhờ vào giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực và sử dụng chúng một cách hợp lý Sau Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore cũng đã trở thành những “con rồng Châu Á” và đang là những nền kinh tế năng động có năng lực cao trong thế

kỷ 21 Lý giải những nguyên nhân dẫn đến thành công của những xứ sở này, người ta cho rằng đó là do nguồn nhân lực được giáo dục thường xuyên, liên tục

Trang 33

cũng như được khai thác sử dụng một cách hợp lý Thực tiễn ở các nước trên thế giới đã chứng minh vai trò cực kỳ to lớn của giáo dục - đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực

Ở nước ta, sau hơn gần hai thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Những thành tựu to lớn ấy đã cho phép chúng ta chuyển sang một giai đoạn phát triển mới cao hơn là đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đảng ta đã xác định, để nhanh chóng đưa sự nghiệp đó đến thắng lợi, chúng ta nhất thiết phải phát triển mạnh giáo dục đào tạo, phát huy nguồn lực con người với tư cách là yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Điều đó cho thấy, trong quan điểm của Đảng ta, phát triển mạnh giáo dục đào tạo trong đó có dạy nghề là yếu tố không thể thiếu được, tham gia một cách trực tiếp và đóng vai trò quyết định để phát huy nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Để việc dạy nghề thực sự đạt hiệu quả chúng ta không thể không kể đến vai trò của các trường dạy nghề Trường dạy nghề là sản phẩm của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hệ thống các trường dạy nghề ở các nước đã và đang phát triển mạnh mẽ với nhiều loại hình đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực lao động kỹ thuật cho quá trình phát triển kinh tế các quốc gia Hệ thống các trường dạy nghề đã thực sự trở thành một bộ phận cấu thành

hệ thống giáo dục quốc dân của các nước với vai trò, vị trí, quy mô ngày càng tăng và đặt ra nhiều vấn đề trong công tác quản lý ở mức vĩ mô và vi mô

Chiến lược phát triển của một quốc gia một mặt đặt ra những yêu cầu và cũng tạo điều kiện cho sự phát triển của nền giáo dục nói chung và nhà trường

Trang 34

nói riêng Chính quá trình phát triển nhà trường đã tạo điều kiện và cơ hội thành công cho chiến lược phát triển của mỗi quốc gia Tính chất Quốc tế - Quốc gia -Dân tộc trở thành một đặc trưng đậm nét của mô hình phát triển của nhà trường nói chung và trường nghề nói riêng

Việt Nam đang đứng trước những thách đố gay gắt của tương lai Xã hội Việt Nam đang chuyển mình trong sự giao thoa, vừa có cộng hưởng vừa có va đập giữa các làn sóng Văn minh nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp Mối liên hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai không chỉ biểu hiện trong những nét hài hoà, thích ứng mà còn bộc lộ trong cả những xung đột, mâu thuẫn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và từng cá nhân như lối sống, cách nghĩ, cách làm, nhu cầu tiêu dùng, giải trí Để chuẩn bị hành trang cần thiết cho từng

cá nhân và cả cộng đồng góp phần xây dựng một xã hội Việt Nam văn minh, hiện đại, có khả năng thích ứng với nhịp sống của xã hội đang trên con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì cần xây dựng được mô hình phát triển nhà trường dạy nghề Việt Nam hiện đại nhằm đào tạo lớp người có văn hoá, trí tuệ phát triển, có sức khoẻ tốt, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp và giàu giá trị nhân phẩm, đào tạo lao động kỹ thuật với nhiều trình độ khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng về nhân lực của nền sản xuất xã hội Bởi vì:

Ngành dạy nghề là một bộ phận của hệ thống kinh tế - xã hội, có chức năng đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất ra của của vật chất cho xã hội Ở giai đoạn cơ khí hoá, tỷ lệ cơ cấu lực lượng lao động hợp lý mà các nước tiên tiến đã áp dụng trong lĩnh vực công nghiệp là 1/4/60/20/15 Dạy nghề có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau song nếu đuợc đào tạo tại các trường dạy nghề người học sẽ được đào tạo một cách chi tiết, đầu đủ và nghiêm túc nhằm đảm bảo cho người học sau khi ra trường: Có được các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghề nghiệp ở trình độ chuyên môn nhất định để có

Trang 35

thể làm việc theo nghề đó sau khi tốt nghiệp, đồng thời có thể giáo dục cho họ những phẩm chất nghề nghiệp như lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức

tổ chức, kỷ luật trong lao động sản xuất Đó chính là phẩm chất, năng lực tạo nên nhân cách người lao động mới Qua dạy nghề người học còn nắm được các kiến thức và cơ sở khoa học của nền sản xuất nói chung, có được kỹ năng, kỹ xảo sản xuất, biết sử dụng các thiết bị sản xuất, các công cụ lao động điển hình, đơn giản, phổ biến nhất để có thể tự chọn nghề và đổi nghề trong tương lai

Qua dạy nghề người học có thể trở thành người lao động trực tiếp ở một lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể, được làm quen với các nguyên vật liệu, các thiết bị, các thiết bị và các kỹ năng nghề nghiệp mới, cho phép họ có khả năng thích ứng nhanh với mọi thay đổi mới của nền sản xuất hiện đại Đội ngũ này với nghề nghiệp chuyên môn thành thạo, có lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước

Để có thể làm việc dưới một chuyên môn nhất định, người học phải biết được đối tượng lao động và công cụ lao động nghề mà mình đang học Vì vậy, nghề có đặc trưng là sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, thời gian học lý thuyết bao giờ cũng ít hơn thời gian học thực hành Ví dụ: Tuyển sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở vào học nghề tiện, thời gian 3 năm, tay nghề khi tốt nghiệp là bậc 3/7 thì học lý thuyết là 1.500 giờ, thực hành là 3.360 giờ, hay với những nghề đòi hỏi các thành phẩm trí tuệ nhiều hơn như thợ sửa chữa các loại thì thời gian thực hành sản xuất khoảng 60% Như vậy, qua dạy nghề người học được thực hành theo mỗi chuyên môn nhất định, có kỹ năng, kỹ xảo để chuẩn bị quá trình sản xuất (hiểu nhiệm vụ, chuẩn bị vật liệu, phương tiện kỹ thuật, quy trình công nghệ, các thao tác lao động)

Trang 36

Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, việc áp dụng các quy trình công nghệ tiên tiến và sử dụng các phương tiện sản xuất hiện đại làm thay đổi nội dung và tính chất lao động của người công nhân Khi vận hành các phương tiện sản xuất tự động hoặc sửa chữa các thiết bị hiện đại, phức tạp, người công nhân phải tiến hành các thao tác tư duy kỹ thuật nhiều hơn là thao tác chân tay

Ví dụ: khi sử dụng một máy tiện tự động thì hầu hết các thao tác trước đây của người công nhân đều đã được tự động hoá theo chương trình Nhiệm vụ còn lại của người công nhân là điều khiển, quan sát và tập trung chú ý để theo dõi sự hoạt động của máy tiện một cách liên tục, thường xuyên, khi có sự cố thì phán đoán, nhanh chóng tìm nguyên nhân và biện pháp khắc phục Các thiết bị hiện đại đều kết hợp nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật như cơ khí, điện, điện tử, thậm chí cả thuỷ lực, khí nén Do vậy, để sửa chữa được những thiết bị này người công nhân cần được trang bị một số kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau ở mức độ cần thiết Mặt khác họ phải rèn luyện khả năng tư duy kỹ thuật thành thạo thì mới hoàn thành tốt được công việc Đây là đội ngũ công nhân kỹ thuật quan trọng, là đội quân tinh nhuệ trong nền sản xuất xã hội Vì thế, đào tạo những công nhân lành nghề để sau khi tốt nghiệp với khả năng sử dụng được những công cụ ấy sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta

Như vậy, trường dạy nghề có vai trò quyết định đến chất lượng đối với việc đào tạo ra đội ngũ công nhân kỹ thuật có tay nghề, có trình độ, có kỹ năng,

có phẩm chất đạo đức, có lối sống lành mạnh để góp phần đảm bảo sự thành công của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

1.3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc phát triển hệ thống đào tạo công nhân kỹ thuật

Trang 37

Các nhà kinh tế đã chỉ ra rằng sự phát triển kinh tế bền vững phụ thuộc chặt chẽ vào việc phát triển nguồn nhân lực Nói cách khác, sự phát triển nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế Chính vì vậy mà các nước phát triển và các nước có tốc độ phát triển cao như các nước NICs, Trung Quốc đã có sự đầu tư rất lớn vào vấn đề đào tạo phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên việc đầu tư như thế nào, quản lý các hoạt động đào tạo ra sao sẽ ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực đến chất lượng nguồn nhân lực, cũng như sự phát triển kinh tế Điều này nó thể hiện ở chỗ đầu tư cho nguồn nhân lực phải căn cứ vào nhu cầu thực tế và định hướng phát triển lâu dài của nền kinh tế, chứ không phải áp đặt, duy ý chí

Trong nền kinh tế thị trường, nếu thị trường lao động hoạt động một cách hoàn hảo thì chính những quy luật tương tác trên thị trường sẽ định hướng tối ưu cho việc đầu tư các nguồn lực của nền kinh tế cho giáo dục và đào tạo Khi thị trường lao động hoạt động kém hiệu quả, có nhiều sai lệch thì Nhà nước sẽ phải đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực Kinh nghiệm cho thấy, các nước có sự thành công trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực đều có sự đóng góp rất lớn của nhà nước

Tuỳ theo đặc trưng của từng quốc gia mà hệ thống đào tạo có sự khác biệt Một số nước trong đó có Việt Nam áp dụng hình thức giáo dục đào tạo tuần tự từ giáo dục phổ thông đến đào tạo chuyên môn Trong khi đó, một số nước khác lại đưa vấn đề đào tạo nghề vào ngay bậc trung học hoặc áp dụng cả hai hình thức này

1 INDONEXIA

Trước cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997 Indonexia là một nước

có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao Nhà nước đã có đầu tư thích đáng cho

Trang 38

giáo dục- đào tạo và đặc biệt đã có sự cải cách mạnh mẽ chương trình đào tạo cho phù hợp với yêu cầu về khoa học kỹ thuật tiên tiến Việc đưa giáo dục nghề nghiệp vào bậc trung học, bên cạnh đó vẫn áp dụng hệ thống trung học phổ thông đã tạo nên định hướng nghề sớm cho học sinh Những học sinh theo học trung học phổ thông khi tốt nghiệp đã có một trình độ tay nghề nhất định, có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh Những học sinh theo học trung học phổ thông có định hướng vào các trường cao dẳng, đại học, trong đó những ngành khoa học kỹ thuật cũng được đặc biệt chú trọng Tuy nhiên cũng như nhiều nước khác, ở Indonexia, số học sinh theo học trung học trung học phổ thông vẫn chiếm đa số (2/3 số học sinh trung học) Sở dĩ có điều này là do có khả năng chuyển tiếp lên bậc đại học, do uy tín và hấp dẫn của việc làm, nhất là trong lĩnh vực dịch vụ thương mại đòi hỏi một quá trình đào tạo phổ thông rất cơ bản Mặt khác thường các xí nghiệp thích nhận những học sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông sau đó đi học nghề hơn

Trong thực tế, chất lượng giáo dục kỹ thuật phụ thuộc vào các môn học thuộc chương trình giảng dạy có phù hợp với việc chuyên môn hoá sản xuất của vùng có trường này Ở những nơi có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và xí nghiệp trong vấn đề giảng dạy, thực tập thì chất lượng đào tạo rất cao Đây cũng

là một định hướng mà các nhà chức trách Indonexia đang quan tâm

Một đặc điểm lớn ảnh hưởng đến vấn đề đào tạo nghề là đầu tư của nhà nước còn hạn chế Khu vực tư nhân hầu như đảm trách phần lớn các hoạt động đào tạo nghề Khu vực tư nhân hầu như nhận toàn bộ số học sinh đến xin học, trong khi đó khu vực nhà nước bình quân chỉ nhận khoảng 50% số người đến xin học Do qui chế tuyển sinh của khu vực nhà nước chặt chẽ hơn, và chương trình đào tạo qui củ hơn nên chất lượng đào tạo thuộc khu vực nhà nước cao hơn

Trang 39

Ngoài hoạt động đào tạo nghề ở bậc trung học, các hình thức đào tạo nghề khác còn chưa phát triển và không được quản lý một cách chặt chẽ, có hệ thống Những cơ sở đào tạo nghề chủ yếu thuộc khu vực phi chính thức Chính vì vậy

mà nhà nước rất khó quản lý chất lượng đào tạo của các cơ sở này

Để giảm bớt sự khác biệt giữa đào tạo với thực tiễn, Chính phủ đã quan tâm đến việc đào tạo nghề tại các xí nghiệp Hình thức này chủ yếu là vừa học vừa làm Nó có ưu điểm là rất thực tế, học và hành được gắn kết một các chặt chẽ, học sinh dễ tiếp thu và tay nghề được nâng lên nhanh chóng, đáp ứng ngay yêu cầu của công việc Tuy vậy đào tạo nghề ở các xí nghiệp thường không có tính hệ thống mà chủ yếu tập trung vào những kỹ năng, công việc mà xí nghiệp đang cần Các xí nghiệp thường áp dụng hình thức đào tạo ngắn hạn, đào tạo một loại kỹ năng công việc nào đó nên học sinh thường bị phiến diện và hạn chế khả năng tìm việc làm khi họ muốn chuyển đổi nghề, hay chuyển sang nơi làm khác

Tóm lại, hệ thống đào tạo nghề ở Inđônêia còn chưa phát triển, đặc biệt vấn đề đào tạo nghề đã qua bậc phổ thông trung học còn chưa chính thống, chưa

có sự quản lý một cách chặt chẽ, tuy nhiên việc đưa giáo dục kỹ thuật vào trong bậc học phổ thông là một cải cách lớn trong vấn đề đào tạo nghề Nó tạo điều kiện cho người lao động sớm tham gia vào thị trường lao động với một tay nghề nhất định và có định hướng nghề nghiệp sớm cho học sinh

Trang 40

mía, hoa quả nhiệt đới Về công nghiệp, tập trung phát triển hai nhóm ngành chủ yếu: công nghiệp chế biến làm tăng giá trị hàng nông sản và khai khoáng và Công nghiệp thay thế hàng nhập khẩu, đặc biệt là hàng tiêu dùng như may mặc, giày, da Trong thời gian này, Chính phủ thực hiện bảo hộ quá mức nền sản xuất trong nước nên đã làm cho nền sản xuất công nghiệp chững lại vào cuối những năm 1960, đầu những năm 1970 Ngay sau đó, Chính phủ đã áp dụng chính sách sản xuất hướng ra xuất khẩu và chuyển dịch sang các ngành công nghiệp có công nghệ cao vào cuối những năm 1980, đầu những năm1990

Các chính sách cải cách kinh tế đã tạo cho Thái Lan trở thành một nước công nghiệp phát triển nhanh ở Đông Nam Á Đã bắt đầu xuất hiện vấn đề cần giải quyết, đó là công nhân phải thích ứng với thị trường lao dộng, hay nói khác

đi là đã bắt đầu xảy ra hiện tượng thiếu lao động có trình độ kỹ thuật cao để đáp nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vấn đề giáo dục - đào tạo trở nên căng thẳng, đặc biệt là đào tạo nghề Một đặc điểm hệ thống giáo dục khá giống Việt Nam đó là tỉ lệ học sinh, sinh viên trong các ngành sư phạm, văn học, luật, và các ngành xã hội khác chiếm tỉ lệ cao Văn học và sư phạm tập hợp 2/3

số sinh viên; luật 24% Trong khi đó các ngành như nông học, chế tạo hay các ngành kỹ thuật khác lại rất ít học sinh đến học, chỉ chiếm từ 2-3% số học sinh Điều này đã làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt các kỹ sư và kỹ thuật viên

mà lại thừa các cử nhân văn chương, cử nhân luật

Để khắc phục tình trạng này, chính sách giáo dục hiện nay nhằm củng cố các mặt công tác đào tạo kỹ thuật và đào tạo nghề thông qua lựa chọn và ưu tiên cho việc giảng dạy “kỹ năng trình độ” nhằm làm cho học sinh cảm nhận được tầm quan trọng của công tác đào tạo kỹ thuật, và đào tạo khoa học Bên cạnh đó việc nâng cao giá trị, bằng kỹ thuật và chuyên nghiệp vào cuối bậc trung học cũng được khuyến khích

Ngày đăng: 19/12/2015, 01:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đỗ Minh Cương (2004), Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn , Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2004
3. Nguyễn Trọng Chuẩn (1997), “Để cho khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá”, Tạp chí Triết học, (1), tr.3- 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để cho khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1997
4. Nguyễn Trọng Chuẩn (1990), ”Nguồn nhân lực trong chiến lược kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2000”, Tạp chí Triết học, (4), tr.19-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1990
5. Nguyễn Trọng Chuẩn (2001), ”Tạo dựng nguồn lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Tạp chí Cộng sản, (14), tr.18-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2001
6. Phạm Tất Dong (1993), "Giáo dục- Nền tảng của chiến lược con người", Tạp chí Cộng sản, (3), tr.12-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục- Nền tảng của chiến lược con người
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 1993
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1994
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn Kiện hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành Trung ương Khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn Kiện hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành Trung ương Khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
10. Phạm Văn Đức (1998), "Mấy suy nghĩ về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hoá”, Tạp chí Triết học, (6), tr.5- 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hoá
Tác giả: Phạm Văn Đức
Năm: 1998
11. Phạm Minh Hạc (Chủ biên, 1996) , Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
12. Nguyễn Thị Hằng (1999), "Phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam đến năm 2010”, Tạp chí Cộng sản, tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 1999
13. Nguyễn Thị Hằng (1999), "Về triển khai thực hiện công tác đào tạo nghề và chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm”, Tạp chí Lao động - Xã hội, (144), tr.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về triển khai thực hiện công tác đào tạo nghề và chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 1999
14. Nguyễn Văn Hiệu (1997), "Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Tạp chí Cộng sản, (1), tr.17- 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệu
Năm: 1997
15. Đoàn Văn Khái (2000), Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, Luận án Tiến sỹ Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Đoàn Văn Khái
Năm: 2000
16. Lê Ái Lâm (2000), "Đào tạo nghề cho lực lượng lao động vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Tạp chí Cộng sản, (4), tr. 47-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nghề cho lực lượng lao động vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Lê Ái Lâm
Năm: 2000
18. Cao Văn Lượng (Chủ biên, 2001), Công nghiệp hoá - hiện đại hoá và sự phát triển giai cấp công nhân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hoá - hiện đại hoá và sự phát triển giai cấp công nhân
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
19. C.Mác - Ph Ăng ghen (2004), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph Ăng ghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
20. C.Mác - Ph.Ăng ghen (2004), Toàn tập, tập 23, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
22. Nguyễn Lê Minh (1999), “Dạy nghề ngắn hạn và việc làm", Lao động - Xã hội, (III), tr.19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy nghề ngắn hạn và việc làm
Tác giả: Nguyễn Lê Minh
Năm: 1999
23. MOLISA-ORSTOM (1998), Tác động của những biến đổi kinh tế đến sự phát triển nguồn nhân lực, việc làm và khu vực phi kết cấu ở Việt Nam và Đông Nam Á, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của những biến đổi kinh tế đến sự phát triển nguồn nhân lực, việc làm và khu vực phi kết cấu ở Việt Nam và Đông Nam Á
Tác giả: MOLISA-ORSTOM
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Cơ cấu đào tạo nghề chia theo vùng lãnh thổ, khu vực kinh - Đào tạo công nhân kỹ thuật theo yêu cầu công nghiệp hoá   hiện đại hoá   luận văn ths kinh tế  5 02 01 pdf
Bảng 2.3. Cơ cấu đào tạo nghề chia theo vùng lãnh thổ, khu vực kinh (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm