1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện dân chủ trong các trường cđ, đh ở tỉnh bình dương hiện nay luận văn ths triết học 5 01 02 pdf

112 553 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tầm quan trọng đó, tác giả chọn đề tài “Thực hiện dân chủ trong các trường cao đẳng, đại học ở tỉnh Bình Dương hiện nay” để làm đề tài luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành CNXH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRƯƠNG THỊ XỬ

THỰC HIỆN DÂN CHỦ TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC

Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2005

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRƯƠNG THỊ XỬ

THỰC HIỆN DÂN CHỦ TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Mã số: 5.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHÙNG KHẮC BÌNH

HÀ NỘI - 2005

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu 2

Chương 1 Một số cơ sở nhận thức về dân chủ và thực hiện dân chủ 8

1.1 Dân chủ, quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ 8

1.2 Quan điểm về dân chủ của Đảng và Nhà nước ta 17

Chương 2 Thực trạng việc thực hiện dân chủ trong các trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương từ năm 1998 đến nay 30

2.1 Vài nét về tình hình, đặc điểm của các trường đại học, cao đẳng ở Bình Dương 30

2.2 Thực trạng của việc thực hiện dân chủ trong các hoạt động của các trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương 35

Chương 3 Những giải pháp nhằm thực hiện tốt dân chủ trong các trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương hiện nay 64

3.1 Các quan điểm chỉ đạo thực hiện dân chủ 64

3.2 Các giải pháp chủ yếu 73

Kết luận 96

Danh mục tài liệu tham khảo 98

Trang 4

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BGD & ĐT: Bộ giáo dục và Đào tạo

CĐ : Cao đẳng CĐSP: Cao đẳng sư phạm

CB, GV, NV: Cán bộ, giáo viên, nhân viên CTQG: Chính trị Quốc gia

CNDVBC: Chủ nghĩa duy vật biện chứng CNDVLS: Chủ nghĩa duy vật lịch sử CNXHKH: Chủ nghĩa xã hội khoa học CNXH: Chủ nghĩa xã hội

ĐH: Đại học GVCN: Giáo viên chủ nhiệm HS: Học sinh

NXB: Nhà xuất bản QCDC: Quy chế dân chủ SGD & ĐT: Sở Giáo dục và Đào tạo SV: Sinh viên

THCN: Trung học chuyên nghiệp XHCN: Xã hội chủ nghĩa:

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dân chủ là bản chất của Nhà nước ta, của chế độ ta, thể hiện tính ưu

việt của chế độ xã hội chủ nghĩa

Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, cách mạng chỉ thành công khi có sự đóng góp tích cực của nhân dân Đảng luôn coi trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tin yêu nhân dân, dựa vào nhân dân nên đã đưa cách mạng Việt Nam vượt qua bao gian nguy, thử thách và đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề dân chủ càng được Đảng đặc biệt quan tâm, Văn kiện Đại hội IX đã nêu: Nhà nước ta là nhà nước dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ “do tổng tuyển cử mà nhân dân bầu ra Quốc hội, Quốc

hội bầu ra Chính phủ, Chính phủ đó thật sự là Chính phủ của nhân dân”

Nhà nước đã ban hành những quy định làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện dân chủ, Nghị định 71/1998/NĐ-CP và Quyết định 04/2000/QĐ-BGD&ĐT nhằm thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân

kiểm tra”

Ở Bình Dương, là nơi có các khu công nghiệp đang hình thành và ngày càng phát triển, là nơi các trường cao đẳng, đại học có nhiều đóng góp tích cực trong việc đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh và cả nước Những năm học

qua “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động nhà trường” đã được triển

khai, từng bước đi vào các hoạt động và đạt những kết quả bước đầu Tuy nhiên, vẫn còn khó khăn, phức tạp của nhiều vấn đề đang đặt ra cần giải quyết

để việc thực hiện dân chủ trong nhà trường trở thành nền nếp, đúng chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước Đó là việc làm có ý nghĩa đối với việc xây dựng nhà trường trở thành đơn vị tiên tiến Hơn nữa, bản thân

Trang 6

vấn đề dân chủ cũng cần được cụ thể hóa trong môi trường giáo dục đặc thù,

là đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước

Với tầm quan trọng đó, tác giả chọn đề tài “Thực hiện dân chủ trong

các trường cao đẳng, đại học ở tỉnh Bình Dương hiện nay” để làm đề tài

luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành CNXHKH, với hy vọng có thể đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào một vấn đề mới mẻ, bức xúc hiện nay ở cả nước nói chung, trong các trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Dân chủ là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đưa vào các chủ trương, đường lối từ rất lâu, nhưng dân chủ trong hoạt động của cơ quan mới được Nhà nước thể chế hóa bằng pháp luật từ năm 1998 đến nay Song, vấn đề dân chủ đã được các nhà lãnh đạo, nhà khoa học, tác giả quan tâm nghiên cứu

Phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng và thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở” của Lê Khả Phiêu (1998); “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng và thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở” của Đỗ Mười (1998)

Các bài viết: “Thực hiện dân chủ trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam” của Hoàng Văn Nghĩa (Tạp chí Lý luận Chính trị, số 8/ 2002); “Tinh thần dân chủ trong văn hóa Hồ Chí Minh” của Nguyễn Trung Thu (Tạp chí Cộng sản, 11/2003); “Dân chủ và hiện đại hóa” của Hà Thúc Minh (Tạp chí Cộng sản, 11/2001); “Dân chủ ở cơ sở - một sức mạnh truyền thống của sức mạnh dân tộc Việt Nam” của Trần Bạch Đằng (Tạp chí Cộng sản, số 35/ 2003); “Cơ sở

lý luận - thực tiễn của phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và “Mấy vấn đề xây dựng Quy chế dân chủ ở cơ sở” của Đỗ Quang Tuấn

(Tạp chí Cộng sản 8/1998)

Trang 7

Một số công trình được đăng thành sách: “Thực hiện Quy chế dân chủ

ở cơ sở trong tình hình hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”

(PGS-TS Nguyễn Cúc chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002); “Dân chủ

và tập trung dân chủ - lý luận và thực tiễn” (Nguyễn Tiến Phồn - NXB Khoa hoc xã hội, Hà Nội, 2001); “Sự vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý nhà nước” (PTS Nguyễn Tiến Phồn, NXB Khoa hoc xã

hội, Hà Nội, 1996)

Các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ có liên quan đến vấn đề dân chủ: Luận văn

thạc sĩ triết học chuyên ngành CNXHKH của Tô Tuyên “Việc vận dụng một

số quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ chí Minh về dân chủ trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở cấp cơ sở”; Luận văn thạc sĩ triết học chuyên ngành CNXHKH của Phan Văn Bình “Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - Những vấn đề đặt ra và giải pháp”; Luận văn tiến sĩ triết học chuyên ngành CNXHKH của Phạm Văn Bính “Vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ triết học chuyên ngành CNXHKH của Nguyễn Minh Thi “Thực hiện Quy chế dân chủ ở các vùng nông thôn, miền núi của tỉnh Bắc Giang hiện nay"; Tiểu luận chuẩn hóa thạc sĩ chuyên ngành CNXHKH của Nguyễn Tài Quang “Đảm bảo

và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong sinh viên của các trường đại học trong giai đoạn hiện nay”; Luận văn thạc sĩ triết học, chuyên ngành CNDVBC và CNDVLS của Mai Văn Hiển “Mở rộng dân chủ trong giáo dục đại học ở nước ta hiện nay”

Ở Bình Dương có các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức triển khai, thực hiện và hướng dẫn xếp loại thi đua thực hiện QCDC của Tỉnh ủy, ngành giáo dục, trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương; Các báo cáo đánh giá, xếp loại việc thực hiện QCDC ở các trường cao đẳng, đại học Tuy nhiên, vấn

Trang 8

đề “Thực hiện dân chủ trong các trường cao đẳng, đại học ở tỉnh Bình

Dương hiện nay” thì chưa ai đề cập đến

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

* Mục đích của đề tài

Nhằm phát huy dân chủ đúng quy định của pháp luật trong CB, GV, NV,

SV ở các trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương Qua đó, thực hiện càng tốt hơn “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường” của Bộ Giáo dục và Đào tạo

* Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Khảo sát, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dân chủ trong các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh Bình Dương: trường CĐSP Bình Dương, trường Đại học Dân lập Bình Dương, trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật dân lập Bình Dương, trường Sĩ quan Công binh Qua đó, đề ra những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh việc thực hiện dân chủ trong các trường này

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

* Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở: Lý luận của chủ nghĩa Lênin và tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân chủ, các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, Nghị định 71/1998/NĐ-CP ngày 8-9-1998, Chỉ thị 38/1998/ CT-TTg ngày 11-11-1998, Quyết định 04/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 3-2-2000, Công văn số 423/CV/BCĐ và số 219/CV-TC, số 2046/HD-BCĐ của Ban chỉ đạo thực hiện QCDC ở tỉnh Bình Dương, của Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương Quy chế thực hiện dân chủ trong nhà trường của trường CĐSP Bình Dương và các trường cao đẳng, đại học khác Hướng dẫn xếp loại thi đua, báo cáo tổng kết việc thực hiện QCDC của các trường cao đẳng, đại học trong tỉnh Bình Dương Ngoài ra tác giả còn kế thừa có chọn lọc các bài viết của các tác giả có liên quan đến vấn đề dân chủ đã được công bố

Trang 9

Mác-* Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận: sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích,

tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết lịch sử và các phương pháp khác

- Nghiên cứu thực tiễn: quan sát, thu thập thông tin từ thực tiễn, điều tra

xã hội học, tìm hiểu việc thực hiện dân chủ trong các trường, phân tích, tổng hợp, xử lý, thống kê các số liệu Khi thực hiện luận văn này, tác giả đã trực tiếp tiến hành khảo sát ở các trường CĐSP Bình Dương, trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật dân lập Bình Dương, trường Sĩ quan Công binh, trường Đại học Dân lập Bình Dương, với số phiếu là 471 phiếu, trong đó có 161 phiếu dành cho CB, GV, NV và 310 dành cho SV

5 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu việc thực hiện dân chủ trong hoạt động nhà trường ở các trường cao đẳng, đại học tỉnh Bình Dương thông qua CB, GV, NV, SV từ năm 1998 đến nay

6 Đóng góp của luận văn

Qua điều tra, nghiên cứu, phân tích quá trình thực hiện dân chủ trong các trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương, luận văn khái quát được kết quả ban đầu, những hạn chế và nguyên nhân, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường việc thực hiện dân chủ trong nhà trường

Kết quả đạt được của luận văn sẽ góp phần nâng cao nhận thức và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong trường học, làm cho việc thực hiện dân chủ trở thành niềm tin và sự mong muốn của mọi người

Luận văn có thể làm tài liệu trong nghiên cứu giảng dạy các chuyên đề có liên quan đến dân chủ, đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo cho các trường trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong phạm vi trường học

Trang 10

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

có 3 chương, với 6 tiết

Chương 1: Một số cơ sở nhận thức về dân chủ và thực hiện dân chủ Chương 2: Thực trạng việc thực hiện dân chủ trong các trường cao

đẳng, đại học ở Bình Dương

Chương 3: Những giải pháp nhằm thực hiện tốt dân chủ trong các

trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ NHẬN THỨC

VỀ DÂN CHỦ VÀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ

1.1 Dân chủ, quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

1.1.1 Một số quan niệm về dân chủ

Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu và đưa ra những quan niệm về dân chủ, ở đây chúng tôi chỉ kế thừa và nêu lên một số quan điểm có tính khái quát

Dân chủ theo nghĩa gốc của nó từ chữ Hy Lạp Demos - Kratos, để chỉ quyền lực của nhân dân, thuộc về nhân dân Demos có nghĩa là người bình dân, là dân chúng, không phải là quý tộc, không phải là nô lệ Kratos có nghĩa

là quyền lực cai trị, sức mạnh Dân chủ là một thuật ngữ chính trị - xã hội, được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Khái niệm dân chủ có thể tiếp cận theo nhiều cách khác nhau Dân chủ với tư cách là quyền lực của nhân dân, với tư cách là chế độ nhà nước gắn với một giai cấp cầm quyền và một quan hệ sản xuất chủ đạo, với tư cách là một giá trị xã hội, một trình độ phát triển của văn hoá, văn minh, một thuộc tính bản chất của con người

Dân chủ với ý nghĩa là chế độ xã hội, là tổ chức nhà nước thì dân chủ là một phạm trù lịch sử, dân chủ được hiểu là giá trị xã hội thì dân chủ là một phạm trù được tồn tại lâu dài trong xã hội

Nội dung, hình thức và tính chất của dân chủ luôn luôn thay đổi cùng với sự vận động của lịch sử Càng về sau khái niệm dân chủ càng được mở rộng về nội hàm và có nhiều nội dung mới

Trang 12

Trong xã hội nguyên thủy do lực lượng sản xuất thấp kém, để có thể tồn tại được trước sức mạnh huyền bí của thiên nhiên hoang sơ, con người phải gắn bó với nhau nhằm tạo nên sức mạnh của cộng đồng Như vậy, ngay từ buổi bình minh của lịch sử nhân loại, con người đã biết sử dụng sức mạnh của cộng đồng để thực hiện quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc

Sự phát triển của lực lượng sản xuất, cùng với nó là sự ra đời của chế

độ tư hữu và xã hội có sự phân chia giai cấp Một bộ phận quyền lực đặc biệt thuộc về một số người ra đời, đó là nhà nước Giai cấp chủ nô chiếm đoạt nhà nước và biến nhà nước thành công cụ thực hiện quyền lực chính trị của mình Nhà nước chủ nô là hình thái đầu tiên của chế độ dân chủ trong xã hội có giai cấp Trong nền dân chủ chủ nô, quyền lực thuộc về tầng lớp chủ nô dân chủ

và các công dân tự do, nô lệ không được hưởng quyền gì cả, họ chỉ được xem như con vật biết nói Dân chủ chủ nô được vận hành theo một thể chế dân chủ cho thiểu số

Theo quy luật phát triển của xã hội loài người, chế độ dân chủ sau phải tiến bộ hơn, cao hơn chế độ dân chủ trước Nhưng trái lại, kiểu nhà nước phong kiến lại độc đoán chuyên quyền, kết hợp với thế lực và thần quyền ức hiếp nhân dân Các quyền con người của thần dân đều do vua ban phát, bởi trong chế độ phong kiến chuyên chế toàn bộ quyền lực (quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp) đều nằm trong tay nhà vua, C.Mác viết, nguyên tắc cao nhất của chế độ chuyên chế là con người bị mất hết nhân tính

Nền dân chủ tư sản được thiết lập, xét về bản chất đó là nền dân chủ cho giai cấp tư sản Đối với nhân dân lao động, quyền dân chủ được hưởng rất hạn chế so với trình độ phát triển mà xã hội tư bản đạt được Giai cấp tư sản

đã tuyên bố về các quyền tự do, bình đẳng, bác ái, quyền tự do cá nhân của con người Song, trên thực tế chủ nghĩa tự do cho toàn xã hội bị thay thế bằng chủ nghĩa tự do cho giai cấp thống trị Dù là chế độ dân chủ đầy giả dối nhưng dân chủ tư sản cũng đạt được những bước tiến dài trên con đường giải

Trang 13

phóng cá nhân Tuy nhiên, nền dân chủ tư sản là nền dân chủ dựa trên sự tước đoạt dân chủ, tước đoạt quyền tự do chính đáng của các giai cấp và tầng lớp khác để bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản Vì vậy, dân chủ tư sản không phải

là mục đích để loài người hướng đến

Chỉ có dân chủ XHCN, chế độ dân chủ được thiết lập trên cơ sở của chế độ kinh tế, mà ở đó tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về toàn xã hội, là nền dân chủ đem lại tự do, hạnh phúc thật sự cho đại đa số nhân dân lao động, đó

là mục đích mà loài người hướng đến

Dân chủ trong giáo dục cao đẳng, đại học cũng là một bộ phận của nền dân chủ XHCN, nó phải mang bản chất của nền dân chủ XHCN

1.1.2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã kế thừa những nhân tố hợp lý những hoạt động thực tiễn và nhận thức của nhân loại về dân chủ, đặc biệt là tán thành cho rằng dân chủ là nhu cầu khách quan của nhân dân lao động, dân chủ là

quyền lực của nhân dân, chế độ dân chủ theo C.Mác nói đó là “Sự tự quy định

của nhân dân”

Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, khi xã hội có giai cấp và nhà nước thì chế độ dân chủ thể hiện chủ yếu thông qua nhà nước Mỗi chế độ dân chủ gắn với nhà nước đều mang bản chất giai cấp thống trị xã hội Dân chủ tư sản mang bản chất giai cấp tư sản Nền dân chủ XHCN mang bản chất của giai cấp công nhân

Từ khi có nhà nước dân chủ, thì dân chủ còn với ý nghĩa là một hình thức nhà nước, có chế độ bầu cử, bãi miễn các thành viên nhà nước, có quản

lý xã hội theo pháp luật nhà nước và thừa nhận ở nhà nước đó quyền lực thuộc về nhân dân

Với một chế độ dân chủ và nhà nước tương ứng, đều do một giai cấp thống trị cầm quyền chi phối tất cả các lĩnh vực của toàn xã hội, nên giai cấp

Trang 14

thống trị cũng gắn liền và chi phối tính dân tộc, tính chất của chế độ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội

Dân chủ XHCN

Đó là nền dân chủ đảm bảo cho nhân dân lao động tham gia ngày càng nhiều vào quá trình quản lý nhà nước Dân chủ đi đôi với tập trung, gắn liền với chuyên chính, dân chủ không tách rời kỷ cương, kỷ luật, pháp luật và trách nhiệm công dân

Để có nền dân chủ, giai cấp vô sản mỗi nước phải tiến hành cách mạng chống chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ quyền thống trị của giai cấp tư sản và tự mình trở thành giai cấp thống trị, giành lấy dân chủ với ý nghĩa là giành lấy quyền lực nhà nước và tổ chức quyền lực đã giành được thành quyền lực nhà nước dân chủ

vô sản C.Mác và Ăngghen chỉ rõ: “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự mình giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc” [61, tr.10]

Lênin đưa ra: “Dưới chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhiều mặt của chế độ nguyên thủy tất nhiên sẽ sống lại, lần đầu tiên trong lịch sử xã hội văn minh, quần chúng nhân dân vươn lên tham gia một cách độc lập không những vào việc bầu cử, mà cả việc quản lý hàng ngày nữa” [39, tr.143] Dân chủ XHCN đóng vai trò to lớn trong các cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người

Dân chủ XHCN là nền dân chủ mang tính chất giai cấp công nhân, một nền dân chủ cho đa số, cho số đông nhân dân lao động, Lênin viết: “Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ - lần đầu tiên biến chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân dân chủ cho tuyệt đại đa

số nhân dân” [40, tr.107] Dân chủ XHCN đi đôi với tập trung, dân chủ gắn liền với chuyên chính, dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, pháp luật và trách nhiệm công dân

Trang 15

Dân chủ XHCN kế thừa có chọn lọc những thành tựu của nền dân chủ trước đó, nhất là dân chủ tư sản Song, nền dân chủ XHCN và dân chủ tư sản khác nhau về chất Dân chủ XHCN được thực hiện trên cơ sở kinh tế là công hữu hoá các tư liệu sản xuất chủ yếu, còn dân chủ tư sản được thực hiện trên

cơ sở kinh tế là chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội Dân chủ XHCN lấy mục tiêu cao nhất là giải phóng triệt để con người, một nền dân chủ triệt để nhất và rộng rãi nhất “Dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản” Dân chủ tư sản là dân chủ cho thiểu số phục vụ cho lợi ích thiểu số, còn dân chủ XHCN là nền dân chủ cho đại đa số nhân dân lao động và được thể hiện toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Về chính trị, nhân dân được quyền làm chủ nhà nước, nhà nước XHCN

là “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”, nhân dân có quyền giới thiệu đại biểu

tham gia vào bộ máy chính quyền các cấp, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật, xây dựng bộ máy, Lênin coi sự tham gia quản lý nhà nước của những người lao động là mục đích của chính quyền Xô viết, Người viết:

“Việc thu hút người lao động tham gia quản lý là một trong những ưu thế quyết định của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vì rằng một thiểu số người, tức

là Đảng không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội” [40, tr.67-68]

Về kinh tế, nhân dân được làm chủ tư liệu sản xuất chủ yếu, không

ngừng nâng cao đời sống vật chất

Về văn hoá, nhân dân được làm chủ các giá trị văn hoá và có điều kiện

phát triển toàn diện

Theo Lênin, dân chủ XHCN có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và văn hoá “Chủ nghĩa xã hội chiến thắng sẽ không giữ được thắng lợi của mình và sẽ không dẫn được nhân loại đi đến chỗ thủ tiêu nhà nước, nếu không thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ” [38, tr.167]

Trang 16

Chế độ dân chủ XHCN sẽ tiêu vong cùng với sự tiêu vong của nhà nước, khi đó dân chủ với tư cách là quyền của con người trong việc sử dụng sức mạnh vật chất và tinh thần, khách quan và chủ quan để thực hiện quyền lực, lợi ích của mình sẽ hiện hữu một cách đích thực như bản chất vốn có của

nó, trở thành giá trị nhân văn, đóng vai trò là động lực cho sự phát triển bền vững của xã hội Dân chủ XHCN là thành quả của quá trình hoạt động tự giác của quần chúng nhân dân lao động, đồng thời với tư cách là một chế độ chính trị sẽ từng bước hoàn thiện và phát huy vai trò, động lực to lớn trong tiến trình cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Để làm tròn sứ mệnh là Bộ tham mưu, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân thì trong quá trình xây dựng và phát triển, tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng Trong điều kiện cầm quyền, Đảng cộng sản tự khẳng định mình là khối đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động, đó chính là điều kiện để Đảng giữ được uy tín của mình là lãnh tụ chính trị trước nhân dân Đại hội IV (Đại hội thống nhất) của Đảng Bôn-sê-vich Nga khẳng định: “Tất cả các tổ chức Đảng phải tập trung dân chủ”

Dân chủ trong giáo dục - đào tạo, theo chủ nghĩa Mác - Lênin được hiểu là cơ hội giáo dục bình đẳng cho mọi người trên cả phương diện vào trường và cả sự thành đạt trong giáo dục, không chấp nhận một loại giáo dục nào chỉ dành riêng cho con em những kẻ có đặc quyền, đặc lợi, mà cho tất cả mọi người

Tóm lại, theo chủ nghĩa Mác-Lênin, dân chủ XHCN mang bản chất tốt

đẹp, nó tạo ra điều kiện thuận lợi để con người thực hiện tự do, bình đẳng, có nhân cách độc lập, nó là mục đích, là điều kiện để con người chiếm cái tất yếu, sáng tạo và cải tạo xã hội để ngày càng vươn tới tự do

1.1.3 Một số quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ

Trang 17

Hồ Chí Minh diễn đạt dân chủ rất dễ hiểu mà bất cứ một ai, người học

ít hay học nhiều, đều có thể nhớ được, hiểu được Theo Người, dân chủ là dân

là chủ, dân làm chủ, chỉ khi vị trí là chủ của dân được xác định thì vai trò làm chủ của nhân dân mới được xác lập trong thực tiễn

Dân là đông đảo những người lao động, những người bị áp bức bóc lột, không có chức quyền, họ làm việc ở nhiều ngành nghề khác nhau trong đời sống xã hội Nhân dân là bốn giai cấp: công nhân, nông dân, tiểu tư sản,

tư sản dân tộc Chữ dân đồng nhất với nhân dân, quần chúng, dân chúng, đó

là toàn dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái hay trai, giàu hay nghèo, không phân biệt dân tộc, tôn giáo trừ bọn tay sai cho đế quốc thực dân, bọn phản bội lợi ích Tổ quốc, đi ngược lại con đường độc lập tự do và CNXH

Khi trả lời câu hỏi “Dân chủ là như thế nào?” Hồ Chí Minh viết: “Là dân làm chủ Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, uỷ viên này khác làm gì? Làm đày tớ Làm đày tớ cho dân , chứ không phải làm quan cách mạng” [46, tr.375] Muốn bảo đảm quyền làm chủ của dân một cách thực sự thì phải xác định rõ trách nhiệm của người cán bộ tức người đày tớ của nhân dân cũng như quyền hạn và bổn phận của người chủ Nhân dân có quyền giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình chính phủ làm tròn nhiệm vụ đày tớ của dân “Nếu chính phủ làm hại thì dân có quyền đuổi chính phủ nếu chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình không phải là chửi ” [43, tr.60]

Nhân dân và chính phủ có mối quan hệ mật thiết, nếu không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực lượng, nếu không có chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường Vì thế, nhân dân phải tổ chức ra nhà nước, nhà nước là

cơ quan hướng dẫn nhân dân, bảo đảm quyền làm chủ của dân Người cán bộ muốn được dân tin, dân yêu thì phải “siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng” [43, tr.208]

Trang 18

Cả cuộc đời cách mạng luôn hướng về dân, mọi suy nghĩ và việc làm của Hồ Chủ tịch đều vì dân và để phục vụ lợi ích nhân dân Người dạy, việc

gì có lợi cho dân thì phải làm cho kỳ được, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh Ngay từ những ngày đầu tiên của chế độ xã hội mới, sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở

“Nước ta là một nước dân chủ Mọi công việc đều gì lợi ích của nhân dân mà làm Khắp nơi có đoàn thể nhân dân, như Hội đồng nhân dân, Mặt trận, Công đoàn, Hội nông dân cứu quốc, phụ nữ cứu quốc những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết với nhân dân, với Chính phủ” [44, tr.66]

Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định quần chúng nhân dân có vai trò to lớn trong đấu tranh cách mạng, cách mạng chỉ có thể thành công khi được dân đồng tình ủng hộ

“Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”

Bất cứ việc gì dù khó mấy có dân thì sẽ thành công, sẽ có tất cả

“Dễ trăm lần không dân cũng chịu Khó vạn lần dân liệu cũng xong”

Dân là gốc của nước, để gốc dân vững mạnh, phải chăm lo cho dân, ưu tiên cho các tầng lớp nhân dân lao động, họ là lực lượng đông đảo, có khả năng và vị trí tạo ra của cải vật chất cho xã hội và bảo vệ đất nước, “trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới, không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [46, tr.276]

Chẳng những Người khẳng định quần chúng nhân dân có vai trò, vị trí quan trọng trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH, Người còn chỉ ra một căn bệnh và cho rằng là không dân chủ - đó là bệnh quan liêu Theo Người: “quan liêu là không dân chủ”, nguyên nhân của quan liêu là xa

Trang 19

nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân dân, không tin cậy nhân dân, không hiểu biết nhân dân, không yêu thương nhân dân Cách chữa bệnh quan liêu gồm một nguyên tắc theo đúng đường lối nhân dân và sáu điều: “Đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh thấy nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng học hỏi nhân dân; Tự mình làm gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính, để nhân dân noi theo” [44, tr.292-293]

Dân là chủ, dân làm chủ, nhưng theo Người trong quá trình làm chủ người dân phải luôn luôn gắn liền quyền và nghĩa vụ với nhau Trong quyền lợi có nghĩa vụ thực hiện bổn phận là đem lại quyền lợi cho cá nhân, cho đất nước Người dân có quyền thực hành dân chủ, nhưng dân chủ trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, dân chủ có kỷ cương, phép nước, không phải thứ dân chủ tự do, tùy tiện, vô chính phủ

Quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hành dân chủ phải thực hiện mọi lúc, mọi nơi Trong trường học cần có dân chủ Dân chủ trong trường học

là một bộ phận của tự do dân chủ nói chung, là thành quả đấu tranh cách mạng lâu dài của con người trong xã hội muốn khẳng định vị trí của mỗi cá nhân, của mối quan hệ vốn có của nó trong cộng đồng xã hội Dân chủ trong nhà trường chính là cơ sở không thể thiếu được để khơi dậy sức mạnh của đội ngũ cán bộ giáo dục và tính độc lập, tích cực của học sinh Hồ Chí Minh căn dặn: “trong trường cần có dân chủ Đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu Điều gì chưa thông suốt thì hỏi, bàn cho thông suốt Dân chủ, nhưng trò phải kính thầy, thầy phải giúp trò, chứ không phải là “cá đối bằng đầu” [45, tr.456] Theo Người, phải bàn bạc dân chủ, có công việc gì, ban phụ trách trường bàn bạc với anh em, làm cho tư tưởng thông suốt, động viên mọi người cùng làm, chứ không nên ban phụ trách định kế hoạch rồi bắt mọi người làm

Trang 20

Hồ Chí Minh còn đề cập đến giới hạn của dân chủ là cần phát huy đầy

đủ dân chủ XHCN, xây dựng mối quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân Cần thiết hơn là phải giúp cho thế hệ trẻ gìn giữ được đạo lý của cuộc sống trong quan hệ thầy trò, trong cách nhìn nhận và đánh giá những thuận lợi và khó khăn của xã hội Như thế mới làm cho thế hệ trẻ đi vào khuôn khổ một cách tự giác, khi mọi người phát biểu ý kiến đã tìm thấy chân chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hoá ra quyền tự do phục tùng chân

Thực hiện dân chủ trong nhà trường phải là một quá trình kết hợp đúng đắn giữa tôn trọng quyền lợi cá nhân và thực hiện nghĩa vụ cá nhân đối với tập thể Thiếu một trong hai quá trình dân chủ hoá nhà trường trở nên phiến diện hoặc tự do tùy tiện, vô chính phủ

Người khẳng định, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nếu không thực hành dân chủ, kỷ luật không nghiêm, sai nguyên tắc thì sẽ không thực hiện được dân chủ và đoàn kết trong nhân dân

Cả cuộc đời làm cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc cho nhân dân Người chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân tộc ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Trước lúc đi xa, Người không quên căn dặn:

“Đảng ta phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, văn hoá nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân” [18, tr.38]

Dân chủ là nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đây chính

là cơ sở tư tưởng, lý luận giúp Đảng cộng sản Việt Nam vận dụng trong việc xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta, đồng thời nhằm thực hiện Di chúc của Người “Toàn dân ta phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình,

Trang 21

thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”

1.2 Quan điểm về dân chủ của Đảng và Nhà nước ta

1.2.1 Quan điểm về dân chủ của Đảng ta

Hơn 75 năm lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng CNXH, Đảng ta lúc nào cũng xem dân chủ là một nội dung quan trọng được đưa ra trong đường lối cách mạng của mình Mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, là động lực để nhân dân ta thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược và đó cũng là bản chất của chế độ xã hội mới - chế độ XHCN Những yếu tố dân chủ, tinh thần dân chủ, lấy dân làm gốc, coi trọng dân, chăm lo cho dân, thương yêu dân, phục vụ lợi ích chân chính của dân vốn được hình thành trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, được Đảng ta kế thừa và phát huy trong điều kiện lịch sử mới

Ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của mình, Đảng đã xác định nhiêm vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam gồm hai nội

dung: dân tộc và dân chủ Hai nội dung dân tộc và dân chủ có gắn bó mật

thiết và không tách rời nhau Nội dung dân chủ trong giai đoạn trước khi cách mạng dân tộc dân chủ thành công chủ yếu là đem lại ruộng đất cho dân cày nghèo, họ là thành phần đông đảo trong xã hội

Sau khi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thành công Đảng đã lãnh đạo nhân dân chuyển sang giai đoạn cách mạng mới - cách mạng XHCN Thực hiện cuộc cách mạng XHCN là để giải phóng xã hội, giải phóng con người và phát huy quyền làm chủ của nhân dân một cách đầy đủ hơn, để tiến tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976), Đảng xác định, việc xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN là một trong bốn mục tiêu cơ

Trang 22

bản của cách mạng XHCN Nội dung làm chủ tập thể bao gồm nhiều mặt: làm chủ về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Làm chủ tập thể XHCN thể hiện một cách tập trung ở sự làm chủ tập thể của nhân dân lao động, nòng cốt là liên minh Công - Nông

Đại hội lần thứ V của Đảng (1982), vấn đề làm chủ từ quan điểm của Đại hội lần thứ IV đã được Đảng ta tiếp tục khẳng định và cụ thể hoá trong giai đoạn cách mạng mới Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và nhân dân có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đại hội lần thứ VI (1986), Đảng ta tiếp tục khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc" Đây là bài học quan trọng không thể thiếu được trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, ở đâu nhân dân lao động có ý thức làm chủ thật sự thì ở đó xuất hiện phong trào cách mạng Tại Đại hội này, Đảng ta đã nêu ra nhiều biện pháp để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân như ban hành luật, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị và đoàn thể quần chúng

Đại hội lần thứ VII của Đảng (1991), đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta

xác định: “xã hội mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ” và “toàn bộ tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân” [28, tr.191] “Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực chất của đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới” [28, tr.90]

Đại hội lần thứ VIII của Đảng ta (1996), tiếp tục khẳng định: “Xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm

“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách

Trang 23

lớn của Đảng và Nhà nước Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân, làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp cùng các hình thức tự quản tại cơ sở” [26, tr.43]

Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001), Đại hội của “Trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi mới” Trải qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII đến Đại hội IX thì

“dân chủ” mới thật sự được đưa vào mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Đảng đã nhấn mạnh, thực hiện dân chủ XHCN là bản chất, là quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của Nhà nước ta Mặt khác, Đảng luôn quan tâm “chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia” [27, tr.75]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã đưa ra một trong những vấn đề cần tập trung giải quyết để đổi mới

và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở là: “Thực hành dân chủ thật sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của dân trên cơ sở thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, phát huy quyền dân chủ đại diện, quy định cụ thể việc thực hiện quyền của dân giám sát tổ chức và cán bộ ở cơ sở và thay thế những người không đủ tín nhiệm Phát huy dân chủ phải đi liền với củng cố

và nâng cao kỷ luật, kỷ cương, theo pháp luật” [2, tr.163-164]

Ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị 30/ CT-TW về việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở Chỉ thị này ra đời chứng tỏ rằng Đảng đã nắm bắt được yêu cầu của thực tiễn xây dựng CNXH và vấn đề dân chủ đã được Đảng ta ngày càng quan tâm và nhận thức sâu sắc hơn

Ngày 15-11-2004, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có Thông báo

số 159-TB/TW, kết luận của Ban Bí thư về kết quả 6 năm thực hiện Chỉ thị

Trang 24

30/CT-TW của Bộ Chính trị và tiếp tục chỉ đạo xây dựng và thực hiện QCDC

là động lực của cách mạng Việt Nam

1.2.2 Các quy định của Nhà nước ta về việc thực hiện dân chủ

Trên cơ sở Chỉ thị 30/CT-TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị định và Chỉ thị để làm cơ

sở pháp lý cho việc thực hiện “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, Nghị định 29/NĐ-CP ngày 11/5/1998 về việc “Thực hiện Quy chế dân chủ ở xã”, Nghị định này đã đưa ra những quy định chung, những việc cần thông báo để nhân dân biết, bàn, quyết định trực tiếp; những việc nhân dân bàn, làm, tham gia ý kiến; những việc nhân dân giám sát, kiểm tra Chỉ thị số 22/1998/CT-TTg ngày 15-5-1998 cuả Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở xã Nghị định 71/1998/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động cơ quan, Nghị định này có bốn chương, trong đó quy định rõ trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, của cán bộ công chức; Những việc cán bộ, công chức phải biết, được tham gia ý kiến, thủ trưởng cơ quan quyết định, những việc cán bộ công chức giám sát, kiểm tra Những quy định này chính là cơ sở để cán bộ, công chức thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ trong hoạt động cơ quan

Trên cơ sở các Nghị quyết và Chỉ thị trên, ngày 1-3- 2000 Bộ trưởng

Bộ Giáo dục & Đào tạo ra Quyết định 04/2000/QĐ-BDG&ĐT về việc “Ban hành quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động nhà trường” Quy chế này

Trang 25

có 4 chương và 19 điều, trong đó nêu rõ mục đích, nguyên tắc thực hiện dân chủ trong nhà trường; Quy định trách nhiệm của Hiệu trưởng, trách nhiệm của nhà giáo, cán bộ, công chức; Những việc người học được biết, được tham gia

ý kiến; Trách nhiệm của nhà trường, của các đơn vị, các đoàn thể, các tổ chức nhà trường; Quan hệ giải quyết công việc giữa nhà trường và cơ quan quản lý cấp trên, chính quyền địa phương

Căn cứ vào Chỉ Thị 30/CT- TW và các Chỉ thị, Nghị định của Chính phủ, Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ tỉnh Bình Dương đã ra những công văn số 423/ CV-BCĐ ngày 2-11-2000 và Công văn số 189/HD-BCĐ ngày 21-3-2001

Công văn số 423/CV-BCĐ ngày 2-11- 2000, về việc “Tăng cường thực hiện tốt các loại hình Quy chế dân chủ”, thường trực Ban chỉ đạo thực hiện QCDC tỉnh đề nghị Ban chỉ đạo thực hiện QCDC ở các huyện, thị, giám đốc các sở, ngành, doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh thực hiện một số nội dung sau: tăng cường công tác học tập, tuyên truyền các nội dung thực hiện QCDC

mà các Nghị định của Chính phủ quy định, chủ động triển khai công tác kiểm tra tình hình thực hiện QCDC trên địa bàn quản lý, chú trọng việc kiểm tra thực hiện công khai các nội dung QCDC đã quy định; Qua kiểm tra cần uốn nắn, chấn chỉnh các sai sót để đảm bảo thực hiện tốt QCDC đúng tinh thần Chỉ thị 30/CT-TW; Sơ kết thực hiện QCDC theo định kỳ, chú ý tìm hiểu, phân tích và có nhận định đúng đắn các kết quả và tồn tại cùng những nguyên nhân đạt được và chưa đạt được trong quá trình thực hiện ở địa phương, cơ quan, đơn vị; Xem xét khen thưởng và đề nghị tỉnh xét khen thưởng những tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp trong việc thực hiện QCDC theo quy định của Trung ương và tỉnh

Công văn số 189/HD-BCĐ ngày 21-3-2001 về việc “Hướng dẫn xếp loại thi đua thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của cơ quan” và công

Trang 26

văn số 219/CV-TC về việc “Đính chính bản điểm hướng dẫn xếp loại thi đua thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của các cơ quan" Nội dung đánh giá được nêu cụ thể và có hướng dẫn ghi điểm từng phần, quy định biểu điểm

cụ thể cho từng nội dung

Các công văn được Ban chỉ đạo thực hiện QCDC tỉnh Bình Dương đưa

ra nhằm thực hiện có hiệu quả, đồng bộ và chất lượng các loại hình QCDC theo Chỉ thị 30/CT-TW của Bộ Chính trị, các Nghị Định 29, 71, 07 của Chính Phủ và các Chỉ thị của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Bình Dương Đồng thời là cơ

sở đánh giá kết quả việc thực hiện QCDC trong hoạt động của từng cơ quan, qua đó động viên và nhân rộng điển hình

Trên cơ sở công văn 189/ HD-BCĐ của Ban chỉ đạo thực hiện QCDC tỉnh, ngày 5-6-2001 Sở Giáo dục & Đào tạo Bình Dương đã có công văn 2406/HD-BCĐ về việc “Hướng dẫn xếp loại thi đua thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động cơ quan trường học” nhằm có cơ sở đánh giá kết quả thực hiện QCDC trong từng đơn vị, qua đó nhân rộng điển hình Nội dung đánh giá xếp loại được đưa ra cụ thể và phù hợp với quy định của trung ương, tỉnh và ngành giáo dục, từng nội dung có ghi điểm, có cả điểm trừ ở một số nội dung

Các trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương dựa vào Quyết định 04/2000/QĐ-BGD&ĐT và Chỉ thị, Nghị định của Trung ương và tỉnh đã đưa Quy chế thực hiện dân chủ trong các hoạt động phù hợp với thực tế của từng trường Trong Quy chế này đã nêu ra rất cụ thể trách nhiệm của Hiệu trưởng; Trách nhiệm của nhà giáo, cán bộ, công chức; Những việc SV, HS được biết

và tham gia ý kiến; Trách nhiệm của nhà trường, trách nhiệm của các đơn vị, các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường Những quy định đó chính là cơ sở pháp lý để mọi người thực hiện dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của công dân

Trang 27

1.2.3 Dân chủ trong nhà trường cao đẳng, đại học

Ngay từ thời nguyên thủy nhu cầu giáo dục đã xuất hiện, con người phải học leo trèo, săn bắn, sử dụng các công cụ thô sơ: rìu đá, gậy gộc để kiếm ăn và tự vệ, người lớn dạy cho trẻ em phong tục, tập quán trong các bộ lạc, thị tộc của mình Tuy nhiên, giáo dục ấy là hết sức tự nhiên, tự phát, chưa phải là giáo dục có tổ chức

Khi xã hội phát triển, nhất là trong xã hội có giai cấp đối kháng, ở đó

có sự phân chia đẳng cấp rõ rệt thì giáo dục trở thành của riêng của một nhóm người: bọn giàu có, kẻ có quyền thế; đối với thường dân thì giáo dục chỉ tiến hành trong gia đình, mang tính chất thực dụng, nghề nghiệp, để học lấy một nghề Việc học đọc, học viết, học tính toán đơn giản rất hiếm xảy ra Đến cuối thế kỷ XVIII cùng với sự xuất hiện ý thức về một nền văn minh kỹ thuật, một nền dân chủ về các quyền con người, trong đó mọi người được học hành cũng xuất hiện, điều này đã nâng cao nhận thức của con người về giáo dục Đến thế

kỷ XIX, nội dung dân chủ trong giáo dục được mở rộng, nhiều môn khoa học mới được đưa vào chương trình, đối tượng hưởng thụ giáo dục được mở rộng hơn Giáo dục đại học phát triển nhanh về số lượng trường, quy mô, nội dung

và trình độ ở đầu thế kỷ XX và đến giữa thế kỷ này, vai trò của giáo dục được

xã hội khẳng định, nhưng giáo dục bậc cao chỉ là đặc quyền của giai cấp thống trị và tầng lớp thượng lưu, người nghèo vẫn không đủ khả năng vươn tới Đến thế kỷ XXI, vai trò của giáo dục càng được khẳng định, đối tượng hưởng thụ của giáo dục được mở rộng hơn nhiều, giáo dục đại học ngày càng phát triển

Ở Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước công nông đầu tiên ở nước ta dù phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng rất quan tâm đến giáo dục Diệt giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm, là những nhiệm vụ chủ yếu được Đảng và Chính phủ ta đưa ra lúc bấy giờ Các trường tiểu học,

Trang 28

trung học đã tiến hành khai giảng năm học đầu tiên, các trường cao đẳng, đại học được khôi phục và từng bước đi vào hoạt động

Trải quan thời gian dài, Đảng và Nhà nước đã cùng nhân dân xây dựng một nền giáo dục mới, một hệ thống giáo dục quốc dân hoàn chỉnh với đầy đủ các cấp học, bậc học từ nhà trẻ, mẫu giáo đến đại học Quy mô trường lớp, chất lượng đào tạo trong nhà trường tiếp tục được nâng lên Con em nhân dân lao động chiếm đại đa số trong dân cư có điều kiện được đến trường học tập

và rèn luyện đạo đức Việc thực hiện dân chủ trong giáo dục ngày càng được quan tâm Cho đến nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, giáo dục càng có vai trò to lớn Giáo dục vừa là tiền đề sáng tạo khoa học, vừa là công nghệ chuyển tải kiến thức của nhân loại để đào tạo nguồn nhân lực Đồng thời, giáo dục còn là động lực của sự phát triển

Thực hiện dân chủ trong lĩnh vực giáo dục & đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học là nhân tố góp phần thúc đẩy việc thực hiện dân chủ trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Bởi một đất nước có giàu mạnh và phát triển mọi mặt hay không là nhờ vào các nguồn lực, trong đó nguồn lực con người là quan trọng nhất, nguồn lực này phải được đào tạo trong các trường cao đẳng, đại học

Vị trí và vai trò của trường cao đẳng, đại học

Nhà trường là cơ quan hành chính nhà nước, là nơi đào tạo đội ngũ tri thức của đất nước; là nơi diễn ra hoạt động dạy và học cũng như các hoạt động khác có liên quan đến việc đào tạo, rèn luyện, theo dõi, kiểm tra và giám sát CB, GV, NV, SV thực hiện các quy định của ngành giáo dục ở địa phương, của Bộ Giáo dục & Đào tạo; là nơi trực tiếp điều hành việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và của ngành giáo dục; là nơi CB,

GV, NV, SV có điều kiện thể hiện vai trò là người chủ và quyền làm chủ của mình

Trang 29

Nhà trường cao đẳng, đại học không phải là nơi hoạch định đường lối, chính sách, tổ chức hành động để đưa đường lối, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước vào trong mọi hoạt động; là cấp cuối cùng trong hệ thống giáo dục quốc dân Nhưng nhà trường cao đẳng, đại học có tầm quan trọng đặc biệt, quyết định sự thành công hay không thành công của sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước

Luật Giáo dục - năm 2005 đưa ra nhiều quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện dân chủ trong hoạt động nhà trường

Về những quy định chung, Luật khẳng định: học tập là quyền và nghĩa

vụ của công dân Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, ngôn ngữ đều bình đẳng về cơ hội học tập; Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục; Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục, phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học; Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản

lý, điều hành các hoạt động giáo dục và phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân ; Không được truyền bá tôn giáo, tiến hành nghi thức tôn giáo trong nhà trường, cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục để xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Về nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục trình độ cao đẳng, đại học, Luật đã nêu rõ: Nội dung giáo dục đại học phải có tính hiện đại và

phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức cơ bản, ngoại ngữ và công nghệ thông tin; Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, đại học phải coi trọng bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng; Chương trình, giáo trình Luật đã quy định Hiệu trưởng các trường cao đẳng, đại học có trách nhiệm tổ chức biên soạn và duyệt giáo trình các môn học để sử dụng chính thức trong

Trang 30

trường trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định giáo trình do Hiệu trưởng thành lập

Những điều quy định nêu trên là cơ sở thực hiện dân chủ trong hoạt động nhà trường theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đảm bảo cho công dân, cơ quan tổ chức được quyền giám sát, kiểm tra, đóng góp ý kiến tham gia xây dựng sự nghiệp giáo dục Mặt khác, thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm phát huy quyền làm chủ và huy động tiềm năng, trí tuệ của Hiệu trưởng, nhà giáo, người học trong nhà trường theo luật định Qua đó, góp phần xây dựng nền nếp, trật tự, kỷ cương trong hoạt động nhà trường, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội, thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Về nguyên tắc thực hiện dân chủ trong hoạt động nhà trường, phải đảm

bảo có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện trách nhiệm của Hiệu trưởng và phát huy vai trò của các tổ chức, các đoàn thể trong nhà trường; Thực hiện dân chủ nhưng phải phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, quyền phải đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm, dân chủ phải gắn liền với kỷ luật, kỷ cương trong nhà trường; Xử lý nghiêm minh những hành vi lợi dụng dân chủ, xâm phạm quyền tự do dân chủ làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động của nhà trường Thực hiện dân chủ trong hoạt động nhà trường đòi hỏi mỗi thành viên phải biết được quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ của mình

Hiệu trưởng, có trách nhiệm là quản lý điều hành mọi hoạt động của

nhà trường, chịu trách nhiệm trước pháp luật và cấp trên về toàn bộ hoạt động của nhà trường; Tổ chức thực hiện những quy định về trách nhiệm của nhà trường, nhà giáo, công chức; Lắng nghe tiếp thu những ý kiến cá nhân, tổ chức, đoàn thể trong nhà trường và có biện pháp giải quyết theo đúng chế độ, chính sách hiện hành của Nhà nước, Nội quy, quy chế, Điều lệ nhà trường ;

Trang 31

Thực hiện chế độ hội họp theo định kỳ; Thực hiện chế độ công khai tài chính theo quy định của nhà nước, công khai các quyền lợi, chế độ, chính sách và việc đánh giá định kỳ đối với nhà giáo, cán bộ, công chức, người học; Gương mẫu đi đầu trong đấu tranh chống những biểu hiện không dân chủ trong nhà trường; Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý nhà nước Phối hợp với các tổ chức, đoàn thể, cá nhân trong trường, phát huy dân chủ trong tổ chức hoạt động nhà trường Ngoài ra, Hiệu trưởng còn phải lấy ý kiến tham gia đóng góp xây dựng của cá nhân, tổ chức, đoàn thể trong nhà trường trước khi quyết định kế hoạch tuyển sinh, dạy học, nghiên cứu khoa học

Cán bộ, công chức, thực hiện nhiệm vụ và quyền của nhà giáo theo

Luật giáo dục, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch dạy học, tuyển sinh, nghiên cứu khoa học; Đấu tranh chống những hiện tượng bè phái, quan liêu và những hoạt động khác vi phạm dân chủ, kỷ cương, nền nếp nhà trường; thực hiện những quy định trong Pháp lệnh công chức, Pháp lệnh chống tham nhũng, Pháp lệnh thực hành tiết kiệm; Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, cán bộ, công chức

Mặt khác, nhà giáo, cán bộ, công chức còn được biết, tham gia ý kiến, giám sát, kiểm tra thông qua dân chủ trực tiếp, hoặc thông qua các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường, chủ trương, chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước đối với nhà giáo, cán bộ, công chức; Những quy định về sử dụng tài sản, xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường; Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo; Việc công khai các khoản đóng góp của người học, việc sử dụng kinh phí

và chấp hành chế độ thu chi, quyết toán, việc thực hiện thi tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, nâng bậc lương, thuyên chuyển, điều động, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật, những vấn đề về tuyển sinh và thực hiện quy chế thi hàng năm học; Báo cáo sơ kết, tổng kết, nhận xét, đánh giá công chức hàng năm

Người học, được biết những chủ trương, chế độ, chính sách của Nhà

nước, ngành, những quy định của trường đối với người học; Kế hoạch tuyển

Trang 32

sinh, đào tạo của nhà trường hàng năm; Thông tin có liên quan đến việc học tập, rèn luyện, sinh hoạt và các khoản đóng góp theo quy định; Chủ trương,

kế hoạch tổ chức cho người học phấn đấu để trở thành đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, gia nhập các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường Đồng thời, người học còn được tham gia ý kiến xây dựng Nội quy, quy định của nhà trường có liên quan đến người học; Tổ chức các phong trào thi đua các hoạt động khác trong nhà trường, việc tổ chức giảng dạy, học tập trong nhà trường

có liên quan đến quyền lợi của người học

Tránh nhiệm của nhà trường cao đẳng, đại học Hiệu trưởng thực

hiện hoặc phân công cho cấp dưới thực hiện những việc như thông báo về mục tiêu đào tạo, chương trình và quy định đào tạo; Kế hoạch tuyển sinh, các nội quy, quy chế của trường; công khai các chế độ, chính sách đối với nhà giáo, cán bộ, công chức, người học Mỗi năm ít nhất một lần, nhà trường gặp

gỡ đại diện của người học để lắng nghe và trao đổi giải quyết những vấn đề về giảng dạy, học tập, rèn luyện, chế độ, chính sách

Trong Đề án giáo dục đại học đã được Chính phủ phê duyệt, xu hướng chỉ đạo là phân cấp, phân quyền mạnh cho các trường đại học về một số vấn

đề có liên quan đến công tác đào tạo Điều này thể hiện tăng cường dân chủ cũng như việc tự chịu trách nhiệm của cơ sở

Tóm lại, dân chủ là một phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội

loài người Dân là chủ, dân làm chủ đã được, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rất sâu sắc và luôn quan tâm thực hiện Qua từng giai đoạn cách mạng, càng về sau này vấn đề dân chủ càng được Đảng ta quan tâm và

cụ thể hoá hơn “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là nội dung xuyên suốt trong thực hiện dân chủ của Đảng và Nhà nước ta Dân chủ gắn liền với

kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của công dân Người dân có quyền làm chủ đồng thời phải có nghĩa vụ làm chủ đúng luật

Trang 33

Những quy định thực hiện dân chủ trong hoạt động nhà trường chính là tạo môi trường và điều kiện để cán bộ, công chức, giáo viên hiểu và ý thức sâu sắc về quyền và nghĩa vụ của mình, tạo điều để họ phát huy tiềm năng, sức lực, trí tuệ của mình trong học tập, lao động, rèn luyện phẩm chất đạo đức Đồng thời giúp cho họ vươn lên vị thế người làm chủ trong hoạt động của mình, có thể tự chủ và tìm tòi, sáng tạo ra cách thức để hoàn thành công việc được giao một cách có hiệu quả nhất Thực hiện dân chủ trong hoạt động nhà trường còn là điều kiện tốt và là môi trường có nhiều thuận lợi để người dạy và người học hoàn thiện và phát triển nhân cách, nhất là những đức tính trung thực, thẳng thắn của mỗi người ngày càng được thể hiện trong thực tế,

đó là điều rất cần thiết trong xây dựng CNXH ở nước ta

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦ TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở BÌNH DƯƠNG

TỪ NĂM 1998 ĐẾN NAY

2.1 Vài nét về tình hình, đặc điểm của các trường đại học, cao đẳng ở Bình Dương

2.1.1 Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương

Tỉnh Bình Dương được tái lập ngày 1-1-1997, tách ra từ tỉnh Sông Bé

cũ, gồm thị xã Thủ Dầu Một và 6 huyện: Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An và Dĩ An Thị xã Thủ Dầu Một là trung tâm kinh tế, chính

trị, văn hoá của tỉnh, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30 km

Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, có diện tích 2.716 km2

, phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh, phía Nam và Tây Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh

Khí hậu ở Bình Dương phân hoá thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Đất trồng ở Bình Dương tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc

cơ giới hoá, mở rộng diện tích và thâm canh, cũng như hình thành những vùng chuyên canh cây trồng rộng lớn và phát triển quy mô kinh tế trang trại

Trên địa bàn tỉnh có hai con sông lớn chảy qua là: sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và các sông, suối nhỏ khác tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông

và thuỷ lợi

Với địa hình thuận lợi như đã nêu trên cùng với sự phát triển hệ thống giao thông và thông tin liên lạc đã tạo điều kiện khá tốt cho việc tuyên truyền, phổ biến, thực hiện QCDC ở cơ sở xã phường, thị trấn, cơ quan, trường học, nhất là các trường cao đẳng, đại học của tỉnh

Trang 35

Bình Dương là một tỉnh nằm ở địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, có điều kiện thuận lợi để trao đổi và hợp tác phát triển kinh tế với các vùng trong nước và ngoài nước Tỉnh đã tích cực đổi mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng nhanh hơn mức tăng trưởng ngành nông - lâm nghiệp

Hiện nay, Bình Dương có nhiều khu công nghiệp đã đi vào hoạt động: Sóng Thần, Việt Hương, Việt Nam - Singapore, Mỹ Phước, Đồng An, Tân Uyên Sản xuất đa dạng các chủng loại hàng hoá: giày da, vật liệu xây dựng, điện tử, sơn mài, gốm sứ, thực phẩm, dược phẩm

Về nông nghiệp, phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, hình thành các vùng lúa cao sản, vùng mía, cây ăn trái, cao su, điều Có nhiều công trình thuỷ lợi và trạm bơm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

Ngành dịch vụ, thương mại, xuất khẩu, giao thông, vận tải, bưu điện được tỉnh quan tâm đầu tư và với tốc độ phát triển khá tốt

Bình Dương là tỉnh có thu nhập bình quân đầu người ở mức liên tục tăng, năm 2004 khoảng 800 USD/người, là một trong những tỉnh có đóng góp cho ngân sách Trung ương Kết cấu hạ tầng phát triển không ngừng, đời sống

và trình độ dân trí của nhân dân được nâng lên đáng kể Nhân dân Bình Dương giàu lòng yêu nước, sẵn sàng hy sinh tính mạng, tài sản của mình để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp

và chống Mỹ, người Bình Dương đã tự chủ, sáng tạo, phát huy quyền làm chủ của mình, góp phần làm nên những kỳ tích, tô đậm trang sử vàng của Bình Dương và dân tộc Việt Nam Nhiều khu Di tích lịch sử, văn hoá, nhiều phong trào đấu tranh của nhân dân Bình Dương đã được biết đến với sự khâm phục

và lòng biết ơn vô hạng như Chiến khu Đ, Nhà tù Phú Lợi, Chùa Hội Khánh, khu Tam giác sắt, Bàu Bàng phong trào đấu tranh của nhà máy xe lửa Dĩ An Đây chính là điều kiện thuận lợi để có thể tuyên truyền, phổ biến QCDC

Trang 36

đến mọi người dân, nhất là thế hệ sinh viên Bình Dương để họ hiểu và phát huy quyền làm chủ của mình đúng luật

Tính đến năm 2003, dân số của Bình Dương là 837.000 người, dân tộc Kinh chiếm đa số Hàng năm, dân số tăng tự nhiên hơn 2%, số dân tạm trú từ mọi miền đất nước đến đây rất đông Ngay ở những trường cao đẳng, đại học cũng có một số lượng SV ngoài tỉnh không nhỏ Các em xuất thân từ nhiều vùng, miền, cách sống, sinh hoạt, mức sống, tập quán không giống nhau, điều này đã ảnh hưởng đến việc tuyên truyền, triển khai, thực hiện QCDC trong phạm vi trường học

Nhân dân Bình Dương tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước nói chung và của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân,

Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương nói riêng Bởi các chủ trương, chính sách, đưa ra đều phù hợp lòng dân, đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích chính đáng của dân nên được nhân dân tin tưởng, đồng tình ủng hộ và thực hiện Những thành tựu về kinh tế - xã hội đạt được trong những năm qua đều

có sự đóng góp tích cực của nhân dân Nhân dân đều nhất trí với đánh giá những thành tựu về kinh tế - xã hội mà tỉnh đạt được là rất quan trọng Tuy nhiên, do đặc điểm tâm lý, trình độ nhận thức, lập trường tư tưởng chính trị khác nhau giữa các tầng lớp dân cư nên ít nhiều họ cũng có những nhận thức

và đánh giá khác nhau Một số dư luận cho rằng còn có một số cơ sở Đảng, chính quyền hoạt động chưa tốt, có biểu hiện quan liêu, tham nhũng, đây là

dư luận cần xem xét vì hiện nay một số cơ sở xã, cơ quan, trường học, cán bộ nhà nước còn có những biểu hiện vi phạm quyền làm chủ của nhân dân

Tất cả những điều kiện trên có ảnh hưởng ít nhiều đến thực hiện dân chủ của nhân dân và SV Bình Dương, đòi hỏi các cấp, các địa phương, các ngành chú ý chấn chỉnh, sửa chữa để thực hiện dân chủ ngày càng tốt hơn

Trang 37

2.1.2 Tình hình, đặc điểm các trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương

Trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ điểm qua tình hình, đặc điểm của một

số trường đại học, cao đẳng ở Bình Dương Các trường công lập gồm: trường Cao đẳng Sư phạm Bình Dương, trường Kỹ thuật Công binh; các trường dân lập: trường Đại học Dân lập Bình Dương; trường Kinh tế - Kỹ thuật dân lập Bình Dương Các trường này đều đóng trên địa bàn thị xã Thủ Dầu Một, nơi

có dân cư đông đúc, điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi cho việc giảng dạy,

học tập và sinh hoạt của GV, SV

Các trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương đào tạo nhiều ngành nghề khác nhau như: Sư phạm, Kế toán, Tin học, Cầu đường, Vượt sông, Điện, Điện tử, Quản trị kinh doanh, Ngoại ngữ Các trường đại học có số lượng

SV khá đông, đa số từ nơi khác đến Các trường cao đẳng, SV là người địa phương, các trường này có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh nhà SV ở các trường có đặc điểm tâm sinh lý, lối sống, mức sống khác nhau nên việc nhận thức và thực hiện quyền làm chủ cũng khác nhau Không ít SV chỉ đòi hỏi quyền lợi mà quên đi nghĩa vụ của mình, dân chủ quá trớn, vượt quá kỷ luật của nhà trường, kỷ cương, pháp luật của Nhà nước Điều đó đã làm ảnh hưởng đến việc tổ chức triển khai, thực hiện QCDC trong hoạt động nhà trường

Độ tuổi của SV các trường cũng khác nhau, đa số SV sau khi tốt nghiệp phổ thông vào trường cao đẳng hoặc đại học Một số SV đã tham gia lao động

ở những ngành nghề khác nhau trước khi vào trường nên tuổi đời có lớn hơn Những SV này có ý thức tốt thực hiện dân chủ trong các hoạt động nhà trường và làm gương cho những SV khác

Phần lớn SV đều chăm học và thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức, tham gia tích cực các hoạt động của nhà trường Tuy nhiên, vẫn còn một

Trang 38

bộ phận SV chưa tích cực trong học tập và rèn luyện, chưa biết làm chủ bản thân và vi phạm Nội quy, quy chế của trường và của ngành

Học tập là nhiệm vụ chủ yếu của SV các trường Ngoài ra, các SV còn tham gia các hoạt động khác như: văn nghệ, thể dục, thể thao, hoạt động xã hội

Hầu hết các trường đều có cơ sở vật chất cần thiết phục vụ cho việc dạy học và sinh hoạt của CB, GV, NV và SV Đây là điều kiện để họ phát huy quyền làm chủ của mình trong học tập và làm việc

Trong mỗi trường có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và hoạt động nhịp nhàng phù hợp với đặc trưng từng loại hình đào tạo Nhìn chung, mỗi trường đều hình thành các phòng chức năng cơ bản: phòng Đào tạo, phòng Công tác sinh viên - học sinh, phòng Tổ chức - Kế hoạch, phòng Hành chính - Quản trị ; Các khoa chuyên môn: khoa Xã hội, khoa Tự nhiên, và các khoa khác cho phù hợp với ngành nghề đào tạo của từng trường Các đoàn thể: Đảng bộ (hoặc chi bộ) trường, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Với việc xếp sắp các phòng khoa chuyên môn và hình thành các đoàn thể trong nhà trường như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuyên truyền, phổ biến, thực hiện dân chủ trong trường học một cách có hiệu quả

CB, GV, NV của từng trường có số lượng, chất lượng cũng khác nhau

Ở các trường dân lập: chỉ có khung CB, NV là ổn định, GV hầu hết là mời ở các trường khác trong tỉnh hoặc ở thành phố Hồ Chí Minh GV có thể là cử nhân, thạc sĩ, ít có trường hợp là tiến sĩ Ở các trường công lập thì có ưu thế hơn về GV Tuy nhiên, đối với các ngành còn mới, trường không đủ khả năng

và cơ sở pháp lý để thực hiện nhiệm vụ đào tạo, phải mời GV các trường cao đẳng và đại học ở thành phố Hồ Chí Minh Khi đến dạy ở Bình Dương những

GV này dạy nhiều giờ của môn học trong một ngày và nhiều ngày trong một tuần SV rất mệt, không có thời gian tự học, tự nghiên cứu; giờ giấc lên lớp cũng không đúng theo quy định chung của trường Điều đó làm ảnh hưởng

Trang 39

đến việc học tập, rèn luyện của SV và việc thực hiện dân chủ của GV và SV trong nhà trường

Với tình hình, đặc điểm ở các trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương như đã nêu trên cùng với đội ngũ CB, GV, NV là những người có vốn trình

độ hiểu biết về khoa học, về chính trị - xã hội nhất định, nên việc tuyên truyền, phổ biến thực hiện QCDC trong hoạt động nhà trường có nhiều thuận lợi Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận CB, GV, NV và SV do ý thức chấp hành pháp luật kém, thiếu hiểu biết về quyền và nghĩa vụ Họ còn biểu hiện dân chủ quá trớn, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, dân chủ hình thức, tràn lan Chẳng hạn như: hiện tượng đi trễ, về sớm, thiếu tự chủ trong công việc được giao, chưa thực hiện kết hợp tốt quyền và nghĩa vụ của CB, GV, NV; Hiện tượng quay cóp khi kiểm tra, thi, trốn tiết, đi trễ, nghỉ học không phép của SV vẫn còn diễn ra Điều này đã làm ảnh hưởng đến việc thực hiện dân chủ trong hoạt động nhà trường

2.2 Thực trạng của việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của các trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương

Để CB, GV, NV trong trường có thể thực hiện được quyền làm chủ của mình đúng luật, sau khi được dự tập huấn các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, nhất là QĐ 04/2000/QĐ-BGD&ĐT và căn cứ vào hướng dẫn thực hiện QCDC của tỉnh, của ngành, đa số các trường đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện QCDC Ban chỉ đạo tiến hành nghiên cứu Nghị quyết, Quyết định của cấp trên và đưa ra Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của trường Quy chế này là sự được cụ thể hoá những quy định chung của cấp trên cho phù hợp với tình hình thực tế của từng trường

Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp bách của việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của trường là nhằm góp phần xây dựng nhà trường thành đơn vị tiên tiến, vững mạnh và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ

Trang 40

cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà Cấp ủy đảng, chính quyền cùng các đoàn thể trong trường đã phối hợp để triển khai QCDC và cung cấp tài liệu đến các phòng, khoa, ban chức năng Từ đó, các phòng, ban, khoa có cơ

sở phổ biến đến từng CB, GV, NV và SV học tập và thực hiện QCDC trong các hoạt động của mình một cách phù hợp nhất

Để mọi người có thể phát huy quyền làm chủ của mình đúng quy định, hàng năm đa số các trường có kế hoạch thực hiện QCDC từng tháng Căn cứ vào kế hoạch của trường, các đơn vị phòng, ban, khoa tự xây dựng cho mình

kế hoạch hoạt động phù hợp nhằm phát huy quyền làm chủ của CB, GV, NV,

SV trong các hoạt động

Trong quá trình thực hiện dân chủ, từng trường đã có kiểm tra, giám sát

và đôn đốc việc thực hiện cũng như có sơ kết, tổng kết hàng năm Qua đó, tìm

ra nguyên nhân của việc làm được cũng như chưa được và có biện pháp phù hợp để đưa mọi hoạt động của nhà trường đúng theo quy định

2.2.1 Thực hiện dân chủ trong hoạt động tổ chức bộ máy nhà trường

Trên cơ sở CB, GV, NV có sự hiểu biết nhất định về quyền và nghĩa vụ của mình được quy định trong Quyết định 04/2000/QĐ-BGD& ĐT Những năm gần đây công tác điều động, thuyên chuyển và cử CB, GV, NV học tập nâng cao trình độ được công khai Việc bổ nhiệm cán bộ trong các trường đã có

sự trao đổi, bàn bạc với đơn vị quản lý trực tiếp, với đương sự và thông qua liên

tịch Khi hỏi: Trong công tác tổ chức cán bộ (khi điều động, thuyên chuyển, cử

đi học ) anh chị có được biết không? Kết quả trả lời: Được biết: 132 phiếu, tỉ

lệ: 81,9%; Không được biết: 29 phiếu, tỉ lệ: 18,1%

Nhờ được biết (81,9%) về những việc trên, các đơn vị chức năng trong nhà trường chủ động sắp xếp công việc của mình CB, GV, NV có cơ hội đề xuất nguyện vọng của mình khi công tác đề bạt, thuyên chuyển có liên quan đến cá nhân Lãnh đạo có cơ hội hiểu thêm tâm tư, nguyện vọng, năng lực,

Ngày đăng: 19/12/2015, 01:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2003), Tài liệu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
2. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2003), Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
5. Hoàng Chí Bảo - Nguyễn Thanh Tuấn - Nguyễn Lam Sơn (1991), Chủ nghĩa xã hội - Dân chủ: Huyền thoại và bi kịch, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa xã hội - Dân chủ: Huyền thoại và bi kịch
Tác giả: Hoàng Chí Bảo - Nguyễn Thanh Tuấn - Nguyễn Lam Sơn
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
6. Bộ Chính trị (1998), Chỉ thỉ 30/CT-TW về việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thỉ 30/CT-TW về việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1998
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học dùng trong các trường cao đẳng, đại học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
11. Lê Đức Bình (2003), “Tập trung dân chủ hay dân chủ tập trung”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (10), tr.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập trung dân chủ hay dân chủ tập trung"”, Tạp chí Xây dựng Đảng
Tác giả: Lê Đức Bình
Năm: 2003
12. Lê Đức Bình (2003), “Dân chủ trong nội bộ Đảng trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (11), tr.22-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Dân chủ trong nội bộ Đảng trong thời kỳ đổi mới”", Tạp chí Xây dựng Đảng
Tác giả: Lê Đức Bình
Năm: 2003
13. Nguyễn Đức Bình - Trần Ngọc Hiên - Đoàn Trọng Quyến - Nguyễn Văn Thảo - Trần Văn Sầm (1999), Đổi mới và tăng cường Hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và tăng cường Hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn đổi mới
Tác giả: Nguyễn Đức Bình - Trần Ngọc Hiên - Đoàn Trọng Quyến - Nguyễn Văn Thảo - Trần Văn Sầm
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1999
14. Nguyễn Văn Biền (2/2004), “Dân chủ trong Đảng ta hiện nay - Quan niệm và những biểu hiện đặc trưng”, Tạp chí Cộng sản (3), tr.13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ trong Đảng ta hiện nay - Quan niệm và những biểu hiện đặc trưng”, "Tạp chí Cộng sản
17. Nguyễn Cúc (2002), Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Cúc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
19. Trương Minh Dục (2004), “Nguyên tắc dân chủ tập trung từ nhận thức đến thực tiễn”, Tạp chí Khoa học chính trị,(6), tr.16-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc dân chủ tập trung từ nhận thức đến thực tiễn”, "Tạp chí Khoa học chính trị
Tác giả: Trương Minh Dục
Năm: 2004
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị của Ban hấp hành Trung ương tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban hấp hành Trung ương tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1977
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (tập 2), NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1982
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1987
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1994
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
33. Trần Bạch Đằng (12/2003), “Dân chủ cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, (35), tr.46- 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam”, "Tạp chí Cộng sản
34. Nguyễn Văn Hộ (9/2002), “Về tính dân chủ trong nhà trường qua tìm hiểu tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Giáo dục, (30), tr.5-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tính dân chủ trong nhà trường qua tìm hiểu tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, "Tạp chí Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Kết quả học tập toàn khoá, khoá VI : 1999 -2004 - Thực hiện dân chủ trong các trường cđ, đh ở tỉnh bình dương hiện nay   luận văn ths triết học  5 01 02 pdf
Bảng 1. Kết quả học tập toàn khoá, khoá VI : 1999 -2004 (Trang 49)
Bảng 3. Kết quả học tập của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm - Thực hiện dân chủ trong các trường cđ, đh ở tỉnh bình dương hiện nay   luận văn ths triết học  5 01 02 pdf
Bảng 3. Kết quả học tập của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w