1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở nước ta hiện nay luận văn ths triết học 60 22 85 pdf

84 740 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 807,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách là mục tiêu lâu dài trong chiến lược phát triển con người của Đảng, việc thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân... Nội dung công bằng xã hội trong chăm s

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

- -

VƯƠNG XUÂN HƯƠNG

THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG CHĂM

SÓC SỨC KHOẺ NHÂN DÂN

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2004

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

- -

VƯƠNG XUÂN HƯƠNG

THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG CHĂM

SÓC SỨC KHOẺ NHÂN DÂN

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Chuyên ngành: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Mã số: 5.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2004

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong lịch sử xã hội loài người, công bằng xã hội là một trong những mục tiêu mà con người luôn vươn tới Công bằng xã hội là ước mơ, khát vọng, động lực thúc đẩy con người đấu tranh không ngừng nhằm xoá bỏ bất công trong xã hội

Chủ nghĩa Mác - Lênin coi con người là chủ thể sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Con người là “nguồn tài nguyên” đặc biệt nguồn lực cho sự phát triển của mỗi quốc gia Với ý nghĩa đó, con người cần được phát triển toàn diện về mọi mặt, để trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất tốt sẽ là động lực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội Nhận thức được điều đó Đảng cộng sản Việt Nam coi việc chăm lo phát triển nguồn lực con người và thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân là nhiệm vụ quan trọng

Thực hiện chủ trương chung của Đảng về đổi mới, ngành y tế đã có nhiều hình thức hoạt động đa dạng và phong phú Hàng loạt các chính sách y

tế được thực hiện như: bảo hiểm y tế, viện phí, hành nghề y – dược tư nhân… các chính sách xã hội về y tế một mặt thúc đẩy sự phát triển của ngành, cải thiện và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân Mặt khác, thực hiện cơ chế thị trường ngành y tế cũng gặp phải một số hạn chế nhất định Trong thời kỳ bao cấp nhân dân được hưởng chế độ chăm sóc sức khoẻ miễn phí Việc xoá bỏ chế độ bao cấp cho y tế đã gạt một bộ phận dân cư ra khỏi sự chăm sóc sức khoẻ nói chung dẫn đến trong xã hội có sự phân hoá trong lĩnh vực hưởng thụ các dịch vụ chăm sóc y tế, đây là một vấn đề nhạy cảm mà cả xã hội đang quan tâm

Với tư cách là mục tiêu lâu dài trong chiến lược phát triển con người của Đảng, việc thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Trang 4

là một quá trình phát triển lâu dài với những biểu hiện phong phú đa dạng Vì thế, đặt ra yêu cầu phải có sự nghiên cứu nghiêm túc và khoa học cả về lý luận và thực tiễn Từ đó tìm ra hướng giải quyết nhằm khắc phục những hạn chế, đưa ra các giải pháp có tính khả thi góp phần thực hiện mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội là tất cả cho con người và vì con người

Do đó, chúng tôi chọn đề tài: "Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở nước ta hiện nay" làm đề tài luận văn thạc

sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Công bằng xã hội là một trong những vấn đề quan trọng trong chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, trong đó việc mở rộng mạng lưới y tế chăm sóc sức khoẻ nhân dân là nội dung quan trọng của chính sách xã hội hiện nay Ở nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta từ lâu đã quan tâm đến vấn đề này Ngoài các quan điểm của Đảng được khẳng định trong các Văn kiện, Nghị quyết đã có nhiều công trình, bài viết của nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả đề cập đến vấn đề công bằng xã hội ở những góc độ khác nhau

Trong lĩnh vực y tế đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề công bằng xã hội như:

- Xây dựng hệ thống y tế theo định hướng công bằng, hiệu quả, của GS

Đỗ Nguyên Phương, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội 1999

- Một số vấn đề về thuốc và bảo đảm công bằng trong cung ứng thuốc

và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, của Lê Văn Truyền, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội 1996

- Cải cách ngành y tế theo định hướng công bằng và hiệu quả - Quan điểm của Việt Nam về một số vấn đề cơ bản, của nhóm tác giả: Phạm Mạnh Hùng; Trương Việt Dũng; Gô ran dah lgren, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội

2001

Trang 5

Theo chúng tôi, công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân là vấn đề rộng của xã hội Trong lĩnh vực y tế, công bằng xã hội đòi hỏi phải xem xét đến nhiều lĩnh vực khác như công bằng trong: Khám - Chữa bệnh;

Vệ sinh phòng dịch; Môi trường; An toàn thực phẩm; Cung ứng và sử dụng thuốc an toàn; Y đức Các nghiên cứu trên chỉ đề cập đến một mặt nào đó của toàn bộ vấn đề chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề một cách có hệ thống với tư cách là một vấn đề chính trị - xã hội

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích: Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và việc thực hiện công bằng

xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân Luận văn đưa ra một số phương hướng và giải pháp cơ bản để đảm bảo thực hiện tốt vấn đề công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân

4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lí luận: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách xã hội và công bằng xã hội

Căn cứ thực tiễn của luận văn là đường lối của Đảng và Nhà nước trong chiến lược phát triển con người với mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” Những vấn đề của thực tiễn xây dựng chủ

Trang 6

nghĩa xã hội và thực hiện chính sách xã hội trong quá trình đổi mới của đất nước

Phương pháp: Dưới góc độ khoa học triết học - xã hội luận văn sử dựng

tổng hợp phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lô gíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê,

so sách kết hợp với việc vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối lãnh đạo của Đảng vào phân tích tổng kết thực tiễn

5 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi của đề tài chủ yếu nghiên cứu vấn đề công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân, không đi sâu vào nghiên cứu vấn đề công bằng

xã hội nói chung

Công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân là một phạm trù khá rộng Luận văn chỉ tập trung làm rõ một số nội dung của công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở nước ta từ đổi mới đến nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Thành công của luận văn góp phần làm sáng tỏ quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước về công bằng xã hội nói chung và công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân nói riêng

Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở lí luận và thực tiễn cho các cơ quan quản lí của ngành hoạch định các chính sách nhằm đảm bảo công bằng

xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân Góp phần vào việc phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

Luận văn có thể dùng làm tài liệu học tập và tham khảo cho việc giảng dạy - học tập trong các nhà trường của ngành y tế

Trang 7

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu; kết luận; phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo Luận văn gồm: 3 chương; 6 tiết

Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Chương 2 Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở nước ta hiện nay

Chương 3 Phương hướng cơ bản và giải pháp đảm bảo việc thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Trang 8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

TRONG CHĂM SÓC SỨC KHOẺ NHÂN DÂN 1.1 Công bằng xã hội

1.1.1 Khái niệm công bằng xã hội

Trong giai đoạn hiện nay, loài người đã tạo ra những điều kiện để con người có thể phát triển một cách toàn diện, con người ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Nhận thức được vấn đề này quan điểm của Đảng coi con người là vốn quý nhất và đặt con người vào vị trí trung tâm của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện tăng trưởng kinh

tế gắn với công bằng xã hội Vậy công bằng là gì ? Nó có vai trò như thế nào trong đời sống xã hội, là một phạm trù chính trị - xã hội

“Công bằng xã hội’’ được nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới và đưa ra những quan niệm khác nhau

Từ điển tiếng Việt định nghĩa công bằng là “theo đúng lẽ phải không thiên vị’’ [55, tr 277]

Trong từ điển triết học giản yếu cho rằng: Công bằng có vai trò quan trọng trong ý thức quần chúng Nội dung của công bằng không có tính chất chung chung, bất di, bất dịch, phi thời gian - nó thay đổi theo lịch sử, phản ánh kinh tế - xã hội nhất định và sự đánh giá về mặt đạo đức của từng giai cấp theo quyền lợi của mình …[56, tr 650]

Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa:… Công bằng nêu ra sự tương quan giữa một số hiện tượng theo quan điểm phân phối phúc và hoạ, lợi và hại giữa người với người Công bằng đòi hỏi sự tương xứng vai trò của những

cá nhân (những giai cấp) với địa vị của họ, giữa hành vi với sự đền bù (lao động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt), giữa quyền lợi và nghĩa vụ

Trang 9

Không có sự tương xứng trong quan hệ ấy là bất công… Ngoài ra công bằng còn được hiểu là phương thức đúng đắn nhất để thoả mãn một cách hợp lý những nhu cầu của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, các cá nhân xuất phát từ khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Về nguyên tắc chưa có sự công bằng nào được coi là tuyệt đối trong chừng mực

mà mâu thuẫn giữa nhu cầu con người và khả năng hiện thực của xã hội còn chưa được giải quyết Bởi vậy, mỗi một xã hội có sự đòi hỏi riêng về công bằng xã hội [54, tr 580-581]

Từ điển bách khoa triết học, Mátxcơva (1983) định nghĩa: Công bằng là phạm trù đạo đức - pháp quyền và chính trị - xã hội Khái niệm công bằng bao hàm yêu cầu về sự tương xứng giữa vai trò thực tiễn của những cá nhân (nhóm xã hội) khác nhau với địa vị của họ trong đời sống xã hội, giữa những quyền và nghĩa vụ của họ, giữa cống hiến và đãi ngộ, giữa lao động và sự trả công, giữa phạm tội và sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội Sự không tương xứng trong những quan hệ đó được đánh giá là sự bất công

Theo một số tài liệu khác: công bằng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa các thành viên trong xã hội về một phương diện nào đấy, hoàn toàn xác định, thường là những quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ, gắn liền với quan hệ phân phối của cải làm ra của xã hội

Hay nói như PGS TS Dương Xuân Ngọc: công bằng xã hội là một phạm trù xã hội dùng để chỉ trình độ phát triển về phương diện xã hội của con người (cá nhân và cộng đồng), được thực hiện và thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, tinh thần, mà trước hết là lĩnh vực xã hội Nó phản ánh mối quan hệ về nghĩa vụ và quyền lợi giữa xã hội và cá nhân, nhằm bảo đảm sự phát triển hài hoà của con người, của xã hội phù hợp với xu thế và tiến bộ xã hội Công bằng xã hội phải được

Trang 10

thể hiện đầy đủ trong việc giải quyết mối quan hệ trong phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, để đảm bảo quyền tự do của mỗi người trong quan hệ gắn bó với cộng đồng Điều đó cũng có nghĩa là công bằng xã hội sẽ tạo điều kiện cho mỗi người, cho cộng đồng có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển xã hội và hưởng thụ những thành quả của sự phát triển đó Công bằng xã hội còn là trách nhiệm của Nhà nước, của toàn xã hội trong việc chăm lo bảo vệ quyền lợi của nhân dân và tạo ra những điều kiện thuận lợi để nhân dân hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với nhà nước [38, tr 34-35]

Như vậy, công bằng xã hội là mối quan hệ xã hội phức tạp nó thể hiện không chỉ trong mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể, cá nhân với xã hội, mà còn trong mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa các nhóm xã hội và các cộng đồng xã hội khác nhau

Công bằng được định nghĩa bằng nhiều cách song có thể khái quát thành hai nhóm chủ yếu:

Một là: khái niệm “nhu cầu’’ và “bình đẳng”

Theo từ điển tiếng Việt “nhu cầu” là đòi hỏi của cuộc sống, tự nhiên và

xã hội [57, tr 968]

Theo từ điển triết học giản yếu: “Nhu cầu” là sự cần đến thứ gì đó tất yếu một cách khách quan nhằm duy trì hoạt động sống và sự phát triển của cơ thể, của cá nhân con người, nhóm xã hội và toàn bộ xã hội

Nhu cầu xã hội mang tính lịch sử nó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Nhu cầu thể hiện sự lệ thuộc của con người vào điều kiện tự nhiên và xã hội nhằm đảm bảo sự tồn tại của mình Việc xã hội thoả mãn các nhu cầu của con người đến mức độ nào, nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội và trình độ tự giác của con người Nhu cầu của

Trang 11

con người là vô hạn và mong muốn của tất cả mọi người là ngày càng được thoả mãn một cách tốt nhất tất cả các nhu cầu của cuộc sống

Bình đẳng là “ngang bằng nhau về địa vị và quyền lợi” [57, tr.95]

Là sự được đối sử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá… không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trong đó trước tiên và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật

Bình đẳng với tính cách là khái niệm chính trị - xã hội đều có nghĩa là

sự ngang bằng nhau giữa các cá nhân hay nhóm xã hội về một phương diện xã hội nhất định Đó có thể là sự ngang bằng nhau giữa các cá nhân hay nhóm xã hội về quyền và các nghĩa vụ khác nhau của công dân, về địa vị xã hội, về việc thoả mãn các nhu cầu sống …

Nghiên cứu về vấn đề bình đẳng xã hội các nhà nghiên cứu xã hội cho rằng: bình đẳng là sự ngang nhau giữa các cá nhân hay nhóm xã hội trong việc hưởng thụ những của cải vật chất và tinh thần đã được xã hội tạo ra

Bình đẳng xã hội đều là sự ngang bằng nhau giữa người với người trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… khi con người được thoả nãm như nhau về tất cả mọi mặt thì con người đạt tới sự bình đẳng

Giữa nhu cầu và bình đẳng xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

xã hội muốn có sự bình đẳng phải giải quyết một cách tốt nhất và đầy đủ nhất các nhu cầu của con người và xã hội Việc đề ra các giải pháp và thực hiện nó chính là công bằng xã hội, công bằng xã hội được coi là một nội dung cụ thể của bình đẳng xã hội Bình đẳng xã hội là mong ước của con người còn công bằng xã hội là mong ước đó được thể hiện thành hành động thực tiễn để xây dựng xã hội mà trong đó con người được hoàn toàn bình đẳng

Trong thực tế người ta thường đồng nhất hai khái niệm “công bằng” và

“bình đẳng” với nhau vì chúng đều nói tới sự “ngang bằng nhau” Sự ngang

Trang 12

bằng trong bình đẳng xã hội chỉ là sự ngang bằng giữa người với người về một hay nhiều phương diện nào đó, còn công bằng xã hội là nói đến việc thực hiện “sự ngang bằng” ở một phương diện xác định; đó là cách thức, là sự giải quyết một cách đúng đắn hài hoà mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ Thực hiện công bằng xã hội chính là thực hiện một phần của bình đẳng xã hội để từng bước tiến tơí thực hiện bình đẳng xã hội hoàn toàn

Như vậy, công bằng xã hội và bình đẳng xã hội có sự khác nhau, sự đồng nhất giữa công bằng xã hội với bình đẳng xã hội sẽ dẫn đến chủ nghĩa bình quân “cào bằng” , tư tưởng “dàn hàng ngang mà tiến” từng tồn tại một thời gian dài trong thời kỳ bao cấp của chủ nghĩa xã hội và là nguyên nhân bất mãn của một số người Họ cho rằng công bằng xã hội là chia đều, mọi người

ai cũng được hưởng bằng nhau nhất là lợi ích kinh tế và quyền lợi xã hội Dựa trên một số hiện tượng tiêu cực xã hội họ cho rằng không và không thể có công bằng xã hội Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền để người dân hiểu và tin tưởng vào mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra

Hai là: khái niệm “cống hiến” và “hưởng thụ”

Để đánh giá sự công bằng đòi hỏi phải có sự so sánh giữa cống hiến và hưởng thụ Trong thực tế, người ta có thể lượng hoá được một cách tương đối những gì mà con người được hưởng thụ, còn cống hiến thì không thể lượng hoá nó một cách chính xác được nhất là những cống hiến về trí tuệ, chúng ta đều biết rằng lao động trí óc phức tạp hơn nhiều so với lao động giản đơn Nhưng lấy tiêu chí nào để so sánh được mức độ khác nhau giữa hai loại hình lao động đó một cách chính xác để đánh giá mức độ hưởng thụ là công bằng hay không công bằng Đối với loại hình lao động trí óc cống hiến của họ có

Trang 13

thể trong hiện tại hiệu quả của nó chưa được ghi nhận nhưng trong tương lai lại có một ý nghiã lớn

Vì vậy, xác định thế nào là công bằng không chỉ là vấn đề lí luận mà còn là vấn đề thực tiễn

Trong quá trình vận động và phát triển con người luôn phải điều chỉnh

và giải quyết mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ sao cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của xã hội Trong một chừng mức nhất định công bằng là sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ với điều kiện mọi người đều có thể tham gia và phát huy mọi năng lực của mình vào các hoạt động chung của xã hội giống nhau Ở chủ nghĩa xã hội công bằng xã hội được thực hiện theo nguyên tắc “làm theo năng lực hưởng theo lao động” làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng Nhưng trong thực tế nếu chúng ta hiểu nguyên tắc phân phối này một cách quá máy móc như vậy thì sẽ không thấy được bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa Bởi một

lẽ, hiện nay có một số người vì những lý do khác nhau họ không có khả năng lao động Họ vẫn luôn nhận được sự đùm bọc của xã hội bằng nhiều cách để

họ ổn định cuộc sống Đây là biểu hiện cao nhất của lòng nhân ái và sự công bằng Đến chủ nghĩa cộng sản công bằng xã hội được thực hiện theo nguyên tắc “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” đến đây lý tưởng cao cả về sự bình đẳng của con người được thực hiện

Công bằng xã hội mang tính khách quan nó xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, có công bằng xã hội thì mới kích thích được người lao động tham gia vào mọi hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho

xã hội Công bằng xã hội phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển của xã hội và vào khả năng nhận thức của con người vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động xã hội, của quan hệ xã hội và chế độ

xã hội

Trang 14

Từ sự nghiên cứu trên có thể hiểu một cách khái quát: Công bằng xã hội là một phạm trù chính trị - xã hội thể hiện mối quan hệ giữa (các nhóm, các cá nhân) trong xã dựa trên nguyên tắc thống nhất ngang bằng giữa cống hiến và hưởng thụ được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định

1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội

Tìm hiểu về vấn đề công bằng xã hội chúng ta thấy, Mác và Ăngghen

đã nhiều lần khẳng định: công bằng xã hội gắn liền với việc xoá bỏ giai cấp bóc lột, Mác viết: Cùng với việc thủ tiêu những khác biệt giai cấp thì mội sự bất bình đẳng về xã hội và chính trị bắt nguồn từ những sự khác biệt giai cấp

đó, tự chúng không còn nữa Trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gô tha” Mác viết: “Cái xã hội mà chúng ta đang nói ở đây không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra Vậy một khi đã khấu trừ các khoản đi rồi, mỗi một người sản xuất nhận được trở lại vừa đúng cái mà anh ta đã cũng cấp cho xã hội Cái mà anh ta đã cống hiến cho xã hội là lượng lao động của cá nhân anh ta” [30, tr 33]

Theo Mác trong chủ nghĩa xã hội - giai đoạn đầu của Chủ nghĩa Cộng sản nguyên tắc phân phối sản phẩm tiêu dùng chỉ có thể là sự phân phối theo

số lượng và chất lượng lao động, thời gian lao động là thước đo khách quan của sự phân phối Đến chủ nghĩa cộng sản khi của cải vật chất sản xuất ra ngày càng nhiều có thể thoả nãm một cách tốt nhất cho con người, lúc đó khẩu hiệu “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” được thực hiện, nhưng Mác vẫn nhắc nhủ chúng ta rằng: “Quyền không bao giờ có thể ở một mức

Trang 15

cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế

đó quyết định” [30, tr 36]

Trong tác phẩm “Chống Đuy Rinh” Ăngghen cũng khẳng định:

“Những thành quả, những giá trị lớn hơn do lao động phức tạp sản xuất ra cũng thuộc về xã hội Bản thân người công nhân không có quyền đòi hỏi một khoản phụ thêm nào cả Từ đó cái khẩu hiệu ưa thích về quyền của người công nhân được hưởng thụ lao động đầy đủ dù thế nào chăng nữa, không phải bao giờ cũng không có nhược điểm” [31,tr 283]

Giải thích quan điểm của Mác - Ăngghen, V.I Lênin đã khẳng định trong chủ nghĩa xã hội tư liệu sản xuất không còn là của riêng cá nhân nữa mà thuộc về xã hội, số lượng lao động của người công nhân được chia làm hai phần: Một phần sẽ dùng vào quỹ chung của xã hội và phần còn lại người công nhân sẽ được lĩnh, tuỳ theo mức độ cống hiến cho xã hội Lênin nhấn mạnh hai nguyên tắc phân phối sản phẩm:

Thứ nhất: Người không làm thì không ăn

Thứ hai: Số lượng lao động ngang bằng nhau thì hưởng số sản phẩm

ngang bằng nhau [ 40 tr 409]

Như vậy, cả Mác - Ăngghen và Lênin đều khẳng định công bằng xã hội phải được thể hiện trong nguyên tắc phân phối theo lao động Đây là nguyên tắc thể hiện sự phân phối công bằng dưới chủ nghĩa xã hội Nguyên tắc này chưa tạo ra sự bình đẳng hoàn toàn, vì vẫn dùng lao động làm thước đo để phân phối sản phẩm cho mọi người mà trong thực tế không phải bất cứ người lao động nào cũng có khả năng lao động như nhau Công bằng xã hội là mục tiêu và bản chất của chủ nghĩa xã hội nhưng không phải có chủ nghĩa xã hội

là đã có công bằng xã hội Thời kỳ đầu của chủ nghĩa xã hội vẫn có những người phải chịu thiệt thòi vì những lý do khác nhau của cuộc sống, vì sự khác biệt về trình độ phát triển của từng vùng, từng khu vực, từng cá nhân có trình

Trang 16

độ và năng lực sáng tạo khác nhau trong lao động hoặc do hoàn cảnh của đất nước Công bằng xã hội liên quan tới tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Việc xoá bỏ những đặc quyền về kinh tế, chính trị, văn hoá… là nội dung quan trọng của việc thực hiện công bằng xã hội

Qua trình bày ở trên cho thấy Mác- Ăngghen và Lênin đã xây dựng nên một quan niệm khoa học về công bằng xã hội Các ông coi công bằng xã hội

là một phạm trù lịch sử mang tính giai cấp, công bằng xã hội không phải là một lực lượng siêu nhiên mà nó là sản phẩm của chính đời sống xã hội Cho nên cần phải có nhận thức khách quan về công bằng xã hội, đánh giá đúng về bản chất, vai trò cũng như phương thức thực hiện nó trong đời sống xã hội

1.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về công bằng xã hội

Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề công bằng xã hội gắn với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Người nói: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và có sống cuộc đời hạnh phúc” [59, tr.22]

Xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng một xã hội không còn chế độ người bóc lột người, mọi người đều bình đẳng… Để có được điều này, theo Người cần phải đẩy mạnh sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động, thực hiện phân phối công bằng theo đúng nguyên tắc phân phối theo lao động “…Lao động nhiều thì được phân phối nhiều, lao động ít thì được phân phối ít, lao động khó thì được phân phối nhiều, lao động dễ thì được phân phối ít” [40, tr.170]

Trang 17

“Không có tình trạng người giỏi người kém, việc khó, việc dễ cũng công điểm như nhau” [58, tr.143]

Trong công tác lưu thông phân phối, có hai điều quan trọng cần phải nhớ:

Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng

Không sợ nghèo chỉ sợ lòng dân không yên [34, tr.176]

Theo Hồ Chí Minh, phân phối là một khâu cực kỳ quan trọng để thực hiện công bằng xã hội Đảm bảo công bằng trong phân phối sẽ có tác dụng kích thích người lao động, thúc đẩy tính tích cực và sự sáng tạo của họ trong lao động, đảm bảo công bằng trong phân phối phải tránh phân phối bình quân Nếu chúng ta làm không tốt vấn đề này sẽ tạo ra sự bất công trong xã hội, tạo điều kiện cho những kẻ lười biếng, những kẻ có chức có quyền đục khoét của nhà nước sống trên mồ hôi, nước mắt của nhân dân

Tư tưởng của Hồ Chí Minh cũng là quan điểm của Đảng ta trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam coi con người là trung tâm của sự nghiệp cách mạng Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng

đã tạo tiền đề về lý luận và thực tiễn cho việc hình thành quan điểm về công bằng xã hội Đại hội Đảng lần thứ VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh nêu rõ: Công bằng xã hội là một trong những nội dung quan trọng của chính sách xã hội Công bằng xã hội trước hết là công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ, không thể

có quyền lợi nếu như không có nghĩa vụ và ngược lại Công bằng phải dựa trên cơ sở kết hợp hài hoà mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích, giữa cái chung

và cái riêng, giữa cống hiến và hưởng thụ Công bằng không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn bao hàm cả những giá trị văn hoá, tinh thần Nhà nước tạo điều kiện cho mọi thành viên xã hội đều được hưởng thụ các giá trị vật chất

và tinh thần, bảo vệ sức khoẻ để họ có cơ may thành đạt trong cuộc sống Với

Trang 18

quan niệm trên Đảng ta xác định Công bằng không phải là sự “cào bằng” những quyền lợi vật chất và tinh thần như cách hiểu của một số người Hiểu như vậy sẽ làm cho người dân mất phương hướng, thiếu niềm tin vào chính sách của Đảng và Nhà nước Vấn đề xuyên suốt trong tư tưởng công bằng của Đảng là vì tự do, bình đẳng, vì hạnh phúc của nhân dân Đại hội Đảng lần thứ VII cũng chỉ rõ: dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong cuộc sống, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua hoạt động của các tổ chức nhà nước do dân cử ra bằng hình thức dân chủ trực tiếp Dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là thực hiện quyền của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, tinh thần Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là tạo điều kiện để thực hiện công bằng xã hội Thực hiện công bằng xã hội gắn liền với các chính sách kinh tế và chính sách xã hội đồng thời phải tính đến tình hình, đặc điểm và hoàn cảnh của đất nước Trong điều kiện quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta các chính sánh kinh tế - xã hội được coi là công bằng khi nó tạo điều kiện tốt nhất cho mọi người lao động bằng khả năng của mình tham gia tự giác vào công cuộc xây dựng đất nước, hoàn thành nghĩa vụ đối với xã hội và được xã hội đảm bảo nhu cầu cần thiết cho cuộc sống tương xứng với kết quả lao động mà họ đã đóng góp

Đại hội Đảng lần thứ VIII tiếp tục làm rõ quan điểm của Đảng về công bằng xã hội, đại hội coi việc phát triển nguồn lực con người và thực hiện công bằng xã hội là một trong những vấn đề trọng tâm: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối hợp lý

tư liệu sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình” [17, tr.113]

Đảng khẳng định tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với công bằng xã hội, mỗi chính sách kinh tế phải nhằm mục tiêu phát triển xã hội, mỗi chính

Trang 19

sách xã hội đều hàm chứa nội dung và ý nghĩa kinh tế Dựa trên kết quả lao động và hiệu quả kinh tế để phân phối sản phẩm xã hội Vấn đề cần chú ý ở đây là nền kinh tế nhiều thành phần thì điều đương nhiên sẽ tồn tại nhiều hình thức phân phối khác nhau như: Phân phối dựa trên mức đóng góp của các nguồn lực vào quá trình sản xuất và kinh doanh, phân phối thông qua phúc lợi

xã hội và các chính sách bảo hộ quyền lợi của người lao động Quan điểm của nhà nước ta hiện nay trong phát triển kinh tế là khuyến khích tất cả mọi thành phần kinh tế phát triển theo qui định của pháp luật và làm giàu hợp pháp

Thực tế cho thấy phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, có những tác động nhất định đến công bằng xã hội:

- Làm cho xã hội ngày càng có sự phân hoá sâu sắc, tạo ra sự chênh lệch giữa các vùng, giữa nông thôn với thành thị, giữa miền núi với đồng bằng, giữa các tầng lớp dân cư nơi có điều kiện phát triển thì có thu nhập có việc làm đời sống nhân dân được đảm bảo Ngược lại, nơi không có điều kiện phát triển thì làm ăn khó khăn mức thu nhập của người dân thấp dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội đó là sự bất công

- Trong cơ chế thị trường sự cạch tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra khốc liệt, mục tiêu cao nhất là lợi nhuận nên các chủ doanh nghiệp không từ bất cứ thủ đoạn nào kể cả vi phạm pháp luật như: Buôn lậu, trốn thuế, làm hàng giả… để có được lợi nhuận cao mà chưa bị chừng phạt một cách nghiêm khắc Đó là sự không công bằng trong làm ăn

Theo quan diểm của Đảng ta hiện nay, công bằng phải được xem xét một cách toàn diện trong các lĩnh vực: Kinh tế; chính trị; xã hội trong đó công bằng trong lĩnh vực kinh tế giữ vai trò quan trọng

Công bằng trong kinh tế, trước hết là phải tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội phát triển khả năng của mình, đảm bảo môi trường cạnh

Trang 20

tranh lành mạnh, bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế, kinh tế tư nhân cũng như nhà nước Vì nếu không tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng thì sẽ không thể tận dụng được hết mọi nguồn lực và không phát huy được tính sáng tạo của các chủ thể kinh tế, không thể thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và như vậy không thể nói đến công bằng

Công bằng xã hội phải đảm bảo sự hợp lý giữa các vùng, giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân cư trong quá trình phát triển Trong giai đoạn quá

độ hiện nay chúng ta ngay một lúc chưa thể giải quyết hết mọi vấn đề của công bằng xã hội, mà chúng ta phải chấp nhận có sự phân hoá giàu nghèo, sự chênh lệch giữa các vùng, các miền, giữa các bộ phân dân cư trong xã hội Biện pháp duy nhất là chúng ta đầu tư phát triển kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất, phát huy nội lực tận dụng mọi khả năng ở từng địa phương, từng vùng giúp dân làm kinh tế rút dần khoảng cách giàu – nghèo, tạo nên sự phát triển hợp lý giữa các vùng, các tầng lớp dân cư

Công bằng xã hội phải đảm bảo sự thống nhất giữa quyền lợi và nghĩa

vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ của các thành viên trong xã hội Không nên

để có tình trạng người lao động có năng lực, trình độ và thái độ lao động như nhau, song mức hưởng thụ lại khác nhau

Đến Đại hội Đảng IX, Đảng ta đã đã cụ thể hoá quan điểm về công bằng xã hội: “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng

xã hội ngay trong từng bước phát triển Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho đất nước” [19, tr 88]

Công bằng xã hội phải giải quyết hợp lý quan hệ giữa kinh tế và các vấn đề xã hội, đảm bảo cho mọi tầng lớp xã hội được hưởng các quyền lợi xã hội như: Giáo dục; chăm sóc sức khoẻ; đào tạo nghề nghiệp; những người trong diện được hưởng các chế độ ưu đãi…

Trang 21

Công bằng là nhu cầu của xã hội vì công bằng là cái đảm bảo cho mức hưởng thụ ngày càng tương xứng với sự cống hiến của từng cá thể đó là điều

mà tất cả mọi người lao động đều mong muốn Như vậy, công bằng xã hội phù hợp với nhu cầu bên trong của từng người cho nên nó kích thích được tính năng động, sáng tạo thúc đẩy người lao động đem hết khả năng và nhiệt tình sức lực, trí tuệ để tạo ra ngày càng nhiều của cải cho xã hội

Trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhu cầu đảm bảo công bằng xã hội càng cấp bách hơn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội Những quan điểm của Đảng về công bằng xã hội sẽ là cơ sở lý luận giúp chúng ta xây dựng các chính sách xã hội, giải quyết tốt vấn đề công bằng

xã hội trong thực tiễn, đó sẽ tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và là điều kiện đảm bảo cho chúng ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

1.2 Công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân

1.2.1 Vị trí của công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Chăm sóc sức khoẻ nhân dân được Nhà nước ta đặc biệt coi trọng vì sức khoẻ là vốn quý nhất, với mỗi con người tiền bạc, danh vọng, của cải, địa vị… so với sức khỏe chỉ xếp hàng thứ yếu Làm sao có hạnh phúc khi bị ốm đau, bệnh tật Với những ai ở hoàn cảnh ấy không ít người sẵn sàng đổi nhiều thứ để lấy sức khoẻ Già trẻ, trai gái dù làm công việc gì, ở đâu, hoạt động ở lĩnh vực nào cũng đều cần đến sức khoẻ Hồ chí Minh rất quan tâm đến sức khoẻ của mọi người, Người cho rằng: dân cường thì nước thịnh Một chân lý

có ý nghĩa vô cùng to lớn, mang tính chiến lược có sức trường tồn, một quốc gia “cường” một cách toàn diện ắt sẽ bảo vệ một cách vững chắc và xây dựng nhanh chóng một đất nước thịnh vượng, sánh vai với năm châu bốn biển Ngược lại, một đất nước thịnh vượng sẽ tạo điều kiện cho mỗi người cường tráng toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần, trí tuệ

Trang 22

Chân lý dân cường thì nước thịnh được Hồ Chí Minh nêu lên chỉ sau mấy tháng khi đất nước Việt Nam được khai sinh Trong bài: sức khoẻ và thể dục Người chỉ ra rằng giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây dựng đời sống mới, việc gì cũng cần đến sức khoẻ mới thành công Mỗi người dân yếu

ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ” [33, tr.212]

Muốn sản xuất tốt, kháng chiến thắng lợi phải có sức khoẻ vì: người

ốm thì lao động bị giảm sút, muốn lao động tốt thì phải có sức khoẻ… ốm đau bệnh tật làm cho tinh thần giảm sút, ngược lại: sức khoẻ của cán bộ nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái, tinh thần sức khoẻ càng đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước vừa qua ngành y tế đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đảm bảo cho quân và dân có sức khoẻ tốt chiến thắng kẻ thù đem lại thắng lợi cho cách mạng

Ngày nay trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân càng đòi hỏi phải làm tốt hơn, để có một nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới Đối với người lao động hiện nay bên cạch việc không ngừng nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, thì một trong những tiêu chuẩn cần là họ phải có sức khoẻ tốt Chăm lo

để có một nguồn nhân lực có chất lượng là nhiệm vụ hàng đầu của ngành y tế, nếu như không làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng, thì không những chỉ ảnh hưởng đến bản thân một cá nhân nào đó trong xã hội, mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của xã hội

Thực tế cho thấy, hiện nay có rất nhiều các loại bệnh tật như: lao, ưng thư, HIV…thậm chí là cả một số bệnh thông thường khác, nếu chúng ta không làm tốt công tác phòng chống, điều trị bệnh để bệnh tật lây lan trong

cộng đồng thì hậu quả của nó sẽ khó lường hết được Chính vì vậy, công tác

Trang 23

chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng có vị trí quan trọng đặc biệt, điều này cũng đòi hỏi ngành Y tế phải không ngừng đổi mới, nâng cao trình độ, tiếp cận với những kiến thức y học hiện đại, kết hợp với y học cổ truyền dân tộc để không ngừng nâng cao sức khoẻ cho nhân dân

1.2.2 Nội dung công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân

Chăm sóc sức khoẻ nhân dân theo định hướng công bằng là một quan điểm của Đảng ta, một tư tưởng lớn xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển nền Y tế Việt Nam, nhất là từ khi công cuộc đổi mới được thực hiện

Việt Nam là một nước đang phát triển, thu nhập bình quân đầu người còn ở mức thấp so với các nước trung bình trong khu vực và trên thế giới Ngân sách dành cho y tế còn ở mức rất khiêm tốn năm: 1997 là 5.2 USD/người/ năm, 2001 là 6 USD/người/năm [6, tr 45]

Mặc dù vậy, Nhà nước ta vẫn quyết tâm phấn đấu thực hiện sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân Nội dung của tư tưởng này được xuất phát từ quan điểm con người là vốn quý nhất, “nguồn tài nguyên” đặc biệt phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, trong con người sức khoẻ là yếu tố quan trọng nhất Vì vậy mọi người không phân biệt giàu nghèo đều phải được chăm sóc sức khoẻ, không để tình trạng người bị bệnh tật vì nghèo mà không được cứu chữa Tư tưởng này cũng khẳng định đường lối chính sách của Đảng có sự ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho người có công, cho người nghèo, dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa Nhưng có một vấn đề chúng ta phải chú ý là khi nói tới công bằng trong chăm sóc sức khoẻ không

có nghĩa là mọi người đều được chăm sóc như nhau Sự chăm sóc này trước hết phải được xuất phát từ nhu cầu, vào tình trạng của bệnh tật và phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước, của từng địa phương

Quan tâm chăm sóc sức khỏe cho toàn dân là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặt ra trong tình hình hiện nay Tại Hội nghị lần

Trang 24

thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII ) khi xem xét công tác

bảo vệ sức khoẻ, Đảng ta xác định: “ Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, vì vậy chúng ta phấn đấu để mọi người đều được quan tâm sức khỏe”

[17 ]

Để làm được việc đó thì một trong những mục tiêu quan trọng là phải:

“Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ, quan tâm những người có công với nước, những người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số Bảo vệ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng và các bệnh tật về dinh dưỡng ở trẻ em” [17 ]

Vấn đề công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân được Đảng

ta đặt ra như một tất yếu của quá trình cách mạng trong đó vấn đề khám chữa bệnh cho người thuộc diện chính sách được đặc biệt nhấn mạnh

Trong Tuyên ngôn Alma Ata 1978 đã định nghĩa: Sức khoẻ không phải chỉ là tình trạng không bệnh tật mà là sự thoải mái hoàn thiện về thể chất, tinh thần và về xã hội Với ý nghĩa này tuyên ngôn đã công bố quyền con người được chăm sóc sức khoẻ không chỉ gồm quyền được khám - chữa bệnh, bảo

vệ sức khoẻ mà còn bao gồm cả quyền được chăm sóc về thể chất, tinh thần,

xã hội Để phòng chống các loại bệnh tật bên cạch việc xây dựng môi trường sống lành mạnh, còn đòi hỏi những hoạt động y tế công cộng và vệ sinh phòng bệnh có hiệu quả Tuyên ngôn còn nhấn mạnh: Mọi người đều có quyền và có nhiệm vụ tham gia với tư cách cá nhân và với tư cách tập thể vào việc hoạch định và thực hiện chăm sóc sức khoẻ cho cuộc sống của riêng mình Tổ chức y tế thế giới cũng đưa ra khẩu hiệu “Sức khoẻ cho mọi người” cũng nhằm thực hiện sự công bằng trong công tác chăm sóc sức khoẻ nói chung

Trang 25

Nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế của chúng ta đang từ chế

độ bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường đã gây ra những biến động không nhỏ đến nhiều mặt của đời sống xã hội Kinh tế thị trường có vai trò lớn là khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh các lĩnh vực, các vùng của xã hội, có yếu

tố tạo ra sự tự do công bằng cho các chủ thể kinh tế trong sản xuất và kinh doanh đẩy mạnh sản xuất, nhưng mặt khác nó cũng có những tác động không tốt đến xã hội Kinh tế thị trường làm cho sự phân hoá xã hội diễn ra ngày càng sâu sắc giữa các vùng, các tầng lớp Những người giàu có ưu thế ngày càng giàu thêm, ngược lại người nghèo có nhiều nguy cơ bất lợi và bị nghèo

đi Quá trình này nếu tiếp tục diễn ra trong thời gian dài sẽ gây ra sự chệnh lệnh giàu - nghèo với khoảng cách càng ngày càng xa, dẫn tới sự phân chia xã hội thành tầng lớp giàu và tầng lớp nghèo có mức sống khác nhau quá xa đó

là một sự bất công Đổi mới kinh tế, đổi mới y tế đã huy động được nhiều nguồn khác nhau trong xã hội cho công tác y tế với hình thức ngày càng đa dạng như: viện phí, bảo hiểm y tế, y tế tư nhân… các hình thức này đã nâng cao tính năng động của ngành y tế nhưng mặt khác đã làm ảnh hưởng xấu đến công bằng trong chăm sóc sức khoẻ, người nghèo do điều kiện và hoàn cảnh sống khó khăn nên thường xuyên gặp phải rủi ro, bệnh tật đến với họ nhiều hơn do thiếu thốn về vật chất, mặt khác ở họ còn có những hạn chế nhất định

về nhận thức và các kiến thức khoa học cho nên khả năng phòng chống các loại bệnh tật kém Người nghèo ít có khả năng tiếp xúc với các dịch vụ y tế và như vậy trong một chừng mức nào đó họ ít được chăm sóc hơn

Chúng ta bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội khi mà nền kinh tế của chúng ta còn rất lạc hậu, hậu quả của chién tranh chưa được phục hồi, lạm phát đã làm cho cơ sở vật chất của chúng ta gặp nhiều khó khăn Đối với ngành y tế nhiều bệnh viện bị xuống cấp một cách nghiêm trọng, trang thiết bị phục vụ cho công tác khám chữa bệnh vừa thiếu vừa lạc

Trang 26

hậu điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phục vụ đối với bệnh nhân Bước vào thời kỳ đổi mới để tránh bị tụt hậu so với thế giới và khu vực ngành y tế cần phải có sự thay đổi đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị v.v… Việc phục hồi và nâng cấp các cơ sở điều trị đòi hỏi vốn đầu tư lớn cho nên ở các bệnh viện được nâng cấp với trang bị các thiết bị hiện đại có chất lượng, hiệu quả chăm sóc cao thì giá thành viện phí cao chỉ những người có thu nhập cao mới có khả năng tiếp xúc với các dịch vụ y tế đắt tiền, còn đối với những người nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn khi ốm đau bệnh tật họ gần như không có khả năng để tiếp cận với các dịch

Quan điểm về công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân được thể hiện ở một số nội dung sau:

Thứ nhất: Công bằng xã hội trong khám - chữa bệnh, quan điểm

công bằng trong khám - chữa bệnh hoàn toàn mang nét đặc thù riêng của

Trang 27

ngành Công bằng ở đây không có nghĩa là ngang bằng mà công bằng hướng tới khái niệm “Nhu cầu” Nhu cầu ở đây phải được hiểu theo nhiều khía cạnh:

* Đối với người dân khi có bệnh tật thì nhu cầu của họ là cần phải được cứu chữa kịp thời, nhu cầu của họ là cao hơn rất nhiều so với những người không có bệnh tật Đối với người khoẻ mạnh thì vấn đề chủ yếu là được tư vấn để phòng chống bệnh tật và như vậy nhu cầu chăm sóc đối với họ sẽ ít hơn Điều này cho thấy công bằng khác với ngang bằng, nếu thực hiện sự ngang bằng ở đây sẽ có một thực tế là người có bệnh tật và người không có bệnh tật đều được hưởng sự chăm sóc như nhau thì thật là bất công khi chúng

ta làm như vậy

* Trong xã hội có một số người có mong muốn tiếp cận với các dịch vụ khám chữa bệnh, họ thuộc nhóm người có khả năng chi trả các dịch vụ y tế (kể cả một số các dịch vụ y tế đắt tiền…) Theo quan điểm của chúng tôi là trong xu thế phát triển chung của xã hội, nhà nước cố gắng tạo mọi điều kiện

để bộ phận dân cư có thu nhập cao, có thể thoả mãn được các nhu cầu của mình trong giới hạn cho phép Bởi vì, mỗi người trong xã hội đều có nhu cầu khám chữa bệnh, nhưng hoàn cảnh cụ thể của từng người là khác nhau, đối với những người có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế tiến bộ cần động viên khuyến khích họ để không ngừng cải thiện sức khoẻ cho bản thân và cho

xã hội Đúng như mục tiêu chung trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001- 2020 đã đặt ra: Phấn đấu để mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Mọi người đều được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi

Công bằng trong lĩnh vực y tế đòi hỏi phải thoả mãn nhu cầu khám chữa bệnh cho tất cả mọi người kể cả những người không có khả năng chi trả

Trang 28

chúng ta đều biết đời sống của đại bộ phận dân cư của chúng ta hiện còn khó khăn mà nhu cầu khám chữa bệnh hiện nay rất lớn Trách nhiệm của ngành y

tế và của toàn xã hội hiện nay là phải cố gắng đáp ứng được nhu cầu tối thiểu nhất cho nhân dân, từng bước giúp mọi người đến được với các dịch vụ y tế tốt nhất đảm bảo cho công tác chăm sóc sức khoẻ phát huy được hiệu quả

Thứ hai: Công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân phải gắn liền với việc thực hiện các chính sách y tế Phải chú ý đến các đối tượng

thuộc diện chính sách như: các gia đình có công với cách mạng, gia đình thương binh, liệt sỹ, người nghèo, vùng nghèo…Chỉ thị 661/TTg, ngày 17 tháng 10 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ về khám chữa bệnh cho những người bị bệnh cấp cứu hoặc chấn thương ngoại Bộ y tế đã có Chỉ thị 11/ BYT- CT ngày 11 tháng 12 năm 1995 về củng cố công tác phục vụ người bệnh tại bệnh viện Chỉ thị nêu: Phải sâu sát giúp đỡ người nghèo, người trong diện chính sách Báo cáo cấp trên giải quyết kịp thời những khó khăn về ăn ở, sinh hoạt, điều trị cho mọi người bệnh Không được phân biệt đối xử giữa các đối tượng miễn phí, thu một phần viện phí và bảo hiểm y tế Đảm bảo cung cấp thuốc và vật tư chủ yếu khám chữa bệnh, không để người bệnh tự mua ở ngoài, theo danh mục y tế đã quy định Chăm sóc sức khoẻ cho các gia đình thuộc diện chính sách là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, đạo lý của dân tộc ta là “ uống nước nhớ nguồn” bù đắp những mất mát mà bản thân và gia đình họ phải hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc là một sự công bằng lớn nhất hiện nay

Thứ ba: Đứng ở góc độ nhân văn công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ còn được thể hiện ở quyền con người được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ như: Tiếp cận các dịch vụ thông tin về phòng bệnh và

chữa bệnh, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, dịch vụ điều dưỡng nghỉ ngơi… Tất cả các dịch vụ này đều nhằm mục đích nâng cao sức khoẻ cho con

Trang 29

người, vì vậy mọi người đều phải được giáo dục để hiểu biết chăm sóc sức khoẻ cho chính mình, phải được bảo vệ an toàn thực phẩm và dinh dưỡng hợp

lý, phải được sống trong một môi trường lành mạnh và thanh khiết, có nước sinh hoạt an toàn, phải được tiêm chủng để chống các bệnh dịch, phải được bảo vệ bằng việc nâng cao sức khoẻ cho bà mẹ trẻ em…

Thứ tƣ: Công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ thường gắn liền với đạo đức- y đức, tiếp theo Chỉ thị 11/BYT- CT, Bộ y tế đã ban hành Quy

định về y đức số 2088/ BYT – QĐ ngày 6 tháng 11 năm 1996 Nội dung chủ yếu nêu lên: Chăm sóc sức khoẻ cho mọi người là nghề cao quý, vì vậy người thầy thuốc phải có lương tâm và trách nhiệm cao, phải luôn nâng cao trình độ chuyên môn, phải tất cả vì sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Quan tâm đến người bệnh thuộc diện chính sách, thái độ của người thầy thuốc phải niềm nở, tận tình, luôn động viên an ủi, khuyến khích người bệnh yên tâm điều trị và hết lòng cứu chữa họ Khi cấp cứu phải khẩn trương, xử lý kịp thời kê đơn cho người bệnh phải đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn Tất cả các quy định này đòi hỏi trách nhiệm cao của người thầy thuốc đối với bệnh nhân, phải khách quan đối với mọi bệnh nhân trong quá trình khám chữa bệnh, mặt khác phải đối xử với người nghèo cũng như với người giàu, không phân biệt đối sử với những bệnh nhân nghèo Chúng ta đang sống trong xã hội xã hội chủ nghĩa, thực hiện kinh tế nhiều thành theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng bản chất của việc khám - chữa bệnh vẫn phải xuất phát từ đạo đức, trách nhiệm của người thầy thuốc, vẫn phải đảm bảo tính ưu việt của nhà nước dù cho sử dụng bất cứ hình thức kinh tế nào

Thứ năm: Công bằng xã hội trong phân phối thuốc Thuốc đóng vai

trò rất quan trọng trọng việc điều trị bệnh, muốn thực hiện công bằng trong khám - chữa bệnh thì một vấn đề phải bàn đến nữa là vấn đề cung cấp thuốc phục vụ cho công tác điều trị như thế nào?

Trang 30

Công bằng xã hội trong phân phối thuốc phải đặt trong nhận thức tổng thể về công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ, phải lấy công bằng xã hội làm cơ sở lý luận chung để xác định đúng đắn những vấn đề thuộc về quan điểm chính sách của ngành y tế

Công bằng xã hội về mặt khái niệm chung khi đề cập đến nó người ta còn hiểu nó ở khía cạch “cống hiến” và “hưởng thụ” của mỗi người trong xã hội, nhưng hưởng thụ như thế nào? Vấn đề ở đây là mọi người trong xã hội đều phải được hưởng thụ một cách hợp lý Theo quan điểm của GS Đỗ Nguyên Phương khái niệm “hợp lý” cũng liên quan đến khái niệm công bằng

xã hội Hưởng thụ một cách hợp lý tức là hưởng thụ phải tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể cũng như điều kiện địa lý, kinh tế của chúng ta, ở từng vùng, từng

bộ phận dân cư đang còn những sự khác biệt Nhưng bản chất của sự hưởng thụ hợp lý là sự hưởng thụ phải phù hợp với khả năng cống hiến của mỗi người đối với xã hội Nguyên tắc phân phối trong xã hội ta là “phân phối theo lao động” điều này thể hiện bản chất của sự công bằng Mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đang phấn đấu là thực hiện công bằng xã hội cả về kinh tế, chính trị, xã hội trong đó có mức hưởng thụ về chăm sóc sức khoẻ

Khái niệm công bằng trong chăm sóc sức khoẻ là một khái niệm mang tính đạo đức - xã hội trong đó mỗi cá nhân đều có thể đòi hỏi cho mình quyền được chăm sóc sức khoẻ bất kể tuổi tác, giới tính, dân tộc hay điều kiện kinh tế - xã hội của người đó ra sao và ngược lại mỗi cá nhân cũng cần phải ý thức được trách nhiệm của mình đối với việc bảo vệ sức khoẻ cho bản thân và cho cộng đồng

Trên đây là một số nội dung về công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân cùng với sự vận động và phát triển của xã hội chắc chắn sẽ còn

có nhiều nội dung khác mà chúng tôi chưa thể đề cập hết được

Trang 31

Sức khoẻ là vốn quý của mỗi người và đồng thời cũng là vốn quý cuả toàn xã hội nhận thức được vấn đề này rất quan trọng đối với ngành y tế và

xã hội Xác định nhiệm vụ của ngành phải xuất phát từ vấn đề trách nhiệm, đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, mặc dù điều kiện kinh tế - xã hội của chúng

ta hiện nay còn nhiều khó khăn nhưng với bản chất nhân đạo và trách nhiệm đối với tính mạng của con người, đối với nguồn lao động chủ yếu của xã hội

sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân sẽ dần dần được thực hiện một cách có hiệu quả trong hiện thực

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI

VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC

SỨC KHOẺ NHÂN DÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 Thực trạng của việc thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở nước ta hiện nay

Thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân là một vấn đề hết sức phức tạp và nan giải trong tình hình hiện nay Sự khởi sắc của kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước đã có những tác động nhiều mặt đến công tác chăm sóc sức khoẻ, để thích nghi với điều kiện kinh tế - xã hội mới, ngành Y tế nước ta đã có nhiều cố gắng tích cực trong việc thực hiện vấn đề này, song cũng còn nhiều mặt thiếu sót cần khắc phục Thực trạng của công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ được thể hiện ở những lĩnh vực chủ yếu sau:

2.1.1 Công bằng xã hội trong khám - chữa bệnh

Công bằng xã hội trong khám chữa bệnh là một vấn đề hết sức phức tạp

để làm được việc này không phải chỉ là sự nỗ lực phấn đấu của mỗi cá nhân, mỗi nhóm người, mỗi tổ chức xã hội mà đòi hỏi phải có sự đóng góp của các ngành và của toàn xã hội, dưới sự chỉ đạo sát sao của bộ y tế, của Đảng và Nhà nước

Đất nước ta vừa trải qua hai cuộc chiến tranh mà hậu quả của nó còn để lại rất nặng nề, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ của mỗi con người và của toàn xã hội Trong một thời gian dài chúng ta bắt ta vào xây dựng chủ nghĩa

xã hội với nhiều bề bộn và khó khăn do chủ quan nóng vội trong xây dựng chủ nghĩa xã hội Chúng ta đã thực hiện chế độ bao cấp khi nền kinh tế còn chưa phát triển, của cải xã hội còn chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu dùng điều này cũng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề sức khoẻ của con

Trang 33

người Trước tình hình đó Đảng ta đã tiến hành “Đổi mới” luồng gió đổi mới

ở Việt nam đẫ thực sự làm cho nền kinh tế được khởi sắc kéo theo những hệ quả có lợi cũng như bất lợi đối với sức khoẻ nhân dân Cơ chế kinh tế mới đã tác động đến một số chính sách phúc lợi xã hội vốn có từ nhiều năm trước, trong đó có chính sánh y tế Thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong khám chữa bệnh Đảng ta đã đưa ra một loạt các chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo, vùng nghèo, người trong diện được hưởng các chế độ chính sách, người có thu nhập thấp…

Đối với vùng nghèo, Nghị định 135/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã xác định 1.715 xã nghèo trong đó có 1000 xã đặc biệt khó khăn cần có chính sách hỗ trợ và các xã khó khăn này đã được nhà nước cấp kinh phí xây dựng

và trang bị cho trạm y tế xã và các xã nghèo này sẽ được ưu tiên đầu tư để xây dựng và trang bị các dụng cụ cần thiết phục vụ cho công tác khám chữa bệnh Theo đánh giá của tổ chức y tế thế giới (WHO) khi tìm hiểu vấn đề sức khoẻ của đồng bào ở các vùng khó khăn đặc biệt là khu vực đồng bào dân tộc thiểu

số Trước hết, WHO khẳng định Việt Nam là một đất nước rất quan tâm đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số điều này được quy định trong hiến pháp nước Việt Nam công nhận vị trí quyền và nghĩa vụ của các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Mọi dân tộc đều có quyền bình đẳng như nhau

kể cả các dân tộc ít người Mong muốn của Đảng và Nhà nước là giảm dần sự cách biệt giữa miền núi, trung du và đồng bằng về tất cả mọi phương diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Từng bước nâng dần điều kiện sống cho đồng bào thông qua chương trình xoá đói, giảm nghèo Chương trình phát triển kinh tế xã hội như Chương trình 133, 135 mà kinh phí của nó đang được dùng xây các bệnh viện huyện, trạm y tế xã Nhóm điều tra của WHO còn cho biết tất cả các xã của Việt Nam đều có một trạm y tế xã Nhìn chung số lượng bệnh viện tỉnh, bệnh viện huyện số lượng gường bệnh ở các tỉnh có nhiều

Trang 34

đồng bào dân tộc ít người sinh sống cao hơn so với số trung bình cả nước [58]

Đối với người nghèo vấn đề sức khoẻ là rất quan trọng, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội cũng đã có thông tư hướng dẫn, trong đó quy định người quá nghèo sẽ được cấp thẻ bảo hiểm y tế Bên cạnh

đó ngành y tế cũng khuyên khích các cơ sở y tế khám chữa bệnh miễn phí cho người thuộc diện chính sách, người nghèo chưa có bảo hiểm y tế, làm được việc đó người quá nghèo sẽ có cơ hội được khám chữa bệnh không mất tiền với sự hỗ trợ của Nhà nước và của toàn xã hội Theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định 1143/2000/QĐ- LĐTBXH ngày 01/11/2000 của Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta cũng đã giảm

từ 16,1% năm 2001 xuống còn 14,30% năm 2002 và 11,99 % năm 2003 [ 27 ] Đối với những hộ này điều kiện sống thiếu thốn nên tỷ lệ mắc bệnh ở người nghèo thường cao hơn nên nhu câù chăm sóc y tế cũng lớn hơn Trong số những hộ nghèo có những hộ ở trong tình trạng quá nghèo không có đủ tiền

để chữa bệnh Nhận thức được vấn đề này nên Chính phủ đã ban hành Nghị định 95/ CP ngày 27/8/1994 quy định người quá nghèo sẽ được miễn viện phí khi khám chữa bệnh Thực hiện nghị định này tại các vùng khó khăn nơi hầu hết đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống Dịch vụ miễn phí đã được áp dụng cho tất cả đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên và sáu tỉnh miền núi phía Bắc

Tổ chức tốt việc chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo những năm gần đây trung bình mỗi năm ngành Y tế đã thực hiện việc miễn giảm viện phí cho người nghèo (khoảng từ 120 - 150 tỷ) [44, tr.316] để mua khoảng trên 4 triệu thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo Thực tiễn cho thấy người nghèo ít có khả năng lên các tuyến trên khám chữa bệnh vì chi phí đi lại, ăn ở tốn kém, việc xác nhận các thủ tục bắt buộc khó khăn Nhìn chung người nghèo còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn để vượt qua nghèo khổ, bệnh tật Điều này còn

Trang 35

khó khăn hơn đối với đồng bào dân tộc thiểu số nằm trong nhóm người nghèo

ở Việt Nam, những yếu tố cản trở sự phát triển và các phúc lợi xã hội của họ

là sự xã cách về mặt địa lý, trình độ văn hoá thấp, khí hậu khắc nghiệt… đã dẫn đến những hạn chế trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và tình trạng sức khoẻ kém của cả nhóm dân tộc Thách thức lớn nhất hiện nay là giúp cho đồng bào các dân tộc tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế có chất lượng cao

Thời gian vừa qua nhiều địa phương đẫ có sáng kiến hay để cải thiện các dịch vụ y tế của người nghèo, ở Cao Bằng một tỉnh miền núi phía Bắc một số bệnh viện huyện đang duy trì tốt các hoạt động khám chữa bệnh nhờ vào nguồn thu từ bảo hiểm y tế cho người nghèo Thuốc thiết yếu và các dịch

vụ y tế được cung cấp miễn phí cho tất cả người bệnh ở trạm y tế xã thuộc diện khó khăn đương nhiên việc miễn giảm này chỉ có dược ở một giới hạn nhất định Hay huyện Mai Châu một huyện nghèo của tỉnh Hoà Bình nơi có

số đồng đông bào Thái sinh sống ở đây không có việc thu viện phí nhưng cán

bộ y tế huyện vẫn rất nhiệt tình và luôn sẵn sàng phục vụ người bệnh, những

kỹ thuật mới của y học đã được đưa vào áp dụng khám chữa bệnh cho đồng bào nhờ một phần kinh phí thu được từ bảo hiểm

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê tính đến cuối năm 2002 các cấp các ngành đẫ cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí: 57.88 % cho số hộ có giấy chứng nhận là hộ nghèo và miễn giảm viện phí cho 29.28 % số hộ nghèo [27,tr 49]

Hà Nội là nơi tập trung nhiều trung tâm y tế của cả nước cũng đã quan tâm nhiều đến việc thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ, trước hết là khám chữa bệnh cho người nghèo với hình thức sáng tạo như thẻ T8, A7 về bảo hiểm y tế đã miễn phí cho trên 50.000 người nghèo, thực hiện chăm sóc sức khoẻ tại nhà cho trên 100 bà mẹ Việt Nam anh hùng, thực hiện bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiểm y tế cho nông dân năm1998 là: 4.994 ,

Trang 36

năm 1999 là: 4.997 Bảo hiểm y tế cho người nghèo năm 1998 là: 47.862, năm 1999 là: 47.863, năm 2000 là: 37.039 Thực hiện thể bảo hiểm y tế cho nông dân và cho người nghèo đã tạo thêm nguồn kinh phí đưa tỷ lệ người nghèo người thuộc diện chính sách được khám chữa bệnh miễn phí tăng dần theo các năm

Cùng với các chính sách mới về kinh tế và xã hội, hệ thống y tế tiếp tục được phát triển trong thời kỳ đổi mới Trong những năm qua nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để củng cố và phát triển hệ thống y tế, nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế nhằm đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khoẻ Sau Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII), Chính phủ đã ban hành Quyết định 58TTg và Nghị định 01/CP về hệ thống y tế địa phương Đây là các văn bản pháp lý hết sức quan trọng đánh dấu phương hướng phát triển mới của hệ thống y tế Việt Nam Trong đó y tế địa phương được quản lý chỉ đạo theo hệ thống ngành từ Trung ương đến địa phương, từ tuyến tỉnh, huyện, xã đến thôn bản Đồng thời mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và phát triển, hầu hết các trạm y tế xã đã có đủ cán bộ y tế hoạt động, theo thống kê của Bộ Y tế tính đến năm 2001 đã có 5917 xã có bác sỹ, chiếm 56,1% Một số tỉnh, thành phố

đã đạt tỷ lệ xã có bác sỹ cao như: Hà Nội, Đà Nẵng (100%), Thái Bình (99,6%), Thái Nguyên (98,9%), An Giang (98,6 %), Thành phố Hồ Chí Minh (97,4%), Cần Thơ (96,5%) số xã có bác sỹ Cũng theo thống kê của Bộ Y tế đến năm 2002 tỷ lệ số xã trong cả nước có bác sỹ đã tăng lên là 61.5 %

Công tác phát triển y tế thôn bản trong những năm gần đây đang được tích cực đẩy mạnh, theo thống kê của Bộ Y tế năm 2001 chúng ta có 104.146 thôn, bản, ấp, trong đó có 80.579 thôn, bản, ấp có nhân viên y tế hoạt động, các thôn bản khác đều có các cộng tác viên y tế hoạt động Năm 2002 các thôn (bản), ấp có nhân viên y tế hoạt động là 89.8 %, xã nghèo có trạm y tế là 51,76 %

Trang 37

Đây là điều kiện thuận lợi cho việc triển khai công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân nói chung và cho các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi và người nghèo nói riêng

Việc chúng ta tổ chức lại hệ thống y tế theo ngành, có hệ thống phân cấp Tỉnh, Huyện, Xã kết hợp với sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương cùng với việc củng cố phát triển mạng lưới y tế cơ sở, nâng cấp cơ sở y tế, đầu tư trang thiết bị là hướng tới việc thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Chúng ta đều biết trước “Đổi mới” ngành Y tế được bao cấp hoàn toàn, nhân dân được khám chữa bệnh không mất tiền, khi tiến hành đổi mới nguồn ngân sách nhà nước cấp, không đủ đảm bảo cho công tác chăm sóc sức khoẻ cho toàn dân nên vấn đề tài chính phục cho khám và chữa bệnh ngày càng trở nên bức xúc Để có thêm nguồn kinh phí hỗ trợ cho khám chữa bệnh, chính phủ đã ban hành Nghị định 95/CP ngày 27 tháng 8 năm 1994 về thu một phần viện phí và Nghị định số 33/CP ngày 23 tháng 5 năm 1995 về việc sửa đổi Khoản 1 Điều 6 của Nghị định 95/CP Thực hiện công khai các đối tượng phải thu một phần viện phí Chính sách này đã tác động đáng kể đến ngành Y tế, tăng nguồn nhân sách cho hoạt động của các bệnh viện góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, viện phí cũng là một chính sách xã hội nhằm tăng cường sự tham gia đóng góp của cộng đồng nhất là những đối tượng có khả năng chi trả, từ đó có thêm nguồn ngân sách để tăng cường công tác khám chữa bệnh cho người nghèo

Bên cạch việc thu viện phí phục vụ cho công tác khám chữa bệnh, bắt đầu từ năm 1993 bảo hiểm y tế được triển khai trong những năm qua bảo hiểm y tế đã thu được nhiều kết quả khả quan

Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội góp phần đảm bảo công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ Người có khả năng chi trả và toàn xã hội cùng

Trang 38

đóng góp cho công tác chăm sóc sức khỏe trong đó có người nghèo, bảo hiểm

- Chia sẻ chi phí điều trị giữa người giàu và người nghèo

- Chia sẻ chi phí giữa người khoẻ và người ốm

* Huy động nguồn vốn cho công tác khám chữa bệnh

* Tăng tính đoàn kết cộng đồng thông qua việc chia sẻ những khó khăn giữa người khoẻ và người ốm

Có thể nói, các mô hình Bảo hiểm y tế tiềm ẩn khả năng tăng đáng kể thu nhập của ngành y tế và tạo khả năng cho phép cao hơn so với viện phí Tuy nhiên, khả năng cho phép của người nghèo tiếp cận các dịch vụ y tế vẫn còn là một vấn đề, trên phương diện tính công bằng bảo hiểm y tế tạo tiềm năng để tăng tính công bằng Đặc biệt nếu lượng doanh thu dư thừa từ người giàu được dùng cho người nghèo

Thực tiễn cho thấy nhà nước thiết lập bảo hiểm y tế và thúc đẩy các hoạt động có hiệu quả của nó, để tạo ra một cơ chế huy động nguồn lực có sẵn, nhưng chỉ phụ thuộc vào nguồn lực này thì không thể dẫn đến thành công trong công tác chăm sóc sức khoẻ Một điều quan trọng là cần quan tâm đến khả năng của đất nước, đánh giá khả năng tiềm ẩn của hệ thống bảo hiểm y tế nhằm huy động nguồn lực cho ngành y tế, thông qua bảo hiểm y tế cải thiện

sự tiếp cận dịch vụ y tế đối với một số nhóm dân cư Chẳng hạn như bảo hiểm

y tế cho người nghèo Ngoài ra có thể nâng cao tỷ lệ, tăng thêm nguồn lực cho

y tế bằng những nguồn khác nhau có sẵn hay huy động các tổ chức xã hội,

Trang 39

nhằm đảm bảo tính công bằng trong sử dụng các dịch vụ y tế phù hợp với chính sách của Đảng và Nhà nước ta

Ở Việt Nam, Đảng và Chính phủ luôn giành sự quan tâm đối với ngành

y tế, trong đó có việc cung cấp ngân sách và tạo cơ chế tài chính thuận lợi cho các hoạt động y tế Y tế Việt Nam lấy nền tảng là công bằng, mục tiêu nhất quán của ngành từ trước tới nay là phấn đấu để mọi người dân đều được quan tâm chăm sóc sức khoẻ

Cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản cho mọi tầng lớp nhân dân là một trong những biện pháp để thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về công bằng trong việc hưởng thụ các dịch vụ phúc lợi xã hội, một vấn đề thuộc định hướng xã hội chủ nghĩa Trong điều kiện nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ ngày càng trở nên đa dạng với nhiều cấp độ, liên quan tới đặc thù của các tầng lớp dân cư, thì việc sử dụng có hiệu quả và công bằng các nguồn tài chính đầu

tư cho y tế hiện nay là một yêu cầu bắt buộc

Để thực hiện mục tiêu ngành y tế đã sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn kinh phí để chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân theo phương châm công bằng cho mọi người trong tiếp cận các dịch vụ y tế Trong cách phân bổ ngân sách nhà nước cũng luôn chú trọng ưu tiên trong quá trình phân bổ “ở vùng núi, vùng cao, vùng khó khăn luôn cao hơn so với các vùng khác” [44, tr.75]

Vì ở các vùng này hiện nay cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị phục vụ cho công tác khám - chữa bệnh còn rất thiếu thốn, nếu có thì cũng rất lạc hậu không đảm bảo cho công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân với xu hướng ngày càng tăng như hiện nay.Ưu tiên cho những vùng khó khăn là hoàn toàn hợp lý thể hiện rõ chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Bên cạch những hoạt động tích cực mà chúng ta đạt được trong việc thực hiện công bằng xã hội khám chữa bệnh, hiện nay công tác này còn bộc lộ không ít những nhược điểm cần khắc phục:

Trang 40

Thứ nhất, chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân hiện nay chưa

được đảm bảo.Một số bệnh viện còn chưa chú ý tốt đến công tác chuyên môn, việc nâng cao tay nghề và đào tạo lại cho cán bộ y tế ở cơ sở chưa được làm thường xuyên dẫn đến trạng trình độ chuyên môn của cán bộ y tế cơ sở còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu Hiện nay đã có tới 56% số trạm y tế có bác

sỹ, nhưng chất lượng khám chữa bệnh chưa được nâng cao sức thu hút của các trạm y tế trong khám chữa bệnh còn thấp, người dân chưa thực sự tin tưởng vào trình độ chuyên môn của cán bộ trạm y tế Tuy được tăng cường cán bộ, song các trạm y tế nhìn chung vẫn chưa được bổ sung các trang thiết

bị cần thiết phù hợp với trình độ chuyên môn của họ Mặt khác, các bác sỹ thuộc tuyến cơ sở (xã) chủ yếu được đào tạo chuyên tu trong thời gian ngắn, chưa có điều kiện làm việc tại các bệnh viện lớn để học hỏi và thực tập với sự giúp đỡ của các bác sỹ có kinh nghiệm lâu năm Khi gặp các ca cấp cứu phức tạp tại cộng đồng, thì họ trở nên lúng túng chưa đủ kỹ năng cũng như sự tự tin

để xử lý

Thứ hai, công tác phân tuyến trong khám chữa bệnh tại các địa phương

chưa được thực hiện chặt chẽ

Hiện nay trường hợp vượt tuyến trở thành tâm lý chung của nhiều người, dù bệnh của họ chỉ là những bệnh thông thường có thể xử lý ở tuyến

cơ sở, việc vượt tuyến gây ra những tốn kém không cần thiết cho người bệnh, đồng thời tạo ra nhưng áp lực lớn đối với bệnh viện tuyến trên ở hầu hết các bệnh viện lớn hiện nay tình trạng quá tải xảy ra thường xuyên Hiện tượng nhiều người có bệnh không đến ngay cơ sở y tế để khám và mua thuốc về điều trị, để đến khi nguy kịch mới đến các bệnh viện thì đã quá muộn Do ảnh hưởng của cơ chế thị trường, khi người bệnh có tiền họ có thể tự do lựa chọn

cơ sở khám chữa bệnh, đối với những người do điều kiện kinh tế khó khăn và thiếu hiểu biết về chăm sóc sức khoẻ, họ lại lựa chọn phương thức điều trị cho

Ngày đăng: 19/12/2015, 01:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hiền Anh (5/1996), “Vài suy nghĩ về tăng trưởng kinh tế và công bằng”, Toàn cảnh sự kiện dư luận, (70) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về tăng trưởng kinh tế và công bằng”, "Toàn cảnh sự kiện dư luận
2. Vương Anh (28/4/1999), “Những cán bộ y tế vùng sâu vùng xa”, Báo Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cán bộ y tế vùng sâu vùng xa
4. Bộ Y tế (1999), Niên giám thống kê, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 1999
5. Bộ Y tế (2000), Niên giám thống kê, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2000
6. Bộ Y tế (2001),Niên giám thống kê, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2001
7. Bộ Y tế (2002), Niên giám thống kê, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2002
8. Bộ Y tế (1996), Khám chữa bệnh cho người nghèo, Bộ Y tế, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám chữa bệnh cho người nghèo
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1996
9. Bộ Y tế - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh(1997), Chủ Tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo vệ sức khoẻ, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ Tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo vệ sức khoẻ
Tác giả: Bộ Y tế - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
10. Lưu Hoàng Chuẩn (1995), Bảo hiểm y tế nông thôn và vấn đề xoá đói giảm nghèo, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm y tế nông thôn và vấn đề xoá đói giảm nghèo
Tác giả: Lưu Hoàng Chuẩn
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1995
11. Phạm Ngọc Chương (1994), Bảo hiểm y tế và những vấn đề đặt ra, Thông tin khoa giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm y tế và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Phạm Ngọc Chương
Năm: 1994
12. Công ty ADUKI(1996), Vấn đề nghèo ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nghèo ở Việt Nam
Tác giả: Công ty ADUKI
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
13. Chính phủ (2001), Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001- 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2001)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
14. Phạm Huy Dũng (1996), Khám chữa bệnh cho người nghèo, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám chữa bệnh cho người nghèo
Tác giả: Phạm Huy Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1996
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1991
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1991
18. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
19. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
20. Nguyễn Đình Hiển (1996), Một số vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta. Nghiên cứu lí luận - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Đình Hiển
Năm: 1996
22. Phạm Mạnh Hùng (2001), Cải cách ngành y tế theo định hướng công bằng và hiệu quả: Quan điểm của Việt Nam về một số vấn đề cơ bản, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách ngành y tế theo định hướng công bằng và hiệu quả: Quan điểm của Việt Nam về một số vấn đề cơ bản
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2001
23. Phạm Mạnh Hùng (8/2001), “Thực hiện định hướng công bằng và hiệu quả trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân”, Tạp chí Cộng sản (15) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện định hướng công bằng và hiệu quả trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân”, "Tạp chí Cộng sản

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w