Lý do chọn đề tài Cổ phần hoá DNNN là biện pháp quan trọng của chương trình cải cách DNNN, là một quá trình tất yếu có tính phổ biến của sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiề
Trang 31
Chương 1: Lý luận về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 5
1.1.3 Tính tất yếu khách quan của việc cổ phần hóa DNNN 13
1.3.1 Khái quát quá trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam 24 1.3.2 Thực tiễn cổ phần hóa DNNN ở một số địa phương 29
Chương 2: Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
2.1.1 Thực trạng hệ thống DNNN tỉnh Khánh Hòa 39 2.1.2 Chủ trương của tỉnh Khánh Hòa về cổ phần hóa DNNN 48
Trang 42
phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Khánh Hòa
3.2.1 Nâng cao nhận thức lý luận và thực tiễn về vấn đề cổ phần
3.2.2 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực quản lý
của Nhà nước trong tiến trình CPH DNNN tỉnh Khánh Hòa 73 3.2.3 Thực hiện có hiệu quả các biện pháp tài chính thúc đẩy tiến
3.2.4 Xác định rõ lĩnh vực, lựa chọn đúng doanh nghiệp cần cổ
3.2.5 Giải pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động 79
PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cổ phần hoá DNNN là biện pháp quan trọng của chương trình cải cách DNNN, là một quá trình tất yếu có tính phổ biến của sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu, tạo động lực cho cổ đông và người lao động trong doanh nghiệp hăng say lao động vì lợi ích chính đáng Việc cổ phần hoá còn góp phần tích cực vào việc cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân, cải tiến quản lý kinh tế một cách có hiệu quả, hạn chế những can thiệp phi kinh tế của các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh và phân phối thoả đáng lợi nhuận thu được trong xã hội, bảo đảm thực hiện tốt các chính sách xã hội Việc cổ phần hoá còn góp phần tích cực cho việc hình thành thị trường vốn, tiến đến hình thành thị trường chứng khoán, một yêu cầu cần thiết cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường
Vì vậy, làm thế nào để DNNN chuyển mạnh sang kinh doanh xoá bỏ dần bao cấp, xác lập quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng trong nền kinh tế hàng hóa đang được Đảng, Nhà nước và tỉnh Khánh Hòa quan tâm Bằng cách sắp xếp, tổ chức lại DNNN, xây dựng phương hướng phát triển kinh tế có hiệu quả, trong thời gian qua, Khánh Hòa đã đạt được một số kết quả nhất định; tuy nhiên, việc cổ phần hoá DNNN tỉnh Khánh Hoà diễn ra còn hết sức chậm chạp, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Để Khánh Hoà có thể theo kịp với tiến độ và yêu cầu cổ phần hoá các DNNN của
cả nước nói chung và các DNNN Khánh Hoà sau cổ phần hoá có các giải pháp hoạt động hiệu quả, cần có cái nhìn bao quát, hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương Đó là lý do
Trang 6tôi chọn đề tài “Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Khánh Hoà” làm
đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN ở nước ta đang đi vào giai đoạn đẩy mạnh tiến độ CPH và đã gây được sự chú ý của hầu hết mọi người dân trong toàn xã hội Trong thời gian qua, đã có nhiều nhà lý luận
và thực tiễn nghiên cứu, luận giải khá thấu đáo những vấn đề cơ bản của tiến trình cổ phần hoá DNNN trên phạm vi cả nước, cũng như ở một số địa phương cụ thể, có so sánh với việc cổ phần hoá của các nước trên thế giới Những kết quả nghiên cứu đó cả về mặt lý luận và thực tiễn đã góp phần tích cực phục vụ cho quá trình cổ phần hoá DNNN ở nước ta như:
- “Cổ phần hoá DNNN những vấn đề lý luận và thực tiễn” của
PGS.TS Lê Hồng Hạnh (chủ biên), NXB chính trị Quốc gia, năm 2004
- “Cổ phần hoá và quản lý doanh nghiệp sau cổ phần hoá ” của
PGS.TS Lê Văn Tâm (chủ biên), NXB chính trị Quốc gia, năm 2004
- “Cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam”Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn
Thị Thơm, năm 1999
- “Cổ phần hoá DNNN cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn ” của
PTS Nguyễn Ngọc Quang, năm 2002
Thực tế ở Khánh Hoà cho thấy, quá trình cổ phần hoá DNNN thuộc quyền quản lý của tỉnh, trong thời gian qua, còn hết sức rời rạc, tiến trình thực hiện còn trì trệ, chậm chạp chưa tương xứng với khả năng, tiềm lực của tỉnh Mặt khác, việc nghiên cứu có tính lý luận về vấn đề cổ phần hoá DNNN của tỉnh lại hết sức mới mẻ, chủ yếu chỉ dừng lại ở các cuộc hội thảo khoa học và một số cuộc khảo sát về đổi mới, sắp xếp lại DNNN nói chung Để góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ cho tiến trình cổ phần hoá
Trang 7DNNN ở Khánh Hoà, luận văn cố gắng nghiên cứu, phân tích quá trình cổ phần hoá DNNN của tỉnh, nhận rõ những mặt được, chưa được; từ đó, đưa ra một số giải pháp có tính khả thi cho việc đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN của Khánh Hoà trong giai đoạn tới
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích:
- Thông qua việc nghiên cứu lý luận cổ phần hoá DNNN, luận văn đi đến thống nhất và khẳng định việc cổ phần hoá DNNN ở nước ta nói chung, ở Khánh Hoà nói riêng là một tất yếu khách quan phù hợp với thực
tế nền kinh tế nước ta và xu thế thời đại
- Qua việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn cổ phần hoá DNNN của Khánh Hoà và một số địa phương tiêu biểu, luận văn đề xuất một số giải pháp có tính định hướng phù hợp với đặc điểm địa phương góp phần thúc đẩy tiến độ cổ phần hoá DNNN của tỉnh Khánh Hoà trong thời gian tới
* Nhiệm vụ:
- Một là, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, sự cần thiết phải cổ phần hoá
DNNN ở nước ta trong tiến trình đổi mới đất nước Thấy được việc cổ phần hoá DNNN là giải pháp cơ bản, mang tính chiến lược để DNNN sau cổ phần hoá hoạt động có hiệu quả hơn Đồng thời, nghiên cứu quá trình cổ phần hoá DNNN của một số địa phương để thấy những mặt được, chưa được làm bài học kinh nghiệm cho việc cổ phần hoá DNNN của tỉnh Khánh Hoà
- Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng CPH DNNN ở Khánh Hoà từ
đó thấy được những thuận lợi, khó khăn của DNNN Khánh Hoà trong quá trình cổ phần hoá
Trang 8- Ba là, đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản phù hợp với đặc
điểm địa phương góp phần đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá DNNN của tỉnh trong thời gian tới
4 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
4.2 Nguồn tài liệu
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế nói chung, đặc biệt chú trọng các phương pháp logic, lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, kết hợp giữa tình hình chung trong nước với những đặc điểm riêng biệt trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà và các số liệu đã tổng kết
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tiến trình cổ phần hoá DNNN của tỉnh Khánh Hoà
- Phạm vi nghiên cứu: Tất cả các DNNN thuộc quyền quản lý của tỉnh
mà tỉnh không cần giữ 100% vốn trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà
6 Đóng góp mới của luận văn
* Đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hoá lý luận về cổ phần hóa DNNN trên góc độ kinh tế chính trị, qua đó làm rõ việc cổ phần hoá DNNN ở nước ta nói chung, ở Khánh Hoà nói riêng là một tất yếu khách quan
- Khảo sát, phân tích tiến trình cổ phần hoá DNNN của tỉnh một cách
hệ thống, từ đó thấy được những bức xúc của DNNN tỉnh trong việc thực hiện cổ phần hoá
- Luận văn đưa ra những phương hướng cơ bản, đề xuất một số giải pháp
để đẩy nhanh việc cổ phần hoá DNNN của Khánh Hoà trong thời gian tới
Trang 9- Những nghiên cứu của luận văn là những đóng góp nhất định làm cơ sở thêm cho việc hoàn thiện chủ trương cổ phần hoá DNNN của Khánh Hoà; Làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giáo dục, đào tạo, thông tin tuyên truyền
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 7 tiết
Chương 1: Lý luận về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Chương 2: Thực trạng việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tỉnh
Khánh Hoà
Chương 3: Phương hướng và giải pháp thúc đẩy quá trình cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước của Khánh Hoà trong thời gian tới
Trang 10Chương 1
LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 Khái luận chung về cổ phần hoá
1.1.1 Sự hình thành công ty cổ phần
Công ty cổ phần có mầm mống vào khoảng cuối thế kỷ XVI và trở thành phổ biến vào đầu thế kỷ XX Lịch sử ra đời của CTCP gắn liền với quá trình xã hội hoá sản xuất TBCN
Phương thức sản xuất TBCN ra đời vào đầu thế kỷ XVI với đặc trưng là chế độ sở hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư Khi
đó, do ít vốn nên nhà tư bản chỉ xây dựng được những xí nghiệp theo kiểu hiệp tác giản đơn và những xí nghiệp có quy mô nhỏ với kỹ thuật thủ công Do yêu cầu của quá trình sản xuất, đã nảy sinh nhu cầu phân công lao động chuyên môn hoá khiến cho trình độ xã hội hoá sản xuất phát triển lên một nấc thang mới và trên cơ sở đó, xuất hiện công trường thủ công Để chiến thắng trong cạnh tranh, các công trường thủ công khác nhau đã kết hợp lại với nhau, làm quy mô sản xuất tăng lên gấp nhiều lần, xí nghiệp một chủ đã dần dần nhường chỗ cho xí nghiệp nhiều chủ do sự kết hợp tư bản của nhiều cá nhân góp lại Dù vậy, công trường thủ công TBCN vẫn thuộc trình độ sản xuất nhỏ, xã hội hoá sản xuất thấp, do đó, chưa tạo được tiền đề kinh tế cho sự ra đời của CTCP
Với sự ra đời của máy móc trong giai đoạn công nghiệp cơ khí, lực lượng sản xuất đã có sự nhảy vọt về chất, làm “đảo lộn bản thân phương thức lao động”[25, tr.585], dẫn đến quá trình xã hội hoá về mặt kỹ thuật của TBCN, “biến dần quá trình sản xuất rời rạc, thủ cựu thành quá trình sản xuất phối hợp theo quy mô xã hội và xếp đặt một cách khoa học”[25, tr 884] Lúc này, xuất hiện người đi vay và người cho vay trong quan hệ sở hữu và sử dụng vốn tiền tệ
Trang 11Theo tiến trình lịch sử, các xí nghiệp hỗn hợp với nhiều chủ sở hữu ra đời từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn ngành đến đa ngành, từ một quốc gia đến nhiều quốc gia và xuất hiện một hình thức tổ chức mới, đó
là công ty đối vốn với hình thức tổ chức đầu tiên là công ty trách nhiệm hữu hạn Thế nhưng do công ty trách nhiện hữu hạn vẫn còn hạn chế về quy mô và khả năng chuyển đổi vốn nên đã xuất hiện một hình thức tổ chức cao hơn, phù hợp với nền sản xuất lớn, đó là công ty cổ phần CTCP ra đời với ba con đường khác nhau Một là, được hình thành bằng con đường truyền thống, nghĩa là bằng sự liên kết giữa các tư bản riêng lẻ, các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư Hai là, sự liên kết giữa tư bản trong và ngoài nước Ba là, CPH các DNNN Trải qua vài trăm năm phát triển, ngày nay mô hình CTCP đã được áp dụng phổ biến ở tất cả các nước là nước công nghiệp hay kém phát triển, dù đó là nước đi theo xu huớng chính trị nào
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (xuất bản năm 1995) CTCP là “công
ty được hình thành trên cơ sở liên hợp nhiều tư bản cá nhân bằng cách phát hành và bán cổ phiếu, lợi nhuận của công ty được phân phối giữa các cổ đông theo số lượng cổ phần Tuỳ theo pháp luật từng nước mà công ty được tổ chức dưới các hình thức khác nhau” [19, tr.592] Theo định nghĩa này thì tính chất trách nhiệm hữu hạn của CTCP chưa được nhấn mạnh
Theo Luật Công ty của Việt Nam:” Công ty trách nhiệm hữu hạn và CTCP gọi chung là công ty là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty”[21, tr.312] Theo định nghĩa này thì đặc trưng được phát hành cổ phiếu của CTCP chưa được đề cập tới
Do đó, theo tôi, CTCP là loại công ty đối vốn được hình thành bằng cách góp vốn của nhiều thành viên thông qua phát hành cổ phiếu Các thành viên góp vốn ( thông qua việc mua cổ phiếu) trở thành cổ đông của công ty
Trang 12Cổ phiếu của công ty cổ phần được ghi danh và được trao đổi tự do trên thị trường chứng khoán Thực chất, CTCP là một loại hình tổ chức DN, trong đó các thành viên cùng góp vốn để sản xuất kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận khi thu được và cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp Tuy nhiên, giữa công ty và các thành viên góp vốn có địa vị pháp lý độc lập Cho đến nay, CTCP đã trải qua 3 giai đoạn:
Từ nửa cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII: Các CTCP đầu tiên xuất
hiện ở Tây Âu Lúc này,do sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp sản xuất len, dạ, đã kéo theo sự phát triển của nông nghiệp và thương nghiệp và do đó, nảy sinh nhu cầu rất lớn về vốn, vượt ra khỏi khả năng tích luỹ của mỗi cá nhân trong các hoạt động kinh tế Điều đó thể hiện rất rõ ở nước Anh
Năm 1553, CTCP đầu tiên với số vốn 6.000 bảng Anh được thành lập bằng cách phát hành 240 cổ phiếu, mỗi cổ phiếu là 25 bảng để tổ chức đội buôn gồm 3 chiếc thuyền lớn tìm đường sang Ấn Độ theo hướng Đông Bắc [27, tr.65] Do sức hấp dẫn về khả năng thu được lợi nhuận lớn từ thị trường
Ấn Độ, khoảng 100 thương nhân Anh đã góp vốn cổ phần tạo thành Công ty Đông Ấn vào năm 1600 Chuyến buôn đầu tiên của công ty này sang Ấn Độ được thực hiện vào 1/1601 với số vốn cổ phần là 68.373 bảng Anh Đến năm
1617, số vốn cổ phần của công ty đã lên tới 1.620.040 bảng Anh với 954 cổ đông và là công ty lớn nhất nước Anh hồi đó [27, tr.68]
Từ những năm 70 của thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX: Dưới tác động
của cách mạng công nghiệp, nhu cầu tập trung vốn được đẩy mạnh một cách khác thường ở các ngành sản xuất mới có ưu thế cạnh tranh và có khả năng thu được khối lượng lợi nhuận lớn Điều đó đã giúp ra đời và phát triển các công ty cổ phần mới Ban đầu, các công ty cổ phần có mặt ở các ngành xây dựng đường sắt, nhà máy điện, nhà máy luyện kim và cơ khí lớn Cùng với sự phát triển của các CTCP, các sở giao dịch chứng khoán cũng mọc lên một cách phổ biến ở các nước phương Tây
Trang 13Từ đầu thế kỷ XX đến nay: Từ khi ra đời và phát triển CNTB độc quyền
nhà nước, CTCP phát triển rất nhanh ở khắp mọi ngành, lĩnh vực Các CTCP lại xâm nhập vào nhau, hình thành “chế độ tham dự”, dẫn đến sự ra đời của tư bản tài chính với sức mạnh về vốn nắm giữ cổ phiếu khống chế Sự phát triển của CTCP tạo thành kết cấu chuỗi: công ty mẹ, công ty con, công ty cháu; hình thành nên một loạt tập đoàn DN, vượt ra ngoài biên giới quốc gia Nhờ đó, giao dịch cổ phiếu mọc lên ở khắp các nước, dẫn đến sự hình thành công ty tài chính quốc tế; thậm chí giao dịch cổ phiếu còn trở thành “phong vũ biểu” về giao động kinh tế và chính trị, đồng thời là “sân chơi” của các nhà đầu cơ
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các CTCP phát triển với những đặc
điểm mới: 1) tập trung vào việc phát triển các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia để liên hợp kinh tế và quốc tế hoá DN cổ phần, hình thành các tập đoàn kinh doanh quốc tế; 2) thu hút công nhân, viên chức mua cổ phần; 3) cơ cấu ngày càng hoàn thiện, pháp luật ngày càng được kiện toàn Tuy nhiên, sự phát triển CTCP ở mỗi nước đều có đặc điểm riêng
Từ những thực tế trên đây cho thấy, CTCP đã có lịch sử hàng trăm năm, gắn chặt với trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội hoá và trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường Sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần thực sự là một quá trình kinh tế khách quan, hoàn toàn nằm ngoài ý muốn chủ quan của bất cứ lực lượng nào
1.1.2 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
* Doanh nghiệp nhà nước: DNNN cũng là một tổ chức kinh tế nhưng
khác với công ty cổ phần CTCP là một trong các loại hình DN chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp (được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/6/1999) Điều 3 của Luật này quy định:
“DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Còn DNNN được Điều 1 của Luật doanh
Trang 14nghiệp nhà nước (Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 20-4-1995) quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi
số vốn do doanh nghiệp quản lý Doanh nghiệp nhà nước có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam” [21, tr.285]
Như vậy, DNNN do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách
là chủ sở hữu DNNN thuộc sở hữu của Nhà nước (hoặc sở hữu của Nhà nước chi phối) và hoạt động theo Luật DNNN Với vị trí là một bộ phận chủ yếu của thành phần kinh tế nhà nước, DNNN là đơn vị nắm giữ những lĩnh vực, những khâu quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội và là công cụ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội do Nhà nước giao Tuy nhiên, DNNN có thể hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hoặc công ích
* Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước: Để hiểu rõ bản chất của CPH
DNNN, trước hết chúng ta phải hiểu rõ hai quá trình cổ phần hoá và tư nhân hoá
Tư nhân hoá là quá trình: 1) Thay đổi một phần chế độ sở hữu của xí nghiệp, chuyển một phần sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân; 2) Tự do hoá những hoạt động mà trước đây chỉ dành cho khu vực nhà nước; 3) Ủy quyền kinh doanh hoặc cho phép tư nhân ký kết hợp đồng thực hiện những dịch vụ công cộng hoặc cho khu vực tư nhân thuê các tài sản công công [28, tr.799]
Do đó, tư nhân hoá chỉ nhằm thay đổi cơ cấu sở hữu doanh nghiệp, trong
đó quyền sở hữu, quản lý, điều hành được chuyển từ Nhà nước sang những
cá nhân hoặc nhóm người có tiềm lực tài chính mạnh Tư nhân hoá làm tăng quá trình tích tụ vốn và tài sản vào một số ít cá nhân hoặc một nhóm người
Trang 15Như vậy, tư nhân hoá thực chất là thị trường hoá “nới lỏng” hay bỏ bớt các hạn chế pháp lý dưới nhiều hình thức khác nhau đối với sự cạnh tranh chống lại các xí nghiệp công cộng [11, tr.60], bao gồm: “các chính sách để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia các việc cung cấp dịch vụ công cộng
và hạ tầng cơ sở và có khuynh hướng loại trừ hoặc thay đổi vị trí độc quyền của các DNNN” [6, tr.4]
Liên Hiệp Quốc cho rằng: “Tư nhân hoá là sự biến đổi tương quan giữa Nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của một nước theo hướng ưu tiên trên thị trường” [22, tr.41] Quan niệm đó cho thấy, toàn bộ những chính sách, luật lệ, thể chế đều nhằm khuyến khích, mở rộng và phát triển khu vực kinh tế tư nhân hay các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh của các đơn vị cơ
sở, dành cho thị trường vai trò điều tiết đáng kể tự do hoá giá cả Thực chất, quan niệm đó muốn giảm bớt vai trò của nhà nước và nới rộng phạm vi của khu vực tư nhân, đồng thời làm cho các DNNN phải chịu sức ép lớn hơn của thị trường; việc giảm bớt vai trò của nhà nước có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có biện pháp bán cổ phần cho công chúng hay còn gọi là CPH DNNN
Chủ trương tư nhân hoá DNNN là chủ trương khá phổ biến ở các nước
tư bản Tuy nhiên, đây không phải là cứu cánh cho CNTB mà ngược lại, có khi trở thành mối đe dọa cho sự tồn vong của TBCN Ví dụ: Cuộc khủng hoảng tiền tệ xảy ra ở một số nước Châu Á Do đó, xu hướng hiện nay của các nước là thiết lập công ty hỗn hợp: Nhà nước - tư nhân Trong đó, nhà nước
có thể khống chế hoặc không nắm giữ phần vốn chủ yếu nhưng vẫn có khả năng kiểm tra, chi phối hoạt động của công ty
Lịch sử cho thấy, có 2 cách thức để chuyển DNNN thành CTCP: Một là, bán toàn bộ hoặc một phần tài sản hiện có thuộc sở hữu nhà nước tại DN cho các tổ chức kinh tế - xã hội và cá nhân (công chúng) bằng phương thức phát
Trang 16hành cổ phiếu; hai là, giữ nguyên toàn bộ giá trị vốn hiện có của nhà nước tại
DN, nhưng phát hành cổ phiếu ra công chúng để thu hút thêm, mở rộng vốn
DN Cả hai cách thức này đều là CPH DNNN
Cách thứ nhất, thực chất đây là quá trình chuyển DN từ sở hữu của nhà
nước sang CTCP dưới hình thức sở hữu xã hội, có chủ sở hữu cụ thể; là quá trình đa dạng hoá sở hữu tại DN vốn thuộc sở hữu Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và kinh doanh hiện đại, đồng thời giúp chuyển quyền quản lý trực tiếp DN từ chủ sở hữu nhà nước thành quản lý gián tiếp từ chủ sở hữu là các cổ đông thông qua hội đồng quản trị
Xem xét một cách tổng quát, cổ phần hoá DNNN theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta được thực hiện theo hướng không chỉ quan tâm đến khía cạnh kinh tế của riêng Nhà nước hay của một số cá nhân hoặc nhóm người, mà quan tâm một cách toàn diện đến hoạt động và lợi ích của doanh nghiệp, việc làm và lợi ích của người lao động cũng như sự ổn định của nền kinh tế Sau cổ phần hoá, người lao động được hưởng những thành quả
mà họ đã đóng góp cho doanh nghiệp trước đó, được tạo điều kiện làm việc
và có thu nhập, được tham gia quyết định những vấn đề quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp Còn tư nhân hoá thì những người lao động làm việc trong các DNNN trước khi cổ phần hoá thực sự trở thành những người làm thuê (nếu tiếp tục làm việc cho doanh nghiệp) hoặc bị sa thải; những quyền lợi, phúc lợi trước đây họ được hưởng khi làm việc trong DNNN sẽ không còn nữa Do đó, tư nhân hoá, đặc biệt là với những DN có quy mô lớn, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, dễ dẫn đến nguy cơ tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, tăng tỷ lệ thất nghiệp, giảm phúc lợi xã hội, thậm chí gây bất ổn cho toàn bộ nền kinh tế
Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh tế dựa trên chế độ sở hữu hỗn hợp, do đó nó có tính xã hội hoá về vốn rất cao, cơ cấu tổ chức chặt chẽ, phức tạp, đan xen bao gồm: hội đồng quản trị, ban giám đốc, ban kiểm soát và
Trang 17đại hội cổ đông, hoạt động với cơ chế phát hành cổ phiếu, trái phiếu và mua bán chúng công khai, phổ biến trên thị trường chứng khoán Một mặt, cổ phần hoá có thể thu hút, huy động vốn rộng rãi và sử dụng được các nguồn vốn trong nhân dân; Nhà nước thu hồi vốn đã đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước để tập trung đầu tư cho các lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư và người lao động Mặt khác, CTCP là một pháp nhân kinh doanh độc lập với các thành viên góp vốn Điều này giúp các thành viên góp vốn hạn chế bớt rủi ro trong trường hợp CTCP
bị phá sản Do đó, CTCP rất thích hợp với nền kinh tế thị trường hiện đại Xem xét ở góc độ các quan hệ kinh tế (về sở hữu tài sản, vốn) lại càng thấy, CPH không phải là tư nhân hoá Sau khi thành CTCP, chủ sở hữu của
DN không còn là các cá nhân riêng lẻ nữa mà là tập thể các cổ đông Điều này cũng có thể hình thành từ công ty tư nhân hoặc DNNN Đối với tư nhân hoặc một nhóm chủ, thông qua việc phát hành cổ phiếu đã thu hút thêm vốn của các chủ sở hữu khác ngoài xã hội để chuyển thành CTCP Còn đối với DNNN (đại diện Nhà nước là ban CPH), dựa trên cơ sở giá trị thực tế của DN cần được CPH để xác định số lượng cổ phần, giá trị mỗi cổ phần, các loại cổ phiếu, phương thức phát hành cổ phiếu, sau đó bán cổ phiếu cho các cá nhân,
tổ chức kinh tế- xã hội và chuyển DN từ chỗ chỉ có một sở hữu là Nhà nước thành DN có nhiều chủ sở hữu là CTCP
Cách thứ hai, là quá trình chuyển DN từ chủ sở hữu là nhà nước trực tiếp
sang chủ sở hữu gián tiếp là các cổ đông thông qua hội đồng quản trị Quá trình này không phải chỉ là chuyển tài sản thuộc sở hữu Nhà nước sang sở hữu của các cổ đông, mà là chuyển DN thuộc sở hữu Nhà nước thành CTCP, là quá trình đa dạng hoá sở hữu DN trước kia là sở hữu Nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và kinh doanh hiện đại
Khi các DNNN chuyển sang CTCP, nhà nước có thể nắm một phần hoặc toàn bộ cổ phần Các công ty này hoàn toàn chịu sự chi phối của quy luật thị
Trang 18trường, chấp nhận cạnh tranh và chịu sự điều chỉnh của pháp luật như đối với công ty tư nhân; vì vậy, quyền của nhà nước lúc này giống như quyền của các chủ thể sở hữu khác trong công ty
Như vậy, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là việc đa dạng hoá sở
hữu, thừa nhận yếu tố cạnh tranh là động lực sản xuất, kinh doanh nhằm xác lập mô hình kinh tế mới phù hợp hơn trong nền kinh tế thị trường, là việc chuyển từ hình thái kinh doanh chủ yếu dựa vào vay mượn thông qua tín dụng sang hình thái kinh doanh dựa vào huy động vốn trên thị trường tài chính mà chủ yếu là trên thị trường chứng khoán Do đó, cổ phần hoá DNNN chính là việc chuyển doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước (đơn sở hữu); thành công ty cổ phần (đa sở hữu), là quá trình chuyển hình thức DN đang một hoặc một vài chủ thành DN nhiều chủ sở hữu, chuyển DN từ chưa là CTCP thành CTCP Đây chính là quá trình CPH Quá trình CPH không những diễn ra ở các DNNN mà còn ở các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh, v.v Tuy nhiên, do phạm vi luận văn hạn hẹp nên tôi chỉ nghiên cứu việc CPH ở các DNNN của Khánh Hoà mà tỉnh không cần nắm giữ 100% vốn
Bản chất của CPH DNNN là chuyển đổi cơ cấu sở hữu, quan hệ giữa các chủ sở hữu DN Thể hiện về mặt pháp lý của CPH DNNN là sự chuyển đổi hình thức pháp lý của DN và các quy định điều chỉnh của pháp luật CPH DNNN còn kéo theo sự thay đổi về quyền quản lý, quyền sử dụng và tạo nên
sự gắn kết chặt chẽ giữa ba quyền liên quan đến tài sản của DN, làm thay đổi quy chế hoạt động của DN từ chỗ hoàn toàn bị Nhà nước chi phối sang tự chủ kinh doanh theo quy định của pháp luật
Tham khảo kinh nghiệm của các nước khi tiến hành CPH DNNN, chúng
ta có thể phân DNNN ra làm 3 loại: Loại DN không CPH - sở hữu 100% vốn của nhà nước; loại DN chỉ CPH một phần, trong đó có trường hợp nhà nước nắm tỷ lệ vốn khống chế, cũng có trường hợp nhà nước chỉ nắm một phần
Trang 19vốn nhỏ; loại DN mà nhà nước không cần thiết phải tham gia góp vốn Ở Việt Nam, dù ở loại hình kinh tế nào, nhà nước vẫn điều hành chung đi đúng định hướng XHCN mà mình đã đặt ra
Rõ ràng, CPH DNNN và tư nhân hoá là hai khái niệm khác nhau Sự khác nhau này phụ thuộc vào mức độ chuyển đổi sở hữu Và như vậy, việc sử dụng thuật ngữ CPH DNNN là chính xác Nhận thức đúng nội dung này không chỉ có
ý nghĩa về lý luận - xác định đúng đắn quan điểm đối với vấn đề kinh tế - mà còn
có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn CPH DNNN ở nước ta hiện nay
1.1.3 Tính tất yếu khách quan của việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hóa DNNN là hình thức kinh tế mới xuất hiện khi nước ta chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần Từ năm 1991 đến tháng 2/1998, ước tính cả nước có khoảng 223 CTCP được thành lập ở nhiều thành phần kinh tế với tốc độ ngày càng tăng Điều đó cho thấy, CPH DNNN là một xu thế phát triển tất yếu, hợp quy luật trong nền kinh tế thị trường
Thứ nhất, CPH DNNN nhằm nâng cao hiệu quả của DNNN, đồng thời qua
đó cấu trúc lại toàn bộ nền kinh tế cho phù hợp với mô hình kinh tế thị trường Đến nay, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò trọng yếu trong toàn bộ nền kinh tế Năm 2000 các DNNN đã sản xuất ra 39,5 % tổng sản phẩm trong nước (GDP), trên 50% giá trị xuất khẩu, đóng 39,2 % tổng thu ngân sách Tuy nhiên, trong khu vực kinh tế nhà nước hiện nay, nhiều DNNN đang trên đà giảm sút Nếu đến cuối năm 1990 toàn quốc có 12.300 DNNN thì đến năm 2002 còn 5.655 DNNN (giảm 55%) Trong số 5.655 DNNN nắm giữ hơn 88% tổng
số vốn của toàn bộ nền kinh tế và đóng góp vào ngân sách nhà nước chiếm 80% đến 85% có khoảng 40% DNNN làm ăn có lãi, 31% DN làm ăn chưa đạt hiệu quả, chưa ổn định và 29% DN còn lại làm ăn thua lỗ liên tục Tuy nhiên, nếu tính tất cả các loại thuế (thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ, thuế xuất nhập khẩu ), đặc biệt là nếu trừ đi cả chi phí, khấu hao tài sản cố định, trả
Trang 20tiền thuê đất đúng với giá trị thị trường thì DNNN hoàn toàn không tạo được tích luỹ Do đó, để sử dụng nguồn vốn nhà nước một cách hiệu quả, thiết thực, khắc phục tình trạng thua lỗ kéo dài của DNNN thì chuyển dịch nền kinh tế theo hướng đa dạng hoá sở hữu, xác định nhiều chủ sở hữu đích thực, thay đổi phương thức quản lý và hoạt động kinh doanh của DN để thích nghi với cơ chế thị trường là việc làm tất yếu đối với DNNN Tiến trình cổ phần hóa
ở nước ta hiện nay nói chung, ở Khánh Hòa nói riêng đang được đẩy nhanh tốc
độ dưới các hình thức như: sát nhập, cho thuê, sở hữu hỗn hợp, bán cho tư nhân, giải thể
Qua khảo sát 500 DN đã CPH trên 1 năm, cho thấy: vốn điều lệ tăng 50%, doanh thu tăng 60%, lợi nhuận trước thuế tăng 13,7%, nộp ngân sách tăng 45%, thu nhập của người lao động tăng 63%, cổ tức trung bình tăng 15,5%, số lao động tăng 23% Những số liệu trên phần nào phản ánh việc CPH DNNN là hiện tượng kinh tế lành mạnh, là chủ trương đúng đắn để nâng cao hơn thế và lực của Nhà nước trong quá trình xây dựng đất nước [32]
Cổ phần hóa DNNN nhằm sắp xếp, đổi mới lại các DNNN là một giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả của lĩnh vực kinh tế nhà nước Thực chất, đó là một sự cấu trúc lại nền kinh tế cho phù hợp với kinh tế thị trường theo hướng thu hồi vốn đầu tư trong những lĩnh vực mà nhà nước không cần nắm giữ và chuyển giao cho các thành phần kinh tế khác để nhà nước tập trung đầu tư vào những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân Đồng thời, qua đó khẳng định được vai trò, vị thế đích thực của DNNN, tạo điều kiện thực hiện con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn là đi lên CNXH Đây là một vấn đề khó khăn, phức tạp nhưng không được trì hoãn và lảng tránh, thu hẹp sở hữu của nhà nước và hạn chế sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao vai trò điều tiết của cơ chế thị trường; qua đó, xác định rõ quyền sở hữu tài sản, tiền vốn của
Trang 21các DN hiện nay, khắc phục tình trạng “vô chủ” làm thất thoát tài sản của nhà nước và của xã hội
Thứ hai, CPH DNNN sẽ tạo động lực mới trong sản xuất kinh doanh Để
hoạt động sản xuất kinh, doanh đạt hiệu quả cao thì vốn, thị trường, thiết bị công nghệ, con người là những yếu tố không thể thiếu CPH DNNN sẽ giải quyết một cách triệt để việc sử dụng các yếu tố trên
Mô hình CTCP là môi trường hữu hiệu để thu hút và sử dụng các nguồn vốn nhàn rối trong nhân dân, các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thiết lập quan hệ lâu dài với người lao động, các nhà cung cấp và khách hàng, cũng như di chuyển nguồn vốn sang lĩnh vực khác một cách linh hoạt, hiệu quả, phù hợp với sự năng động của nền kinh tế thị trường Nó còn là nơi lý tưởng
để người có vốn lựa chọn các cơ hội đầu tư, cũng như phân tán rủi ro cho tất
cả mọi người , tạo điều kiện xác lập thị trường tài chính mà nòng cốt là thị trường chứng khoán để huy động vốn trên thị trường tài chính
Khi cổ phần hoá DNNN, trong các công ty cổ phần, một cổ phần góp vốn được ghi trên mặt phiếu ( mệnh giá cổ phiếu) thường được quy định ở mức rất thấp Tại Pháp, mức tối thiểu của một cổ phiếu là 3 Frăng, ở Mỹ từ 1 đến 5 USD, ở Đức từ 1 đến 7 DM, ở Nhật là 100 Yên, ở Việt Nam là 10.000 đồng Vì thế, cách huy động vốn ở công ty cổ phần không chỉ thu hút được vốn từ những nhà đầu tư lớn mà còn tạo cơ hội để người lao động, kể cả người nghèo đều có thể mua được cổ phiếu, giúp chuyển hoá quỹ tiêu dùng thành quỹ sản xuất, đồng thời giảm bớt lượng tiền mặt dự trữ trong toàn xã hội, thúc đẩy quá trình tái sản xuất, nâng cao hiệu quả vận động vốn xã hội Ngoài ra, việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu làm cho các doanh nghiệp vượt khỏi giới hạn của mình, tạo thành những công ty cổ phần xâm nhập vào nhau, có quan hệ đa chiều, rộng rãi, tạo điều kiện xã hội hoá sản xuất, kinh doanh; khắc phục quan niệm đã lỗi thời coi công hữu là tiêu chí
Trang 22số một để đánh giá từng bước quá độ lên CNXH, hay sự định kiến về sở hữu cá nhân người lao động - coi đó là sự đối lập với CNXH và là mầm mống của CNTB
Theo C Mác, sự phát triển của công ty cổ phần là sự phát triển đầy đủ của chế độ tín dụng Tuy nhiên, so với tiền gửi vào quỹ tín dụng và các ngân hàng thì đầu tư vào công ty cổ phần thường hấp dẫn và có sức lôi cuốn hơn vì người mua cổ phiếu ngoài mong đợi thu được một khoản lợi tức bằng lợi tức khi họ gửi vào ngân hàng còn hy vọng tương lai của công ty cổ phần làm ăn phát đạt sẽ đưa lại thu nhập cao hơn Do đó, công ty cổ phần sẽ thu hút được nhiều vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh, tăng quy mô sản xuất trong xã hội, tạo điều kiện để kinh tế hàng hoá phát triển cao
Cổ phần hoá DNNN nhằm phát triển có hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước, thu hút để mở rộng kinh doanh, đổi mới thiết bị máy móc đã cũ kỹ, lạc hậu Nước ta hiện nay có 54,3% DNNN cấp trung ương và 74% DNNN cấp địa phương sản xuất còn ở trình độ thủ công, quy mô sản xuất nhỏ, ít vốn; trong đó, vốn đưa vào thực tế chỉ chiếm 80% vốn ghi trên sổ sách, vốn lưu động chỉ còn 50% được huy động vào sản xuất, kinh doanh, số còn lại là nợ khó đòi; tài sản, vật tư mất mát, kém phẩm chất Tất cả thực tế nghiệt ngã ấy
đã đẩy DNNN vào tình trạng lẩn quẩn: vốn không có để đổi mới trang thiết bị, nhưng không có cách nào để huy động vốn Ngoài ra, việc cổ phẩn hoá DNNN thành các công ty cổ phần còn tạo ra cơ chế phân bố rủi ro đặc thù, tạo
cơ hội tồn tại lâu bền cho doanh nghiệp Cách huy động vốn ở các công ty cổ phần tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tài chính mua cổ phiếu ở nhiều công ty, rải vốn ra nhiều ngành để giảm bớt tổn thất nếu một công ty nào đó không tồn tại được Mặt khác, vốn tự có của CTCP cũng là vốn của nhiều cổ đông góp lại nên nếu công ty có bị phá sản thì đây cũng là hình thức san sẻ rủi ro cho nhiều cổ đông, giảm nhẹ thiệt hại vào một chủ sở hữu Đây là nét đặc thù mà các loại hình doanh nghiệp khác không có được
Trang 23Trong CTCP, việc phân phối căn cứ vào mức đóng góp vốn và đóng góp lao động vào công ty, cũng như gắn trách nhiệm của người có vốn và người lao động với kết quả sản xuất, kinh doanh Do đó, khi người lao động nhận thức được rằng, nếu DN làm ăn có lãi thì họ cũng có một phần trong số lợi nhuận mà công ty đã kiếm được Ngược lại, nếu DN làm ăn thua lỗ thì nguồn thu nhập của họ cũng bị đe doạ Từ đó, họ có ý thức và trách nhiệm cao hơn trong hoạt động sản, xuất kinh doanh của công ty nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất, điều mà lâu nay người lao động tỏ ra dửng dưng (vì trong DNNN nếu DN thua lỗ thì họ cũng không bị giảm lương; nếu DN có lãi hoặc lãi nhiều thì họ cũng không được tăng lương) Việc phân phối đó khiến cho người lao động, người chủ mới của DN gắn chặt với sự thành bại của hoạt động sản xuất, kinh doanh, vì thế họ đoàn kết, gắn bó và nhất trí trong việc tìm kiếm và đưa ra phương án hoạt động phù hợp nhất cho DN, tạo điều kiện để DN cạnh tranh, tăng cường vị thế của mình
trên thị trường Như vậy, động lực lợi ích là cơ sở bên trong thúc đẩy việc nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các DN được CPH
Bên cạnh đó, hoạt động của các công ty cổ phần còn kích thích sự phát triển của thị trường chứng khoán Thông qua thị trường này, người chủ tiền tệ mới có điều kiện tiếp cận thông tin, lựa chọn và quyết định đầu tư vào cổ phiếu ở các doanh nghiệp mà mình mong muốn nhất Thị trường chứng khoán cũng là nơi các nhà kinh doanh có thể tìm kiếm được các nguồn vốn đầu tư, là nơi dẫn nguồn tích luỹ tiết kiệm của những người tích luỹ đến nhà đầu tư, là
cơ chế phân bổ các nguồn đầu tư theo yêu cầu của kinh tế thị trường, đồng thời cũng là cơ sở quan trọng để Nhà nước thông qua đó sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu lựa chọn Mặc dù thị trường chứng khoán ra đời không phải do ý muốn chủ quan của con người nhưng nếu thiếu nó thì sẽ hạn chế sự phát triển nói chung Rõ ràng, sự hình thành các công ty cổ phần là điều kiện quyết định của sự hình thành thị trường chứng khoán
Trang 24Cổ phần hóa DNNN góp phần làm lành mạnh hoá tình trạng tài chính trong các DNNN nói riêng và trong toàn bộ nền kinh tế nói chung; làm cho các mối quan hệ tài chính của DN với nhà nước và các DN khác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài DN được xác định một cách chính xác, giải quyết một cách rõ ràng, nhất là các khoản nợ, đặc biệt là nợ khó đòi, các loại tài sản được kiểm kê, đánh giá lại theo giá trị thực tế, tạo điều kiện để DN hoạt động lành mạnh sau CPH
Thấy được tầm quan trọng của việc CPH DNNN đối với nền kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới, trong thời gian qua, toàn Đảng, toàn dân ta đã nỗ lực phấn đấu để từng bước chuyển DNNN sang CTCP Theo kết quả của dự
án VIE 97/ 016 [12], thì mặc dù số DNNN được CPH qua từng năm có nhiều biến động và tăng không đều (đạt trung bình 60% so với kế hoạch), nhưng đến nay, tổng số DNNN đã được CPH chiếm 6% tổng số DNNN hiện có Tóm lại, sự ra đời của công ty cổ phần là biểu hiện mới của xã hội hoá sản xuất Nó sẽ giúp cấu trúc lại hệ thống kinh tế của toàn xã hội; tăng cường sức mạnh kinh tế đất nước, lành mạnh hoá, năng động hoá và hiệu quả hoá nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cổ phần hoá DNNN thực sự là giải pháp cơ bản để điều chỉnh mối tương quan giữa sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường hỗn hợp, nhằm đạt mục tiêu phát triển có hiệu quả, bảo đảm công bằng xã hội Trên thực tế, một số DNNN sau CPH còn gặp nhiều khó khăn, phát triển chậm so với yêu cầu và năng lực của DN, nhưng hầu hết các CTCP đều khẳng định được vai trò, vị thế và năng lực nội tại, cũng như sự phù hợp với nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hoá kinh tế Điều này một lần nữa khẳng định việc CPH DNNN ở nước ta là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật phát triển và xu thế thời đại
1.2 Quan điểm của Đảng về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Trang 25Chủ trương CPH DNNN được chính thức đề cập trong Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VII Nghị quyết của Hội nghị xác định rõ:
”Chuyển một số xí nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới”[13] Tiếp theo, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII xác định: ”Triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hoá DNNN để huy động vốn và tạo thêm động lực thúc đẩy DN làm ăn
có hiệu quả, làm cho tài sản nhà nước ngày càng tăng lên, không phải để tư nhân hoá” [15]
1.2.1 Về mục tiêu cổ phần hoá
Nghị định 28/CP, ngày 7/5/1996, của Chính phủ về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần khẳng định: ”Cổ phần hoá DNNN là huy động vốn của công nhân viên chức trong doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức trong
và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ phát triển doanh nghiệp và tạo điều kiện cho những người góp vốn và công nhân viên chức trong doanh nghiệp có cổ phần nâng cao vai trò làm chủ, thực sự tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp khi doanh nghiệp có hiệu quả.”[10] Theo đó, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá IX tháng 8/2001 khẳng định: ”Mục tiêu thực hiện Cổ phần hoá trước hết nhằm tạo ra loại hình DN có nhiều chủ
sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động, để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào phát triển sản xuất, kinh doanh; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho DNNN, phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông; khắc phục tình trạng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước của các DN”[14] Còn tại Điều 1, Nghị định 187 của Chính phủ ngày 16/11/2004, một lần nữa khẳng định mục tiêu của CPH DNNN là: ”chuyển đổi những công ty nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài
Trang 26nước để tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản
lý mhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”[8]
Như vậy, mục tiêu của Đảng ta về cổ phần hoá DNNN nhằm:
a) Góp phần nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp; tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động; tạo ra động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và doanh nghiệp b) Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm: cá nhân, các tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp
c) Phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của các cổ đông; tăng cường sự giám sát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và của người lao động
Theo Ban Đổi mới quản lý DN Trung ương, lộ trình đổi mới, sắp xếp DNNN tính đến năm 2005 còn khoảng 2.000 DN, giảm 62% Số DNNN còn lại tập trung vào các DN công ích nhà nước, các tổng công ty và các DN độc lập
có ý nghĩa quan trọng Số lao động làm việc trong các DNNN sẽ giảm 25%, từ 1.681 nghìn người xuống còn 1.260 nghìn người Vốn chủ sở hữu của các DNNN sẽ giảm 11,4%, từ 106.892 tỉ đồng xuống còn 94.703 tỉ đồng Nợ của các DNNN giảm 18,5% từ 113.965 tỉ đồng xuống còn 92.799 tỉ đồng trong đó
nợ ngân hàng giảm 21%, từ 47.734 tỉ đồng xuống còn 22.750 tỉ đồng [26]
1.2.2 Đối tượng doanh nghiệp nhà nước lựa chọn để cổ phần hoá
Trong chương trình cụ thể hoá và đưa Nghị quyết Đại hội IX vào cuộc sống, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khoá IX (9/2001) chủ trương “đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước không cần giữ 100% vốn” [17] xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Đặc biệt, Nghị quyết đã có những định
Trang 27hướng quan trọng như chỉ ra những lĩnh vực mà nhà nước giữ 100% vốn, những lĩnh vực mà Nhà nước phải giữ cổ phần chi phối; quy định chi tiết đối với những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích Theo
đó, việc lựa chọ DN để CPH xuất phát từ vị trí của DN đối với nền kinh tế quốc dân chứ không phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
DN, còn danh mục các công ti nhà nước mà Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ
sẽ được Thủ tướng Chính phủ quyết định trong từng thời kỳ Đến Hội nghị Trung ương 9 (khoá IX) thì quan điểm về CPH đặc biệt thông thoáng: a) Kiên quyết đẩy nhanh tiến độ CPH và mở rộng các DNNN cần CPH, kể cả những
DN lớn và một số tổng công ty kinh doanh có hiệu quả b) Gắn CPH với phát hành cổ phiếu và tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán c) Giá trị DNNN được CPH, trong đó có giá trị quyền sử dụng đất về nguyên tắc phải
do thị trường quyết định d) Việc mua, bán cổ phiếu phải công khai trên thị trường, khắc phục tình trạng CPH khép kín trong nội bộ DN
Tóm lại, đối tượng CPH DNNN hiện nay đã chuyển sang một giai đoạn
nâng cao về chất lượng trên cả hai mặt sau: một là, từ CPH DNNN là ăn thua
lỗ, DNNN có vốn nhỏ sang CPH cả những DN lớn, các tổng công ty, các DN
làm ăn có lãi; hai là, từ CPH DNNN trong một số lĩnh vực rất hạn chế sang
CPH các DN ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hoá
Còn về chỉ đạo thực hiện, Nghị quyết Hội nghị Trung ương chín, khoá
IX quyết định: “ đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá và mở rộng diện các doanh nghiệp nhà nước cần cổ phần hoá, kể cả một số công ty và doanh nghiệp lớn trong các ngành như điện lực, luyện kim, cơ khí, hoá chất, phân bón, xi măng, xây dựng, vận tải đường bộ, hàng không, đường sông, hàng hải viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm Khắc phục tình trạng cổ phần hoá khép kín trong nội bộ doanh nghiệp” [14]
Trang 28Theo Nghị định số 64/NĐ-CP, ngày 19/6/2002, CPH DNNN ở nước ta hiện nay có 4 hình thức sau: a) Giữ nguyên vốn hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để thu hút thêm vốn b) Bán một phần vốn hiện có tại doanh nghiệp c) Bán toàn bộ vốn hiện có tại doanh nghiệp d) Thực hiện các hình thức
b hoặc c kết hợp với phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn Còn theo quy định mới nhất tại Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 thì việc chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty cổ phần bao gồm các hình thức sau:
1- Giữ nguyên vốn hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn áp dụng đối với những DN CPH có nhu cầu tăng thêm vốn điều
lệ Mức vốn huy động thêm tuỳ thuộc vào quy mô và nhu cầu vốn của công ty
cổ phần Cơ cấu vốn điều lệ của CTCP được phản ảnh trong phương án CPH 2- Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại DN hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn
3- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại DN hoặc kết hợp vừa bán toàn
bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn
Và cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào điều kiện thực tế của từng DN mà quyết định chuyển DNNN hiện có thành CTCP, trong đó Nhà nước có cổ phần chi phối, CP đặc biệt, CP ở mức thấp hoặc Nhà nước không giữ CP Sau đó thực hiện “ CPH đơn vị phụ thuộc của DN hoặc chuyển toàn
bộ DN thành CTCP Trường hợp CPH đơn vị phụ thuộc của DN thì không được gây khó khăn hoặc làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh các
bộ phận còn lại của DN”[14], như vậy, chuyển hình thức CPH từ nội bộ là chính sang bán cổ phần ra bên ngoài, kể cả cho các nhà đầu tư nước ngoài
1.2.4 Về quy trình tiến hành cổ phần hoá
Gồm 4 bước:
Bước 1: Chuẩn bị cổ phần hoá Căn cứ vào vị trí của DNNN đối với nền
kinh tế quốc dân mà phân loại và lập danh sách, xác định giá trị DN cần CPH
Trang 29Bước 2: Xây dựng phướng án cổ phần hoá
Bước 3: Phê duyệt và triển khai phương án cổ phần hoá
Bước 4: Ra quyết định cổ phần hoá
1.2.5 Đặc điểm của doanh nghiệp cổ phần hoá
- Hầu hết các doanh nghiệp được đưa vào chương trình CPH đều có đặc điểm sở hữu tư liệu sản xuất thuộc về Nhà nước Nhà nước chi phối mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh và phân phối của DN Mặc dù Nhà nước có chủ trương giao quyền chủ động cho DN nhưng giám đốc và tập thể lãnh đạo DN không thể vượt qua những chế định của Nhà nước Thực tế cho thấy, chức sắc trong DN càng cao thì tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước lại càng lớn Mọi trang thiết bị đều là của Nhà nước, nhưng mất mát, hư hỏng không ai quan tâm vì những thứ đó không hề ảnh hưởng đến thu nhập thực tế của các thành viên trong DN Do đó, hiện tượng “vô chủ” khá phổ biến trong các DN cũng như trong các hợp tác, xã làm cho tình trạng tham ô, lãng phí, ăn cắp của công ngày càng tăng Khấu hao tài sản không tính vào chi phí hoặc có tính thì không đáng kể, vì thế nhiều DN đã ”ăn” vào máy móc, thiết bị Kết quả là, khu vực kinh tế nhà nước ngày càng lún sâu vào thua lỗ và càng trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước
Sau khi DNNN đã CPH, người lao động trong DN, kể cả bộ phận lãnh đạo DN, đều trở thành đồng sở hữu tư liệu sản xuất của DN Do đó, tất cả các thành viên trong DN đều quan tâm đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của
DN Nếu DN làm ăn có lãi thì cùng được chia, lỗ thì cùng chịu, vì trong CTCP, người lao động được hưởng quyền lợi theo 2 phương thức phân phối: phân phối theo lao động dựa vào số lượng và chất lượng lao động và phân phối theo lợi nhuận dựa vào mức góp vốn thông qua việc mua cổ phiếu Điều này làm thay đổi nhận thức kinh tế, giảm sự trông chờ vào Nhà nước, tạo điều kiện cho Nhà nước chăm lo các lĩnh vực khác của xã hộ i, tạo động lực mới
Trang 30trong sản xuất, kinh doanh, quyền bình đẳng trong xã hội được xây dựng trên nền tảng vững chắc
Đối với các DN được CPH, họ được tự chủ trong sản xuất, kinh doanh nhưng vẫn hoạt động dưới sự chỉ đạo chung vì lợi ích của xã hội, của đất nước, được đối xử bình đẳng như các DN khác trong nền kinh tế, hoạt động theo Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp
Cho đến nay, hầu hết các DNNN thuộc diện CPH đều là các DN có vốn
và quy mô nhỏ Số DNNN có vốn dưới 10 tỉ đồng chiếm 75% và thuộc những ngành mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn Trong tổng số 2.280 DNNN thuộc diện sắp xếp đến 2005 có 216 DNNN có vốn nhà nước trên 10 tỉ đồng (chiếm 9,5%), từ 1-10 tỉ đồng là 1.233 DNNN (chiếm 54%) và dưới 1 tỉ đồng là
831 DNNN (chiếm 36,5%)
1.3 Quá trình và kinh nghiệm thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
1.3.1 Khái quát quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Cổ phần hóa DNNN nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của DNNN là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Quá trình này được thực hiện hết sức cẩn trọng Cho đến nay, CPH DNNN ở nước
ta có thể được chia thành 3 giai đoạn khác nhau:
Giai đoạn thí điểm CPH, từ đầu tháng 6 /1992 đến tháng 4/1996 Giai
đoạn này, Chính phủ có Quyết định số 202-CT ngày 8/6/1992 về chủ trương thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần Trong gần 4 năm thực hiện, chỉ CPH được 5 DN trong đó có 3 DN Trung ương và 2 DN địa phương
Giai đoạn mở rộng CPH, từ tháng 5/ 1996 đến tháng 5/1998 Trong giai
đoạn này có Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996 của Chính phủ, nên việc CPH ngày càng được mở rộng Nghị định quy định rõ về đối tượng, yêu cầu, mục đích, CPH, cách thức tiến hành, các chế độ đối với DN, về vấn đề người lao
Trang 31động trong DN CPH Tiến trình CPH đã được thực hiện khá nhanh chóng Qua 2 năm thực hiện, có 25 DNNN được CPH Trong đó bao gồm 3 bộ, 9 tỉnh, thành phố có DN CPH
Giai đoạn đẩy mạnh CPH, từ tháng 7/ 1998 đến nay Rút kinh nghiệm từ
giai đoạn trước, ngày 29/6/1998 Chính phủ ban hành Nghị định 44/CP nhằm xác định rõ và giảm thiểu DN hành nghề mà Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn, Nhà nước nắm giữ cổ phần đặc biệt, cổ phần chi phối, không hạn chế quy mô DN nhờ vậy, chỉ trong 6 tháng thực hiện (đến 31/12/1998) cả nước
đã CPH được 86 DN, tăng gấp 3 lần so với hai giai đoạn trước
Kết quả:
- Về số lượng doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá:
Bảng 1: Số lượng doanh nghiệp cổ phần hoá qua các giai đoạn
Nguồn: Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp
Trong hơn mười năm thực hiện chương trình CPH DNNN, số DN được CPH khá nhiều nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu đặt ra Kết quả thực hiện giai đoạn 2002 - 2003 mới đạt 63% so với kế hoạch, riêng 6 tháng đầu năm 2004 chỉ đạt 16% kế hoạch của cả năm Do đó, lịch trình CPH DNNN của chúng ta còn tương đối chậm
- Về hiệu quả sản xuất, kinh doanh: Theo thống kê của Ban Chỉ đạo đổi
mới và phát triển DN Trung ương, sau khi CPH, doanh thu bình quân của các
Trang 32DN tăng 23,6%, lợi nhuận tăng 140%, hơn 90% số CTCP làm ăn có lãi, nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%, cổ tức bình quân đạt hơn 17% năm, các DN đều giảm được trung bình 25% chi phí gián tiếp, số lượng công nhân viên tăng 5,1% Trong số các DN được CPH, có 45 DN trước khi CPH làm ăn thua lỗ,
số DN còn lại thì khi lãi, khi lỗ, nhìn chung thì có lãi ở mức độ thấp và là lãi trên số vốn nhà nước chưa được đánh giá lại Mặc dù thời gian kinh doanh chưa dài, cần phải theo dõi và bổ sung thêm kinh nghiệm từ thực tiễn, nhưng nhìn chung, phần lớn các DN đều sản xuất, kinh doanh phát triển, đều tăng doanh thu và lợi nhuận so với trước khi CPH Bên cạnh đó, vẫn có DN còn yếu kém về mặt này, mặt khác nhưng chưa có DN nào thua lỗ hoặc phá sản
- Về khả năng huy động vốn trong xã hội: Trong các DN trước khi CPH
số lượng vốn thấp so với giá trị thực, lại kéo theo cả nợ khó đòi, sản phẩm, vật tư ứ đọng, không có khả năng sử dụng; máy móc, thiết bị không còn sử dụng được hoặc không thể sản xuất ra sản phẩm mà thị trường có thể chấp nhận được cho nên phải định giá lại phần tài sản này và có quyết định phân tích, xử lý trước khi CPH Đến năm 2000, trong các DNNN đã CPH, giá trị tài sản trên sổ sách kế toán trước khi CPH là 2.388 tỉ đồng, khi CPH được đánh giá là 2.714 tỉ đồng (chưa kể giá trị quyền sử dụng đất), tăng 13,7% Khi CPH, Nhà nước giữ lại 978 tỉ đồng, còn lại 1.736 tỉ đồng được bán cho người lao động trong và ngoài DN, số tiền thu được được đưa vào Quỹ hỗ trợ sắp xếp và CPH DNNN Sau khi CPH, các CTCP phần phát hành thêm 1.011 tỉ đồng cổ phiếu để thu hút vốn Do quy mô vốn nhà nước của các DN CPH nói chung là nhỏ (trung bình: 3,78 tỉ VNĐ/DN) nên huy động vốn trong xã hội thời kỳ này còn thấp, mới đạt 2.747 tỉ Dù vậy, điều đáng mừng là chỉ sau một thời gian hoạt động, các công ty cổ phần đã tăng được giá trị tuyệt đối phần vốn nhà nước Theo báo cáo của 202 DN, khi mới CPH được trên một năm thì phần vốn nhà nước không những được bảo toàn mà còn tăng lên 65.420 tỉ đồng (từ 377.343 tỉ đồng tăng lên 443.763 tỉ đồng), bằng nguồn lợi nhuận để
Trang 33lại Một số công ty phát hành thêm cổ phiếu để tăng thêm vốn trong khi phần vốn nhà nước ở DN vẫn giữ nguyên, và có công ty cổ phần đã bán bớt phần vốn nhà nước tại đó, như Công ty Nam dược, Dịch vụ văn hoá quận Tân Bình nên tỉ lệ vốn Nhà nước giảm từ 35% khi CPH xuống còn 26% tại thời điểm ngày 31/12/1999 Với mẫu 500 DNNN đã CPH được chọn ngẫu nhiên, người ta thấy kết quả như sau: vốn điều lệ tăng 50%, doanh thu tăng 60%, lợi nhuận trước thuế tăng 137%
Cho đến nay, nhờ quá trình CPH, hơn 12.411 tỉ đồng của các cá nhân, tổ chức ngoài xã hội được đầu tư vào DN Phần vốn Nhà nước tại các DN không
bị giảm đi mà còn được bảo toàn và tăng lên Tuy vậy, trong hơn mười năm qua, chúng ta phần nhiều chỉ CPH các DN vừa và nhỏ nên lượng DN CPH nhiều, nhưng số lượng đồng vốn lại tương đối ít ( tỷ trọng vốn của các DN CPH trong khối DNNN vẫn còn khá khiêm tốn, khoảng 17.700 tỉ đồng, chỉ bằng 8,2% tổng số vốn của toàn bộ khối DNNN; vốn huy động ngoài xã hội chỉ chiếm 53,4%, chưa tương xứng với tiềm năng)
- Về các hình thức cổ phần hoá: Trên cơ sở phân loại các DN, chúng ta
có thể thấy việc tiến hành CPH ở DNNN theo 3 hình thức sau:
+ Hình thức tách một bộ phận DN để CPH: Vừa qua, hình thức này được
áp dụng chủ yếu với các bộ phận DN mang tính độc lập tương đối, có dây chuyền sản xuất riêng biệt, là sản xuất phụ hoặc có vai trò phụ trợ đối với sản xuất chính ( như các phân xưởng bao bì của công ty xi măng; phân xưởng may của nhà máy dệt; phân xưởng bánh kẹo của nhà máy đường; phân xưởng sản xuất gạch của xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng ) Khi CPH một bộ phận, hầu hết các DNNN vẫn giữ cổ phần với tỉ lệ cao, đủ chi phối được hoạt động của công ty cổ phần Trên thực tế, công ty cổ phần không làm cho DNNN yếu đi, mà vốn nhà nước tại DN được sử dụng hiệu quả hơn, huy động thêm được vốn bên ngoài, tạo thêm động lực và quản lý tốt hơn
Trang 34+ Hình thức bán một phần giá trị DN rồi huy động thêm vốn: Hình thức này được nhiều lao động trong DN và các cổ đông ngoài DN ưu tiên lựa chọn,
vì nó đạt được tốt hơn cả hai mục tiêu huy động vốn và tạo động lực
+ Hình thức chuyển toàn bộ DNNN thành công ty cổ phần: Hình thức này, cổ phần chủ yếu được bán cho người lao động trong DN Trong 167 DN thuộc hình thức này (60 DN có vốn từ 1 tỉ đồng trở xuống), có 151 DN được người lao động trong DN mua cổ phần từ 50% trở lên, 94 DN được người lao động mua 100% cổ phần Thực tế cho thấy, việc cổ phần hoá DNNN tạo ra loại hình DN có nhiều hình thức sở hữu làm cho người lao động có cổ phần làm chủ thực sự trong DN, có quyền và nghĩa vụ rõ ràng theo luật định Điều đó tạo động lực trong sản xuất, kinh doanh và làm hình thành cơ chế kiểm soát có hiệu quả hơn của người lao động và xã hội đối với DN; dẫn đến tăng năng xuất lao động, tiết kiệm chi phí (trung bình, các công ty cổ phần giảm 20% chi phí, cá biệt có công ty giảm đến 50% chi phí so với trước khi cổ phần hoá), hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh Theo đó,bản thân người lao động
có được lợi ích lớn hơn (từ thu nhập và cổ tức), đồng thời lợi ích của DN và lợi ích của Nhà nước cũng được bảo đảm Việc thu hút và phát huy trí tuệ của các
cổ đông bên ngoài DN cũng tạo điều kiện nâng cao trình độ quản lý của công ty
cổ phần Đã từng có cổ đông bên ngoài DN được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quản trị (ví dụ, Công ty Thuỷ tinh Gò Vấp, Công ty Cổ phần giấy Viễn Đông )
Trang 35CPH chưa cao Ví dụ, năm 2003 dự kiến CPH 986 DNNN, nhưng trên thực tế chỉ đạt 156 DN, bằng 15,82% kế hoạch
- Cơ chế, chính sách về CPH chưa đồng bộ, quy trình và thủ tục còn phức tạp, chồng chéo, nhiều quan điểm chưa phù hợp, rõ ràng, tính khả thi chưa cao, chưa khuyến khích nhiều người lao động hăng hái thực hiện, như: khống chế tỷ lệ mua cổ phần lần đầu; chính sách ưu đãi cho tất cả các DNNN
cổ phần hoá còn mang tính đổ đồng; chưa có chính sách để người lao động giữ được cổ phần ưu đãi sau khi mua; chưa tạo ra môi trường thực sự bình đẳng trong kinh doanh, nhất là về quyền sử dụng đất, vay vốn, xuất nhập khẩu, bảo hộ, chính sách cán bộ ; chưa tổng kết, sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách, quy trình, thủ tục ; chưa tạo động lực thu hút vốn từ các nhà đầu tư kinh doanh có tiềm lực về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý thị trường Điều
đó, làm cho các DNNN thuộc diện CPH lo lắng, thiếu hăng hái và quan tâm
- Về chỉ đạo thực hiện: Chính phủ chưa tổ chức đủ mạnh; nhiều bộ, ngành, địa phương chưa thực sự chú trọng đến công tác CPH, chưa có chương trình, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện, còn trông chờ vào sự tự nguyện của DN, công tác tuyên truyền, giáo dục chưa được chú trọng Bên cạnh đó, ở nhiều DN việc xác định giá trị tài sản còn rất phức tạp, thực trạng tài chính thiếu lành mạnh, minh bạch, việc tính toán, xử lý nợ còn gặp nhiều khó khăn, thậm chí nhiều DN không đủ điều kiện tồn tại, có nguy cơ phá sản ( do nợ xấu, tồn đọng nhiều kéo dài, kinh doanh thua lỗ, mất vốn) vẫn đưa vào diện CPH làm cho quá trình CPH trở nên phức tạp, đặc biệt là về tài chính
Quy trình CPH rườm rà, phức tạp, cứng nhắc, chưa gắn với cải cách hành chính, làm cho các DN, các cơ quan chủ quản bị động, lúng túng Quá trình xây dựng đề án chưa sát với thực tế, thiếu kết hợp giữa các ngành với địa phương, không ít nơi thiếu dân chủ với DN, thiếu thống nhất trong chỉ đạo thực hiện Đối với DN có quy mô lớn thì ngoài các vướng mắc trên còn có thể
Trang 36nảy sinh một số khó khăn khác, chẳng hạn như khung pháp lý quy định các điều kiện tiến hành CPH, cách xác định giá
- Về tổ chức đảng: Sau khi CPH các tổ chức đảng chưa được đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động nên lúng túng trong sinh hoạt, chưa phát huy tốt vai trò của mình
- Về thị trường chứng khoán: Trong những năm qua, do chưa thực hiện CPH tốt nên chưa tạo điều kiện, tiền đề để hình thành và phát triển nhanh thị trường chứng khoán, ngược lại, việc hoạt động kém sôi động, kém hiệu quả của thị trường vốn này đã không tạo nên sự hấp dẫn cho người đầu tư cổ phần
1.3.2 Thực tiễn cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở một số địa phương
* Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hà Nội:
Hà Nội là một trong những địa phương có nhiều DNNN được CPH Trong số 880 DNNN trên địa bàn Hà Nội có 320 DN do địa phương quản lý với khoảng 75.240 lao động hoạt động trong 14 ngành kinh tế- kỹ thuật Qua khảo sát cho thấy, phần lớn số DNNN do địa phương quản lý có quy mô nhỏ:
87 DN, chiếm 26,5%, có quy mô vốn dưới một tỉ đồng Xét về hiệu quả, trong
số 320 DN có 219 DN làm ăn có lãi; gần 1/3 DNNN kinh doanh chỉ hoà vốn hoặc thua lỗ, trong đó có 33 DN thua lỗ kéo dài Do đó, sắp xếp lại DNNN bằng hình thức CPH trên địa bàn thành phố Hà Nội đã trở thành một yêu cầu cấp thiết Tuy vậy, trong 5 năm từ 1992 đến 1997, Hà Nội chỉ mới thực hiện CPH được 5 DN
Đứng trước tình trạng này, nhiều người nhận xét, CPH không vào được thành phố Hà Nội Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó có nguyên nhân về quan điểm, nhận thức, chẳng hạn như quan điểm cho rằng, CPH sẽ làm biến chất xã hội chủ nghĩa Điều này đã tác động đến hầu hết những người lao động và cả những nhà quản lý Để CPH DNNN đạt hiệu quả mong muốn, Hà Nội đã nhấn mạnh bước đi thận trọng và vững chắc, vừa làm,
Trang 37vừa rút kinh nghiệm; chú ý giải qyết vấn đề lao động và bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; thu hút đông đảo cán bộ cốt cán “vào cuộc” và đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục Nhờ công tác tư tưởng, tổ chức được chuẩn bị chu đáo, từ chỗ e ngại, dè dặt, năm 1998 Hà Nội hoàn thành CPH được 30 DNNN, hết tháng 10 /1999 lại tiếp tục CPH được 30 DNNN; trên chỉ tiêu 40 DNNN đề ra Tiếp tục tiến độ đó, trong giai đoạn 1998 - 2001,
Hà nội có 87 doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá Năm 2002, trong danh mục thực hiện cổ phần hoá 28 doanh nghiệp nhà nước, mới có 21 DNNN có quyết định của Uỷ ban nhân dân thành phố Nhìn chung, các DNNN sau cổ phần hoá đều hoạt động tương đối tốt, vốn hoạt động tăng Sau khi cổ phần hoá, quy mô vốn của các công ty cổ phần tăng bình quân 1,7 lần Trong đó nổi bật là Công ty Cổ phần Thành Công tăng từ 5,7 tỉ đồng lên 15 tỉ đồng; Công ty cổ phần Việt Hà tăng từ 3,1 tỉ đồng lên 12,6 tỉ đồng Quy mô vốn hoạt động của các DNNN sau cổ phần hoá được tăng bằng cách phát hành cổ phiếu Điều đó đã giúp các doanh nghiệp này có khả năng đầu tư mở rộng sản xuất
Theo điều tra sơ bộ tại 65 DNNN được tiến hành cổ phần hoá, doanh thu tăng 1,8 lần, lợi nhuận tăng 236% so với trước khi cổ phần hoá.[3] Trường hợp Công ty cổ phần Dệt 10.10 là một ví dụ điển hình Sau 2 năm cổ phần hoá, công ty này đã đạt được những kết quả khả quan trên các mặt hoạt động Trong đó, doanh thu tăng 2,5 lần, giá trị sản lượng tăng 50%, lợi nhuận tăng
10 lần, kim nghạch xuất khẩu đạt 3 triệu USD/năm (tăng gấp 4 lần so với trước khi cổ phần hoá) Đáng chú ý là số lao động, kể cả lao động nghèo, đều được tạo điều kiện để mua cổ phần trong DN; số cổ phần nhà nước trong DN không bị thất thoát mà còn tăng lên so với sổ sách Nguyên nhân cơ bản thúc đẩy các DNNN ở Hà Nội thực hiện cổ phần hoá nhanh chóng và hoạt động của các doanh nghiệp sau cổ phần hoá đạt kết quả, theo ông Phan Văn Vượng, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, là:
Trang 38Một là, có sự nhất trí và quyết tâm cao cả Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân
trong quá trình triển khai công tác CPH DNNN Điều đó được thể hiện rõ nét nhất ở chương trình 18 về sắp xếp DN Các lãnh đạo cuả thành phố là người trực tiếp chỉ đạo, phát biểu, truyền đạt, đồng thời đi kiểm tra nên đã tạo ra một khí thế mới của công tác CPH
Hai là, ban Đổi mới DN thành phố Hà Nội là bộ máy có năng lực tổ
chức Ban còn có sự tham gia của Ban Kinh tế thành uỷ, Liên đoàn Lao động thành phố.Về phía doanh nghiệp, ban lãnh đạo các doanh nghiệp trong kế hoạch CPH thấu suốt được chủ trương của Đảng và Nhà nước, có sự quan tâm trong quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần nên họ là những người tiên phong trong công tác tuyên truyền, thực hiện cổ phần hoá một cách tích cực, vận động lực lượng công nhân viên trong doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư ngoài doanh nghiệp hưởng ứng mua cổ phiếu Điển hình là Công ty Dệt 10.10 phát hành cổ phần không đủ bán, 100% công nhân viên Công ty đều là cổ đông của công ty Như vậy, có thể nói, công tác CPH DNNN ở Hà Nội được triển khai một cách đồng bộ cả bề rộng và bề sâu; hầu như không có cơ quan nào đứng ngoài công việc
Ba là, quy trình CPH DNNN đơn giản, rõ ràng, cụ thể, khoa học
Bốn là, lựa chọn những cán bộ nhiệt tình công tác, tinh thông nghiệp vụ
tham gia công tác CPH DNNN
Năm là, Ban Đổi mới DN thành phố chỉ đạo một cách sâu sát, thường
xuyên quá trình tổ chức CPH DNNN Hàng năm, Uỷ ban nhân dân thành phố đều ban hành chỉ thị, giao chỉ tiêu CPH cho các cấp, các ngành, các DN thuộc thành phố Ban Đổi mới DN thành phố còn có chế độ giao ban hàng tuần để kịp thời giải quyết xử lý các khó khăn, vướng mắc cho từng DN; kiểm tra, đôn đốc tiến trình CPH của từng cấp, từng ngành; kịp thời xin ý kiến chỉ đạo
Trang 39của Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân cũng như các cơ quan trung ương đối với các vấn đề vượt quá thẩm quyền giải quyết
* Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh:
Quá trình sắp xếp lại DNNN ở thành phố Hồ Chí Minh rất khả quan Cho đến nay, số lượng DNNN đã thu gọn còn gần 300 DNNN đang hoạt động Với số lượng khiêm tốn như vậy nhưng đa số các DNNN đều có quy
mô lớn Tính bình quân mỗi doanh nghiệp thu hút khoảng 380 người lao động (trong khi doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ thu hút khoảng 10 người và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng không quá 165 người); Tổng số vốn sản xuất, kinh doanh của các DN là 14.000 tỉ đồng (chiếm 14% tổng số vốn SXKD trên đị bàn thành phố) Theo kế hoạch từ năm 2001 đến năm
2005, thành phố phải thực hiện cổ phần hoá tiếp 100 doanh nghiệp
Chỉ tính riêng 8 tháng đầu năm 2003, thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành
cổ phần hoá thêm được 16 DNNN, nâng tổng số DNNN được CPH lên 199 DN Nhìn chung, các DNNN sau cổ phần hoá đạt mức tăng trưởng cao và khá ổn định Theo thống kê chưa đầy đủ, tại 92 doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá, doanh thu tăng bình quân khoảng 35%/năm, lợi nhuận trước thuế tăng 119%/năm, thu nhập của người lao động tăng bình quân 17%/năm[5] Theo Sở Công nghiệp thành phố ngày 08/02/2001, trong năm 2000, lợi nhuận tích luỹ trên một người lao động từ các công ty cổ phần thuộc Sở Công nghiệp thành phố quản lý đạt mức cao nhất, 24 triệu đồng lợi nhuận/người lao động/năm, trong khi đó, một người lao động làm việc trong các ngành như may, điện tử chỉ tích luỹ được 1 triệu đồng lợi nhuận/ năm, còn ngành cơ khí, nhựa, dệt, da thì cao hơn nhưng cũng chỉ ở mức 3 triệu đồng lợi nhuận/ người/ năm
Cũng trong năm 2000, lợi nhuận thực hiện được của các doanh nghiệp trực thuộc Sở Công nghiệp thành phố là 267 tỉ đồng, tăng 34% so với năm 1999, trong đó 110 tỉ đồng thuộc về các công ty cổ phần Các công ty có lợi nhuận
Trang 40thực hiện khá là Công ty cổ phần Cơ điện lạnh, Công ty Cổ phần bông Bạch Tuyết,
Công ty cổ phần Kim Đan.[20] Nguyên nhân chính là do việc lựa chọn đúng
DNNN có đủ điều kiện để cổ phần hoá; phương án thực hiện cổ phần hoá phù hợp và kịp thời; bộ máy lãnh đạo “cách tân”; có mặt hàng và thị trường ổn định, có nhiều triển vọng để hoà nhập với xu thế phát triển của thế giới; có sự thống nhất cao từ ban giám đốc đến tập thể người lao động đã gây nhiều hấp dẫn cho cổ đông (ví như Xí nghiệp Cơ điện lạnh, REE) Trong khi đó, Đảng
uỷ, Uỷ ban nhân dân thành phố cũng rất quyết tâm, thận trọng khi thực hiện công tác CPH DNNN
Vai trò của các tổ chức đoàn thể trong DNNN cũng góp một phần quan trọng trong tiến trình thực hiện cổ phần hoá của doanh nghiệp Họ là động lực chính trong việc vận động, tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về cổ phần hoá DNNN đến đội ngũ công nhân viên Thực
tế cho thấy, ở những doanh nghiệp tiếng nói và hành động luôn gắn chặt với nhau từ tổ chức cơ sở đảng, công đoàn, giám đốc , đều nhất quán, phối kết hợp chặt chẽ chỉ đạo về chủ trương, đường lối, phương án cổ phần hoá đối với từng bộ phận, tổ, phòng ban trong doanh nghiệp một cách thấu đáo thì việc tiến hành cổ phần hoá sẽ được thực hiện suôn sẻ, đạt hiệu quả và mục đích như mong muốn
Tâm lý người lao động là một trong những vấn đề quan trọng trong doanh nghiệp Khi chuyển sang công ty cổ phần, người lao động có suy nghĩ,
lo lắng các chính sách đối với họ có được giải quyết thoả đáng hay không Do
đó, khi đại hội cổ đông, các thành viên hội đồng quản trị của các công ty đã công khai khẳng định chính sách đối với người lao động không những được bảo đảm mà còn có sự ưu đãi hơn hẳn khi công ty còn là DNNN Và ngay sau khi công ty đi vào hoạt động, các chính sách như Quy chế hợp đồng lao động, Hợp đồng lao động được thực hiện theo đúng mẫu quy định của Bộ Luật lao động; ngoài ra còn bổ sung rất nhiều quyền cũng như trách nhiệm đối với