1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của tỉnh thanh hoá luận văn ths kinh tế 5 02 01 pdf

102 290 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CNXH : Chủ nghĩa xã hội CTCP : Công ty cổ phần CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CPH DNNN : Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước CTTNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn DNCP : Doanh ngh

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

_

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu

Trang 3

CNXH : Chủ nghĩa xã hội

CTCP : Công ty cổ phần CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CPH DNNN : Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước CTTNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn

DNCP : Doanh nghiệp cổ phần DNNN : Doanh nghiệp nhà nước HĐQT : Hội đồng quản trị

KTTT : Kinh tế thị trường SXKD : Sản xuất kinh doanh TSCĐ : Tài sản cố định TSLĐ : Tài sản lưu động TTCK : Thị trường chứng khoán TNHH : Trách nhiệm hữu hạn TBCN : Tư bản chủ nghĩa XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 4

Trang

Mở đầu 1

Chương 1: Lý luận và kinh nghiệm chung về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 5

1.1 Khái niệm và tính tất yếu khách quan về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 5

1.2 Quan điểm của Đảng ta về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 18

1.3 Một số kinh nghiệm chung về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta và một số địa phương 22

Chương 2: Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước của tỉnh Thanh Hoá thời gian qua 29

2.1 Tình hình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở tỉnh Thanh Hóa 29

2.2 Đánh giá chung và những vấn đề bức xúc đặt ra 50

Chương 3: Phương hướng giải pháp cơ bản đẩy mạnh cổ phần hóa và hậu cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước của tỉnh Thanh Hóa thời gian tới 54

3.1 Phương hướng 54

3.2 Những giải pháp cơ bản, đẩy mạnh cổ phần hóa, hậu cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước của tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới 59

Kết luận 83

Danh mục tài liệu tham khảo 85

Phụ lục 88

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hơn một thập kỷ tổ chức triển khai thực hiện chủ trương cổ phần hóa DNNN, một vấn đề kinh tế - xã hội nhạy cảm, thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn, một vấn đề cho đến nay vẫn còn khá mới

mẻ, thực hiện chưa nhiều và tốc độ còn quá chậm đối với nước ta

Ở Thanh Hóa, cấp Uỷ Đảng, Chính quyền bước đầu đã quán triệt các Chỉ thị của Trung ương và của Chính phủ về cổ phần hóa DNNN và cho đến nay qua triển khai thực hiện bước đầu đã thu được những kết quả nhất định Tính đến 31 tháng 12 năm 2003 đã cổ phần hóa được 60 DNNN, nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động sản xuất kinh doanh có tiến bộ Song vẫn còn một số hạn chế như: tiến độ CPH còn chậm, các mục tiêu chủ yếu của CPH đạt còn thấp, việc xác định giá trị doanh nghiệp trước khi CPH có chổ chưa hợp lý, còn lúng túng trong việc xây dựng chiến lược sản phẩm và chiến lược phát triển doanh nghiệp,v.v Những hạn chế này cần có lời giải thoả đáng trên cả 2 mặt lý luận và thực tiễn Nghiên cứu đề tài: “Cổ phần hóa DNNN của Thanh Hóa”, làm luận văn thạc kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị, mã số 5.02 01 của tác giả là trên ý nghĩa đó

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cổ phần hoá DNNN, một vấn đề kinh tế – xã hội đã và đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học và những bài viết xoay xung quanh vấn đề cổ phần hóa DNNN Chẳng hạn:

-“Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam” của PGS – PTS

Hoàng Công Thi và PTS Phùng Thị Đoan , thông tin chuyên đề, Viện Khoa học Tài chính, Bộ Tài chính, xuất bản năm 1992;

- Những vấn đề lý luận và thực tiễn của cổ phần hóa khu vực kinh tế quốc

Trang 6

doanh” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, mã số 91-98 – 017 của Uỷ Ban

Vật giá Nhà nước, Hà Nội 1992;

- “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn” của PTS Nguyễn Ngọc Quang;

- “Góp ý kiến về chính sách đối với người lao động khi cổ phần hóa hóa doanh nghiệp nhà nước” của PTS Đặng Quang Điệu, kinh tế dự báo tháng

2/1998;

- “Phân vân khi mua cổ phần” của Nguyễn Hoàng, Thời báo kinh tế Việt

Nam, số 6, ngày 21/1/1998;

-“ Một số vấn đề lý luận về công ty cổ phần và vận dụng vào Việt Nam”-

Luận án tiến sĩ kinh tế của Đặng Thị Cẩm Thúy- năm 1999

“Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam”- Luận án tiến sĩ kinh

tế của Nguyển Thị Thơm- năm 1999

-“Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: mấy vấn đề lý luận và thực tiễn”

của Nguyễn Minh Thông – Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Tạp chí cộng sản, số 16, tháng 6/2002…

Các công trình nói trên đã nghiên cứu và luận giải được những vấn đề cơ bản, có tỉnh chuyên biệt về cổ phần hóa DNNN ở bình diện chung

Ở Thanh Hóa, các nhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn của tỉnh những năm qua cũng đã có những công trình nghiên cứu, nhằm vận dụng và

lý giải các vấn đề thực tiễn để thúc đẩy tiến độ cổ phần hóa DNNN của tỉnh

Song chưa có công trình nào trình bày một cách hệ thống từ thực trạng đến định hướng giải pháp của vấn đề cổ phần hóa DNNN ở Thanh Hóa một cách chuyên biệt Vì vậy trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, luận văn tiếp tục phân tích, luận giải nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra về cổ phần hóa DNNN ở Thanh Hóa hiện nay

3- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

Mục đích:

Trang 7

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, kinh nghiệm ở một số tỉnh khác ở nước ta về cổ phần hóa DNNN, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện cổ phần hóa DNNN ở Thanh Hóa trong thời gian tới

- Phân tích những quan điểm có tính nguyên tắc và đề xuất các giải pháp

cơ bản nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa DNNN của Thanh Hóa những năm tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Luận văn lấy việc cổ phần hóa DNNN, một trong các biện pháp sắp xếp, củng cố và đổi mới DNNN – làm đối tượng nghiên cứu

- Về phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu các DNNN mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn của Thanh Hóa

- Về thời gian: Nghiên cứu từ khi có chủ trương cổ phần hóa DNNN đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận chung Đặc biệt chú trọng sử dụng các phương pháp đặc trưng của kinh tế chính trị, phương pháp trừu tượng hóa Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: thống kê, định lượng, so sánh; phương pháp

mô hình, điều tra v.v…

6- Đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn

- Làm rõ thêm tính tất yếu khách quan của cổ phần hóa, nhất là đối với

Trang 8

các DNNN của tỉnh Thanh Hóa

- Thông qua phân tích đưa ra những đánh giá có căn cứ lý luận và phù hợp với thực tiễn ở Thanh Hóa

- Đề xuất những phương hướng có tính nguyên tắc và giải pháp tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN ở Thanh Hóa trong thời gian tới

Kết quả của luận văn có ý nghĩa:

- Góp thêm luận chứng khoa học cho việc hoàn thiện chủ trương cổ phần hóa DNNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá

6- Kết cấu luận văn

Luận văn ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung được chia thành 3 chương với 7 tiết

Trang 9

Chương 1

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUNG

VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.1 KHÁI NIỆM VÀ TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Công ty cổ phần

Công ty cổ phần, một khái niệm xuất hiện khá lâu trong lịch sử và mang tính phổ biến hiện nay Do vậy, mặc dù, còn có một vài quan niệm hoặc khía cạnh khác nhau nào đó về khái niệm CTCP, đó cũng là lẽ bình thường

Theo tôi, có thể hiểu: CTCP là loại công ty đối vốn được hình thành trên

cơ sở liên hợp nhiều vốn cá biệt bằng cách phát hành và bán cổ phiếu; những người góp vốn bằng cách mua cổ phiếu do công ty phát hành là những cổ đông Thực chất CTCP là một loại hình tổ chức doanh nghiệp trong đó các

thành viên cùng góp vốn để sản xuất kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chịu rủi ro tương ứng với phần vốn góp khi công ty thua lỗ

Công ty cổ phần xuất hiện đầu tiên ở các nước Tây Âu Đến nay CTCP

đã phát triển qua 3 giai đoạn và đang ở giai đoạn thứ tư

Giai đoạn 1: Từ đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, giai đoạn này

đã hình thành các công ty đầu tiên trong lĩnh vực lưu thông ở nước Anh, Hà Lan và một số nước Tây Âu khác

Giai đoạn 2: Từ cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX giai đoạn này

các CTCP đã phát triển mạnh mẽ sang cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp

Giai đoạn 3: Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, giai đoạn này

CTCP tiếp tục phát triển mạnh mẽ và sâu rộng: đến những thập niên cuối của thế kỷ XX: 21% dân cư Thụy Điển có cổ phần; gần 40 triệu người nước Mỹ, trong đó có khoảng 12 triệu người lao động làm thuê có cổ phần… đến cuối

Trang 10

thập niên 80 của thế kỷ XX nước Mỹ có khoảng 10.000 CTCP, trong đó công nhân có từ 1 – 10% tư bản cổ phần [6, 83, 84]

Cùng với sự phát triển của CTCP qua các giai đoạn cho thấy sự ra đời

và phát triển của CTCP không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của trình độ

phát triển xã hội hoá sản xuất, là kết quả của quá trình giải quyết mâu thuẫn

giữa nhu cầu tập trung vốn với quy mô lớn trong một thời gian ngắn để đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất với sự hạn chế của tích tụ vốn trong từng xí nghiệp riêng lẻ

Trong lịch sử cho đến nay, có 3 con đường chính để hình thành CTCP:

Thứ nhất: Phát triển theo con đường truyền thống bằng sự liên kết các

tư bản riêng lẻ, các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và sự liên kết giữa các công ty tư nhân do nhu cầu tăng vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, từ đó hình thành nên các công ty cổ phần

Thứ hai: Do sự liên doanh, liên kết giữa tư bản trong và ngoài nước

Chẳng hạn, CTCP liên quốc gia giữa nước Anh và nước Pháp trong việc xây dựng đường sắt (1860 – 1880) hoặc việc sản xuất máy bay Boing của Mỹ đã phải huy động tới 65 công ty của trên 30 nước, đặc biệt với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay sự liên kết tư bản quốc tế đã không còn dừng lại ở phạm vi tư bản tư nhân và các tổ chức độc quyền với nhau mà còn có sự tham gia của các Chính phủ, giữa các nước với nhau Theo số liệu thống kê của UNCTAD đến nay, trên thế giới có khoảng 60 nghìn CTCP tồn tại dưới hình thức Tập đoàn kinh tế Trong lĩnh vực công nghiệp trên thế giới có khoảng

2000 công ty độc quyền thu hút khoảng 33 triệu lao động làm thuê, kiểm soát khoảng 40% sản lượng công nghiệp thế giới; 60% ngoại thương và khoảng 80

- 85% kỹ thuật mới của thế giới

Thứ ba: Do cổ phần hóa doanh nghiệp hoặc một phần doanh nghiệp nhà

nước Vào nửa đầu thế kỷ XX, cùng với các thành tựu mới của khoa học kỹ

Trang 11

thuật và sự xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất mới đã xuất hiện những doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò là đầu tầu, là công cụ điều tiết kinh tế của các nhà nước xong sau một thời gian tồn tại và hoạt động, các doanh nghiệp nhà nước nhìn chung làm ăn kém hiệu quả

Chẳng hạn, ở Italia là nước có tỷ trọng sở hữu nhà nước trong nền kinh

tế cao nhất thì thâm hụt của DNNN là 4,5% GDP; Bồ Đào Nha khu vực kinh

tế quốc doanh thua lỗ là 1/3 GDP trong suốt thời gian từ 1974 - 1986 [28] các nước tư bản khác đều có hiện tượng tương tự Vì vậy từ những năm 80 của thế kỷ XX lại đây ở khắp các nước trên thế giới đã diễn ra quá trình tư nhân hóa và cổ phần hóa các DNNN Đến nay đã có hơn 80 nước đang phát triển thuộc mọi hệ tư tưởng chính trị khác nhau đã tiến hành cổ phần hóa rất tích cực Có thể nói cổ phần hóa là một trong những nội dung chủ yếu của công cuộc cải cách DNNN nói riêng và cải cách kinh tế nói chung ở các nước đang phát triển Trong năm 1997 Đài Loan đã tiến hành cổ phần hóa một số DNNN trong các ngành công nghiệp và nông nghiệp Malayxia nhà nước đã nhượng nhiều cổ phần chủ yếu trong 29 doanh nghiệp tại thị trường Kulalumpua và năm 1990 nhà nước đã mở cửa cho tư nhân hóa tham gia đến 30% cổ phần trong ngân hàng quốc gia

Đối với nước ta, những năm qua trong từng bước đẩy mạnh hình thành CTCP theo cả 3 con đường trên, trong đó cổ phần hóa DNNN đã và đang được Đảng, nhà nước quan tâm chỉ đạo, cổ phần hóa được coi là trung tâm của quá trình cải cách và cấu trúc lại DNNN

Như vậy, tuy có nhiều con đường hình thành CTCP, song thực chất của CTCP là sự chuyển sở hữu tư nhân thành sở hữu tập thể của các cổ đông, đó

là sự phát triển tất yếu Đúng như Các Mác đã khẳng định: “Sự xuất hiện CTCP là kết quả của sự phát triển của lực lượng sản xuất và là bước quá độ từ

sở hữu tư nhân lên sở hữu tập thể của các cổ đông” [ 22 ]

Trang 12

Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước

DNNN là hình thức doanh nghiệp do nhà nước lập ra đầu tư vốn và quản

lý vốn với tư cách sở hữu đồng thời là pháp nhân kinh tế, hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật Hoạt động theo định hướng của nhà nước

để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao

Theo NĐ 388, ngày 20 tháng 11 năm 1991 của HĐBT, nay là Chính phủ, DNNN là tổ chức kinh doanh do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu

Luật doanh nghiệp (sửa đổi) cũng đã khẳng định “DNNN là tổ chức kinh

tế do nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao”

Như vậy, DNNN là doanh nghiệp do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và

quản lý với tư cách chủ sở hữu, có 2 loại: các doanh nghiệp sản xuất kinh

doanh thu lợi nhuận và các doanh nghiệp hoạt động nhằm mục đích công ích, thực hiện các chính sách xã hội của nhà nước hoặc phục vụ Quốc phòng an ninh

Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Để có nhận thức đúng về khái niệm cổ phần hoá DNNN, cần có sự phân biệt giữa 2 khái niệm tư nhân hóa và cổ phần hóa

Trước hết về mặt phương pháp luận để nhận thức đúng các khái niệm nói trên không được tách rời mà phải gắn liền với với đối tượng cần được giải quyết là DNNN ở các nước trên thề giới trong đó, có nước ta Từ phương pháp luận đó, có thể hiểu:

Tư nhân hóa là quá trình chuyển sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân,

đồng thời chuyển hóa lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ độc quyền của nhà nước cho tư nhân và do tư nhân đảm nhiệm

Trang 13

Cổ phần hóa DNNN về thực chất là là phương thức thực hiện xã hội hóa

sở hữu về vốn theo hướng chuyến sở hữu nhà nước trong DNNN thành công

ty cổ phần của nhiều chủ sở hữu để tạo vốn thông qua phát hành và mua bán

cổ phiếu nhằm tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường, có sức cạnh tranh, sản xuất kinh doanh có hiệu quả đáp ứng được yêu cầu phát triển doanh nghiệp bền vững phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

Cổ phần hóa và tư nhân hóa có liên quan đến hình thức sở hữu nhà nước

về vốn trước và sau CPH hay tư nhân hóa Song cổ phần hóa và tư nhân hóa

là hai khái niệm có sự khác nhau nhất định:

- Về pháp lý: Cổ phần hóa DNNN là chuyển doanh nghiệp sở hữu vốn

từ một chủ là nhà nước sang sở hữu vốn của nhiều chủ là các cổ đông Còn tư nhân hóa là chuyển doanh nghiệp sở hữu vốn một chủ là nhà nước sang doanh nghiệp một chủ sở hữu là tư nhân Về mặt lý luận cũng như thực tiễn đã chứng minh rằng: Nếu doanh nghiệp chỉ thuộc quyền sở hữu một chủ thì phát sinh hiện tượng độc quyền, lũng đoạn (đối với sở hữu tư nhân) hoặc độc quyền, cửa quyền, tiêu cực, kém hiệu quả (đối với sở hữu nhà nước)

- Về cơ chế quản lý: Cơ chế quản lý một chủ (tư nhân) thường kéo theo

sự độc đoán, chủ quan, tuỳ tiện, những khuyết tật đó vừa không phù hợp với

cơ chế thị trường vừa trái với định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta Trái lại, cơ chế quản lý của CTCP do Hội đồng Quản trị chịu trách nhiệm, giám đốc chỉ là người thừa lệnh thay mặt Hội đồng Quản trị để điều hành sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần theo các chiến lược và chương trình của Hội đồng quản trị nên vừa phù hợp với cơ chế thị trường vừa đảm bảo phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước

- Về tài chính: Doanh nghiệp tư nhân luôn hạn chế về việc huy động

vốn, sử dụng vốn không hiệu quả và quản lý thiếu chặt chẽ, còn việc quản lý

Trang 14

tài chính của CTCP do bản chất của nó, nên việc quản lý tài chính có điều kiện diễn ra chặt chẽ và hiệu quả hơn Hơn thế trong cổ phần hóa DNNN, Nhà nước có thể là cổ đông có thị phần vốn khống chế, hoặc cũng có thể không còn là cổ đông , song dù trong trường hợp nào, các công ty cổ phần sau cổ phần hóa DNNN vẫn không thể trở thành doanh nghiệp tư nhân Vì trong quá trình cổ phần hóa, tài sản của DNNN được bán cho nhiều đối tượng cổ đông khác nhau, nên thuộc sở hữu của nhiều chủ khác nhau và nguồn vốn góp không do từng cá nhân sử dụng mà được sử dụng mang tính chất chung của CTCP

Như vậy, hình thức sở hữu tại các doanh nghiệp sau cổ phần hóa chính là

sự chuyển từ sở hữu nhà nước duy nhất sang sở hữu tập thể của các cổ đông Còn tư nhân hóa thì DNNN sau tư nhân hóa sẽ tạo ra chủ sở hữu mới là tư nhân và DNNN thành doanh nghiệp tư nhân và cổ phần hoá và tư nhân hóa chỉ là một khi cổ phần hóa DNNN được thực hiện bằng hình thức bán toàn

bộ số cổ phần của doanh nghiệp cho một cá nhân Đó chính là sự khác nhau căn bản giữa cổ phần hóa và tư nhân hóa Sự khác nhau này có ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn vì một DNNN trở thành một CTCP hoặc một doanh nghiệp tập thể sẽ làm cho sức mạnh và khả năng phát triển của nó lớn hơn nhiều so với doanh nghiệp tư nhân Do vậy, tính xã hội và tính nhân văn trong hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của các công ty cổ phần cũng cao hơn nhiều so với doanh nghiệp tư nhân.Từ sự thay đổi sở hữu sẽ dẫn đến sự thay đổi về hình thức tổ chức, quản lý cũng như phương thức hoạt động của doanh nghiệp DNNN sau khi tư nhân hóa sẽ trở thành doanh nghiệp tư nhân và hoạt động theo một doanh nghiệp tư nhân, còn DNNN sau cổ phần hóa sẽ trở thành CTCP có điều lệ và có thể thức hoạt động theo cơ chế của công ty cổ phần

Sau cổ phần hóa DNNN, các công ty cổ phần sẽ có các dạng cơ bản sau

Trang 15

+ Công ty cổ phần mà nhà nước là cổ đông có thị phần vốn chi phối, hay thị phần vốn đặc biệt Ở đây nhà nước là một cổ đông có ưu thế và chi phối được công ty và các cổ đông khác (Thường vốn của nhà nước ở các doanh nghiệp này là 51% tổng số vốn của doanh nghiệp hoặc cổ phần của nhà nước ít nhất gấp hai lần cổ phần của cổ đông lớn nhất khác trong CTCP) + Công ty cổ phần mà nhà nước là cổ đông có thị phần vốn thông thường, nghĩa là nhà nước chỉ chiếm một lượng vốn nào đó để hưởng lợi tức không có giá trị chi phối, đặc biệt

+ Công ty cổ phần mà nhà nước không có thị phần vốn, ở đây về hình thức sở hữu đã biến đổi từ sở hữu nhà nước sang sở hữu tập thể của các cổ đông

- Căn cứ tính chất sở hữu về vốn của cổ đông, có các dạng công ty cổ phần như:

+ Công ty cổ phần tư bản tư nhân Loại công ty này dựa trên hình thức

sở hữu tư nhân TBCN về vốn và dựa trên lao động làm thuê

+ Công ty cổ phần hợp tác xã (HTX) được hình thành từ việc bán DNNN cho tập thể người lao động của doanh nghiệp, cổ đông đồng thời cũng là người lao động trực tiếp nên thu nhập của họ gồm hai phần: phần hưởng theo công lao động (tiền lương) và phần lãi cổ phần (gọi là cổ tức) Loại công ty cổ phần này người lao động đã là chủ thực sự tránh được “tình trạng tài sản của nhà nước không có người làm chủ trực tiếp” [4 ] , có tác dụng ngăn chặn từ gốc tệ tham nhũng, thiếu trách nhiệm làm thất thoát tài sản công như trước đây của một số DNNN Dạng công ty cổ phần này cần có sự quan tâm hỗ trợ của nhà nước về cơ chế, chính sách

+ Công ty tư bản - nhà nước, là sự hợp doanh hoặc liên doanh liên kết giữa nhà nước với các nhà tư bản trong hoặc ngoài nước Công ty này có vai trò, tác dụng to lớn đối với các nước đang phát triển nói chung và ở nước ta

Trang 16

nói riêng, vì một mặt nhà nước vẫn giữ được sự kiểm soát công ty, mặt khác lại tranh thủ được nguồn ngoại lực góp phần thúc đẩy CNH, HĐH đất nước

và tăng trưởng kinh tế

Trang 17

1.1.2 Thiên hướng hình thành DNNN và tính tất yếu khách quan cổ phần hoá DNNN

200 doanh nghiệp bị thua lỗ, hầu hết các DNNN của Bồ Đào Nha đều thu không đủ chi, trong đó có nhiều doanh nghiệp bên bờ vực phá sản

Để duy trì DNNN, các chính phủ đều phải bù lỗ từ ngân sách nhà nước

Đó là nguyên nhân chính dẫn đến thâm thủng ngân sách ở các nước đi theo thiên hướng này

- Thiên hướng thứ hai, một số nước lại quá tin tưởng vào sự điều tiết của

“bàn tay vô hình” sự tự điều tiết của thị trường, xem nhẹ vai trò của Nhà nước

và kinh tế nhà nước, từ đó muốn tư nhân hoá hoàn toàn DNNN Thiên hướng này, dựa trên cơ sở lợi dụng những mặt tích cực, có khả năng tự điều chỉnh của cung cầu, điều phối các yếu tố sản xuất, kích thích tiến bộ kỹ thuật thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển cả chiều rộng

và chiều sâu tạo điều kiện cho các nền kinh tế có thể tăng tốc nhanh và cất

Trang 18

cánh Nhưng thiên hướng này không thấy rằng kinh tế thị trường cũng mang trong mình nó những khuyết tật như: tính tự phát, bất ổn định, chạy theo lợi nhuận thuần tuý, là nguyên nhân của những tiêu cực như: làm hàng giả, lừa dối, trốn thuế, và các hiện tượng kinh tế khác Cũng vì lợi nhuận các doanh nghiệp đã lao vào cạnh tranh để săn tìm lợi nhuận cao nên ít quan tâm tới những ngành nghề không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận thấp gây ra sự mất cân đối khủng hoảng, thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo quá đáng v.v…

Lý luận và thực tiễn cho thấy Nhà nước nào hoàn toàn đi theo lý thuyết

“Bàn tay vô hình”, đặt sự phát triển của nền kinh tế thuần tuý trên cơ sở kinh

tế thị trường và khu vực kinh tế tư nhân, xem nhẹ vai trò quản lý kinh tế của nhà nước và kinh tế nhà nước, sẽ làm cho nền kinh tế không thể tăng trưởng

và phát triển bền vững, sớm muộn sẽ rơi vào khủng hoảng dẫn đến mất ổn định chính trị, xã hội Ngược lại, nếu chỉ dựa hoàn toàn vào khu vực kinh tế nhà nước và vai trò quản lý kinh tế của nhà nước, xem nhẹ thị trường và khu vực kinh tế tư nhân, sẽ làm mất đi động lực, nền kinh tế không sống động, kìm hãm tăng trưởng và phát triển kinh tế

Sau những thành công và thất bại, cho đến nay hầu hết ở các nước nghiêng về xu hướng xây dựng mô hình kinh tế hỗn hợp, trong đó kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, cơ chế thị trường và các công cụ điều tiết của nhà nước như: kế hoạch, pháp luật, các đòn bẩy kinh tế… đều được coi trọng

Để khắc phục những hạn chế cố hữu, kinh doanh kém hiệu quả của các DNNN, xu hướng chung của các nước là thực hiện tư nhân hóa các DNNN trong đó có CPH

Ở Việt Nam, doanh nghiệp quốc doanh trước đây (nay là DNNN, một bộ của kinh tế nhà nước) ra đời và phát triển trong bối cảnh các nước XHCN trước đây đã thực thi mô hình kinh tế kế hoạch hóa chỉ huy dựa trên nền tảng công hữu XHCN về tư liệu sản xuất vận động theo cơ chế bao cấp, nên khi chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN nhiều DNNN khó thích

Trang 19

nghi, đã bộc lộ những hạn chế và bất cập Có nhiều nguyên nhân song nguyên nhân cơ bản là do trong nhận thức có sự ngộ nhận cho rằng xây dựng DNNN càng nhiều, thì càng nhanh đến mục tiêu của CNXH Do chạy theo số lượng, nhiều DNNN ra đời khi chưa hội đủ các điều kiện cần thiết, hình thành DNNN một cách ồ ạt, dẫn đến những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX,

số lượng DNNN phát triển quá nhiều Theo đánh giá của nhiều tài liệu khác nhau, năm 1991 trên phạm vi cả nước số DNNN sản xuất kinh doanh có lãi chỉ chiếm khoảng 20 - 25%, số xí nghiệp thua lỗ cần giải thể khoảng 30 – 35%, số còn lại đang gặp nhiều khó khăn về tài chính và thị trường Tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau trở thành phổ biến, nợ và khả năng mất vốn của các DNNN ngày càng tăng

Sau nhiều năm đổi mới, tổ chức, sắp xếp lại, theo thống kê cho đến nay nước ta còn khoảng 5000 DNNN, đang nắm giữ những ngành nghề, những lĩnh vực then chốt là xương sống của nền kinh tế Một số doanh nghiệp đã chú trọng đổi mới thiết bị, tích cực ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nâng cao được chất lượng và hiệu quả tăng thu nhập cho người lao động, đã thực hiện được một số nhiệm vụ kinh tế xã hội cơ bản, đóng góp một phần quan trọng vào ngân sách nhà nước, góp phần không nhỏ vào việc khắc phục sự mất cân đối, giảm bớt sự lệ thuộc với bên ngoài, giải quyết được khoảng 1,8 triệu lao động Tuy vậy, việc củng cố, sắp xếp, đổi mới DNNN chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra Nhìn chung hiệu quả kinh tế - xã hội của nhiều DNNN chưa cao, không ít DNNN còn yếu kém bất cập, sản xuất kinh doanh thua lỗ

Để DNNN có thể đứng vững trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, phải tiếp tục tổ chức sắp xếp lại DNNN với nhiều hình thức trong đó có chủ trương đẩy mạnh CPH DNNN

1.1.2.2 Cổ phần hóa DNNN là một tất yếu khách quan

Một là: CPH DNNN đáp ứng yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phù

Trang 20

hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Ở nước ta, CPH DNNN thực chất là thực hiện xã hội hoá sở hữu về vốn nhằm tạo ra các hình thức sở hữu phù hợp với đặc điểm nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH Nói cách khác, CPH DNNN là bắt nguồn từ yêu cầu hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, phát huy các nguồn lực trong và ngoài nước, không ngừng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN

Hai là: Cổ phần hoá DNNN là do yêu cầu nội tại của bản thân các

DNNN

Muốn đứng vững và chiến thắng trong cạnh tranh trên thương trường trong nước và thế giới phải xác định đúng chiến lược sản xuất kinh doanh, chiến lược đầu tư, chiến lược sản phẩm của từng doanh nghiệp, phải đẩy mạnh liên doanh, liên kết, chủ động tìm kiếm thị trường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, không ngừng đổi mới trang thiết bị hiện đại, tạo ra bước đột phá

về chất lượng, giảm giá thành sản xuất, cải tiến mẫu mã đáp ứng ngày càng cao thị hiếu người tiêu dùng Muốn vậy, phải chuyển đổi DNNN thành CTCP, chính cổ phần hoá DNNN nó sẽ tạo ra được bước đột phá đảm bảo cho các DNNN có điều kiện phát triển hơn so với trước ngày CPH DNNN

Ba là: CPH DNNN đáp ứng yêu cầu của việc sử dụng vốn nhà nước phù

hợp hơn, hiệu quả hơn Mục đích chung nhất của CPH DNNN là tối ưu hóa việc bố trí vốn nhà nước trên thương trường sao cho: với một lượng vốn ít nhất của ngân sách nhà nước nhưng lại tạo ra được vị thế tối đa cho sự hiện diện của vốn nhà nước trong hệ thống các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế để nhà nước tác động vào nền kinh tế có hiệu quả nhất Điều đó chỉ có thể đạt được thông qua CPH DNNN, vì CPH DNNN vừa đạt được mục đích giải phóng vốn nhà nước ra khỏi một số ngành lĩnh vực mà nhà nước không

Trang 21

cần nắm giữ 100% vốn, vừa khắc phục được mâu thuẫn cố hữu giữa một bên

là vốn nhà nước còn hạn hẹp với một bên là yêu cầu đầu tư quá dàn trải ở mọi ngành, mọi lĩnh vực Đồng thời qua CPH đã loại được các DNNN lâu nay làm

ăn thua lỗ, không còn lý do tồn tại với tư cách DNNN, nhưng chưa được giải quyết để kéo dài

Bốn là: CPH DNNN là phương thức quan trọng để nhà nước phát huy tốt

nguồn nội lực, đồng thời thu hút và kiểm soát được nguồn ngoại lực một cách

có hiệu quả nhất, góp phần Quan trọng vào việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán rất cần thiết choa các doanh nghiệp ở nước ta Vì muốn cho doanh nghiệp phát triển thì cần phải có các yếu tố: thị trường, vốn, thiết

bị công nghệ và con người, trong đó vốn và con người là những thành tố quan trọng nhất, hai yếu tố này là nội lực tiềm ẩn trong các thành phần kinh tế và trong nhân dân lao động, một thời kỳ dài nhưng chưa được khai thác Thông qua CPH DNNN sẽ giải quyết được vấn đề bức xúc đó, làm cho người lao động trở thành người chủ sở hữu thực sự gắn với lợi ích mà họ được hưởng bằng cổ tức theo cổ phần đã mua

Doanh nghiệp CPH hình thành không chỉ thu hút nguồn vốn trong nuớc

mà còn có tác dụng thu hút vốn và công nghệ tiên tiến của nước ngoài, một trong những nhiệm vụ quan trọng của tất cả các nhà nước nhất là các nước chậm và đang phát triển như nước ta Muốn vậy, nhà nước một mặt thông qua luật đầu tư và chính sách kinh tế đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa để tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài, mặt khác nhà nước phải có vốn thông qua những hình thức hợp tác và liên doanh ,liên kết mà nhà nước là một

cổ đông chính, Từ đó tạo khả năng khai thác được lợi ích khi có sự đầu tư của nước ngoài vào nước ta, tạo thế đứng về kinh tế để nhà nước thực hiện được hai mặt trên

Trang 22

Năm là: CPH DNNN, cùng với việc làm tăng vốn cho các doanh nghiệp

sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản lý, đổi mới công nghệ từ đó làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời CPH cũng làm cho DNNN có chủ thực sự, khắc phục được những yếu kém cố hữu trong quản

lý sản xuất kinh doanh , các tệ nạn tham ô, lãng phí, thiếu trách nhiệm, gây nên những hậu quả nghiêm trọng trong các DNNN trước đây

Có thể nói, CPH DNNN, một giải pháp có nhiều tính ưu việt Điều này đã được chứng minh không chỉ ở Việt Nam mà với cả các nước khác trên thế giới Vào đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, CPH diễn ra đầu tiên ở nước Anh

và lan nhanh sang nhiều nước khác ở châu Âu, châu Mĩ La Tinh Tuy mỗi nước có phương thức tiến hành đặc thù song CPH đã thực sự mang lại sức sống mới cho DNNN Thực tế tại Việt Nam, qua kết quả hoạt động của 11 doanh nghiệp CPH trong thời kỳ thí điểm cho ta thấy rất rõ điều đó:

- Khả năng huy động vốn của 11 doanh nghiệp CPH đã tăng lên rõ rệt Trước khi CPH, tổng vốn của 11 doanh nghiệp là 26 tỷ đồng, khi chuyển thành CTCP vốn điều lệ là 75,1 tỷ đồng Hơn thế chỉ sau 3 năm đi vào hoạt động các công ty này đã bổ sung vốn từ lợi nhuận sau thuế vào vốn điều lệ, tính đến 31/12/1997 tổng vốn điều lệ của 11 doanh nghiệp đã lên tới 157 tỷ đồng, tăng gấp 2,1 lần vốn điều lệ ban đầu

- Về lao động và việc làm tăng lên rõ rệt Sau CPH tổng số lao động ở 11 công ty là 4.263 người tăng 1.113 người so với trước khi CPH Thu nhập của người lao động cũng tăng từ 564.000đ/người/tháng lên 1.157.000đ/người/ tháng

- Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của 11 doanh nghiệp sau CPH cũng tăng lên: doanh thu tăng 3,1 lần, lợi nhuận tăng 6,2 lần, nộp ngân sách tăng 3,6 lần, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trước là 27% nay tăng lên 52,5%, thu nhập cổ tức trên vốn góp bình quân 2 - 3%/ tháng [5]

Trang 23

Thực tiễn những năm qua mặc dù tốc độ CPH còn chậm, một số doanh nghiệp sau CPH vẫn còn gặp nhiều khó khăn do cơ chế chính sách chưa đồng

bộ, đôi khi chồng chéo, hiểu biết của người lao động và các nhà quản lý về CPH còn nhiều hạn chế Song với những tính ưu việt của các CTCP sau CPH

từ DNNN đã chứng minh chủ trương CPH DNNN là rất đúng đắn của Đảng

và Nhà nước, một trong những con đường để DNNN giữ vững thế đứng và phát triển bền vững trong kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, khu

vực hóa

Trang 24

1.2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ CPH DNNN

1.2.1 Quan điểm về mục tiêu, đối tƣợng và hình thức CPH DNNN

- Cổ phần DNNN là nhằm mục tiêu: “Huy động thêm vốn, tạo thêm động

lực thúc đẩy DNNN kinh doanh có hiệu quả làm cho tài sản nhà nước ngày càng tăng lên, không phải để tư nhân hóa” [5] CPH những DNNN mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn là một nội dung, một mục tiêu quan trọng trong tiến trình đổi mới và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của DNNN Đó là những tư tưởng chủ đạo xuyên suốt quá trình lãnh đạo đổi mới sắp xếp doanh nghiệp nhà nước của Đảng ta hơn 12 năm qua Hội nghị BCH TW lần thứ 3 khoá IX tháng 8/2001 đã nhấn mạnh thêm về: “Mục tiêu CPH DNNN là nhằm tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động, để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho DNNN; phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp, bảo đảm hài hòa lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và người lao động CPH DNNN không được biến thành tư nhân hóa DNNN” [13]

- Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TƯ 3 khoá IX đã chỉ rõ: “Đối

tượng CPH là những DNNN hiện có mà nhà nước không cần nắm giữ 100%

vốn, không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp mà quyết định chuyển DNNN hiện có thành CTCP, trong đó nhà nước có cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt, cổ phần ở mức thấp hoặc nhà nước không giữ cổ phần”

- Hình thức cổ phần bao gồm: Giữ nguyên giá trị doanh nghiệp, phát

hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn; Bán một phần giá trị hiện có của doanh

Trang 25

nghiệp cho các cổ đông, trong đó nhà nước có cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt; CPH đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp; chuyển toàn bộ doanh nghiệp thành CTCP Trường hợp CPH đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp thì không được gây khó khăn hoặc làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh các

bộ phận còn lại của doanh nghiệp [13]

1.2.2- Quan điểm về lộ trình và biện pháp giải quyết các vấn đề mới nãy sinh trong tiến trình CPH DNNN

- Hội nghị Ban chấp hành TW 2 (Khóa VII), tháng 12/1991 Đảng ta đã khẳng định: việc chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành

CTCP và thành lập một số công ty quốc doanh mới, phải làm thí điểm chỉ đạo

chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp

- Sau thời kỳ thí điểm, Đảng ta đã khẳng định phải triển khai tích cực và vững chắc việc CPH DNNN để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản nhà nước ngày càng tăng, không phải để tư nhân hóa Bên cạnh những doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, cần có nhiều DNNN nắm đa số hay nắm tỷ lệ cổ phần chi phối Gọi thêm cổ phần hay bán cổ phần cho người lao động tại doanh nghiệp, cho các

tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp tuỳ từng trường hợp cụ thể, vốn huy động được phải dùng để đầu tư sản xuất kinh doanh Tư tưởng CPH DNNN của Đảng ta luôn gắn chặt với việc đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới cơ sở vật chất của doanh nghiệp, không ngừng nâng cao năng lực sản xuất và kinh doanh, đồng thời đảm bảo tính định hướng của nhà nước trong một số lĩnh vực quan trọng của đời sống kinh tế xã hội “CPH DNNN phải gắn liền với đổi mới cơ chế quản lý, để tạo động lực, phát huy mạnh hơn vai trò làm chủ

và tính năng động, sáng tạo của người lao động trong quản lý doanh nghiệp, đồng thời phải đảm bảo vai trò quản lý của nhà nước trên cơ sở giữ vững số

cổ phần cần thiết chi phối của nhà nước tại doanh nghiệp" [5]

Trang 26

- Bên cạnh đó trong CPH phải luôn chú ý có chính sách khuyến khích cán bộ công nhân trong doanh nghiệp CPH mua cổ phần, không để chênh lệch quá lớn giữa lãnh đạo doanh nghiệp và người lao động Có chính sách hỗ trợ công nhân nghèo mua được một số cổ phần cần thiết nhằm tạo động lực, góp phần xóa đói, giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội

Sau giai đoạn thí điểm, Đảng chủ trương triển khai rộng khắp CPH DNNN trong cả nước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tháng 4/2001, đã tiếp tục khẳng định nhất quán quan điểm CPH DNNN và nhấn mạnh cần phải: “Hoàn thành cơ bản việc CPH các DNNN mà nhà nước không cần nắm giữ 100% sở hữu vốn Ưu tiên bán cổ phần cho người lao động, mở rộng việc bán cổ phần cho nhà đầu tư trong và ngoài nước” [11]

Để đẩy nhanh lộ trình CPH DNNN, Hội nghị BCH TW lần thứ 3 khoá

IX tháng 8/2001 đã ra NQ chuyên đề về: tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển

và nâng cao hiệu quả DNNN Trong đó, tiếp tục coi CPHDNNN là một giải pháp quan trọng của cải cách DNNN và đã chỉ rõ thêm đối tượng của CPH và các hình thức CPH

Đồng thời Đảng còn định hướng rõ các giải pháp để tháo gỡ những khó khăn trong CPH DNNN như phương pháp xác định tài sản doanh nghiệp, chính sách giải quyết công nợ, chính sách đối với người lao động dôi ra trong CPH DNNN Trên cơ sở đó Chính phủ đã ra nhiều nghị định để cụ thể hóa chủ trương CPH của Đảng

Có thể nói CPH DNNN, một khâu trong tổng thể của quá trình cải cách

và cấu trúc lại DNNN làm cho DNNN ngày càng hoạt động có hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, giữ vững vai trò nòng cốt trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

1.2.3 Quan điểm về nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh các CTCP từ DNNN

Trang 27

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, BCH TW Đảng khoá IX đề ra :“Sắp xếp đổi mới, phát triển nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN để DNNN góp phần quan trọng bảo đảm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu của xã hội và nhu cầu cần thiết của Quốc phòng, an ninh, là lực lượng nòng cốt đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN”

- Đảng còn nhấn mạnh: Trong 8 hình thức tổ chức sắp xếp lại DNNN,

hình thức CPH DNNN được xem là khâu trung tâm để tạo ra chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của DNNN Đó là vì:

Thứ nhất, các hình thức giao khoán, cho thuê DNNN đều có một đặc điểm

chung là không làm thay đổi quyền sở hữu Nghĩa là sau khi giao khoán thì chỉ thay đổi quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp là thuộc những người nhận khoán và đi thuê còn quyền sở hữu vẫn thuộc nhà nước, nên họ không được làm chủ tài sản, không được quyết định các vấn đề về sử dụng tài sản để cho thuê hoặc thế chấp vay vốn, nên hạn chế hiệu quả phát triển sản xuất kinh doanh…

Thứ hai, các hình thức: sáp nhập, giải thể, bán và phá sản DNNN Thông

thường các doanh nghiệp được sáp nhập là những doanh nghiệp nhỏ, sức cạnh tranh thấp; những doanh nghiệp được bán cũng là những doanh nghiệp có quy

mô nhỏ (vốn dưới 5 tỷ đồng và những DNNN không cần nắm giữ và không CPH, các DNNN phải giải thể và phá sản thường là những doanh nghiệp làm

ăn thua lỗ kéo dài hoặc vi phạm pháp luật Nhìn chung các hình thức này thường chỉ được áp dụng như những hình thức hỗ trợ trong quá trình sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN

Có thể nói, CPH DNNN làm thay đổi hình thức sở hữu, từ chỗ một chủ

sở hữu nhà nước sang chủ sở hữu là tập thể các cổ đông Hình thức này không chỉ đem lại sức sống mới cho các DNNN, cho người lao động mà còn đem lại thu nhập ngày càng cao cho Chính phủ và phù hợp với xu thế hội nhập và

Trang 28

phát triển kinh tế Thực tế những năm qua Chính phủ đã áp dụng tất cả các hình thức chuyển đổi trên song số lượng các DNNN được CPH của cả nước nói chung và Thanh Hoá nói riêng đã chiếm đa số trong tổng số các DNNN đã chuyển đổi sở hữu Điều đó một lần nữa chứng tỏ CPH DNNN đã phát huy được tính ưu việt của nó trong quá trình đổi mới DNNN Chính vì vậy, mà Đảng ta coi CPH DNNN là khâu trung tâm, đặt trong tổng thể của quá trình cải cách và cấu trúc lại DNNN

1.3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ CPH DNNN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC

1.3.1 Kinh nghiệm chung cả nước

Từ những thành công và hạn chế của CPH DNNN cả nước qua các giai đoạn: thí điểm, giai đoạn CPH, giai đoạn đẩy mạnh CPH, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm bước đầu như sau:

Thứ nhất: Phải thực hiện tốt công tác tuyên truyền về chủ trương CPH

DNNN của Đảng và Chính phủ

Công tác tuyên truyền phải đảm bảo sao cho các ngành, các cấp, lãnh đạo các DNNN và người lao động trong các DNNN nhận thức sâu sắc được rằng: CPH DNNN là một yêu cầu tất yếu khách quan, là con đường có nhiều tính ưu việt, là điều kiện để DNNN phát triển bền vững, trong cơ chế kinh tế thị trường, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Đồng thời tuyên truyền sao cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu được bản chất của CTCP và thấy được lợi ích khi tham gia mua cổ phần để nhân dân tích cực hưởng ứng mua

cổ phần của các DNNN khi CPH Phải làm cho mọi người hiểu đúng quan điểm điểm của Đảng ta là CPH không phải là tư nhân hóa

Thứ hai: Phải giải quyết kịp thời những vấn đề mới nảy sinh, đảm bảo

thực hiện đúng tiến độ và lộ trình CPHDNNN

Trong tiến trình CPH, ngoài những việc nảy sinh đã có chính sách và cơ chế giải quyết sẵn có, nhưng cũng có một số vấn đề mới nảy sinh, hoặc cách

Trang 29

giải quyết đã có không phù hợp với địa phương, vì vậy đòi hỏi Cấp uỷ, Chính quyền và Ban cổ phần hoá địa phương một mặt phải kiến nghị nhà nước tạo ra được môi trường pháp lý và môi trường tương tác tốt hơn Mặt khác, tránh ỷ lại chờ đợi cấp trên mà phải chủ động vận dụng những văn bản đã có một cách sáng tạo cho phù hợp Ví dụ: Khi giải quyết những ách tắc khó khăn trong việc xác định giá trị doanh nghiệp CPH, giải quyết công nợ và bán được

cổ phần rộng rãi thì Nhà nước và địa phương cần sớm tạo điều kiện để thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ,hoặc thành lập các công ty mua bán tài chính để giải quyết tất cả các vấn đề nợ nần của các DNNN Bằng cách đó mới có thể thực hiện đúng tiến độ và lộ trình CPHDNNN

Thứ ba : Để các DNNN sau CPH có thể phát triển ổn định bền vững thì

trong và sau CPH phải gắn chặt với hiện đại hóa máy móc thiết bị, chuẩn bị tốt con người, đổi mới tư duy quản lý kinh tế, sản xuất kinh doanh phải xây dựng được chiến lược phát triển sản xuất ngay trong các phương án CPH để làm sao cho các DNNN sau CPH ngày càng có tính tự chủ cao Cần làm rõ chức năng quyền hạn của các cơ quan quản lý với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên tinh thần: tách quyền quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau CPH ra khỏi chức năng quản lý hành chính nhà nước Đồng thời trong CPH tạo điều kiện làm sao để giải quyết tốt vấn đề

sở hữu trên cơ sở làm như thế nào để người lao động và các cổ đông của CTCP ngày càng có thực quyền, để họ thực sự là người chủ của công ty

Thứ tư: Phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm Như chúng ta đã biết CPH

diễn ra như một quá trình gồm nhiều giai đoạn như: chuẩn bị các điều kiện về

tổ chức, lựa chọn các mục tiêu, lựa chọn các phương pháp thực hiện, kiểm soát và điều chỉnh… Trên thực tế không thể phân hóa rõ ràng, rạch ròi giữa các giai đoạn được nhiều công trình nghiên cứu đều thống nhất cho rằng:

Trang 30

CPH như một quá trình với nhiều giai đoạn có ý nghĩa chỉ đạo về mặt thực tiễn, song đây là vấn đề vẫn còn mới đối với nước ta Vì vậy một mặt chúng

ta phải đấu tranh gạt bỏ tư tưởng bảo thủ muốn tiếp tục duy trì mô hình DNNN kiểu cũ, đồng thời phản đối đấu tranh gạt bỏ những tư tưởng nóng vội

“muốn làm tất cả trong một thời gian ngắn” Ngược lại cần xác định rằng: Trong hoàn cảnh còn thiếu nhiều điều kiện cho CPH như nước ta thì việc CPH DNNN ở Việt Nam là một quá trình phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm

để đảm bảo cho chủ trương CPHDNNN thực hiện nhanh ,hiệu quả và vững chắc với những bước đi cụ thể

1.3.2 Kinh nghiệm thành công và chưa thành công ở một số tỉnh

* Thành phố Hà Nội với kinh nghiệm tháo gỡ vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ CPH DNNN

Theo báo nhân dân số ra ngày 21 tháng 04 năm 2004, đến nay Thành phhố Hà Nội đã tiến hành CPH 98 DNNN, trong đó 77 DNNN cổ phần hóa toàn bộ Các DN thực hiện CPH đều có sự tăng trưởng về vốn kinh doanh, thu nhập của người lao động và lợi nhuận Nhiều DN sau CPH , đã có đủ vốn cần thiết để đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh, hiệu quả hoạt động

Những thành công nói trên có nhiều nguyên nhân, song không thể không kể đến nguyên nhân (nếu không muốn nói là kinh nghiệm) là nhờ biết cách tập trung phát hiện và tháo gỡ vướng mắc nãy sinh trước và trong tiến trình CPH DNNN Có thể nói, cái vướng mắc lớn nhất làm chậm tiến trình cổ

phần hóa là việc xác định giá trị doanh nghiệp, nhất là tính giá trị quyền sử

dụng đất vào giá trị doanh nghiệp Thực tế cho thấy nếu không tính giá trị

quyền sử dụng đất thì giá trị doanh nghiệp quá thấp đễ dẫn đến tình trạng mua bán ngầm cổ phiếu biến tài sản thuộc sở hữu nhà nước thành tài sản của sở hữu cá nhân, nhất là đối với những DNNN có vị trí mặt đường , mặt phố tạo lợi thế kinh doanh lớn Ngoài những DNNN có lợi thế về vị trí, còn có nhiều

Trang 31

DNNN quản lý một diện tích đất khá lớn, nhưng không sử dụng hết, nếu chuyển sang CTCP thì những diện tích này có khả năng biến thành hàng hóa bất động sản của DN, tạo ra lợi thế cạnh tranh không hợp lý giiữa các DN thừa đất và các DN thiếu mặt bằng sản xuất, kinh doanh, Thực tế đã xảy ra tình trạng một số CTCP thừa đất đem cho thuê hoặc bán bớt đất để chia nhau

Để giải toả những vướng mắc trên, Thành phố đã xử lý bằng 2 cách sau đây:

Thứ nhất, không chuyển thành tài sản của CTCP mà bán đấu giá tài sản

lấy tiền đầu tư vốn cho DN phát triển Số lao động đang làm việc tại địa điểm

đó, Thành phố bố trí nơi làm việc thích hợp cho họ Khoản tiền thu được, sẽ

sử dụng vào việc thực hiện chính sách đối với người lao động và bổ sung vào Quỹ sắp xếp DNNN

Thứ hai, nếu thực hiện CPH ở những DN này thì thực hiện theo cơ chế

riêng: Vốn điều lệ của CTCP sau khi trừ đi cổ phần được mua theo giá ưu đãi cho người lao động thì Nhà nước nắm giữ số cổ phần còn lại này Hoặc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối ( hơn 50%) của CTCP mặc dù không nằm trong danh mục tại Quyết định 58 của Thủ tướng Chính phủ Sau một thời gian từ 3 đến 5 năm, thành phố sẽ cho phép bán hết hay một phần số vốn này theo giá thị trường thông qua các tổ chức tài chính trung gian Việc làm này cho phép hạn chế được các tiêu cực trong việc mua bán cổ phiếu.Nhà nước sau này sẽ thu được khoản tiền lớn về chênh lệch giá cổ phiếu

Ngoài 2 cách nói trên, đối với những DNNN trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ đang quản lý nhiều cửa hàng, địa điểm kinh doanh, khi CPH, Thành phố chỉ để các DN này giữ một số cửa hàng, địa điểm nhất định, số còn lại Thành phố ra quyết định thu hồi trước khi CPH

* Thành công từ một chủ trương đúng của Tỉnh Phú Thọ

Ngay sau khi tỉnh mới được tái lập, Phú Thọ đã rất chú trọng việc sắp xếp và đổi mới DNNN trong đó CPH luôn là hướng ưu tiên lựa chọn của tỉnh Tính đến tháng 6/2001; toàn tỉnh có 14 DNNN chuyển thành CTCP bằng 30%

Trang 32

DNNN hiện có của tỉnh Theo thống kê của Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Phú Thọ,

sau CPH không còn doanh nghiệp nào làm ăn thua lỗ Khả năng huy động

vốn, doanh thu, tỷ suất cổ tức đều đạt và vượt mức Đại hội cổ đông đề ra, lực

lượng lao động ở các CTCP tăng đáng kể, các chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm

xã hội đều được thực hiện đầy đủ theo quy định hiện hành.Một trong những

kinh nghiệm thành công của Phú Thọ là ngoài phương thức CPH DNNN theo

chỉ dẫn chung.Tỉnh đã mạnh dạn đi đầu trong việc thực hiện thí điểm giao

doanh nghiệp cho tập thể lao động quản lý rồi sau đó mới chuyển thành

CTCP Để CTCP mở rộng sản xuất kinh doanh tỉnh đã cho các CTCP vay lãi

từ 1- 2 năm không tính lãi tiền bán cổ phần thuộc vốn nhà nước, đồng thời

cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư với mức cao nhất, tạo mọi điều kiện để

CTCP nhận kế thừa toàn bộ tài sản (kể cả tài sản chưa cần dùng) và chủ động

giúp doanh nghiệp đi nhanh vào sản xuất kinh doanh không có thời gian gián

đoạn

* Nghệ An với tiến độ CPH khá nhanh

Năm 1998 Nghệ An mới khởi động tiến trình CPH, nhưng đến tháng 9/2001

toàn tỉnh đã CPH được 25 DNNN Tính đến hết năm 2003 Nghệ An chỉ còn

giữ lại khoảng 30% DNNN trong số 110 DNNN của tỉnh Bài học để đẩy

nhanh tiến độ CPH theo ông Hoàng Tất Thắng Phó chủ tịch UBND tỉnh,

trưởng Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp của tỉnh cho biết cần phải phá bỏ 3

trở ngại lớn trong chuyển đổi DNNN và 5 vấn đề nổi cộm của việc CPH

Ba trở ngại đó là:

- Cần có sự chỉ đạo cương quyết hơn để loại bỏ thái độ chần chừ làm

chậm tiến trình cổ phần hóa

- Cần phá bỏ rào cản tài chính

- Cần giải quyết dứt điểm vấn đề lao động dôi dư

Năm vấn đề nổi cộm sau cổ phần hóa:

- Khó khăn trong việc giải quyết những khoản nợ khó đòi

Trang 33

- Vấn đề quản lý và sử dụng tiền bán cổ phần của doanh nghiệp

- Việc quy định về giá trị cổ phần do Nhà nước nắm giữ phải lớn gấp 2 lần cổ phần của cổ đông lớn nhất khác có cản trở sự thu hút thêm vốn bên ngoài hay không?

- Quan hệ của các doanh nghiệp cổ phần hóa với Nhà nước có xu hướng thoát khỏi sự quản lý tạo nên sự lúng túng khi thiếu những văn bản hướng dẫn

- Sau cổ phần hóa , việc điều hành của một số công ty cổ phần vẫn còn mang dáng dấp DNNN [4;tr 329]

* Đẩy mạnh hơn nữa tiến độ CPH ở tỉnh Ninh Bình

Cùng với cả nước công tác đổi mới, sắp xếp DNNN những năm qua được tỉnh Ninh Bình luôn chú trọng, song đến hết năm 2001 toàn tỉnh số DNNN được CPH không đáng kể Kết quả này chưa tương xứng với yêu cầu

và thực tế của địa phương Sự chậm trễ này theo lý giải của Ban đổi mới doanh nghiệp tỉnh Ninh Bình là do nhận thức về chủ trương CPHDNNN của một số cán bộ lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành, DNNN chưa có chuyển biến tích cực, còn có tâm lý nghi ngại, né tránh Việc triển khai CPH thiếu tính kiên quyết, bước đầu còn lúng túng Đa số cán bộ trong Ban đổi mới doanh nghiệp đều là kiêm nhiệm nên hạn chế về kinh nghiệm và năng lực chuyên môn Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách về CPH chưa đáp ứng yêu cầu dẫn đến người lao động trong doanh nghiệp cũng như các tầng lớp nhân dân không tích cực hướng ứng chủ trương thông qua hoạt động mua bán

cổ phần Bên cạnh đó, bản thân các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế về năng lực tài chính, quản lý điều hành, nhiều vấn đề liên quan như lao động dôi dư,

nợ tồn đọng chưa có phương án giải quyết thỏa đáng

Nhờ tìm được đúng nguyên nhân và sự quyết tâm lãnh đạo và chỉ đạo của các Cấp uỷ đảng và chính quyền, nên việc CPHDNNN ở Ninh Bình những năm gần đây đã có chuyển biến đáng kể Tính đến tháng 5/2003, Ninh

Trang 34

Bình đã CPH được 42% DNNN

Trên đây là một số kinh nghiệm bước đầu, nhưng rất quý báu, có tác dụng gợi mở cho việc vận dụng một cách sáng tạo cho phù hợp với thực tiễn CPH DNNN ở Thanh hóa hiện nay

Tóm lại, DNNN không chỉ đóng vai trò nòng cốt mà còn là lực lượng kinh tế quan trọng để nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Để thực hiện được vai trò nói trên, DNNN phải không ngừng đổi mới, có nhiều hình thức đổi mới, song CPH là khâu trung tâm trong toàn bộ quá trình cải cách, và cấu trúc lại DNNN Cổ phần hóa DNNN là một tất yếu khách quan, nó không chỉ khắc phục được mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất do sai lầm trong tư duy cũ trước đây mà còn đạt tới mục tiêu huy động vốn toàn xã hội đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thêm vốn để đầu tư thay đổi thiết bị công nghệ, góp phần nâng cao năng suất lao động, hiệu quả và chất lượng sản phẩm, khắc phục

có hiệu quả, những yếu kém trong quản lý của các DNNN trước đây Đó là một trong những giải pháp có tính chất quyết định để DNNN cả nước và các địa phương trong đó có tỉnh Thanh Hoá nâng cao sức cạnh tranh, phát triển bền vững trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực

Trang 35

Chương 2

THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỦA THANH HOÁ THỜI GIAN QUA

2.1 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CỔ PHẦN HÓA DNNN CỦA TỈNH THANH HÓA

2.1.1 K hái quát tình hình DNNN tỉnh Thanh Hóa trước CPH DNNN

Cũng như các DNNN ở nước ta trước đây, DNNN của Thanh Hóa cũng ra đời trong bối cảnh nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu,bao cấp, nên

số lượng DNNN phát triển quá nhanh và quá nhiều trong các ngành và cả các lĩnh vực từ tỉnh đến huyện Bức tranh tổng quát DNNN trên địa bàn Thanh Hóa trước khi có chủ trương tổ chức sắp xếp lại DNNN thể hiện:

Về số lượng DNNN, quy mô vốn và lao động

Qua bảng số liệu 2.1 cho thấy: Hầu hết các doanh nghiệp của tỉnh quản

lý đều ra đời từ những năm 1970 về trước, cá biệt có doanh nghiệp ra đời từ những năm 60 của thế kỷ XX Trong 265 doanh nghiệp do huyện, thị quản lý thì 80% ra đời từ 1983 - 1986, (thời kỳ thực hiện chủ trương xây dựng và tăng cường cấp huyện) Với quy mô vốn và lao động còn nhỏ bé: Bình quân 124 triệu đồng/ 1 doanh nghiệp và 91 lao động/1doanh nghiệp

Sau 10 năm (1989-1999) tổ chức sắp xếp lại DNNN theo quyết định 315, Nghị định 388, chỉ thị 500 TTG của Thủ tướng Chính phủ, tính đến ngày 1/1/1999, DNNN do tỉnh quản lý còn lại là 128 và huyện quản lý là 8, giảm

320 doanh nghiệp so với năm 1989 (Xem bảng 2.2)

Trang 36

Bảng 2.1 Doanh nghiệp nhà nước phân theo cấp và ngành của

Nguồn: Cục Quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa

Bảng2 2: Doanh nghiệp nhà nước phân theo ngành của tỉnh Thanh

Hóa (tính đến 1/1/1999)

Doanh nghiệp nhà nước

Số doanh nghiệp Số lao động (người)

Trang 37

Nguồn: Từ Ban đổi mới, phát triển DNNN tỉnh Thanh Hóa

Trang 38

Qua số liệu bảng 2.2 cho thấy tổng số DNNN của tỉnh Thanh Hóa đến hết

1999 là 136 đơn vị được phân bố vào các ngành nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng là chủ yếu Quy mô lao động còn nhỏ bé bình quân khảng 200 người /1 doanh nghiệp

Về hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh trong 10 năm tổ chức sắp xếp lại và đổi mới DNNN thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.3: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN của tỉnh Thanh Hóa

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh 0,09 0,07 0,03

Nguồn: Báo cáo tài chính doanh nghiệp - Cục quản lý vốn và tài chính nhà nước tại

doanh nghiệp Thanh Hóa năm 1998

Bên cạnh các DNNN làm ăn có hiệu quả, vẫn còn không ít DNNN làm

ăn thua lỗ và nợ nần tồn đọng khó thu hồi (Xem bảng 2.4)

Trang 39

Bảng 2.4: Số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và nợ khó đòi (tính đến 1/1/1995)

có vốn dưới 1 tỷ đồng, cá biệt có doanh nghiệp vốn nhà nước chỉ có 75 triệu đồng (XN vật liệu xây dựng Quảng Xương)

Do vốn ít, lại lúng túng trong việc sử dụng vốn nên đa số DNNN của tỉnh không những không bổ sung được thêm vốn kinh doanh mà làm cho vốn ban đầu cạn kiệt dần Đặc biệt khi ngân hàng chuyển đổi phương thức kinh doanh tín dụng, yêu cầu khi vay phải có phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có thế chấp thì nhiều doanh nghiệp đã không tiếp cận được nguồn vốn tín

Trang 40

dụng của nhà nước dẫn đến đi vay với lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất ngân hàng Tình hình đó làm cho ngày càng nhiều DNNN của tỉnh sản xuất kinh doanh thua lỗ dẫn đến nợ khó thu ngày càng nhiều; có nhiều doanh nghiệp đã hoạt động bằng 100% vốn vay Điển hình như: xí nghiệp Phân Lân,

Gỗ Điện Biên, xí nghiệp gốm, xây lắp công nghiệp, Đá hoa xuất khẩu, Công

ty tằm tơ, Công ty chế biến cà phê, công ty xây dựng số 4, Xí nghiệp sứ, Điện

tử Lam Sơn… Đặc biệt công ty đá hoa xuất khẩu không có khả năng thanh toán nợ

Sau tổ chức sắp xếp lại theo cơ chế thị trường, DNNN của tỉnh có bước phát triển mới song cơ bản vẫn bế tắc trong sản xuất kinh doanh Năm 1997, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khá với lãi là 11,1 tỷ đồng, số còn lại hầu hết làm ăn thua lỗ tới 13,5 tỷ đồng nên nợ lũy kế lên tới 43 tỷ 265 triệu đồng Nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, công nhân thiếu việc làm phải nghỉ

tự túc và đóng bảo hiểm xã hội Đặc biệt tình trạng khoán trắng ở các doanh nghiệp thuộc ngành thương mại, dịch vụ trở nên phổ biến Nhiều DNNN không nộp được thuế, không đóng được bảo hiểm cho người lao động, tiêu cực trong một số doanh nghiệp phát sinh ảnh hưởng đến vai trò nòng cốt trong nền kinh tế Bức tranh DNNN của tỉnh khá ảm đạm, sản xuất kinh doanh vẫn chưa có lối thoát Tình hình đó tồn tại đến tháng 10/2001 (trước khi có NQ TWW3 khóa IX của Đảng về tiếp tục sắp xếp đổi mới, phát triển

và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Qua triển khai thực hiện Nghị quyết trên đến tháng 7/2002, DNNN do tỉnh quản lý còn lại là 101 đơn vị được chia theo ngành nghề kinh doanh như sau:

Ngành xây dựng: 10 doanh nghiệp

Ngành công nghiệp: 7 doanh nghiệp

Ngành giao thông: 12 doanh nghiệp

Ngành NN và PTNT: 41 doanh nghiệp

Ngày đăng: 19/12/2015, 01:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Nguyễn Thị Bằng, Góp thêm ý kiến về CPH DNNN tạp chí tài chính tháng 3/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp thêm ý kiến về CPH DNNN
[3]. Nguyễn Trọng Bảo, Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp trong nước trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, NXB giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp trong nước trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
Nhà XB: NXB giáo dục
[4]. Báo nhân dân , “Một số kết quả cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Hà Nội”, số ra ngày 21 tháng 4 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số kết quả cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Hà Nội”
[5]. “Cổ phần hóa, giải pháp quan trọng trong cải cách DNNN, CTCP”, thông tin kinh tế đối ngoại, NXB Chính trị Quốc gia, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hóa, giải pháp quan trọng trong cải cách DNNN, CTCP”
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
[6]. Phạm Văn Dũng - Phạm Mạnh Thường, Một số vấn đề tài chính khi tiến hành CPH DNNN, tạp chí Tài chính tháng 8/196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tài chính khi tiến hành CPH DNNN
[7]. Đỗ Ngụ Điệp, Chủ nghĩa tư bản ngày nay tự điều chỉnh kinh tế, NXB Khoa học xã hội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa tư bản ngày nay tự điều chỉnh kinh tế
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
[8]. Võ Văn Đức, Thử tìm nguyên nhân và giải pháp đẩy nhanh tiến trình CPH DNNN, nghiên cứu lý luận số 6/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm nguyên nhân và giải pháp đẩy nhanh tiến trình CPH DNNN
[9]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, NXB Sự thật Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000
Nhà XB: NXB Sự thật Hà Nội
[10]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Chính trị Quốc gia, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
[11]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần VIII, NXB Chính trị Quốc gia, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần VIII
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
[12]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần IX, NXB Chính trị Quốc gia, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
[14]. Đảng uỷ Ban Kinh tế tỉnh Thanh Hoá, Đổi mới phát huy vai trò chủ đạo của DNNN, Hội thảo khoa học tháng 12/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phát huy vai trò chủ đạo của DNNN
[15]. Trần Quang Hà, Cổ phần hóa DNNN và thị trường chứng khoán, Nghiên cứu kinh tế số 241, tháng 6/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hóa DNNN và thị trường chứng khoán
[16]. Trần Mai Hương, Cổ phần hóa với vấn đề người lao động, Nghiên cứu kinh tế só 236 tháng 1/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hóa với vấn đề người lao động
[17]. Hỏi - đáp về luật doanh nghiệp, NXB Giao thông vận tải, 2003 [18]. Luật doanh nghiệp nhà nước.[19]. Luật DNNN sửa đổi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi - đáp về luật doanh nghiệp", NXB Giao thông vận tải, 2003 [18]. "Luật doanh nghiệp nhà nước. "[19]
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
[20]. Nguyễn Đăng Liên, Một số vấn đề cổ phần hóa DNNN tại Việt Nam, trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay, NXB trẻ, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cổ phần hóa DNNN tại Việt Nam, trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay
Nhà XB: NXB trẻ
[21]. K.Mác, tư bản tập 1, phần 1, NXB sự thật, Hà Nội, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tư bản tập 1, phần 1
Nhà XB: NXB sự thật
[27]. Phan Thanh Phố “Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới kinh tế ở Việt Nam - Công ty cổ phần và thị trường chứng khoán”, NXB Giáo dục-1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới kinh tế ở Việt Nam - Công ty cổ phần và thị trường chứng khoán
Nhà XB: NXB Giáo dục-1996
[31]. Nguyễn Minh Thông, CPH DNNN mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, tạp chí cộng sản số 16/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CPH DNNN mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
[32]. Đòan Văn Trường, Thành lập tổ chức và điều hành hoạt động CTCP, NXB KHKT, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành lập tổ chức và điều hành hoạt động CTCP
Nhà XB: NXB KHKT

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1.      Doanh  nghiệp  nhà  nước  phân  theo  cấp  và  ngành  của  Thanh Hóa  (tính đến 31/12/1989) - Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của tỉnh thanh hoá   luận văn ths  kinh tế  5 02 01 pdf
ng 2.1. Doanh nghiệp nhà nước phân theo cấp và ngành của Thanh Hóa (tính đến 31/12/1989) (Trang 36)
Bảng 2.6:  Kết quả sản xuất kinh doanh của một số CTCP - Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của tỉnh thanh hoá   luận văn ths  kinh tế  5 02 01 pdf
Bảng 2.6 Kết quả sản xuất kinh doanh của một số CTCP (Trang 50)
Bảng 3.1: Lựa chọn các hình thức để tổ chức sắp xếp lại đối với các DNNN - Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của tỉnh thanh hoá   luận văn ths  kinh tế  5 02 01 pdf
Bảng 3.1 Lựa chọn các hình thức để tổ chức sắp xếp lại đối với các DNNN (Trang 72)
Bảng 3.2: Lựa chọn các hình thức và mức độ cổ phần hóa đối với các DNNN - Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của tỉnh thanh hoá   luận văn ths  kinh tế  5 02 01 pdf
Bảng 3.2 Lựa chọn các hình thức và mức độ cổ phần hóa đối với các DNNN (Trang 73)
Bảng  3.3:    Số lượng cổ phần ưu đãi cho một năm công tác của người  lao động ở một số CTCP - Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của tỉnh thanh hoá   luận văn ths  kinh tế  5 02 01 pdf
ng 3.3: Số lượng cổ phần ưu đãi cho một năm công tác của người lao động ở một số CTCP (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm