1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện cần giờ thành phố hồ chí minh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf

119 1,9K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng một cơ cấu kinh tế hiện đại là yêu cầu tất yếu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhằm phát huy tiềm năng, nguồn lực của mọi vùng, mọi miền, mọi ngành và mọi thành phầ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

- -

NGUYỄN VĂN ĐỒNG

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

Ở HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2004

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

- -

NGUYỄN VĂN ĐỒNG

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

Ở HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THEO

HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

Chuyên ngành: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Mã số: 5.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MINH KHẢI

HÀ NỘI - 2004

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thành Phố Hồ Chí Minh là một địa bàn có vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng trong vùng trọng điểm kinh tế phía nam và cả nước Trong những năm gần đây tốc độ phát triển kinh tế - xă hội của Thành Phố khá cao, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Thành Phố

Hố Chí Minh nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng góp phần rất lớn vào sự phát triển chung của đất nước Trong quá trình đó, Huyện Cần Giờ cũng có sự vươn lên nhất định Là một huyện nghèo của Thành Phố có nhiều tiềm năng về kinh tế biển, kinh tế rừng, kinh tế du lịch nhưng chưa được khai thác hợp lý, dẫn tới đời sống kinh tế - xã hội, văn hoá của nhân dân còn rất nhghèo nàn và lạc hậu, khoảng cách tụt hậu so với Thành Phố nói chung

và các huyện ngoại thành nói riêng là rất lớn Điều đó đang đặt ra những thách thức lớn đối với sự phát triển của Thành Phố và huyện Cần Giờ

Để thực hiện quan điểm Thành Phố Hồ Chí Minh đi đầu về sớm trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đòi hỏi Thành Phố phải phát triển nhanh, mạnh hơn nữa, trong đó công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở các huyện ngoại thành là nhiệm vụ kinh tế đặc biệt quan trọng và cần được ưu tiên

Xây dựng một cơ cấu kinh tế hiện đại là yêu cầu tất yếu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhằm phát huy tiềm năng, nguồn lực của mọi vùng, mọi miền, mọi ngành và mọi thành phần kinh tế để đảm bảo phát triển kinh tế, xã hội bền vững Đối với từng vùng, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế như thế nào? Là tuỳ thuộc điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng của vùng đó Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải trên cơ sở phát huy tối

đa lợi thế so sánh của vùng để đảm bảo cho kinh tế của vùng có thể phát triển nhanh và bền vững

Trang 4

Để rút ngắn chênh lệch về sự phát triển so với Thành Phố nói chung, các Huyện ngoại thành khác của Thành Phố nói riêng đòi hỏi huyên Cần Gìơ cần phải đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải phóng được mọi nguồn lực, phát huy được lợi thế để phát triển kinh tế của Huyện Vì vậy, việc nghiên cứu tổng kết thực tiễn, giải đáp vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ở huyện Cần Giờ là cần thiết cấp bách, đó chính là lý do tác giả lựa chọn

đề tài: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Cần Giờ Thành Phố Hồ Chí

Minh, theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá" làm luận văn tốt nghiệp

cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước từ lâu đã thu hút sự quan tâm rộng rãi của nhiều nhà nghiên cứu

và hoạch định chính sách kinh tế Đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài được công bố trong các cuộc hội thảo khoa học, các tạp chí, báo chí trung ương và Thành Phố Hồ Chí Minh, cũng như trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và địa phương Tuy nhiên, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ở huyện Cần Giờ Thành Phố Hồ Chí Minh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì cho tới nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách có hệ thống, trực tiếp và toàn diện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 5

Nhiệm vụ:

- Phân tích làm rõ phạm trù cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

sự cần thiết khách quan, yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng

- Phân tích đặc điểm kinh tế - xã hội, thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Cần Giờ trong những năm qua, thành tựu, hạn chế, những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết trong thời gian tới

- Đề xuất một số quan điểm, phương hướng và giải pháp để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Cần Giờ

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin; Đường lối quan điểm của Đảng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Mặt khác luận văn dựa vào lý luận lợi thế so sánh của kinh tế học thị trường

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp biện chứng duy vật và duy vật lịch sử Mác-Lênin, đồng thời kết hợp phương pháp nghiên cứu của kinh

tế chính trị và các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: Phân tích, tổng hợp, thống kê, khảo sát thực tế, so sánh, phương pháp chuyên gia

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về không gian: Lấy địa bàn huyện Cần Gìơ để nghiên cứu là chính trong chỉnh thể không gian các Huyện ngoại thành và Thành Phố

Hồ Chí Minh

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ khi Thành phố quyết định thành lập một số Quận mới và thực trạng của huyện Cần Gìơ từ 10 năm trở lại đây

Trang 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn góp phần làm rõ thêm tính tất yếu khách quan và đòi hỏi chủ quan phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Cần Giờ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong hoạch định chính sách, giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Cần Giờ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục kèm theo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cơ cấu kinh tế và chuyển

dịch cơ cấu kinh tế

Chương 2: Đặc điểm kinh tế - xã hội và thực trạng chuyển dịch cơ cấu

kinh tế huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm chuyển

dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở huyện Cần

Giờ

Trang 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.1.1 Các quan niệm khác nhau về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ rằng để thủ tiêu tình trạng nghèo nàn lạc hậu, khai thác tối ưu các nguồn lực và lợi thế, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng nhanh và ổn định, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội bức bách, mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương đều tất yếu phải trải qua quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa mà một trong những nội dung quan trọng của nó là phải xác định được một cơ cấu kinh tế hợp lý thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu tiến

bộ

Trên thực tế vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về phạm trù cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - có thể nêu tóm tắt một số quan niệm chính sau đây:

Có quan niệm cho rằng: Cơ cấu kinh tế là tổng hữu cơ các mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố và trong từng yếu tố của lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất trong điều kiện kinh tế-xã hội cụ thể với những giai đoạn phát triển nhất định

Ở một khía cạnh khác có người lại quan niệm: Cơ cấu kinh tế là cấu trúc bên trong của quá trình tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế quốc dân, là tổng thể những mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế: Các lĩnh vực sản xuất, phân phối, tiêu dùng; các ngành kinh tế quốc dân; các thành phần kinh tế; các vùng kinh tế

Trang 8

Quan điểm thứ ba nói gọn hơn : Cơ cấu kinh tế quốc dân là tổng thể các

cơ cấu kinh tế ngành, vùng và các thành phần kinh tế, giữa chúng có mối quan hệ mang tính cơ cấu thống nhất của nền kinh tế quốc dân

Các quan niệm trên tuy không có sự khác biệt cơ bản, tuy nhiên góc độ tiếp cận của mỗi một quan niệm là khác nhau, có thể thấy:

Quan niệm thứ nhất: Nhấn mạnh các yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong điều kiện kinh tế-xã hội nhất định

Quan niệm thứ hai: Nhấn mạnh yếu tố cấu trúc của nền kinh tế trong quá trình tái sản xuất và các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội

Quan niệm thứ 3: Nhấn mạnh tính cơ cấu thống nhất của các yếu tố tạo thành chỉnh thể nền kinh tế

Từ cách hiểu khác nhau về cơ cấu kinh tế, xung quanh khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng có cách hiểu khác nhau , có thể nêu lên vài ví

dụ sau:

Có người cho rằng: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cấu trúc kinh tế-xã hội dựa trên sự biến đổi của các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế

Quan niệm khác lại khẳng định: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cấu trúc, quy mô tỷ trọng, tốc độ của cơ cấu kinh tế nhằm đạt tới một cơ cấu kinh tế hợp lý và hiện đại tạo thế và lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội

1.1.2 Quan niệm của tác giả về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh

tế

Quan niệm của tác giả về cơ cấu kinh tế

Để có một quan niệm đúng về cơ cấu kinh tế trước hết tác giả nhận thấy cần phải chỉ rõ nội hàm của khái niệm cơ cấu kinh tế

Trang 9

Một là: Cơ cấu kinh tế là các bộ phận cấu thành nền kinh tế Giữa các

bộ phận đó thống nhất trong chỉnh thể nền kinh tế

Hai là: Mỗi bộ phận cấu thành cơ cấu kinh tế có tỷ trọng, vị trí, vai trò

khác nhau trong nền kinh tế quốc dân

Ba là: Xem xét cơ cấu kinh tế phải được đặt trong những điều kiện

hoàn cảnh kinh tế-xã hội và trong những giai đoạn lịch sử xác định

Bốn là: Xem xét cơ cấu kinh tế là xem xét nó trong sự vận động phát

triển theo một thể chế kinh tế tương ứng

Năm là: Cơ cấu kinh tế là tổng thể hữu cơ các bộ phận cấu thành nền

kinh tế (ngành kinh tế, vùng kinh tế và các thành phần kinh tế) trong một nước, một địa phương, các bộ phận đó có vai trò, vị trí, tỷ trọng khác nhau xét

cả về mặt định tính và định lượng, song có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phản ánh trình độ phân công lao động xã hội và tính chất của lực lượng sản xuất trong những điều kiện kinh tế - xã hội xác định

Quan niệm của tác giả về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Các quan niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nêu ở phần trên, phần nào

đã nói lên được nội dung cơ bản, cốt lõi của chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tuy nhiên, theo tác giả khi nói đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần xem xét nó ở cả hai góc độ:

Thứ nhất: Là xây dựng mới để hình thành cơ cấu kinh tế theo một thiết

chế kinh tế hợp lý

Thứ hai: Chuyển đổi cơ cấu kinh tế hiện có theo thiết chế kinh tế hợp

Tác giả cho rằng: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình hình thành

và chuyển đổi cơ cấu kinh tế làm thay đổi cấu trúc, tỷ trọng quy mô, tốc độ của cơ cấu kinh tế nhằm đạt tới một cơ cấu kinh tế hợp lý hiện đại, tạo thế và lực mới cho tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội

Trang 10

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Thành phố Hồ Chí Minh nói chung, huyện Cần giờ nói riêng không thể tách rời thiết chế kinh tế chung của vùng

và của cả nền kinh tế, song ở mỗi vùng, tỉnh, thành phố, huyện nó có tính đặc thù riêng, lợi thế và điều kiện kinh tế-xã hội cũng có khác biệt Vì vậy, không nhất thiết việc chuyển dịnh cơ cấu kinh tế ở một huyện, tỉnh, thành phố phải dập khuôn theo một chuẩn mực sẵn có hay định trước Đối với huyện Cần giờ, Thành phố Hồ Chí Minh cũng vậy Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

ở huyện Cần Giờ chính là quá trình xây dựng và chỉnh đổi cơ cấu kinh tế hiện

có nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội để hòa nhập vào cơ cấu kinh tế chung của Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực miền Đông, miền Tây Nam

tế chung của cả nước Đây chính là cơ sở phương pháp luận trong việc xác định cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng địa phương cụ thể, trong đó có huyện Cần Giờ Thành phố Hồ Chí Minh

1.2 Tính tất yếu khách quan, yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.1 Tính tất yếu khách quan của chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.2.1.1 Do đòi hỏi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Cùng với đổi mới công nghệ của nền sản xuất xã hội, xây dựng cơ cấu kinh tế mới tiến bộ là nội dung của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Có thể thấy rằng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là hệ quả tất

Trang 11

yếu mà quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mang lại, mà nó còn là nguyên nhân, là điều kiện, là lực đẩy để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ cơ cấu kinh tế lạc hậu, phiến diện, kém hiệu quả sang một cơ cấu kinh tế phù hợp, hiện đại có hiệu quả

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện nền kinh tế bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ

và quản lý kinh tế-xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng xuất lao động xã hội cao

Bất cứ một phương thức sản xuất xã hội nào hình thành và phát triển cũng phải dựa trên một cơ sở vất chất-kỹ thuật thích ứng Nước ta đi lên Chủ nghĩa xã hội với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ

và văn minh”, do vậy nó phải là một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại Cơ sở vật chất kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội phải dựa trên những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, có khả năng

sử dụng mọi nguồn lực của nền kinh tế một cách có hiệu quả nhất trong sự phân công lao động quốc tế gắn với xu hướng khu vực và toàn cầu hóa kinh tế quốc tế Điều cốt lõi của cơ sở vật chất của Chủ nghĩa xã hội là phải tạo ra một năng suất lao động cao hơn phương thức sản xuất trước nó

Việt Nam quá độ lên Chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, lại chịu hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh Cái cần nhất của nước ta là có được một lực lượng sản xuất phát triển, một cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại của Chủ nghĩa xã hội Công nghiệp hóa, hiện đại hóa chính là con đường duy nhất để nước ta có được cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại Do vậy thực chất của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là quá trình tạo ra những tiền đề vật chất, kỹ thuật, con người, công nghệ phương tiện, phương pháp sản xuất tiên tến cho chủ nghĩa xã hội

Trang 12

Nội dung cơ bản của Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đó là phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất trước hết là việc cơ khí hóa toàn bộ nền sản xuất xã hội trên cơ sở áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ Đó là quá trình cải tiến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng công

cụ lao động tiên tiến hiện đại đem lại năng xuất lao động xã hội cao Quá trình đó là quá trình cơ khí hóa, điện khí hóa và tự động hóa sản xuất nhằm mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất phải gắn liền với xây dựng một quan hệ sản xuất phù hợp Gắn chặt một cách hữu cơ với sự phát triển phân công lao động xã hội, với quá trình hình thành các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế và các vùng chuyên môn hóa sản xuất trong tổng thể nền kinh tế thống nhất Các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế đó tồn tại và hoạt động trong mối liên hệ tất yếu khách quan dưới những hình thức tổ chức sản xuất nhất định tạo thành cơ cấu kinh

tế của nền kinh tế quốc dân thống nhất

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế xây dựng một cơ cấu kinh tế phù hợp tương ứng với cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội không chỉ là hệ quả của chính quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật mà còn là nhận thức chủ quan của chủ thể kinh tế, có thể tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế để mở đường thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển Điều đó được thể hiện ở chiến lược kinh tế với những kế hoạch cụ thể phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện dân số, lao động và trình độ khả năng của cả nước cũng như từng vùng đáp ứng với xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế quốc tế Đảm bảo cân đối giữa phát triển kinh tế với khả năng quốc phòng, giữa tiêu dùng và tích lũy, giữa các nguồn lực, giữa tăng trưởng kinh

tế và công bằng xã hội

Trang 13

Đất nước ta đã tiến hành công nghiệp hóa từ những năm 60, hiện nay Đảng ta tiếp tục khẳng định:”Phát triển kinh tế, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

là nhiệm vụ trọng tâm” [9, tr.25] “Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa”[9, tr.25]

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa vừa là đòi hỏi của quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng thời nó là điều kiện để đảm bảo cho thắng lợi của sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt nam đã khẳng định tính tất yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời chỉ ra nội dung phương hướng cơ bản, toàn diện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân, để nước ta đến năm 2020 trở thành nước công nghiệp

Đường lối, chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân của Đảng ta là cơ sở để các cấp, các ngành, các địa phương xác định kế hoạch, biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong phạm vi địa phương mình nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý có hiệu quả

1.2.1.2 Do đòi hỏi của nền kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển cao mà trong đó toàn

bộ các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản xuất đều được thông qua thị trường Như vậy, thực chất kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển mà ở đó

đã hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường Trong nền kinh tế thị trường tất

cả các quan hệ kinh tế của các chủ thể kinh tế đều được thể hiện thông quan

hệ mua-bán hàng hoá dịch vụ trên thị trường Động lực thúc đẩy các chủ thể kinh tế là tìm kiếm lợi ích, lợi nhuận cho chính mình theo sự dẫn dắt của giá

cả thị trường Kinh tế thị trường ra đời là một tất yếu kinh tế trên cơ sở kinh tế hàng hoá và ở trình độ cao hơn Cho tới nay kinh tế thị trường phát triển với

Trang 14

ba mô hình: Kinh tế thị trường tự do, kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước và kinh tế hỗn hợp

Như vậy kinh tế thị trường là một bước tiến của lịch sử nhân loại, mặc

dù nó có mặt trái và hạn chế song nó không đối lập với chủ nghĩa xã hội Nó không những tồn tại trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà nó tồn tại

cả trong chủ nghĩa xã hội “Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy quan niệm của Đảng ta về

sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất Đó là mô hình kinh tế tổng quát của cả nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”[9, tr.88]

Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

là nhằm giải phóng sức sản xuất, tập trung và động viên mọi nguồn lực để thực hiện thắng lợi công nghiệp hoá, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Phát triển kinh tế nhiều thành phần với đa dạng các hình thức sở hữu trên cơ sở nền tảng là sở hữu toàn dân Sự tồn tại của kinh tế thị trường dựa trên hai nền tảng cơ bản là có sự phân công lao động xã hội và có sự độc lập tương đối của các chủ thể sản xuất kinh doanh, chính những tiền đề đó đòi hỏi muốn phát triển kinh tế thị trường cần phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ một nền kinh tế phi thị trường như ở nước ta thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế càng là một tất yếu mà chúng ta phải thực hiện

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chức kinh tế-xã hội mà tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội đều gắn liền với thị trường, và được thực hiện thông qua thị trường Kinh tế thị trường không chỉ là cách thức con đường phát triển kinh tế mà còn là tổng thể các mối quan hệ kinh tế-xã hội tức là hệ thống quan hệ sản xuất thích hợp với trình độ của lực lượng sản xuất Tổng thể các mối quan hệ kinh tế vừa là đòi hỏi vừa là điều kiện để phát triển kinh tế thị trường phù hợp với mỗi quốc gia

Trang 15

dân tộc Để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế gắn với sự hình thành đồng bộ các loại thị trường, tạo nên thị trường thống nhất trong cả nước và chủ động xâm nhập vào thị trường khu vực và quốc tế Thực hiện nhất quán chính sách phát triển

cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, nâng cao hiệu quả của kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể làm cho nó thực sự là nền tảng của nền kinh tế quốc dân

Kinh tế thị trường ra đời phát triển trên cơ sở phân công lao động xã hội phân bố lại dân cư và lao động trong từng địa phương, từng vùng và phạm

vi cả nước theo hướng hợp tác hoá, chuyên môn hoá nhằm khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển nhiều ngành nghề mới tạo nhiều việc làm cho người lao động và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Việc mở rộng phân công lao động xã hội trong nước đồng thời phải mở rộng phân công lao động quốc tế, gắn thị trường trong nước và quốc tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và

cơ cấu lao động phải đảm bảo cho việc phân bổ và sử dụng các yếu tố đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.2.1.3 Từ thực tiễn xác định cơ cấu kinh tế sai lầm trước đây và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta trong thời kỳ đổi mới

Sau năm 1954 miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, chúng ta tiến hành cải cách ruộng đất, thực hiện mục tiêu "Người cày có ruộng" Trong những năm 1957 đến 1960 chúng ta tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã xác định sự cần thiết tiến hành công nghiệp hoá đất nước, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội và coi đó là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Mặc dù còn là một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, hậu quả của chiến tranh rất nặng nề, song chúng ta đã thực hiện quá trình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa theo mô hình của Liên Xô, và đã xác định

Trang 16

nội dung của công nghiệp hoá là: Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ để nhanh chóng biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại Nhưng do mục tiêu chung của cách mạng nước ta lúc đó là thực hiện giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, do đó quá trình công nghiệp hoá thực hiện chưa được nhiều Mặt khác mục tiêu đó rất khó thực hiện đối với một nước có điểm xuất phát rất thấp, nền kinh tế chưa có tích luỹ, chủ yếu phát triển dựa vào sự viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa

Sau năm 1975 đất nước được thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, dưới ánh sáng của đường lối phát triển kinh tế do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đề ra Trong đường lối xác định: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp

và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp thành một

cơ cấu công-nông nghiệp, vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, phát triển lực lượng sản xuất, kết hợp với xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mớià Như vậy về thực chất ở giai đoạn này nông nghiệp và công nghiệp nhẹ được coi là cơ sở để phát triển công nghiệp nặng Song với tính đặc thù của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ nó không thể tự thân phát triển mạnh mẽ nếu bản thân nó không được công nghiệp hóa

Trên cơ sở đường lối chung đó kế hoạch năm năm lần thứ II 1980) xác định nhiệm vụ phát triển như sau:

(1976-Tập trung cao độ lực lượng của cả nước tạo một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp, ra sức đẩy mạnh lâm nghiệp, ngư nghiệp, phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm nhằm tạo tích lũy cho công nghiệp hóa

Trang 17

và nâng cao đời sống của nhân dân Trong giai đoạn này chúng ta phát triển thí điểm với quy mô đồng bộ ở hai huyện Nam Ninh và Quỳnh Lưu gắn với tập thể hóa cao độ

Đối với công nghiệp nặng: phát huy năng lực sẵn có xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về cơ khí, mở mang giao thông vận tải, tăng nhanh xây dựng

cơ bản và từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới công-nông nghiệp, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương Chủ trương xây dựng huyện thành đơn vị kinh tế nông - công nghiệp, kết hợp kinh tế với quốc phòng

Với đường lối trên và cơ chế kế hoạch hóa tập trung; ưu tiên phát triển công nghiệp nặng để từng bước hình thành cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp Chúng ta đã tập trung quá nhiều vốn, vật tư kỹ thuật cho công nghiệp nặng

mà không chú ý quan tâm đến phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ dẫn tới làm mất cân đối trong đầu tư, từ đó nền kinh tế lâm vào tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, đời sống khó khăn và lâm vào khủng hoảng kinh tế năm 1979

Tháng 3 năm 1982 Đại hội Đảng lần thứ V rút kinh nghiệm đường lối công nghiệp hóa trong giai đoạn trước Đảng ta đã điều chỉnh đường lối công nghiệp hóa Trong đường lối đó chúng ta coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, tập trung vào phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách và thiết yếu về lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng nhằm

ổn định đời sống xã hội Trong Đại hội này Đảng ta đã xác định được điểm xuất phát của đất nước là nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Với sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế đó đã tạo ra một bước phát triển đột phá trong nông nghiệp, công nghiệp và hàng tiêu dùng Đối với nông nghiệp Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương đã thực sự cởi trói tạo ra một sức sống mới cho nông nghiệp và nông thôn Song do sai lầm trong quản lý kinh tế với chính sách cải cách Giá-Lương-Tiền năm 1985 làm cho nền kinh tế càng lún sâu vào khủng hoảng và đẩy lạm phát tới mức phi

Trang 18

mã 774% năm 1986, đời sống kinh tế xã hội vô cùng khó khăn, nhiều tỉnh có người chết đói Trước bối cảnh đó Đảng ta xác định phải đổi mới toàn diện

mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế

Công cuộc đổi mới toàn diện sâu sắc ở nước ta được đánh dấu bằng Đại hội Đảng lần thứ VI (Tháng 12 năm 1986), trong đó đổi mới tư duy kinh tế là trọng tâm Về công nghệp hóa là khắc phục các thiếu sót trước đây về ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, ham quy mô lớn và thiên về xây dựng mới Đảng

ta chủ trương điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng tập trung mọi nguồn lực cho ba chương trình kinh tế lớn là: Lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

Về cơ cấu thành phần kinh tế Đảng ta chủ trương chuyển sang cơ cấu kinh tế nhiều thành phần coi đó là vấn đề có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn và chính sách này có ý nghĩa chiến lược, lâu dài đồng thời là một đặc trung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Ba chương trình kinh tế là sự cụ thể hóa nội dung của công nghiệp hóa trong chặng đường đầu tiên, định hướng sự phát triển cho tất cả các ngành, vùng, các hoạt động kinh tế nhằm xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý Khẳng định vị trí hàng đầu của nông nghiệp và vai trò của công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp Đối với công nghiệp nặng phải phát triển một cách có chọn lọc, hợp với khả năng của nền kinh tế nhằm phục vụ đắc lực cho yêu cầu phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ

Với đường lối công nghiệp hóa do Đại hội VI đề ra đã tạo ra một sức sống mới cho nền kinh tế và đã thu được nhữnng thành tựu cực kỳ quan trọng

Đại hội VII và Đại hội VIII Đảng ta tiếp tục hoàn thiện đường lối đổi mới Trong giai đoạn này Đảng ta chủ trương chuyển dịch một cách căn bản và toàn diện cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Do vậy trong thời gian 10 năm gần đây việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 19

theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đem lại những thành tựu cực

kỳ to lớn Nền kinh tế hình thành cơ cấu ba ngành rõ rệt, tỷ trọng GDP tương đối hợp lý GDP tăng gấp đôi, tích lũy nội bộ nền kinh tế đạt 25% GDP, kim ngạch xuất khẩu tăng 6 lần, đầu tư nước ngoài chiếm 35% tổng đầu tư toàn xã hội

Từ thực tiễn của 18 năm đổi mới, với thực tiễn kinh tế xã hội của đất nước và bối cảnh quốc tế Đại hội IX của Đảng đã bổ sung phát triển một cách sâu sắc và toàn diện hơn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta đến năm

2010 và 2020 để nước ta trở thành một nước công nghiệp

Dưới ánh sáng của Nghị quyết đại hội IX của Đảng, trong 3 năm qua

cơ cấu kinh tế nước ta tiếp tục có bước chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Năm 2003 tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất trong 06 năm qua: Bảng 1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 1998 - 2003

(Đơn vị tính %)

Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 Tăng trưởng GDP 5,71% 4,77% 6,79% 6,89% 7,04% 7,24%

Nguồn: Nguyễn Sinh Cúc, Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2003

Trang 20

1.2.2 Yêu cầu xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng một nền kinh tế có cơ cấu kinh tế hợp lý có các đặc trưng cơ bản như: Tính khoa học, tính thị trường, tính hiện đại và tính hiệu quả kinh tế - xã hội

Một là: Tính khoa học: Xây dựng cơ cấu kinh tế phải tuân thủ các quy

luật khách quan như : quy luật tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế và xã hội mà đặc biệt là các quy luật kinh tế Chúng ta đều biết lịch sử của loài người trước hết

là lịch sử của sản xuất mà thực chất là sự phát triển kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất xã hội Sự phát triển đó là quá trình lịch sử tự nhiên tuân theo các quy luật kinh tế vốn có của nó Cơ cấu kinh tế cũng vậy, nó phát triển cũng phải tuân theo các quy luật của chính nó Sự hình thành và hoàn thiện của các cơ cấu kinh tế chịu sự quy định của trình độ lực lượng sản xuất, trình độ của sự phân công lao động xã hội, mặt khác cơ cấu kinh tế còn chịu

sự quy định của thể chế chính trị xã hội, xu hướng quốc tế và khu vực Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nó chịu sự quy định mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng tuân theo quy luật của chính nó Trong nội dung của cơ cấu kinh tế thì cơ cấu kinh tế ngành là quan trọng nhất, đồng thời phản ánh tính rõ nét nhất tính quy luật của sự chuyển dịch

Đối với cơ cấu ngành kinh tế: chuyển dịch từ cơ cấu nông nghiệp thành

cơ cấu kinh tế Công nghiệp -Nông nghiệp -Dịch vụ chuyển dịch thành cơ cấu kinh tế Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp hiện đại Trong cơ cấu kinh tế nội bộ của từng ngành quá trình chuyển dịch cũng mang tính quy luật

Trang 21

Đối với Nông nghiệp: chuyển dịch từ độc canh, thuần nông, tự cung tự cấp sang đa canh phát triển toàn diện Nông, Lâm, Ngư nghiệp Gắn phát triển nông nghiệp với phát triển thủ công nghiệp công nghiệp, chế biến và dịch vụ tại nông thôn

Đối với công nghiệp: chuyển dịch từ các ngành công nghiệp truyền thống tức là ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động chân tay và nguyên liệu nhiên liệu sẵn có trong tự nhiên tiến lên một nền công nghiệp có công nghệ cao sử dụng lao động trí tuệ và nguồn nguyên liệu nhân tạo

Đối với ngành dịch vụ: Lúc đầu dịch vụ cho sản xuất tăng nhanh rồi mới tới dịch vụ cho con người Dịch vụ càng phát triển thì dịch vụ cho con người phát triển nhanh hơn dịch vụ cho sản xuất Đối với dịch vụ sản xuất thì dịch vụ gián tiếp phát triển nhanh hơn cho sản xuất vật chất trực tiếp

Đối với cơ cấu vùng kinh tế: Sự phát triển kinh tế lúc đầu là phân tán, rồi hình thành các vùng, khu vực kinh tế tập trung, các trung tâm kinh tế là đầu tầu thúc đẩy phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Đối với cơ cấu thành phần kinh tế: Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh

tế đơn nhất sang nền kinh tế nhiều thành phần ở cả nông thôn, thành thị và từ kinh tế nhiều thành phần trở thành nền kinh tế thuần nhất dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất

Đối với cơ cấu lao động: Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng lao động trong công nghiệp, dịch vụ tăng dần trong đó lao động trong dịch vụ tăng nhanh hơn lao động trong công nghiệp Tỷ trọng lao động cơ bắp giảm dần, tỷ lệ lao động trí tuệ tăng nhanh trong tổng số lao động xã hội

Hai là: Tính thị trường: Thị trường là phạm trù kinh tế cơ bản của kinh

tế thị trường nó là nơi diễn ra hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa-dịch vụ, thông qua nó để xác định sản lượng và giá cả hàng hóa-dịch vụ trong những thời điểm nhất định Thị trường với các chức năng thông tin cho người sản

Trang 22

xuất và tiêu dùng, chấp nhận hay không chấp nhận hàng hóa và dịch vụ, thông qua đó để kiểm tra mức độ thỏa mãn và khả năng sản xuất Với các chức năng trên thì thị trường là cơ sở trực tiếp hướng dẫn các chủ thể kinh tế xác định sản xuất cái gì hay là lựa chọn lĩnh vực hoạt động kinh doanh; sản xuất như thế nào? hay xác định quy mô, công nghệ và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh; Sản xuất cho ai? Nhằm đạt được hiệu quả kinh tế-xã hội cao nhất

Trong kinh tế thị trường thì mục đích của các chủ thể kinh tế là lợi nhuận Để đạt được mục đích đó các chủ thể kinh tế phải luôn bám sát giá cả thị trường trong môi trường cạnh tranh gay gắt, trong cuộc cạnh tranh đó tất yếu phải có người thắng, người thua

Chính sự đòi hỏi và yêu cầu khắt khe của thị trường buộc các chủ thể kinh tế phải căn cứ vào thị trường, lấy nó làm cơ sở quyết định chiến lược hoạt động của mình Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong kinh tế thị trường đòi hỏi phải lấy thị trường, căn cứ vào thị trường để xác định chiến lược, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong từng giai đoạn Lấy thị trường làm cơ

sở cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chính là phải biết phát huy lợi thế

so sánh giữa trong nước với nước ngoài, giữa các địa phương, khu vực trong một nước Một khi thị trường trong nước, khu vực và thị trường quốc tế đặt sự phát triển của mình trên cơ sở phân công lao động quốc tế thì lợi thế so sánh cần phải triệt để khai thác Vì vậy, phải biết kết hợp một cách khéo léo giữa lợi thế của mình với ưu thế của vùng khác, nước khác để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm đạt được hiệu quả kinh tế-xã hội cao nhất

Ba là: Tính hiện đại của cơ cấu kinh tế: Tính chất hiện đại của cơ cấu

kinh tế thể hiện ở tính đồng bộ và chuyển đổi nhanh

Cơ cấu kinh tế phản ánh tính chất của nền kinh tế qua các giai đoạn phát triển Tính hiện đại của cơ cấu kinh tế trước hết là phản ánh tính hiện đại của cơ sở vật chất - kỹ thuật nền tảng của nền kinh tế Sự phát triển của cơ sở vật chất-kỹ thuật tạo ra các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, giữa

Trang 23

chúng có quan hệ chặt chẽ gắn bó vớí nhau, tạo tiền đề thúc đẩy nhau cùng phát triển Sự vận động và trình độ phát triển của từng ngành kinh tế, vùng kinh tế và thành phần kinh tế không thể tách rời tính chỉnh thể thống nhất của nền kinh tế-xã hội Do vậy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế của nền kinh

tế quốc dân phải bảo đảm tính đồng bộ giữa công nghiệp, nông nghiệp, dịch

vụ giữa các vùng đồng bằng, trung du, miền núi, vùng biển thành thị, và giữa các thành phần kinh tế Sự phát triển của mỗi ngành kinh tế, vùng kinh tế, thành phần kinh tế là điều kiện cho các ngành khác, vùng khác, thành phần kinh tế khác phát triển Tính đồng bộ của nền kinh tế là điều kiện quyết định

để khai thác có hiệu quả các nguồn lực, đồng thời nó cũng là điều kiện để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ

Cơ cấu kinh tế hợp lý hiện đại là cơ cấu kinh tế có tính chuyển đổi nhanh Các Mác đã chỉ rõ: "Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào với

những tư liệu lao động nào” [45, tr.289]

Như vậy, cách thức mà con người sản xuất với những tư liệu lao động nhất định tạo thành hệ thống xương cốt, bắp thịt của nền sản xuất Sự phát triển của khoa học công nghệ giữ vai trò quyết định tới sự phát triển của nền kinh tế và đánh dấu sự ra đời của một thời đại mới Khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế trước hết là cơ cấu ngành kinh tế Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ

đã làm thay đổi chức năng của người lao động trong quá trình sản xuất và nó

đã tạo ra một bước ngoặt trong toàn bộ hệ thống các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất Cách mạng khoa học công nghệ tác động mạnh mẽ sâu sắc toàn diện tới cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội trong phạm vi quốc gia và quốc tế Cách mạng khoa học công nghệ hiện nay không những thúc đẩy tốc độ phát triển của lực lượng sản xuất mà còn làm thay đổi các quan hệ kinh tế trong nước cũng như thế giới Xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa

Trang 24

nền kinh tế quốc tế đang làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhau và tính thống nhất trong quan hệ kinh tế giữa các nước Để đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh

tế độc lập, tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải có một cơ cấu kinh tế hiện đại, linh hoạt, có như vậy mới tận dụng được cơ hội do cuộc cách mạng khoa học công nghệ tạo ra, rút ngắn được sự lạc hậu và khắc phục được tính chu kỳ của nền kinh tế thị trường

Bốn là: Tính hiệu quả kinh tế - xã hội: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở

Việt Nam có bản chất xã hội khác với quá trình công nghiệp hóa đã từng diễn

ra ở các nước Tư bản và các nước công nghiệp mới Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tạo

ra các tiền đề để giải quyết các mâu thuẫn của nền kinh tế trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân lao động, vì vậy mỗi bước đi của Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải gắn liền với công bằng và tiến bộ xã hội Đại hội IX của Đảng khảng định “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển” [9, tr.88] Quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằn thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đồng thời luôn gắn liền với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Tính hiệu quả kinh tế-xã hội được biểu hiện ở năng xuất lao động, sức cạnh tranh của hàng hóa gắn với sự tiến bộ và công bằng xã hội Do vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải hướng vào khắc phục cơ cấu kinh tế què quặt, kém hiệu quả sang cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, khai thác có hiệu quả cao nhất mọi tiềm năng của các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải hướng vào xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công, nông, trí thức, tạo ra sự liên kết giữa các vùng, các thành phần kinh tế, hạn chế và thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo, nông thôn - thành thị, đồng bằng - miền núi

Trang 25

1.3 Những nhân tố tác động và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá

1.3.1 Những nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.3.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội và dân số:

Dân số và lao động: Vai trò của dân số đối với sự phát triển kinh tế-xã

hội được biểu hiện ở số lượng và chất lượng dân số Đây là điều kiện thường xuyên tất yếu của mọi sự phát triển Vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá không thể không trên cơ sở yếu tố dân

số và lao động

Dân số Việt Nam ta hiện nay khoảng gần 80,7 triệu người trong đó dân

số nông thôn chiếm gần 70% Hiện nay có trên 50 triệu người từ 15 tuổi trở lên, trong đó trên 60 tuổi chiếm khoảng 8,2% tổng số dân số Nước ta được xếp vào hàng các quốc gia có trình độ học vấn cao, với 93,7% người lớn biết chữ đây là lợi thế cho phép nước ta tiếp thu những thành tựu mới của khoa học và công nghệ để đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Lao động ở nước ta khá dồi dào, thông minh cần cù lao động, lực lượng lao động này cho phép chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ

Bên cạnh những thuận lợi trên, cũng cần phải thấy rằng lực lượng lao động ở nước ta hiện nay có tỷ lệ qua đào tạo và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, phần lớn là lao động phổ thông Mặt khác cơ cấu đào tạo lại bất hợp lý, chất lượng đào tạo còn rất nhiều hạn chế đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nói riêng Vì vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá, hiện đại hóa phải được tiến hành đồng bộ trên cơ sở khả năng của lực lượng lao động hiện có

Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội:

Với thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước nền kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng cao, nền tài chính quốc gia lành mạnh, hệ thống kết cấu hạ

Trang 26

tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được xây dựng và khai thác có hiệu quả Hàng loạt các công trình của các ngành: Công nghiệp, giao thông, nông nghiệp, thủy lợi, kết cấu hạ tầng được xây dựng và đưa vào sử dụng Tính đến nay:100% số huyện, 89% số xã đã có điện lưới quốc gia; 6000 xã có điểm bưu điện văn hoá xã, 50% số hộ nông thôn dùng nước sạch [4] Điều đáng chú

ý trong kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đó là hệ thống giao thông của cả nước

mà đặc biệt là ở nông thôn phát triển mạnh Hiện nay có 80% số xã có đường

ô tô về tới trung tâm, hệ thống trường học, bệnh viện, chợ nông thôn ngày càng được phát triển và mở rộng từng bước đáp ứng với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của từng vùng cũng như cả nước

1.3.1.2 Vị trí địa lý, tài nguyên, khí hậu

Vị trí địa lý, tài nguyên, khí hậu là điều kiện thường xuyên và tất yếu đối với sự tồn tại, phát triển của bất cứ một quốc gia nào Vai trò của nó lại phụ thuộc vào chính mục đích và khả năng khai thác của con người Trên cơ

sở vị trí địa lý, tài nguyên, khí hậu mà nhiều ngành nghề khác nhau như: Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, các ngành khai thác, kinh tế du lịch ra đời và phát triển

Mặc dù không giữ vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế-xã hội song nó giữ vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, phân công lao động, phân bố các nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi hay gây khó khăn đến quá trình

tổ chức sản xuất, năng xuất lao động và tốc độ phát triển của nền kinh tế

Việt Nam là một quốc gia Đông Nam Á, ven biển với diện tích tự nhiên là: 330.991 km2, trải dài trên 15 vĩ tuyến Bắc bán cầu (Từ 8-230

vĩ Bắc) là một quốc gia có vị trí điạ lý thuận lợi, tài nguyên phong phú, khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội

Nằm ở khu vực Đông Nam Á một khu vực đang phát triển năng động trong châu lục và thế giới, lại nằm trên các tuyến giao thông quan trọng của châu lục Với diện tích đất tự nhiên được chia thành 64 tỉnh thành và 6 vùng

Trang 27

kinh tế Đất đai của Việt Nam phân hoá theo độ cao của địa hình gồm nhiều loại đất: Đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất đỏ Nói chung đất đai ở nước ta

có độ màu mỡ khá cao có khả năng phát triển đa dạng sinh học

Khí hậu ở Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình khá cao, lượng mưa ở Việt Nam khá dồi dào, được phân bố tương đối đều Nhìn chung khí hậu ở nước ta cho phép phát triển một nền kinh tế đa dạng phong phú Nước ta là một nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng được phân bố đều khắp trên bề mặt của đất nước

Về tài nguyên nước: Với lượng mưa trung bình của cả nước từ: 2400mm với hơn 2300 con sông, chỉ riêng hai hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long đã chiếm trên một nửa diện tích lưu vực của cả nước Vì vậy Việt Nam là một nước giàu tài nguyên nước ngọt Ngoài nguồn nước của các sông

1500-hồ nước ta còn tiếp nhận khoảng 500 tỷ m3 nước từ các lưu vực sông bên ngoài đổ vào

Về rừng và động vật của nước ta tương đối phong phú về chủng loại Diện tích rừng nước ta hiện nay có khoảng 9,3 triệu hecta với độ che phủ khoảng 28.2% Diện tích rừng nước ta chủ yếu phân bố ở vùng Tây nguyên, trung du bắc bộ, bắc trung bộ và các miền duyên hải Gắn với hệ thống rừng ở Việt Nam là các hệ động thực vật đa dạng phong phú có nhiều loài quý hiếm Nguồn lợi về rừng là rất lớn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, an ninh và quốc phòng

Việt Nam có trên 3200 km bờ biển thuộc khu vực Tây Thái Bình dương Ven biển nước ta có hệ sinh thái đặc biệt là vùng dễ dàng khai thác để phục vụ cho phát triển đất nước Dọc bờ biển từ Bắc đến Nam gắn với các cửa sông lớn đã hình thành các trung tâm kinh tế lớn đã và đang có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 28

Biển Việt Nam rất phong phú về tài nguyên và hải sản có giá trị kinh tế cao, theo thống kê hiện nay biển nước ta có 7000 loài động vật biển, trong đó

có 1700 loài cá cùng với các nguồn lợi thủy sản khác, tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta tiến mạnh ra biển và phát triển kinh tế biển

Với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nước ta có thuận lợi đẩy nhanh tốc độ phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế “Mở”, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá,đất nước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội

1.3.1.3 Trình độ khoa học - công nghệ

Trình độ khoa học công nghệ là nhân tố quyết định đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá, hiện đại hóa Khoa học và công nghệ không những làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt kinh tế mà còn làm thay đổi những nhận thức, quan niệm về các hiện tượng kinh tế-xã hội Trình độ khoa học công nghệ thực chất là trình độ của những yếu tố chủ yếu trong lực lượng sản xuất xã hội, nó quyết định đến hiệu quả kinh tế-xã hội, làm thay đổi địa vị của người lao động, cùng với các mối quan hệ kinh tế Khoa học và công nghệ phát triển sẽ tạo ra các ngành nghề mới và làm thay đổi tỷ trọng vai trò của các yếu tố trong cơ cấu kinh tế

Đối với nước ta trình độ khoa học công nghệ còn yếu kém, thiếu đồng

bộ Do vậy việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế phải phù hợp với trình độ hiện có, mặt khác quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi hỏi khoa học và công nghệ phải đáp ứng yêu cầu nâng cao năng xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh, rút ngắn chênh lệch về trình độ công nghệ so với các nước trong khu vực Cần phải: “Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với ngành mũi nhọn, đồng thời lựa chọn công nghệ thích hợp, không gây ô nhiễm môi trường và khai thác được lợi thế về lao động “ [9, tr.206]

Trang 29

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay đang phát triển như

vũ bão vừa tạo ra những thuận lợi, vừa tạo ra những thách thức đối với sự nghiệp đẩy mạnh Công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước Do vậy, đòi hỏi

sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vừa phải phù hợp với khả năng của khoa học công nghệ hiện có, vừa phải tính đến sự phát triển của khoa học công nghệ trên thế giới

1.3.1.4 Khả năng tích lũy và vốn đầu tư

Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển cũng phải đòi hỏi một lượng vốn đầu tư nhất định Thực tế cho thấy các nước nghèo là do vốn đầu tư không đủ, vì vậy không khai thác có hiệu quả các nguồn lực, đổi mới công nghệ chậm, năng xuất lao động thấp Đối với nước ta để thực hiện Công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý hiện đại đòi hỏi cần phải có một lượng vốn rất lớn Lượng vốn lớn đó phụ thuộc vào khả năng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân, vay nợ nước ngoài và đầu tư từ nước ngoài Do vậy để Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đòi hỏi phải không ngừng nâng cao khả năng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Khả năng tích luỹ này phụ thuộc vào hiệu qủa sản xuất của các ngành, thành phần và từng vùng kinh tế, trên cơ sở đổi mới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng xuất lao động xã hội Xét về lâu dài thì vốn từ nội bộ nền kinh tế quốc dân giữ vai trò quyết định trong mối quan

hệ biện chứng với vốn từ nước ngoài

Trong những năm đổi mới vừa qua Việt Nam đã cải thiện một bước rất quan trọng trong quan hệ tích lũy và tiêu dùng Tỷ lệ tích lũy từ nội bộ nền kinh tế liên tục tăng hiện nay khoảng 30% Bên cạnh đó việc thu hút đầu tư nước ngoài cũng đạt được những thành tựu đáng kể Tính chung từ năm 1988 đến nay đã thu hút 3700 dự án với số vốn là 46 tỷ USD trong đó vốn thực hiện là 23 tỷ USD, chiếm khoảng 35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Những điều kiện trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm qua Để xây dựng cơ cấu kinh tế theo hướng

Trang 30

hiện đại đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn hơn nữa mà đặc biệt là vốn từ nội bộ nền kinh tế quốc dân

1.3.1.5 Cơ chế quản lý kinh tế

Thực tiễn đã minh chứng không có hoạt động kinh tế nào lại tách rời cơ chế quản lý kinh tế Sự vận động và phát triển của bất cứ nền kinh tế nào đều phụ thuộc rất lớn vào cơ chế quản lý kinh tế có phù hợp hay không Thực tiễn

ở nước ta cho thấy một trong những nguyên nhân dẫn tới sự khủng hoảng kinh tế-xã hội là do chúng ta duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Hiện nay mô hình kinh tế được Đại hội IX của Đảng xác định đó là phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thực chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa [7] Để có được cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi phải triệt để xóa bỏ cơ chế quản lý kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp trong các hoạt động kinh tế nhằm phát huy vai trò

tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể kinh tế, đồng thời tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi bình đẳng cho các chủ thể kinh tế cạnh tranh, hợp tác

và phát triển trong một cơ cấu kinh tế mở Vì vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hoá vừa là đòi hỏi vừa là hệ quả của cơ chế quản lý kinh tế mới Có như vậy mới phát huy được tiềm năng của mọi ngành, mọi thành phần kinh tế và mọi vùng trong sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.3.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số nước Châu Á

* Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc: Là một nước

bị chiến tranh tàn phá nặng nề, tiến hành công nghiệp hoá từ một nền nông nghiệp lạc hậu, Hàn Quốc đã nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp mới Trong những năm đầu Hàn Quốc tập trung phát triển các cơ sở công

Trang 31

nghiệp tập trung Vì vậy dẫn tới tình trạng mật độ công nghiệp và dân cư tập trung quá đông ở các khu vực công nghiệp lớn, không tận dụng được các thế mạnh tại chỗ của khắp mọi miền đất nước để phát triển kinh tế-xã hội

Vào những năm 60 Hàn Quốc chuyển hướng tập trung vào chuyển dịch

cơ cấu kinh tế và phát triển nông nghiệp, nông thôn đó chính là quá trình công nghiệp hoá nông thôn và hiện đại hoá nông nghiệp Từ năm 1965-1995 chính phủ Hàn Quốc có nhiều chương trình kinh tế phát triển nông thôn: Phát triển ngành nghề ngoài nông nghiệp, ngành nghề thủ công truyền thống với lao động thủ công, công nghệ đơn giản và các nguyên liệu tại chỗ để chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông thôn Chính sách đó đã thu hút được lao động ngoài thời

vụ, tăng thu nhập cho nông thôn tạo điều kiện để xây dựng các xí nghiệp công nghiệp nhỏ trải khắp các vùng nông thôn và di chuyển các xí nghiệp lớn ở trung tâm về nông thôn

Cùng với các chương trình kinh tế đó Hàn Quốc thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp với phương châm cơ khí hoá nhỏ là chủ yếu tạo điều kiện để chuyển sang ứng dụng các công nghệ kỹ thuật cao trong nông nghiệp

Nhờ các chính sách trên mà nông nghiệp Hàn Quốc đã có sự phát triển mạnh mẽ, chi phí lao động thấp, năng xuất lao động cao, thu nhập ngoài nông nghiệp của nhân dân tăng nhanh tạo ra động lực cho công nghiệp hoá toàn bộ nền kinh tế Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp

lý đó đã làm cho tỷ trọng của các ngành kinh tế thay đổi một cách căn bản theo hướng hiện đại

Trang 32

Nguồn: Tạp chí khoa học kinh tế, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh số 119 [ 31]

* Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Trung Quốc: Là một

nước lớn và đông dân nhất thế giới, Trung Quốc là một nước có điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội gần giống Việt Nam Một thời gian dài Trung Quốc thực hiện cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung quan liêu Từ một nước nông nghiệp là chủ yếu, thực hiện cải cách, mở cửa, tiến hành công nghiệp hoá trung Quốc đã tạo được một tốc độ phát triển nhanh, đưa Trung Quốc thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ lạc hậu

Một thời gian dài Trung Quốc tiến hành công nghiệp hoá với phương

châm "Đại nhảy vọt“, "Toàn dân làm gang thép" (từ những năm 1950 đến

năm 1978) Đây là thời kỳ Trung Quốc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng không chú ý đến công nghiệp nhẹ và nông nghiệp đã làm cho kinh tế của Trung Quốc gặp rất nhiều khó khăn và trả giá đắt Thực hiện cải cách kinh tế với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung khai thác thế mạnh về nông nghiệp phát triển ưu tiên nông nghiệp-công nghiệp nhẹ -công nghiệp nặng nhờ đó mà kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh liên tục

Ưu tiên phát triển nông nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông, sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá, tận dụng hầu hết lao động thừa ở nông thôn thúc đẩy công nghiệp hoá đất nước và công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Với hình thức tổ chức hợp lý điển hình là các xí nghiệp Hương Trấn xuất hiện năm 1978 Đây là tổ chức kinh tế do nhân dân lập ra được nhà nước Trung Quốc tạo điều kiện giúp đỡ, đã phát triển nhanh chóng và đem lại hiệu quả kinh tế rất cao, chỉ sau 8 năm số xí nghiệp Hương Trấn đã lên tới 23,36 triệu xí nghiệp, tạo 130 triệu chỗ làm việc mới và đạt doanh thu 1700 tỷ nhân dân tệ, chiếm 30% GDP của cả nước

Để tận dụng khai thác các nguồn lực của đất nước mà trước hết là vùng nông thôn, Trung Quốc đã đưa các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào lĩnh vực nông nghiệp để hưng trấn nông thôn, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hoá

Trang 33

đất nước nói chung và công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn nói riêng Những cải cách kinh tế ở Trung Quốc đã tạo ra một bước nhảy vọt không chỉ trong nông nghiệp mà trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

* Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đài Loan: Là một hòn

đảo nằm ở Đông Bắc Á Đài Loan thực hiện công nghiệp hoá từ những năm

50 với điều kiện đất chật người đông và bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nhưng sau 25-30 năm từ một nền nông nghiệp lạc hậu đã trở thành một trong bốn con rồng Châu Á

Công nghiệp hoá ở Đài Loan gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp trong từng thời kỳ Trong những năm 60 Đài Loan lấy phát triển nông nghiệp để nuôi công nghiệp, đảm bảo nguyên liệu để công nghiệp phát triển và xuất khẩu thu ngoại tệ Nhờ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng mà nền kinh tế Đài Loan có sự phát triển vượt bậc: giá trị nông nghiệp tăng 17 lần trong 40 năm, tỷ trọng nông nghiệp giảm 4 lần trong cùng thời gian từ 56,13

% năm 1952 xuống còn 12,9% năm 1992

Từ những năm 70, Đài Loan đẩy mạnh phát triển công nghiệp, lấy phát triển công nghiệp để hỗ trợ nông nghiệp tiến hành đồng thời công nghiệp hoá đô thị và công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh xây dựng các khu công nghiệp lớn tập trung là xây dựng các cơ sở công nghiệp nhẹ gắn với địa bàn nguyên liệu Ở Đài Loan sự hình thành liên hợp nông - công nghiệp trên cơ sở phát triển công nghiệp nông thôn, công nghiệp chế biến đã nâng cao giá trị nông sản và tạo ra hàng hoá xuất khẩu với khối lượng lớn Với những thành tựu công nghiệp hoá nói chung, công nghiệp hoá nông nghiệp nói riêng đến nay Đài Loan đã trở thành nước công nghiệp mới với nền nông nghiệp tự động hoá có trình độ kỹ thuật cao

* Từ kinh nghiệm của các nước trên cho thấy xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với các nước đang phát triển là:

Trang 34

Để tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đòi hỏi phải phát triển nông nghiệp, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp nặng tạo tiền đề đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân

Quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp dịch vụ và cuối cùng là dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi từ cơ cấu kinh tế khép kín thành cơ cấu kinh tế “mở” hội nhập với khu vực và quốc

tế

Để thực hiện đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hóa đòi hỏi phải phát huy được lợi thế bên trong với lợi thế bên ngoài tạo thành sức mạnh tổng hợp, rút ngắn quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải hướng mạnh vào xuất khẩu để từ chỗ nhập siêu đến cân bằng xuất nhập khẩu và hướng tới xuất siêu

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng đồng thời là quá trình làm cho cơ cấu lao động trong công nghiệp và dịch vụ tăng lên trên cơ sở giảm lao động nông nghiệp Tỷ trọng lao động cơ bắp giảm, còn tỷ trọng lao động trí tuệ tăng lên trong tổng số lao động xã hội Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động kể cả về định tính và định lượng

1.3.3 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta

Từ thực tiễn của những năm đổi mới đất nước và bối cảnh quốc tế hiện nay Chuyển dich cơ cấu kinh tế ở nước ta phải hướng tới xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, có trình độ kinh tế phát triển tiên tiến dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học, công nghệ hiện đại với năng xuất lao động cao

Trang 35

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần tập trung vào mục tiêu:

“Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất văn hoá tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [9,tr.89 ]

Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi phải tăng nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo ra tích luỹ lớn từ nội bộ nền kinh tế, xây dựng một nền kinh tế mở

và tỷ trọng của các ngành trong nền kinh tế thay đổi theo xu hướng: Nông nghiệp- Công nghiệp - Dịch vụ chuyển thành Công nghiệp - Nông nghiệp -Dịch vụ Trong những năm đầu từ nay đến 2010 cần tập trung vào các mục tiêu cụ thể là:

Đưa GDP năm 2010 tăng gấp đôi so với năm 2000; Tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế đạt 30% GDP; Nhịp độ xuất khẩu tăng gấp hai lần nhịp độ tăng GDP; Tỷ trọng các ngành trong GDP là: Công nghiệp từ 40-41%; Nông nghiệp từ 16-17%; Dịch vụ từ 42-43%; Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp còn khoảng 50% so với tổng lao động xã hội

Để đạt được các mục tiêu trên, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta trong thời gian tới là:

Về cơ cấu ngành kinh tế:

Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.Chuyển dịch cơ cấu ngành và nội bộ của từng ngành theo xu hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, để hướng tới một cơ cấu dịch vụ - công nghiệp -nông nghiệp.Trong đó dịch vụ

và công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của nền kinh tế quốc dân

Đối với nông nghiệp: Để giảm tỷ trọng của nông nghiệp đòi hỏi phải phát triển toàn diện nền nông nghiệp, xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại

Trang 36

tiên tiến, với khoa học công nghệ cao, có đủ khả năng đảm bảo an ninh lương thực, tạo điều kiện cho công nghiệp - dịch vụ phát triển Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá một mặt cần phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu vì nước ta hiện vẫn là nước nông nghiệp, dân số nông nghiệp chiếm 80%

và chiếm 70% lao động của cả nước Mặt khác, nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, nguồn xuất khẩu quan trọng đồng thời là thị trường tiêu thụ lớn nhất hiện nay

Để công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trong thời gian tới cần đẩy mạnh thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá, ứng dụng tiến

bộ khoa học và công nghệ nhất là công nghệ sinh học Chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, tăng giá trị trên một đơn vị diện tích Điều chỉnh qui hoạch trồng cây lương thực đảm bảo an ninh lương thực, phù hợp với thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị và hiệu quả xuất khẩu Qui hoạch và đầu tư thâm canh các vùng cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao gắn với chế biến và bảo quản

Ưu tiên đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn Phát triển công nghiệp, dịch vụ, đa dạng hoá ngành nghề, trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp và làng nghề truyền thống Chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn

Mục tiêu trong những năm trước mắt cần phấn đấu tăng giá trị sản lượng nông nghiệp tăng 4,5%/ năm, tổng sản lượng qui thóc đạt 40 triệu tấn (Năm 2003 đạt 37,5 triệu tấn, xuất khẩu ước đạt 4 triệu tấn gạo) Tỷ trọng nông nghiệp chiếm khoảng 16-17% GDP; Thuỷ sản đạt 3 triệu tấn ; Xuất khẩu đạt 8-9 tỷ USD trong đó thuỷ sản đạt 3 tỷ USD [9, tr.173]

Đối với công nghiệp :

Trang 37

Phát triển toàn diện ngành công nghiệp, xây dựng một nền công nghiệp hiện đại tiên tiến với cơ sở vật chất, khoa học công nghệ cao đảm bảo cho nền kinh tế thực sự độc lập tự chủ.Trong những năm trước mắt để biến nước ta thành một nước công nghiệp cần tập trung phát tirển để đạt mục tiêu: Tốc độ tăng giá trị công nghiệp đạt 10-15% năm Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 40-41% GDP; Sử dụng 23-24% lao động xã hội; Giá trị xuất khẩu đạt 70-75% kim ngạch xuất khẩu; Làm cho ngành điện tử, viễn thông trở thành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân

Để đạt mục tiêu trên ngành công nghiệp cần phát triển theo hướng sau:

Phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, đồng thời đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao, phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản ,may mặc, giày-da, cơ khí, điện tử và công nghệ phần mềm

Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị cho các ngành kinh tế và quốc phòng như dầu khí, luyện kim, cơ khí chế tạo, hoá chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng với bước đi hợp lý phù hợp với khả năng vốn, công nghệ

và thị trường

Chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ với đa dạng các ngành nghề, xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh đi đầu về năng xuất chất lượng và hiệu quả, tăng tỷ lệ nội địa hoá trong công nghiệp gia công lắp ráp Nâng cao trình độ ngành xây dựng để đạt được trình độ tiên tiến đáp ứng được yêu cầu xây dựng trong nước cũng như khu vực

Đối với dịch vụ:

Trên cơ sở nền công nghiệp, nông nghiệp hiện đại xây dựng và phát triển ngành dịch vụ vì con người, thoả mãn tốt nhất nhu cầu phát triển toàn diện con người Sự phát triển của ngành dịch vụ là hệ quả của sự phát triển công nghiệp - nông nghiệp, song đến lượt nó, nó thúc đẩy nhanh sự phát tirển

Trang 38

chung của toàn bộ nền kinh tế mà trước hết là dịch vụ cho sản xuất, dịch vụ trực tiếp Vì vậy trong những năm tới cần tập trung thực hiện các mục tiêu sau: Đảm bảo tốc độ tăng trưởng 7-8% năm, tỷ trọng chiếm 42-43% GDP và

sử dụng 26-27% tổng lao động xã hội Để đạt dược mục tiêu trên cần phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ, thương mại, các loại hình vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch, bảo hiểm, chuyển giao công nghệ,

tư vấn pháp lý, thông tin thị trường vv Chú trọng nâng cao năng lực và chất lượng hoạt động thương mại để mở rộng thị trường trong nước và quốc tế Sớm phổ cập sử dụng tin học và mạng lưới thông tin trong nền kinh tế và đời sống xã hội Phát triển kinh tế du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân

Đối với kết cấu hạ tầng: Một nền kinh tế phát triển cao phải dựa trên cơ

sở kết cấu hạ tầng hiện đại và đồng bộ Để thực hiện mục tiêu đó trong giai đoạn đầu phải: Xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu

hạ tầng giao thông, điện lực, thông tin, thuỷ lợi vv Ưu tiên phát triển năng lượng đi trước một bước, đảm bảo an toàn năng lượng quốc gia Phát triển hệ thống thông tin hiện đại phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội cũng như quốc phòng và an ninh

Xu hướng phát triển cơ cấu vùng kinh tế:

Mục tiêu của nước ta là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và tiến tới chủ nghĩa cộng sản, do vậy cần phát triển các vùng, hướng tới xoá bỏ sự cách biệt giữa các vùng về trình độ phát triển.Trong thời kỳ dẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng ta chưa đủ khả năng để xoá bỏ sự cách biệt đó

vì vậy phải tập trung phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm, có mức tăng trưởng cao, khả năng tích luỹ lớn, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng khác trên cơ sở lợi thế của mình, liên kết với các vùng trọng điểm tạo ra mức tăng trưởng khá Hỗ trợ nhiều hơn cho các vùng khó khăn để phát triển

hạ tầng kinh tế, nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo, đưa các vùng này vượt qua tình trạng kém phát triển Trong định hướng phát triển

Trang 39

vùng kinh tế một mặt phải chấp nhận sự chênh lệch giữa các vùng, mặt khác phải tạo điều kiện cho mọi vùng đều phát triển.“ Nhà nước thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò đầu tàu tăng trưởng nhanh, đồng thời tạo điều kiện cho mọi vùng đều phát triển” [9, tr.179]

Đối với khu vực đô thị:

Hiện đại hoá dần các thành phố lớn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn Phát triển và phân bổ hợp lý mạng lưới đô thị trên các vùng với một số

ít thành phố lớn, nhiều thành phố vừa và hệ thống đô thị nhỏ, quan tâm chú trọng phát triển đô thị miều núi Không tập trung quá nhiều các cơ sở công nghiệp và dân cư vào các thành phố lớn Khắc phục ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường Xây dựng các đô thị thật sự là trung tâm hành chính, kinh

tế, văn hóa của từng vùng Xây dựng vành đai đô thị hiện đại ở các đô thị lớn

Đối với khu vực nông thôn, đồng bằng:

Phát triển nông nghiệp sinh thái đa dạng trên nền cây lúa, cây rau quả, chăn nuôi, thủy sản và ứng dụng phổ biến các tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất, bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm Đẩy nhanh phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến

Đối với khu vực trung du miền núi

Ổn định vững chắc định canh, định cư Bố trí lại dân cư đi đôi với đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở vật chất kinh tế - xã hội Phát triển kinh

tế trang trại, cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc và công nghiệp chế biến Bảo

vệ phát triển vốn rừng, có chính sách đặc biệt phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, cửa khẩu

Đối với khu vực biển và hải đảo:

Nước ta có một triệu km2 thềm lục địa do vậy cần tăng cường điều tra

cơ bản, đẩy mạnh nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, thăm dò khai thác dầu khí, phát triển công nghiệp đóng tàu và vận tải biển Phát triển tổng hợp kinh tế biển và hải đảo, khai thác lợi thế các vùng cửa biển, hải cảng để tạo

Trang 40

thành các vùng kinh tế phát triển cao Mở rộng du lịch gắn với bảo vệ môi trường Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế biển với bảo vệ an ninh chủ quyền vùng biển

Trên cơ sở định hướng phát triển các khu vực kinh tế lớn, trong thời gian tới năm 2010 tập trung phát triển 6 vùng kinh tế cụ thể là: Đồng bằng Sông Hồng với vùng kinh tế trọng điểm: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; miền Đông Nam Bộ với vùng kinh tế trọng điểm: Thành phố Hồ Chí Minh -Bình Dương - Đồng Nai - Vũng Tàu; Vùng bắc trung bộ, Duyên hải miền trung với vùng trọng điểm kinh tế: Đà Nẵng - Huế - Dung Quất; Vùng trung

du miền núi Bắc Bộ; Vùng Tây Nguyên; Vùng đồng bằng Sông Cửu Long

Xu hướng phát triển cơ cấu thành phần kinh tế:

Hiện nay nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu như :

Sở hữu toàn dân; Sở hữu tập thể; Sở hữu tư nhân Trên cơ sở đó tất yếu nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp

Từ thực tiễn nền kinh tế nước ta, đại hội IX của Đảng xác định nền kinh tế nước ta có 6 thành phần: Kinh tế nhà nước; Kinh tế tập thể; Kinh tế cá thể tiểu chủ; Kinh tế tư bản tư nhân; Kinh tế tư bản nhà nước; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế trên tạo thành một cơ cấu kinh tế thống nhất, vừa hợp tác vừa cạnh tranh Tất cả các thành phần kinh đều là bộ phận quan trọng của nền kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa Các thành phần kinh tế vận động với xu hướng khác nhau vừa mang tính tự giác vừa mang và tính tự phát, chỉ khi kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể tỏ rõ tính ưu việt của nó về năng suất, chất lượng và hiệu quả thì nó mới trở thành xu hướng vận động của các thành phần kinh tế khác

Ngày đăng: 19/12/2015, 01:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương: (2002), Tài liệu học tập: Các nghị quyết hội nghị lần thứ V Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập: Các nghị quyết hội nghị lần thứ V Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
2. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2001), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
4. Nguyễn Sinh Cúc (1/2004), “Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2003”, Tạp chí Cộng sản tháng 1 năm 2004 (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Sinh Cúc (1/2004), “Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2003”
5. Nguyễn Sinh Cúc (1995), Nông nghiệp Việt Nam 1945- 1995. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam 1945- 1995
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
6. Cần Giờ tiềm năng và cơ hội đầu tư (1999), NXB Tạp chí Việt Nam Business (Bộ Thương Mại) Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1999), NXB
Tác giả: Cần Giờ tiềm năng và cơ hội đầu tư
Nhà XB: NXB "Tạp chí Việt Nam Business (Bộ Thương Mại)
Năm: 1999
7. Nguyễn Tấn Dũng (10/2002), “Để nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững, Nông dân giàu hơn”, Tạp chí Cộng sản. ( số 28) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Tấn Dũng (10/2002), “Để nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững, Nông dân giàu hơn”
8. Trần Bạch Đằng (9/2002), “Hướng phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản.(số 25) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Bạch Đằng (9/2002), “Hướng phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Cộng sản
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Đường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, NXB Chính tri quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính tri quốc gia
Năm: 2003
17. Minh Hoài (2/2003), “Tổng quan nông nghiệp nông thôn đầu thế kỷ 21”, Tạp chí Cộng sản (số 4+5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan nông nghiệp nông thôn đầu thế kỷ 21”
18. GS.TS. Ngô Đình Giao (1994), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân (Tập 1), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân (Tập 1)
Tác giả: GS.TS. Ngô Đình Giao
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1994
19. Chử Văn Lâm (1995), Quan điểm chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Chử Văn Lâm
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
23. PGS.TS. Chu Hữu Quí (2001), Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: PGS.TS. Chu Hữu Quí
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
24. Chu Hữu Quí (1996), Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, nông nghiệp Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Chu Hữu Quí
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
25. Hồng Vinh (1998), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hồng Vinh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1998
26. Đăng Kim Sơn (2001), Công nghiệp hoá từ nông nghiệp. Lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng vào Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hoá từ nông nghiệp. Lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng vào Việt Nam
Tác giả: Đăng Kim Sơn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
27. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn -Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn (2004), Báo cáo tóm tắt tình hình sản xuất, kinh doanh năm 2003 và phương hướngnhiệm vụ kế hoạch năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn -Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn (2004)
Tác giả: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn -Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn
Năm: 2004
30. Nguyễn Minh Triết (2000), Bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Cần Giờ khoá VIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Triết (2000)
Tác giả: Nguyễn Minh Triết
Năm: 2000
31. Nguyễn Phú Trọng (2001), “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ đông hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Cộng sản (Số 16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phú Trọng (2001), “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ đông hội nhập kinh tế quốc tế”
Tác giả: Nguyễn Phú Trọng
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP: (%GDP) - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện cần giờ thành phố hồ chí minh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 2. Tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP: (%GDP) (Trang 19)
Bảng 3. Tỷ trọng của các ngành trong GDP (%GDP) - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện cần giờ thành phố hồ chí minh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 3. Tỷ trọng của các ngành trong GDP (%GDP) (Trang 31)
Bảng 4. Tốc độ tăng dân số của huyện - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện cần giờ thành phố hồ chí minh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 4. Tốc độ tăng dân số của huyện (Trang 48)
Bảng 6. Lao động của huyện Cần Giờ 2001 - 2003 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện cần giờ thành phố hồ chí minh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 6. Lao động của huyện Cần Giờ 2001 - 2003 (Trang 50)
Bảng 7. Lao động việc làm của huyện Cần Giờ 2000 - 2003 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện cần giờ thành phố hồ chí minh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 7. Lao động việc làm của huyện Cần Giờ 2000 - 2003 (Trang 51)
Bảng 9. Tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng của các ngành trong GDP của huyện - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện cần giờ thành phố hồ chí minh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 9. Tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng của các ngành trong GDP của huyện (Trang 68)
Bảng 8:  Giá trị tổng sản phẩm xã hội  (giá cố định 1994) - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện cần giờ thành phố hồ chí minh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 8 Giá trị tổng sản phẩm xã hội (giá cố định 1994) (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w