Cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng mang những nét đặc trưng của CCKT nói chung, song do ảnh hưởng của các đặc điểm sản xuất nông nghiệp nên nó cũng có những nét đặc thù riêng [20, tr.120-12
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CAO THỊ THU HẰNG
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HƯNG YÊN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: GS.TS Cao Văn Cấp
Hà nội - 2005
Trang 2MỤC LUC
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 3
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
Chương 1 8
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 8
1.1 Lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá 8
1.1.1 Cơ cấu kinh tế 8
1.1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp 11
1.2 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn 13
1.2.1 Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 14
1.2.2 Sự cần thiết phải CDCCKT nông nghiệp 16
1.2.3 Nội dung và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 20
1.3 Kinh nghiệm CDCCKT nông nghiệp của một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ (nằm giáp danh với Hưng Yên) 26
1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Bình 26
1.3.2 Kinh nghiệm của Hải Dương 28
1.3.3 Kinh nghiệm của Hà Nam 31
Chương 2 35
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở HƯNG YÊN TRONG THỜI GIAN TỪ 1997 ĐẾN 2004 35
2.1 Các nhân tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Hưng Yên 35
2.1.1 Điều kiện địa lý - kinh tế tỉnh Hưng Yên 35
2.1.2 Về nguồn tài nguyên thiên nhiên 36
2.1.3 Tài nguyên nhân lực 39
2.1.4 Hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống 39
2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Hưng Yên 41
Trang 32.2.1 Khái quát tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 41
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp 44
2.2.3 Thực trạng cơ cấu lao động 50
2.2.4 Thực trạng về chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế 52
2.2.5 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu vùng 57
2.3 Khái quát những thành tựu và hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Hưng Yên 66
2.3.1 Những thành tích nổi bật 66
2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân của nó 69
Chương 3 72
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA HƯNG YÊN TRONG THỜI GIAN TỚI 72
3.1 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Hưng Yên 72
3.1.1 Phương hướng ngành trồng trọt 72
3.1.2 Phương hướng chuyển dịch ngành chăn nuôi 75
3.1.3 Phương hướng phát triển công nghiệp chế biến nông sản và tiểu thủ công nghiệp phục vụ cho nông nghiệp 77
3.1.4 Phương hướng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ kinh tế - đời sống 79 3.2 Giải pháp chủ yếu để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Hưng Yên trong thời gian tới 81
3.2.1 Quy hoạch, phân vùng phát triển nông nghiệp nhằm khai thác lợi thế của mỗi tiểu vùng 82
3.2.2 Giải pháp về đầu tư 86
3.2.3 Ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp 90
3.2.4 Xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng phù hợp với nền nông nghiệp Hưng Yên 94
3.2.5 Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất trong nông nghiệp 96
3.2.6 Giải pháp về thị trường 99
3.2.7 Giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 101
KẾT LUẬN 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 109
Trang 4NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CDCCKT : Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CD : Chuyển dịch CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CDCC : Chuyển dịch cơ cấu
CCKT : Cơ cấu kinh tế TBCN : Tư bản chủ nghĩa
KT - XH : Kinh tế - xã hội
SL : Số lượng VAC : Vườn, ao, chuồng LAC : Lúa, ao, cá
LA : Lúa, ao
VA : Vườn, ao KHCN : Khoa học công nghệ XHCN : Xã hội chủ nghĩa
TT : Trang trại CAQ : Chuồng, Ao, Quất
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển nông nghiệp nông thôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp, với khoảng 70% dân số hoạt động trong ngành nông nghiệp, 80% dân
số sống ở nông thôn, nên việc phát triển nông nghiệp, nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt Bởi vậy, từ 1986 đến nay Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đổi mới, phát triển nông nghiệp, nền nông nghiệp nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần vào sự ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn Tuy vậy, nhìn tổng thể thì cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta chuyển dịch còn chậm chạp, nền nông nghiệp phát triển chưa bền vững
Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, Hưng Yên, có diện tích 923km2
với hơn 1,1 triệu dân, vươn lên từ khó khăn của một tỉnh nghèo mới được tái lập (từ 01/01/1997) Những năm qua Hưng Yên đã đạt nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế kinh tế-xã hội nói chung và trong nông nghiệp nói riêng Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã mang lại những kết quả tích cực với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thời kỳ 1997-
2004 đạt bình quân 5,5% (theo giá so sánh năm 1994) Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng sản phẩm: cây lương thực-rau quả, cây công nghiệp-chăn nuôi từ 48%, 23%, 29% năm 1997 sang 34,53%, 29,63%, 35,84% năm 2004 Nông nghiệp Hưng Yên bước đầu đã mang sắc thái của một nền nông nghiệp hàng hoá
Tuy nhiên đến nay, nông nghiệp Hưng Yên vẫn chưa thoát khỏi tình trạng độc canh, sản xuất nhỏ, ruộng đất chia nhỏ, manh mún gây cản trở cho việc đưa tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp, hiệu quả thấp ở nông thôn tình trạng nông dân nghèo còn nhiều, và đời sống của họ còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn chậm
Trang 6Vì thế, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng và nêu ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh CDCCKT nông nghiệp ở Hưng Yên là cần thiết và là chủ đề của luận văn thạc sỹ của tôi
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và CCKT nông nghiệp nói riêng là một vấn đề được nhiều người quan tâm, nghiên cứu, và đã được công bố kết quả trên các sách báo, tạp chí Đó là: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn huyện Gia Lâm" (luận án PTS khoa học kinh tế của Lương Ngọc Cừ); "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn" của tác giả Nhân Đạo; "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Phú Yên" (Luận văn Thạc sĩ khoa học kinh tế của Trịnh Thị Nga năm 1999); Đỗ Thanh Phương - "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tây Nguyên theo hướng sản xuất hàng hoá"; Lê Đình Thắng - "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn - lý luận và thực tiễn" năm 1998 Hội thảo khoa học: "Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Việt Nam" do Uỷ Ban Kế Hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế Hoạch và Đầu tư) tổ chức tháng 11 năm 1994 Những chủ trương giải pháp lớn phát triển nông nghiệp nông thôn trong trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước - Tạp chí Thông tin Công tác tư tưởng, tháng 4 năm
1998, Nông nghiệp Đồng Nai chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH - Giáo sư, tiến sỹ Hồ Văn Vĩnh, 1998 và nhiều công trình khác
Tuy vậy, đến nay còn ít công trình nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên một cách toàn diện dưới góc độ kinh tế chính trị
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Từ việc hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, luận văn làm rõ thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh
Trang 7tế nông nghiệp ở Hưng Yên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Trên cơ sở đó nêu ra phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đạt hiệu quả trong những năm tới
3.2 Nhiệm vụ
Thực hiện mục đích trên luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
- Đánh giá thực trạng Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Hưng Yên nhằm rút ra những vấn đề có tính cấp thiết cần phải giải quyết
- Đề xuất phương hướng cơ bản giải pháp chủ yếu để chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Hưng Yên trong thời gian tới
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa vào những nguyên lý cơ bản của kinh tế chính trị Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển nông nghiệp, nông thôn và Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Thể hiện trong các văn kiện của các Đại hội Đảng lần thứ VII - VIII - IX và các Nghị quyết của UBND tỉnh Hưng Yên về chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp phổ biến khác của khoa học kinh tế chính trị Đặc biệt chú ý đến phương pháp khảo sát thực tế, phân tích tổng hợp những kinh nghiệm thực tiễn
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 8Luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản về CDCCKT nông nghiệp Với địa bàn là lãnh thổ tỉnh Hưng Yên - một tỉnh thuần nông nằm trong vùng Đồng Bằng Sông Hồng Thời gian từ 1997 đến hết tháng 12/2004
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy các bộ môn khoa học kinh tế có liên quan với đề tài luận văn
và có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm về CDCCKT nông
nghiệp
Chương 2: Thực trạng CDCCKT nông nghiệp ở Hưng Yên trong thời
gian từ 1997 đến nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu đẩy nhanh CDCCKT
nông nghiệp ở Hưng Yên trong thời gian tới
Trang 9Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
1.1 Lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.1 Cơ cấu kinh tế
Khái niệm "cơ cấu" được dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ các
mối quan hệ hợp thành hệ thống Cơ cấu được biểu hiện như là một tập hợp mối liên hệ hữu cơ giữa các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định, Các
Mác viết: "Cơ cấu là sự phân chia về chất lượng và một tỷ lệ về số lượng của
quá trình sản xuất xã hội" [21, tr.102]
Cơ cấu kinh tế trong giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin viết: "Cơ
cấu kinh tế quốc dân là tổng thể các cơ cấu ngành, vùng và thành phần kinh
tế Trong hệ thống các cơ cấu đó, cơ cấu ngành là quan trọng nhất"
Nhìn chung, các quan niệm đều tập trung phân tích bản chất CCKT trên các cách nhìn khác nhau:
Một là, Coi CCKT là tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong hệ thống,
các quan hệ này không phải là quan hệ riêng lẻ mà là quan hệ tổng thể hữu cơ Các quan hệ đó không chỉ là quan hệ tỷ lệ về lượng mà là quan hệ về chất lượng, quan hệ về cấu trúc bên trong
Hai là, CCKT bao gồm các bộ phận cấu thành nền kinh tế, các nhóm
ngành, các khu vực, các thành phần nằm trong hệ thống kinh tế quốc dân
Ba là, CCKT biểu hiện trong những điều kiện không gian, thời gian về
tự nhiên, kinh tế , xã hội nhất định
Bốn là, CCKT tồn tại từ các quan hệ về lượng, tỷ lệ trong các yếu tố
cấu thành nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ
Trang 10Trên cơ sở đó có thể xác định khái niệm CCKT như sau: CCKT là một phạm trù kinh tế thể hiện các mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân Nói đến cơ cấu kinh tế là nói đến mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế Mối quan hệ này phản ánh cả về mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố hợp thành
Cơ cấu kinh tế là một khái niệm rộng, phức tạp, luôn luôn biến động Việc xác định đúng khái niệm CCKT góp phần làm rõ nội dung CCKT và phương hướng CDCCKT ở Việt Nam Do cách tiếp cận, mục đích đối tượng nghiên cứu khác nhau mà chúng ta hiểu CCKT khác nhau Tuy nhiên, việc nghiên cứu CCKT phải gắn với điều kiện không gian, thời gian cụ thể mới có thể xác định được một cách khoa học CCKT đang tồn tại và xu hướng vận động của nó Đó là vấn đề cần đặt ra đối với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các địa phương nhằm xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, phát huy được nguồn nhân lực vốn có, phát triển các vùng, nâng cao đời sống nhân dân, khắc phục sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn Cơ cấu kinh tế có những đặc trưng sau:
* Cơ cấu kinh tế là phạm trù khách quan
Tính khách quan của CCKT thể hiện ở chỗ, trình độ phát triển của phân lao động xã hội và lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành CCKT[23,Tr6] Một CCKT như thế nào, xu thế chuyển dịch nó ra sao phụ thuộc vào những điều kiện khách quan: tự nhiên, kinh tế, xã hội nhất định Tương ứng với những điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong một giai đoạn lịch sử nhất định tất yếu có một cơ cấu phù hợp Theo Các Mác: trong sự phân công xã hội thì con số tỷ lệ là một tất yếu không sao tránh khỏi, một tất yếu thầm kín, yên lặng Điều đó nói lên rằng, ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, mỗi điều kiện cụ thể đều có thể xác định một
cơ cấu kinh tế hợp lý [21]
Trang 11* Cơ cấu kinh tế có tính lịch sử và xã hội cụ thể
Ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định, tính hợp lý của cơ cấu kinh tế mỗi nước, mỗi vùng phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội khác nhau Ngay cả những nước, những vùng có trình độ phát triển lực lượng sản xuất như nhau và sự giống nhau của các quan hệ xã hội, tỷ lệ trong cơ cấu kinh tế không hẳn bao giờ cũng dẫn đến những quan hệ về chất như nhau giữa các nền kinh tế [23, tr.6]
Từ đây cho thấy, trong cơ cấu kinh tế hiện hữu luôn luôn xuất hiện
những tiền đề cho sự xuất hiện CCKT mới và CCKT không phải là“bất
định”, “cố định” mà luôn có sự biến động Tính biến động của CCKT là một
quá trình, quá trình đó làm cho CCKT chuyển dịch theo hướng hoàn thiện hơn
Cơ cấu kinh tế quốc dân được cụ thể hoá qua từng loại cơ cấu cụ thể Nền kinh tế có các loại cơ cấu cụ thể chủ yếu như: cơ cấu ngành kinh tế, CCKT theo vùng và cơ cấu theo thành phần kinh tế
Giữa các loại cơ cấu đó có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau, làm điều kiện cho nhau trong quá trình phát triển, trong đó cơ cấu theo ngành kinh tế có vai trò quyết định
1.1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất có vai trò hết sức to lớn CCKT nông nghiệp là bộ phận cấu thành hết sức quan trọng trong CCKT quốc dân và có ý nghĩa rất lớn đến sự phát triển của mỗi nước [20, tr.120] Quá trình hình thành CCKT nông nghiệp được xác lập khi có sự xuất hiện của phân công lao động xã hội lần thứ nhất, nông nghiệp trở thành một ngành kinh tế mang tính độc lập tương đối, gồm có trồng trọt và chăn nuôi Trong cơ cấu trồng trọt gồm các loại cây: cây lương thực, cây hoa màu, cây công nghiệp, trong đó, còn phân công chuyên môn hoá theo những ngành nhỏ như: lúa, rau, cây có dầu, cây lấy sợi, cây lấy gỗ
Trang 12Cũng tương tự, trong chăn nuôi lại phân ra: chăn nuôi gia súc, chăn nuôi gia cầm Trong tất cả các bộ phận được cấu thành đó, luôn có sự vận động và phát triển, có sự tác động qua lại lẫn nhau, quan hệ tỷ lệ với nhau theo một tỷ
lệ nhất định, trong từng thời kỳ tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất tương ứng hình thành nên một CCKT nhất định
Có thể hiểu phạm trù CCKT nông nghiệp là tổng thể các quan hệ kinh
tế bao gồm các quan hệ tương tác giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp trong khoảng thời gian và điều kiện cụ thể nhất định Nó được biểu hiện bằng sự tương quan về số lượng và chất lượng của các mối quan hệ trên Song với sự phát triển của khoa học kĩ thuật sẽ làm thay đổi cấu tạo hữu cơ trong nông nghiệp, làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy sự phân công lại lao động xã hội, hình thành các vùng chuyên canh cũng như các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh mới [23, tr.10]
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng mang những nét đặc trưng của CCKT nói chung, song do ảnh hưởng của các đặc điểm sản xuất nông nghiệp nên nó cũng có những nét đặc thù riêng [20, tr.120-121]:
Một là, CCKT nông nghiệp mang tính khách quan và được hình thành
do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội
Hai là, Nó không cố định mà luôn luôn biến đổi, chuyển dịch phù hợp
với điều kiện kinh tế - xã hội, với sự phát triển của khoa học công nghệ diễn
ra trong từng tời kỳ
Ba là, CCKT nông nghiệp không khép kín mà ngày càng mở rộng,
quan hệ qua lại với nhau trong quá trình phân công và hợp tác lao động
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Trước hết, là phụ
thuộc vào thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông-lâm- ngư
nghiệp Thứ hai, CCKT nông nghiệp phụ thuộc vào nhóm kinh tế và tổ chức
Trong nhóm này, vấn đề về thị trường và nguồn lực đất đai, tài nguyên,
Trang 13khoáng sản có ý nghĩa hết sức quan trọng Mặt khác, hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước cũng ảnh hưởng to lớn đến quá trình hình thành, biến đổi CCKT Đặc biệt, trong nhóm này sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng bằng các chủ trương, chính sách sẽ tạo cho nền nông nghiệp thuần nông khép kín phát triển theo CCKT mở hình thành các vùng
chuyên canh hàng hoá, đa ngành, đa canh, chuyên môn hoá sản xuất Thứ ba,
Sự tác động của khoa học-công nghệ đặc biệt là hệ thống công nghệ cao như: công nghệ sinh học, công nghệ gen làm cho nông nghiệp chuyển dịch đúng
định hướng CNH, HĐH Thứ tư, Phải kể đến yếu tố con người Đây là yếu tố
có ý nghĩa quyết định đến việc xây dựng CCKT hợp lý Ngoài ra, trong nền kinh tế thị trường hiện nay CCKT nông nghiệp còn chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật thị trường: Quy luật giá trị; Quy luật cung - cầu; cạnh tranh
Vì thế, xây dựng CCKT nông nghiệp đòi hỏi phải nhận thức đúng đắn sự vận động của các quy luật khách quan, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể, tránh chủ quan duy ý chí để một mặt xác định đúng đắn CCKT nông nghiệp của giai đoạn hiện tại cả về mặt định tính và định lượng, mặt khác dự báo mô hình kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn tương lai [23, tr.11-12]
1.2 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
* Quan niệm về sự chuyển dịch CCKT nói chung
Tuỳ theo điều kiện, phạm vi, biện pháp thay đổi CCKT mà người ta có thể sử dụng các thuật ngữ khác nhau: Biến đổi CCKT, điều chỉnh CCKT, song trong đó thuật ngữ chuyển dịch CCKT mang ý nghĩa khái quát nhất Đó
là sự thay đổi CCKT do sự thay đổi các chính sách và về các mặt xã hội gây
ra, nó có thể được thực hiện một cách chủ động, có ý thức hoặc xảy ra do điều kiện khách quan
Có thể quan niệm sự chuyển dịch CCKT là sự biến đổi và vận động phát triển của các bộ phận cấu thành nó làm thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ
Trang 14và mối quan hệ tương tác giữa chúng theo thời gian dưới tác động của những nhân tố kinh tế - xã hội của đất nước và quốc tế nhất định
1.2.1 Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch CCKT nhằm biến đổi CCKT sao cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và xu thế phát triển chung của kinh tế thế giới, cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ Đó là quá trình thay đổi, điều chỉnh các yếu tố trong cấu trúc kinh tế sao cho phù hợp với điều kiện khách quan của nền kinh tế, nhằm phát triển kinh tế đạt trình độ tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững
Chuyển dịch CCKT nông nghiệp là sự thay đổi cấu trúc kinh tế nông nghiệp dựa trên sự thay đổi cơ cấu của các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế Sự biến đổi này được quy định bởi sự thúc đẩy của lực lượng sản xuất và làm cho tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành CCKT không đồng đều
Chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH là quá trình tiến hành cơ cấu lại ngành nông nghiệp, tăng dần các hoạt động sản xuất theo hướng đa ngành, đa nghề, phát triển nông nghiệp toàn diện theo lối sản xuất hàng hoá, hình thành các vùng sản xuất nông - lâm nghiệp tập trung, chuyên canh, gắn với công nghiệp chế biến và áp dụng tiến bộ khoa học- công nghệ vào sản xuất, nhằm tạo ra những sản phẩm hàng hoá chủ lực với khối lượng lớn, chất lượng cao Hay nói một cách khác, đây là quá trình thay đổi phương pháp, công cụ và công nghệ sản xuất chủ yếu là thủ công, tập quán canh tác theo lối sản xuất nhỏ bằng các phương pháp, công cụ và công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại đạt kết quả cao Trong đó, thuỷ lợi hoá, cơ khí hoá, điện khí hoá, sinh học hoá là những nội dung then chốt nhất và tương ứng với nó là giá trị sản lượng hàng hoá nông sản, sản lượng cây, con tăng lên nhanh chóng
Quá trình CDCCKT nông nghiệp phải nhằm vào [23, tr.17]:
Trang 15+ Khai thác và sử dụng tốt nhất các lợi thế so sánh của nông nghiệp trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương
+ Khai thác có hiệu quả các tiềm năng nông nghiệp: đất đai, rừng biển
+ Chuyển dịch CCKT nông nghiệp phải góp phần tạo nên khối lượng của cải vật chất ngày càng lớn, đồng thời cơ cấu sản phảm nông nghiệp phải
Chuyển dịch CCKT nông nghiệp là một quá trình lâu dài và chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan:
(1) Vị trí địa lý, khí hậu và tài nguyên thiên nhiên
Cơ cấu kinh tế của một nước, một vùng bao giờ cũng dựa vào ưu thế về
vị trí địa lý và khí hậu Vì vậy, ở những vị trí địa lý khác nhau và thời tiết khác nhau thì việc xác định CCKT cũng khác nhau
Trang 16nhanh hay chậm, phù hợp hay không phù hợp lại còn do sự tác động chủ quan của con người
(4) Nhân tố chính trị và tổ chức
Ở đây muốn nói tới đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, đặc biệt là các chính sách vĩ mô, đều có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành và CD CCKT nông nghiệp
Các nhân tố nói trên có quan hệ mật thiết với nhau và đều có tác động đến CDCCKT, do đó, nhất thiết phải được tính đến trong quá trình CDCCKT nông nghiệp
1.2.2 Sự cần thiết phải CDCCKT nông nghiệp
Để tăng tốc độ phát triển kinh tế nông nghiệp, tạo ra cơ cấu hợp lý nhất cần phải CD CCKT nông nghiệp, sự cần thiết đó xuất phát từ những yêu cầu chủ yếu sau:
Thứ nhất, CDCCKT nông nghiệp xuất phát từ vai trò, vị trí của nông
nghiệp trong đời sống KT - XH
Nông nghệp có vai trò rất quan trọng, nếu không muốn nói nông nghiệp
là khởi đầu của sự phát triển Chú ý đến nông nghiệp trong quá trình CD CCKT là xu hướng được áp dụng phổ biến trong những năm gần đây ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới
Đối với nước ta, trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn có vai trò hết sức quan trọng:
*) Nông nghiệp, nông thôn là thị trường rộng lớn của CNH, HĐH, vì đầu ra cho công nghiệp chính là nông nghiệp, nông thôn
Thật vậy, muốn công nghiệp phát triển phải có thị trường, thị trường chủ yếu là nông dân, có nâng cao được sức mua của nông dân thì mới có đầu
ra cho công nghiệp Với một thị trường đông dân và sức mua hiện nay còn rất thấp, thì tiềm năng có thể khai thác là rất lớn Có thể nói, sức mua của nông
Trang 17dân có vai trò rất quan trọng, đôi khi là quyết định đối với qui mô và tốc độ phát triển của công nghiệp và dịch vụ Kinh nghiệm các nước và thực tiễn nước ta trong những năm đổi mới đã và đang chứng minh mối quan hệ nhân quả đó Chẳng hạn, những năm được mùa, được giá, thu nhập của nông dân tăng, thì sức mua của xã hội tăng theo và ngược lại Để thoát khỏi tình trạng
đó, đòi hỏi phải rất coi trọng CDCCKT nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH, tạo thêm việc làm cho người lao động, từ đó thu nhập của nông dân được nâng lên và sức mua của thị trường cũng được cải thiện
*) Nông nghiệp, nông thôn là nơi cung cấp nguồn nhân lực cho các ngành công nghiệp, các ngành kinh tế khác để thực hiện CNH, HĐH
*) Nông nghiệp, nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống xã hội và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp
Trong các cuộc Cách mạng công nghiệp thì công nghiệp và nông nghiệp luôn đi đôi với nhau, vì thế nếu không phát triển nông nghiệp thì sẽ không thể phát triển công nghiệp Phát triển nông nghiệp là tiền đề để CNH đất nước
CDCCKT nông nghiệp còn nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, xoá đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội Thực hiện CNH-HĐH đất nước tạo thế và lực để chủ động hội nhập kinh tế với khu vực
và thế giới
Thứ hai, CDCCKT nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với việc tăng
trưởng và phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn, góp phần quan trọng thực hiện CNH, HĐH đất nước Điều quan trọng là CD CCKT nông nghiệp sẽ tác động đến việc phát triển nông nghiệp toàn diện, nâng cao năng suất lao động, khai thác có hiệu quả nguồn lực đất đai, sức lao động, cơ sở vật chất hiện có và sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế
Trang 18Chuyển dịch CCKT nông nghiệp sẽ góp phần chuyển nền nông nghiệp
từ tự cung tự cấp độc canh, thuần nông sang kinh tế hàng hoá, đa canh, đa dạng hoá
Chuyển dịch CCKT nông nghiệp sẽ làm tăng khối lượng sản phẩm hàng hoá, đáp ứng nhu cầu thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu Chuyển từ sản xuất cho nhu cầu trong nước sang sản xuất để xuất khẩu, tăng thị trường nông sản hàng hoá trong cả nước
Chuyển dịch CCKT nông nghiệp sẽ làm thay đổi tương quan giữa nông
- lâm - ngư nghiệp Trong đó, tỷ trọng nông nghiệp giảm, tỷ trọng chăn nuô i, thuỷ sản tăng lên Mối quan hệ giữa nông - lâm - ngư nghiệp sẽ đạt trình độ
và hiệu quả cao hơn
Thứ ba, CDCCKT nông nghiệp xuất phát từ yêu cầu của CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong Đại hội VIII/1996 nhằm đưa nông nghiệp nước ta trở thành nền nông nghiệp tiên tiến, kinh tế nông thôn phát triển bền vững, có cơ sở hiện đại, có CCKT hợp lý, có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao
Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành
Trung ương khoá IX đã đưa ra Nghị quyết về “Đẩy mạnh CNH, HĐH nông
nghiệp nông thôn kỳ 2001-2010” Nghị quyết Trung ương 5 chỉ rõ:
“CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình CDCCKT nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu KHCN, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên thị trường” [18, tr.42]
CNH,HĐH nông nghiệp là quá trình CDCCKT nông nghiệp theo hướng tăng nhanh giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp, dịch
Trang 19vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân ở nông thôn [18, tr.43]
Theo cách hiểu trên, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình hoàn thiện phương thức tổ chức, quản lý và ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, nhằm xoá bỏ CCKT nông thôn truyền thống, tạo sự tăng trưởng cao và lâu bền, đưa khu vực nông thôn phát triển bền vững Và như vậy, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn không chỉ đơn giản bao gồm phát triển công nghiệp nông thôn và HĐH một số công đoạn của sản xuất nông nghiệp như cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá và sinh học hoá, mà nó còn bao gồm toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống vật chất và tinh thần ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp hiện đại và phương thức tổ chức quản lý tiên tiến và CDCCKT nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH
Thứ tư, sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường là một đòi hỏi
khách quan đối với sự CD CCKT nông nghiệp
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quá trình xây dựng CCKT dựa trên những tính toán mang nặng tính chủ quan của Uỷ ban kế hoạch Nhà
nước, tuy có "tham khảo" thị trường nhưng chưa xuất phát từ yêu cầu của thị
trường, cấu trúc kinh tế của thời kỳ bao cấp trở nên kém hiệu quả, do vậy tất yếu phải xây dựng CCKT mới phù hợp hơn Ở đây thị trường đã đặt yêu cầu cho việc CD CCKT nông nghiệp, đòi hỏi sản xuất nông nghiệp phải gắn với nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước CD CCKT nông nghiệp nếu không xuất phát từ yêu cầu khách quan của thị trường thì dẫn đến kém năng
động và hiệu quả
1.2.3 Nội dung và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trang 20Tổng kết 15 năm đổi mới, Đại hội IX của Đảng (4/2001) nêu rõ định
hướng cho việc phát triển các ngành và các vùng là "Phát triển và CDCCKT
theo hướng CNH, HĐH Nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế, tăng sức cạnh tranh CDCCKT, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh trong nước và ngoài nước, nhu cầu đời sống nhân dân và quốc phòng
an ninh, tạo thêm sức mua của thị trường trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu" [16, tr.26]
Hội nghị TW 5 khoá IX (18/03/2002) đã ra Nghị quyết về "Đẩy mạnh
CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn thời kỳ 2001-2010" đã chỉ rõ nội dung
tổng quát của CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn bao gồm: CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình CDCCKT nông nghiệp theo hướng sản xuất nông nghiệp lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quy hoạch sản xuất phù hợp Xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông thôn [13, tr.42-43]
*) Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Một là, CD CCKT nông nghiệp- nông thôn theo hướng sản xuất hàng
hoá và mở rộng sự phân công hợp tác
Đây là xu thế tất yếu, tiến bộ và phù hợp với xu thế phát triển chung của các nước kém phát triển trên thế giới Kinh tế nông nghiệp là một khu vực kinh tế ra đời rất sớm và đã trải qua nhiều lần chuyển dịch Sự chuyển dịch lần đầu tiên là từ kinh tế sinh tồn sang kinh tế tự cấp, tự túc Tiếp theo là từ kinh tế tự cung, tự cấp sang kinh tế hàng hoá giản đơn Sau đó, chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trường
Trang 21Đó là con đường tất yếu, không còn cách nào khác khi muốn thu nhập của kinh tế nông nghiệp, nông thôn và của người dân được nâng lên CDCCKT nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá đảm bảo cho nền kinh
tế vận động đúng mục tiêu, năng suất, chất lượng, hiệu quả Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tất yếu phải xoá bỏ tự cung, tự cấp trong phạm
vi làng, xã tiến tới mở rộng sự hợp tác với các vùng trong nước và quốc tế Từ
đó, sẽ giúp nông dân nâng cao trình độ, năng lực sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Hai là, CDCCKT nông nghiệp theo hướng chuyển từ độc canh thuần
nông sang đa canh, đa dạng hoá ngành nghề, gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến và dịch vụ
Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã khẳng định “đặc biệt coi trọng
CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản…” [14, tr.86-87]
Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) khẳng định:
“Chuyển dịch mạnh CCKT nông nghiệp, nông thôn theo hướng tạo ra các vùng sản xuất hàng hoá tập trung chuyên canh, thâm canh, có năng suất cao, chất lượng cao, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, gắn với chế biến, tiêu thụ…” [16]
Nông nghiệp có cơ cấu nội tại rất phức tạp, biểu hiện ở các bộ phận cấu thành hệ thống nông nghiệp và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận
ấy Sự hình thành và vận động của cơ cấu nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế và tổ chức, khoa học và công nghệ, tự nhiên và xã hội… Với tiềm năng đa dạng về sinh thái, nước ta có nhiều thuận lợi để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện
Như vậy, muốn cho hiệu quả sản xuất nông nghiệp ngày càng cao, không có con đường nào khác là phải chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thay những loại cây con có năng suất
Trang 22thấp, giá trị thấp bằng những loại cây, con có năng suất cao, giá trị lớn, các hoạt động dịch vụ cho nông nghiệp tạo hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở thâm canh tăng năng suất, sản phẩm có chất lượng cao, tạo ra một sự chuyển biến
rõ rệt theo hướng sản xuất đa dạng, khai thác lợi thế các vùng sinh thái, hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hoá
Do đó, phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá không thể tách rời sự phát triển của các ngành kinh tế có liên quan như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, góp phần làm thay đổi CCKT và bộ mặt nông thôn, thu hút lao động, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ vừa có
ý nghĩa to lớn trong việc tạo việc làm cho người lao động, vừa làm tăng hiệu quả cho kinh tế nông thôn, nâng cao mức thu nhập và đời sống cho dân cư nông thôn Vì vậy, thực hiện nội dung CDCCKT nông nghiệp, nông thôn còn phải giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng các ngành sản xuất ngoài nông nghiệp
Phát triển mạnh nền nông nghiệp hàng hoá hướng vào xuất khẩu là nội dung quan trọng của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta, là một định hướng quan trọng mà Đảng ta xác định hiện nay Phát triển công nghiệp chế biến và các hoạt động dịch vụ trên địa bàn nông thôn sẽ tạo điều kiện cho trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản có năng suất, chất lượng cao và phát triển mạnh để phá vỡ trạng thái khép kín, trì trệ, lạc hậu vốn có của nền nông nghiệp nhỏ ở nước ta, tăng nhanh sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, tạo cơ sở cho công nghiệp phát triển
Việc phát triển các làng nghề truyền thống ở nông thôn sẽ cho phép mở rộng khả năng khai thác các tiềm lực kinh tế của từng địa phương và phù hợp với xu hướng CDCCKT nông thôn theo hướng CNH, HĐH Sự phát triển ngành nghề và làng nghề sẽ góp phần thúc đẩy CDCCKT nông thôn theo
Trang 23hướng giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
Phát triển mạnh mẽ các hoạt động dịch vụ ở nông thôn bao gồm cả các hoạt động dịch vụ cho sản xuất (làm đất, tưới tiêu, vốn, dịch vụ đầu vào và đầu ra) và dịch vụ đời sống (cung cấp các hang hoá công nghệ phẩm, sản phẩm văn hoá, phát triển chợ…) sẽ tạo điều kiện đáp ứng tốt nhất yêu cầu của phát triển kinh tế hàng hoá Sự phát triển của dịch vụ chính là quá trình hoàn thiện sự phân công lao động xã hội, thúc đẩy quá trình phát triển của kinh tế hàng hoá Phát triển dịch vụ còn đáp ứng nhu cầu nâng cao mức sống của nhân dân và yêu cầu mở cửa với bên ngoài, đồng thời còn là biện pháp tạo ra việc làm trong nông thôn
Đẩy mạnh công nghiệp chế biến để tạo ra giá trị gia tăng của nông sản hàng hoá, tạo thêm nhiều việc làm tại chỗ cho dân cư nông thôn là nhiệm vụ cấp bách của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay Một nền nông nghiệp đa ngành, tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm nhưng nếu không có công nghiệp chế biến thì hiệu quả cuối cùng sẽ không cao
Ba là, CDCCKT nông nghiệp phải theo hướng chuyển từ kỹ thuật thủ
công lạc hậu, sản xuất theo tập quán thói quen cũ sang CCKT dựa trên kỹ thuật công nghệ hiện đại
Khi phân tích sản xuất hàng hoá TBCN, Các Mác đặc biệt lưu ý cấu tạo hữu cơ tư bản Trong quá trình CNH, xu hướng chung ở các nước TBCN là cấu tạo hữu cơ tăng nhanh Còn ở các quốc gia nông nghiệp như nước ta, kinh
tế kém phát triển, cấu tạo hữu cơ trong nông nghiệp hết sức thấp, sản xuất nông nghiệp phần lớn sử dụng kỹ thuật thủ công lạc hậu và kinh nghiệm cổ truyền nên năng suất lao động kém là đương nhiên Từ đó, gây nên những tổn thất sau thu hoạch chế biến sản phẩm và làm giảm giá trị hàng hoá
Để xây dựng CCKT nông nghiệp dựa trên kỹ thuật công nghệ hiện đại, cần phải tiến hành phân công lại lao động và chuyên môn hoá sản xuất Kỹ
Trang 24thuật và công nghệ hiện đại chỉ phát huy hiệu quả trên cơ sở lao động đã được phân công và có trình độ chuyên môn cao Ở nước ta, CNH-HĐH nông nghiệp được thực hiện từ điểm xuất phát thấp, điều kiện khó khăn Vì vậy, phải tăng cường đầu tư trang thiết bị, vật tư , kỹ thuật thích hợp, kết hợp với việc cải tiến, HĐH các công nghệ đang sử dụng Đó chính là giải pháp để phá
vỡ tư duy bảo thủ, trì trệ dựa vào kinh nghiệm cổ truyền, coi thường KHCN ở một số vùng nông thôn hiện nay
Trang 25*) Xu hướng chung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp
và thuỷ sản Trong quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, tỷ trọng của nông nghiệp tuy có giảm xuống, nhưng vai trò, vị trí của nông nghiệp không
hề giảm sút, mà trái lại nó luôn luôn giữ vai trò hết sức quan trọng trong đời sống KT - XH Đó là ngành cung cấp những nông sản hàng hoá về lương thực, thực phẩm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của nhân dân, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp tồn tại và phát triển giữ vững cân bằng sinh thái đảm bảo môi trường sống cho con người
Mục tiêu của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở áp dụng những thành tựu KHCN hiện đại, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, văn minh, CCKT hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng KT - XH phát triển ngày càng hiện đại
Do vậy, CDCCKT nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH phải được diễn
ra theo xu hướng dưới đây:
Phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá toàn diện bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản Từ đó, ưu tiên đầu tư khai thác các nguồn lực để nâng dần tỷ trọng các ngành nghề: nông - lâm - thuỷ sản trong cơ cấu nông nghiệp theo nghĩa rộng; nuôi trồng trong cơ cấu ngành thuỷ sản; trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng trong ngành lâm nghiệp, chăn nuôi trong ngành nông nghiệp; cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thực phẩm trong ngành trồng trọt
+) Hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá, tập trung qui mô lớn (trên cơ sở khai thác và phát huy đầy đủ các tiềm năng, lợi thế so sánh về đất đai, mặt nước, khí hậu thời tiết…) Gắn sản xuất với chế biến để nâng cao chất lượng hàng hoá, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Trang 26+) Ưu tiên phát triển các ngành (cây trồng, vật nuôi) có điều kiện thuận lợi ứng dụng các thành tựu KHCN mới nhất, quá trình sản xuất tiên tiến, nâng cao tỷ trọng các khâu sản xuất được hiện đại hoá trên cơ sở 6 hoá: Thuỷ lợi hoá, sinh học hoá, cơ giới hoá, hoá học hoá, điện khí hoá, tự động hoá nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm
và phát triển bền vững Đây là một xu hướng chủ yếu trong quá trình CDCCKT nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH nhằm tạo ra những sản phẩm
có hàm lượng KHCN cao và giá trị gia tăng lớn
+) Nông nghiệp gắn với nông thôn, do vậy CDCCKT nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH phải gắn liền với CDCCKT nông thôn, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa Trong quá trình CNH, HĐH, CCKT nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ,
tỷ trọng của nông nghiệp giảm một cách tương đối, mặc dù qui mô không ngừng được mở rộng
1.3 Kinh nghiệm CDCCKT nông nghiệp của một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ (nằm giáp danh với Hƣng Yên)
1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Bình
Thái Bình là một tỉnh thuần nông đất chật người đông, gần 80% sống ở nông thôn và dựa chủ yếu vào nông nghiệp Những năm qua, Tỉnh Thái Bình
có nhiều nỗ lực trong phát huy nội lực và tranh thủ ngoại lực, Đảng bộ và nhân dân Thái Bình ý thức được rằng: một tỉnh thuần nông muốn thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu thì phải đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn với nội dung chủ yếu là CDCCKT nông nghiệp Đến nay, CCKT nông nghiệp
đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỉ trọng chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, giảm dần tỉ trọng trồng trọt đặc biệt là lúa Năm 2003, tỉ lệ trồng trọt giảm đáng kể so với năm 2000 là 5,96%, từ 75,56% (2000) còn 69,6% (2003)
Tỉ lệ chăn nuôi tăng 5,4%, từ 21,34% năm 2000 lên 26,73%, trong đó sản
Trang 27lượng thịt hơi xuất chuồng là 67.000 tấn Dịch vụ nông nghiệp tăng 0,57%, từ 3,1% (2000) lên 3,67% (2003) [9]
Nghiên cứu về sự CDCCKT nông nghiệp của Thái Bình, chúng tôi có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:
(1) Thái Bình đã tập trung thực hiện chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng những tiến bộ khoa học-kĩ thuật vào sản xuất Do vậy, năng suất lúa không ngừng tăng Từ những năm 70, Thái Bình đã đạt 5 tấn/ha và đến nay, năng suất lúa tăng 2,5 lần (2003 năng suất bình quân đạt 12,5 tấn/ha) Kết quả trên đã đưa Thái Bình trở thành lá cờ đầu trong phát triển thâm canh, tăng năng suất lúa của cả nước
Thái Bình cũng chú trọng xây dựng các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi điển hình như: xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Phụ với công thức luân canh: lúa + cải hai đợt + ớt; lúa + hành sớm + bí đao đông… Do đó, đã cho thu nhập từ 50 - 60 triệu đồng/ha/năm [2, tr.9]
Song song với giảm diện tích trồng lúa nhằm phá thế độc canh Thái Bình tăng cường thực hiện trồng các cây thực phẩm, cây công nghiệp hàng năm: Vừng, đay, cói, lạc, mía, thuốc lào, đậu tương Điển hình là xã Thuỵ An huyện Thái Thuỵ thực hiện công thức luân canh: thuốc lào + dưa gang xuất khẩu +lúa mùa + hành tỏi cho thu nhập từ 62 đến 100 triệu đồng/ha Với diện tích cây công nghiệp hàng năm là 7.925 ha/2003 đã cho sản lượng thu về là 27.594 tấn Phát triển cây ăn quả: cam, quýt, nhãn, soài… Đồng thời, chuyển 4.000 ha đất ruộng lúa thu nhập thấp sang mô hình lúa + cá, nên đã làm cho giá trị sản xuất ngành thuỷ sản tăng lên [2, tr.13]
(2) Ngoài việc phát huy vai trò của hộ nông dân tự chủ sản xuất kinh doanh, Thái Bình chú ý đến sự phát triển các trang trại trong nông nghiệp Hiện nay, toàn tỉnh Thái Bình có 347 trang trại chia làm nhiều loại hình sản xuất (6 loại) TT trồng cây lâu năm; TT trồng cây hàng năm; TT chăn nuôi; TT
Trang 28lâm nghiệp; TT nuôi trồng thuỷ sản; TT kinh doanh tổng hợp, với tổng số vốn của TT là 65.873 triệu đồng đem lại thu nhập là 14.555 triệu đồng [9]
(3) Để phục vụ cho việc CDCCKT nông nghiệp, nông thôn, Thái Bình chú trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; điện, đường, trường, trạm và nước sạch Đến nay, 100% số xã, phường, thị trấn đã hoàn thành các chương trình trên Thái Bình là một tỉnh dẫn đầu cả nước về xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn
Riêng về nông nghiệp, Thái Bình đã huy động trên 4.500 tỷ đồng đầu
tư cho phát triển nông nghiệp để xây dựng mới và nâng cấp các công trình thuỷ lợi bê tông hoá kênh mương tưới tiêu và trang bị máy móc, công cụ sản xuất thay thế cho nhiều khâu lao động nặng nhọc hiệu quả thấp: 5 năm qua đã tăng 82,5% máy bơm, máy kéo nhỏ tăng 4 lần, máy tuốt tay tăng 63,8 lần, máy nghiền thức ăn gia súc tăng 17,6 lần so với năm 1990
Ngoài ra, Thái Bình rất quan tâm đến sự phát triển các dịch vụ ở nông thôn; dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ phòng chống bệnh tật cây trồng, vật nuôi…
(4) Khôi phục và phát triển các làng nghề Phát triển tiểu thủ công nghiệp địa phương phục vụ nhu cầu CDCCKT nông nghiệp, nông thôn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong tỉnh và tham gia xuất khẩu
1.3.2 Kinh nghiệm của Hải Dương
Hải Dương từ khi tái lập đến nay, phong trào CD CCKT nông nghiệp
đã sớm đi vào thực tiễn và thu được những thành tựu đáng khích lệ
Với diện tích tự nhiên 1.648km2
Dân số là 1.696.230 người với mật độ trung bình 1.029 người/km2 Toàn tỉnh gồm 12 đơn vị hành chính: TP Hải Dương và 11 huyện Hải Dương nằm trong trung tâm châu thổ sông Hồng tiếp giáp với năm tỉnh và hai thành phố, đồng thời cũng là tỉnh nằm trong vùng tam giác phát triển kinh tế Hà Nội- Hải Phòng - Quảng Ninh Hải Dương có hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, đường thuỷ thuận lợi
Trang 29(sông Hồng, sông Luộc ) chảy qua, tạo điều kiện cho Hải Dương - một mảnh đất phì nhiêu - rất thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp (lúa, vải, đay, cói ) Hải Dương cũng là quê hương của tập đoàn cây vụ đông có giá trị cao Bên cạnh đó, Hải Dương có nghề chăn nuôi khá phát triển với đàn gia súc khá phong phú, có quốc lộ 5 tuyến đường huyết mạch của các tỉnh Đông Bắc chạy qua rất thuận lợi cho Hải Dương thực hiện mở rộng thị trường, trao đổi hàng hoá nông sản
Trong chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hoá, UBND tỉnh đã phê duyệt nhiều đề án như: "hướng dẫn nông dân
chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn", “chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi nhằm đạt giá trị sản xuất 36 triệu đồng/ha đất nông nghiệp/ năm vào năm 2005 " và nhiều văn bản khác Có thể nói, sau 7 năm tái
lập tỉnh, kinh tế của Hải Dương đã phát triển đáng kể Cơ cấu công - nông - dịch vụ có bước chuyển dịch Năm 1997, con số tương ứng là 36,6% - 35,4%
- 28,0% đến năm 2003, 2004 là 41% - 30,5% - 28,5% Từ đó cho thấy trong nông nghiệp đã có xu hướng giảm dần tỷ trọng trong cơ cấu chung là 4,1% Bản thân cơ cấu nông nghiệp đã có sự chuyển dịch giảm dần tỷ trọng trồng trọt là 2,02% từ 72,22% (1997) giảm còn 70,2% Tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng lên nhưng không đáng kể từ 26,32% (1997) lên 27,4% (2003, 2004) Ngành dịch vụ nông nghiệp cũng tăng từ 1,6 % (1997) lên 2, 4% (2003) [8]
Ngành trồng trọt đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm cây lương thực, tăng cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây màu Đó là xu hướng tích cực lành mạnh trong quá trình CDCCKT ở Hải Dương Ngoài ra, Hải Dương có nhiều điển hình về CDCC cây trồng, đó là: Thạch Khôi (Gia Lộc) thực hiện mô hình chuyên canh sản xuất hành tây, tỏi tây rau giống giá
trị đạt 177 tấn/ha Mô hình luân canh một vụ chiêm xuân hai vụ mầu" là 47,5
ha với năng xuất đạt 6,9 tấn/ha/vụ, tiếp đó trồng dưa hè (dưa mật thế giới, dưa hắc nữ nhân) năng xuất bình quân 27,7 tấn/ha thu hoạch khoảng 41,5 triệu
Trang 30đồng/ha Sau đó lại canh tác cây vụ đông: cây hành tây, tỏi tây sớm thu được bình quân 57 triệu đồng/vụ vào khoảng 110 triệu đồng/ha/năm
Mô hình ba luân canh: hai lúa và một mầu là 164 ha: hành tây tỏi tây chính vụ thu nhập bình quân 57 triệu đồng/ha/năm; 100 ha trồng rau xanh (bắp cải, xu hào, cải, củ) thu nhập bình quân 20 triệu đồng/ha Như vậy, hệ số quay vòng ruộng đất bình quân 3,51 lần [2, tr.45]
Bên cạnh đó, xã Đức Chính đã biết sử dụng yếu tố tự nhiên kết hợp với
sự lựa chọn giống cây thích hợp Đó là chuyên canh cà rốt với diện tích 130
ha cho năng suất 1ha đạt hơn 30 tấn/vụ, thời gian canh tác 8 tháng, quay vòng được 2 vụ, bình quân năng suất cả năm là 60 tấn/ha Thực hiện chiến lược sản xuất rau sạch với các tiêu chuẩn quy định của các tổ chức khoa học trong và ngoài nước nên cà rốt có giá từ 1.300đồng/kg đến 1.500 đồng/kg (cao 2000đồng) cho thu nhập 80 triệu đồng/ha Như vậy, với 130 ha Đức Chính thu nhập hơn 10 tỷ đồng [2,tr.48,49]
Đối với ngành chăn nuôi: tỷ trọng chăn nuôi tăng từ 26,32% (1997) lên 27,4% (2003) trong đó sản lượng thuỷ sản 9.963 tấn (1997) lên 24.129 tấn (2003) Gia súc có số lượng 6.404.186 con (1997) tăng lên 9.447.056 (2003) nhưng đàn trâu giảm 16.813 con từ 41.473 (1997) xuống 24.660 con Gia cầm tăng 2.263.692 con Giá trị sản xuất lâm nghiệp là 19.888 triệu đồng với diện tích 9.049 ha từ đó đã đem lại giá trị sản xuất nông nghiệp lớn cho tỉnh Hải Dương [8]
- Về cơ cấu thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước vẫn giữ vị trí chủ
đạo Giá trị sản xuất của thành phần kinh tế nông nghiệp tăng lên đáng kể từ 42.483 triệu đồng (1997) lên 77.901 triệu đồng (2003) ( chủ yếu là các nông, lâm trường, trung tâm trạm trại, xí nghiệp, thuỷ lợi ) Kinh tế ngoài nhà nước cũng được dần dần phát triển Có tổng doanh thu tăng từ 2.459.163 triệu đồng (1997) lên 4.216.658 triệu đồng (2003) Các hợp tác xã Chuyên đã được thành
Trang 31lập Từ nghiên cứu CDCCKT nông nghiệp ở Hải Dương có thể rút ra kinh nghiệm sau đây:
+) Nhìn chung, trong điều kiện đất chật người đông mật độ trung bình 1.029 người/km2, Tỉnh Uỷ UBND Hải Dương đã có nhiều chính sách thực hiện CDCCKT Tuy nhiên, sự CDCCKT nông nghiệp có tiến bộ nhưng còn chậm
+) Đã thực hiện dồn thửa đổi vùng" chuyển từ sản xuất lương thực
sang thả cá ở một số huyện kết quả đáng khả quan
+) Chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã có sự chuyển biến theo hướng đa dạng hoá cây trồng: lúa, nhãn, vải, chè, lạc, cói và cơ cấu mùa vụ, xoá dần độc canh cây lương thực tăng cường các cây công nghiệp ngắn ngày, hoa quả, cây đặc sản chú trọng phát huy những thế mạnh của tỉnh như chăn nuôi thuỷ sản, đặc biệt là tôm, phát triển đàn bò, gia cầm, trồng vải (Thanh Hà) phục vụ cho thị trường trong tỉnh và xuất khẩu
+) Đã hình thành một số vùng phát triển nông nghiệp tập trung
+) Có chính sách khuyến khích kinh tế hộ và kinh tế tư nhân phát triển, tạo điều kiện để các hình thức kinh tế này mạnh dạn bỏ vốn đầu tư sản xuất nông nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu
+) Kết hợp với việc sản xuất gắn chặt thị trường, chú trọng quảng bá sản phẩm, tích cực chuyển giao công nghệ tăng hệ số vòng quay của đất
1.3.3 Kinh nghiệm của Hà Nam
Vốn là một tỉnh thuần nông, CCKT khép kín, lại vừa mới được tái lập
từ 1997 Diện tích 851,7km2; dân số là 817.557 với mật độ trung bình khoảng
960 người/km2 Toàn tỉnh gồm 6 đơn vị hành chính: Thị xã Phủ Lý và 5 huyện Hà Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi: nằm giáp sông Hồng, được phù sa bồi đắp rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Mặt khác, Hà Nam là một tỉnh có quốc lộ I quan trọng chạy qua nối liền sự giao lưu, trao đổi mọi miền Tổ quốc, đặc biệt năm 2004 đã cùng với Hưng Yên xây xong cầu Yên
Trang 32Lệnh, đó cũng là điều kiện thuận lợi để Hà Nam giao lưu kinh tế với Hưng Yên và các tỉnh phía Bắc
Nhận thức được vị trí địa lý và điều kiện KT - XH của một tỉnh vừa tái lập Đảng bộ và nhân dân Hà Nam đã đưa Nghị quyết TW 5 khoá IX và Nghị quyết số 09 của Chính phủ vào thực tiễn CDCCKT nông nghiệp Đặc biệt,
UBND tỉnh Hà Nam đã xây dựng và phê duyệt nhiều đề án như: “dồn điền
đổi thửa”, “trồng thông lấy nhựa”, phát triển chương trình “nạc hoá” đàn lợn; “sind hoá” đàn bò, các mô hình luân canh được áp dụng có hiệu quả
Có thể nói, cho đến nay, kinh tế của Hà Nam đã phát triển vượt bậc: Tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế chung của tỉnh đã giảm từ 52,6% (1997) còn 33,72% Cơ cấu giá trị của ngành nông nghiệp: Trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ là: 74,2% - 24,8% - 1% (năm 1997) sang 68,8% - 28,7% - 2,5% (năm 2003) CCKT nông nghiệp đã có sự chuyển dịch tích cực, quỹ đất nông nghiệp đã giảm 407 ha so với 1997 để chuyển sang chăn nuôi thuỷ sản hoặc trồng cây ăn quả cho thu nhập cao
Riêng 2003, Hà Nam đã xuất khẩu được 17536 tấn gạo gấp 2,7 lần so với năm 1997 Kết quả đó đem lại thu nhập là trên 30 triệu đồng/ha, giá trị kim ngạch xuất khẩu là 32 triệu USD, thu ngân sách 929 tỷ đồng [10]
Qua nghiên cứu CDCCKT nông nghiệp ở Hà Nam, có thể rút ra vài kinh nghiệm sau đây:
+) Mặc dù còn có những khó khăn nhưng Hà Nam đã dốc sức tập trung đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong trồng trọt, chăn nuôi, đẩy nhanh tốc độ phát triển nông nghiệp, vươn tới nền nông nghiệp hàng hoá
+) Chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng đa canh, sản xuất hàng hoá
- Xây dựng những công thức luân canh hợp lý như: lúa + cá + cây ăn quả; rừng + sắn, tre, luồng, nứa, VAC Trong đó nhiều mô hình sản xuất đạt
từ 40 đến 70 triệu đồng/ha
Trang 33- Cùng với việc cắt giảm diện tích đất trồng lúa, Hà Nam trung bình đã chuyển 9670 ha đất sử dụng vào khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, phát triển các trang trại cá + lợn đi đôi với xây dựng mô hình VAC
Phát triển hệ thống cây công nghiệp - cây ăn quả chủ yếu như: cam, quýt, bưởi, nhãn, vải, đay, dâu tằm, đỗ tương, sắn Do đó, diện tích cây công nghiệp lâu năm tăng 100,4 ha
+) Phát huy quyền tự chủ của hộ nông dân đi đôi với việc phát triển các trang trại: Cá, lợn, gà, vịt ở Duy Tiến, Kim Bảng, Lý Nhân nhằm nâng cao năng suất và thu nhập cho các hộ
+) Chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông nông thôn, điện, nước
và công nghiệp chế biến phục vụ nông nghiệp, thúc đẩy CDCCKT nông nghiệp tăng tốc trong những năm qua
Tóm lại, CDCCKT nông nghiệp theo hướng ngày càng tiến bộ là một xu thế tất yếu khách quan của nền kinh tế mỗi quốc gia, vừa có những nét chung mang tính qui luật, vừa có những nét riêng mang tính đặc thù phù hợp với yêu cầu
và điều kiện của nền kinh tế mỗi quốc gia, mỗi tỉnh trong từng thời kỳ lịch sử
Do vậy, mỗi vùng, mỗi tỉnh muốn ổn định kinh tế, chính trị, phải thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Đặc biệt phải chú trọng đến CDCCKT nông nghiệp vì quá trình này không chỉ đơn thuần làm tăng tốc độ
và tỷ trọng nông - công nghiệp, mà còn là quá trình làm cho tỷ trọng chăn nuôi và thuỷ sản tăng lên so với tỷ trọng trồng trọt thuần tuý
Chính vì vậy, thấu suốt được sự cần thiết, nội dung và xu hướng CDCCKT nông nghiệp đặc biệt là điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội ở Hưng Yên giúp chúng ta xây dựng phương hướng, biện pháp thích hợp để biến nền sản xuất thuần nông, độc canh khép kín, công nghệ lạc hậu sang nền kinh tế đa canh, với mô hình luân canh hiện đại tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá phục vụ tốt nhu cầu trong tỉnh và giao lưu hội nhập với các tỉnh trong nước và các quốc gia trên thế giới đưa nông nghiệp ở Hưng Yên
Trang 34thoát khỏi nghèo đói, lạc hậu từng bước đi lên vững chắc, nhân dân Hưng
Yên có cuộc sống ấm no hạnh phúc
Trang 35Chương 2
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Ở HƯNG YÊN TRONG THỜI GIAN TỪ 1997 ĐẾN 2004
2.1 Các nhân tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Hưng Yên
2.1.1 Điều kiện địa lý - kinh tế tỉnh Hưng Yên
Hưng Yên là một tỉnh được tái lập từ 01/1/1997 Vị trí của Hưng Yên nằm ở trung tâm Đồng bằng Sông Hồng, có ranh giới tiếp giáp với 6 tỉnh và thành phố Phía Bắc giáp thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh, phía Nam giáp các tỉnh Hà Nam và Thái Bình, phía Tây giáp tỉnh Hà Tây, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương Với diện tích 923km2, dân số 1,1 triệu người Hưng Yên là tỉnh đồng bằng thuần tuý (không có núi, rừng, biển) Toàn tỉnh gồm 10 đơn vị hành chính sự nghiệp: Thị xã Hưng Yên và 09 huyện; Văn Giang, Khoái Châu, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Văn Lâm, Kim Động, Ân Thi, Tiên Lữ, Phù Cừ
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ ( Hà Nội - Hưng Yên - Hải Dương - Hải Phòng - Quảng Ninh), Hưng Yên có các tuyến giao thông quan trọng đi qua: quốc lộ 5A, đường 39A, đường 39B và đường sắt Hà Nội - Hải Phòng Từ 2004 Cầu Yên Lệnh đã hoàn thành là chiếc cầu nối liền Hưng Yên - Hà Nam - Hà Tây và các tỉnh phía Nam, cùng 72km đường đê nhựa hoá, tạo cho Hưng Yên có mạng lưới giao thông thuận lợi đến với các trung tâm kinh tế- khoa học kỹ thuật và đô thị lớn của vùng và cả nước
Hệ thống sông Hồng dài 60km, sông Luộc dài 21km qua Hưng Yên Công trình đại thuỷ nông Bắc - Hưng - Hải phục vụ kịp cho chống hạn, tiêu úng Tạo điều kiện cho phát triển giao thông đường thuỷ, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
Tóm lại, vị trí địa lý đã mang lại cho Hưng Yên một số lợi thế khá cơ bản là:
Trang 36+ Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có nhiều đô thị lớn, khu công nghiệp, trung tâm văn hoá, khoa học kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế phát triển nên có nhiều cơ hội và động lực quan trọng cho sự phát triển của Hưng Yên
+ Nằm tiếp giáp với các đô thị lớn, các trung tâm Văn hoá - Du lịch, các khu công nghiệp phát triển Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, nên Hưng Yên có thị trường tiêu thụ nông sản thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ lớn,
sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp - nông thôn của Hưng Yên, đồng thời có thể tranh thủ sự hỗ trợ về đào tạo và chuyển giao công nghệ từ các trung tâm khoa học kỹ thuật lớn như: Hà Nội, Hải Phòng
2.1.2 Về nguồn tài nguyên thiên nhiên
*) Về tài nguyên khí hậu
Hưng Yên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, gió mùa nóng ẩm và mùa đông lạnh Nhiệt độ bình quân trong năm khoảng 23,70
C, trong đó trung bình tháng cao nhất là 29,30
C và tháng thấp nhất là 160
C Tổng tích ôn trung bình từ 8.500-8.6000
C/năm, có lượng mưa trung bình 1.450 - 1.650 mm/năm, tập trung chủ yếu tới 70% vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Thời kì khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Độ ẩm bình quân các tháng trong năm
là 85,5% Số giờ nắng bình quân đạt 1.531giờ/năm (chủ yếu cao nhất vào tháng 7 là 200 giờ, tháng 2 thấp nhất là 42 giờ)
Như vậy, khí hậu thời tiết của Hưng Yên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, cho phép canh tác nhiều vụ cây trồng ngắn ngày trong năm
và thích hợp để bố trí một cơ cấu cây trồng, vật nuôi đa dạng có nguồn gốc nhiệt đới - á nhiệt đới và cả một số cây trồng (đặc biệt rau, hoa quả ) có nguồn gốc ôn đới
*) Về tài nguyên đất
Về đặc điểm địa hình: Nằm trong vùng đồng bằng Sông Hồng, địa hình của Hưng Yên tương đối đồng nhất và khá bằng phẳng, dốc thoải theo hướng
Trang 37Tây Bắc - Đông Nam Độ cao trung bình so với mực nước biển từ 3 - 4m Từ
đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho bố trí sản xuất, dân cư và phát triển cơ sở hạ tầng, trừ tiểu vùng trũng thấp như: Phù Cừ, Ân Thi, Tiên Lữ dễ bị úng ngập trong mùa mưa
Về đất đai: Hưng Yên có tổng diện tích tự nhiên là 92.309,3km2
Dân
số là 1.113.489 người Do đó mật độ dân số là 1.206 người/km2
Từ đây cho thấy: Hưng Yên là một trong 4 tỉnh có diện tích tự nhiên nhỏ nhất (chiếm 6,24%diện tích vùng Đồng bằng Sông Hồng và 0.28% diện tích cả nước); mật độ dân số năm 2004 cao hơn khoảng 2% so với vùng đồng bằng Sông Hồng và gấp gần 5 lần mật độ bình quân cả nước [42, tr.4]
Cơ cấu tài nguyên đất đai thể hiện như sau:
Hạng mục Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
100 93,47 67,82 17,59 7,32 0,74 6,53 0,55 1,96 4,02
Nguồn: Quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh Hưng Yên [35, tr.5]
Nhận xét: Tài nguyên đất của Hưng Yên hầu như đã được tổ chức khai thác sử dụng khá triệt để Trong cơ cấu sử dụng đất, đất dùng vào sản xuất nông nghiệp chiếm 67,82% Quỹ đất chưa sử dụng còn lại là 6,53% Như vậy,
Trang 38khả năng mở rộng diện tích đất cho sản xuất và các mục đích khác hầu như còn không đáng kể
Thổ nhưỡng: Nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, đặc điểm thổ nhưỡng của Hưng Yên gắn liền với quá trình bồi đắp của phù sa từ hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, nên về cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển của một nền nông nghiệp thâm canh cao, với cơ cấu sản phẩm đa dạng Đây là cơ
sở khá thuận lợi để Hưng Yên chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển nông sản hàng hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả sử dụng đất
*) Tài nguyên nước
Gồm hai nguồn nước mặt và nước ngầm:
- Nước mặt: Khá dồi dào từ hệ thống sông Hồng, sông Luộc (riêng sông Hồng có lưu lượng dòng chảy 6.400m3/s, chiếm 15% tổng lượng nước sông của cả nước) và các sông ngòi nội đồng (Sông Sặt, Chanh, Cửu Yên, Tam Độ ) tạo điều kiện thuận lợi không chỉ cho sản xuất nông nghiệp mà còn cho các nhu cầu kinh tế, đời sống và giao thông vận tải
- Nước ngầm của Hưng Yên cũng hết sức phong phú, có nhiều mỏ nước ngầm với trữ lượng rất lớn, đặc biệt khu vực dọc Quốc lộ 5 Không chỉ thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế, đời sống của địa phương mà còn có thể cung cấp thêm cho các khu vực lân cận
* Khoáng sản
Trên địa bàn Hưng Yên có mỏ than nâu Khoái Châu (Thuộc bể than nâu vùng ĐBSH), tuy nhiên do vỉa than mỏng nên việc đầu tư khai thác gặp khó khăn, không hiệu quả
Hưng Yên có nguồn cát đen với trữ lượng lớn ven sông Hồng và nội đồng có thể khai thác phục vụ nhu cầu xây dựng trong tỉnh
Trang 392.1.3 Tài nguyên nhân lực
Dân số của Hưng Yên năm 2003 là 1.113.489 người, trong đó nữ là: 545.797 người Số dân số ở thị xã, thị trấn là 116.840 người, chiếm 10,5%
Dân số trong độ tuổi lao động 619 ngàn người, chiếm 55,5% lực lượng lao động toàn tỉnh Trong đó, lao động nông nghiệp là 434.127 người, chiếm khoảng 70% lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế, chiếm 30% lao động trong toàn tỉnh [7, tr.21]
Nằm trong khu vực có trình độ dân trí tương đối khá nên nhìn chung lực lượng lao động nông nghiệp của Hưng Yên có kinh nghiệm và trình độ thâm canh sản xuất, có khả năng tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, truyền thống cần cù và năng động trong sản xuất kinh doanh, hoà nhập tích cực vào cơ chế thị trường
Tuy ở Hưng Yên có nguồn lao động dồi dào, nhưng tỷ trọng lao động thiếu việc làm và không có trình độ chuyên môn, kỹ thuật còn chiếm khá cao Đây chính là thách thức trong giai đoạn phát triển đến 2010 ở Hưng Yên, đặc biệt đối với khu vực nông thôn là nơi nguồn lao động dư thừa và chưa được đào tạo còn khá lớn
2.1.4 Hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống
Thứ nhất, Hệ thống cơ sở trạm trại - dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp đã
tạo điều kiện cung cấp về giống: giống gia súc và thuỷ sản, trung tâm truyền tinh nhân tạo lợn được đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại đã được đưa vào
sử dụng Đây là nơi cung cấp chủ yếu các giống lợn, cá, lúa phục vụ phát triển trồng trọt và chăn nuôi trên địa bàn tỉnh
Bên cạnh đó, Hưng Yên còn có các cơ sở dịch vụ cung ứng vật tư - kỹ thuật nông nghiệp như: Công ty vật tư nông nghiệp Hưng Yên, Công ty vật tư bảo vệ thực vật, Công ty cơ điện, Công ty ong và nhiều công ty thương mại, dịch vụ khác Các mạng lưới khuyến nông ở các huyện thị (10 trạm) và các
Trang 40xã Tất cả các hệ thống này góp phần tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi ở Hưng Yên
Thứ hai, Hệ thống thuỷ lợi của Hưng Yên khá phát triển, bao gồm
công trình phòng chống lũ với tổng chiều dài 79,7km (tả sông Hồng và tả sông Luộc) và đê địa phương; sông Kim Sơn, Cửu An, Điện Biên, Tây Kẻ Sặt với tổng chiều dài 104,5km và nhiều tuyến đê khác
Hệ thống công trình thuỷ nông gồm 415 trạm bơm với 978 máy bơm các loại, tổng lưu lượng đạt 1.544.500m3/h và hệ thống kênh mương dài hàng nghìn km Trên địa bàn tỉnh có công trình đầu mối tưới lớn nhất của hệ thống thuỷ nông Bắc - Hưng - Hải là cống Xuân Quan cấp nước từ sông Hồng với lưu lượng 92m3
/s và thiết kế tưới cho 113.200 ha [42, tr.11]
Nhìn chung, hệ thống công trình thuỷ lợi của tỉnh đã đảm bảo chủ động cấp nước tưới cho 100% diện tích canh tác nội đồng (51.751 ha) Hưng Yên cũng có hai vùng tiêu: tiêu trực tiếp ra sông lớn bằng trạm bơm tiêu, tiêu động lực và tiêu tự chảy vào trục chính Bắc - Hưng - Hải đảm bảo tiêu được khoảng 86,2% diện tích, tương ứng với 82.363ha Chính vì vậy, hệ thống thuỷ lợi đã góp phần đáng kể mở rộng diện tích gieo trồng (đưa hệ số sử dụng đất cây hàng năm từ 1,68 lần năm 1990 lên 2,13 lần năm 2000), tăng năng suất cây trồng (năng suất lúa bình quân 98 tạ/ha/năm 1997 lên 125/ha/năm 2005, tăng gấp 1,27 lần)
Thứ ba, Hệ thống điện của Hưng Yên khá phát triển so với các tỉnh
đồng bằng Bắc Bộ với 3 nguồn gốc cấp từ các trạm 110/35/10 kv-25 MVA Gia Lâm, 110/35/6 kv Đồng Niên và 110/35/10-2x25 MVA Phố Cao Lưới điện trên địa bàn Hưng Yên gồm 674,0 km tới các hộ tiêu thụ Đến nay, điện lưới quốc gia đã tới 100% số xã, với 100% số hộ thành thị và 95% số hộ nông thôn sử dụng điện Bên cạnh hệ thống điện, Hưng Yên cũng có mạng lưới Bưu chính viễn thông khá phát triển, đã có hệ thống bưu điện văn hoá xã và các đại lý bưu điện, góp phần nâng cao năng lực thông tin kinh tế và trình độ