TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ PHẠM THỊ THANH HÀ Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nữ trong các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ở tỉnh Gia Lai
Trang 1TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PHẠM THỊ THANH HÀ
Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nữ trong các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ở tỉnh
Gia Lai hiện nay
Luận văn Thạc sỹ chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 5 01 02
Người hướng dẫn khoa học: TS TÔ NGỌC THẮNG
Hà nội - 2004
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp chấn hưng, trường tồn của dân tộc Có rất nhiều phụ nữ đã hy cả cuộc đời mình cho sự sống còn của Tổ quốc, để lại những tấm gương mãi mãi sáng ngời trong lịch sử phụ nữ Việt Nam Rồi cũng chính họ - phụ nữ - là những người quyết định đến sự phát triển giống nòi, hạnh phúc gia đình, sự phát triển sản xuất xã hội cũng như sự ổn định chính trị đất nước
Tiếp thu những quan điểm đúng đắn của Chủ nghĩa Mác - Lênin về trí thức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng trí thức, trong đó có trí thức nữ
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện của đất nước, trong đó đặc biệt coi trọng vai trò của trí thức, coi liên minh công nông trí thức là nền tảng chính trị của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
Với tinh thần ấy, Đảng và Nhà nước ta đã ra nhiều văn bản quan trọng trực tiếp liên quan đến việc nâng cao vai trò đội ngũ trí thức: Nghị quyết TW 4 (khoá VII), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, thực sự nhấn mạnh Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá( HĐH) đất nước Trong tình hình đó vai trò đội ngũ trí thức nói chung, đội ngũ trí thức nữ nói riêng trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo lại càng được chú ý
Cũng như các địa phương trong cả nước, để phát triển kinh tế, xã hội đi lên ngang bằng với các tỉnh khác, tỉnh Gia Lai càng phải coi trọng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nói chung, đội ngũ trí thức nữ nói riêng Song không
Trang 4phải lúc nào thực tế cũng diễn ra như ý muốn của con người Mặc dù đã có nhiều
cố gắng song ở tỉnh Gia Lai vẫn xảy ra tình trạng chưa có nhận thức đầy đủ và những giải pháp hữu hiệu để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nói chung, đội ngũ trí thức nữ nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Là một tỉnh Tây nguyên kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, kinh phí đầu tư cho giáo dục đào tạo còn hạn hẹp, mạng lưới các trường Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp ở Gia Lai chưa có điều kiện phát triển như các địa phương khác trong cả nước
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đội ngũ trí thức nữ Gia Lai thực hiện tốt chức năng của mình, có thể cống hiến được nhiều nhất tài năng và trí tuệ cho địa phương, đất nước đang là vấn đề trăn trở của số đông phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ trí thức Gia Lai đang hoạt động trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo và những người quan tâm đến vấn đề trên
Để góp phần vào tiếng nói chung của đội ngũ trí thức nữ tỉnh Gia Lai,
chúng tôi chọn đề tài: "Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nữ trong các
trường Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp ở tỉnh Gia Lai hiện nay - Thực trạng và giải pháp" làm luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành CNXHKH của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Sự hưng thịnh hay suy vong của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào việc nhà cầm quyền sử dụng và đãi ngộ đội ngũ trí thức của mình như thế nào Vì vậy, vấn đề trí thức nói chung, tầng lớp trí thức XHCN nói riêng, vị trí vai trò tầng lớp trí thức trong Cách mạng XHCN, đã được các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập trong nhiều tác phẩm
Ở nước ta, vấn đề trí thức luôn thu hút sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước và sự tìm tòi nghiên cứu của các nhà khoa học với những khía
Trang 5cạnh khác nhau Đó là những Văn kiện của Đảng tại Đại hội toàn quốc (lần IV,
V, VII, IX), những bài viết, bài nói chuyện của Hồ Chủ tịch và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước về trí thức Đến nay, các công trình nghiên cứu về trí thức, trí thức nữ đã được công bố tương đối phong phú Bàn về vấn đề này có một số bài viết như: “Phát huy vai trò của các nhà khoa học nữ trong công cuộc đổi mới hiện nay" của GS Lê Thi, Tạp chí Khoa học về phụ nữ số 2/1993;
“Những động lực mới của các nhà khoa học nữ trong cơ chế thị trường” TS Lê Thị Muội, Tạp chí Khoa học về phụ nữ số 2/1994; “Trí thức Việt Nam thực tiễn
và triển vọng”, Phạm Tất Dong, NXB Chính trị quốc gia, tháng 4/1995; “Vai trò của các nhà khoa học nữ trong nền kinh thế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 2/1996; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục trí thức khoa học cho nhân dân”, Trần Trọng Lưu, Tạp chí Sinh hoạt lý luận số 6/1996;
“Phát biểu của đồng chí Trương Thị Mỹ Hoa, Bí thư TW Đảng, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tại Hội thảo “Nâng cao năng lực quản lý của phụ nữ trong cơ chế thị trường”, Hà Nội 9/2/1996; “Phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lý”, Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội nghiên cứu khoa học lao động nữ, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1997; “Một số vấn đề về trí thức Việt Nam”, PTS Nguyễn Thanh Tuấn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; “Gia đình và người phụ nữ”, Lê Minh, NXB Lao động năm 2000 và nhiều công trình khác
Nội dung của những công trình trên rất đa dạng, đề cập đến nhiều góc độ khác nhau của vấn đề trí thức Trong đó, các công trình nghiên cứu về vấn đề trên có thể chia thành các nhóm sau:
Một là: Nghiên cứu về vai trò, vị trí của trí thức đối với sự phát triển của
đất nước qua các giai đoạn lịch sử Bàn về vấn đề này có một số bài viết như:
Trang 6“Khi trí thức là nguồn lực phát triển” của Phan Thanh Khôi cho rằng nếu chúng ta biết khai thác tiềm năng của lực lượng trí thức, coi họ là nguồn lực phát triển thì chắc chắn chúng ta sẽ gặt hái được những thành công trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
“Phát triển đất nước nhanh và bền vững theo định hướng XHCN” của Thủ tướng Phan Văn Khải cho rằng: Muốn đưa Việt Nam thoát khỏi thực trạng: là nước nông nghiệp nghèo, đất hẹp, người đông, tài nguyên có hạn… thì động lực
cơ bản giúp chúng ta vượt qua thử thách ấy là ý chí kiên cường và trí tuệ sáng tạo của dân tộc ta được phát huy trên nền tảng văn hoá Việt Nam Trong đó nhiệm vụ lịch sử lớn lao được đặt lên vai các nhà trí thức
“Tôn vinh trí thức trẻ tài năng” của Hà Thanh Minh đăng trên báo Quân đội nhân dân, ra ngày 20/08/2004 lại đề cập đến trí thức ở góc độ mới Ngoài việc Hà Thanh Minh mô tả buổi “Bái đường” tại “Quốc tử giám” của 112 gương mặt sinh viên tiêu biểu trên các lĩnh vực và tốt nghiệp thủ khoa tại gần 50 trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội, tác giả đã nêu lên suy nghĩ của sinh viên về chính sách “Chiêu hiền đãi sĩ”, những chính sách đã thực hiện
và chưa thực hiện, họăc còn bất cập khi sử dụng đối với đội ngũ trí thức trẻ Bài viết còn nhấn mạnh “Tài năng và trí tuệ của thế hệ trẻ chỉ có ý nghĩa khi đem phục vụ cho sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, phát triển kinh tế xã hội" Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước còn đòi hỏi các em phải không ngừng học tập, rèn đức, luyện tài để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân”
“Trí thức với Đảng, Đảng với trí thức trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước” của PGS TS Nguyễn Văn Khánh chỉ rõ: “Dân tộc ta trân trọng ghi công và tôn vinh trí thức, những hiền tài của đất nước… Sự nghiệp vẻ vang của Đảng, của dân tộc không thể thành công nếu không được sự ủng hộ tích cực
Trang 7và tham gia đông đảo của trí thức” Công trình đã phân tích quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin về trí thức và vai trò của họ trong sự nghiệp Cách mạng của giai cấp vô sản; giới thiệu khái quát về trí thức Việt Nam thời phong kiến, những đóng góp của họ trong xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc, trong phong trào giải phóng dân tộc (trước khi có Đảng) cũng như trình bày những họat động của trí thức Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Đặc biệt tác phẩm đã nêu bật sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, Nhà nước đối với trí thức, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ trí thức cách mạng đáp ứng những đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Hai là, nhóm các bài viết về vai trò vị trí của trí thức nữ trong CNH, HĐH
đất nước Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về nhóm này gồm có: “Phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lý” của Trần Thị Tuy Hòa và Tập thể cán bộ Trung tâm Nghiên cứu khoa học lao động nữ đã chỉ ra rằng “Cho dù ở bất kỳ cương vị nào, làm công việc gì thì người phụ nữ luôn tỏ rõ vai trò và năng lực của giới mình” Tác giả trên cơ sở tìm hiểu thực trạng và những chính sách đối với lao động nữ, nhất là trong lĩnh vực lãnh đạo quản lý nhằm đánh giá đúng thực trạng của phụ
nữ trong lĩnh vực này, đã đưa ra một số giải pháp nâng cao năng lực của phụ nữ trong công tác lãnh đạo, quản lý
“Xây dựng đội ngũ cán bộ nữ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” của TS Trương Thị Minh Thông đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (số 2/2004, trang 9) nghiên cứu trí thức nữ trên lĩnh vực cán bộ lãnh đạo là nữ Bài viết đã chứng minh: Phụ nữ ngày càng trưởng thành, đảm nhận nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp từ Trung ương đến
cơ sở, số nữ trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày càng tăng lên, từ đó đưa ra những giải pháp căn bản nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ nữ trong thời kỳ mới
Trang 8“Bài phát biểu của Thứ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Đặng Thị Huỳnh Mai”, đăng trên báo Giáo dục - Thời đại ra ngày 16/10/2004 đã chỉ ra “Lực cản lớn nhất của phụ nữ ngành Giáo dục - Đào tạo cũng có phần chính là từ phía chủ quan của chị em…”, từ đó Thứ trưởng khẳng định “muốn thành công chị em phải vượt qua trở ngại ấy, tự lực vươn lên, tự ý thức về năng lực trình độ bản thân…”
“Tổng kết 9 năm thực hiện Chỉ thị 37 của Ban bí thư về công tác cán bộ nữ” - Báo Đà Nẵng - ra ngày 12/11/2003 đã chỉ ra những bước chuyển của trí thức nữ Tỷ lệ cán bộ nữ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn tăng hơn so với trước Đào tạo sau đại học 10,71%, đào tạo đại học 56,18%, đào tạo trung cao cấp, Cử nhân chính trị chiếm 27,54%…, bên cạnh đó cũng nêu ra một số hạn chế trong công tác cán bộ nữ
Ba là, nhóm các bài viết đề cập đến chiến lược phát triển trí tuệ con người
ở thế kỷ XXI:
“Chuẩn bị sẵn sàng đội ngũ trí thức mới đủ sức đủ tài”, bài phát biểu của đồng chí Đỗ Mười, đăng trên báo Giáo dục - thời đại số 42/2003 đã khẳng định Việt Nam cần phải chuẩn bị sẵn sàng đội ngũ trí thức mới đủ sức đủ tài trên cơ
sở phân tích tầm quan trọng của trí thức và thực trạng trí thức hiện nay
“Hội thảo Quốc tế về phụ nữ trong chiến lược phát triển con người ở thế
kỷ XXI được tổ chức từ ngày 14 đến ngày 16/9/2000 tại Hà Nội Hội thảo tập trung vào 3 lĩnh vực chính: Tiếp cận chủ đề trên bình diện lý luận và lịch sử, tình hình đội ngũ chuyên gia khoa học nữ hiện nay và một số phương hướng giải pháp cho ngày mai Đặc biệt, Hội thảo nhấn mạnh giải pháp “Tăng cường hợp tác đào tạo quốc tế, nhất là đào tạo cao học cho nữ, giáo dục cần được gắn với kinh tế mà trước hết coi nhà trường như một thiết chế trong chuỗi thiết chế của
Trang 9nền kinh tế quốc dân Giáo dục không những tạo nguồn nhân lực mà còn là “cỗ máy tạo việc làm” của xã hội
Bốn là nhóm bài viết đề cập về bình đẳng nam nữ trong lĩnh vực giáo dục:
“Bình đẳng nam nữ trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo” của TS Lê Thị Vinh Thi cập nhật trên báo Nhân dân điện tử (3/12/2003) Tác giả đã nêu bật được những thành tựu đã đạt được ở Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục như: “Đạt
tỉ lệ rất cao cho người biết chữ cả nam và nữ… khắc phục tệ phân biệt đối xử với phụ nữ khi thực hiện chương trình cung cấp giáo dục cơ bản, có chất lượng cho toàn dân… Giáo dục đại học và trên đại học được mở rộng dần cả hai phía cho
cả nam và nữ” Tác giả khẳng định có được điều này là do “Việt Nam đã khơi dậy sự đa dạng phong phú các hình thức và phương pháp giáo dục - đào tạo Nhờ vậy, phụ nữ chẳng những đã hỗ trợ để thực hiện các chức năng sản suất, tái sản xuất mà còn được hưởng lợi từ nhiều chính sách đặc biệt, khuyến khích họ tích cực tham gia quá trình giáo dục - đào tạo và tự đào tạo dưới nhiều hình thức”
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về trí thức ở nước ta chưa phải
là nhiều, còn rất ít tác giả bàn đến trí thức nữ và hầu như chưa có đề tài nào chuyên bàn về thực trạng và những giải pháp nhằm phát huy vai trò đội ngũ trí thức nữ trong các trường chuyên nghiệp ở tỉnh Gia Lai hiện nay Vì thế, chúng
tôi chọn đề tài "Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nữ trong các trường Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp ở tỉnh Gia lại hiện nay - thực trạng và giải pháp" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trang 10Mục đích nghiên cứu của luận văn là khảo sát thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nữ trong các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ở tỉnh Gia Lai hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá một số quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí vai trò của tầng lớp trí thức, trong đó có đội ngũ trí thức nữ trong công cuộc đổi mới, thực hiện CNH, HĐH đất nước
- Khảo sát thực trạng đội ngũ trí thức nữ trong các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp của tỉnh Gia Lai
- Bước đầu nêu lên phương hướng và một số giải pháp để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nữ Gia Lai trong sự nghiệp đổi mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đội ngũ trí thức nữ - cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu khoa học, cán
bộ quản lý tại các trường chuyên nghiệp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về tư liệu, thời gian và khuôn khổ đề tài, Luận văn chủ yếu nghiên cứu, phân tích vai trò của trí thức nữ tại một số trường Cao đẳng và
Trung học chuyên nghiệp ở tỉnh Gia Lai hiện nay (khoảng 5 năm gần đây)
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về đội ngũ trí thức
Trang 11Trong quá trình thực hiện, tác giả có kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, qua các công trình hoặc các bài viết đã được công
bố có liên quan đến đề tài
Luận văn vận dụng phương pháp lôgích - lịch sử, điều tra xã hội học, kết hợp phân tích tổng hợp
Trang 126 Đóng góp của luận văn
Luận văn làm rõ thực trạng của đội ngũ trí thức nữ trong các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ở tỉnh Gia Lai hiện nay
Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nữ tại các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ở tỉnh Gia Lai hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Vị trí vai trò của tầng lớp trí thức và đội ngũ trí thức nữ trong
công cuộc đổi mới, thực hiện CNH, HĐH đất nước
Chương 2: Thực trạng và xu hướng phát triển của đội ngũ trí thức nữ
trong các trường Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp tỉnh Gia Lai
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm phát huy vai trò đội
ngũ trí thức nữ trong các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ở tỉnh Gia Lai hiện nay
Trang 13Chương 1
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA TẦNG LỚP TRÍ THỨC
VÀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC NỮ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC 1.1 Về khái niệm trí thức, tầng lớp trí thức và trí thức nữ nước ta
Từ khi ra đời, trí thức đã trở thành "một lực lượng xã hội đặc biệt", là nguồn lực trí tuệ quan trọng không thể thiếu đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia và trên phạm vi quốc tế trong mọi thời đại Họ có vai trò to lớn trong việc sáng tạo ra những giá trị văn hoá, tinh thần, đem lại những thành tựu quan trọng trong khoa học - kỹ thuật, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội
Song, trí thức là gì ? như thế nào được gọi là trí thức vẫn đang còn rất nhiều quan điểm khác nhau về nội dung của thuật ngữ này Có sự khác nhau đó
là do ở mỗi thời đại khác nhau, những chuẩn mực riêng về trí thức cũng khác nhau Điều này được Bách khoa toàn thư của Pháp - Tập 10 có nêu: "Trí thức là một phạm trù lịch sử Trong các nước khác nhau, chức năng của trí thức cũng khác nhau Trong các thời đại khác nhau, khái niệm trí thức khác nhau Trong đời sống xã hội, trí thức có vị trí nhất định" [12, tr.14]
Đi ngược dòng thời gian, lịch sử Việt Nam đã từng tồn tại một thời kỳ mà
ở đó trí thức là những cụ Đồ nho Học vấn thuở ấy chủ yếu là những giá trị đạo đức được ghi trong sách của các bậc thánh hiền và người thầy bằng phẩm chất,
uy tín và năng lực của mình sẽ truyền lại cho thế hệ sau những nội dung ấy Thời
ấy, có người đi học để kiếm "dăm ba cái chữ", kẻ có chí hơn thì cố gắng dùi mài kinh sử để kiếm cho mình một chức sắc nào đó trong thiên hạ, họ học là để làm quan và cũng có thể là để "tề gia, trị quốc" Bằng cấp tú tài lúc bấy giờ rất hiếm
Trang 14nên ai có văn bằng này đều được xem là trí thức Ngày nay khi mà khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, quyết định trình độ phát triển của mỗi quốc gia thì việc có tấm bằng tốt nghiệp PTTH cũng chưa thể được xem là trí thức.Xã hội hiện nay, thiếu trình độ học vấn tương đương với trình độ đại học thì chẳng thể coi là trí thức Ở nước ta và nhiều nước khác xác định bằng cấp của trí thức là được đào tạo từ bậc cao đẳng trở lên Bằng cấp chỉ là một dấu hiệu, trong thực tế
có những người trình độ học vấn cao nhưng không giữ vai trò là trí thức, thực sự
do họ đi vào hướng lao động của nhóm xã hội khác hoặc đang vươn tới mức độ lao động của trí thức Như vậy văn bằng đại học và sau đại học cũng chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để trở thành trí thức
Từ điển Triết học thì coi trí thức là toàn bộ những người lao động bằng trí
óc Trí thức là “tập đoàn xã hội gồm những người làm nghề lao động trí óc Giới trí thức bao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sỹ thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viên chức” [42, tr.598] Quan điểm này có những chỗ chưa hợp lý, nhất là dùng nó trong giai đoạn hiện nay, bởi vì lao động trí óc bao gồm cả lao động trí óc giản đơn và lao động trí óc phức tạp, ngoài bộ phận lớn là trí thức thì lao động trí óc còn bao gồm một bộ phận lớn các viên chức, những người điều khiển hệ thống máy tự động (bấm nút , theo dõi, điều chỉnh), những người này do công việc của họ chủ yếu là thừa hành nên không nhất thiết họ phải có trình độ học vấn cao Đây là điều kiện phân biệt lao động trí óc với lao động phức tạp của trí thức Vì vậy nếu đem đồng nhất trí thức với những người lao động trí óc sẽ không thấy nét đặc thù của trí thức
Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học cũng định nghĩa trí thức tương tự nhưng rõ hơn: "Trí thức là một nhóm xã hội bao gồm những người chuyên làm nghề lao động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao
Trang 15liền với sự phân công lao động xã hội giữa lao động trí óc và lao động chân tay" [41, tr.360]
V.I Lênin thì cho rằng: "Trí thức bao hàm không chỉ những nhà trước tác
mà thôi mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của lao động trí óc" [23, tr.372]
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn luận đến khái niệm trí thức, Người đã khẳng định: "Lao động trí óc là ai? là thầy giáo, thầy thuốc, kỹ sư, những nhà khoa học, văn nghệ, những người làm bàn giấy có nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, trong công cuộc hoàn thành cách mạng dân chủ mới để tiến lên CNXH" [24, tr.202-203]
Vấn đề trí thức còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến trong tác phẩm
"Sửa đổi lối làm việc" (10/1947) Người cho rằng: "Một người trí thức hoàn toàn phải đem tri thức áp dụng vào thực tế nếu không chỉ là "trí thức" một nửa " [8, tr.565] Theo tư tưởng của Người, cần phải đưa trí thức về với nhân dân Người trí thức cách mạng phải là người trí thức nhân dân, đem tài năng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân Người trí thức nhân dân theo Hồ Chủ tịch phải vừa có năng lực chuyên môn, phải vừa biết vận dụng những kiến thức của mình vào thực tiễn, đem lại hiệu quả cao trong công việc
Nhìn chung các quan điểm trên về trí thức dù ở góc độ này hay khía cạnh khác thì chúng cũng đều nổi lên những dấu hiệu cơ bản mà qua đó chúng ta có thể xác định được thế nào là trí thức Đó là lao động trí óc và trình độ học vấn Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt là người lao động trí óc phức tạp ở trình
độ cao Chỉ có những người có mức độ học vấn nhất định mới trở thành trí thức
Vì thế khi định nghĩa trí thức, chúng tôi thấy rằng cần phải dựa vào hai thuộc tính cơ bản sau:
Trang 16 Phải đạt đến trình độ học vấn nhất định (từ cao đẳng trở lên)
Phải lao động trí óc và mang tính sáng tạo
Từ đây, có thể định nghĩa trí thức như sau: Trí thức là tầng lớp xã hội bao gồm những người lao động trí óc, có trình độ học vấn nhất định, có khả năng sáng tạo tri thức khoa học, tiếp thu truyền bá và vận dụng tri thức khoa học vào sản xuất và đời sống xã hội phục vụ lợi ích con người Lao động trí thức mang tính độc lập, sáng tạo cao
Từ sự tìm hiểu khái niệm trí thức, tầng lớp trí thức trên, chúng tôi muốn bước đầu nhận dạng người trí thức nữ, bộ phận trí thức nữ nước ta
Trí thức nữ Việt Nam nằm trong cơ cấu hợp thành của tầng lớp trí thức Việt Nam, họ mang trong mình đầy đủ những đặc trưng cơ bản của lực lượng trí thức Tuy nhiên, họ vẫn có những nét đặc thù phân biệt với những người trí thức Nét đặc thù mang bản tính tự nhiên mà ngày nay khoa học diễn đạt bằng thuật ngữ giới tính (hay là giống- sex) và những đặc thù mang tính xã hội được diễn tả bằng thuật ngữ Giới (genđer) Tư cách trí thức và tư cách nữ gắn bó hữu cơ trong mỗi người trí thức nữ nước ta, buộc chúng tôi phải tiếp cận từ hai phía Chỉ hiểu trí thức nữ Việt Nam có đầy đủ đặc trưng miêu tả của người trí thức là đúng nhưng chưa đủ, còn phải tìm hiểu họ ở tư cách (phương diện) nữ Tức là từ góc
độ giới tính, họ là một bộ phận phụ nữ Việt Nam Họ có những nét đặc thù, những thiên chức giới tính khác với trí thức nam Xét cả về mặt tự nhiên và mặt
xã hội, họ đang gặp trở ngại nhiều hơn so với nam trí thức Đó cũng chính là những tác động đang làm giảm năng lực và vai trò hoạt động trí tuệ, sáng tạo của
bộ phận này
Như vậy, trí thức nữ Việt Nam trước hết là những trí thức Họ là bộ phận quan trọng tạo nên sự hùng hậu của đội ngũ trí thức Việt Nam Hiện tại và trong
Trang 17tương lai họ đang và sẽ có mặt trên tất cả các lĩnh vực mà trước kia chỉ dành riêng cho nam giới và trong quá trình phát triển của mình, họ sẽ có những đặc trưng mới, chức năng mới do thời đại tạo ra để đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại mà họ đang sống
1.2 Quá trình hình thành và phát triển lý luận về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ của chủ nghĩa xã hội khoa học
Một xã hội gọi là tiến bộ khi tiêu chí đánh giá quan trọng là phụ nữ trong
xã hội ấy phải được giải phóng Vì thế, ngay từ nhiều thế kỷ trước giải phóng phụ nữ đã được các nhà XHCN quan tâm nghiên cứu Tư tưởng giải phóng phụ
nữ của họ còn để lại cho đến ngày nay, thể hiện rõ qua 2 vấn đề sau:
- Muốn giải phóng phụ nữ, trước hết phải giải phóng họ khỏi chế độ hôn nhân và gia đình của xã hội cũ, xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ: Hôn nhân một vợ một chồng, tự nguyện dựa trên cơ sở tình yêu chân chính, có quyền li hôn khi không còn tình yêu
- Giải phóng phụ nữ với tư cách họ là những người lao động, những công dân của xã hội Nhà nước và xã hội cần thực hiện sự phân công hợp lý, có chế độ khen thưởng, kỷ luật công bằng, coi trọng lao động nữ
Những tư tưởng tiến bộ trên đã được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác kế thừa trong hệ thống lý luận của mình mà cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị
C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên cứu con đường giải phóng loài người đã dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề giải phóng phụ nữ, bởi họ là một lực lượng không thể thiếu trong xã hội, "một nửa thế giới" bởi ngoài sự áp bức giai cấp, dân tộc phụ nữ còn chịu sự áp bức về giới Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã chứng minh được rằng: Chính nguyên nhân kinh tế, cụ thể là sự chuyển
Trang 18từ chế độ mẫu hệ sang phụ hệ trên phạm vi toàn cầu là cơ sở của sự bất bình đẳng đối với phụ nữ Sự áp bức phụ nữ là biểu hiện của sự áp bức xã hội Với sự
ra đời của tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước", Ph.Ăngghen đã bác bỏ quan điểm cho rằng: "Ngay từ khi có xã hội, đàn
bà đã là nô lệ của đàn ông" Theo ông, gia đình cá thể ra đời thì cùng với nó là sự bất bình đẳng, sự áp bức, sự coi thường cũng như thói thô bạo trong đối xử của người đàn ông đối với đàn bà Và như vậy chế độ hôn nhân cá thể không phải là
sự hoà giải giữa đàn ông và đàn bà mà nó thể hiện sự nô dịch của giới này đối với giới kia", điều mà xã hội trước đó chưa hề có Cũng từ đó, trong các xã hội
có giai cấp tiếp theo cứ thế duy trì sự phân biệt đối với phụ nữ, đẩy họ xuống vị trí thấp hèn và lệ thuộc Ngoài sự lên án tố cáo các xã hội bóc lột đã đày đoạ phụ nữ, Ph.Ăngghen đã khẳng định vai trò của phụ nữ "Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp thì sẽ không làm nổi" Vì thế, ba nguyên tắc không thể thiếu trong cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ mà các ông đã rút ra chính là:
Một là, giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng là một trong những mục tiêu của cuộc cách mạng vô sản
Hai là, giải phóng phụ nữ phải gắn với giải phóng nhân loại, gắn với sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội
Ba là, phụ nữ chỉ thực sự bình đẳng khi họ thoát khỏi các đối xử bất công trong hôn nhân và gia đình, được tham gia vào các hoạt động xã hội với tư cách ngang bằng với nam giới
Trên cơ sở tư tưởng của Mác, Ăngghen, V.I.Lênin đã phát triển và cụ thể hóa học thuyết của chủ nghĩa Mác về giải phóng phụ nữ trong thời đại mới, thời đại CNTB đã chuyển sang đế quốc chủ nghĩa Thông qua việc ban hành hệ thống
Trang 19luật pháp và các chính sách cụ thể của nhà nước Xô viết lúc bấy giờ, Lênin đã thực hiện thành công nhiệm vụ giải phóng phụ nữ, biến ước mơ nhân loại thành hiện thực Để thực hiện nam nữ bình đẳng, ông rất quan tâm đến việc giải phóng phụ nữ ngay từ trong gia đình, tạo điều kiện cho họ vươn lên ngang bằng nam giới
Kế tục, phát triển và vận dụng sáng tạo quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề giải phóng phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, đã viết và bàn nhiều về vấn đề phụ nữ cũng như đã đề ra nhiều giải pháp hữu hiệu để giải phóng phụ nữ Việt Nam Hồ Chủ tịch cảm thông và thấu hiểu được cảnh tình của người phụ nữ Việt Nam dưới chế
độ thực dân phong kiến Họ là những người chịu thiệt thòi nhất trong xã hội lúc bấy giờ; chiến tranh và những tàn tích của "tứ đức tam tòng" luôn là những gánh nặng đè lên vai người phụ nữ Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Thói dâm bạo thuộc địa là hiện tượng phổ biến và tàn ác không thể nào tưởng tượng nổi" [25, tr.52] Vì thế, theo Người cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ ra khỏi xiềng xích của xã hội cũ Người nói: "nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng nửa loài người, nếu không giải phóng phụ nữ tức là xây dựng CNXH chỉ có một nửa" [26, tr.523-524] và giải phóng phụ nữ theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không còn cách nào khác là con đường giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, xoá bỏ áp bức nghèo đói và lạc hậu
Để biến ước mơ thành hiện thực Hồ Chủ tịch đã chỉ đạo nam nữ bình quyền, điều này thể hiện rõ trong Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam: Không phân biệt nam nữ, nếu ai đủ điều kiện sẽ được vào Đảng Trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta (ra đời năm 1946) cũng có điều quy định “phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang với đàn ông, được chung mọi quyền tự do của
Trang 20một công dân ” Luật hôn nhân và gia đình (1960) cũng có ghi “luật lấy vợ lấy chồng là nhằm giải phóng phụ nữ, giải phóng phân nửa xã hội” [29, tr.281-282]
Tuy vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ việc thực hiện nam nữ bình quyền thành công sẽ là một việc làm khó khăn, đó là một cuộc cách mạng To và Khó Vì tập quán cũ đã ăn sâu vào trong lối sống, cách nghĩ của người dân Theo Người, đạo luật ra đời không phải là đã xong mà còn phải tiếp tục tuyên truyền, giáo dục lâu dài trong nhân dân thì mới có thể thực hiện tốt
Nhận thức được lời giáo huấn của Người, kể từ khi giành được độc lập, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới giải phóng phụ
nữ thông qua việc ban hành hệ thống pháp luật, chính sách và chương trình phát triển Vì vậy, trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn nhưng Việt Nam luôn đạt được những thành tựu về giải phóng phụ nữ
1.3 Một số đặc điểm của đội ngũ trí thức nữ nước ta trong thời kỳ đổi mới
Là một bộ phận tạo nên "sức mạnh" cho kho tàng tri thức nhân loại, đội ngũ trí thức nữ nước ta trong thời kỳ đổi mới đã có nhiều đóng góp to lớn đối với
sự "thay da đổi thịt" của đất nước
Bên cạnh những đặc điểm của đội ngũ trí thức nói chung như: "là những người có trình độ học vấn cao, am hiểu sâu rộng lĩnh vực lao động trí tuệ của mình, không có hệ tư tưởng độc lập mặc dù lịch sử nhân loại đã chứng minh họ
có công dùng kinh nghiệm trí tuệ của mình khái quát kinh nghiệm thực tiễn thành lý luận và xây dựng nên những học thuyết với tính cách là hệ tư tưởng cho giai cấp thống trị đương thời " thì đội ngũ trí thức nữ nước ta trong thời kì đổi mới còn có những đặc điểm riêng:
Trang 21Trí thức nữ phải đảm nhận nhiều vai trò khác nhau với những chức năng khác nhau mà bản thân họ không được quyền từ chối bất kì một vai trò nào hay
bê trễ trong bất kì chức năng nào Họ phải bươn trải để tồn tại được trong điều kiện phát triển của đất nước, vừa phải hoàn thành thật tốt nhiệm vụ chuyên môn, vừa phải làm tốt chức năng người vợ, người mẹ, người con trong gia đình như mang thai, sinh nở, nuôi dưỡng giáo dục con cái, chăm sóc cho gia đình riêng, đồng thời phải thực hiện đạo hiếu đối với cha mẹ già và ở thời đại nào, người phụ nữ, trí thức nữ, cũng vừa là người lao động trong xã hội với chức năng sản xuất, nghiên cứu khoa học hoặc tham gia quản lý, vừa là người vợ, người mẹ chăm lo săn sóc cho gia đình Song, khi chuyển sang cơ chế thị trường thì trách nhiệm đó của nữ trí thức lại càng nặng nề hơn Bằng thu nhập của gia đình họ phải cân đối thu chi trong gia đình cho đủ cũng là một bài toán khá hóc búa, vì chỉ đơn thuần sống bằng lương nhà nước cấp (trừ một vài ngành có thu nhập cao, còn đa số lao động nữ là lương thấp, nhất là ở khu vực hành chính sự nghiệp) Đây cũng là khó khăn lớn đối với lao động nữ là công chức, cán bộ nữ làm công tác quản lý ở khu vực hành chính sự nghiệp Vì vậy, để đảm bảo mức sống của gia đình, nhiều phụ nữ đã phải nỗ lực học tập để xin vào làm việc cho các liên doanh nước ngoài (chủ yếu là lao động nữ trẻ) điều này dẫn đến nguy cơ mất đi rất nhiều chất xám, trong khi ta rất cần nó để góp phần hiện đại hoá đất nước Phần đông trí thức nữ phải làm thêm ngoài giờ bằng nhiều cách, chẳng hạn như làm thêm các đề tài nghiên cứu, may, dệt , làm cho các cơ sở dịch vụ (bán hàng hoặc chăn nuôi, nhận làm gia công ), để có thêm thu nhập trang trải cho cuộc sống Điều đó không thể không ảnh hưởng đến sức khoẻ bản thân, ảnh hưởng đến nhịp sống gia đình Thông thường, lao động nữ ngoài giờ làm việc cho xã hội còn dành 4-6 giờ làm việc gia đình Việc các bà mẹ vì phải làm thêm nên không có thời gian chăm sóc đến việc học hành, sinh hoạt, sức khoẻ của con cái
Trang 22sẽ là một thiệt thòi lớn đối với trẻ thơ Bởi thiếu bàn tay chăm sóc, quản lý của người mẹ thì trẻ thơ sẽ khuyết đi một phần nhân cách của con người
Mặt khác, đã gọi là lao động khoa học thì điều cần thiết nhất đó là phải có
sự say mê, kiên trì chịu đựng, vượt mọi khó khăn để theo đuổi sự nghiệp đến cùng Điều này trí thức nữ Việt Nam có thể làm được, song để thực hiện tốt không phải là không có những khó khăn (khách quan, chủ quan) nhất định Nhìn chung nữ trí thức nước ta giàu lòng yêu nước, ở họ luôn có tâm huyết với nghề cũng như ý chí phấn đấu vươn lên, khắc phục mọi khó khăn để làm khoa học dù cuộc sống đời thường còn muôn nỗi gian truân
- Phụ nữ Việt Nam nói chung, trí thức nữ Việt Nam nói riêng luôn cần cù chịu khó là phẩm chất rất cần thiết đối với lao động khoa học Sự cần cù chịu khó trong việc tham khảo tài liệu, sách báo, tích luỹ tư liệu, nắm bắt những kiến thức cần thiết cho hoạt động "nghề" sẽ giúp cho các nhà khoa học nữ có cái nhìn tổng quan từ đó có thể đưa ra ý kiến, quan điểm của mình trong lĩnh vực khoa học mà bản thân theo đuổi
- Lợi thế lớn nhất của phụ nữ, trí thức nữ, đặc biệt là cán bộ nữ là ở chỗ họ
có khả năng động viên đối với chính phụ nữ Họ hiểu được những tâm tư nguyện vọng, khó khăn cũng như những ưu khuyết điểm của mình Chúng ta thường nói
"không ai hiểu mình bằng chính mình" và chính từ khả năng hiểu biết lẫn nhau sâu sắc mà phụ nữ dễ đến với nhau lúc bình thường cũng như trong hoạn nạn, dễ tập hợp được người khác cùng làm việc với mình Một điều dễ thấy là dù khó khăn đến đâu, phụ nữ (trí thức nữ) nếu được động viên tin cậy thì họ sẽ cố gắng hết sức mình và họ vốn nhạy bén với mọi việc, dễ phục thiện
Trong công tác lãnh đạo - quản lý, người nữ trí thức đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao Họ biết cách trò chuyện và cũng biết tìm hiểu thị trường qua
Trang 23con người nhờ ở tính mềm dẻo của họ Họ không thích ra lệnh, trong khi đó lại thường biết cách chỉ dẫn cho đồng đội để làm việc tốt hơn Chỉ dẫn cho cán bộ cách hoàn thành nhiệm vụ là cách đào tạo cán bộ tốt nhất mà phụ nữ thường làm Chính trong cơ chế thị trường hiện nay, người nữ trí thức càng có nhiều cơ hội
để làm tốt chức năng của người lãnh đạo và quản lý, nhà nghiên cứu khoa học thông qua việc phát huy tiềm năng vốn có của mình, song bên cạnh đó, bản thân
họ vẫn còn một số mặt hạn chế cần khắc phục:
Hạn chế trước tiên cần bàn đến đó là vấn đề sức khoẻ Thông thường thì phụ nữ sức khoẻ kém hơn nam giới do cấu tạo tự nhiên về cơ thể nhưng vì thương chồng thương con nên nhiều chị em trong điều kiện khó khăn về kinh tế,
đã lao vào làm thêm để tăng thu nhập hoặc nhịn ăn cho chồng, cho con nên phụ
nữ gặp nhiều khó khăn về nâng cao thể lực, trí lực, không đủ thời gian để nghỉ ngơi, học tập vươn lên Chúng ta thấy rằng, nghiên cứu khoa học muốn có hiệu quả , đòi hỏi phải có sự tập trung tư tưởng cao độ trong khoảng thời gian dài, liên tục Trong khi đó người nữ trí thức trăm công nghìn việc chia cắt quỹ thời gian làm việc của họ Đó là chưa kể đến các mối quan hệ gia đình cũng không phải không ảnh hưởng, chi phối đến tâm trí về mặt tâm lý, trong gia đình người chồng thường được coi là trụ cột nên thường được ưu tiên về các điều kiện học hành phấn đấu Nhiều nữ trí thức đã tự nhận phần thua thiệt về mình để hy sinh cho con đường danh nghiệp của chồng
Vì quỹ thời gian có hạn nên nếu nữ trí thức tham gia công tác lãnh đạo quản lý thì phải kiên trì phấn đấu và mất rất nhiều công sức Ngoài ra, các điều kiện sinh hoạt, dịch vụ xã hội còn bị hạn chế cũng làm cho họ mất rất nhiều thời gian vào phục vụ gia đình, ít có thời gian để học tập nâng cao trình độ và tham gia các hoạt động khác của xã hội nên khả năng tự vươn lên ở một số chị em còn hạn chế
Trang 24- Trong nghiên cứu khoa học sự độc lập suy nghĩ, sự sáng tạo cá nhân trên
cơ sở tự do tư tưởng sau khi thu thập tài liệu, quan sát thực tiễn, tiến hành thí nghiệm là yêu cầu không thể thiếu để dẫn đến sự thành công Song, trên thực
tế, ở một số chị em, khả năng tư duy lôgíc và khái quát có phần yếu, chưa dám mạnh dạn nêu lên ý kiến độc lập của mình trong khi đánh giá, tranh luận các vấn
đề khoa học đối với đồng nghiệp
- Sự cập nhật những thông tin và kiến thức mới là việc làm cần thiết cho việc nghiên cứu khoa học Muốn thực hiện được điều đó, đòi hỏi các chị em phải giỏi ngoại ngữ, phải thông thạo rất nhiều ngoại ngữ, vì đây là điều kiện quyết định để họ có thể tiếp cận với các tài liệu nước ngoài, tiếp cận với các chuyên gia để nâng tầm nhìn của bản thân lên tầng cao mới Nhiều chị em cũng nhận thức được điều này nhưng rồi "biết cũng chỉ là biết vậy"!
- Thực tế, do ảnh hưởng của việc đào tạo trước đây, trong hoàn cảnh trình
độ kinh tế xã hội còn thấp, tư tưởng phong kiến còn rơi rớt, nhiều gia đình chú trọng việc học hành đào tạo cho con trai, còn con gái ít có điều kiện học tập hoặc
có học cũng phải nghỉ học sớm để giúp việc trong gia đình để lấy chồng vẫn còn tồn tại, nên số phụ nữ có đủ điều kiện đi học, có trình độ cao thường ít hơn nam giới "Tàn dư của một quá khứ trọng nam khinh nữ làm cho việc đánh giá khả năng trình độ, hiệu quả làm việc và sử dụng, bồi dưỡng phát huy vai trò của các nhà khoa học nữ chưa có sự công bằng, dân chủ đúng mức và đầy đủ Vấn đề
đề bạt nữ trong chức vụ quản lý khoa học thường được xử lý dè dặt hơn nam giới Mô hình "nam trưởng nữ phó" thường được dễ chấp nhận hơn mô hình ngược lại Kết quả điều tra cho thấy 100% các nhà khoa học nữ đều phát biểu: Muốn được công nhận ngang bằng với nam giới, bao giờ người phụ nữ cũng phải làm tốt hơn nam giới" Nghiên cứu về vấn đề này trong dự án Athena, được
Trang 25vấn hơn 2000 nhà khoa học và kỹ sư của cả hai giới tại các trường đại học thì có 78% các giảng viên nam đạt được danh hiệu giảng viên cao cấp hoặc chức vị phó giáo sư nhờ đề bạt chứ không phải qua các cuộc thi tuyển trong khi tỷ lệ này với
nữ chỉ là 68% Nhiều dấu hiệu cho thấy phụ nữ nước ta ít có điều kiện theo đuổi các ngành khoa học mới, có hàm lượng trí thức cao như công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật Nếu không có biện pháp điều chỉnh phù hợp thì trong vài năm nữa, một số ngành công nghệ mũi nhọn sẽ là độc quyền của nam giới" Theo tiến sĩ Phan Thị Thanh, giám đốc Trung tâm nghiên cứu khoa học về lao động nữ (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội), số phụ nữ có học hàm, học vị và
uy tín khoa học quá ít, tuổi cao và phải về hưu theo chế độ sớm hơn nam giới 5 năm Vì vậy ước tính 10 năm nữa, trên 70% số nữ trí thức sẽ về hưu, trong khi đội ngũ kế cận chưa kịp đáp ứng về chất lượng Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, số phụ nữ tham gia rất hạn chế Hàng năm có gần 1000 kỹ sư tin học tốt nghiệp ở 8 trường đại học trên cả nước nhưng nữ chỉ chiếm 10% Đối với các chuyên gia máy tính con số này là 12% Ngành kỹ thuật điện tử cũng có tỷ lệ tương tự [38]
- Mặt khác, việc đào tạo tuyển chọn nữ làm công việc lãnh đạo, quản lý chưa được hệ thống, chưa có kế hoạch đào tạo lâu dài ở nhiều cơ quan, đơn vị cộng với lâu nay, nhà nước đã đề bạt cán bộ nữ làm lãnh đạo, quản lý ngoài những chị em được tuyển chọn đào tạo qua thực tế đã thực sự đảm đương được công việc chuyên môn của mình nhưng cũng có không ít cơ quan, đơn vị do quan liêu, không đào tạo, lựa chọn kỹ càng mà đề bạt cán bộ nữ theo cơ cấu vì thế họ đã không làm được hoặc làm kém hiệu quả Điều này, đã tạo thành dư luận không tốt cho phụ nữ , coi phụ nữ không có khả năng làm việc
Tóm lại: Trí thức nữ cũng là phụ nữ, họ vừa mang trong mình những ưu
điểm và hạn chế nhất định Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, họ buộc phải tự
Trang 26vươn lên khắc phục những hạn chế chủ quan và khách quan tác động đến mình
để cống hiến nhiều nhất cho gia đình và xã hội
1.4 Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nữ trong sự nghiệp đổi mới đất nước là yêu cầu khách quan hiện nay
1.4.1 Vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức nữ trong thời kỳ đổi mới
Việt Nam bước vào thế kỷ 21 khi đã trải qua gần 20 năm đổi mới và thu được những thành quả quan trọng Nhưng Việt Nam vẫn còn là một nước nông nghiệp nghèo, đất hẹp, người đông, tài nguyên có hạn Năm 2004 theo bản xếp hạng của Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDB) Việt Nam đứng thứ 121/177 quốc gia Động lực cơ bản để chúng ta vượt qua thách thức ấy là ý chí kiên cường và trí tuệ sáng tạo của dân tộc ta được phát huy trên nền tảng văn hoá Việt Nam, trong đó nhiệm vụ lịch sử lớn lao được đặt lên vai các nhà trí thức nói chung, trí thức nữ nói riêng
Chúng ta thấy rằng, hiện nay trên thế giới, mọi chiến lược phát triển đều hướng vào con người, lấy con người làm trung tâm, mục đích của sự phát triển Thực tế đã chứng minh phụ nữ là một trong những nguồn lực chính để phát triển
xã hội cho nên việc sử dụng phát huy khả năng mọi mặt cho phụ nữ nói chung
và trí thức nữ nói riêng là điều kiện cần thiết Và ngày nay, vấn đề phụ nữ không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia mà đã trở thành vấn đề quan tâm chung của toàn cầu
Nằm trong dòng chảy đó, Việt Nam là một nước có tiến bộ vượt bậc trong việc đưa ra chính sách và chiến lược hướng vào phát triển con người, trong đó có vấn đề phát huy tối đa tiềm năng của phụ nữ nói chung, trí thức nữ nói riêng vào
sự nghiệp xây dựng đất nước
Trang 27Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn luôn đánh giá cao vị trí, vai trò của trí thức, coi trọng trí thức (trong đó có trí thức nữ) Cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam (1951) xác định: Đảng Lao động Việt Nam sẽ gồm những công nhân, nông dân và lao động trí óc yêu nước nhất, hăng hái nhất, cách mạng nhất Trong văn kiện "Chính Sách của Đảng đối với trí thức" (1957) Đảng ta nhấn mạnh: trí thức là vốn quý của dân tộc Không có trí thức hợp tác với công nông thì cách mạng không thể thành công và sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam mới không thể hoàn thành được Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) đã khẳng định lại: trong cách mạng dân tộc dân chủ, vai trò giới trí thức đã quan trọng; trong xây dựng CNXH, vai trò trí thức càng quan trọng" Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), lần thứ IX (2001) tiếp tục nêu rõ: "Liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là
cơ sở của khối đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Do vậy, cần phải có chính sách về vấn đề đào tạo phát triển đội ngũ trí thức, sử dụng họ để phát huy tiềm năng to lớn của trí thức trong đó có trí thức
Trang 28dục là thạc sĩ đạt 39,1% Theo thống kê toàn ngành giáo dục có 11 giám đốc sở
và 41/61 tỉnh thành có phó giám đốc là nữ; Tỷ lệ cán bộ nữ là giáo sư đạt 3,13%,
nữ phó giáo sư là 13,24%, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học là 15,55%, 33/46 chị là nữ đại biểu quốc hội" [3]
- Trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ ngày càng trưởng thành, đảm nhận nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp từ Trung ương tới cơ sở Cụ thể: “Số nữ trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII là 10,5%; khoá IX là 11,1%; có 7,5% là Bí thư cấp tỉnh, thành uỷ và tương đương; 2,6% Bí thư quận, huyện uỷ và tương đương; 11,4% phó bí thư và
uỷ viên Ban thường vụ cấp tỉnh, thành, quận huyện; 12,5% Bộ trưởng và tương đương, 9,1% Thứ trưởng và tương đương ” Nhìn chung đội ngũ trí thức nữ đã phát triển và trưởng thành rõ rệt, tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng
- Trong lĩnh vực ngoại giao, trí thức nữ đã từng có nhiều cống hiến lớn trong lĩnh vực này, những tên tuổi nổi tiếng là người Việt Nam như Nguyễn Thị Bình, Tôn Nữ Thị Ninh không ai là không biết đến Họ cùng với đội ngũ trí thức của mình tích cực phấn đấu, xây dựng quan điểm chiến lược "Hợp tác, hữu nghị, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước" mở rộng liên kết với các nước trong lĩnh vực giáo dục, văn hoá, công nghệ thông tin
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật của các nhà khoa học nữ Việt Nam được đánh giá qua tỷ lệ cán bộ có trình độ cao ngày càng tăng Đơn cử một số tỉnh Tây Nguyên là những tỉnh khó khăn hơn trong cả nước như Lâm đồng chẳng hạn: Theo kết quả của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/1999 ở Lâm Đồng có 13.227 người có trình độ cao đẳng trở lên, trong đó có 5.811 là nữ, chiếm 43,93%, dân tộc ít người có 459 người chiếm 3,47%, số cán bộ nữ có trình độ Cao đẳng chiếm 39,86%, đại học chiếm 60,13% Số cán bộ khoa học được phân
Trang 29bố theo đơn vị hành chính Thành phố Đà Lạt 45,21%, huyện Lạc Dương 0,6%, huyện Đơn Dương 4,14%, Đức Trong 10,44%, Lâm Hà 7,04%, Di Linh 7,13%, Bảo Lộc 15,59%, Bảo Lâm 3,2%, Đạ Huoai 2,115, Đạ Tẻh 2,51% và Cát Tiên 1,98%, cán bộ nữ chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu nam/nữ là 49,63% [31] Tại Đaklak, tổng số đội ngũ có trình độ cao đẳng trở lên 17.361 người, trong đó cao đẳng 6.821, đại học 10.335 người, thạc sĩ 164 người, tiến sĩ 39, phó giáo sư tiến
sĩ 3 và nữ chiếm 6.746/17.361 người có bằng cấp các loại [32]
- Trong nghiên cứu khoa học đã có rất nhiều tấm gương tiêu biểu của các
nữ trí thức qua những thành công của họ trên lĩnh vực này, nhiều chị đã và đang làm chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước (Nay H'Tuyết - Giám đốc sở giáo dục Gia Lai ), hay Tiến sĩ Mạc Thị Quý, Tiến sĩ Bạch Thị Thanh Dân, Tiến sĩ Phùng Thị Vân - Cán bộ viện chăn nuôi (Bộ NN-PTNT) Có 4 đề tài và sản phẩm do cán bộ nữ của Viện nghiên cứu được tặng giải thưởng Bông lúa vàng của ngành nông nghiệp, một bằng khen của Chính phủ, 13/31 bằng khen của bộ tặng cho cán bộ nữ viện chăn nuôi
- Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thành công của các nữ trí thức càng được thể hiện rõ Họ với vai trò là người nghiên cứu, là những nữ giám đốc, phó giám đốc cán bộ quản lý sáng tạo, khôn khéo trong thị trường cộng với bản chất dịu dàng, chịu đựng gian khổ, cũng như sự mềm dẻo, linh hoạt khi quyết định các vấn đề mang tính "thời cơ" đã giúp họ không nhỏ trên con đường dẫn đến sự thành công Thực tiễn đã từng chứng minh một khi phụ nữ - trí thức nữ - được xã hội tín nhiệm giao cho những trọng trách, các chị đều cố hết sức để làm
và thực tế họ đã làm được
Như vậy, đội ngũ trí thức nữ Việt Nam ngày càng trưởng thành vững mạnh về mọi mặt và họ đang thể hiện vai trò của mình trong sự nghiệp công
Trang 30nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chính trong sự cống hiến về sức lực và trí tuệ cho đất nước trong cơ chế thị trường đã tạo ra những thời cơ để họ bộc lộ những tiềm năng còn chưa khai thác hết, những tiềm năng ấy được thể hiện trên nhiều lĩnh vực: Khả năng quản lý sản xuất, quản lý khoa học, lao động sản xuất cũng như đặt ra cho họ những thách thức buộc họ phải khắc phục những hạn chế về giới để ngày càng được cống hiến nhiều hơn cho gia đình và xã hội
1.4.2 Vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức nữ trong hệ thống Giáo dục - Đào tạo
Thế kỉ XXI, thế kỉ có nhiều biến động, do sự phát triển cực nhanh của khoa học kĩ thuật và công nghệ Ở đó, lao động trí óc thay thế dần lao động chân tay và lao động giản đơn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Sự lớn mạnh của mỗi quốc gia được đánh giá dựa trên trình độ phát triển kinh tế, tiềm lực khoa học kĩ thuật công nghệ, trình độ nhân văn xã hội cũng như chất lượng môi trường sống của con người Vì thế vấn đề nhân tài là vấn đề chiến lược của xã hội đương đại mà cơ sở của nhân tài chính là giáo dục Do vậy, hơn bao giờ hết giáo dục đào tạo ngày nay đóng vai trò quyết định vị thế của mỗi quốc gia dân tộc mà trách nhiệm to lớn nằm trên vai của các thế hệ thầy cô giáo
Ngay từ những ngày đầu đất nước độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng đến giáo dục, đến việc nâng cao dân trí: " Nay nước ta đã giành được độc lập một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng cao dân trí muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia xây dựng nước nhà" [27, tr.17] Người mất khi nước nhà chưa thống nhất nhưng sự nghiệp giải phóng dân tộc nói chung, sự nghiệp giáo dục nói riêng vẫn được các thế hệ sau nối tiếp sự nghiệp còn dang dở của Người Tại
Trang 31Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ta đã khẳng định: "Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu" nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Cùng với quan điểm coi trọng Giáo dục - Đào tạo
là quốc sách hàng đầu, Đảng ta còn nhấn mạnh: "Giáo dục - Đào tạo là chìa khoá
để mở cửa tiến thẳng vào trương lai" Tại Đại hội IX, Đảng ta lại một lần nữa khẳng định: "Giáo dục - Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững"[15,108] Đây là những nhận thức mới của Đảng về vị trí vai trò của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Trước cách mạng Tháng 8 năm 1945, nước ta có 95% dân số mù chữ Đến năm 2001 tỷ lệ người biết chữ tăng lên 93%, trong đó tỷ lệ phụ nữ biết chữ là 90,6% và nam giới là 95,3% Khoảng cách chênh lệch tỷ lệ giữa nam và nữ, hay còn gọi là khoảng cách giới là nhỏ bé (4,7%) Thành tích ấy lại càng đáng tự hào khi trong cùng khu vực có những quốc gia tỷ lệ phụ nữ biết chữ rất thấp (30,2%) nhưng nam giới biết chữ lại chiếm tỷ lệ cao (61,2%) Đến năm 1998 Việt Nam
đã đạt được tỷ lệ gần ngang bằng nhau trong giáo dục tiểu học, 91% trẻ em gái
và 92% trẻ em trai trong độ tuổi đi học đã nhập học Năm 1993 đến 1998 sự chênh lệch tỷ lệ đi học đúng tuổi ở cấp phổ thông cơ sở của trẻ em gái so với trẻ
em trai giảm từ 11% xuống 6%, ở cấp phổ thông trung học khoảng cách giới cũng được rút ngắn dần từ 15% (1993) xuống 11% (1998) Hiện nay chúng ta đang phấn đấu để đến năm 2010 cơ bản xoá được khoảng cách giới trong giáo dục tiểu học [6] Ta đã xây dựng được hệ thống giáo dục từ mầm non đến đại học và trên đại học Nếu ở thời điểm 1954, miền Bắc có khoảng 500 cán bộ từ cao đẳng, đại học trở lên thì nay riêng ngành giáo dục chuyên nghiệp đã là 38.608 người [33], trong đó có 38.295 cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên,
Trang 321654 có học hàm học vị giáo sư, phó giáo sư, chiếm 4%; 10.598 thạc sỹ, chiếm 27%; 5476 tiến sỹ, chiếm 14% Những năm gần đây với vị trí "then chốt" của mình ngành giáo dục luôn tự đổi mới và đã gặt hái được những thành quả đáng trân trọng Điều này được thể hiện ở việc tăng các chỉ tiêu về số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên, học sinh, cải tiến nội dung chương trình thực hiện thay sách, áp dụng các phương pháp giảng dạy mới nhằm đạt hiệu quả giáo dục cao nhất Những thành công trên luôn có sự góp sức hoặc trực tiếp hoặc âm thầm của đội ngũ trí thức nữ Có thể nói đó là bộ phận nòng cốt, tiêu biểu cho lực lượng trí thức nữ Việt Nam, họ là những nữ khoa học đang hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, là các chuyên gia đầu đàn về khoa học và công nghệ, các nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú có ảnh hưởng rất lớn đối với lực lượng trí thức nói chung, với toàn thể học sinh, sinh viên, thanh niên, những lực lượng trí thức tương lai của đất nước nói riêng
- Hiện nay cả nước có trên 700.000 giáo viên ở tất cả các ngành học, trong
đó số lượng giáo viên nữ có trên 450.000 người chiếm hơn 70% Số lượng giáo viên nữ đặc biệt đông ở các bậc mầm non, tiểu học (90% - 100%) Với đội ngũ đông đảo như thế họ sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của giáo dục nước nhà Bên cạnh đó giáo dục ở bậc cao đẳng và đại học cũng có sự phát triển đáng kể Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục - Đào tạo năm 2003, tại 202 trường đại học và cao đẳng trong cả nước đã có 38.608 cán bộ giảng dạy, với 15.327 cán bộ giảng viên nữ, chiếm 40% Trong đó có 1.654 giáo sư, phó giáo
sư, chiếm 4%; 10.598 thạc sĩ, chiếm 27%; 5.476 tiến sĩ, chiếm 14%, giảng dạy cho 1.020.667 sinh viên, trong đó có 453.359 sinh viên là nữ, chiếm 44% [33]
Họ là lực lượng có thể đưa Việt Nam "sánh vai cùng bè bạn năm châu"
Thực hiện chủ trương bồi dưỡng và nâng cao trình độ của cán bộ giảng
Trang 33tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn Nhưng lực lượng nữ cán bộ giảng dạy trong các trường chuyên nghiệp vẫn còn ít (40%) song đây là công việc đòi hỏi phải có trình độ cao Trong điều kiện phụ nữ Việt Nam vừa thoát khỏi sự ràng buộc của xã hội phong kiến thì con số trên cũng đã nói lên sự phấn đấu không ngừng của các nữ trí thức trong công tác giảng dạy Sự tận tụy với nghề nghiệp, niềm say mê khoa học, sự tự tin và ước muốn ngang hàng cùng nam giới
đã giúp những nữ trí thức dũng cảm tham gia vào những lĩnh vực mà trước kia chỉ dành riêng cho nam giới Thực tế họ đã làm được và làm rất tốt, xứng đáng với những danh hiệu cao quý như: Nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân, giáo viên dạy giỏi Sự thành đạt ấy phần lớn đều xuất phát từ sự nỗ lực vượt khó của bản thân bên cạnh sự "tiếp sức" của gia đình và xã hội Thực tiễn đã chứng minh tiềm lực lao động của trí thức nữ nói chung, cán bộ giảng dạy nữ nói riêng còn rất dồi dào, đó là chưa kể họ có một lực lượng sinh viên nữ kế cận không nhỏ (453.359 sinh viên nữ chiếm 44%) [33] Các em là những lớp người sẽ có văn hoá cao, có nhiều điều kiện để nắm bắt những thông tin mới nhất, những luồng văn hoá tư tưởng tiên tiến khác nhau do vậy lực lượng này có khả năng tác động đến định hướng xã hội, ảnh hưởng tích cực đến dư luận và quan hệ xã hội (đặc biệt là những xu hướng, dư luận xã hội có liên quan trực tiếp đến phụ nữ nói chung và trí thức nữ nói riêng)
Thành tựu đạt được do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là qua những năm đổi mới Việt Nam đã khơi dậy được sự đa dạng, phong phú các hình thức và phương pháp giáo dục - đào tạo Nhờ vậy phụ nữ chẳng những đã được hỗ trợ để thực hiện các chức năng sản xuất, tái sản xuất mà còn được hưởng lợi từ nhiều chính sách đặc biệt, khuyến khích họ tích cực tham gia quá trình giáo dục - đào tạo và
tự đào tạo dưới nhiều hình thức nhằm tạo điều kiện để cho họ có thể cống hiến nhiều nhất cho gia đình, xã hội
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC NỮ TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
VÀ TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP TỈNH GIA LAI HIỆN NAY
2.1 Vài nét về đặc điểm, tình hình, môi trường hoạt động của nữ trí thức trong các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp tỉnh Gia lai
2.1.1 Khái quát đặc điểm tình hình, môi trường hoạt động của nữ trí thức trong các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp tỉnh Gia Lai
Gia lai có diện tích tự nhiên là 15.495,71km2
Dân số toàn tỉnh là 1.000.000 người, bao gồm nhiều dân tộc anh em sống cộng đồng trên địa bàn tỉnh, trong đó đồng bào dân tộc ít người chiếm 43% gồm nhiều dân tộc nhưng chủ yếu là 3 dân tộc: Kinh, Bahna, Jrai, nữ chiếm 51% dân số Là tỉnh kinh tế còn chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, sự hiểu biết về các lĩnh vực kinh tế - văn hoá - xã hội còn nhiều hạn chế Toàn tỉnh có 1 thành phố Pleiku, một thị xã
An khê và 13 huyện là Ayunpa, Chưpah, ChưPrông, Chư sê, Đức Cơ, Ia Grai, K’Bang, Kông Chro, Krông Pa, Mang Yang, ĐăcPơ, Đăc Đoa, Iapa, 175 xã,
Trang 36phường trong đó có hơn 7 xã biên giới và 75 xã đặc biệt khó khăn đang thực hiện chương trình 135 của Chính phủ
Là cửa ngõ thông thương từ Việt Nam đi Đông bắc Campuchia, qua các cửa khẩu quốc tế, có trục quốc lộ 14 đi qua một số tỉnh phía Nam; trục quốc lộ
19 và 25 nối Gia Lai với các tỉnh duyên hải miền Trung Gia lai có vị trí quan trọng về kinh tế - chính trị trong khu vực và đối với cả nước
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, một cuộc chiến tranh biên giới và 29 năm hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng quê hương, với truyền thống anh hùng, bất khuất cần cù lao động, vượt qua khó khăn gian khổ, nhân dân các dân tộc ở Gia lai đã đoàn kết một lòng, một dạ theo Đảng và đến nay đã đạt được một số thành tựu ban đầu hết sức quan trọng như: Nền kinh
tế hiện nay của tỉnh Gia Lai đạt mức phát triển khá, nhịp độ tăng GDP bình quân hàng năm là 10,4% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá trên cơ sở phát huy lợi thế từng vùng Đời sống vật chất, tinh thần của phần lớn nhân dân, kể cả ở vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa tiếp tục được ổn định và cải thiện Chương trình xoá đói giảm nghèo đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm đúng mức nên tỷ lệ hộ đói nghèo giảm từ 35% năm 1995 xuống còn 22,4% năm 2000 theo tiêu chí mới An ninh chính trị, quốc phòng được giữ vững và củng cố, bảo đảm trật tự an toàn xã hội Các chương trình về xây dựng nếp sống mới ở khu dân cư, thực hiện quy chế dân chủ đã triển khai ở nhiều cơ sở, được nhân dân đồng tình ủng hộ Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản Gia Lai còn gặp những khó khăn, thách thức mới, đó là nhịp độ phát triển kinh tế tuy tăng nhưng còn chậm và chưa đồng bộ Nông sản, các mặt hàng mũi nhọn của tỉnh liên tục bị giảm giá từ đó ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế và đời sống của nhân dân Trình độ dân trí nhìn chung còn thấp, nhất là ở vùng sâu,
Trang 37coi thường kỷ cương phép nước, sự kiện 02/2001 và sự kiện 9/4/2004 vừa qua là một điển hình Tình hình an ninh trên địa bàn tỉnh những năm gần đây diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, bọn phản động người Việt và tổ chức Fulro lưu vong tìm mọi cách móc nối xâm nhập vào tỉnh Gia Lai hoạt động dưới nhiều hình thức nhằm tập hợp lực lượng, kích động chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gây rối và bạo loạn ở một số nơi Vùng nông thôn, ở một
số xã vẫn xảy ra tranh chấp đất đai, khai thác vận chuyển tiêu thụ lâm sản trái phép, tệ nạn xã hội, buôn lậu, tham nhũng vẫn chưa giảm Một số cấp uỷ, cơ quan chưa thật sự quan tâm đến công tác vận động quần chúng, đến việc tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của đội ngũ trí thức nữ nơi đây
Nhìn chung Gia Lai vẫn là một tỉnh nghèo, tình hình chính trị tương đối phức tạp Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cư dân, nhất là đối với phụ nữ trí thức Sự khó khăn ấy là một trong những lực cản ảnh hưởng đến tư tưởng, hoạt động công tác, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiên cứu khoa học của lực lượng lao động trí tuệ nữ
2.1.1.2 Đặc điểm về lịch sử văn hoá
Địa bàn tỉnh Gia Lai là nơi hội tụ của 30 dân tộc khác nhau trong đó dân tộc Jrai và Bahnar được xem là hai dân tộc bản địa Trải qua quá trình lịch sử, bằng trí tuệ, tài năng và sự sáng tạo của mình họ đã tạo nên một nền văn hoá độc đáo, đem lại niềm tự hào cho Gia Lai nói riêng và Tây Nguyên nói chung Nền văn hoá ấy được hình thành trên cơ sở của điều kiện tự nhiên , môi trường sinh thái, nguồn gốc lịch sử và đời sống kinh tế - xã hội của các dân tộc sống ở đây
Với kỹ thuật lạc hậu: phát, đốt, chọc, trỉa nếu không dựa vào sự mênh mông, bạt ngàn của rừng núi, đất đai, họ sẽ không tồn tại Thiên nhiên cho họ đất
để canh tác, cây gỗ để làm nhà Song, mây, tre, nứa để đan lát cho đến rau, nấm,
Trang 38thịt thú rừng trong các bữa ăn Tất cả những thức đó qua bàn tay lao động và óc sáng tạo của con người đã trở thành những giá trị văn hoá
Thiên nhiên quang đãng, hùng vĩ đã in dấu trong tâm hồn họ, hình thành tính cách tự do, phóng khoáng, chất phác, thật thà và đi vào thơ ca, nhạc, hoạ Tình yêu và sự tôn sùng thiên nhiên đã làm nên nét đặc sắc trong văn hoá của người dân Gia Lai Mặt khác, văn hoá Gia Lai được hình thành và phát triển trên
cơ sở của một nền kinh tế nông nghiệp mang tính chất tự nhiên, tự cập, tự túc, phân công theo giới còn chặt chẽ
Tìm hiểu lịch sử văn hoá Gia Lai là tìm hiểu quá trình xác lập, khẳng định
và vận động của nền văn hoá ấy theo dòng chảy thời gian Di chỉ Biển Hồ, Trà Dôm có niên đại 4.000 năm là bằng chứng đáng tin cậy về nguồn gốc lâu đời của nền văn hoá bản địa
Năm 1842, thực dân Pháp đặt chân lên đất Gia Lai, dùng chính sách chia
để trị, truyền bá đạo Kitô, tạo ra những biến động trong đời sống văn hoá của các dân tộc Jrai và Bahnar
Cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ hơn 30 năm qua đã gây nên những đảo lộn trong địa vực cư trú của đồng bào Mãi đến năm 1975 các dân tộc Jrai, Bahnar mới ổn định trở về làng cũ
Do hoàn cảnh chiến tranh ly loạn, luôn phải di chuyển nên đồng bào Jrai
và Bahnar đã không có điều kiện ổn định cần thiết để xây dựng và phát triển văn hoá của mình Mặt khác, do nền kinh tế nông nghiệp nương rẫy quy định không gian sinh tồn là rừng núi nên quá trình giao lưu văn hoá với người Kinh diễn ra chậm chạp, làm cho văn hoá Jrai,Bahnar đến ngày nay vẫn bảo lưu tính chất cổ truyền nguyên sơ của nó
Như vậy, lịch sử đã đóng vai trò là điều kiện để các giá trị văn hoá cổ
Trang 39tộc nhưng cũng chính lịch sử với những cuộc chiến tranh liên miên đã ngăn trở văn hoá Jrai Bahnar tiến lên một trình độ cao hơn tiếp cận với nền văn minh hiện đại Đồng thời trong quá trình vận động của lịch sử ý thức tự cường dân tộc và truyền thống yêu nước gắn bó với sự nghiệp cách mạng cũng được hun đúc tạo nên những gia trị tích cực làm tiền đề cho sự phát triển văn hoá Jrai Bahnar trong
sự nghiệp đổi mới
Như vậy, để khai thác nguồn lao động trí tuệ nữ tại địa phương, tỉnh Gia Lai cần nắm những thuận lợi và khó khăn của cư dân nơi đây Từ đó có những chủ trương, chính sách hợp lý nhằm khắc phục những hạn chế, phát huy những
ưu thế địa phương, tạo môi trường làm việc thuận lợi nhất cho trí thức nói chung, trí thức nữ tại các trường Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp nói riêng để họ
có thể cống hiến thật nhiều cho xã hội
2.1.1.3 Tình hình các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp
Hiện nay, ở Gia Lai chỉ có một trường Cao đẳng và 3 trường Trung học chuyên nghiệp Chúng tôi xin trình bày cụ thể tình hình các trường nơi đây như sau:
Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai:
Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai ban đầu là trường Sư phạm cấp II Gia Lai- Kon Tum, được thành lập tháng 1/1979 theo Quyết định số 159/VB-TC ngày 02/01/1979 của UBND tỉnh Gia Lai - Kon Tum Tháng 3 năm 1990, với Quyết định số 97/HĐBT ngày 27/03/1990 của Hội đồng Bộ trưởng công nhận là Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai- Kon Tum, nay là Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai
Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai là một Trường Cao đẳng Sư phạm đa
hệ, đào tạo các giáo viên có trình độ cao đẳng, trung cấp cho tỉnh Gia Lai Ngoài
ra, trường còn được giao nhiệm vụ chuẩn hoá đội ngũ giáo viên của tỉnh
Trang 40Từ ngày thành lập đến nay, quy mô đào tạo, bồi dưỡng của trường ngày càng được mở rộng Năm học 2004 - 2005 trường mở thêm các lớp mầm non hệ Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp để đáp ứng nhu cầu giáo viên mầm non cho tỉnh Năm học 2003-2004, số lượng sinh viên chính quy của trường là 1.273, chưa kể số học viên các lớp chuẩn hoá, cán bộ quản lý Đội ngũ giáo viên của trường qua nhiều năm đã được bổ sung, đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ
và chất lượng Hiện nay số cán bộ, giáo viên, công nhân viên của trường là 161 người đều có trình độ đại học và trên đại học (có 80 giảng viên là nữ) Trong đó, tiến sĩ 02 (nam), thạc sĩ 34 (có 14 nữ), đại học 124 (nữ 63), cao đẳng 5 (nữ 3) Hiện nay trường có 9 nữ đang tham gia các lớp đào tạo thạc sĩ
Trong những năm qua, trường đã không ngừng cải tiến nội dung chương trình, đổi mới quy trình đào tạo và nhất là đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp với sự đổi mới của đào tạo hệ cao đẳng và thực tiễn địa phương, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức cho các giảng viên trong trường
Trường Trung học Lâm nghiệp Tây Nguyên:
Trường Trung học Lâm nghiệp Tây Nguyên được thành lập ngày 10/4/1977 theo Quyết định 552/TCCB của Bộ Lâm nghiệp trước đây, nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lúc đó, cán bộ khung của trường mới có 4 đồng chí Đến tháng 7 năm 1998, trường bổ sung thêm 1 đồng chí lãnh đạo và 07 cán bộ Như vậy đến thời điểm này nhà trường có tổng cộng 12 đồng chí Cơ sở vật chất trường tiếp thu lại 1 xưởng xẻ gỗ do chế độ Mỹ - Nguỵ để lại
Có thể nói, nhà trường lúc đầu chỉ là một bộ phận tiếp quản cơ sở vật chất
do Mỹ, Ngụy để lại nhưng việc thành lập trường Trung học Lâm nghiệp Tây Nguyên lúc bấy giờ lại có ý nghĩa hết sức to lớn, vì đây chính là trung tâm đào tạo đội ngũ cán bộ Trung học kỹ thuật Lâm nghiệp và quản lý kinh tế khu vực